Phần
7 - Các vị cao tăng trong cuộc vận động chấn hưng
PHẬT GIÁO
Hòa
thượng Khánh Hòa
và
cuộc vận động chấn hưng Phật giáo (1921-1933)
TRƯƠNG
NGỌC TƯỜNG
Hòa
thượng (HT) Khánh Hòa, thế danh Lê Khánh Hòa, (1877-1947)
người Ba Tri (Bến Tre). Năm 19 tuổi xuất gia tại chùa Long
Phước (Ba Tri). Đắc pháp với HT Minh Lương, chùa Kim Cang (Long
An), được pháp danh Như Trí, trụ trì chùa Tuyên Linh ở Mỏ
Cày (Bến Tre).
HT
Khánh Hòa là một nhà sư có học vấn uyên thâm, am tường
Phật pháp, cũng là một giảng sư có tài thuyết phục người
nghe. Hòa thượng là người yêu nước, thường kết giao với
người nhiệt tâm, trong số có cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc,
là thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngài còn là người tiến
bộ, con chim đầu đàn trong phong trào chấn hưng Phật giáo
(PG).
I.
Khi thực dân Pháp bắt đầu giày xéo đất nước, văn hóa
dân tộc bị tấn công, Phật giáo nước nhà cũng cùng chung
số phận. Trong giai đoạn này ở miền Nam, mặc dù có nhiều
tự viện được trùng tu hoặc xây dựng quy mô tráng lệ.
Số thiện tín, Tăng Ni, cao tăng cũng gia tăng; nhưng đây là
dị ứng của một nền văn hóa đang bị nền văn hóa khác
đe dọa. Những bộc phát này cũng là tất yếu, che bên ngoài
một cỗ xe trên đà xuống dốc. Trong khi ấy, tình hình PG
ở Trung quốc cũng giống như ở nước ta. Thế nhưng sau đại
chiến thứ nhất ở đây đã xuất hiện phong trào chấn hưng
PG do Thái Hư Pháp sư khởi xướng. Nhiều tài liệu sách báo
của phong trào này, cụ thể là tạp chí Hải Triều Âm, đã
trở thành chất kích thích cho phong trào chấn hưng PG ở nước
ta.
Công
việc đầu tiên là khoảng năm Canh Thân (1920), HT Khánh Hòa
cùng một số bạn bè thành lập hội Lục hòa, theo qui mô
nhỏ, nhằm mục đích đào tạo đoàn kết trong Tăng già. Ngài
còn đứng ra mở lớp gia giáo để đào tạo Tăng tài, hầu
đảm nhiệm trọng trách hoằng dương chánh pháp, dìu dắt
hậu lai. Bên cạnh đó ngài còn cần mẫn ngồi dịch một
số kinh sách chữ Hán ra chữ quốc ngữ để tiện việc phổ
cập trong quần chúng.
Mùa
hạ năm Bính Dần (1926), HT Huệ Quang chùa Long Phước (Trà
Vinh), đã mời HT Khánh Hòa làm giảng sư. Sau mùa an cư tại
đây, cư sĩ Huỳnh Thái Cửu, một Phật tử nặng lòng với
đạo pháp, có nhã ý mời Ban Chức sự viếng nhà. Hôm đó,
ông ta tổ chức đón tiếp long trọng. Trong bài diễn văn,
ông có nhận xét rất chính xác tình hình PG đương thời và
có nguyện vọng khẩn cầu chư Tăng cần phải vận động
chấn chỉnh thiền môn quy củ. Lời đề nghị thống thiết
của ông làm chư Tăng xúc động. Sư cụ Phổ Lý ở chùa Bửu
Lâm (Cao Lãnh) khóc rống lên. Mọi người ngẩn ngơ suy nghĩ.
Cuối
năm ấy, chùa Long Phước lại mở trường gia giáo rồi trùng
tu tái thiết nên HT Khánh Hòa có dịp sang đó. Nhiều người
nhắc lại lời đề nghị của ông Huỳnh Thái Cửu, HT Khánh
Hòa nhận xét:
- PG
suy đồi là do mấy cái lá phái. Tự chúng ta chia xẻ riêng
chùa, riêng Phật, thầy tu lại mang râu đội mão thành thầy
cúng. Đàn việt thức giả yêu cầu chấn hưng, không lẽ chúng
ta là sứ giả Như Lai mà ngồi điềm nhiên?
Cũng
có ý kiến:
- Muốn
chấn hưng thì phải lập hội tập họp những người vì đạo.
Sau đó thì mở trường đào tạo Tăng tài, quyên góp mua sắm
đầy đủ kinh sách và dịch toàn bộ kinh sách ra tiếng quốc
ngữ để dễ phổ biến.
Trong
một lần khác, có người đóng góp:
- Muốn
lập hội thì phải lập tại Sài Gòn vì Sài Gòn là trung tâm,
dễ liên lạc nối lục tỉnh hoặc vùng ngoài.
HT
Khánh Hòa than:
- Chúng
ta ở ngoài biên địa thì làm sao toan. Quý thầy ở Sài Gòn
có đủ điều kiện thì không hợp tác. Biết làm sao?
Lúc
ấy có Giáo thọ Thiện Chiếu là tọa chủ chùa Linh Sơn, số
149 đường Doumont, Sài Gòn (nay ở Cô Giang, quận 1, TP. Hồ
Chí Minh), tình nguyện dâng cúng ngôi chùa này để làm trụ
sở phong trào. Thầy Thiện Chiếu lúc đó rất trẻ, tư tưởng
tiến bộ (năm 1929 lại hoạt động trong phong trào Việt Nam
Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội).
Mùa
hạ năm sau (tức năm 1928), HT Khánh Hòa được thỉnh giảng
tại trường học Long Khánh (Qui Nhơn), do HT Phước Huệ chứng
minh. Trường học này do một đại thí chủ người Bến Tre
tài trợ nên có nhiều Tăng Ni chẳng những ở các tỉnh miền
Trung mà còn nhiều Tăng Ni ở miền Nam. Để nắm rõ tình hình,
trước một tháng, HT Khánh Hòa và Huệ Quang đã ra Trung thăm
dò dư luận để rồi chính thức dẫn một phái đoàn gồm
nhiều Tăng Ni Phật tử ra dự lễ. Suốt ba tháng chủ giảng,
Hòa thượng Khánh Hòa luôn đưa ra vấn đề chấn hưng PG và
được Tăng chúng hoan nghênh ủng hộ. Tại đây, HT Khánh Hòa
có một người bạn mới là sư Bích Liên.
Khoảng
tháng 5, giáo thọ Thiện Chiếu đi Hà Nội về, ghé thăm trường
hạ, có mua một số tạp chí Hải Triều Âm. Nhiều Tăng sĩ
đọc cảm thấy thích thú và lóe ra niềm hy vọng. Giải hạ,
HT Khánh Hòa về ghé Sài Gòn và từ đó ngài đã gặp Thiện
Chiếu nhiều lần để thúc vấn đề. Giáo thọ Thiện Chiếu
đề tặng HT một bản chương trình PG hội Trung Quốc để
HT tham khảo.
HT
Khánh Hòa, HT Huệ Quang lập một phái đoàn có thêm một số
cư sĩ đến nhiều chùa Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một
để tuyên truyền vận động. Nhiều cao tăng tán đồng, nhưng
khi bàn vào vấn đề thì e dè, sợ sệt.
Các
vị HT và cư sĩ trong Ban vận động đưa ra ba mục tiêu:
1)
Cần phải chỉnh đốn Tăng già.
2)
Thành lập Phật học đường.
3)
Dịch và xuất bản các loại kinh sách Việt ngữ.
Tháng
giêng năm Mậu Thìn ( 1928), một tổ chức PG đầu tiên, gọi
là Ban Chức sự Phật học viện, và Thư xã thành lập gồm
có:
HT
Khánh Hòa - Chùa Tuyên Linh (Bến Tre).
HT
Huệ Quang - Chùa Long Hòa (Trà Vinh).
Giáo
thọ Thiệu Chiếu - Chùa Linh Sơn (Sài Gòn).
Giáo
thọ Từ Nhẫn (Cần giuộc).
Giáo
thọ Chơn Huê - Chùa Sắc tứ Linh Thứu (Mỹ Tho).
Cư
sĩ Thái Bình Ngô Văn Chương.
Ông
Commis Trần Nguyên Chấn.
Trụ
sở Ban Trị sự đặt tại chùa Linh Sơn.
Để
có chi phí hoạt động, việc đầu tiên là HT Khánh Hòa về
họp bổn đạo để bán bè gỗ trùng tu chùa Tuyên Linh, và
cúng hết số tiền ấy, rất nhiều Phật tử đã ủng hộ
tiền bạc. Đặc biệt có 17 cư sĩ ở Trà Vinh cúng 1.300 đồng
(số tiền khổng lồ thời ấy) để đặt mua bộ Đại tạng
kinh (gồm 711 bộ) ở Trung Quốc về tàng trữ tại chùa Linh
Sơn.
Sau
đó, HT Khánh Hòa lại lặn lội đến các tự viện ở Vĩnh
Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Bạc Liêu, Cà Mau, Hà Tiên tìm chư Tăng
cùng chí hướng. Ngài đến Châu Đốc, vào chùa Phi Lai gặp
HT Chí Thành. HT lúc này đã già yếu lắm, nhưng lại hăng
hái nhiệt tình, ủng hộ cả tinh thần lẫn vật chất. Cũng
trong thời gian đó, ngài đáp tàu sang Phnom penh (Campuchia) để
nghiên cứu tình hình PG và cách đào tạo Tăng tài của họ.
Nhìn chung, HT Khánh Hòa gặp nhiều ý kiến thuận lợi. Có
chuyện rất cảm động xảy ra khi Ngài đến một ngôi chùa
ở vùng quê Bạc Liêu. Chùa này rất nghèo, sư cụ già yếu,
nhưng khi ngài đến, sư cụ đã giới thiệu cho Ngài gặp rất
nhiều chùa quanh vùng. HT Khánh Hòa ở đây mấy hôm. Khi từ
giã, vị sư này móc túi đưa cho Ngài 20 đồng. HT ngạc nhiên
hỏi:
- Tôi
không xin sao thầy lại cho? Tôi biết thầy không tiền.
Sư
cụ thành thật nói:
- Nào
phải đợi thầy xin, việc của thầy là việc chung, rất tiếc
tôi quá già không còn sức để chia sẻ trách nhiệm với thầy,
nên có chút ít gởi thầy làm lộ phí. Xin thầy hoan hỉ nhận
cho tôi. Tôi quá nghèo, dành dụm bấy lâu nay mà chỉ có bấy
nhiêu thôi.
II.
Sau đó Ban Trị sự cho ra mắt tờ Pháp Âm ngày 31-8-1929. Đây
là tờ tạp chí bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời ở
nước ta. Một điểm chúng ta cần chú ý là tờ báo này được
biên tập và xuất bản tại Sài Gòn nhưng trụ sở lại đặt
tạm tại chùa Sắc tứ Linh Thứu (Mỹ Tho). Đây cũng là trụ
sở của báo Dân Cày, tiếng nói của những người làm cách
mạng ở địa phương này.
Song
song với tờ Pháp âm do HT Khánh Hòa làm chủ nhiệm, Giáo thọ
Thiện Chiếu lại mở Phật học tùng thư, xuất bản nhiều
tạp chí Phật học chuyên đề như Phật hóa tân thanh niên,
Phật học tổng yếu... để cổ động từng lớp Tăng Ni trẻ.
Nhiều ý kiến mới mẻ xuất hiện trên các tạp chí này được
độc giả chú ý, gây tranh luận trên báo chí, thí dụ như
ý kiến: “Những kẻ giàu cái tánh chất nô lệ không biết
trông cậy ở sức mình mà cứ trông đợi ở sức người,
không biết họa phước đều do tự lòng tạo, mà cứ thưởng
phạt ở thần quyền, thì chẳng những không bao giờ thấu
được Phật lý, mà chính là một giống độc trùng sẽ phá
hoại PG, có ngày phải tiêu diệt”.
Do
Phật tử nhiệt tình ủng hộ nên đến tháng 12 năm ấy thì
xây dựng xong Pháp bảo phường và Duyệt kinh thất bên cạnh
chùa Linh Sơn. Bộ Đại tạng kinh mua ở Trung Quốc cùng một
số kinh sách, báo chí, tạp chí... được sưu tầm tàng trữ
để mọi thức giả có thể tới lui nghiên cứu.
Ban
Biên tập các tờ báo, tạp chí vừa kể, theo qui định cũng
phải gom về Duyệt kinh thất. Sư Bích Liên ở Qui Nhơn hay
tin có bài thơ chúc mừng:
Chúc
mừng Phật học thư xã
Kín,
thưa leo lét mấy thu đông,
Thơ
xã nay mừng đã lập xong
Thắp
tỏ bốn bên đèn trí huệ
Chất
đầy ba tạng sách Tây Đông
Mở
môn phương tiện theo gương sách.
Mượn
bút văn minh vẽ nét lòng.
Rường
cột
chống ngăn trời mạt pháp,
Rồi
đây biển giác rộng mênh mông.
(Pháp
âm, năm 1929)
III.
Thời bấy giờ, chính quyền đô hộ Pháp kềm kẹp gắt gao,
nên việc xin phép thành lập hội đoàn nếu không phải là
công chức thân Pháp thì không dễ dàng. Lúc bấy giờ, Commis
Trần Nguyên Chấn là công chức trong Dinh Đốc lý thành phố
Sài Gòn, những người nhiệt tâm vì đạo cũng biết hậu
quả, nhưng bất đắc dĩ phải nhờ đến ông. Lợi dụng tình
thế, Trần Nguyên Chấn ép HT Khánh Hòa phải chấp nhận ba
điều kiện:
+ Phải
để con rể của ông làm Chủ nhiệm sáng lập tạp chí Từ
Bi Âm và Nam Kỳ nghiên cứu Phật học hội.
+ Phải
nhường chức đệ nhị phó hội trưởng vĩnh viễn cho ông,
không ai được ứng cử tranh giành.
+ Phải
làm giấy mượn của ông chùa Linh Sơn và đất chung quanh chùa
(mặc dù chùa này được bà Nguyễn Thị Nghi xây dựng khá
lâu trải qua mấy đời trụ trì và vị trụ trì cuối cùng
là sư Thiện Chiếu đã cúng cho phong trào chấn hưng PG).
Cuối
cùng Thống đốc Nam Kỳ Krauthemer đã ký quyết định cho phép
thành lập Nam kỳ Nghiên cứu Phật học hội ngày 25-8-1931.
Tạp chí Từ Bi Âm được phép xuất bản ngày 30-4-1931, nhưng
phải chờ đến sau khi thành lập Hội, ngày 1-1-1932 mới ra
số đầu tiên. HT Từ Phong được cung thỉnh làm Hội trưởng,
HT Khánh Hòa được cử làm đệ nhất phó Hội trưởng kiêm
Chủ nhiệm Tạp chí Từ Bi Âm; để tình hình thuận lợi,
Ban vận động thành lập phải đưa ra một số công chức
cao cấp hay quan chức người Pháp vào Ban sáng lập hoặc vào
ban hội viên danh dự...
Ông
Commis Trần Nguyên Chấn là người có thế lực, nên trong giai
đoạn đầu, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học hội đã bênh vực
một số chùa chiền bị bọn cường hào ở nông thôn húng
hiếp để giành chiếm ruộng đất, tạo uy tín lớn. Thế
nhưng tình hình ngày càng xấu, chính quyền đô hộ lần lượt
đưa ra các biện pháp kềm kẹp như kiểm soát việc xuất
bản kinh sách, kiểm tra nội dung chương trình đào tạo Tăng
Ni, kiểm tra tài chính... Do đó, Từ Bi Âm chỉ xuất bản đến
số 45 (1-11-1933) thì HT Khánh Hòa rút lui, lôi kéo theo nhiều
người khác.
IV.
Do ngân sách không dồi dào nên Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học
Hội chủ trương các Phật học đường lưu động, đến khóa
ba thì bị ngăn cản phá hoại. Do đó ngày 13-8-1934, các vị
HT và các cư sĩ nhiệt tình mới vận động thành lập Hội
Lưỡng Xuyên Phật học, trụ sở đặt tại chùa Long Phước
(Trà Vinh). HT Từ Phong được cử làm Chứng minh Đạo sư,
HT làm hội trưởng. Năm 1935, Hội xuất bản tạp chí Duy Tâm,
xây dựng Phật học đường. Phong trào tồn tại đến năm
1945.
+ Sư
Thiện Chiếu tìm gặp HT Trí Thiền (chùa Sắc tứ Tam Bảo
- Rạch Giá) cùng vận động thành lập Hội Phật học Kiêm
tế ngày 23-3-1937. HT Trí Thiền được cung thỉnh làm Chánh
Tổng lý, tu sĩ Phan Thanh Hòa được cử làm Chủ bút Tạp
chí Tiến Hóa. Hội chủ trương làm việc từ thiện xã hội
như tổ chức cứu trợ đồng bào bị bão lụt, mở lớp học
từ thiện cho trẻ con nhà nghèo... Chính do chủ trương
tiến bộ như thế nên chùa Tam Bảo trở thành nơi lui tới
của cán bộ cách mạng và bị đàn áp sau Nam Kỳ khởi nghĩa
1940. HT Trí Thiền bị thực dân Pháp bắt đày Côn Đảo và
hy sinh tại đó.
+ HT
Huệ Đăng (chùa Thiên Thai - Bà Rịa) kín đáo hơn, ngài nói
“Duy trì Phật pháp chính là ở chỗ mở rộng việc hoằng
pháp lợi sanh, giáo dục thiện tín gieo trồng duyên lành cội
phúc...“, rồi cũng theo chiều hướng chung, năm 1935, ngài
cùng Tăng Ni Phật tử thành lập Thiên Thai Thiền giáo tông
liên hữu hội. Có kinh nghiệm của các hội khác, chư Tăng
Ni chỉ lo việc hoằng pháp lợi sanh, đào tạo kế vãng khai
lai... còn công việc từ thiện... do các cư sĩ đảm trách.
Hội Thiên Thai cũng xuất bản tờ Bát Nhã Âm. Nhờ quan niệm
đúng hướng mà việc truyền bá giáo lý phát triển mạnh,
đặc biệt là đào tạo được một thế hệ kế thừa theo
con đường dân tộc và Phật pháp.
V.
Tóm lại, việc chấn hưng PG không thành công trọn vẹn như
những người khởi xướng. Đó là do những tồn tại của
nhiều thế hệ chất chứa, trong một ngày một buổi không
thể nào chuyển đổi được. Hơn nữa theo cao trào xã hội
từ 1936 đến 1939, thực dân Pháp bắt buộc phải nới lỏng
cho thành lập các tổ chức PG cũng như các hội đoàn quần
chúng. Nhưng chánh quyền thời bấy giờ khôn khéo không cho
PG thống nhất, vì thống nhất PG không có lợi cho họ. Nhưng
ở một khía cạnh nào đó, tâm huyết của HT Khánh Hòa, HT
Từ Phong, giáo thọ Thiện Chiếu, cùng các Tăng Ni Phật tử
có tâm huyết không phải vô ích:
1*
Phong trào tuy không thành công trong việc thống nhất PG, nhưng
đã chứng tỏ rằng việc thống nhất giáo hội là việc rất
cần thiết. Có thống nhất PG thì mới có thể chấn chỉnh
thiền môn quy củ nâng PG địa phương ngang hàng với PG các
nước.
2*
Phong trào đã chủ trương thành lập nhiều trường Phật học,
đào tạo được một thế hệ Tăng Ni có phẩm hạnh, có trình
độ Phật học, trình độ văn hóa xứng đáng là sứ giả
Như Lai. Đặc biệt có nhiều tông môn còn bồi dưỡng cho
thế hệ sau theo đường hướng “Dân tộc - Đạo pháp”
nên sau Cách mạng tháng Tám 1945 có nhiều Tăng Ni “cởi áo
cà sa khoác chiến bào” tham gia hai thời kỳ kháng chiến,
góp phần giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
3*
Phong trào chấn hưng PG chủ trương dịch kinh viết bằng chữ
Hán ra chữ Việt và phổ biến các tài liệu nghiên cứu PG
của người nước ngoài, xuất bản các loại tạp chí PG...,
đã góp phần phổ biến giáo lý của đức Phật đến từng
tín đồ, biến đạo Phật thành đạo của mọi người, mọi
nhà.
4*
Đặc biệt, mặt thành công lớn của phong trào chấn hưng
PG là đào tạo được các thế hệ Ni chúng xứng đáng và
nâng Ni giới lên vị trí quan trọng như Tăng giới. Tương
tự, sau phong trào chấn hưng PG, chúng ta có một đội ngũ
cư sĩ am tường giáo lý nhà Phật, có nhiệt tâm vì đạo
pháp. Từ đó “bốn chúng” có thể cùng nhau xây dựng một
Giáo hội PG Việt Nam thật sự thống nhất như ngày nay. Điều
này các thế hệ trước có thể mong muốn, nhưng chưa làm
được. Hiện nay có nhiều nước mong muốn cũng chưa thực
hiện được.«
Tổ
sư Khánh Anh
(1895-1961)
Thượng
tọa THÍCH NHẬT QUANG
Hòa
thượng (HT) Khánh Anh, ngài là một trong ba cột trụ của phong
trào chấn hưng Phật giáo (PG) Việt Nam để chúng ta học tập
công hạnh của người xưa, soi lại việc làm của mình ngày
hôm nay, để có một phương hướng hành động luôn phù hợp
với hiện tình đất nước, để không thẹn với người xưa
và làm tròn trọng trách đối với hàng hậu học, trên con
đường phụng đạo giúp đời.
I.-
HÀNH TRẠNG
1-
Thân thế : HT Khánh Anh, thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chân
Húy, pháp hiệu là Khánh Anh. Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại
làng Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng
Ngãi. Năm 21 tuổi, ngài thọ quy giới tại chùa Cảnh Tiên.
Năm 22 tuổi (1917), ngài xuất gia tu học tại chùa Quang Lộc
với pháp danh là Chân Húy. Nhờ có căn bản về Hán học và
thế học cộng với quyết tâm cao, nên ba mươi tuổi ngài
tinh thông Phật học và trở thành một giảng sư Phật học
nổi tiếng.
Năm
1927, ngài được mời vào Nam dạy Phật học tại trường
gia giáo chùa Giác Hoa, tỉnh Bạc Liêu.
Năm
1928, dạy Phật pháp tại chùa Hiền Long, tỉnh Vĩnh Long. Đến
năm 1931, ngài làm trụ trì chùa Long An thuộc huyện Trà Ôn,
tỉnh Cần Thơ, trong thời gian này có nhiều học tăng đến
học đạo.
Ngài
tích cực tham gia phong trào chấn hưng Phật pháp do các HT Khánh
Hòa, Huệ Quang chủ xướng, để đào tạo Tăng tài hoằng
dương chánh pháp, đoàn kết nội bộ PG để đi đến thống
nhất Giáo hội. Với chủ trương đó, các ngài vận động
Phật tử hỗ trợ tài chánh để mở các trường Phật học:
- Năm
1933 thành lập Liên đoàn Học xã.
- Năm
1935 thành lập Hội Phật học Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh. Một
số chư Tăng xuất thân từ trường này đã trở thành những
vị giáo phẩm hàng đầu của Giáo hội PG Việt Nam Thống
nhất, như các HT Thiện Hòa, Thiện Hoa, Huyền Quang, Hành Trụ,
Quảng Liên...
Ngoài
việc tham gia giảng dạy, ngài còn cộng tác với tạp chí
Duy Tâm Phật học (cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội).
Ngài đã viết nhiều bài để cổ xúy phong trào chấn hưng
PG nước nhà.
- Năm
1940 làm pháp sư dạy tại chùa Thiên Phước ở Tân Hương
(tỉnh Tân An).
- Năm
1941, ngài dạy giáo lý cho Đại giới đàn mở tại chùa Linh
Phong ở Tân Hiệp.
- Năm
1942, Phật học đường Lưỡng Xuyên tạm nghỉ, ngài về trú
trì chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, mở lớp dạy giáo lý cho
Tăng Ni và Phật tử tại đây.
- Năm
1945, Hòa thượng Huệ Quang mời ngài về dạy trường gia giáo
tại chùa Long Hòa, thuộc huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Sau
Cách mạng Tháng Tám, đa số Tăng sinh theo tiếng gọi thiêng
liêng của Tổ quốc, xếp “ca sa” mặc chiến bào tham gia
cứu quốc, ngài lui về nhập thất tại chùa Phước Hậu (từ
năm 1945 đến 1955. Trong thời gian này, ngài đã soạn và phiên
dịch nhiều tác phẩm như: Hoa Nghiêm nguyên nhân luận, Nhị
khóa hợp giải, Hai mươi lăm bài thuyết pháp (của Thái Hư),
Tại gia cư sĩ luật, Duy thức triết học, Qui nguyên trực
chỉ, Khánh Anh văn sao (3 tập).
- Ngày
31-3-1957, Đại hội Giáo hội Tăng già Nam Việt họp tại chùa
Ấn Quang đã suy tôn ngài làm Pháp chủ của Giáo hội Phật
học Nam Việt và Hội Tăng già Nam Việt.
- Năm
1959, Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc kỳ III họp tại
chùa Ấn Quang đã suy tôn ngài lên ngôi vị Thượng thủ Giáo
hội Tăng già toàn quốc.
- Ngày
16-4-1961, ngài an nhiên thị tịch vào lúc 16 giờ tại chùa
Long An, Trà ôn (nơi Ngài đã trú trì từ năm 1931), hưởng
thọ 66 tuổi, lạp thọ 45 tuổi.
2-
Tinh thần phục vụ đạo pháp và dân tộc : Cuộc đời ngài
là tấm gương sáng cho môn đồ và hàng hậu học noi theo về
:
a)-
Tinh thần nhập thế: Ngài đã kế thừa truyền thống yêu
nước của dân tộc với tinh thần “Phật pháp bất ly thế
gian giác” của đạo Phật. Ngài đã không ẩn mình trong cảnh
non cao thanh vắng để đắm mình trong trạng thái an lạc giải
thoát khỏi cuộc đời, mà trái lại đã lìa bỏ quê cha chốn
Tổ để vào Nam “hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự”. Qua
phần tiểu sử, chúng ta thấy ngài đã tích cực nhập thế,
đã cùng với quý HT: Khánh Hòa, Huệ Quang, Pháp Hải, Thiện
Chiếu... chuyển xoay con thuyền PG Việt Nam thoát khỏi mê tín,
đoàn kết nội bộ để đi đến thống nhất Giáo hội, tạo
sức mạnh cho dân tộc chống chủ nghĩa thực dân.
b)-
Góp phần xây dựng văn hóa dân tộc: Trong thời kỳ này, chữ
quốc ngữ đã thay thế chữ Nho; trong chùa, kinh Phật toàn
là chữ Nho, để cho Tăng Ni và Phật tử có thể hiểu lời
Phật dạy, ngài đã trích dịch nhiều kinh sách từ Hán tạng
sang quốc ngữ, góp phần Việt hóa những từ Phật học. Qua
phần thi văn và những bài phục nguyện của ngài, chúng ta
thấy lời văn mộc mạc, gần gũi với nhân dân, thể hiện
tấm lòng thương dân, yêu nước vô vàn, như bài phục nguyện
sau đây :
Phục
nguyện:
Đất
rêm sáu chủng
Trời
tắm chín rồng
Mây
từ mưa pháp khắp Tây-Đông
Quả
phúc căn lành nhờ Phật Tổ
Cả
thiên hạ, Bắc-Nam ba bộ, nước nhà giàu mạnh đạo đồng
tu
Toàn
địa luân thế giới năm châu, quốc tế hòa bình người đồng
hóa.
Phổ
nguyện:
Tăng
già thường truyền bá
Cư
sĩ vẫn hộ trì
Trăm
họ đều quy y
Muôn
loài thành Phật đạo.
Nam
mô Thập phương thường trụ Phật Pháp Tăng Tam bảo”.
(Trích
Khánh Anh văn sao, “Lời phục nguyện hồi hướng”, trang
60)
Nếu
lòng yêu nước thương dân ở mọi người được thể hiện
trong cuộc sống hàng ngày qua tình làng nghĩa xóm, thì trong
nhà đạo, nó được thể hiện qua những bài phục nguyện.
Qua bài phục nguyện nhân ngày lễ Phật đản sanh có làm lễ
“cầu hồn trận vong uổng tử” sau đây, đã thể hiện
rõ tinh thần yêu nước thương dân của ngài :
Cầu
xin chư Phật chứng minh, xin chúng Tăng hộ niệm
Cầu
cho bá tánh khỏi điều nguy hiểm, trẻ già nhà cửa vẫn bình
yên
Cầu
cho tứ dân không sự truân chuyên, tôi tớ chợ vườn đều
thuận lợi.
Nào
là Thiện Mỹ, Vĩnh Xuân, Vĩnh Thới, Mông Điềm, Tích Thiện,
Lục Sĩ Thành; nào Bình Minh, Đông Hậu, Đông Thành, Nghĩa
Tứ, An Hòa, Giang Thừa Tự; từ thôn quê chí thành thị, hết
bị chiếm, đều giải phóng các khu vực, mỗi làng đồng
hưởng phước tự do.
Nào
là Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu
Một; nào là Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch
Giá, Cổ Chiêm Thành; từ Cà Mau chí Cao Bình bỏ phân ly, liền
thống nhất cả nước nhà, mỗi tỉnh chung vui đời sống
mới.
Phổ
nguyện:
Điều
lành thì đem tới
Điều
dữ thì tống ra
Ba
phần trăm họ lạc âu ca
Chín
loại bốn sanh thành Phật đạo...”
(Trích
Khánh Anh văn sao, bài Phục nguyện, trang 61)
Trong
lúc “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, còn ông thầy
tu suốt ngày tụng niệm, nguyện cầu, hay lim dim tọa thiền,
như vậy có tiêu cực và ích lợi gì không?
Nơi
chiến trận, người chiến sĩ ngày đêm cầm súng đánh đuổi
ngoại xâm; ở hậu phương, vị chân tu ngày đêm trau giồi
đạo hạnh, giới đức trang nghiêm, mọi người quý kính,
dạy điều phải trái cho dân, một lời nói của họ có thể
hoán cải một con người từ xấu ác thành người tốt, hiền
lương, thấy rõ bổn phận đối với nước với dân, tác
động lòng yêu nước nơi hậu phương, thì hiệu quả nào
khác bài “Tiến quân ca” nơi trận tuyến.
Xã
hội là một sự phân công lao động, dù anh ở ngành nghề
nào, cương vị nào, nếu sống và làm việc vì mọi người,
đem an vui hạnh phúc cho đời, cho xã hội, thì việc làm hay
hành động tuy khác, nhưng cứu cánh vẫn đồng. Người tu
hành, ngoài việc đem đạo lý vào đời, còn giúp cho mọi
người có đủ duyên vượt thoát khổ đau, nỗi bức xúc do
sự thăng trầm của cuộc sống mang đến, đem sự bình an
cho mọi người, mọi chúng sinh, trong đời sống hàng ngày.
Đối
với HT Khánh Anh, tấm lòng yêu nước thương dân không những
chỉ thể hiện qua những lời tha thiết nguyện cầu cho “quốc
thới dân an”, mà còn bằng hành động. Với tư cách của
một nhà lãnh đạo tinh thần, Ngài đã đi khắp nơi để thuyết
giảng, vận động chấn hưng PG, tập hợp Tăng Ni và Phật
tử thành một khối thống nhất, đã tạo thành sức mạnh
cho Giáo hội trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm,
chống chế độ độc tài gia đình trị sau này.
c)-
Tinh thần tu học: Dù bận nhiều Phật sự bên ngoài, nhưng
Ngài vẫn không xao lãng chuyện tu học. Ngài thường dạy môn
đồ: “Sách nói “Hữu chí sự cánh thành”, người mà có
chí cố gắng thì rốt rồi sự gì cũng nên được.
Vậy
chúng ta cố gắng thật học chân tu, thì cũng có ngày tiến
đến bực Phật. Điều đáng lo hơn hết là chỉ e mình không
thật học chân tu, chứ đừng lo không tiến đến bực Phật”.
(Trích “Gan anh hùng”, Khánh Anh văn sao, trang 44).
Khi
Hội Phật học Nam Việt xây chùa Xá Lợi xong, Hội trưởng
Hội Phật học là Chánh Trí Mai Thọ Truyền có xin ngài vài
câu châm ngôn để treo trong chùa, ngài viết:
“Tu
mà không học là tu mù
Học
mà không tu là đãy sách”
d)-
Nếp sống bình dị: Hòa thượng tuy là một cao tăng, đạo
cao đức trọng, uyên thâm Phật pháp, nhưng ngài sống rất
bình dị, thân mật, gần gũi với nhân dân. Có một lần,
Phật tử ở xa nghe danh ngài nên tìm đến để thăm hỏi Phật
pháp, vị cư sĩ này đi từ ngoài đến trong chùa, để tìm
HT trụ trì nhưng không gặp, chỉ thấy một ông già đầu
đội nón lá, mặc áo cụt tay, quần xăn đến gối, tay xách
thùng vòi, đang lui cui tưới cây, kiểng ở trước sân. Vị
cư sĩ đến hỏi thăm để xin được gặp HT trụ trì, nào
ngờ “ông già” tưới kiểng chính là bgài...
e)-
Trân trọng ơn nghĩa: Trong bài tựa “Phần kỷ niệm” của
Khánh Anh văn sao, ngài đã viết: “Kể từ năm Thành Thái
bát niên, tuế thứ Ất Vị (1895) đến nay (Tân Mão 1951), đã
57 năm qua, hay còn về sau này bao năm nữa, mà tôi đã thụ,
đương thụ và sẽ thụ: từ nào công sanh thành, ơn giáo dục,
đức khai thị, nghĩa đề huề, cho đến được cả tứ sự
cung cấp giữa: phụ mẫu, Sư Tăng, pháp lữ, đàn việt, bổn
đạo, nay gồm tìm được phần ít chân dung, chùa, trường
học, học chúng của các bậc ân đức kể trên, xin để trước
bổn này kỷ niệm:
“Pháp
tài tịnh thí thỉ thành công
Phước
huệ song tu phương tác Phật...”
Những
lời chân tình mộc mạc này đã khéo nhắc chúng ta luôn quán
xét lại mình, trau giồi công hạnh để báo đáp tứ trọng
ân.
II.-
SỰ NGHIỆP TRƯỚC TÁC VÀ DỊCH THUẬT
Về
phần trích dịch, gồm có các tác phẩm sau:
- Hoa
Nghiêm nguyên nhân luận
- Nhị
khóa hiệp giải
- 25
bài thuyết pháp của Thái Hư Đại sư
- Tại
gia cư sĩ luật
- Duy
thức triết học
- Qui
nguyên trực chỉ
- Khánh
Anh văn sao (3 tập), gồm có :
1-
Phần “thư từ” có những bài:
- Thư
thăm cha (văn lục bát)
- Phái
quy y diễn ca
- Vịnh
chùa Phước Hậu
- Vịnh
chùa Tân Hòa
- Bốn
mươi lăm bài thi bát cú
- Bài
chúc thọ cho nhà thầy
- Lòng
phái chùa Bảo An diễn ca
2-
Phần “liễn đối”:
Ngài
đã để lại 206 câu đối, trong đó có 3 câu đối cho nhà
thờ tổ tiên, còn lại ngài làm tặng cho các tự viện, riêng
chùa Phước Hậu (Trà Ôn) có đến 118 câu đối (hiện nay
còn treo 10 câu đối) và chùa Phật Quang ở Bang Chang có 8 câu
đối. Qua các câu đối đó, chúng ta thấy rõ ý chí và hạnh
nguyện của ngài, như các câu đối sau đây tại chùa Phước
Hậu:
Phước
địa kiến pháp tràng, đả đảo thần quyền trừ oán tặc
Hậu
cơ doanh bảo điện, chấn hưng Phật lực định tâm vương
Ngài
dịch: (Phước lớn nêu cờ phướn khắp nơi ; trừ mê tín,
dẹp quân thù, mượn quyền Thượng đế. Hậu dày đúc nên
chùa mỗi xứ ; vững giác thành, yên tu sĩ, học phép tâm vương)
Phước
lộc thọ, vương tướng quân dân, tổng giai thị nhãn tiền
sự vật
Hậu
cao thâm sơn hà đại địa, đẳng vô phi thức nội sở năng
Ngài
dịch: (Phước lộc chi, thọ yểu mà chi, vua chúa quan quyền
trò dưới mắt. Hậu bạc rứa, cao thâm cũng rứa, núi sông
trời đất cảnh trong mơ).
3)-
Phần phục nguyện:
Ngài
đặt rất nhiều bài phục nguyện, với nội dung khác nhau
như:
1-
Ở Lưỡng Xuyên Phật học hội Trà Vinh (7 bài)
2-
Trường hạ Thiên Phước (Tân Hương)
3-
Ở đàn chay Vu Lan, Trương Hoằng Lâu (4 bài)
4-
Đặt cho Diệu Kim, phục nguyện chúc thọ (4 bài)
5-
Trai tuần Hòa thượng chùa Long Phước - Vĩnh Long (1 bài)
6-
Trai đàn Vu Lan chùa Phật Quang (3 bài)
7-
Sắc tứ Tân Hòa tự (1 bài)
8-
Ở Long Hòa tự, huyện Tiểu Cần (1 bài)
9-
Lễ siêu độ cho trận vong, tử nạn (4 bài)
10-
Lễ truyền quy giới (1 bài)
III.-
PHẦN KẾT
Để
kết thúc, chúng tôi xin mượn lời của tác giả Việt Nam
Phật giáo sử luận Nguyễn Lang đã viết: “Thiền sư Khánh
Anh là một vị cao tăng bác học. Sự nghiệp đạo hạnh và
văn hóa của ông là một viên đá lớn trong ngôi nhà Phật
học Việt Nam.
Với
sự vắng mặt của Thiền sư Khánh Anh, ba cây cột trụ đầu
tiên của nền chấn hưng PG miền Nam đã không còn nữa. Những
thế hệ mà họ đã đào tạo nên đã có khả năng tiếp tục
công trình khởi xướng từ hơn ba mươi năm về trước”.
Một
vị cao tăng truyền đạo ở miền Nam
(1900-1973,
đời thứ 41, đạo Bổn Nguyên, tông Lâm Tế)
TRẦN
HỒNG LIÊN
Hòa
thượng (HT) Nhật Dần-Thiện Thuận sinh năm Canh Tý (1900),
con của ông Lê Văn Xúy và bà Trần Thị Biền, cư sĩ mộ
đạo ở Cần Giuộc. Năm 15 tuổi, ông Xúy cho con là Lê Văn
Thuận đi cầu sư học đạo (1914). Lúc ấy tại Gia Định
có ba chùa lớn là Giác Lâm, Giác Hải và Long Thạnh, ông cho
con vào chùa Giác Lâm xin quy y với HT Hồng Hưng - Thạnh Đạo.
Sau đó, ông Lê Văn Thuận được đặt pháp danh là Thiện
Thuận, húy Nhật Dần. Sau này cầu pháp với HT Hồng Hưng,
có pháp hiệu là Từ Hiền Chơn Dần.
Sau
một thời gian tu học, Thiện Thuận được giữ chức hương
đăng ở chùa. Do điều kiện chùa Giác Lâm lúc ấy chưa có
pháp sư nên HT. Thiện Thuận được cử qua chùa Từ Ân học
kinh pháp với Thiền sư Như Bằng (Thanh Ấn)-Từ Hòa. Sau đó
HT về chùa Giác Lâm giữ chức điển tọa.
Năm
Kỷ sửu (1949), HT. Hồng Hưng-Thạnh Đạo qui tịch, theo di
chúc lập sẵn, HT. Nhật Dần được giữ chức trụ trì chùa
Giác Lâm. HT Nhật Dần tính tình điềm đạm, hiền lành, ít
nói.
Thời
gian trụ trì chùa Giác Lâm, một số Tăng Ni thuộc chùa đã
lên đường kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế
quốc Mỹ. Chùa Giác Lâm giai đoạn này là nơi nuôi chứa cán
bộ, nơi hội họp của cấp ủy...
Năm
1957, HT. Thiện Thuận được tấn phong Hòa thượng trong Đại
giới đàn tại chùa Trường Thạnh. Lễ khai bằng Hòa thượng
được tổ chức tại trường Lục Hòa (chùa Giác Viên). Lúc
ấy HT được 57 tuổi.
Trong
thời gian sống và hành đạo, HT Thiện Thuận luôn tâm đến
các điều kiện để hoằng dương chánh pháp. HT Thiện Thuận
cùng HT Hồng Từâ đã hiến bốn công đất ở chùa Giác Viên
cho Giáo hội Lục hòa Tăng xây trường Phật học Lục Hòa,
làm nơi bồi dưỡng, đào tạo Tăng tài, và lập cơ sở để
in ấn “Phật học tạp chí” làm cơ quan ngôn luận cho Giáo
hội Lục hòa tăng.
Hòa
thượng cũng cúng dường cho Giáo hội một mẫu đất trước
chùa Giác Lâm để xây tháp thờ xá lợi Phật, xá lợi này
được Đại đức Narada mang từ Sri lanka sang tặng cùng với
cây bồ đề vào ngày 24-6-1953. Hiện xá lợi này được gửi
tại chùa Long Vân. HT Thiện Thuận muốn dùng công đức cúng
dường này hồi hướng về đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nguyện
cầu cho:
Lục
hòa pháp tràn lan thế giới
Từ
Bắc Nam cho tới Đông Tây
Không
còn ai giết hại ai
Mà
người nào cũng ra tay cứu đời”
Trong
thời gian chùa Giác Lâm trực thuộc Giáo hội PG Cổ truyền
Việt Nam, HT Thiện Thuận là thành viên Hội đồng Viện Tăng
thống (1971), là Viện trưởng Viện Hoằng đạo thuộc Giáo
hội PG Cổ truyền Việt Nam (1972), lúc ấy HT Huệ Thành là
đức Tăng thống.
HT
Nhật Dần thị tịch ngày 26-3 Quí sửu, thọ 74 tuổi, 54 hạ
lạp. Cuộc đời sống đạo và hành đạo của HT Thiện Thuận
là tấm gương sáng mãi trong lòng chư Tăng, Phật tử chùa
Giác Lâm.
Hiện
nay hoài bão của Tổ trong việc xây dựng tháp “Ngũ gia tông
phái” tôn trí xá lợi Phật, xá lợi A Nan và đặt bài vị
chư Tổ tiền bối ở Nam bộ đang được các chư Hòa thượng,
Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và Phật tử tiến hành. Công
trình sắp được viên mãn.
(Trích
Chư tiền bối Tổ sư tại tổ đình Giác Lâm)
Ngọn
đuốc sáng hiện thân cho tinh thần hòa hợp thống nhất
Phật
giáo Việt Nam
vô
danh
Hòa
thượng (HT) họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự
Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng
9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 1-11-1909 trong một gia đình nho phong
thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong
(nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong), tỉnh Quảng
Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ
Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam bảo. Vì
vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi,
ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải
Đức - Huế.
Năm
1926, khi được 17 tuổi, ngài thực thụ xuất gia thọ giáo
với HT Viên Thành tại chùa Tra Am ở Huế. Năm ngài 20 tuổi
(1929), được bổn sư cho vào thọ giới Cụ túc (Tỳ kheo)
tại Đại giới đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng. tại Đại
giới đàn này, ngài trúng tuyển Thủ sa di trong số 300 giới
tử. Do đó, bổn sư đã ban cho ngài pháp hiệu là Thích Trí
Thủ, ngụ ý khen tặng chữ Thủ là đứng đầu. Cũng vừa
năm đó, bổn sư của ngài, HT Viên Thành viên tịch, ngài ở
chùa Tra Am hai năm để thọ tang. Năm 1932, ngài vào học tại
Phật học đường Trúc Lâm do HT Giác Tiên thành lập và mời
HT Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, Bình Định làm Chủ giảng.
Cuối
năm 1934, ngài trở ra Huế, cùng các pháp lữ ngày trước tổ
chức trường Phật học ở chùa Tây Thiên, cung thỉnh Tăng
cang Giác Nhiên ở chùa Thuyền Tôn làm Giám đốc, HT Phước
Huệ ở chùa Thập Tháp, Bình Định làm Đốc giáo. Cùng thời
gian này, ngài còn làm giảng sư cho Hội Phật học Thừa Thiên
và lớp Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên,
cùng kiêm nhiệm việc giảng dạy tại trường Tiểu học Phật
học mở tại chùa Báo Quốc - Huế.
Năm
29 tuổi (1938), sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên,
ngài được sơn môn cử về trụ trì tổ đình Ba La Mật.
Ngài vẫn tiếp tục công việc giảng dạy và hỗ trợ cho
các trường Phật học. Năm 1939, ni trường chùa Từ Đàm được
thành lập. Đây là cơ sở và khởi duyên Ni bộ đầu tiên
được hình thành trong cả nước. Sơn môn và Hội Phật học
giao cho ngài đặc trách việc đào tạo Ni chúng.
Năm
1942, ngài được Giáo hội Tăng già Thừa Thiên bổ nhiệm
trú trì chùa Báo Quốc. Thời gian này ngài tích cực hoạt
động cho việc phục hưng PG và cùng các Tăng lữ cấp tiến
như Thượng tọa (TT) Mật Thể, Thiện Minh, Thiện Siêu đề
xướng cải tiến cách tu học, phổ cập cho phù hợp với
thời đại.
Năm
1944, các lớp đại, trung và tiểu học của trường Sơn môn
Phật học được dời về chùa Linh Quang, ngài được sơn
môn Tăng già giao phó nhiệm vụ Giám viện kiêm trú trì chùa.
Cuối
năm 1945, chiến tranh Việt-Pháp lại bùng nổ sau cuộc Cách
mạng Tháng Tám giành độc lập cho nước nhà, ngài đã cùng
một số vị khác thành lập Hội Phật giáo (PG) Cứu quốc
Trung Bộ và Thừa Thiên, và cho người đi khắp các tỉnh thành
lập Hội PG Cứu quốc tại tỉnh. Vào năm 1946, chiến sự
xảy ra ngay tại thành phố Huế, nên sơn môn Tăng già Thừa
Thiên quyết định dời trường Sơn Môn Phật học về chùa
Báo Quốc, ngài bàn giao nhiệm vụ trụ trì chùa Linh Quang lại
cho HT Mật Nguyện.
Năm
1950, sau khi Hội Việt Nam Phật học thành lập được ba năm,
ngài được đại hội thường niên bầu làm Hội trưởng
thay cho sư sĩ Chơn An - Lê Văn Định. Từ ngày có phong trào
chấn hưng PG tại Trung Việt năm 1932, đây là lần đầu tiên
chức Hội trưởng thuộc về tăng sĩ.
Năm
1952, trong chức vụ Ủy viên Hoằng pháp của Giáo hội Tăng
già Trung Việt, ngài đã đặt viên đá cho ngôi trường Trung
- Tiểu học tư thục Bồ Đề đầu tiên của Hội tại thành
nội Huế. Từ đó về sau các trường Bồ Đề từ bậc tiểu
học đến bậc trung học được lần lượt mở ở các Tỉnh
hội khắp Trung Việt, lan vào cả Sài Gòn.
Vào
1956, đại hội kỳ II của Tổng hội PG Việt Nam họp tại
chùa Phước Hòa (Sài Gòn), ngài được bầu làm Ủy viên Giáo
dục. Cũng trong năm này, Phật học viện Nha Trang được thành
lập tại chùa Hải Đức trên núi Trại Thủy, ngài được
giao nhiệm vụ Giám viện.
Phật
học viện Nha Trang chỉ đào tại Tăng sinh đến bậc trung
học, sau đó họ phải vào Sài Gòn theo học bậc đại học.
Để giúp đỡ số Tăng sinh này có nơi ăn ở đi học mà vẫn
giữ được nếp sinh hoạt thiền môn, năm 1960, Ban Quản trị
ủy cho ngài vào Sài Gòn mua một sở đất (nay ở đường
Lê Quang Định) tại xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, xây dựng
tu viện Quảng Hương Già Lam. Nơi đây cũng là trú sở của
ngài sau năm 1963 cho tới ngày viên tịch.
Năm
1962, ngài dẫn đầu phái đoàn PG Việt Nam tham dự Đại lễ
thế giới Phật lịch 2500 - ngày đức Phật nhập Niết bàn
tại thủ đô Vientiane - Lào.
Năm
1963, sự kỳ thị tôn giáo xảy ra dưới chính quyền Ngô Đình
Diệm. Ngài trở về Huế cùng chư Tăng lãnh đạo đấu tranh
đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo, ngài
bị bắt giam và đưa vào Sài Gòn. Khi trung tâm đầu não của
cuộc đấu tranh chuyển từ Huế vào Sài Gòn, ngài lại tích
cực tham gia. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ra đời,
ngài được cử vào Ban Dự thảo Hiến chương và sau đó được
bầu vào chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp, kiêm
Tổng vụ Tài chính. Với trách vụ này, ngài đã tổ chức
được ba cuộc hội nghị hoằng pháp (tại Phật học viện
Nha Trang, chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang), thành lập đoàn giảng
sư phân công tới các địa phương thuyết giảng Phật pháp,
và thành lập thêm được Phật học viện Phổ Đà ở Đà
Nẵng.
Năm
1964, ngài làm Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học đặt
tại chùa Pháp Hội, tiền thân của Viện Đại học PG Vạn
Hạnh, ngài còn chủ trương xuất bản các tậåp san Tin Phật,
Bát Nhã để hỗ trợ cho công tác hoằng pháp.
Năm
1965, ngài đi hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, đồng thời để
mở rộng sự giao thiệp với các tổ chức PG tại các nước
này trên đường phụng sự Phật pháp.
Năm
1969, ngài được Hội đồng Lưỡng viện GHPGVNTN tấn phong
pháp vị Hòa thượng. Cùng năm này, ngài khai Đại giới đàn
tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, Ngài trùng tu tổ đình
Báo Quốc - Huế. Năm 1970, ngài mở lớp Trung đẳng II chuyên
khoa tại Phật học viện Nha Trang, HT Thiện Siêu được thỉnh
cử làm Viện trưởng.
Trong
Đại hội GHPGVNTN kỳ 5 và kỳ 6, ngài được giao trách nhiệm
hết sức quan trọng và nặng nề là Viện trưởng Viện Hóa
đạo để thay thế HT Thích Thiện Hoa vừa viên tịch. Đây
là giai đoạn khó khăn nhất của đất nước cũng như Giáo
hội. Người lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo hội phải
đủ nghị lực, can trường và sáng suốt mới đi đúng hướng,
đúng đạo pháp được. Đến năm 1975, ngài lại phải gánh
thêm một trách vụ nặng nề nữa, là Xử lý thường vụ
Viện Tăng thống. Năm 1976, ngài mở Đại giới đàn Quảng
Đức ở chùa Ấn Quang và làm Đàn chủ.
Đất
nước đã được thống nhất, Nam Bắc một nhà. Trước thực
trạng đó, việc thống nhất PG hai miền là cần thiết. Thấy
được điều đó, ngày 23-1-1977, trong Đại hội kỳ 7 của
GHPGVNTN, ngài đã đưa ra thông bạch nêu lên nguyện vọng ấy
cụ thể như sau: Đại hội cần ủy cho Giáo hội Trung ương
tiếp tục vận động thống nhất PG cả nước trong tinh thần
đạo pháp và truyền thống dân tộc.
Năm
1980, ngài khai Đại giới đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang
và ngài làm Đàn chủ. Đây cũng là Đại giới đàn cuối
cùng của GHPGVNTN; và cũng là giới đàn có số giới tử Tăng
Ni đông nhất: 1.500 người.
Sau
bao gian lao, vượt qua bao khó khăn trở ngại từ mọi phía,
ngài đã được các hệ phái PG đề cử làm Trưởng ban Vận
động thống nhất PG. Không lâu sau đó, ngày 7-11-1981, Đại
hội Thống nhất PG được tổ chức tại chùa Quán Sứ - Hà
Nội, thành lập Giáo hội toàn quốc với danh xưng “Giáo
hội PG Việt Nam”, ngài được bầu làm Chủ tịch Hội đồng
Trị sự Trung ương - nhiệm kỳ I.
Trách
nhiệm Phật sự khó khăn cho nền thống nhất PG hoàn thành,
đáng lẽ đã đến lúc ngài lui về an trú tại chốn già lam
thanh tịnh, nhưng ngài đã không quản tuổi già sức yếu,
vẫn một lòng phụng sự đạo pháp. Ngài đã dẫn đầu đoàn
đại biểu PG Việt Nam tham dự Đại hội lần thứ 5 (1979),
lần thứ 6 (1982) của Tổ chức PG châu Á vì Hòa bình (ABCP)
họp tại Mông Cổ. Năm 1980, ngài làm trưởng đoàn đại biểu
tôn giáo Việt Nam dự Hội nghị Các nhà tôn giáo thế giới
vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt
nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, ngài làm trưởng
đoàn đại biểu PG Việt nam dự Hội nghị các nhà hoạt động
tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến
tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô.
Năm
1983, ngài tham dự Hội nghị các vị đứng đầu PG năm nước
châu Á tổ chức tại thủ đô Vientiane Lào. Cũng năm này,
ngài được cử làm Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Vào
những năm tháng cuối đời, sau khi đã đem bao tâm lực cống
hiến cho sự chấn hưng PG, cho sự phát triển và thống nhất
các hệ phái dưới một mái nhà PG, cho sự tu hành thăng tiến
của lớp hậu sinh, sức khỏe của ngài có phần suy giảm
nhiều.
Ngày
2 tháng 3 năm Giáp Tý, tức ngày 2 tháng 4 năm 1984, sau một
cơn suy tim đột ngột, ngài đã thâu thần viên tịch tại
Bệnh viện Thống nhất, thọ 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo.