THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản.
Phật Học Phổ Thông
Phật Học.
Tâm Lý Học Phật Giáo.
Triết Học Tánh Không
.
BÁT THỨC QUI CỦ TỤNG TRANG CHÚ
Quảng Minh dịch
MỤC LỤC

Lời nói đầu
Lời tựa
Chương 1:  Năm thức trước
Chương 2:  Thức thứ sáu
Chương 3:  Thức thứ bảy
Chương 4:  Thức thứ tám
Phụ lục
Sách tham khảo


LỜI NÓI ĐẦU

Bát thức qui củ tụng Trang chú được cho là của ngài Huyền Trang hay đệ tử của ngài biên tập, là một trong những tác phẩm thường được xem là phổ thông nhất về Duy thức học.

Duy thức trong Bát thức qui củ tụng mang nặng tánh chất luận lý học.  Các bài tụng cô đọng những nhận thức của ngài Huyền Trang về Duy thức, mà trong đó chú trọng đến hình thái và đối tượng của nhận thức, ngang qua sự khởi điểm từ phạm trù tam tánh, tam lượng và tam cảnh.

Tác phẩm chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn chỉ vỏn vẹn 12 câu tụng, và như thế toàn tác phẩm chỉ có 48 câu tụng.  Đoạn một, nói về năm thức trước;  đoạn hai, nói về ý thức, tức thức thứ sáu; đoạn ba, nói về thức Mạt na, tức thức thứ bảy; đoạn bốn, nói về thức A lại da, tức thức thứ tám.  Mỗi đoạn đều chỉ rõ về thể tánh, hành tướng, hoạt dụng và quả vị của mỗi thức.

Vạn pháp duy thức, là nói các pháp toàn là duy thức:  một là, vì các pháp không có gì thật cả; hai là, vì các pháp đều liên hệ đến 8 thức;  ba là, vì chủ thể nhận thức bao giờ cũng có đối tượng nhận thức.  Thức A lại da được gọi là căn bản y vì các pháp nhiễm tịnh được bao quát và phát sanh.  Thức mạt na và ý thức được gọi là nhiễm tịnh y và phân biệt y của các pháp nhiễm tịnh, vì các pháp do ý và ý thức mà thành nhiễm tịnh.  Năm thức trước chỉ nhận thức 5 cảnh mà không có phân biệt vọng chấp.  Trong sự phân biệt vọng chấp, ý thức đóng vai chính, 5 thức trước đóng vai phụ, thức Mạt na là đạo diễn, thức A lại da là nhà sản xuất.  Cốt lõi của sự tu là làm sao chuyển hóa sự vọng chấp phân biệt của ý thức thành trí vô trần, tức cái trí giác ngộ thực tướng không thật của trần cảnh.  Quá trình chuyển vọng qui chân này đòi hỏi ý thức mà tâm sở tuệ làm chính, cùng với các tâm sở biệt cảnh khác và các tâm sở thiện giằng co mãnh liệt chống lại những vọng tưởng điên đảo do phiền não căn bản và   phiền não tùy thuộc dẫn dắt.  Ý thức luôn phát triển theo bản năng tự ngã của thức Mạt na vốn được xây dựng trên căn bản kiến và ái.  Qua đó, tu tập là chế ngự và cắt đứt sự phát sanh liên tục cái ý thức tự ngã hay ngã chấp.  Tin có thức A lại da là tin vào thể tướng dụng của Tâm:  thể của Tâm là năng tánh huân tập các pháp tạp nhiễm hay thanh tịnh, tướng của Tâm là biểu hiện của các tâm vương và các tâm sở, dụng của Tâm là nhiễm ô có thể hủy diệt, thanh tịnh có thể thích ứng.  Nói cách khác, tu tập là bội trần hiệp giác, là bỏ nhiễm ô mà thành thanh tịnh, là chuyển bỏ 8 thức mà thành tựu 4 trí, mà thuật ngữ Duy thức gọi là chuyển thức.

Tác phẩm này còn có một giá trị đặc thù là 51 tâm sở được định nghĩa một cách rõ ràng và chính xác.  Điều này sẽ giúp rất nhiều cho người bước đầu học Duy thức.

Qui là một loại thước tròn.  Củ là một loại thước vuông.  Thước là dụng cụ đo đạc, làm ni tấc để thiết lập các vật dụng.  Hiệp cả pháp (bát thức) và dụ (qui củ), nên gọi là Bát thức qui củ tụng.
 

Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
19/9/Đinh Hợi (29/10/2007)
Cẩn bút
Quảng Minh
 
 

LỜI TỰA

Bộ Bát thức qui củ tụng của ngài Huyền Trang đại sư chưa từng thấy chỗ nào biên chép rằng ngài tự chú giải lời tụng đó.

Mùa hạ năm Đinh Mão, tôi ở nơi chùa Linh Ẩn đất Hổ Lâm.  Lúc đó có ngài Đàm Huyền[1]   đường chủ, người ở đất Tương, là bậc học rộng nghe nhiều.  Ngài nói với tôi rằng, trong đại tạng kinh hiện có bản khắc bộ Bát thức qui củ tăng sao, đời nhà Minh.  Trong bộ ấy chép rằng, đời nhà Đường, ngài tam tạng pháp sư Huyền Trang chú giải lời tụng.  Đời nhà Minh, ngài Lỗ Am pháp sư, hiệu là Phổ Thái, bổ chú thêm.  Đời nhà Minh, ngài Tử Bá thiền sư, hiệu là Đạt Quán, giải rõ lời chú.  Đệ tử thọ giới bồ tát là ông Lý Ngự Phương làm lời tăng sao.  Bạn đồng giới của ông là Tạ Phan Lâm, hiệu là Hữu Thọ, tham cứu và hiệu đính thêm.

Những lời chú giải và bổ chú thêm trùng lập lẫn lộn, rõ ràng là do người đời nhà Minh làm ra.  Chỉ có lời chú giải của ngài Huyền Trang, tức là bộ Bát thức qui củ tụng Trang chú này, xét về danh và kiểm lại sự thật thì câu nghĩa thật là già dặn, quyết chẳng phải là những người sau đời nhà Đường có thể gá mượn được.  Tuy chẳng đoan chắc là ngài Huyền Trang tự chú giải, nhưng những lời chú giải đó ắt cũng từ những bậc hiền đồ của ngài Huyền Trang thuật lại.  Được như thế thì rất đủ làm của báu vậy.

Trong bộ Bát thức qui củ tăng sao, tôi thấy nơi lời chú giải của ngài Huyền Trang và của ngài Phổ Thái có sự xen tạp lộn xộn, câu và chữ cũng có đôi lúc sai lầm.  Vì vậy, tôi bèn xem xét chính chắn qua một lượt và vâng theo lời dạy của ngài Đàm Huyền đường chủ, gạn lọc sao chép lại, cho ghi vào bộ Hải triều âm số 16, trang 8, hàng 8 để thật chứng vậy.

Thái Hư đại sư [2]

Bài Đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận, Pháp Sư Huyền Trang - HT. Thích Thiện Siêu
Thành Duy Thức Luận, Việt dịch: Tuệ Sỹ
Duy Thức Học Trọn Bộ, HT. Thích Thiện Hoa dịch
 

11-16-2007 09:23:34

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx