Phần
8 - Phụ lục
Chùa
Cây Mai (Bạch Mai) trong ký ức người xưa
DUY
HÀO
Chùa
Cây Mai là một trong những 30 thắng cảnh đẹp nhất và là
một trong số ít ngôi chùa đầu tiên biểu trưng của “Gia
Định thành”. Các thi nhân thời trước thường dùng “Mai
Sơn” hay “Mai Sơn tự” để nhắc đến Gia Định.
Chùa
Cây Mai còn có tên là Bạch Mai, Mai Sơn tự, Mai Khâu tự hoặc
Thứu Sơn tự. Chùa được dựng trên gò đất nổi cao (nằm
trên đường ra Phú Lâm - Chợ Lớn), xưa kia có dòng nước
bao quanh tạo nên phong cảnh hữu tình. Không biết chùa hình
thành năm nào, chỉ biết cảnh chùa đã không còn vào khoảng
cuối thế kỷ XIX.
Chùa
có tên Cây Mai vì trồng nhiều loại mai trắng, khi hoa nở
bay tỏa ngát hương thơm gây cho con người những cảm giác
lâng lâng. Chùa Cây Mai còn là một thắng cảnh của thành
Gia Định, một nơi nam thanh nữ tú thường dạo chơi trong
dịp Xuân về. “Thi xã Bạch Mai” nổi tiếng của thi nhân
Gia Định thời nhà Nguyễn thường lấy địa điểm chùa làm
nơi hội họp.
Năm
1847, Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản lúc còn làm Kinh lược
sứ Gia Định (Nam Kỳ), vì ngưỡng mộ chùa Bạch Mai đã dựng
nhà thủy tạ “Phương Đình” để thưởng thức bạch mai
và ngâm vịnh mỗi năm vào dịp Tết.
Vẻ
đẹp của chùa Cây Mai đã làm gợi hứng cho biết bao nhà
thơ; quyển ”Đại Nam nhất thống chí” - Lục tỉnh Việt
Nam - nói về chùa Cây Mai đã ghi lại bài thơ của một thi
sĩ khuyết danh khi viếng thăm chùa đã vịnh cây mai:
Cửa
thiền tìm viếng mai hoa,
Đường
xa nghỉ ngựa, Thích Già luận chơi,
Bình
trà hương ngát quyện hơi,
Bao
nhiêu trần lụy, nửa đời tiêu ma.
Trong
quyển “Gia Định thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức đã
nói đến ngôi chùa Cây Mai như sau: “Cách trấn mười ba dặm
rưỡi về phía Nam, gò đất nổi cao, có nhiều nam mai, thân
già cỗi, nhưng khi hoa nở không có tuyết, chỉ có lá che chở
hương thơm mà thôi. Hoa bẩm linh khí sinh ra nên không đem trồng
nơi khác được. Trên gò có chùa An Tông, đêm tụng kinh, tối
đánh chuông lớn, thanh âm vang rền trong mây khói, giống như
thế giới núi Thứu Lĩnh, suối trong chảy quanh chân gò, chiều
mát các cô gái chống thuyền hái sen. Gặp lúc trời tốt tiết
đẹp, văn nhân thi sĩ mang bầu rượu theo từng bực đi lên
đầu gò ngâm vịnh dưới hoa, câu thơ phảng phất mùi hương,
thật là một thắng cảnh cho khách du lãm”.
Tháng
2 năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Nghĩa quân
từ Định Tường, Vĩnh Long tăng viện để chống lại Pháp,
quân triều đình tập trung ở chùa Cây Mai và vùng quanh đó.
Quân Pháp tiến đánh, nghĩa quân thua, rút về Định Tường,
quân Pháp chiếm chùa Cây Mai và một số chùa khác lập thành
hệ thống đồn bót. Từ đó, chùa Cây Mai trở thành đồn
bót của quân Pháp. Cảnh đẹp rừng mai và cảnh đẹp thanh
tịnh của chùa không còn, mà thay vào đó là cảnh huyên náo
của binh lính Pháp át tiếng chuông chùa.
Qua
bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, chùa Cây Mai đến nay không
còn di tích gì nữa, chỉ còn là những kỷ niệm luyến tiếc
trong ký ức của các thi nhân.
Nhà
thơ yêu nước Nguyễn Thông đã bày tỏ lòng tình thâm sâu
dành cho ngôi chùa cổ:
Nhìn
suốt trời Nam trận máu tanh
Mười
năm đầu ngựa ngóng Mai đình.
Nhớ
chùa Khải Tường
BÙI
THỤY ĐÀO NGUYÊN
Chùa
Khải Tường được xây dựng vào thế kỷ XVIII, nằm trên
gò đất cao thuộc trung tâm Bến Nghé xưa. Chùa thuộc ấp
Tân Lộc, huyện Bình Dương, thành Gia Định (khu chợ Đũi,
quận 3 ngày nay). Năm 1791, Hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng) ra
đời nơi hậu liêu chùa khi chúa Nguyễn Ánh về đây tị nạn
binh Tây Sơn. Năm 1804, Cao Hoàng (Nguyễn Ánh) nhớ chuyện cũ.
Để tạ ơn đức Phật đã che chở cho ông những tháng năm
bôn tẩu, nên từ Huế, vua gửi vào dâng cúng chùa một tượng
Phật Thích Ca lớn, cao 2,5m bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng.
Năm 1832, Minh Mạng cho trùng tu chùa, kỷ niệm nơi sinh ra ông,
vàng son tráng lệ một thời. Năm 1858, thực dân Pháp đánh
phá cửa Hàn (Đà Nẵng). Năm sau lại vào tấn công Gia Định,
giặc chia quân đóng rải rác tại Trường Thi, đền Hiển
Trung và các chùa: Khải Tường, Kiểng Phước, Cây Mai v.v..
Tên
quan ba Pháp tên Barbé dẫn quân vào chùa Khải Tường. Hắn
cho đem tượng Phật ra sân và cưỡng bức các sư phải rời
chùa. Khi ấy, quan Kinh lược Nguyễn Tri Phương được triều
đình cử vào Nam lập chiến tuyến Kỳ Hòa chống Pháp, và
đêm 6-12-1860, binh ta phục kích giết chết được tên quan
ba này. Năm 1867, chùa bị giặc Pháp tháo gỡ, tượng Phật
phải dời đi nhiều nơi, sau cùng được đem trưng bày tại
Viện Bảo tàng Sài gòn. Riêng tấm biển “Quốc ân Khải
Tường tự” được gìn giữ tại chùa Từ Ân (số 23 đường
Tân Hóa, Q.6, TP. Hồ Chí Minh). Theo ông Vương Hồng Sển, tác
giả quyển “Sài Gòn năm xưa”, nền chùa ở vào vùng đất
Đại học Y-Dược (khu Nguyễn Đình Chiểu, Trần Quí Cáp,
Lê Quí Đôn). Nơi Barbé chết phỏng đoán khúc đường Võ
Văn Tần quẹo trái đi vào đường Cách Mạng tháng Tám. Trước
thiệt hại này, giặc Pháp rất căm tức, chúng ra tay cướp
tấm bia đá do vua Tự Đức cho chở từ Huế về Gò Công để
dựng ở một ông ngoại mình là Phạm Đăng Hưng, làm bia kỷ
niệm tại mộ Barbé ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (cũ).
Tên
tuổi của chùa Khải Tường và tên quan ba Pháp còn được
loan truyền qua câu chuyện sau đây: Sau những năm ấy, ở Gia
Định có một người con gái xinh đẹp, không rõ họ tên,
chỉ nghe người làng thường gọi cô Hai. Nhà cô làm nghề
nông cũng vào hạng đủ ăn. Trong đám trai làng cô đặt nhiều
tình cảm vào Trí. Trí, tên một chàng trai nhà nghèo, học
hành dang dở. Cám cảnh, lòng anh chỉ dám ước mơ...
Năm
thực dân Pháp vào đánh Gia Định, quân nhà Nguyễn từ Biên
Hòa kéo vào kháng giặc. Trong đó có một viên Lãnh binh lớn
tuổi tên Sắc. Nhìn thấy sắc đẹp cô gái, hắn dạm cưới
với một số tiền khá to và cha mẹ cô đã bằng lòng. Cô
gái, cũng như bao người dân yêu nước khác, mang lòng căm
thù giặc, nên vừa làm vợ vừa hết lòng giúp đỡ quân kháng
chiến, cô lo thu gom lương thực cho đại đồn Phú Thọ. Phần
Trí, quên nỗi đau riêng, anh cũng hăng hái gia nhập vào lực
lượng nghĩa quân. Do công việc, thỉnh thoảng cô và Trí vẫn
gặp nhau. Viên Lãnh binh Sắc tính tình hà khắc, không biết
thương lính, yêu dân. Một lần thua trận, hắn bị quan trên
khiển trách. Mang tâm trạng buồn bực, nên khi nghe quân bẩm
báo việc Trí thân mật với vợ mình, hắn lồng lộn ghen
tức. Hắn âm mưu cho người giả danh cô gái mời Trí tới
nhà bàn công việc. Trí tới, nhà nhỏ vắng vẻ, nàng Hai đang
tắm. Tên chồng từ nơi ẩn nấp bước ra tri hô, buộc tội
hai người là kẻ lăng loàn và cho lính đóng bè thả trôi
sông...
Quan
ba Barbé, đóng chùa Khải Tường, một sáng nọ đi săn. Bất
ngờ hắn gặp một bè chuối trôi, trên đó có một người
đàn ông và một người đàn bà. Tất cả đều trần truồng,
bị buộc nằm sát vào nhau. Theo dòng, hai con sấu lớn hung
hãn, quẫy đuôi bám riết theo bè. Hắn nổ súng, sấu sợ
hãi lặn mất. Bè được vớt lên, người con trai bị sấu
cắn cụt mất một chân, đã chết. Người con gái còn thoi
thóp thở.
Người
chết là Trí và cô gái được cứu sống là nàng Hai. Sau khi
được chăm sóc thuốc thang, ăn uống đầy đủ, nhan sắc
cô gái ngày càng hấp dẫn trong đôi mắt tên sĩ quan này.
Cô giả vờ như yêu hắn, dùng lời ngon ngọt để xin về
nhà và hứa sẽ cùng cha mẹ vào ở gần đồn. Nàng Hai về,
tên Lãnh binh cảm thấy nhục nhã, xốn mắt. Nhưng hắn không
dám ra tay đánh đập vì sau lần xử tội đó, cô đã không
còn là vợ hắn. Tuy nhiên lòng hiểm ác vẫn còn, hắn nghĩ
ra lý do bắt cô gái về tội mãi dâm với giặc. Sắc cho lột
truồng cô gái, giam dưới hố sâu đầy bóng tối, cho ăn xương
cá và cơm hẩm. đêm, Trương Định đi tuần ngang, thấy bọn
lính soi đuốc nhìn xuống hố, cười ầm ĩ. Quản Định cho
đem cô gái lên và nghe hiểu mọi chuyện. Nàng Hai xin được
ở lại tiếp tục đóng góp công sức với nghĩa quân. Nơi
chùa Khải Tường, Barbé thẫn thờ uống rượu chờ đợi
cô gái. Hôm đó, trời vừa sụp tối, bọn lính canh chạy
vào báo tin có một bà lão và cô gái khi nọ xin vào gặp quan
lớn. Hắn mừng rỡ phóng ngựa một mình ra đón. Còn cách
cô gái chừng mười thước, nghĩa quân mai phục hai bên đường
ào ra. Ngựa bị đâm ngã quỵ hất Barbé té xuống và một
ánh gươm loáng lên, đầu hắn lìa khỏi cổ...
Hơn
hai tháng sau, viện binh của Pháp từ Thượng Hải kéo đến
Sài Gòn. Sau một trận ác chiến, chiến lũy Kỳ Hòa bị hạ.
Sau những ngày loạn lạc, không ai tìm thấy cô gái nơi đâu,
sống hay đã chết... Nhưng trong dân gian còn truyền tụng mãi
hình ảnh thiếu phụ bị thả bè chuối trôi sông và đã góp
công giết giặc...
Chú
Tư Ấn, làm nghề giăng câu ở Ba Bần, nói: chuyện “Nàng
Hai Bến Nghé” người ta đã soạn thành tuồng cải lương
rồi, nhưng chú cũng xin góp thơ:
“Chuyện
trăm năm cũ
Phật
cũng thăng trầm (*)
Riêng
lòng son đó
Ra
ngoài sắc, không.
- Tài
liệu tham khảo: “Gia Định xưa” của Sơn Nam.
(*)
Ý nói tượng Phật.
DI
SẢN NGHỆ THUẬT CỔ PHẬT GIÁO SÀI GÒN-GIA ĐỊNH
DUY
HÀO
Những
ngôi cổ tự tại Sài Gòn-Gia Định: Sắc tứ Từ Ân, (Q.6);
Giác Lâm (Tân Bình); Giác Viên - Phụng Sơn (Q.11); Tập Phước
(Bình Thạnh); Long Huê - Trường Thọ (Gò Vấp); Hội Sơn -
Phước Tường (Q.9)... hiện còn lưu lại những di vật cổ
trong chùa như: các pho tượng Phật, câu đối, bao lam, hoành
phi, bàn thờ, pháp khí. Đây là những di tích có giá trị
văn hóa dân tộc và là những công trình nghệ thuật cổ tượng
trưng cho nền mỹ thuật Phật giáo (PG) Sài Gòn-Gia Định vào
thế kỷ XVIII cho đến thế kỷ XIX.
Hầu
hết các pho tượng Phật cổ đều được tạc bằng gỗ thể
hiện hình tượng với khuôn mặt mang yếu tố văn hóa Việt.
Tiêu biểu là những pho tượng Thập bát La hán tại chùa Giác
Lâm với khuôn mặt có đôi mắt nhỏ, mỏng, chân mày xếch
của người Việt xưa với cái nhìn an nhiên tự tại. Chùa
Giác Lâm còn lưu giữ 118 pho tượng bằng gỗ mít nài sơn
son thiếp vàng và 7 pho tượng đồng. Trong đó pho tượng Phật
Di Lặc bằng gỗ, bộ Thập bát La hán nhỏ và tượng Phật
Thích Ca ngồi trên tòa sen bằng gỗ cao 0,65m, được tạc vào
năm mới thành lập chùa 1744. Bộ tượng Phật, La hán lớn
cao khoảng 0,95m được tạc vào năm 1804 khi Tổ Viên Quang
trùng tu lại chùa. Các pho tượng: Phổ Hiền, Đại Thế Chí,
Thích Ca, Văn Thù, Quan Âm được khắc dưới dạng ngồi trên
mình thú; bộ tượng Diêm Vương cao 0,6m. Tại chùa Giác Lâm
còn có 40 câu đối hầu hết được khắc nổi, khắc chìm
vào thân cột. 9 bao lam tại các bàn thờ được khắc hình
chim sâu đậu trên cành trúc đang ngậm mồi, sóc đứng gần
cây giác, sóc ôm chùm quả giác trong lòng. Các phù điêu tạc
khắc Thập bát La hán, các chú chuột cắn đuôi nhau bò trên
những dây bí được chạm khắc khéo léo và mang đậm tính
chất dân gian.
Chùa
Giác Viên có 153 pho tượng cổ bằng gỗ, chủ yếu thờ tại
chính điện chùa cùng 3 pho tượng chân dung các vị Tổ khai
sơn được tạc vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Giác
Viên là ngôi chùa có nhiều bao lam nhất, chùa có tới 60 bức
lớn nhỏ: bao lam Thập bát La hán, bao lam hoa điểu, bao lam
bá điểu... được chạm lộng 2 mặt trước và sau y như nhau.
Riêng bao lam bá điểu chiều dài 3m, ngang 2,2m, chạm khắc 94
chim đủ loại: le le, họa mi, bói cá, chào mào, chim sẻ...
mỗi con với tư thế khác nhau: bay, đậu, rỉa mồi, mớm mồi,
âu yếm nhau... Ngoài ra, chùa còn lưu giữ bản khắc gỗ của
bộ Luật Trường Hàng thời Tổ Minh Khiêm.
Chùa
Long Huê hiện còn lưu giữ một số di vật cổ như: 3 tượng
Phật bằng gỗ, 3 tượng Phật bằng đồng, 26 long vị của
chư Tổ thời xưa, bảo ấn bằng ngà chạm hình sư tử trên
có 4 chữ Hán "Phật Pháp Tăng bảo" khắc vào năm 1872, bảng
"Sắc tứ Long Hoa tự" của vua Gia Long. Chùa Tập Phước hiện
còn lưu giữ các bảng đối liễn "Sắc Tiến Chế" và
"Tứ Hoàng Phong" do vua Gia Long ban tặng, cặp đối tại 2 cột
chánh điện, 10 long vị chư Tổ, 1 đại hồng chung bằng đồng
cao gần 1 mét chạm trổ hoa văn đúc vào đời vua Gia Long.
Ngoài ra tại chánh điện còn bài trí những pho tượng bằng
gỗ mít: Thập bát La hán tay cầm bửu bối, 10 vị Diêm Vương,
bộ Di Đà, Tam Thế Chí, Quan Âm. Chùa Phụng Sơn có pho tượng
Thích Ca bằng đá dát vàng và hai pho tượng chân dung HT Tuệ
Minh, HT Tuệ Thành. Chánh điện chùa Trường Thọ còn thờ
một số tượng cổ: Thập bát La Hán bằng đất cao 0,75m ,
đế cao 0,15m ngang 0,43m, tượng Phật Di Đà gỗ cao 1,80m, ba
tượng Phật Tam thế gỗ cao 0,9m ngang 0,50m, tượng Thập điện
Diêm Vương bằng gỗ cao 0,67m, ngang 0,33m, cùng một số long
vị xưa. Tất cả những di vật này được chạm khắc vào
thế kỷ XVIII. Riêng tượng Tổ sư Đạt Ma chạm khắc khác
hẳn với các tượng tại chùa khác.
Hiện
vật cổ tại chùa Phước Tường gồm các pho tượng; Tam Thế,
Quan Thế Âm, Địa Tạng, Dược Sư, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc
Đẩu, Hộ Pháp, Thập điện Diêm Vương, Già Lam, Di Lặc, Bồ
Đề Đạt Ma. Nhiều câu đối, trong đó có câu đối mang tên
chùa:
"Phước
Hải hồng thâm bửu phiệt độ thông thiên giới
Tường
Vân án đãi quí hào phổ ích vạn nhân gian".
(Biển
phước ân sâu thuyền báu giúp ngàn cõi được giải thoát
Mây
lành Tam bảo đem điều lợi độ khắp muôn người thế).
Chùa
còn bộ đèn nến có 2 con chim én ở đỉnh để cắm nến.
Hiện vật cổ tại chùa Hội Sơn gồm có 9 bài vị Tổ, 6
bức hoành phi, 3 cái bàn gỗ và 30 pho tượng. Chùa Từ Ân
Sắc tứ còn lại 2 bức hoành phi cổ "Quốc ân Khải Tường"
năm 1843 và "Sắc tứ Từ Ân tự" năm 1822. Pho tượng Phật
bằng gỗ cao 2,05m của chùa Khải Tường do vua Gia Long dâng
cúng năm 1804 được tôn trí tại Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam TP.Hồ Chí Minh.
Di
vật cổ của PG đã góp phần làm phong phú nền văn hóa dân
tộc nói chung và nền văn hóa PG nói riêng. Đây là một di
sản quý giá cần phải có biện pháp và công trình trong việc
bảo quản. Đến nay, những di sản hình như ngành văn hóa
PG của Giáo hội PG Việt Nam nói chung và Thành hội PG TP.HCM
nói riêng đang bỏ quên. Vô tình hay cố ý là có tội với
chư vị tiền bối Tổ sư đã dày công kiến tạo.
Nụ
cười của tượng Phật chùa Kim Chương
TRƯƠNG
NGỌC TƯỜNG
Kim
Chương, Sắc tứ Phổ Quang, Thiên Trường, đều là tên hiệu
của chùa Hội Thọ ở huyện Cái Bè (Tiền Giang). Ngôi chùa
này do Hòa thượng Đạt Bản quê ở Qui Nhơn vào khai sơn trong
năm Ất Hợi (1755), gốc ở thôn Tân Triêm, huyện Bình Dương,
nay ở vào khoảng chùa Lâm Tế, khu vực thành “Ô Ma”, đường
Nguyễn Trãi, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa Kim Chương
có thể gọi là ngôi chùa cổ nhất nhì ở xứ Đồng Nai-Gia
Định.
Vào
thế kỷ thứ XVIII, khi mới thành lập, chùa Kim Chương đã
là một đại già lam. Đặc biệt, vài thập niên sau đó, ngôi
chùa này đã chứng kiến một màn bi kịch của vương triều
nhà Nguyễn. Nguyên là khi Tây Sơn khởi nghĩa, chúa Nguyễn
và đám hoàng thân quốc thích phải chạy vào Nam lánh nạn
như bầy ong vỡ tổ. Khi đó, Hòa Nghĩa đạo tướng quân Lý
Tài đã tìm được Đông cung Nguyễn Phúc Dương đem về Gia
Định; và trong lúc nguy cấp, đã mượn chùa Kim Chương tạm
làm cung điện để tôn ông hoàng này lên ngôi. Do đó, chùa
Kim Chương đã được sắc tứ lần thứ hai, nhưng bị đổi
tên là Phổ Quang tự. Cuộc đời mấy ai được sung sướng
vĩnh viễn; chỉ một năm sau, tức vào khoảng năm Bính Ngọ
(1776), Tây Sơn đã đuổi bắt được Mục vương Nguyễn Phúc
Dương và Thái Thượng vương. Hai ông chúa này bị giải về
Gia Định. Trớ trêu thay, Tây Sơn cũng mượn chùa Kim Cương
làm pháp trường kết thúc cuộc đời hai ông chúa này.
Gia
Long khôi phục vương triều nhà Nguyễn, đến năm thứ ba (1804)
chùa Kim Chương tổ chức lễ chúc thọ giới đàn báo đáp
ân sâu của đức Phật. Đây là lễ giới đàn đầu tiên
trong lịch sử Phật giáo (PG) Nam Bộ. Trước kia, ở miền
Nam chỉ có chùa xây dựng theo thiết chế làng xã nên chỉ
có các cư sĩ đảm nhận việc nhang khói, ít có cao tăng trụ
trì. Người địa phương mộ đạo xuất gia, muốn thọ đại
giới thì phải vượt biển ra Trung vất vả nguy hiểm. Sự
kiện chùa Sắc tứ Kim Chương mở Đại giới đàn là một
sự kiện vô cùng quan trọng ở vùng đất mới này.
Đến
năm Quí Dậu (1813), Thừa Thiên Cao hoàng hậu (tức vợ vua
Gia Long), nhớ đến những ngày bôn ba gian khổ ở Gia Định,
hỷ cúng một vạn quan tiền, và sai Thần Võ tướng quân Trần
Nhân Phụng đem lính thợ đến trùng tu lại chùa Kim Chương.
Sau đó triều đình thường cử nhiều vị Tăng cang đến trụ
trì, nhưng đổi hiệu chùa là Sắc tứ Thiên Trường tự.
Theo Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định thành thông chí”, thì
lúc bấy giờ chùa Kim Chương rất rộng lớn: trước có sơn
môn và nhà thiêu hương, trong có chánh điện, hai bên có Đông
lang và Tây lang. Phía sau có phương trượng và nhà chứa kinh
sách. Tăng cang Minh Giác là một trong những vị có công lớn
trong việc in bộ kinh Kim Cang chú giải.
Năm
1859, thực dân Pháp xua quân tấn công Gia Định, Nguyễn Tri
Phương đắp đồn Chí Hòa cầm cự suốt hai năm thì địch
mới chọc thủng phòng tuyến rồi tràn sang các tỉnh lân cận.
Lúc bấy giờ chùa Kim Chương là một quốc tự, Hòa thượng
Minh Giác là một Tăng cang nên không thể nào ngồi yên trước
mũi súng của địch. Do đó, Tăng chúng cùng bổn đạo đã
gấp rút dỡ ngôi chùa và chở tượng Phật chạy về xã Mỹ
Thiện (nay là Thiện Trí) vì đây là hậu phương của cuộc
khởi nghĩa do Thiên hộ Dương lãnh đạo. Để che mắt địch,
nhà chùa lấy cớ có nhiều cao tăng trường thọ nên đổi
hiệu lại là Hội Thọ tự, xem bình thường như những ngôi
chùa bình thường khác.
Sau
khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, vì chùa Hội Thọ
ở gần lộ Đông Dương, Tăng chúng sợ thực dân Pháp sẽ
trở lại chiếm chùa làm đồn bót, nên hưởng ứng lệnh
kêu gọi tiêu thổ kháng chiến rồi rút vào bưng biền. Do
lúc đó người thi hành nhiệm vụ có ý thức giữ gìn nên
nhà chùa còn rất nhiều hiện vật. Từ đó có người gom
lại tạo một am tranh gìn giữ. Bom đạn càng ngày càng ác
liệt, đôi lúc người ấy phải gồng gánh chuyên chở bộ
tượng thờ theo đoàn người tản cư vô cùng xúc động.
May
mắn khi hòa bình lập lại, tổ đình Hội Thọ còn giữ được
nhiều bài vị và tranh chân dung của các vị Tổ sư tiền
bối. Chùa còn một bộ tượng gỗ của Thừa Thiên Cao hoàng
hậu cúng năm 1813 gồm có tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc
Đẩu, Địa Tạng, Đạt Ma, Già Lam, Minh Vương, Phán Quan...
Bộ tượng này được tạo hình với những đường nét sống
động, theo nhân dạng Việt Nam. Đặc biệt, tượng thần Già
Lam hộ trì ngôi Tam bảo là hình tượng của đức ông Cấp
Cô Độc, chớ không phải là hình tượng của Quan Thánh Đế
Quân như thường thấy ở các chùa Nam Bộ. Bộ tượng này
do thợ Huế làm, phong cách giống như tượng Di Đà của chùa
Khải Tường hiện để tại Bảo tàng Lịch sử TP. HCM. Mặc
dù bộ tượng này đã gần 200 tuổi, bị long sơn nhiều chỗ,
nhưng các thế hệ trước và thế hệ hiện nay đã có ý thức
bảo tồn di tích của người xưa, thường chăm sóc giữ gìn
không cho mối mọt đục khoét, chớ không sơn đắp tô vẽ
lòe loẹt theo phong trào trùng tu vô ý thức hiện nay. Có thể
gọi đây là những hiện vật quýcủa PG, đáng xếp vào hàng
“quốc bảo”.
Đặc
biệt nhất là chùa Kim Chương còn một tượng Phật Di Đà
cao khoảng 6 tấc, bằng đất sét thô, ép khuôn, bộng ruột,
bên ngoài sơn thếp. Đây là pho tượng thờ ở bàn chánh trung,
có niên đại khoảng cuối thế kỷ XVIII hay đầu thế kỷ
XIX. Pho tượng này trước kia ở Gia Định đem về Cái Bè.
Pho tượng thể hiện hình ảnh đức Phật đang tọa thiền,
thân mình ngồi thẳng tự nhiên, hai mắt hé mở, miệng mỉm
cười. Pho tượng này do các nghệ nhân ở địa phương làm
nên mang tính dân dã. Miệng Ngài cười móm mém như một bà
lão ở nông thôn. Một nụ cười bất diệt, vô cùng độc
đáo