Chương
3:
THỨC
THỨ BẢY
Đới
chất, hữu phú, thông tình bản
(Thức
thứ bảy duyên với đới chất cảnh, tương ưng với hữu
phú vô ký tánh, tư thông cả ý thức và bản thức)
Câu
tụng này nói về thức thứ bảy. Trong 3 tánh: thiện,
ác và vô ký, thức thứ bảy chỉ tương ưng với vô ký
tánh (trung tánh). Trong 4 tánh: thiện, ác, hữu phú
vô ký (trung tánh mà có ô nhiễm) và vô phú vô ký (trung
tánh mà không ô nhiễm), thức thứ bảy tương ưng với hữu
phú vô ký tánh. Trong 3 cảnh, thức thứ bảy chỉ
duyên với đới chất cảnh, do lấy tâm duyên tâm.
Chữ tâm trước là kiến phần. Chữ tâm sau
là bản chất. (Đó là thức thứ bảy lấy kiến phần
của mình duyên qua kiến phần của thức thứ tám, nên ở
giữa 2 thức này sanh ra 1 tướng phần, gọi là chân đới
chất cảnh.) Tướng phần đó mang (đới) bản chất (=
tánh chất của căn bản thức) mà sanh khởi, gọi là đới
chất. Nói khác là, tướng phần đó mang kiến phần của
thức thứ tám mà sanh khởi. Vì sao chẳng nói là mang
(đới) tình cảnh (cảnh của ý thức)? Vì tình cảnh
thì tràn ngập trong độc ảnh cảnh (của ý thức), nên không
đề cập đến trong thức thứ bảy.
Tùy
duyên [54] chấp ngã, lượng vi phi
(Thức
thứ bảy do thức A lại da sanh ra, rồi trở lại duyên thức
A lại da chấp làm tự ngã. Trong 3 lượng, thức này thuộc
về phi lượng)
Thức
thứ bảy theo sát thức thứ tám, lấy kiến phần của thức
thứ tám làm đối tượng chấp ngã. Chấp có nghĩa
là ôm ấp, vướng mắc. Thức thứ bảy đầy đủ câu
sanh ngã chấp và pháp chấp, cùng nhau nhậm vận sanh khởi.
Thức thứ bảy không có ranh giới để phân biệt cái nào
là ngã chấp, cái nào là pháp chấp. Vì sao? Vì sự
sanh khởi về mặt tư duy, so lường của thức thứ bảy không
được mạnh vậy. Trong 3 lượng, thức này thuộc về
phi lượng. Hình thái nhận thức của thức này là biết
sai lầm về ngã, là luôn có ý thức tự ngã, cho nên gọi
là phi lượng.
Bát
đại, biến hành, biệt cảnh tuệ
Tham,
si, ngã kiến, mạn tương tùy
(Thức
thứ bảy tương ưng với 8 phiền não đại tùy, 5 tâm sở
biến hành, 1 tâm sở tuệ trong biệt cảnh và 4 phiền não
căn bản là: tham, si, mạn và ngã kiến)
Hai
câu tụng trên nói về các món tâm sở của thức thứ bảy.
Thức này khi duyên cảnh thì thích ứng với 8 món đại tùy
phiền não (trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng
dật, thất niệm, tán loạn và bất chánh tri), với 5 món biến
hành (tác ý, xúc, thọ, tưởng và tư), với tâm sở tuệ trong
5 món biệt cảnh (dục, thắng giải, niệm, định và tuệ)
và với 4 món phiền não căn bản (tham, si, mạn và ngã kiến).
Ngoài
18 món tâm sở vừa nêu, các tâm sở khác vì sao không tương
ưng với thức thứ bảy?
Dục
là tâm mong cầu những việc chưa thành, chưa vừa ý.
Thức này chỉ nhậm vận (= không cần tác ý) vin theo cảnh
đã thành, vừa ý, không có tâm mong cầu gì nữa, vì vậy
thức này không có tâm sở dục.
Thắng
giải là ghi nhận và gìn giữ những cảnh (trong lúc) chưa
đi đến sự quyết định. Thức này từ vô thỉ luôn
vin theo cảnh đã quyết định và chỉ trải qua sự ghi nhận
và gìn giữ như thế, vì vậy thức này không có thắng giải.
Niệm
là nhớ lại những sự việc từng huân tập. Thức này
luôn duyên theo cảnh hiện tại đang tiếp nhận, không có sự
nhớ lại (cảnh quá khứ), vì vậy thức này không có niệm.
Định
là buộc tâm chuyên chú vào một đối tượng. Thức này
trong từng sát na nhậm vận vin theo những đối tượng khác
nhau, không có sự chuyên nhất (vào một đối tượng nào cả),
vì vậy thức này không có định.
Tâm
sở tuệ cũng tức là ngã kiến (= cái thấy theo
ý thức tự ngã). Từ ngã kiến mà triển khai ra 51 món
tâm sở khác nhau. Ý thức tự ngã (ngã kiến) của thức
này cần tâm sở tuệ làm duyên tố quyết định cho cái ý
thức lấy A lại da làm tự ngã.
Các
thiện tâm sở (11 món) là đứng về mặt thanh tịnh mà nói,
nên thức này không thích ứng.
Căn
bản phiền não và tùy phiền não bao gồm 26 món, nói tổng
quát thì đều thích ứng với ngã kiến. Tuy nhiên, đi
sâu chi tiết thì thấy thức thứ bảy: vì thẩm sát quyết
định chấp (A lại da làm) ngã nên không cần khởi tâm sở
nghi; vì thẩm sát luyến ái nơi ngã (ngã ái) nên chẳng sanh
tâm sở sân. Nói tóm, thức thứ bảy chỉ thích ứng
với 4 món phiền não là: tham, si, mạn và ngã kiến. Hành
tướng của 10 món tiểu tùy phiền não như phẫn, hận, phú,
não v.v… thì thô động, còn hành tướng của thức này lại
thâm tế, cho nên không có sự thích ứng với nhau. Hai
món trung tùy (vô tàm, vô qúi) thuộc về bất thiện, còn thức
thứ bảy thuộc về vô ký tánh, cho nên cũng không có sự
thích ứng với nhau.
Có
thuyết cho rằng, thức này không tương ưng với đại tùy
phiền não. Nếu không có tâm sở hôn trầm thì thức
này phải không chắc có tánh không kham nhậm (không thể gánh
vác được việc gì cả), (nhưng sự thật thì thức này có
tánh ấy). Nếu không có tâm sở trạo cử thì thức này
phải không có tánh náo động, và như vậy thì thức này hẳn
phải mang tánh chất như các tâm sở thiện, nghĩa là chẳng
phải ở cương vị nhiễm ô. Đã như (cho rằng thức
này là) tâm nhiễm ô mà không có tâm sở tán loạn, thì (thức
này) phải không có tánh rong ruỗi, nên (thức này) chẳng phải
là tâm thức nhiễm ô. Nếu không có thất niệm, bất
chánh tri, thì thức này làm sao có khả năng sanh khởi phiền
não hiện tiền? Như vậy, thức thứ bảy, còn gọi là
ý ô nhiễm [55] , nhất định cùng tương ưng với 8 món đại
tùy phiền não mà sanh khởi (hoạt dụng ý thức tự ngã).
Nói
về 4 món tâm sở bất định. Ố tác là ăn năn việc
làm đã qua, còn thức này thì nhậm vận (tự động, không
cần tác ý) luôn vin theo cảnh hiện tại, không phải việc
đã qua, nên không thích ứng với tâm sở hối. Thụy
miên là dựa vào tình trạng thân nặng nề, tâm mê muội,
và có khi tạm sanh khởi được là nhờ sự giúp sức của
các duyên bên ngoài, còn thức này từ vô thỉ chỉ chấp ngã
bên trong không nhờ các duyên bên ngoài, nên không thích ứng
với tâm sở thụy miên. Tầm và tứ đều hướng vào
đối tượng bên ngoài mà chuyển vận: tư duy có cạn sâu,
chuyển động có thô tế. Thức thứ bảy này chỉ hướng
vào đối tượng bên trong mà chuyển vận, ý thức A lại da
làm tự ngã, nên không thích ứng với tâm sở tầm và tứ.
Hằng
thẩm tư lương ngã tướng tùy
(Thức
thứ bảy thường xuyên tự ý thức về tự ngã)
Thức
thứ bảy thường xuyên suy xét, nghĩ tưởng, so đo, chấp kiến
phần của thức thứ tám làm tự ngã, cho nên nói hằng thẩm
tư lương ngã tướng tùy. Ý thức tự ngã (thẩm) ở trong
tám thức tâm vương được đối chiếu theo tánh chất thường
hằng (liên tục tiếp nối không gián đoạn) qua tứ cú phân
biệt sau đây:
1.
Hằng
mà không thẩm: Thức thứ tám không có chấp ngã,
(vì A lại da chính là tự ngã hằng chuyển) không gián đoạn
(mà chúng sanh tự ý thức chấp lấy).
2.
Thẩm
mà không hằng: Thức thứ sáu lấy sự chấp ngã của
thức thứ bảy làm chỗ dựa, nhưng có lúc gián đoạn.
3.
Vừa
hằng vừa thẩm: Thức thứ bảy chấp A lại da làm
tự ngã, không có lúc nào mà không chấp.
4.
Không
hằng không thẩm: Năm thức trước không có chấp
ngã, (nên vấn đề thường xuyên chấp ngã không đặt ra).
Ngài
Hộ Pháp bồ tát nói:
Ngũ,
bát vô pháp diệc vô nhân
Lục,
thất nhị thức thậm quân bình
(Năm
thức trước và thức thứ tám không có chấp pháp và chấp
ngã. Thức thứ sáu và thức thứ bảy rất bằng nhau:
một bên chấp pháp, một bên chấp ngã)
Hữu
tình nhật dạ trấn hôn mê
(Chúng
sanh hữu tình ngày đêm bị che lấp hôn mê bởi sự chấp
ngã của thức thứ bảy)
Hữu
tình lưu chuyển trong đêm dài sanh tử mà chẳng tự thức
tỉnh là do luôn có cái ý thức tự ngã của thức thứ bảy.
Thức này thích ứng và cùng sanh khởi với 4 món phiền não
căn bản và 8 món phiền não đại tùy.
Tứ
hoặc, bát đại tương ưng khởi
(Bốn
phiền não căn bản và 8 phiền não đại tùy tương ưng sanh
khởi với thức thứ bảy)
Câu
tụng này giải thích ý nghĩa của câu tụng trước. Tứ
hoặc, là 4 món phiền não căn bản: ngã si, ngã kiến, ngã
mạn, ngã ái. Bát đại, là 8 món phiền não đại
tùy: trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật,
thất niệm, tán loạn, bất chánh tri. Tứ hoặc và bát đại
đều đã được giải thích. Nói chung, phiền não căn
bản không phải là y tha khởi tánh, còn phiền não tùy thuộc
là y tha khởi tánh.
Lục
chuyển hô vi nhiễm tịnh y
(Thức
thứ sáu chuyển đổi theo ý thức tự ngã. Chính ý thức
tự ngã làm cho tâm thức tạp nhiễm hay chuyển đổi đi mà
làm cho tâm thức thanh tịnh. Do đó mà ý (ô nhiễm) được
gọi là nhiễm tịnh y)
Thức
thứ sáu gọi thức thứ bảy là nhiễm tịnh y.
Khi thức thứ bảy còn ở địa vị hữu lậu (thế gian), thường
xuyên ý thức A lại da làm tự ngã nên thức thứ sáu theo
đó mỗi niệm mà thành nhiễm ô (= phàm phu). Khi thức
thứ bảy đạt đến địa vị vô lậu (xuất thế gian), thường
xuyên ngộ nhập vô ngã nên thức thứ sáu theo đó mỗi niệm
mà thành thanh tịnh (= thánh giả). Như vậy, thức thứ
sáu thành nhiễm ô hay thanh tịnh đều do thức thứ bảy cả.
Cực
hỷ sơ tâm bình đẳng tánh
(Ở
sơ tâm của Cực hỷ địa, thức thứ bảy đang chuyển thành
bình đẳng tánh trí)
Ở
địa thứ nhất gọi là Cực hỷ, sơ tâm của thức
thứ bảy chuyển thành vô lậu. Bấy giờ thức này tương
ưng với (đặc tánh của một trong tứ trí) tâm phẩm, đang
trong giai đoạn chuyển đổi thành trí, và thức thứ sáu cũng
chuyển thành vô lậu, do thức thứ sáu đi vào chỉ quán về
ngã không (sanh không) và pháp không. Sự đi vào chỉ quán
về ngã không của thức thứ sáu đã làm chướng ngại cái
chấp tự ngã của thức thứ bảy không cho sanh khởi, tuy nhiên,
(chủng tử) pháp chấp của thức thứ bảy vẫn còn, cho nên
luận nói rằng: Đơn chấp Mạt na cư chủng vị/ Bình
đẳng tánh trí bất hiện tiền (Chủng tử pháp chấp của
Mạt na vẫn còn thì Bình đẳng tánh trí chưa hiện tiền).
Khi thức thứ sáu đi vào chỉ quán về ngã không và pháp
không thì chướng ngại cho thức thứ bảy sanh khởi chủng
tử ngã chấp và pháp chấp, cho nên luận nói rằng: Song
chấp Mạt na qui chủng vị/ Bình đẳng tánh trí phương hiện
tiền (Chủng tử ngã chấp và pháp chấp không còn thì Bình
đẳng tánh trí mới hiện tiền).
Thức
thứ bảy không có năng lực đoạn hoặc và đoạn chấp, toàn
nhờ thức thứ sáu đoạn dùm cho. Vì vậy có câu tụng:
Phân
biệt nhị chướng Cực hỷ vô
Lục
thất câu sanh địa địa trừ
Đệ
thất tu đạo trừ chủng hiện
Kim
cang đạo hậu tổng giai vô.
(Ở
địa vị Cực hỷ thì có hai chướng phân biệt (ngã chấp
và pháp chấp) bị đối trị bởi sự chỉ quán của thức
thứ sáu cho đến không còn. Tuy nhiên, câu sanh ngã chấp
và pháp chấp của thức thứ bảy phải nhờ thức thứ sáu
(đã vô lậu) đoạn trừ từ từ, trải qua các địa.
Đến địa vị tu đạo, tức từ Bất động địa trở lên
thì thức thứ bảy mới trừ được chủng tử và hiện hành
của ngã chấp. Khi chứng Kim cang đạo thì thức này chuyển
thành trí, câu sanh pháp chấp bấy giờ không còn nữa).
Nói
tóm, thức thứ bảy thành được vô lậu toàn là nhờ thức
thứ sáu tu chỉ quán để đối trị sự chướng ngại của
hoặc tạp nhiễm (= ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái) và
chứng được sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng [56]
.
Vô
công dụng hạnh ngã hằng tồi
(Đến
địa thứ tám, địa mà đã được vô công dụng hạnh, thì
ngã chấp của thức thứ bảy mới được phá trừ)
Từ
địa thứ tám trở về trước, thức thứ bảy vẫn còn chấp
pháp, nhưng chấp ngã đã có lúc gián đoạn. Đó là do
thứ thứ sáu không thường xuyên an trú nơi chỉ quán về
ngã không và pháp không. Đến địa thứ tám, gọi là
Bất động địa, (vì đã được vô công dụng đối với
vô tướng và trong các tướng thì không còn bị phiền não
hiện hành làm xao động), thì chủng tử ngã chấp của thức
thứ bảy mới bị đoạn trừ, nhưng chủng tử pháp chấp
vẫn còn sanh khởi có gián đoạn. Đó là do thức thứ
sáu thường an trú nơi chỉ quán về ngã không. Vì sao
chẳng đoạn được chủng tử pháp chấp? Vì chủng tử
pháp chấp không làm chướng ngại nhân tố (và duyên tố nội
tại mà các pháp sanh, các pháp thành, các pháp sanh thành rồi
tác dụng), là luôn thích ứng với triền mien [57], nhậm vận
[58] sanh khởi, thể (của nó vô tướng rất) vi tế, tánh
hữu phú (nên ô nhiễm) vậy.
Như
lai hiện khởi tha thọ dụng
Thập
địa bồ tát sở bị cơ
(Khi
thức thứ bảy chuyển thành Bình đẳng tánh trí thì có năng
lực hóa hiện tha thọ dụng thân, như đức Như lai hóa hiện
tha thọ dụng thân để giáo hóa cho các hàng bồ tát Thập
địa)
Khi
thức thứ bảy trở thành vô lậu thì tương ưng với Bình
đẳng tánh trí. Ở quả vị Phật, Bình đẳng tánh trí
có năng lực hóa hiện ra 10 loại thân tha thọ dụng. tức
năng lực giáo hóa của Phật, và đối tượng được giáo
hóa ở đây là bồ tát thập địa. Bình đẳng tánh trí
có năng lực hiện khởi tha thọ dụng thân là dựa vào nghĩa
thù thắng (so với 3 trí kia) mà nói như vậy, kỳ thật bốn
trí đều có năng lực hiện khởi tha thọ dụng thân.