Chương
4:
THỨC THỨ TÁM
Tánh
duy vô phú, ngũ biến hành
(Thức
thứ tám mang tánh chất vô phú vô ký, và tương ưng với 5
tâm sở Biến hành)
Câu
tụng này nói về thức thứ tám. Trong 4 tánh: thiện,
bất thiện, hữu phú vô ký, vô phú vô ký, thức thứ tám
thuộc vô phú vô ký, vì thức này không mang tánh ô nhiễm
(nên gọi là vô phú), vì thức này là sở y cho thanh
tịnh và tạp nhiễm một cách bình đẳng không chống trái
nhau (nên gọi là vô ký), vì thức này có cái năng tánh
tiếp nhận huân tập (, tức nói khả năng tiếp nhận các
pháp tạp nhiễm huân tập rồi làm nhân sanh ra các pháp ấy).
Khi
duyên cảnh, thức này cùng tương ưng với 5 tâm sở biến
hành: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư; nhưng không tương ưng
với các tâm sở khác. Vì sao? Tánh chất vô ký (trung
tánh) là không phải thiện, không phải ác. Không phải
thiện nên thức này không cùng tương ưng với tâm sở thiện,
và không phải ác nên thức này không cùng tương ưng với
tâm sở ác.
Giới
địa tùy tha nghiệp lực sanh
(Thức
thứ tám tùy theo nghiệp lực thiện hay ác mà biểu hiện ở
trong 3 cõi, 9 địa)
Thức
thứ tám chuyển hiện trong 3 cõi, 9 địa, 5 đường, tùy theo
sức của nghiệp thiện hay ác mà chiêu cảm quả báo dị thục.
Thức thứ tám với đặc tánh làm chủ thể tham dự
vào tổng báo và bao quát tất cả tự thể ([sanh mạng] khác
nhau) trong 3 cõi, mọi đường lành đường dữ. Đặc
tánh làm chủ thể như vậy có 4 nghĩa: một là, thức
thứ tám là căn bản của các pháp hiện hữu, nói khác,
nó vừa là chất liệu, vừa là tổ hợp cho tất cả tự thể
và môi trường trong đó tự thể tồn tại; hai là, thức thứ
tám mang đặc tánh hằng chuyển, nghĩa là từ vô thỉ
nó thuần nhất [59] liên tục tiếp nối thường hằng
không gián đoạn; ba là, thức thứ tám không mang tánh ô nhiễm
nên là vô phú, do vì không bị trùm kín bởi khách trần
phiền não ý địa; bốn là, thức thứ tám được gọi là
thức dị thục (= nghiệp thức), vì nó đưa đến kết
quả đã thành thục của nghiệp thiện và bất thiện trong
các cõi, mọi đường lành đường dữ và trong các sanh loại
khác nhau.
Trong
tám thức, chỉ có thức thứ tám là hoàn toàn do nghiệp lực
huân tập. Thức thứ bảy trái lại hoàn toàn không do
nghiệp lực huân tập (, vì nó luôn luôn bám sát A lại da
và vin chấp A lại da làm tự ngã = y bỉ chuyển, duyên bỉ).
Sáu thức trước thì có một phần do nghiệp lực huân tập
và một phần không do nghiệp lực huân tập. Đây là
nói về sự huân tập của nghiệp thiện và nghiệp bất
thiện (qua 8 thức tâm vương).
Tánh
chất vô ký của thức thứ tám được ví như cục đất
khô không thể nắn thành viên, do đó phải cần có nước,
keo v.v… hòa trộn với đất khô mới nắn thành vật được.
Cũng vậy, dưới tác động trực tiếp của nghiệp lực thiện
ác (dụ cho nước, keo) mà thức thứ tám có thể dẫn ra hiện
hành của nó để tham dự vào 3 cõi và 9 địa. Cây, đá
v.v… tự nó không thể thành đồ vật mà không cần lực
tác động, cũng vậy, thức thứ tám không thể tự chuyển
hiện và tham dự vào giới, địa mà không tùy thuộc vào sức
mạnh huân tập của nghiệp thiện, ác.
Nhị
thừa bất liễu nhân mê chấp
(Hàng
nhị thừa do không hiểu rõ về thức A lại da nên mê chấp
cho rằng không có thức A lại da)
Thức
thứ tám rất vi tế, khó nhận biết, cho nên hàng nhị thừa
thanh văn (hiểu sai về các pháp sở tri,) không tin có thức
này, chỉ chấp nhận 6 thức trước có khả năng thọ huân
và duy trì chủng tử [60] . Đó là do hàng nhị thừa tâm
trí cạn cợt mà có ra sự mê chấp như vậy.
Do
thử năng hưng luận chủ tranh
(Bởi
vậy mới có sự việc tranh luận về thức thứ tám giữa
các luận sư đại thừa và luận sư tiểu thừa)
Do
hàng nhị thừa không hiểu, cho rằng không có thức thứ tám,
cho nên các luận sư đại thừa viện dẫn 3 kinh, 4 tụng, 5
giáo, 10 lý để chứng minh rằng có thức thứ tám.
Kinh
A tỳ đạt ma, kinh Giải thâm mật và kinh Lăng già là 3 bộ
kinh đại thừa mà tiểu thừa bộ phái không chấp nhận.
Đại
chúng bộ có kinh A cấp ma, Thượng tọa bộ có luận Phân
biệt, Hóa địa bộ và Thuyết nhất thiết hữu bộ có kinh
Tăng nhất. Ba kinh luận này được 4 bộ phái tiểu thừa
và đại thừa chấp nhận.
Bài
tụng Thập chứng sau đây nêu ra 10 đặc tánh chứng minh sự
hiện hữu của thức thứ tám:
Trì
chủng, dị thục tâm
Thú
sanh, hữu, thọ thức
Sanh
tử, duyên, y thực
Diệt
định tâm, nhiễm tịnh.
(Thức
thứ tám là thức chủng tử có công năng duy trì chủng tử,
là thức (tâm) dị thục vì là đưa đến kết quả đã chín
muồi (thục) của nghiệp thiện và bất thiện trong các cõi,
mọi đường lành đường dữ và trong các sanh loại khác nhau.
Đã kiết sanh liên tục rồi thì chính thức dị thục chấp
thọ sắc căn và sở y của các sắc căn (= chấp thọ thân
thể và thế giới của thân thể). A lại da có đặc
tánh làm nhân trong sự kết sanh liên tục (sanh) nên gọi là
thức chủng tử. A lại da có đặc tánh làm quả trong
sự lãnh thọ quả dị thục sau khi chết (tử) nên gọi là
thức dị thục. A lại da làm nhân duyên cho các pháp sanh
khởi nên gọi là thức nhân duyên. A lại da làm thức
thực cho hữu tình sanh ra trong ba cõi, tức nói sự duy trì
căn thân của thức dị thục. Nhập diệt tận định
thì thức dị thục vẫn không rời thân, vì không do đối
trị thức ấy mà có diệt định. Tách rời thức chủng
tử dị thục thì phiền não tạp nhiễm và sự thanh tịnh
của thế gian và xuất thế gian bất thành, nói khác, A lại
da với tánh vô ký làm sở y cho thanh tịnh và tạp nhiễm một
cách bình đẳng)
Bài
tụng trên gồm đủ 10 nghĩa sau đây:
1.
Trì chủng tâm:
a.
Như kinh Đại thừa A tỳ đạt ma cũng có bài chỉnh cú sau
đây:
Vô
thỉ thời lai giới
Nhất
thiết pháp đẳng y
Do
thử hữu chư thú
Cập
niết bàn đắc chứng.
(Giới
[= thức chủng tử], từ vô thỉ đến nay, là sở y của hết
thảy pháp. Do đó mà có sự luân hồi trong mọi đường lành
đường dữ và có sự chứng đắc quả niết bàn.)
Bài
tụng này nói về tự tánh vi tế của thức thứ tám.
Ngang qua tác dụng của thức này mà có thể hiển thị được
tự tánh của nó. Hai câu đầu của bài tụng cho thấy
tác dụng nhân duyên của thức thứ tám. Hai câu
sau là nói tác dụng nương tựa và duy trì (y trì) của
thọ, nỗn, thức (thứ tám) trong sự lưu chuyển và hoàn diệt.
Vô thỉ thời lai giới (giới từ vô thỉ lại), là nói
đặc tánh làm nhân của thức thứ tám, nghĩa là thức
chủng tử từ vô thỉ đến nay triển chuyển liên tục tiếp
nối làm nhân phát sanh các pháp tạp nhiễm (, tức chủng tử
sanh hiện hành). Nhất thiết pháp đẳng y (hết
thảy pháp đều nương), là nói đặc tánh làm duyên của
thức thứ tám, nghĩa là thức chấp trì từ vô thỉ đến
nay làm chỗ nương tựa cho các pháp tạp nhiễm, nói khác,
thức thứ tám có năng tánh thâu giữ chủng tử nên làm chỗ
nương tựa tiếp nhận cho các pháp tạp nhiễm huân tập (,
tức hiện hành sanh chủng tử). Hai câu đầu của bài
tụng giải thích cho trì chủng tâm.
Do
thử hữu chư thú (do đó có các thú), là nói do có thức
thứ tám này chấp trì (chấp thọ và nắm giữ) tất
cả pháp (tạp nhiễm) thuận với sự lưu chuyển, vì vậy
mới có sự lưu chuyển sanh tử (luân hồi) của các loài hữu
tình. Tuy biết hoặc, nghiệp là nhân của sự lưu
chuyển (tập đế), nhưng chư thú (đường lành đường
dữ) là quả báo của sự lưu chuyển (khổ đế), nên
nhấn mạnh ở điểm này. Chư thú, cũng có thể hiểu
là năng thú (nhân) và sở thú (quả), đều cùng
trong phạm vi lưu chuyển sanh tử, trong tác dụng duy trì và
nương tựa của thức thứ tám.
Cập
niết bàn chứng đắc (và niết bàn chứng đắc), là nói
do có thức thứ tám này chấp trì (chấp thọ và nắm giữ)
tất cả pháp (thanh tịnh) thuận với sự hoàn diệt, vì vậy
mới có sự chứng đắc niết bàn của người tu hành.
Ở đây chỉ nói phần đạo năng chứng, là con đường đưa
đến niết bàn (đạo đế), vì niết bàn không dựa thức
này mà có. Hoặc cũng nói là niết bàn sở chứng (diệt
đế), là chỗ mong cầu của người tu hành. Hoặc cùng
nói năng và sở, nhưng cả hai đều nhiếp vào sự hoàn diệt
niết bàn. Như vậy, hai câu tụng sau nói về vô lậu
pháp nhưng cũng y vào thức thứ tám mà hiển thị.
b.
Kinh Đại thừa A tỳ đạt ma lại có bài tụng rằng:
Do
nhiếp tàng chư pháp
Nhất
thiết chủng tử thức
Cố
danh A lại da
Thắng
giả [61] ngã khai thị.
(Là
cái chủ thức thâu tàng chủng tử của các pháp, nên mệnh
danh là A lại da, đối với người thắng thì Như lai khai thị
cho đó)
Do
bản thức thứ tám đầy đủ các chủng tử nên có khả
năng thâu giữ (nhiếp tàng) các pháp tạp nhiễm, theo nghĩa
này mà lập danh A lại da. Thức này từ vô thỉ cho đến
Bất động địa không còn ngã chấp, tên gọi là A lại da,
dịch nghĩa là tàng thức. Đây là từ công năng
mà lập danh.
c.
Kinh Giải thâm mật có bài tụng:
A đà
na thức thậm thâm tế
Tập
khí chủng tử như bộc lưu
Ngã
ư phàm phu bất khai diễn
Khủng
bỉ phân biệt chấp vi ngã.
(Thức
A đà na cùng cực vi tế, tất cả chủng tử như dòng nước
mạnh. Như lai không nói cho kẻ phàm ngu, sợ họ phân
biệt chấp làm bản ngã.)
A
đà na, đời Đường dịch là chấp trì, tức là
thức thứ tám (mà ẩn lược mạt na thức: cái ý thức tự
ngã lúc nào cũng có). Vì có khả năng chấp trì
(nắm giữ) chủng tử các pháp tạp nhiễm, chấp thọ các
sắc căn, thân thể (= sở y của các sắc căn) và thế giới
của căn thân ấy, chấp thủ sự kiết sanh liên tục,
cho nên thức này tên là A đà na. Nói tóm, thức này có
3 nghĩa nên gọi là A đà na: một là, chấp trì chủng
tử các pháp tạp nhiễm không cho rơi mất; hai là, chấp
thọ sắc căn (= các giác quan), sanh mạng (y) và đời sống
(xứ) của sanh mạng ấy; ba là, chấp thủ sự kiết
sanh liên tục (, nghĩa là, A đà na là chủ thể nắm lấy sanh
mạng từ khi sanh đến khi chết, liên tục nắm lấy từ đời
sống này đến đời sống khác).
Hạng
hữu tình không có chủng tánh giác ngộ thì không thể nhận
thức cùng tột căn để của thức A đà na, nên nói là rất
sâu (= thậm thâm). Hàng nhị thừa dấn thân đi
tới niết bàn thì không thể thông đạt thắng nghĩa của
thức A đà na, nên nói là vi tế. Đây là nói chủng tử
chân thật (= chủng tử ở trong [62] ) có năng tánh tiếp
nhận huân tập (= thọ huân) hết thảy các pháp tạp nhiễm,
nếu có duyên tố tác động thì phát sanh các chuyển thức
khác (= thức thọ dụng, là 6 thức trước, thọ dụng quả
báo khổ vui), ví như (có đủ duyên tố làm cho) nhiều cơn
sóng (= chuyển thức) nổi lên, nhưng bản thân dòng nước
(= thức A đà na) vẫn chảy mãi, không đứt không hết, nên
nói như dòng nước chảy mạnh (= bộc lưu). Vì sợ kẻ
phàm ngu (= phàm phu và nhị thừa) đối với thức này khởi
tâm phân biệt, chấp làm tự ngã mà đọa vào các đường
ác hay chướng ngại sự sanh Thánh đạo, cho nên đức Thế
tôn không giảng nói thức này cho họ. Duy có hàng bồ
tát đại thừa thì Thế tôn mới vì họ mà khai thị thức
này.
Bài
tụng này cũng chứng minh nghĩa trì chủng tâm. Sáu chuyển
thức trước (và thức mạt na được ẩn lược) không có
nghĩa trì chủng tâm.
d.
Trong kinh Lăng già có bài tụng rằng:
Như
hải ngộ thuận phong
Khởi
chủng chủng ba lãng
Hiện
tiền tác dụng chuyển
Vô
hữu gián đoạn thời.
Tàng
thức hải diệc nhiên
Cảnh
giới phong sở kích
Dẫn
khởi chư thức lãng
Hiện
tiền tác dụng chuyển.
(Như
biển gặp duyên gió mà khởi ra đủ thứ sóng mòi, ngay trước
mắt thấy tác dụng chuyển động không có lúc nào gián đoạn
của sóng mòi. Biển tàng thức cũng vậy, bị gió cảnh
giới kích động nên lúc nào cũng sanh khởi các sóng thức
mà hiện tiền thấy chúng có tác dụng chuyển biến liên tục.)
Bài
tụng này nói về đặc tánh của thức thứ tám; các chuyển
thức khác không có đặc tánh này. Thức thứ tám là
biển tàng thức, và biển tàng thức đó hằng khởi các sóng
thức (6 thức trước) triển chuyển sanh diệt, liên tục không
dứt.
Trên
đây đã dẫn chứng 4 bài tụng của kinh luận đại thừa
để giải thích nghĩa trì chủng tâm của bài tụng Thập chứng.
Kinh
A cấp ma (= A hàm) của Đại chúng bộ đã dùng mật ý mà
nói A lại da với cái tên thức căn bản, do vì A lại
da là sở y cho các chuyển thức.
Kinh
điển Thượng tọa bộ và luận Phân biệt đều có mật ý
gọi thức này là thức hữu phần. Hữu, là
tam hữu (3 cõi). Phần, là nghĩa nhân tố. Chỉ
có thức thứ tám hằng biến 3 cõi và làm nhân tố (= thức
thực) cho hữu tình đã sanh ra trong 3 cõi.
Hóa
địa bộ đã dùng mật ý mà nói A lại da là cái uẩn cùng
tận sanh tử [63] , bởi vì lìa A lại da thì không có uẩn
pháp nào riêng khác mà có thể đi đến tận cùng ngằn mé
sanh tử, không lúc nào gián đoạn.
Kinh
Tăng nhất a hàm của Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng mật
ý nói thức thứ tám là A lại da, như nói chúng sanh yêu
A lại da, thích A lại da, ưa A lại da, khoái A lại da.
Do trong giáo nghĩa của Nhất thiết hữu bộ có cái tên A lại
da, nên khẳng định là thức thứ tám.
Trên
đây đã dẫn ra 4 giáo nghĩa của các bộ phái tiểu thừa
để chứng minh có thức thứ tám. Thế nhưng các bộ
phái tiểu thừa vẫn chấp chặc rằng chỉ có 6 thức trước
thôi (và cho 6 thức trước là sở huân).
Khế
kinh có nói, nơi thâu giữ và phát sanh chủng tử của các
pháp tạp nhiễm và thanh tịnh là tâm. Thức là dị
danh của tâm. Nếu không có thức thứ tám thì cái tâm
duy trì chủng tử kia cũng không có. Các chuyển thức
có sự gián đoạn khi ở Diệt tận định, bởi vì các chuyển
thức có căn sở y, cảnh sở duyên và tác ý riêng biệt (nên
không đồng thời sanh khởi và tương ưng, do đó không có
tánh chất năng huân và sở huân), có tâm sở thiện và nhóm
loại khác nhau (thích ứng và hiện hành, nhưng trong diệt định
lại không có sự thích ứng và hiện hành ấy). Tóm lại,
các chuyển thức (mà cho là tâm) đều dễ sanh khởi, dễ biến
mất, không kiên trụ, không có năng tánh huân tập và duy trì
chủng tử, (nên chẳng phải là cái tâm thâu giữ và phát
sanh chủng tử của các pháp tạp nhiễm và thanh tịnh).
Chỉ có thức thứ tám với đặc tánh đồng nhất, thường
hằng, không gián đoạn, kiên trụ, tiếp nhận huân tập
(, như mè ướp hoa, mè với hoa cùng sanh cùng diệt, rồi mè
thành ra có cái hơi thơm của hoa,) mới thích ứng với chữ
tâm của khế kinh. Đây là chứng minh thức thứ tám là
tâm, phù hợp với trì chủng tâm trong câu đầu của
thập chứng tụng.
2.
Tâm dị thục:
Khế
kinh lại nói, có tâm dị thục là do nghiệp hoặc thiện
ác cảm ứng. Nếu không có thức thứ tám thì tâm
dị thục không thể có. Chỉ có cái tâm chân dị thục
đáp ứng sự lôi kéo của dẫn nghiệp đi khắp (3 cõi) không
có gián đoạn. Tâm dị thục, là thức thứ tám.
Chữ tâm trong câu tụng đầu thông nghĩa 4 chữ trì chủng,
dị thục.
Trên
đây đã giải thích xong nghĩa câu thứ nhất của Thập chứng
tụng.
3.
Thú và sanh:
Khế
kinh lại nói, hữu tình lưu chuyển trong 5 thú hướng, 4
sanh loài. Nếu không có thức này thì thể của thú
và sanh ấy không thể có được. Hội đủ 4 nghĩa: thật
có, thường hằng, biến khắp, không tạp loạn, thì mới
có thể gọi là thể của thú và sanh chân thật và chính xác.
Những thứ chiêu cảm bởi nghiệp của 5 thức trước đều
không biến khắp các thú và sanh, vì trong cõi Vô sắc hoàn
toàn không có 5 thức trước. Những thứ chiêu cảm bởi
nghiệp của ý thức tuy biến khắp các thú và sanh, nhưng không
hằng hữu. Chỉ có tâm dị thục cùng với tâm sở của
nó là thật có, thường hằng, biến khắp, không tạp loạn.
Chánh thật thú và sanh vốn chỉ là tâm dị thục và tâm sở
của nó. Và như vậy, nếu tách rời thức thứ tám, thì
thú và sanh theo lẽ bất thành. Đây là giải thích 2 chữ
thú sanh để chứng minh thức thứ tám là thể của thú
và sanh.
4.
Chấp thọ thức:
Lại
nữa, khế kinh nói, có cái căn thân hữu sắc là có sự
chấp thọ sắc căn. Nếu không có thức thứ tám thì
sự chấp thọ sắc căn không thể có được. Ở đây,
chỉ có tâm dị thục mới là cái tâm có thể chấp thọ (sắc
căn hữu lậu). Những thức khác, như nhãn thức v.v…,
không có nghĩa chấp thọ sắc căn (, vì chúng đều có cái
căn sở y khác nhau, đều không kiên trụ, mà các sắc căn
thì không thể tách rời với tâm).
5.
Thọ, nỗn, thức:
Lại
nữa, khế kinh nói, thọ, nỗn và thức, ba cái này nương
tựa và duy trì lẫn nhau để có thể cùng tồn tại liên tục
tiếp nối. Nếu cho là không có thức thứ tám, thì
không một thức nào khác có thể duy trì sự tồn tại dài
lâu của thọ và nỗn (= thọ mạng và hơi ấm). Bởi
vì, như âm thanh, gió v.v… không có cái dụng thường xuyên
duy trì (, nghĩa là lúc có lúc không); cũng vậy, các chuyển
thức có gián đoạn, có chuyển biến, không có cái dụng thường
xuyên duy trì thọ và nỗn, nên không thể xác lập là thức
duy trì thọ và nỗn. Chỉ thức dị thục mới có cái
dụng thường xuyên duy trì thọ và nỗn, nên được xác lập
là thức duy trì thọ và nỗn. Đoạn này giải thích nghĩa
của chữ thức. Chữ thức này bao gồm các
chữ đứng trước: thức thể của thú sanh, thức chấp thọ
hữu sắc căn thân, thức duy trì thọ nỗn. Đến đây
đã giải thích xong câu: Thú sanh, hữu, thọ thức.
Sau
đây giải thích câu tụng: sanh tử, duyên, y thực.
6.
Tâm sanh tử:
Lại
nữa, khế kinh nói, hết thảy loài hữu tình khi thọ sanh,
khi mạng chung, nhất định ở trong trạng huống tán tâm, không
phải là trạng huống vô tâm định. Nếu không có
thức thứ tám, thì khi sanh, khi tử, cái tâm tán loạn kia cũng
phải không có. Bởi vì, khi sanh, khi tử thân tâm mờ mịt
như giấc ngủ không chiêm bao, hay như khi bị mê ngất, (bấy
giờ) ý thức sáng suốt chắc chắn không hiện khởi.
Ở trạng huống vô tâm (như khi ngủ say không chiêm bao, khi
hôn mê cực điểm) thì hành tướng và sở duyên của sáu
chuyển thức không được nhận biết (, nghĩa là ý thức không
hoạt động). Trường hợp khi thọ sanh hay mạng chung
phải có cái tâm tán loạn, còn gọi là tâm sanh tử.
Có bộ phái chấp rằng, ở trạng huống khi sanh, khi tử, có
một loại ý thức vi tế mà hành tướng và sở duyên của
nó không thể biết rõ; nên biết loại ý thức vi tế đó
là thức thứ tám. Lại nữa, khi sắp chết thì tùy nghiệp
thiện hay nghiệp ác đã làm mà nơi thân thể, hoặc bắt đầu
từ dưới trở lên, hoặc bắt đầu từ trên sắp xuống,
dần dần phát lạnh. Nếu không có thức thứ tám thì
sự thể như vậy không thể có được. Các chuyển thức
thì không thể chấp thọ căn thân. Ở đây chứng minh
có cái tâm khi sanh, khi tử, tâm đó là thức thứ tám.
7.
Thức duyên danh sắc:
Lại
nữa, khế kinh nói, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên
thức. Hai pháp như vậy lần lượt nương tựa vào
nhau, y như bó lau tựa nhau mà đứng. Nếu không có thức
thứ tám này thì tự thể của thức (trong thức duyên danh
sắc) không thể có được. Vả lại, hoạt động của
các chuyển thức có tánh gián đoạn nên không đủ năng lực
thường xuyên duy trì danh sắc, thì làm sao nói chúng thường
xuyên làm duyên cho danh sắc. Cho nên, thức trong thức duyên
danh sắc, rõ ràng là thứ thứ tám. Đây là giải
thích chữ duyên trong bài tụng Thập chứng.
8.
Thức thực:
Lại
nữa, khế kinh nói, tất cả hữu tình đều nương vào ăn
mà tồn tại. Nếu không có thức thứ tám thì thể
của thức thực không thể có được. Do đây biết
chắc rằng ngoài các chuyển thức còn có thức dị thục,
là thức thường hằng, biến khắp, có khả năng duy trì thân
mạng không cho hoại dứt. Nương theo lẽ đó, đức Thế
tôn nói, tất cả hữu tình đều nương vào ăn mà tồn tại.
Nên biết chỉ có thức dị thục là có tánh chất ăn
hơn hết (trong 4 cách ăn: đoàn thực, xúc thực, tư thực và
thức thực). Thức thực đó chính là thức thứ tám.
Câu
thứ ba, sanh tử, duyên, y thực, của bài tụng Thập
chứng đã giải thích xong.
9.
Diệt tận định tâm:
Lại
nữa, khế kinh nói, người trụ diệt định thì thân hành,
ngữ hành và tâm hành đều diệt, nhưng mạng sống và hơi
ấm vẫn còn, căn không biến hoại, thức không rời thân.
Nếu không có thức thứ tám thì sự thể thức không rời
thân của người trụ diệt định không thể có được.
Nhãn thức v.v… có hành tướng thô động, vì vậy đối với
cảnh sở duyên ý thức phải chủ phát mọi phân biệt lao
nhọc. Do nhàm chán sự phân biệt lao nhọc của ý thức
kia mà người tu diệt định tạm thời mong cầu đình chỉ
nó, rồi dần dần chế phục, cho đến khi diệt hẳn ý thức.
Căn cứ trạng huống không có ý thức mà xác lập người
trụ diệt định. Cho nên, trong định này, 6 thức đều
diệt. Nếu không thừa nhận tồn tại một loại thức
vi tế, thường hằng, biến khắp, có khả năng duy trì mạng
sống và hơi ấm, thì căn cứ vào đâu mà nói thức không
rời thân. Nếu hoàn toàn không có thức nào cả thì đồng
với ngói đá, mà ngói đá thì không có tình thức. Từ
lý lẽ này mà biết người trụ diệt định bắt buộc phải
có thức (dị thục). Cái thức không rời thân ở Vô
tưởng định, Vô tưởng thiên, căn cứ theo đây mà biết.
Đây là đã giải thích 3 chữ diệt định tâm.
10.
Nhiễm tịnh tâm:
Lại
nữa, khế kinh nói, tâm tạp nhiễm nên hữu tình tạp nhiễm,
tâm thanh tịnh nên hữu tình thanh tịnh. Nếu không
có thức thứ tám thì tâm tạp nhiễm, tâm thanh tịnh kia không
có. Các pháp tạp nhiễm và thanh tịnh lấy tâm làm căn
bản, nhân nơi tâm mà sanh, nương nơi tâm mà trụ. Đây
là giải thích 3 chữ tâm nhiễm tịnh. Chữ tâm đứng
giữa câu tụng thứ tư dùng chung cho 2 chữ trước: diệt
định và 2 chữ sau: nhiễm tịnh.
Trên
đây đã lược dẫn văn của luận Thành duy thức. Muốn
hiểu rõ tường tận nghĩa lý xin xem văn của luận ấy, quyển
thứ 3 và quyển thứ 4. Việc minh chứng có thức thứ
tám lý lẽ vô biên, xem đó không phải chỉ có 10 nghĩa chứng
minh có thức này mà thôi. Trong luận Du già cũng có 8
nghĩa chứng minh có thức này, sợ phiền nên không dẫn.
Như vậy đã dẫn giải xong bài tụng Thập chứng.
Do
vì hàng tiểu thừa không tin có thức thứ tám này mà ngài
Hộ Pháp luận chủ đã dẫn dụ nhiều lần sao cho sáng tỏ,
đặt lại vấn đề rồi giảng rõ, cho nên có câu tụng:
Do thử năng hưng luận chủ tranh.
Hạo
hạo tam tàng bất khả cùng
(Có
3 đặc tánh sâu rộng, nói không thể cùng tận về A lại
da, đó là: năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng)
Hạo
hạo, là sâu rộng. Tam tàng, là năng tàng, sở
tàng và ngã ái chấp tàng. Thức này có năng tánh duy
trì chủng tử phát sanh các pháp (, làm nhân cho các pháp, tức
chủng tử sanh hiện hành), nên gọi là năng tàng.
Thức này có năng tánh tiếp nhận các pháp huân tập chủng
tử (, làm quả cho các pháp, tức hiện hành sanh chủng tử),
nên gọi là sở tàng. Thức thứ bảy chấp kiến
phần của thức thứ tám làm tự ngã, nên gọi là ngã ái
chấp tàng. Vì vậy, (kinh Đại thừa A tỳ đạt ma)
có bài tụng rằng:
Chư
pháp ư thức tàng
Thức
ư pháp diệc nhĩ
Cánh
hỗ vi quả tánh
Diệc
thường vi nhân tánh.
(Các
pháp (= các chuyển thức) đối với tàng thức thế nào thì
tàng thức đối với các pháp cũng vậy, làm quả cho nhau mà
cũng làm nhân cho nhau.)
Ý
của bài tụng này nói, thức A lại da cùng các chuyển thức
triển chuyển tương sanh, hỗ tương nhau làm nhân, làm quả
trong mọi thời gian. Nhiếp đại thừa luận nói, A
lại da với các pháp tạp nhiễm đồng thời làm nhân duyên
cho nhau. Dẫn luận này để thấy thức thứ tám có
đủ 3 nghĩa: năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng.
Thể và dụng của A lại da rất sâu rộng, nên hàng phàm phu
và tiểu thừa không thông đạt được. Kinh giải thâm
mật cũng nói, thức A đà na cùng cực vi tế. Xin xem chú
giải ở văn trên. Dẫn bài tụng này để chứng minh
danh nghĩa chấp trì của thức thứ tám, qua đó thấy hàng
phàm phu và nhị thừa không thông đạt được.
Uyên
thâm thất lãng cảnh vi phong
(Từ
nơi biển tàng thức sâu thẳm, do gió cảnh giới thổi tới
mà 7 cơn sóng chuyển thức hiện khởi trên mặt biển ấy)
Đây
là nói A lại da, như nước, (làm nhân) hiện khởi các chuyển
thức (thọ dụng quả báo khổ vui). Các chuyển thức,
như sóng, hiện hành rồi trở lại (làm nhân) huân tập chủng
tử nơi A lại da. Bốn duyên là, căn (Mạt na), cảnh
(căn thân, thế giới), tác ý và chủng tử, dụ
như gió. Nếu gió 4 duyên thường xuyên tác động nước A
lại da hiện hành các chuyển thức (= chủng tử sanh hiện
hành), đồng thời sóng 7 thức thường hiện khởi trở lại
huân tập chủng tử nơi A lại da (= hiện hành sanh chủng tử).
Về mặt dụ, nhiều gió thổi đến thì nhiều sóng lớn sanh,
ít gió thổi đến thì ít sóng nhỏ khởi. Về mặt pháp, nhiều
duyên thì nhiều thức sanh, ít duyên thì ít thức khởi.
Cho nên kinh Lăng già nói, như biển gặp duyên gió mà khởi
ra đủ thứ sóng mòi v.v…, xin xem văn trên.
Thọ
huân, trì chủng, căn thân khí
(A
lại da có năng tánh thọ huân và trì chủng. Chủng tử,
căn thân và khí thế giới đều là cảnh sở duyên của A
lại da)
Đây
là nói thức thứ tám có năng tánh tiếp nhận huân tập từ
7 thức trước, cũng như năng tánh duy trì chủng tử các pháp
hữu lậu và vô lậu (= các pháp nhiễm tịnh). Năng tánh
duy trì chủng tử (trì chủng) của thức thứ tám cho
thấy thức này có cái đặc tánh làm chủ thể nên bao quát
mọi tổng báo (và biệt báo trong 3 cõi, đường lành đường
dữ).
Năng
tánh tiếp nhận huân tập (thọ huân) của thức này
cần đủ 4 nghĩa: một là, kiên trụ (= liên tục
ổn định); hai là, vô ký (= trung tánh); ba
là, khả huân (= khả năng thọ huân); bốn là, hòa
hợp với năng huân (= cùng thân cùng lúc với năng
huân).
Kiên
trụ, nghĩa là từ ban sơ vô thỉ đến chung cuộc cứu
cánh chỉ có một loại (thức) tiếp nối liên tục là thức
thứ tám. Thức thứ bảy cũng có đặc tánh như vậy,
tại sao không có nghĩa sở huân (= thọ huân)? Xét nghĩa
thứ 2 rồi mới chọn lọc.
Vô
ký, nghĩa là như tánh chất của mè, không thơm không hôi.
Khi ướp với hương liệu thì mè thành ra có cái hơi thơm
của hương liệu. Khi xông với đồ hôi thì mè thành
ra có cái mùi thúi của đồ hôi. Một vật vốn
là có mùi thơm hay mùi hôi, thì dù cho có dùng cái khác xông
ướp vật đó cho hôi đi hay thơm đi, trải qua nhiều ngày
tháng, rốt cuộc chẳng có thể biến đổi cái mùi vốn có
của nó. Cũng vậy, thức thức bảy vốn có tánh chất
hữu phú vô ký (trung tánh mà có ô nhiễm), cho nên không có
đặc tánh sở huân. Thức thứ tám và 5 thức trước
có đủ 2 nghĩa trên nên thích ứng nghĩa sở huân. Xét
nghĩa thứ 3 rồi mới chọn lọc.
Khả
huân, nghĩa là có tánh chất tự tại. Nơi không tự
tại thì không phải là nơi tiếp nhận huân tập. Thức
thứ tám của người khác có đủ 3 nghĩa: kiên trụ, vô ký,
khả huân, có phải là có nghĩa sở huân được sao? Xét
nghĩa thứ 4 rồi mới chọn lọc.
Hòa
hợp với năng huân, nghĩa là năng huân và sở huân phải
đồng thời, đồng xứ mới hòa hợp được. Thứ thứ
tám của người khác và thức thứ tám của mình thì khác
nhau, không liên quan nhau. Nếu năng huân của mình mà có
thể huân tập vào thức thứ tám của người khác, thì cũng
như nói mình ăn mà đòi người khác no, được sao?
Vì lẽ thức thứ tám có đủ 4 nghĩa trên nên chỉ nó mới
có năng tánh tiếp nhận huân tập (= thọ huân).
Câu
tụng chỉ nói thọ huân của thức thứ tám. Hình ảnh
biểu hiện của 7 thức trước (trong A lại da) chính là năng
tánh huân tập (năng huân). Trong các bài tụng về 7 thức
trước đã ẩn lược từ ngữ năng huân.
Năng
huân có 4 nghĩa: một là, có sanh diệt (= có
sanh diệt chuyển biến); hai là, có thắng dụng
(= có cường lực tư duy và thiện ác); ba là, có tăng
giảm (= có khi tăng khi giảm); bốn là, hòa hợp
với sở huân (= cùng thân cùng lúc với sở huân).
Có
sanh diệt, nghĩa là pháp nào có tác dụng sanh trưởng,
pháp ấy có tánh năng huân. Vậy thì, vô ký, sắc pháp,
tâm pháp đều có tánh sanh diệt, có thể là năng huân chăng?
Xét nghĩa thứ 2 rồi mới chọn lọc.
Có
thắng dụng, nghĩa là căn cứ sức mạnh ưu thắng của
tánh thiện ác, hữu phú (ô nhiễm) mà gọi là có thắng dụng.
(Điều này loại ra tâm, tâm sở thuộc dị thục (= bị chi
phối bởi nghiệp quá khứ), vì thế lực yếu kém của chúng.)
Vậy thì, ở quả vị Phật, pháp (thiện viên mãn của Phật
chứng) là cường thắng, sao chẳng phải là năng huân.
Xét nghĩa thứ 3 rồi mới chọn lọc.
Có
tăng giảm, nghĩa là có tổn ích. Ở quả vị Phật
(pháp thiện viên mãn của Phật chứng) không có tổn ích (=
không tăng, không giảm) nên không thể là năng huân. Tổn
ích là nên cương thì cương, hợp nhu liền nhu, việc làm có
thể làm xong. Bảy thức trước có đủ 3 nghĩa trên,
vậy bản thân chúng có khả năng huân tập nơi người khác
không? Nói cách khác, chúng có hòa hợp với sở huân
không?
Hòa
hợp với sở huân, nghĩa là thức thứ 8 và các tâm sở
đều có thể là đối tượng cho sự huân tập của 7 thức
trước. Thức thứ tám thì có tánh vô ký; các tâm sở
thì đủ cả tánh thiện, tánh ác. Sở huân, như vậy,
là thức thứ 8, các tâm sở không dự phần vào. Nếu
cho tâm sở có thể tiếp nhận huân tập thì mắc lỗi lầm
rất lớn, chớ nên hỏi vặn.
Chủng
tử, căn thân và khí thế giới đều là cảnh sở duyên
của thức thứ tám. Khi nói thức thứ tám có đặc tánh
duy trì chủng tử (trì chủng) thì cũng có nghĩa là nói
nó có đặc tánh tiếp nhận huân tập (thọ huân).
Khứ
hậu, lai tiên, tác chủ ông
(A
lại da là chủ thể của nhân duyên: hiện hành sanh chủng
tử hay chủng tử sanh hiện hành, đều là A lại da và các
chuyển thức của nó. A lại da là chủ thể của tổng
báo: đi thì đi sau, đến thì đến trước)
Thức
thứ tám là chủ thể của tổng báo, nên hữu tình khi đầu
thai thì nó là vị chủ nhân ông đến trước hết, khi mạng
chung nó bỏ đi sau cùng.
Bất
động địa tiền, tài xả tàng
(Từ
Bất động địa trở lên, thức thứ tám mới xả cái tên
A lại da hay tàng thức)
Thức
thứ tám từ nhân hữu lậu đến quả vô lậu lược có 3
giai đoạn (= trạng thái) phát triển: một là, hiện
hành sự chấp tàng ngã ái (Bồ tát từ thất địa trở
xuống, với tên A lại da); hai là, kết quả của nghiệp
thiện ác (từ vô thỉ đến bồ tát Kim cang tâm, với tên
thức dị thục); ba là, chấp trì dòng tương tục
(chấp thọ sắc căn, chấp thủ tự thể, với tên thức A
đà na). Nói cách khác, từ vô thỉ đến Bất động địa,
thức thứ tám được mệnh danh là A lại da, có nghĩa tàng
thức. Lại nữa, từ vô thỉ đến giải thoát đạo (=
Kim cang đạo), có tên Tỳ bá ca, có nghĩa là thức
dị thục. Do có đủ 3 nghĩa sau mà gọi là dị thục:
một là, biến dị thục (quả chín do nhân biến đổi);
hai là, dị thời thục (nhân và quả cách thời mới
chín muồi); ba là, dị loại thục (quả khác nhân,
nhưng do nhân mà quả thành thục). Sau quả vị Phật đến
tận vị lai vô tận, có tên là thức vô cấu.
A
lại da là nói thức thứ tám nhiếp tàng các pháp tạp
nhiễm và hữu tình chấp nó như là tự ngã nội tại.
Thức dị thục là nói A lại da do nghiệp lực thiện
ác huân tập mà thành quả báo. Chấp trì dòng tương
tục là nói thức A đà na chấp thọ chủng tử (của tướng,
danh và phân biệt) và duy trì hiện hành (của thân thể và
thế giới của thân thể) không có gián đoạn, từ giai đoạn
hữu lậu cho đến giai đoạn vô lậu. Từ Bất động
địa trở lên, thức thứ tám mới xả cái tên A lại da hay
tàng thức, (vì không có pháp tạp nhiễm để chấp tàng),
vì xả bỏ được các phiền não thô trọng, vì thức này
không còn bị thức Mạt na chấp làm tự ngã nội tại.
Y cứ
kinh luận, lược nói về chỗ thoát ra của A lại da nơi cái
thân sở y có thể tóm gọn trong bài tụng sau:
Thiện
nghiệp tùng hạ lãnh
Ác
nghiệp tùng thượng lãnh
Nhị
giai chí ư tâm
Nhất
xứ đồng thời xả.
Đảnh
thánh, nhãn sanh thiên
Nhân
tâm, ngạ qủy phúc
Bàng
sanh tất cái ly
Địa
ngục cước bản xuất.
(Nghiệp
thiện thì thân thể dần dần phát lạnh từ dưới trở lên,
nghiệp ác thì thân thể dần dần phát lạnh từ trên sắp
xuống, nghiệp thiện ác đều không ngoài cái tâm khi sanh khi
tử, đến một chỗ nào đó trên thân thể thì nghiệp thiện
ác cùng tâm ấy rời bỏ thân thể. Nóng ở nơi đỉnh
đầu là về cõi thánh, nơi mắt là sanh về cõi trời, nơi
tim (ngực) là tái sanh làm người, nơi bụng thì làm ngạ qủy,
từ đầu gối trở xuống là làm súc sanh, nơi hai bàn chân
thì đọa địa ngục.)
Giữa
kinh và luận có sự sai biệt. Kinh thì nói có 6 cõi khác
nhau, luận thì nói có 2 đường thiện ác. Xét cho cùng
thì 6 cõi cũng không ngoài thiện ác. Chữ tâm trong câu
thứ 3 là chỉ tâm sanh tử, được giải ở trên.
Kim
cang đạo hậu, dị thục không
(Sau
khi vào được Kim cang đạo thì tên Dị thục cũng không còn)
Đến
Kim cang đạo (= Như lai địa) thì chủng tử huân tập của
2 chướng (: phiền não chướng và sở tri chướng) và những
chủng tử, hiện hành thuộc hữu lậu vĩnh viễn được đoạn
trừ, vì vậy xả bỏ cái tên thức dị thục. Nhân và
quả vô lậu thấp kém cũng đều xả hết.
Đại
viên, vô cấu đồng thời phát
Phổ
chiếu thập phương trần sát trung
(Thức
vô cấu tương ưng với Đại viên cảnh trí mà đồng thời
phát sanh, có hoạt dụng chiếu khắp 10 phương các cõi nước
nhiều như vi trần)
Đến
địa vị chuyển y Phật quả [64] , thức thứ tám thành
thể vô lậu cực kỳ thanh tịnh, gọi là thức vô cấu.
Thức này cùng tương ưng với Đại viên cảnh trí mà đồng
thời phát khởi diệu dụng chiếu khắp 10 phương, tròn sáng
pháp giới.
Bài
tụng của kinh Như lai công đức trang nghiêm:
Như
lai vô cấu thức
Thị
tịnh vô lậu giới
Giải
thoát nhất thiết chướng
Viên
cảnh trí tương ưng.
(Thức
vô cấu của Như lai, là pháp giới vô lậu thanh tịnh, giải
thoát hết mọi chướng, tương ưng Đại viên cảnh trí.)
Tổng
quát về 4 trí thì Bình đẳng tánh trí và Diệu quan sát trí,
mỗi trí có 3 phẩm (chuyển y): hạ phẩm là Kiến đạo vị,
trung phẩm là Tu đạo vị và thượng phẩm là Cứu cánh vị,
còn Đại viên cảnh trí và Thành sở tác trí, mỗi trí chỉ
có thượng phẩm là Cứu cánh vị, vì 2 trí này từ trong quả
mà chuyển đắc.