THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
HỘI THẢO KHOA HOC
300 NĂM PHẬT GIÁO
GIA ĐỊNH - SÀI GÒN - TP HỒ CHÍ MINH
Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 2002
Phần 2  - Lịch sử truyền thừa

Điểm lại một số nét về sắc thái 

Phật giáo Nam Bộ nhân kỷ niệm 300 năm Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
Hòa thượng Thích Hiển Pháp 

Nhìn một cách tổng thể, xuyên suốt 200 năm lưu truyền, có thể nói, giai đoạn thế kỷ XVII là giai đoạn mà con thuyền Phật giáo (PG) Việt Nam bị bấp bênh, tròng trành trên dòng trôi lịch sử. Nếu thu hẹp ở Nam Bộ hay nhỏ hơn là Gia Định-Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh, thì PG đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển, tạo nên một sắc thái đặc thù trong tổng thể văn hóa nước nhà. Tiến trình phát triển này được khơi nguồn từ thuở mảnh đất hiếu sinh hiếu hòa, vốn là Vương quốc cổ Phù Nam (VăhNăh) từ thế kỷ thứ VI về trước, chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Ấn Độ, kết hợp với nền văn hóa bản địa tạo thành văn hóa Khơme - Ấn. Cho đến khi văn minh nhân loại phát triển, trái đất như thu hẹp lại thì nơi đây là điểm hẹn của các luồng tư tưởng kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo trên thế giới. Chính sự dung hóa này mà PG cũng đã phát sinh nhiều phong thái đặc thù, đa dạng trong suốt tiến trình hội nhập và phát triển. 

Trong lĩnh vực tôn giáo nói chung, hơn nơi nào hết, Nam Bộ là nơi hội tụ nhiều tôn giáo, giáo phái nhất: PG, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ ân hiếu nghĩa, Bửu sơn kỳ hương, đạo dừa, đạo nằm... 

Đối với PG nói riêng, cũng không có nơi nào có nhiều tông phái, hệ phái như nơi này: PG Bắc tông, Nam tông người Khơme, Nam tông người Việt, Khất sĩ, Hoa tông... Sau đây, ta thử tìm hiểu khái lược tiến trình du nhập và hội nhập của các tông phái này qua những thăng trầm lịch sử tại đất Nam bộ. 

I. PHẬT GIÁO BẮC TÔNG 

PG Bắc tông hay PG Đại thừa (Mahayana) là tông phái chủ đạo của PG Việt Nam, chiếm khoảng 80% trong cả nước. 

Có người cho rằng, PG Đại thừa đã truyền vào Nam Bộ khoảng thế kỷ thứ IX và rất thịnh hành trong những năm từ 1181 đến 1218 (1), nhưng đó là những sự kiện của một tiến trình đứt gãy mà ngày nay chưa có đủ cứ liệu để xem xét tường tận. Trong thực tế lịch sử, PG Đại thừa truyền vào Nam bộ có thể bằng hai con đường đáng tin cậy sau đây: 

1. Năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) đã gả Công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Cheichetta II. Từ đây sự bang giao giữa hai quốc gia Việt - Miên được thiết lập. Dân chúng hai bên cũng dễ dàng qua lại. Năm 1625, triều đình Angkor chính thức nhận 40 ngàn hộ dân của nước Việt sang sinh sống. Các Tăng sĩ PG ắt hẳn cũng có mặt trong làn sóng di dân này để truyền giáo nơi vùng đất mới. 

2. Năm 1679, khi nhà Thanh khuynh loát nhà Minh ở Trung Hoa, hai tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) đã cùng ba ngàn người vượt biên trên 50 chiến thuyền xuôi Nam tỵ nạn, được chúa Nguyễn chấp thuận và lập tức lệnh cho vào định cư sinh sống ở Nông Nại (Đồng Nai), Gia Định-Sài Gòn, Vũng Cù (Định Tường - Mỹ Tho) v.v.. và dĩ nhiên các Thiền sư cũng đã có mặt trong các đoàn này để gieo mầm giác ngộ. 

Cho dù PG truyền vào Nam Bộ bằng hai con đường trên, hay bằng con đường nào khác, thì sự thật vẫn là, hình bóng vị Tăng sĩ có mặt rất sớm ở đất Nam Bộ, sớm hơn cả cuộc kinh lược của Lễ Thành hầu  Nguyễn Hữu Cảnh vào mùa xuân năm 1698. 

Vị thiền sư được sách sử công nhận Sơ tổ của đất Nam bộ là Thiền sư Bổn Kiểu (Bổn Khao?) khai sơn chùa Long Thiền (nay tọa lạc tại số K2/3B ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, TP. Biên Hòa-Đồng Nai) vào năm 1664. Rồi từ đó những ngôi chùa liên tiếp được mọc lên như: chùa Đại Giác (ấp Nhị Hòa, xã Hòa Hiệp, tỉnh Đồng Nai), chùa Bửu Phong (ấp Bửu Long, xã Tân Bửu, tỉnh Đồng Nai). Từ đây PG lan tỏa xuống các vùng lân cận như Sông Bé với chùa Hội Khánh (1741), Long Hưng (cuối thế kỷ XVIII). Gia Định với chùa Phước Tường (1741), Hội Sơn (...), Giác Lâm (1744), Từ Ân (1752), Khải Tường, Kim Chương... Hầu hết các chùa đều do các Thiền sư dòng Lâm Tế khai sơn. 

Trong buổi đầu hội nhập, PG Đại thừa sinh hoạt chưa có hệ thống tổ chức rõ rệt. Các sinh hoạt Phật sự chủ yếu mang tính “nội tự”. Những Phật sự lớn hơn thì “sơn môn” đứng ra tổ chức như giỗ tổ, dạy nghi lễ, dạy kinh-luật-luận bằng chữ Nho (chữ quốc ngữ lúc này chưa được phổ cập). 

Vào khoảng thập niên 1850, khi những làn thuốc súng của thực dân phương Tây ngạt tỏa trên nền trời Việt Nam, tình hình xã hội trở nên rối ren, con đường phát triển của PG cũng u ám. 

Đến đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của phong trào chấn hưng PG ở Á châu, nhất là PG Trung Hoa, được Đại sư Thái Hư chủ xướng, PG Việt Nam cũng nhờ đây mà được khởi sắc chấn hưng. Đứng đầu phong trào này là Hòa thượng (HT) Khánh Hòa. Trợ lý cho HT có sư Thiện Chiếu. Chính sư Thiện Chiếu đã ra Hà Nội vào năm 1927 mang chương trình chấn hưng PG Trung Hoa vào Nam Việt áp dụng. HT Khánh Hòa bằng chương trình này, đã đi vận động hầu hết các chùa ở Nam bộ gấp rút mở trường Phật học đào tạo Tăng tài. Thế là lớp Phật học ngắn hạn được ra đời mang tên “Phật học Liên xã” được tổ chức lưu động ở các chùa: Long Phước (Trà Ôn), LongPhước (Trà Vinh), Viên Giác (Bến Tre)... Số lượng tăng sinh theo học lên đến cả trăm vị. 

II. PHẬT GIÁO NAM TÔNG 

Nói đến PG Nam tông, chúng ta cần phân biệt rõ hai hệ phái khác nhau là hệ phái Nam tông người Khmer và hệ phái Nam tông người Việt. 

1. Hệ phái Nam tông người Khơme 

Cho đến nay, các nhà dân tộc học và nhân chủng học, qua nghiên cứu đã xác định: tộc người Khơme có nguồn gốc từ người Phù Nam (Văh năh) từ thế kỷ VI trở về trước. Từ thế kỷ VII trở đi, sắc tộc này đã bị người Chen La (Chân Lạp hay Campuchia) thôn tính và đồng hóa suốt hơn 10 thế kỷ. Đến thế kỷ XVII thì khu vực này thuộc về lãnh địa Việt Nam và đương nhiên tộc người này cũng đứng trong cộng đồng Việt tộc. 

Người dân tộc Văh Năh chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa, kinh tế, chính trị, đặc biệt là tôn giáo của Ấn Độ, từ những thế kỷ trước hoặc đầu công nguyên do các đoàn thương buôn sang làm ăn. Họ thường mời các tăng sĩ Ấn Độ cùng theo để cầu nguyện cho việc làm ăn, hoặc tổ chức các lễ cầu an. Các tăng sĩ đã mang theo kinh sách, chữ nghĩa và các văn hóa phẩm đến đây cùng với các đoàn thương buôn, được dân bản xứ đón nhận nồng nhiệt và tôn làm thầy. Thế là bóng dáng của giáo sĩ Bà La Môn cũng như các thiền sư PG bắt đầu thấp thoáng trên mảnh đất miền Nam lịch sử này, đặc biệt tập trung tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 

Ở buổi đầu, Bà La Môn giáo là tôn giáo chủ đạo. Tuy nhiên trong quá trình truyền giáo, các giáo sĩ Bà La Môn chỉ gần gũi nơi chốn triều đình, vua chúa, quí tộc... nên mất dần ảnh hưởng ở quần chúng. Trong khi đó, đạo Phật thì luôn gắn chặt với nhân dân, nên ngày càng phát triển cả chiều sâu và chiều rộng. Đến thế kỷ XIII thì Bà La Môn giáo hầu như triệt diệt. PG trở thành tôn giáo độc tôn trong lòng người Khơme. Từ đây, vị sư trở thành nhân vật quan trọng trong nhiều mặt, ngôi chùa cũng hiển nhiên là trung tâm văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, tôn giáo, thậm chí là nơi chu toàn cho cả sự sống lẫn sự chết của dân bản làng, phum/sóc. 

HT Thích Dương Nhơn, đại diện cho PG Nam tông Khơme dự Đại hội đại biểu Thống nhất PG Việt Nam (1-7/11/1981) tại thủ đô Hà Nội, đã phát biểu: “PG Nam tông chiếm độc tôn trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa trong dân tộc Khơme trải qua nhiều thế kỷ. Đặc điểm của dân tộc Khơme là gắn liền với PG không tách ra được, vì các vị sư đến chùa tu đều là con em của đồng bào dân tộc. Chùa Phật là nơi tu hành của các vị sư sãi, là nơi làm lễ của đồng bào, là nơi giáo dục, đào tạo con em của đồng bào dân tộc, là trung tâm văn hóa, đồng thời cũng là nơi thờ phượng những người thân của đồng bào dân tộc khi an nghỉ cuối cùng” (2). 

Về tổ chức, mỗi tỉnh đều có hội đồng kỷ luật sư sãi (Sa La Kôn). Hội đồng này được điều hành bởi vị sãi cả gọi là Mê Kôn. Đứng đầu các huyện có Anu Kôn. Ở khu vực gồm nhiều xã có Vpacchea. Ở chùa có vị trụ trì trông coi, hướng dẫn dạy dỗ tín đồ Phật tử. Hiện nay Tăng sĩ Nam tông có hơn 10.000 vị, đặc biệt không có nữ tu. Các sư Nam tông không ăn chay, sống hạnh khất thực theo pháp “Tam tịnh nhục”. Đường hướng giáo dục của PG Nam tông Khơme hiện nay có chiều hướng phát triển rõ rệt, các lớp Phật học Pàli các cấp được mọc lên như: cao cấp Phật học Pàli ở Sóc Trăng, trung cấp ở Trà Vinh, sơ cấp ở Kiên Giang. Số tăng sinh theo học ba lớp này hiện có trên 3.000 vị. 

2. Phật giáo Nam tông người Việt 

Hệ phái PG Nam tông người Việt xuất hiện tương đối muộn màng so với dòng lịch sử PG 2000 năm. Có điều thú vị đáng nói là PG Nam tông có mặt ở Nam bộ từ trước hoặc đầu Tây lịch, khi nơi đây còn là nước Phù Nam, điều đó cũng có nghĩa là PG Nam tông có cùng thời hoặc sớm hơn PG Bắc tông có mặt ở Giao Châu (Việt Nam). Nhưng người Việt được giác ngộ tư tưởng PG Nam tông không phải từ miền Tây Nam bộ mà là một lân bang - Campuchia. Nói khác hơn, người Phật tử Việt Nam sang Campuchia học đạo ; sau đó hồi hương, xuất gia và truyền đạo. Thủy tổ của PG Nam tông người Việt là bác sĩ Lê Văn Giảng, sau này xuất gia mang đạo hiệu Hộ Tông. “1935 có một người bạn của ông Hiểu làm bác sĩ thú y từ Campuchia về dưỡng bệnh tại nhà ông Hiểu là ông Lê Văn Giảng, ông Hiểu đã mang sách Phật bằng tiếng Pháp cho (ông Lê Văn Giảng) xem và khuyên nên về Campuchia tìm thầy học đạo. Sau ba năm nghiên cứu Phật pháp, ông Lê Văn Giảng quyết định xuất gia làm Tỳ kheo có pháp danh là Hộ Tông. Cả hai cùng cam kết là một người làm cư sĩ (ông Hiểu) lo phần cất chùa, hộ tăng, còn Tỳ kheo Hộ Tông lo việc khai Phật  Pháp” (3). 

Năm 1938 - năm Tỳ kheo Hộ Tông xuất gia - cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu cùng với hai cư sĩ là ông Văn Công Hương và Nguyễn Văn Quyến tìm đất xây chùa cho Tỳ kheo Hộ Tông tu hành. Thấy vậy, gia đình ông Bùi Ngươn Hứa phát tâm cúng một lô đất tại Gò Dưa - Thủ Đức. Thế là một ngôi chùa Nam tông được mọc lên trên vùng đất này. Năm sau - năm 1939, đức vua Sãi Chuon Nath cùng phái đoàn 30 vị Tỳ kheo từ Campuchia sang làm lễ kiết giới Sìma và đặt tên chùa là Ratanaramyarama (Bửu Quang tự). Đây là ngôi chùa đầu tiên và Tỳ kheo Hộ tông là tăng sĩ đầu tiên của PG Nam tông người Việt. 

Năm 1957, chính quyền Sài Gòn chấp thuận cho PG Nam tông người Việt thành lập một Giáo hội mang tên Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. HT Bửu Chơn được suy tôn lên ngôi Tăng thống. Trụ sở Trung ương đặt tại chùa Kỳ Viên (610 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3 ngày nay). 

III. HỆ PHÁI KHẤT SĨ 

PG Nam tông người Việt xuất hiện được một thời gian thì hệ phái khất sĩ ra đời. Người sáng lập là sư trưởng Minh Đăng Quang. 

Sư trưởng Minh Đăng Quang, thế danh Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ngày 26-9 Quý Hợi (1923) tại Vĩnh Long. Sau 4 năm học đạo ở Campuchia, năm 21 tuổi (1944), sư xuất gia và hành đạo tại quê hương, sau đó qua Thất Sơn và Hà Tiên truyền giáo. Ngài tu hạnh “Khất sĩ”, sống đời du tăng. Bằng sự thâu hóa và sáng tạo, Ngài đã dung hợp hai hệ tư tưởng PG Nam tông và Bắc tông để gọi là tông phái thuần Việt như chúng ta đã biết : đạo Phật Khất sĩ Việt Nam. Trong phương thức truyền giáo, kinh điển của hệ phái được cô đọng trong bộ Chơn lý ; ngoài ra còn có một vài tác phẩm biên soạn bằng Việt ngữ, đặc biệt sáng tác văn thơ, phương thức này tương đối mới lạ, dễ hấp dẫn chúng dân Nam Bộ. 

Về tổ chức, tăng sĩ hệ phái được tu học dưới sự hướng dẫn của sư trưởng Minh Đăng Quang. Đến ngày 1 tháng 2 Giáp Ngọ (1954), Sư trưởng bị ngoại đạo bắt đi và vắng bóng (đến ngày nay). Từ đó hàng hậu duệ mới tiến đến việc thành lập các giáo đoàn. Đến đầu thập niên 1960 thì hệ phái hình thành được 5 giáo đoàn trên hai miền Trung và Nam của đất nước. 

Ngày 22 tháng 4 năm 1966, hệ phái Khất sĩ đã mở một hội nghị để thành lập một tổ chức bề thế hơn có tên Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Bản điều lệ được hình thành gồm 32 điều. HT Thích Giác Nhiên được suy cử lên ngôi Tổng Trị sự trưởng. Năm 1973 vào ngày 4 tháng 9, giáo phái tiến hành đại hội tại tịnh xá Trung Tâm, hệ thống tổ chức được phân làm hai viện: Viện Chỉ đạo và Viện Hành đạo. Bản điều lệ được chỉnh lý thành 26 điều. Đại hội ngày 17 tháng 6 năm 1975, bản điều lệ được tu chỉnh thành 6 chương 27 điều. Đây cũng là đại hội cuối cùng của Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, trước khi gia nhập vào Giáo hội đương đại. 

Hiện nay, hệ phái Khất sĩ có khoảng 2.000 Tăng, Ni và hơn 500 ngôi tịnh xá. 

IV. PHẬT GIÁO HOA TÔNG

Hiện nay, người Hoa có khoảng gần 1 triệu dân trên cả nước, TP. Hồ Chí Minh chiếm khoảng 50%, tập trung chủ yếu ở các quận 5, 6, 11 và rải rác ở một số quận, huyện. Người Hoa tại Việt Nam chiếm khoảng 80% là tín đồ đạo Phật. PG Hoa tông, do đó cũng được xem là một hệ phái có vị trí quan trọng trong cộng đồng Giáo hội PG Việt Nam. 

Như chúng ta đã biết, vào cuối thế kỷ XVII, nhà nước Trung Hoa có sự đảo chánh, một số tướng lãnh và dân chúng nhà Minh không thần phục nhà Thanh nên bỏ nước ra đi. Họ trôi giạt xuống Nam Việt Nam, được chúa Nguyễn cho định cư. Họ ổn định cuộc sống ở đây và xem như đây là quê hương thứ hai của họ. Số người Hoa tập trung rải rác khắp nơi, nhưng nhiều nhất là khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn, Đồng Nai, Mỹ Tho, Hà Tiên... Riêng khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn (Q.5), số Hoa kiều có đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo tương đối rõ nét. Khu vực quận 5 cũng được xem là trung tâm trên mọi lĩnh vực của Hoa kiều tại thành phố, kể cả vấn đề tôn giáo. 

Những ngôi tự viện ban đầu là do hội Ngũ bang (5 nhóm người: Triều Châu, Quảng Đông, Phước Kiến, Hải Nam, Hẹ) đứng ra xây cất như chùa Ông Nghĩa An, chùa Bà Tuệ Thành, chùa Ông Bổn, Quan Âm miếu v.v.. thực tế khi mới thành lập, những cơ sở này được gọi là hội quán, dùng vào việc hội họp, đình đám, bàn việc làm ăn v.v.. Vấn đề sinh hoạt tín ngưỡng chỉ là một phần thôi. Về sau các Tăng sĩ từ Trung Hoa sang, chưa có tự viện nên tạm dừng chân tại các hội quán này. Qua thời gian, chúng biến thành chùa, từ đó trở thành nơi tín ngưỡng thuần túy, làm tiền đề cho việc phát triển PG Hoa tông sau này. Khi các hội quán được cải thành chùa thì xu hướng phát triển PG bắt đầu manh nha, tăng sĩ Hoa tông số lượng cũng tăng lên. Từ đó, các bậc tôn túc người Hoa mới tính đến việc thành lập các ngôi tự viện để mở mang PG. Chùa Nam Phổ Đà, đường Hùng Vương, quận 6, được hai HT Thống Lương và Thanh Thuyền xây dựng vào năm 1945, được xem là ngôi chùa đầu tiên do các Tăng sĩ Hoa kiều tạo dựng. Rồi những năm tiếp theo, các ngôi chùa Hoa lần lượt mọc lên như chùa Quan Âm Trụ Trúc Lâm (Q.11) do HT Lương Giác xây năm 1951, chùa Hoa Nghiêm (Q.Bình Thạnh) do HT Thọ Dã xây năm 1952, Từ Ân thiền tự (Q.11) do HT Hoằng Tu xây năm 1955, chùa Vạn Phật (Văn phòng Ban Đại diện PG quận 5 hiện nay) do HT Diệu Hoa và HT Đức Bổn xây năm 1959, chùa Thảo Đường (Q.6) do HT Diệu Nguyên xây năm 1960... 

Năm 1968, HT Siêu Trần từ Đài Loan sang, nhận thấy tiềm năng phát triển của PG Hoa tông tại Việt Nam, Ngài đã cùng HT Thanh Thuyền đi vận động để thành lập Giáo hội. Đến năm 1973, tại Đại hội ngày 20 tháng 5, hệ phái thống nhất lấy tên Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam, trụ sở đặt tại số 195, lầu 4, đường Nguyễn Tri Phương - quận 5. Thành phần Ban Chấp hành Trung ương được suy cử  gồm: Cố vấn Ban chấp hành: HT Hoằng Tu; Chủ tịch: Pháp sư Siêu Trần; Phó chủ tịch: Pháp sư Thanh Thuyền; Tổng thư ký: Thượng tọa Duy Nhật và một số vị trong Ban Thường trực gồm 10 người. 

Ngày 21-8-1975, Đại hội Giáo hội PG Hoa tông Việt Nam được tổ chức, bầu ra Ban chấp hành mới gồm: Chủ tịch: HT Thích Phước Quang; Phó Chủ tịch: HT Tăng Đức Bổn; Thư ký: cư sĩ Vương Viên Lương và một số ủy viên. Năm 1976, HT Thích Phước Quang được mời làm Ủy viên đoàn Chủ tịch Ban Liên lạc PG Yêu nước TP. Hồ Chí Minh - một tổ chức tiền đề cho việc thống nhất PG đi đến việc thành lập Giáo hội PG Việt Nam trong thời đại mới. 

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, PG Việt Nam có khuynh hướng quy về một mối. Ngày 07-8-1975, Ban Liên lạc PG Yêu nước Tp. Hồ Chí Minh ra đời, HT Thích Minh Nguyệt với cương vị Chủ tịch, đã đứng ra kêu gọi thống nhất PG. Bên cạnh đó có HT Thích Trí Thủ - Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội PG Việt Nam Thống nhất và HT Thích Thế Long - Hội trưởng Hội PG Thống nhất Việt Nam; cả ba vị trưởng lão này cùng đứng lên kêu gọi Tăng, Ni, Phật tử trong cả nước tham dự ý tưởng thống nhất này. Ngày 12-02-1980, Ban Vận động Thống nhất PG Việt Nam được thành lập, HT Thích Trí Thủ được đề cử làm Trưởng ban. Sau hơn một năm tích cực vận động, ngày 04/11/1981, Đại hội đại biểu Thống nhất PG Việt Nam được khai mạc tại thủ đô Hà Nội có 165 đại biểu của 9 Giáo hội, hệ phái tham dự, đến ngày 7 thì bế mạc, khai sinh Giáo hội PG Việt Nam. 

Tóm lại, trong suốt tiến trình “300 năm Gia Định-Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh”, PG đã trở thành một thực thể văn hóa, tôn giáo hiện hữu sinh động giữa “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”, tạo nên một dáng vẻ vừa uy nghiêm của một tín ngưỡng lâu đời, vừa linh hoạt trong phong thái của nền văn hóa phồn thực tại đất Nam bộ này. Nhìn từ thực tế có thể nói rằng, chưa có một quốc gia nào, PG mang sắc thái phong phú, đa dạng như PG Nam bộ Việt Nam. Có những quốc gia thuần túy Bắc tông như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên...; những quốc gia thuần túy Nam tông như Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka, Lào, Campuchia... ; ở đây, PG Nam bộ Việt Nam là nơi tích tụ hai hệ tư tưởng PG này: Nam tông, Bắc tông, đặc biệt có thêm một vài hệ phái khác nhau. Tuy nhiên, kể từ sau Đại hội thống nhất PG Việt nam năm 1981, tất cả các hệ phái đều sinh hoạt hài hòa, nhất quán từ ý chí đến hành động, từ lãnh đạo đến tổ chức trong việc hoằng dương PG, lợi đạo ích đời, lấy phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” làm cương lĩnh hoạt động. 

Ngày nay, điểm lại giai đoạn lịch sử PG 300 năm, có thể nói Nam bộ là mảnh đất phát sinh nhiều hệ phái PG, nhưng Nam bộ cũng chính là chiếc nôi phát triển mạnh nhất PG Việt Nam.«

Chùa Hưng Phước, mùa Phật Đản PL. 2542
 
 

(1) Thạch Voi - Hoàng Túc. Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khơme Nam bộ, NXB Tổng hợp Hậu Giang 1988, tr 86. 

(2) Kỷ yếu Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam, Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn hành 1986, trang 35. 

(3) Bửu chánh, một vài nét về Phật giáo Nam tông Việt Nam. Tập văn số 21, Ban văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 1991, tr 82. 
 
 

Tổ đình Huê Nghiêm 
(Thủ Đức - TP Hồ Chí Minh) 
và Tổ sư Tế Giác-Quảng Châu
Hòa thượng Thích Trí Quảng 

Tổ đình Huê Nghiêm là ngôi chùa cổ có nhiều bậc danh tăng xuất thân 
       từ đây. Không biết rõ chùa được xây dựng từ năm nào, nhưng theo lịch sử truyền thừa các vị Tổ sư của chùa, thì ngài Thiệt Thụy-Tánh Tường là Tổ khai sơn. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được chùa Huê Nghiêm cũng đã có khoảng 300 năm. 

Tổ khai sơn nổi tiếng là một vị chân tu đức hạnh, cảm hóa được nhiều đệ tử, trong đó nổi bật nhất có ngài Tế Giác-Quảng Châu được coi như là vị Tổ quan trọng nhất ở miền Nam vào thế kỷ XIX. 

Ngài Tế Giác cảm đức của Tổ Thiệt Thụy-Tánh Tường nên xuất gia với Tổ, học được nhiều đức tánh quý báu với bậc thầy đắc đạo. Tuy nhiên, muốn tiến tu, phát huy trí tuệ, ngoài phần sở đắc nội chứng cần thiết phải có, còn phải kết hợp thêm phần sở học. Vì vậy, ngài Tế Giác đã đến tham vấn học đạo với Tổ Phật Ý-Linh Nhạc. 

Sau khi dạy ngài Tế Giác, Tổ Phật Ý-Linh Nhạc quán thấy ngài có nhân duyên với Tổ Tông-Viên Quang nên đã bảo ngài đến cầu học với vị này. Trên bước đường hành đạo, nhân duyên rất quan trọng, vì có duyên thì nương theo thầy mới phát triển được. 

Mặc dù Tổ Tông-Viên Quang là đệ tử của Tổ Phật Ý, tức đồng huynh đệ với ngài Tế Giác, nhưng vì vâng lời dạy bảo của Tổ, cũng như không tự ái, chấp ngã, chỉ quyết tâm học đạo nên ngài Tế Giác đã hết lòng cầu pháp với Tổ Tông-Viên Quang, nhận vị này làm thầy. Vì vậy, ngài Tế Giác còn có tên là Tiên Giác-Hải Tịnh, theo dòng truyền thừa của hệ Lâm Tế gia phổ (Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên. Minh như hồng nhật lệ trung thiên). 

Trong thời gian học đạo với Tổ Tông-Viên Quang, ngài Tiên Giác-Hải Tịnh - tức Tế Giác-Quảng Châu, có cơ hội tiếp xúc với quan Tổng trấn Gia Định thành là Trịnh Hoài Đức. Cảm mến tài đức của ngài Tế Giác vượt trội hơn người, có thể Trịnh Hoài Đức đã giới thiệu Ngài với triều đình Huế. 

Năm 1825, vua Minh Mạng sắc phong chức Tăng cang cho ngài Tế Giác và bổ nhiệm trụ trì chùa Thiên Mụ ở Huế. Việc Ngài được cử làm đại diện chư Tăng miền Nam ra đất thần kinh làm thầy là điều rất hiếm, vì lúc ấy Huế là kinh đô, có nhiều nhân tài thường vô miền Nam truyền đạo. 

Năm 1833, con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi nổi loạn, chiếm thành Phiên An (Saigon), chống lại triều đình Huế. Ngài Tăng cang Tế Giác là người ở Gia Định nên bị nghi ngờ có liên hệ với loạn quân; vì vậy, triều đình đã cách chức ngài. 

Nhưng đứng trước sự đổi thay vinh nhục của trần thế, tâm hồn ngài vẫn thanh thản, chẳng cần minh oan, vẫn giữ một lòng lo cho đạo pháp. Tâm hồn trong sáng của Tổ Tế Giác đã làm Tăng chúng cảm kích và khiến triều đình phải suy nghĩ, điều tra lại. Sau cùng, vua Thiệu Trị đã phục hồi chức Tăng cang cho ngài và cử làm trụ trì chùa Giác Hoàng. 

Trải qua thời gian hành đạo nơi cố đô, Tổ Tế Giác đã độ được một số cao tăng nổi tiếng. Tiêu biểu như Hòa thượng khai sơn chùa Tường Vân cảm mến đức hạnh của Tổ, nên đã xin cầu pháp và được Tổ cho pháp hiệu là Liễu Tánh-Huệ Cảnh (thuộc đời thứ 37, tính theo dòng pháp của Lâm Tế chánh tông: Tổ đạo giới định tông. Phương quảng chánh viên thông. Hành siêu minh thiệt tế. Liễu đạt ngộ chơn không). Vị này còn có tên là Tánh Khoát-Đức Giác (thuộc đời thứ 39 của tông Tế thượng Thiệt Diệu Liễu Quán: Thiệt tế đại đạo. Tánh hải thanh trừng. Tâm nguyên quảng nhuận. Đức bổn từ phong). 

Với trí tuệ của bậc ngộ đạo, đến đâu, làm việc gì đều có mục tiêu, nên khi hoàn thành xong những việc đáng làm, Tổ Tế Giác đã xin từ chức Tăng cang, trở về miền Nam hành đạo. 

Điều này cho thấy nơi ngài tỏa sáng nét đẹp giải thoát của vị chân tu, không màng phú quý lợi danh. Người tầm thường khi được địa vị như vậy thì họ cố bám giữ để tận hưởng, không thể dễ dàng từ bỏ, hoặc khi thấy chỗ cực khổ thì liền tìm cách lẩn tránh. 

Tổ Tế Giác-Quảng Châu, một bậc long tượng trong đạo pháp, tất nhiên có tư cách phi phàm, bỏ chốn kinh kỳ, về vùng đất còn hoang vu để giáo hóa độ sanh, thành tựu những việc lợi ích cho đời, rạng danh cho đạo. 

Thật vậy, bằng tầm nhìn xa thấy rộng, ngài quán thấy nên trở lại miền Nam truyền giáo, phát triển đạo pháp lợi lạc hơn, vì nơi đó hội đủ duyên lành; nói cách khác, miền Nam hiện hữu những mầm non có căn lành đang cần ngài giáo dưỡng. 

Về miền Nam, ngài cố tìm những người có căn tánh sáng suốt để khai ngộ. Trên bước đường giáo hóa, Tổ Tế Giác gặp một thanh niên bẩm chất thông minh, căn tánh hiền lành, phát tâm xin xuất gia. Độ được đệ tử có căn lành như vậy, nên Ngài đặt pháp hiệu cho vị này là Đại Cơ-Đức Huân (thuộc Lâm Tế dòng Thiệt Diệu Liễu Quán đời thứ 37). 

Sau đó, trong hàng pháp tôn của Tổ Tế Giác có ngài Đạo Trung-Thiện Hiếu, thường nổi danh là Tổ Đỉa. Vị này truyền bá Phật pháp cả vùng Biên Hòa, Sông Bé, Tây Ninh, khai sơn nhiều chùa như Linh Sơn ở núi Bà Đen, Long Hưng hay thường gọi là chùa Tổ ở Bưng Đỉa (Sông Bé), chùa Hội Lâm (xã An Nhơn Tây, Củ Chi)... 

Và các chùa nổi tiếng ở miền Nam bắt đầu bằng chữ Hội như: Hội Khánh, Hội Sơn, Hội Lâm, v.v... hay chùa Linh Sơn, đều là căn cứ của Thiên địa hội hoạt động cách mạng cứu nước. Những ngôi chùa này cũng do các pháp tử, pháp tôn của Tổ Tế Giác khai sơn là ngài Đại Ngạn -Từ Tấn (chùa Hội Khánh), ngài Đạo Trung-Thiện Hiếu (chùa Hội Lâm, Linh Sơn), ngài Đạo Thành-Khánh Long (chùa Hội Sơn). 

Tìm người để tiếp độ theo tầm nhìn sáng suốt như thế, Tổ Tế Giác- Quảng Châu đã đào tạo cho đạo pháp biết bao nhân tài. 

Ngoài ra, khi hành đạo ở vùng Gia Định, Tổ Tế Giác-Quảng Châu hay Tiên Giác-Hải Tịnh đã độ được rất nhiều đệ tử, phát triển mạnh dòng Lâm Tế Gia Phổ. Trong đó, nổi bật nhất là ngài Minh Khiêm-Hoằng Ân trụ trì tổ đình Giác Viên (nếu tính theo dòng truyền pháp của Lâm Tế Gia Phổ), hay Ngài còn có tên là Liễu Khiêm-Chí Thành (nếu tính theo truyền pháp của Lâm Tế chánh tông). 

Tổ Tế Giác đã cùng đệ tử Minh Khiêm-Hoằng Ân xuống vùng Châu Đốc hành đạo vì nhận thấy vùng này có nhiều người nhiệt tâm tu hành, nhưng không hiểu biết giáo lý đạo Phật. Họ chỉ chuyên luyện bùa phép, tu các pháp thuật của ngoại đạo. Ngài quán thấy nhân duyên Phật giáo (PG) có thể phát triển ở đây, nếu được hướng dẫn đúng chánh pháp. 

Quả thật, trí tuệ và đức độ của Tổ Tế Giác đã cảm hóa được nhiều người ở vùng này, đặc biệt có Phật Thầy Tây An quy y với Tổ, được pháp hiệu là Minh Huyên. Đó là người khai sáng ra phái Bửu sơn kỳ hương, một phái tu chuyên chữa bệnh bằng nước lạnh hoặc phù chú. Từ đó, rất nhiều ông đạo của phái này cũng theo chân Phật Thầy Tây An, quy y Tam bảo, trở thành đệ tử của Tổ và đóng góp được nhiều công sức, tiền của cho việc phát triển đạo pháp ở vùng này. 

Ngài Minh Khiêm-Hoằng Ân là bậc long tượng, đã phát huy được sự nghiệp hoằng hóa độ sanh của Tổ Tiên Giác-Hải Tịnh. Thật vậy, ngài Minh Khiêm một mình, một y, một bát vân du hành đạo khắp miền Tây Nam bộ. Ngài cũng hoằng hóa một thời gian rất lâu ở núi Sam, nên thường được gọi là Tổ núi Sam. Có thể nói PG miền Tây phát triển được là nhờ công lao rất lớn của ngài Minh Khiêm. 

Trong hàng hậu học nối tiếp dòng Lâm Tế chánh tông của Tổ Tế Giác, còn có một vị danh tăng của miền Nam, đó là Tổ Đạt Lý-Huệ Lưu, cũng xuất thân tu học từ Tổ đình Huê Nghiêm. Ngài còn nổi tiếng là ông vãi bán khoai. Trên bước đường hành đạo, Tổ Huệ Lưu đã góp phần giáo hóa dân chúng miền Tây bằng lối thơ mộc mạc. Bộ Trường hàng luật ra đời cũng do công đức của Tổ Huệ Lưu sao chép. 

Trong thời cận đại, hàng pháp tôn của Tổ Tiên Giác-Hải Tịnh thuộc dòng Lâm Tế gia phổ đã tiếp nối được sự nghiệp hoằng pháp độ sanh. Nổi tiếng có Hòa thượng (HT) Như Hiền-Chí Thiền hay Tổ Phi Lai; HT Như Nhãn-Từ Phong, Hội trưởng Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học; HT Như Trí-Khánh Hòa, sáng lập Lưỡng Xuyên Phật học. 

Tóm lại, với căn lành sâu dày trong Phật pháp và được gặp vị thầy đắc đạo khai ngộ, Tổ Tế Giác-Quảng Châu đã phát huy trí tuệ, đạo đức và dùng phước trí ấy làm hành trang đi hoằng hóa khắp mọi nơi. Từ đó, nơi nào có duyên, ngài đến hóa độ; mãn duyên, ngài nhẹ nhàng rời gót, chẳng màng phú quý, chẳng bận lợi danh. 

Hành đạo trên chơn tánh, nên không có gì làm vướng bận bước chân du hóa của Tổ. Thật vậy, với trí tuệ trong sáng và đức hạnh vô ngã vị tha của một bậc chân tu đắc đạo, Tổ Tế Giác thong dong tự tại trên đường truyền pháp. Từ Gia Định ngược dòng ra Huế hoằng hóa, từ Huế lặn lội về vùng hoang vu sơn dã của các tỉnh miền Tây Nam bộ để độ sanh, đồng thời chấn chỉnh việc tu học, mở các trường hương, tổ chức các lớp nội điển cho chư Tăng tại Tổ đình Giác Lâm, Giác Viên, tu bổ, xây dựng chùa chiền ở Gia Định và các tỉnh miền Nam, v.v... 

Tổ Tế Giác đã giáo dưỡng, un đúc biết bao vị danh tăng làm nên đạo cả, giữ gìn mạng mạch Phật pháp trường tồn. Ngài gánh vác công việc hoằng dương đạo pháp chẳng ngại gian lao, chẳng biết mỏi mệt, được Tăng chúng, tín đồ hết lòng kính ngưỡng. 

Với công đức ấy, ngài Tế Giác-Quảng Châu hay Tiên Giác-Hải Tịnh đã trở thành Tổ sư của cả 3 tông: Lâm Tế chánh tông, Lâm Tế gia phổ và Tế Thượng chánh tông. Phải nói đó là một điều hiếm có trong PG vậy. 

Và vị đệ tử nổi bật nhất của ngài Tế Giác là danh tăng Minh Khiêm-Hoằng Ân cũng nối chí ngài, trở thành Tổ sư kế thừa được hai dòng Thiền: Lâm Tế chánh tông và Lâm Tế gia phổ. 

Có thể khẳng định Tổ Tế Giác-Quảng Châu hay Tiên Giác-Hải Tịnh đã đóng vai trò rất quan trọng đối với PG miền Nam vào thế kỷ XIX. Ngài đã đưa PG miền Nam vào tổ chức hệ thống chặt chẽ, đào tạo rất nhiều nhân tài cho đạo pháp, chấn chỉnh lại khoa ứng phú theo đúng hướng Phật dạy. 

Riêng bản thân tôi, cũng may mắn được xuất thân tu học từ Tổ đình Huê Nghiêm, một Tổ đình tiêu biểu sản sanh ra nhiều vị danh tăng thạc đức đã thể hiện tinh ba của đạo Phật, làm lợi ích cho đời, rạng danh cho đạo, mà ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến Tổ sư Tế Giác-Quảng Châu hay Tiên Giác-Hải Tịnh với vài nét sơ lược. 

Thừa kế được công đức của chư vị Tổ sư tiền bối thuộc dòng Lâm Tế chánh tông, Lâm Tế gia phổ và Tế thượng chánh tông, thừa kế chân tinh thần vô ngã vị tha của các Ngài, tôi cũng vững bước tiến trên đường phát huy sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, nỗ lực thắp sáng ngọn đèn từ bi, trí tuệ của đức Từ tôn, làm lợi lạc chúng hữu tình. 

Xin cám ơn quý liệt vị đã lắng nghe, và cầu nguyện tất cả được an vui trong hào quang của chư Phật.
 
 

Một vài nét xưa và nay của Phật giáo 
Gia Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
SƠN NAM

Trước Nguyễn Hữu Cảnh, nghĩa là hơn 300 năm về trước, ở Sài Gòn và phía đồng bằng, dân số khoảng 4 vạn hộ, đã có chợ Cù lao Phố ở Biên Hòa và chợ Mỹ Tho, ở Huế ngân nga tiếng chuông chùa Thiên Mụ, ở Hội An hải cảng đã mở ra, đón nhận tàu nước ngoài đến mua bán. Nhưng nói chung, dân số còn ít, dân nghèo từ miền Trung kéo vào tự lực phá rừng, làm ruộng, chống thú dữ. Đại Nam nhất thống chí ghi chép về tỉnh Gia Định đã nhắc đến ngày Tết năm Canh Dần (1770), ở chợ Tân Kiểng (ngay bên đường Trần Hưng Đạo, quận 5), cọp dữ đến khuấy rối, quân đội ở gần không can thiệp được, may thay có ông Tăng Ân đi ngang qua, ra sức dùng côn đánh cọp, cọp chui vào bụi tre. Ông bị thương, đồ đệ là Trí Năng giết được cọp, ông Tăng Ân bị tử thương, bấy giờ đã xây ngôi tháp lưu niệm. Lại chép truyện ông Viên Ngộ ở Cần Giuộc, đầu năm Gia Long đã quy y. Với quyết tâm lớn, ông tích cực khẩn hoang tại vùng Thanh Ba (quê vợ ông Đồ Chiểu), cọp chặn đường, nhưng ông và dân trong xóm vẫn bình tĩnh mở được hai con lộ giúp dân tới lui buôn bán. Ông lập chùa Tôn Thạnh, đúc tượng Địa Tạng cầm kinh mật niệm giúp đồng bào thoát cơn bệnh dịch, rồi ông nguyện suốt đời tịch cốc. Pháp đến, nghĩa quân Cần Giuộc dấy lên, đánh đồn Tây. Giặc trả thù, ông Đồ Chiểu làm văn tế: “Ôi thôi, chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấc lòng son gửi lại với trăng rằm. Đồn Tây dương một phút đặng rửa hờn, chút phận bạc trôi theo dòng nước đổ?”. Theo cái nhìn của Đồ Chiểu, chùa Tôn Thạnh đối chọi với đồn Tây dương. Chùa Tôn Thạnh là biểu tượng của Tổ quốc, với sự công bình, lòng nhân ái và chính nghĩa.

Trong buổi đầu mở nước, người lưu dân vào Nam mang theo mấy chữ “từ bi bác ái”, “trọng nghĩa khinh tài”, “phổ độ chúng sanh”, “thiên đường địa ngục” và những Tăng sĩ rành kinh kệ ở tận Huế, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Định. Đại Nam nhất thống chí dùng chữ: “Nhà sư Trí Năng đi vân du” và đến như ngôi chùa nổi danh Sài Gòn là Kim Chương, còn gọi chùa Thiên Trường (ở vùng cao, đường Nguyễn Trãi ngày nay, khuôn viên Bộ Nội vụ) do Đạt Bản Hòa thượng từ Qui Nhơn đến lập, sử gọi ông là nhà sư “du phương”. Tôi hiểu “vân du”, “du phương” là nhập vào cuộc đời, theo trào lưu vào Nam để trực tiếp giúp đồng bào đang bỏ quê quán đi làm ăn nơi xa, phá rừng, sống chung với thú dữ và lũ lụt, với nắng lửa mưa dầu. Chết giữa rừng hoang thì vui vẻ chấp nhận nhưng với điều kiện là có nhà sư tụng kinh cầu siêu. Tìm đâu ra nhà sư đúng nghĩa? Tôi hình dung thuở ấy phần lớn là dạng mà nay ta gọi bôi bác là “thầy cúng”. Miễn là khi động quan, khi hạ huyệt, có tiếng chuông, tiếng mõ thì được “Tây phương tiếp dẫn” với tiếng Nam mô A Di Đà Phật mà ý nghĩa chẳng ai hiểu rõ. Chết mà được Phật chiếu cố đã là mãn nguyện đối với thân nhân. Thiếu nghi thức ấy là vô phước, trở thành cô hồn, “thập loại chúng sanh” mà thi hào Nguyễn Du đã nhắc nhở, nhờ đức Phật cứu rỗi. Ngày lễ Vu Lan, đối với dân khẩn hoang dường như nhẹ về phần “báo hiếu” mà nặng về phần “cúng cô hồn”. Chùa nào cũng có bàn thờ nhỏ thờ “cô hồn”. Người xưa tin vào đạo Phật nhưng vẫn “sát sinh”. Cọp và sấu, rắn độc - giống mà nếu ta không giết nó thì nó giết ta. Ta giết ở mức độ cần thiết. Giết một con sấu để cảnh cáo, nhưng tha cho mấy con còn lại để nó “đi tu”, sau đó cất miễu thờ cái đầu sấu... Thiếu khí giới, thiếu can đảm thì rình những hang ổ, lén bắt mấy con cọp con cho giống cọp lần hồi tuyệt chủng.

Một chi tiết đáng lưu ý đối với người nghiên cứu sử học, Nguyễn Ánh là người mưu trí về chính trị, đã biết bám vào các chùa Phật mà ẩn thân. Về sau này, vua nhà Nguyễn ban cho chùa xưa ở Nam Bộ hai chữ “Sắc tứ” mà người địa phương lấy làm hãnh diện.

Sài Gòn là hải cảng lớn ở Đông Nam Á với kinh tế thị trường. Chùa Giác Lâm, như sử đã ghi, do người Minh Hương là Lý Thụy Long đứng ra đỡ đầu, sáng lập. Người Hoa khá giả ở Chợ Lớn, nhất là người Hoa có vợ Việt thường ủng hộ xây dựng một số chùa chiền. Với kinh tế thị trường, tuy chạy theo đồng tiền lợi nhuận, nhưng con người rất cần có sự thư giãn. Chùa Giác Lâm là nơi thư giãn của người Sài Gòn xưa, cũng như chùa Cây Mai với ao sen, với đồng lúa, là nơi giới bình dân và kẻ sĩ đến tìm môi trường sống hồn nhiên, vì thời xưa không có công viên.

Thời Pháp cai trị và khống chế, đạo Phật vẫn phát triển và tồn tại, chú trọng việc đổi mới, “tùy duyên bất biến”. Lưỡng Xuyên Phật học thành hình ở đồng bằng sông Cửu Long. Sư Thiện Chiếu ở Sài Gòn, Hòa thượng Nguyễn Văn Đồng ở Rạch Giá tích cực ủng hộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 40, hy sinh ở Côn Đảo. Báo chí chuyên về đạo Phật đã góp phần bảo vệ văn hóa dân tộc. Thời kháng Pháp rồi chống Mỹ, vai trò của Phật giáo (PG) rất lớn, tôi không có thẩm quyền bàn bạc đến. Xin nhắc lại vài sự kiện lớn, mà người bàng quan phải nhìn nhận. Nhiều chùa bị lục soát, nhiều nhà sư, Phật tử bị bắt bớ, tù đày. Trong mặt trận liên hiệp quốc dân luôn có mặt các nhà sư. Lắm khi chùa là nơi chứa chấp cán bộ, tư liệu, thậm chí là võ khí. Việc ấy được đồng bào xem như là công tác chính đáng, không trái với đạo pháp và dân tộc. Thời chống Mỹ, lý thuyết PG dường như phức tạp hơn, nhưng nổi bật nhất vẫn là vai trò của sinh viên Đại học Vạn Hạnh, thêm sự in ấn phổ biến nhiều kinh sách để độc giả tự do chọn lựa. Thích Quảng Đức tự thiêu, ai không xúc động? Ni sư Huỳnh Liên tích cực tranh đấu công khai, xuống đường, giới trí thức và phụ nữ ủng hộ công khai, bất chấp sự đàn áp...

Với độc lập, thống nhất đất nước, ta nghĩ đến văn hóa dân tộc, một vấn đề trừu tượng nhưng phải thể hiện ra cụ thể.

Theo tôi, nói đến văn hóa thì nên lấy 3 tiêu chuẩn:

1- Văn hóa phải sống động. Quả là đạo Phật còn sống động, với chùa chiền, sách báo, lễ hội.

2- Văn hóa phải là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

3- Văn hóa phải đem lại sự lạc quan, yêu đời.

Hiện tượng mà ai cũng thấy: bạn hàng chợ, giới tiểu tư sản ngày càng ủng hộ PG. Ngày Rằm tháng Giêng, ngày Phật Đản mỗi năm thêm tấp nập, đa dạng, tùy địa phương. Thêm những dịp hành hương.

Ngày mùng Một, ngày Rằm, bông tươi bán đầy chợ, nhiều nhất là bông vạn thọ, hợp với túi tiền của giới bình dân.

Tiệm cơm chay mở ra khá nhiều, ở nhiều phường dường như không tiệm nào phá sản.

Người lớn tuổi, không còn hoạt động, ưa nghiên cứu đạo Phật là chuyện tốt, “có còn hơn không”, để thư giãn, để sám hối âm thầm, tìm lại tâm linh.

Giới bạn hàng chợ, từng ngày từng tháng, chịu ảnh hưởng trực tiếp của kinh tế thị trường, theo ý tôi, là tầng lớp đáng lưu tâm. Lời hay lỗ, mặt hàng lên hoặc xuống giá bất thường, lề đường có khi giải tỏa, vật giá leo thang, thuế chợ làm sao giảm được. Máy vi tính, thị trường chứng khoán, dự báo... vẫn không cứu vãn vài “con rồng” ở Đông Nam Á đang suy sụp, chưa nói đến thiên tai hạn hán, thời tiết thay đổi bất thường... đều là những việc xảy ra ngoài tầm tay của nhiều giới. Bởi vậy, dựa vào Trời Phật để giữ vững niềm tin, nhưng lắm khi sự cầu nguyện lại là tham lam, ích kỷ. Nhưng “có còn hơn không”, ít ra trong giây phút ấy, con người trở lại khiêm tốn, hiểu mình chỉ là một chúng sanh nhỏ bé, nên giữ lòng bác ái. Ai cũng có lúc thịnh, lúc suy ; khi cần lạc quyên ủng hộ gia đình neo đơn, hỏa hoạn, lũ lụt thì sẵn sàng chẳng cần biết rõ nơi xảy ra thiên tai là hướng nào. Người làm phước là người có cái tâm. Cái tâm tức là lòng vị tha. Hành hương, cùng đi với bạn bè là dịp thư giãn. Ta chợt hiểu rằng ở thời đại có phòng gắn máy lạnh, đi máy bay, chạy xe gắn máy nhưng con người cần đi bộ, cần ngắm nhìn con trâu, đồng lúa, dòng sông đầy phù sa hơn bao giờ hết. Và khi quá tham lam thì lúc chết chưa ắt mang theo được món gì để lo hối lộ với quỷ sứ ở âm phủ, nếu chốn âm phủ là có thật.

Còn nhiều việc cần làm, trước tiền đồ đang rạng rỡ. Theo tôi, chùa chiền phải giữ sạch sẽ về hình thức, để bảo đảm nội dung. Tăng Ni một khi mặc màu áo của Phật thì nên giữ gìn lời nói, cử chỉ. Lứa tuổi Tăng Ni trẻ không nên thối chí, thắc mắc trước lời khen chê. Đạo Phật phải có hạ tầng cơ sở tốt mới hoạt động được. Tư liệu in ấn đẹp hơn. Chùa nên có điện thoại, thậm chí nếu hoàn cảnh cho phép nên có điện thoại cầm tay, có ô-tô. Học thêm chữ Hán, chữ Việt, chữ Anh. Khiêm tốn, nhưng có cái bản lĩnh của người tu hành. Ai khen thì mừng. Ai chê thì không giận. Tiếp cận với cuộc sống. Ngày nay, ta gặp rất nhiều Ni cô trẻ âm thầm dạy dỗ trẻ em bụi đời, trẻ em khuyết tật để chống nạn mù chữ. Đạo Phật là đạo của sự khiêm tốn. Người Phật tử luôn nhẫn nhịn để cầu mong cho Tổ quốc yên vui, thế giới hòa bình, giữa con người không còn phân cách, bất công.«
 
 

Sơ lược vài nét đặc trưng của Phật giáo Nam Bộ
Hà Xuân Liêm (Huế)

Để kỷ niệm 300 năm ngày thành lập Gia Định-Sài Gòn, tức là thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, chúng tôi xin được góp một ý kiến nhỏ: “Sơ lược vài nét đặc trưng của Phật giáo (PG) Nam bộ” nói chung. 

Nói đến PG, người ta thường lưu ý đến cái “tùy duyên bất biến” của nó, bởi vì đây chính là bản năng sinh tồn của đạo Phật qua tràng kỳ lịch sử nhân loại, trong đó có Việt nam ta. Do cái lý tùy duyên bất biến mà đạo Phật với con người Việt Nam gần như gắn bó đến độ bất khả phân. Bởi vì tự bản chất thì “tùy duyên bất biến” lại bao hàm tính nhân văn rộng lớn; lấy con người làm gốc để phát triển cái đẹp tự nhiên vốn có nơi đó lên, mà đạo Phật lại không làm mất bản sắc của mình. 

Chúng tôi sẽ nói đến sự thành lập đất Nam bộ và PG đã phát triển như thế nào khi dân Nam bộ phát triển. Nhưng sự phát triển dân số bắt buộc người Việt Nam phải dần dà làm cuộc Nam tiến. Bước đầu tiên, người dân cực khổ vì nạn chiến tranh Trịnh-Nguyễn, nên phải tự động bỏ xứ ra đi, vào làm ăn sinh sống ở xứ lạ đầy rừng thiêng nước độc, ngôn ngữ bất đồng. Những miền đất Mô Xoài và Đồng Nai là nơi tiếp nhận người Việt đầu tiên. Vào năm 1658, chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) đã can thiệp vào nội tình nước Chân Lạp, bắt được vua xứ ấy là Nặc Ông Chân, khiến phải triều cống và buộc phải nhường đất Mô Xoài, Đồng Nai; 1679 lại có tướng Dương Ngạn Địch và trần Thượng Xuyên (Trần thắng Tài) với 3.000 quân sĩ nhà Minh sang đầu hàng, chúa cho vào khai phá đất Đông phố ở miền đông Nam bộ và Mỹ Tho. 

Năm 1698 là mốc khởi đầu cho kỷ niệm 300 năm đất Nam bộ mà chúng ta hiện nói đây. Năm ấy, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Đông phố ra làm hai dinh là Trấn Biên dinh và Phiên Trấn dinh thuộc phủ Gia Định, rồi chiêu mộ dân từ Hoành Sơn, Thuận-Quảng trở vào đến làm ăn lập thêm thôn xã, khai khẩn ruộng đất. Ở Trấn Biên dinh lại có Thanh Hà xã. Ở Phiên Trấn dinh có Minh Hương xã là hai vùng kiều cư người Hoa. Về sau có Mạc Cửu đến khai khẩn đất hoang, có bộ chúng đi theo lập thành Hà Tiên; rồi đến năm 1708, Mạc Cửu thần phục chúa Nguyễn và đem đất Hà Tiên sáp nhập vào đất của chúa Nguyễn. Đến năm 1765 thì toàn địa phận Nam bộ hiện nay đều được khai phá, thiết lập bộ máy hành chánh-cai trị. 

Từ buổi hừng đông này, ta thấy đã có sự giao lưu giữa nhiều giống cư dân trên phần đất này: Việt, Hoa, Khơme. Mỗi giống cư dân đều mang nền văn minh, văn hóa, tôn giáo của mình đến nơi đất mới này. Nói riêng về PG thì các giống cư dân trên đây đều có tín ngưỡng PG riêng của họ, PG Đại Việt, PG Trung Hoa, PG Khơme, nói rộng ra là cả PG Mahayana từ phương bắc xuống và PG Hinayana từ Ấn Độ qua, đều đồng quy tại phần đất Nam Bộ này. Ngoài các tín ngưỡng PG đặc thù của từng nhóm dân mang đến hòa hợp chung sống với nhau ở đây, ta còn phải tính đến các tín ngưỡng bản địa bắt nguồn từ tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng linh hồn thuyết theo phiếm thần luận như thờ cây, thờ đá, thờ ông hổ, thờ cá ông voi, thờ rắn v.v.. tín ngưỡng thờ các nữ thần mà miền Trung, Bắc gọi là thờ Mẫu, cũng có mặt tại đây ngay từ buổi đầu. Trong bối cảnh giao lưu như thế, thì PG Thuận-Quảng theo người dân của chúa Nguyễn vào đây cũng chưa có ảnh hưởng gì mạnh lắm. Cho nên, buổi hồng hoang của Nam bộ, Phật giáo ở đây cũng chỉ là PG bình dân, chưa có gì rõ ràng nếu kể về tông phái và giáo lý. Các Sư Tăng từ miền Thuận-Quảng vào theo các đoàn di dân khai hoang lập ấp thì cũng chỉ đơn lẻ ẩn tu, lập am ở các hang núi, ít truyền bá giáo lý. Trong bộ Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, đều có nói đến cách lập chùa và cách ẩn tu của các nhà sư vào buổi xa xưa ấy. Nhưng càng về sau, chùa chiền càng nhiều tín đồ càng đông. Các chùa khác với ngoài Bắc và ở Huế, Nam bộ phần nhiều không do người xuất gia lập nên, rồi sau được các chúa Nguyễn “sắc tứ” tức là công nhận chùa ấy là chùa chính thức. Sớm nhất có lẽ là chùa Vạn An, vào năm Vĩnh Thịnh lục niên 1710 đã được chúa Nguyễn Phúc Chu tức Minh Vương (1691-1725) sắc tứ, sau đó đến chùa Hộ Quốc, do Chính suất thống Nguyễn Cửu Vân, người làng Vân Dương, tỉnh Thừa Thiên, vào kinh lược, dựng chùa từ trước. Đến năm 1734 được chúa Ninh vương Nguyễn Phúc Trú (1725-1738) sắc tứ. Một số chùa khác thì do người Trung Hoa lập nên như chùa Tam Bảo do Mạc Cửu dựng ở Hà Tiên, chùa Giác Lâm do người Minh Hương Lý Thụy Long dựng năm 1774 tại Gia Định. Ít thấy sách vở nói đến chùa cũ của PG Khơme để lại. 

Sau đó một thời gian, các vị Tổ trong hai dòng Nguyên Thiều và Liễu Quán đến lập chùa hoằng hóa PG Đại Việt rộng rãi ở Nam bộ; nhất là dòng Thiền Nguyên Thiều với bài kệ: “Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên...” được truyền thừa rất rộng ở Gia Định-Biên Hòa khoảng hạ bán thế kỷ thứ XVIII. 

PG Gia Định-Sài Gòn có duyên để giao lưu với PG Huế (Thuận Hóa ?) là khoảng đầu triều Nguyễn về sau. Do một duyên cớ lịch sử là lúc bị Tây Sơn truy kích, Nguyễn Ánh bôn đào về Nam, chạy trốn vào nhiều chùa PG ở Gia Định-Sài Gòn - Đồng Nai-Biên Hòa như các chùa Đại Giác, Từ Ân v.v.. 

Lúc này PG Gia Định-Sài Gòn đã có cơ sở vững chắc, chùa chiền nhiều, trong sơn môn đã có chư Tổ danh tiếng như Minh Vật-Nhất Tri (?-1786), Phật Ý-Linh Nhạc (1725-1821), Tổ Ấn-Mật Hoàng (1735-1835), Tổ Tông-Viên Quang (?-1827), Thiệt Thoại-Tánh Tường (1741-1847), Thiệt Thành-Liễu Đạt (?-1823), và các đệ tủ nổi danh của ngài như Tế Chánh-Bổn Giác, Tế Bổn-Viên Thường... 

Khi vua Gia Long lên ngôi (1802-1819) qua các triều Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), thì sự phục hưng chùa chiền ở Sài Gòn-Gia Định được các vua này ngoại hộ rất mạnh. Ngoài ra, các vua này cũng đã triệu vời các vị cao tăng ở Nam bộ về kinh đô Huế để phong làm Tăng cang, trú trì các chùa quan, nhất là chùa Thiên Mụ, làm cho PG Nam - Trung phát huy rực rỡ, có nhiều sắc thái mới. Năm Gia Long thứ 13 (1814), vua ra lệnh cho các quan trấn thành Gia Định trùng tu chùa Đại Giác ở Biên Hòa, cho voi đến dẫm nền, nên dân chúng gọi chùa này là chùa Tượng, vua đã chú tạo ngôi tượng Phật A Di Đà cao đến 2,25m để thờ trong chùa. Đồng thời vua Gia Long cho triệu Tổ Ấn Mật Hoằng, người Phù Cát, Bình Định đang trú trì ở Đại Giác tự cho về Kinh, phong làm Tăng cang chùa Thiên Mụ; đệ tam công chúa, con gái vua Gia Long đã cúng biển hoành ba chữ “Đại Giác tự” sơn son thếp vàng vào năm Minh Mạng nguyên niên để kỷ niệm. Chùa Từ Ân ở thôn Bình Dương, Hòa Hưng, được Hiếu Khương Hoàng hậu sắc cho làm chùa công. Năm Minh Mạng thứ 20 (1821) vua cho đổi tên “Sắc tứ Từ Ân tự”. Đặc biệt là chùa Khải Tường, năm Minh Mạng nguyên niên có chỉ dụ nói “năm Tân Hợi (1791) vua sinh ở đấy, vậy là đất lành, nên lập chùa để ghi nhớ”. Chùa ở thôn Hoạt Lộc, huyện Bình Dương. Ngoài ra còn nhiều chùa do các du tăng trốn loạn Tây Sơn, bỏ Thuận Hóa vào nam để ẩn tu sau đó lập chùa hoằng đạo theo dòng kệ Liễu Quán. 

Các ngài Liễu Đạt-Thiệt Thành, Tế Bổn-Viên Thường, Tế Chánh-Bổn Giác đều được các vua Gia Long, Minh Mạng triệu về kinh, phong làm tăng cang hoặc trú trì chùa Thiên Mụ. Các ngài đều có truyền cho đệ tử theo pháp phái để truyền thừa, hoằng giáo ở Huế: như ngài Liễu Tánh Huệ Cảnh, sơ tổ chùa Tường Vân ở Huế, đã được ngài Tế Chánh-Bổn Giác trao kệ và phú pháp chẳng hạn. Chùa Quốc Ân là nơi để lại dấu ấn mạnh nhất của PG Nam bộ thuộc dòng Nguyên Thiều trở lại Huế để hoằng giáo. Trong cuốn “Lịch sử PG Thuận Hóa - Thừa Thiên-Huế” sắp xuất bản, chúng tôi nói rất rõ về điểm này. Ở đây chỉ nói từ thế kỷ thứ XIX trở về sau, giữa PG Gia Định-Sài Gòn và PG Huế có nhiều liên lạc mật thiết, mặc dầu về phương diện hành trì thì Huế thiên về thiền tịnh tu chứng, ở Gia Định-Sài Gòn, nói chung là Nam bộ, thiên về khoa “ứng phú” hơn. 

Một giai đoạn mất nước về tay thực dân Pháp làm cho PG Việt Nam nói chung, PG Nam bộ nói riêng đi lần vào sự đồi phế; nhất là Nam bộ thời đó lại thuộc địa Pháp, sống trong sự lệ thuộc chính trị văn hóa Pháp. Nhưng PG là một tôn giáo thuộc lý tính mang bản chất độc lập, tự do, nên đã khế hợp với tinh thần dân tộc, yêu nước của dân Nam bộ theo lý “tùy duyên bất biến” đã làm nảy sinh nhiều nét đặc trưng mà ở Trung - Bắc không có. Từ sau đệ nhất thế chiến, PG Nam bộ đã cựa mình thức tỉnh. Năm 1932 đã có nhiều thiền sư cho dịch kinh sách từ chữ Hán ra quốc ngữ và in ấn, phổ biến, có nhiều đạo tràng được thành lập. Chúng tôi không nói nhiều về giai đoạn này, vì Giáo sư Nguyễn Lang trong Việt Nam PG sử luận, quyển 3, đã nói nhiều. Chúng tôi chỉ muốn nói đến một điểm mà chúng tôi cho là đặc trưng của PG Nam Bộå, đó là tổng hợp các luồng tư tưởng vốn có do sự giao lưu của các nền văn hóa lớn trên dải đất Đông Dương, lấy tư tưởng PG làm căn bản, để khai sinh nhiều tông phái như Bửu sơn Kỳ Hương, PG Hòa Hảo, PG Cao Đài và vô số những môn phái nhỏ hơn, không nổi tiếng lắm. Ít nhiều, các tông phái này đều có - không kể có kẻ lợi dụng - nói đến tinh thần yêu nước, yêu dân. Cũng có thể nói đây là ảnh hưởng PG tác hành lên tín ngưỡng và tư duy của người dân Nam bộ. 

Trong cuộc vận động chấn hưng PG thì Tịnh Độ tông nổi bật lên. Tông này dạy người ta niệm danh hiệu A Di Đà để lúc mạng lâm chung thời được “vãng sanh cực lạc quốc độ”. Giai đoạn đầu, Tịnh Độ tông ở Nam bộ lấy “khoa ứng phú” do Tăng già đảm trách; đến khoảng năm 1932 trở lui xuất hiện hai cư sĩ: ông Đoàn Trung Còn lập Phật học tùng thư phổ biến sách PG bằng sách chữ quốc ngữ; và sau này là ông Chánh Trí Mai Thọ Truyền. Sách của Phật học tùng thư của ông Đoàn Trung Còn chủ trương truyền bá ra cả hai miền Trung - Bắc Kỳ thời đó. Đúng là một cách hoằng giáo “đưa đạo phục vụ đời”, mặc dầu Tịnh Độ tông không có người đi giảng pháp ở Trung - Bắc. Đặc biệt là Nam bộ đã có hai tông phái PG có tín đồ đông đảo, truyền khắp Gia Định-Sài Gòn và đã ra đến Huế. Kể từ Huế vào, ở khắp các tỉnh, lên tận vùng cao nguyên miền Trung, đó là phái du tăng khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang ở làng Phú Hậu, quận Tân Bình, tỉnh Vĩnh Long, khai phái. Phái này đã có Ni bộ từ đầu do cố Ni trưởng Huỳnh Liên làm thủ chúng. Tông phái PG Khất sĩ Nam bộ có hai điểm đặc biệt : tất cả các tịnh xá đều lấy chữ “Ngọc” làm đầu. Ở Huế đã có tịnh xá Ngọc Kinh cho Ni bộ và tịnh xá Ngọc Hương cho Tăng sĩ. Tất cả chư ni đều lấy chữ “LIÊN” đặt sau đạo hiệu như Huỳnh Liên, Thanh Liên, Bạch Liên v.v.. Thứ hai là tông phái PG nguyên thủy tức Theravada do Hòa thượng (HT) Hộ tông khai phái. Ngài là người làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài đã đậu bằng bác sĩ thú y ở Hà Nội, qua làm việc tại Campuchia; năm 34 tuổi, Ngài phát tâm bỏ thế tục xuất gia tại chùa Unalom ở Campuchia với Vua Sãi tại chùa này. Đắc pháp Nam tông, ngài trở về nước lập Tổ đình Bửu Quang ở Gò Dưa, huyện Thủ Đức, vào năm 1940. Năm 1950, giáo phái Theravada truyền đến Chợ Lớn; 1953 truyền tới Đà Nẵng và 1959 ra tới Huế. Chùa Tăng Quang là Tổ đình phái Theravada ở Huế. Chùa Thiền Lâm Theravada có kiến trúc như kiểu chùa Thái Lan - dân Huế gọi là chùa Phật đứng Phật nằm, vì hai pho tượng vĩ đại của phái này xây trên núi đó - do HT Hộ Nhẫn trú trì cũng là chùa thuộc phái Theravada của ngài Viên Minh trong Nam truyền ra. Phái này còn có chùa Huyền Không rất nổi tiếng về cây cảnh và trồng bonsai. 

Tại Nam bộ hiện nay, PG cũng đã phát triển long thịnh, PG Khơmer Nam bộ đến nay cũng có trú xứ của mình ở thành phố Hồ Chí Minh và đã có chỗ đứng hòa nhập vào cộng đồng Phật tử ở đây. Ngoài ra, Gia Định-Sài Gòn lại còn có nhiều chùa của người Việt gốc Hoa lập nên mang màu sắc kiến trúc và thờ tự Trung Quốc, thật là thời nở rộ của các nền văn hóa giao lưu tại đây với đặc trưng Việt Nam rất rõ. 

Suốt 300 năm thành lập Nam bộ, có dân Đại Việt vào làm ăn là đã có PG Nam bộ xuất hiện. Tuy nhiên suốt tràng kỳ ba thế kỷ đó, PG Gia Định-Sài Gòn có liên hệ mật thiết với Thuận Hóa rất chặt chẽ. Từ thời hừng đông mà chúng tôi đã nói ở trên; rồi trong cuộc chấn hưng PG thì đã có các vị cao tăng như HT Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa từ Nam ra Huế học các trường Phật học ở đây, khi trở về Gia Định-Sài Gòn, các ngài là ngọn pháp đăng chói lọi cho PG Gia Định-Sài Gòn. Cho đến cuộc vận động đòi tự do tín ngưỡng vào năm 1963 dưới thời Ngô Đình Diệm cũng vậy, nguồn phát sinh là chùa Từ Đàm (Huế), nhưng thực hiện và thành công lại ở chùa Ấn Quang và chùa Xá Lợi (Sài Gòn). 

Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, người Phật tử Nam bộ đã có những cống hiến lớn lao chưa từng thấy: cả ở mặt trận đánh giặc lẫn ở hậu phương, đấu tranh bằng chính trị ngay trong lòng địch. Rồi bao nhiêu thiên tai bão lụt, người Phật tử đem đạo cứu đời bằng nhiều phương tiện, để thực hiện câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” không riêng cho Nam bộ mà bất cứ tỉnh nào trong nước Việt Nam. 

Hôm nay, dưới ánh sáng của chủ nghĩa xã hội, PG Gia Định-Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh đang phát triển một sự tổng hợp viên dung các nguồn tư tưởng PG Bắc truyền, Nam truyền, PG Việt Nam, PG Khơme để phát huy ánh sáng phương đông chói lọi cho thế kỷ thứ XXI sắp tới vậy.«
 
 

Ảnh hưởng của Tổ sư Nguyên Thiều đối với Phật giáo Đồng Nai-Gia Định
NGUYỄN HIỀN ĐỨC (*)

Theo các sách Lịch sử Phật giáo (PG) Việt Nam và các tài liệu cũ, hành 
       trạng của Tổ sư Nguyên Thiều chưa được đầy đủ và chưa chính xác lắm. Trước đây, chúng ta chỉ biết Tổ sư Nguyên Thiều hoằng hóa ở Qui Nhơn và Thuận Hóa; nhưng sau khi phát hiện bảo tháp của Tổ sư Nguyên Thiều và tháp Phổ Đồng ở chùa Kim Cang (Đồng Nai) vào cuối năm 1988; đồng thời nghiên cứu thêm các tư liệu cổ ở chùa Đại Giác, Long Thiền (tỉnh Đồng Nai), chùa Giác Lâm, Từ Ân, Khải Tường, Huê Nghiêm, Phước Tường (TP Hồ Chí Minh), chùa Linh Thứu, Bửu Long, Đức Lâm (tỉnh Tiền Giang)..., chúng ta được biết thêm là Tổ sư Nguyên Thiều đã từng vào Đồng Nai khai sơn chùa Kim Cang ở ấp Bình Thảo (xã Tân Bình, huyện Vĩnh An, tỉnh Đồng Nai) và hoằng dương chánh pháp, ảnh hưởng sâu rộng đối với PG Đồng Nai-Gia Định nói riêng và Đàng Trong nói chung. Tổ có nhiều đệ tử và pháp tôn kế truyền, đóng góp nhiều công đức trong việc phục hưng và phát triển PG Việt Nam, nhất là PG Đồng Nai-Gia Định.

I.- SƠ LƯỢC HÀNH TRẠNG CỦA TỔ SƯ NGUYÊN THIỀU

Tổ sư Nguyên Thiều, húy Siêu Bạch, hiệu Hoán Bích hay Thọ Tông, họ Tạ, quê ở huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), sinh vào ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tý (1648), thuộc phái thiền Lâm Tế, thế hệ 33.

Năm 1666, xuất gia thọ giới với Hòa thượng Bổn Quả-Khoáng Viên ở chùa Báo Tư (Trung Quốc). Năm Đinh Tỵ (1677), Tổ sư Nguyên Thiều rời Trung Quốc đi theo thuyền buôn sang Qui Nhơn (tỉnh Bình Định), lập chùa Thập Tháp Di Đà. Năm 1682, Thiền sư Hương Hải dẫn theo năm chục đệ tử của phái thiền Trúc Lâm bỏ Đàng Trong ra Đàng Ngoài. Ở Thuận Hóa thiếu Tăng sĩ, nên chúa Nguyễn Phước Tần phải mời Tổ sư Nguyên Thiều từ Qui Nhơn ra Thuận Hóa hoằng truyền Phật pháp, Tổ lập chùa Hà Trung ở gần cửa biển Tư Dung và chùa Quốc Ân ở Phú Xuân (Huế). Đến khoảng năm 1687-1690, chúa Nguyễn Phước Trăn nhờ Tổ sư Nguyên Thiều trở về Trung Quốc thỉnh thêm Tăng sĩ, kinh sách PG, Phật tượng, pháp khí sang Đàng Trong. Tổ hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp. Chúa hỗ trợ cho Tổ khai Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ. Các Thiền sư thuộc phái thiền Trúc Lâm, một số Thiền sư từ Trung Quốc sang, các Tăng sĩ trẻ ở Đàng Trong tham dự đông đủ. Vì lý do trên, và từ sau Đại giới đàn đó ở chùa Thiên Mụ, các Thiền sư hoằng hóa ở Đàng Trong thời đó, hầu hết đều thuộc truyền thừa của Tổ sư Nguyên Thiều, hoặc thuộc phái thiền Lâm Tế và còn tiếp tục truyền thừa cho tới thời hiện đại.

Đầu năm 1691, chúa Nguyễn Phước Trăn mất, con là Nguyễn Phước Châu lên thay.

Năm 1692-1694, một người Hoa tên A Ban, sau đổi tên là Ngô Lãng, cùng với một số tướng sĩ Chiêm Thành nổi lên chống chúa Nguyễn Phước Châu ở trấn Thuận Thành, chúa phải sai Cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh đánh dẹp. Cũng trong năm 1694, Chưởng cơ Nguyễn Phước Thông và Nguyễn Phước Huệ âm mưu lật đổ chúa Nguyễn Phước Châu nhưng thất bại và bị bắt giết. Đồng thời, một người Hoa ở Qui Nhơn tên là Quảng Phú kết hợp với một người Việt ở Quảng Ngãi tên Linh, tự xưng Linh Vương nổi loạn, đúc binh khí, đóng chiến thuyền chống chúa Nguyễn. Mãi đến năm 1695, triều đình mới đánh dẹp được.

Tổ sư Nguyên Thiều cùng các đệ tử hoằng hóa ở các chùa Kim Cang, Đại Giác, Long Thiền (Đồng Nai), chùa núi Châu Thới (Bình Dương)... hoàn thành tốt đẹp các Phật sự trên, nên tín đồ càng đông, PG phát triển rộng xuống đến Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh).

Ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân (1728), Tổ sư Nguyên Thiều se mình, cho triệu tập môn đồ tứ chúng, giảng dạy huyền cơ, di chúc mật ngữ. Tổ sư bảo lấy bút viết bài kệ :

Tịch tịch cảnh vô ảnh

Minh minh châu bất dung

Đường đường vật phi vật

Liêu liêu không vật không.

Tạm dịch :

Lẳng lặng gương không ảnh

Sáng sáng ngọc không hình

Rõ ràng vật không vật

Vắng lặng không chẳng không.

Viết xong, Tổ sư ngồi thiền định mà viên tịch, thọ 81 tuổi. Đồ chúng lập tháp thờ ở sân trước, phía trái chùa Kim Cang ở Đồng Nai.

Nhân lễ Phật Đản năm 1729, đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều ở Phú Xuân xin với chúa Nguyễn Phước Trú, chúa ban cho bài ký minh: “Sắc tứ Hà Trung tự, Hoán Bích Thiền sư tháp ký minh” (1), khắc trên bia trước tháp vọng của Tổ ở Phú Xuân (tháp ở gần chùa Trúc Lâm, thành phố Huế).

II.- ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ SƯ NGUYÊN THIỀU ĐỐI VỚI PG ĐỒNG NAI-GIA ĐỊNH

Qua phần hành trạng trên, chúng ta thấy rằng: Tổ sư Nguyên Thiều là người Trung Hoa, nhưng suốt cuộc đời hoằng truyền chánh pháp đều hoạt động ở lãnh thổ Đàng Trong của nước Đại Việt. Tổ tạo được nhiều công đức và ảnh hưởng sâu rộng đối với PG Đàng Trong. Tổ phát huy tông phong của phái thiền Lâm Tế của Trung Quốc, đồng thời cũng tiếp thu tinh hoa của phái thiền Trúc Lâm, đặc trưng của Thiền tông Việt Nam. Vì vậy, phái thiền Lâm tế được Tổ sư Nguyên Thiều và pháp tử xiển dương ở Việt Nam, không còn thuần túy của tông phong phái thiền Lâm Tế của Trung Quốc, mà mang nặng ảnh hưởng của phái thiền Trúc Lâm của Việt Nam. Phái thiền Lâm Tế ở Việt Nam, không còn thuần túy “tham công án”, “hét”, “bổng” (đánh) ; mà là sự pha trộn nhuần nhuyễn giữa Thiền tông - Mật tông và Tịnh độ. Do đó, nhiều Thiền sư ở Việt Nam thường sớm có thần thông, thường dùng nước lạnh hoặc phù chú để trị bệnh giúp bá tánh. Đa số Thiền sư Việt Nam không chuyên tu trong các thiền viện như quan niệm “xuất thế” của Thiền tông Trung Quốc, mà sống trong xã hội, vừa tu học vừa hành đạo theo quan niệm “nhập thế” của Thiền tông Việt Nam.

Hầu hết các Thiền sư ở Việt Nam đều mang danh “Lâm Tế chánh tông” chỉ vì các biến cố chính trị; thực ra, các Thiền sư Việt Nam trước đây (trước thời Pháp thuộc) đều tu hành theo tông phong của phái thiền Trúc Lâm của Việt Nam.

Các đệ tử và pháp tôn của Tổ sư Nguyên Thiều hoằng truyền Phật pháp theo pháp môn tu hành của phái thiền Trúc Lâm, giúp cho PG Đàng Trong phát triển mạnh và còn ảnh hưởng sâu rộng cho đến thời hiện đại. Sau thời gian tu học, các đệ tử và pháp tôn của Tổ sư Nguyên Thiều vân du hoằng hóa, mở rộng ảnh hưởng khắp Đàng Trong, riêng ở vùng Đồng Nai-Gia Định có những Thiền sư nổi danh và còn truyền thừa cho đến hiện nay như sau :

1- Thiền sư Thành Đẳng-Nguyệt Ân và pháp tử

Thiền sư Thành Đẳng-Nguyệt Ân hay Minh Lượng (1686-1769) theo học với Tổ sư Nguyên Thiều ở chùa Kim Cang, sau đó đến trụ trì chùa Đại Giác ở cù lao Phố (Biên Hòa). Sư cũng vân du hoằng hóa, khai sơn các chùa Vạn Đức (ở tỉnh Quảng Nam), chùa Bảo Phong (tỉnh Khánh Hòa).

Thiền sư Thành Đẳng có nhiều đệ tử, nhưng quan trọng và nổi danh nhứt là Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc.

* Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc (1725-1821) thọ giáo với Hòa thượng Thành Đẳng ở chùa Đại Giác. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát phát động mạnh phong trào di dân ở phủ Gia Định, Thiền sư Phật Ý theo lớp di dân đó đến huyện Tân Bình, lập chùa Từ Ân và sau kiêm quản luôn chùa Khải Tường (quận 3, TP Hồ Chí Minh). Trong thời chúa Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn, chúa đã phải tạm ngụ ở chùa Từ Ân và Khải Tường một thời gian, Hoàng tử Nguyễn Phước Đảm (sau là vua Minh Mạng) được sanh tại chùa Khải Tường. Vì vậy, vua đã sắc tứ cho hai chùa này thành: chùa Sắc tứ Từ Ân và chùa Quốc ân Khải Tường.

Thiền sư Phật Ý có các đệ tử hoằng hóa nổi tiếng ở Đồng Nai-Gia Định như sau:

- Thiền sư Tổ Tông-Viên Quang (?-1828) được thỉnh vào trụ trì chùa Giác Lâm vào năm 1772. Chùa Giác Lâm được thành lập vào năm 1744 và là một trong những chùa cổ nổi tiếng nhất ở Nam Bộ. Thiền sư Viên Quang góp nhiều công đức trong việc phát triển PG Nam Bộ. Sư cũng đã khai sơn chùa Giác Viên, hiện cũng là một chùa cổ có nhiều cổ vật nhất ở TP Hồ Chí Minh.

Thiền sư Tổ Tông-Viên Quang có các đệ tử nổi tiếng ở Gia Định:

* Tiên Giác-Hải Tịnh (1788-1875) hay Tế Giác-Quảng Châu kế thế trụ trì chùa Giác Lâm và Giác Viên. Sau đó, Thiền sư Tiên Giác được vua mời làm Tăng cang chùa Thiên Mụ và chùa Giác Hoàng ở kinh đô Huế. Thiền sư Tiên Giác được Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương mời về trụ trì chùa Tây An ở núi Sam (Châu Đốc - tỉnh An Giang) và giúp phát triển PG ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

* Tiên Huệ-Tịnh Nhãn (?-1843), trụ trì chùa Thiên Mụ (Huế), sau đó về hoằng hóa ở chùa Thiên Phước và chùa Đức Lâm ở Thủ Đức. Sư còn có các đệ tử hoằng hóa ở chùa Hưng Long, Phước Lâm ở Bình Dương.

* Thiền sư Tổ Đạt-Trí Tâm khai sơn chùa Long Thạnh (Bà Hom - TP Hồ Chí Minh) còn truyền thừa cho đến hiện nay. Cố Hòa thượng Bửu Ý là pháp tử của tổ đình này.

* Thiền sư Tổ Ấn-Mật Hoằng trụ trì chùa Đại Giác, được vua Gia Long cử làm Tăng cang chùa Thiên Mụ ở kinh đô Huế, sau về trụ trì và viên tịch tại chùa Quốc Ân.

2- Thiền sư Minh Vật-Nhứt Tri (?-1786) và truyền thừa

Thiền sư Minh Vật-Nhứt Tri kế thế Tổ sư Nguyên Thiều hoằng hóa ở chùa Kim Cang (Đồng Nai), có các đệ tử hoằng hóa nổi danh ở Đồng Nai-Gia Định:

* Thiền sư Thiệt Thoại-Tánh Tường (1741-1817), khai sơn chùa Huê Nghiêm ở Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh).

* Thiền sư Phật Chí-Đức Hạnh khai sơn chùa Long Nhiễu ở Thủ Đức.

* Thiền sư Thiệp Thành-Liễu Đạt hay Hòa thượng Liên Hoa (1759-1823) hoằng hóa ở chùa Sắc tứ Từ Ân và chùa Quốc ân Khải Tường, sau được vua Gia Long cử làm Tăng cang chùa Thiên Mụ ở kinh đô Huế.

Hòa thượng Liên Hoa có các đệ tử nổi danh :

- Thiền sư Tế Tín-Chánh Trực hoằng hóa ở chùa Sắc tứ Từ Ân.

- Thiền sư Tế Chánh-Bổn Giác (1771-1851) hoằng hóa ở chùa Sắc tứ Từ Ân, sau được vua cử làm Tăng cang chùa Thiên Mụ và chùa Giác Hoàng, trụ trì chùa Quốc Ân ở kinh đô Huế.

- Thiền sư Tế Bổn-Viên Thường (1769-1848), trụ trì chùa Long Quang, chùa Pháp Vân và Tăng cang chùa Thiên Mụ ở kinh đô Huế.

- Thiền sư Tế Triệt-Giác Nguyên khai sơn chùa Tân Long ở Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), hoằng hóa nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ.

3- Thiền sư Thành Nhạc-Ẩn Sơn

Thiền sư Thành Nhạc-Ẩn Sơn hoằng hóa ở chùa núi Châu Thới (Bình Dương) và chùa Long Thiền (Biên Hòa). Thiền sư Thành Nhạc có đệ tử là Thiền sư Phật Chiếu-Linh Quang. Sư Phật Chiếu khai sơn chùa Phước Tường ở Thủ Đức.

4- Thiền sư Thành Chí-Pháp Thông

Thiền sư Thành Chí-Pháp Thông hoằng hóa ở chùa Hưng Long, chùa Hoàng Long và chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long (Biên Hòa).

Trên đây chỉ là các đệ tử và pháp tử của Tổ sư Nguyên Thiều hoằng hóa nổi danh ở vùng Đồng Nai-Gia Định; Tổ còn nhiều đệ tử và pháp tôn khác hoằng hóa khắp lãnh thổ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn:

- Thiền sư Minh Giác-Kỳ Phương (1682-1744) với các đệ tử là Thiệt Kiến-Liễu Triệt (chùa Thập Tháp ở Bình Định) và Phật Tĩnh-Từ Nghiêm (chùa Hưng Long) có các đệ tử hoằng hóa ở miền Tây Nam Bộ.

- Thiền sư Minh Hằng-Định Nhiên, Thiệt Tánh-Trí Hải hoằng hóa ở chùa Quốc Ân (Huế).

- Thiền sư Minh Hải-Pháp Bảo tự Đắc Trí hay Pháp Hóa (1670-1754), khai sơn chùa Chúc Thánh ở Hội An (Quảng Nam) và chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi), có một hệ thống truyền thừa rộng khắp từ Trung Bộ vào đến Nam Bộ từ đó cho đến nay.

- Hòa thượng Hoàng Long hoằng hóa ở Hà Tiên.

Tổ sư Nguyên Thiều đóng góp nhiều công đức trong việc phục hưng và phát triển PG ở Đồng Nai-Gia Định nói riêng, và PG Đàng Trong thời các chúa Nguyễn (từ sông Gianh vào đến Hà Tiên). Giáo hội PG Việt Nam nên có những công trình nghiên cứu hoàn hảo hơn mới thấy hết vai trò quan trọng của Tổ sư Nguyên Thiều đối với PG Việt Nam, và có như vậy mới phát hiện thêm nhiều Thiền sư tài đức khác của PG Việt Nam (2).«
 
 
 
 

(1) Tài liệu cũ cho rằng bài ký minh này là của chúa Nguyễn Phước Châu là không đúng. Bài này được ban vào năm Bảo Thái thứ 10, tức năm 1729, là của chúa Nguyễn Phước Trú.

(2) Xem thêm sách “Lịch sử PG Đàng Trong” của Nguyễn Hiền Đức - Nxb TP Hồ Chí Minh, 1995.
 
 

Tổ sư Minh Đăng Quang với chí nguyện 
Nối truyền Thích Ca chánh pháp
Thượng tọa THÍCH GIÁC TOÀN



I. VÀI NÉT VỀ TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Huờn, 
       sinh năm 1923, tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Năm 15 tuổi, Ngài xin phép thân phụ qua xứ Chùa Tháp Nam Vang để tầm sư học đạo. Cuối năm 1941, Ngài về lại Sài Gòn, sau đó vâng lời thân phụ lập gia đình năm 1942. Một năm sau, người bạn đời và đứa con thơ đều thọ bệnh rồi lần lượt qua đời. Vào năm 1943, một lần nữa Ngài xin phép thân phụ lên vùng núi Thất Sơn, ẩn tu tròn một năm. Trong năm 1944, Ngài đến đầu gành Mũi Nai, Hà Tiên an trú thiền định 7 ngày đêm và chính nơi đây Ngài ngộ được ý pháp "Thuyền Bát Nhã ngược dòng đời cứu độ chúng sinh". Từ đó Ngài lên đường hành cước giáo hóa theo hạnh "Một bát cơm ngàn nhà...". Một hôm, trên đường vân du hóa đạoa có một thiện nam cảm phục đạo phong cao khiết và cốt cách đoan nghiêm nên thỉnh Ngài về giáo hóa ở Linh Bửu tự, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Nơi đây suốt 3 năm (1944-1947), buổi sáng Ngài đi khất thực, đến trưa Ngài thọ trai, buổi chiều Ngài giáo hóa, buổi tối Ngài tham thiền nhập định, nêu một tấm gương sáng về đời sống phạm hạnh thanh tịnh, y theo truyền thống của Phật Tăng thời Chánh pháp. Đầu năm 1947, Ngài rời Linh  Bửu tự, quyết tâm thực hiện tâm nguyện "Nối truyền Thích Ca chánh pháp - Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam".

Từ Phú Mỹ, Ngài đi khắp nơi để giáo hóa như Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Thủ Thừa, Phú Lâm, Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa, Vũng Tàu... sau đó là khắp các tỉnh miền Tây, đồng bằng Nam Bộ.

Sau tám năm tiếp Tăng độ chúng, khuyên tu khuyến thiện, giáo hóa bá tánh cư gia không một ngày dừng nghỉ, vào ngày mùng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1954), trên đường hành đạo từ Sa Đéc xuống Cần Thơ, khi đi ngang qua thị trấn Cái Vồn (nay là huyện Bình Minh) thì Ngài đã hoan hỷ đi vào "lửa nạn", vui trả nghiệp quả trong nhiều đời kiếp luân hồi. Thế rồi Ngài vắng bóng, biền biệt cho đến ngày nay đã 44 năm rồi (1954-1998), Trong thời gian giáo hóa, Ngài có soạn ra bộ Chơn lý gồm 69 quyển và tập Bồ tát giáo. Hai tác phẩm Pháp bảo cao quý còn lại này chứa đựng những tư tưởng đặc thù phát xuất từ suối nguồn tự chứng tự ngộ của bản thân, dựa trên nền tảng là pháp môn Giới - Định - Tuệ truyền thống của đạo Phật.

II. NGUỒN CỘI TÂM LINH VÀ BIỂU TƯỢNG HOA SEN VỚI ĐÈN CHƠN LÝ

1. Nguồn cội tâm linh:

Tổ sư Minh Đăng Quang có một nhơn duyên thù thắng đối với giáo pháp của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Tổ sư sinh ra đời cách Đức Phật Tổ trên 2500 năm, vậy mà khi bừng ngộ ra ánh sáng Chánh pháp của Đức Phật, của giáo pháp thì tức khắc tâm linh phấn chấn, Tổ sư đã tuyên bố và khẳng định con đường hành đạo phải là "Nối truyền Thích Ca chánh pháp". Từ suối nguồn tâm linh vi diệu này, Tổ sư tiếp tục khơi thông nguồn mạch, thuận duyên hành đạo trong cộng đồng dân tộc, khai sơn "Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam", một sắc thái Phật giáo đặc thù, biệt truyền tại miền Nam Việt Nam.

Với phương châm "Nối truyền Thích Ca chánh pháp", chúng ta thấy Tổ sư Minh Đăng Quang quyết chí đi theo con đường truyền thống mà Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đã vạch ra. Tổ sư đã thực hiện thành tựu và lưu truyền cho hậu thế hữu duyên một dòng truyền thừa Chánh pháp với ba pháp yếu quan trọng sau đây:

a) Tinh thần viễn ly trong hạnh xuất gia: Các nay hơn 25 thế kỷ, trên trái đất này, xuất hiện một Thái tử Tất Đạt Đa có chí nguyện vĩ đại: giải quyết tận căn để những nỗi đau của thân phận con người. Ngài đã tự thân thể nghiệm và khai phá một con đường tâm linh đưa chúng sinh vượt thoát được khỏi sự chi phối của vô minh, của luân hồi sinh tử, của sinh, già, bệnh, chết. Vì vậy mà yếu chỉ đầu tiên là tư tưởng viễn ly trong hạnh xuất gia.

b) Tinh thần tinh tấn trong tu tập: Suốt 5 năm tìm đạo, 6 năm khổ hạnh, Thái tử không bao giờ giải đãi hay biểu lộ sự giải đãi, buông trôi. Từ khi rời hoàng cung, dấn thân trong núi rừng, nắng mưa, sương gió..., Ngài chỉ một lòng tìm đạo, học đạo, t hiền quán, thân chứng và an trú trong đạo quả, hoằng pháp độ sinh đến khi nhập Niết bàn, Ngài nêu lên m ột tấm gương sáng về tinh tấn ba la mật.

c) Tinh thần giải thoát trong hoằng hóa độ sinh: Người tu xuất gia khi chứng đạt đạo quả rồi thì bước kế tiếp là thể hiện đức hạnh giải thoát trên đường hoằng hóa độ sinh. Tự mình đặt công hạnh độ sinh như là một bổn phận, một sứ mạng thiêng liêng, không ngại gian lao, không từ khó nhọc. Người làm đạo phải có đủ nhẫn lực và tư duy lực, đồng thời xem sự kham nhẫn như là niềm vui giải thoát trên đường tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự.

Tổ sư Minh Đăng Quang chủ trương quay về với cội nguồn tâm linh, quyết tâm thực hiện truyền thống Giới - Định - Tuệ, phát huy tinh thần viễn ly trong hạnh xuất gia, tinh tấn trong tu tập và chu toàn đức giải thoát trên đường hoằng hóa độ sinh. Đối với đời sống cộng đồng, cọng trú tu học trong những ngôi già lam tịnh xá, Tổ sư nêu lên phương châm:

Nên tập sống chung tu học:

Cái SỐNG là phải sống chung,

Cái BIẾT là phải học chung,

Cái LINH là phải tu chung.

Sống chung tu học để nung đúc, rèn luyện, tăng trưởng cái sống, cái b iết, cái linh chính là cụ thể hóa tinh thần Tam tụ Lục hòa mà chư Phật đã giáo huấn tự ngàn xưa.

2. Biểu tượng hoa sen với đèn chơn lý:

Tổ sư Minh Đăng Quang chọn hoa sen và ngọn đèn chơn lý làm biểu tượng cho dòng pháp "Nối truyền Thích Ca chánh pháp - Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam", hiện nay là hệ phái Khất sĩ. Tổ sư đã bày tỏ ý hướng đem Chánh pháp thanh tịnh của chư Phật (hoa sen), soi đường dẫn lối cho người hữu duyên (ngọn đèn chơn lý). Đó là pháp phụng thờ Chánh pháp một cách tốt đẹp nhất.

Trong quyển Chơn lý "Trên mặt nước" (số 19), Đức Tổ sư có nói rằng sen có phẩm chất là ở trong bùn nước mà vượt khỏi bùn nước. Hạt bùn, hạt đất tượng trưng cho một người hay một gia đình ở dưới thấp, ác quấy tội lỗi; ích kỷ, rời rã từng hột, từng đơn vị. Hạng này bị đời sa thải giẫm đạp. Nước là xã hội thánh thiện theo duyên trôi chảy. Sen là bậc giải thoát Khất sĩ chư Tăng Sư: lời nói như hoa, việc làm như lá, ý niệm như gương; tất cả đều cao vượt lên không gian chứ không thấp kém như ở trong n ước bùn thế sự. Gốc sen là chỉ cho người tu còn phải nương trần thế về vật chất, còn đi đứng trong xã hội; nhưng tâm trí thì đã cao xa khác hẳn. Sen khác đất nước là có sự sống, có linh hồn do đất nước; cũng như nhờ các việc thiện ác trong xã hội mà nuôi trí tạo tâm. Sen có giác ngộ, có nghĩa sống hơn thiên hạ. Sen đền ơn cho đất nước là thay cho đất nước chịu nắng mưa sương gió ben trên, chịu sự tai nạn động chạm từ bên ngoài; lá,  hoa, quả sen che chở giữ gìn cho nước được yên lặng sạch trong bằng phẳng sáng rỡ; cọng sen cản không cho nước xoáy lộn làm cho nước đứng ngừng lóng bùn xuống đáy. Cũng vậy, người xuất gia đền trả cho đời bằng gương nết hạnh hiền lương: lời nói (hoa), việc làm (lá), ý niệm (quả) giúp cho xã hội, gia đình, cá nhân được bình yên trong sạch, sáng láng, đứng vững, không rối loạn.

Cũng trong quyển Chơn lý này, Tổ sư nói tiếp rằng nhìn thoáng lại quá trình tiến hóa của địa cầu và nhơn loại từ thuở ban sơ ít người nên hồn nhiên, đến khi đông vầy thì phân ranh chủng tộc lấn cướp giành nhau mà sinh ra sự ích kỷ riêng tư giả dối, đốc xúi rủ ren, mạnh hiếp yếu, đông hiếp ít. Cho nên trần thế trở thành si mê dơ bẩn, tham lam sân hận, một bãi đất bùn, một nghĩa địa, phân bùn của hồ sen. Nhưng nhờ đó mànuôi sinh được hạt giống giác ngộ là sen. Cũng như trang hiền sĩ chiêm nghiệm sự ác quấy giữa chốn chợ đời mà tìm pháp vượt lên. Cũng nhờ sự quấy phá của học trò lớp dưới nên mới có lớp cao trên, cũng nhờ có khổ sở tội lỗi ở đời nên có kẻ đạo đức không muốn trở lại đời vì đã ghê sợ chán chê. Như vậy đời hại người tức là đời xúi người làm Trời Phật; rồi Trời Phật trở lại thương xót che chở cho đời. Hiểu được ý nghĩa đó mà Trời Phật không thối chí ngã lòng mà gắng công tiến lên thành trời Phật thương xót cho đời đặng chỗ hơn người đáng tôn kính là vậy. Ai cũng nên tìm đường giải thoát làm Phật, vượt khỏi thiện ác nước bùn... như lá hoa trái sen vượt lên không gian. "Đời là cái hồ nước để trồng sen. Ai ai rồi cũng là sen hết".

Như vậy, biểu tượng Hoa sen và Ngọn đèn chơn lý chính là lý tưởng, chính là hoài bão của Tổ sư về một quốc độ, một cuộc sống an vui, thuần thiện của tất cả mọi người. Trong đó người tu phải thể hiện một đời sống tu tập trong sáng, thanh thoát, thắp lên ngọn đèn chơn lý phụng hiến cho đời.

III. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA HỆ PHÁI SAU 50 NĂM HÀNH ĐẠO

Tổ sư Minh Đăng Quang khai mở giáo pháp từ năm 1994 nhưng đến năm 1948 thì những bước chân hoằng hóa của Tổ sư và đoàn du tăng mới xuất hiện ở vùng Chợ Lớn - Sài Gòn - Gia Định. Ngay từ buổi đầu, những nhà sư đầu trần chân đất, từng bước hóa duyên; thanh bần đơn giản đã gây ngạc nhiên cho người dân thành thị vốn quen với sặc sỡ phồn hoa, ồn ào náo nhiệt. Điều này đã được một thi sĩ Phật tử cảm nhận rồi ghi lại:

Sài Gòn hoa lệ từ xưa,

Trăng phơi cánh mộng, gió đưa điệu đàn.

Một ngày kia, dưới nắng vàng,

Bỗng trang nghiêm hiện: một đoàn du tăng.

Dân thành thị những băn khoăn,

Họ là ai? - Xin thưa rằng họ đây.

Là môn đệ của Đức Thầy,

Minh Đăng Quang chiếu tự rày mười phương.

(Ánh Minh Quang - tiểu sử thi hóa)

Từ năm 1946 đến năm 1954, đoàn du tăng Khất sĩ đầu tiên do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập thâu nhận hàng trăm Tăng Ni xuất gia nhập đạo. Những vị đệ tử đầu tiên này được Tổ sư trực tiếp giáo dưỡng, hầu hết là những vị có nhiều thiện duyên nên chẳng bao lâu đã trở nên những vị giới hạnh tinh nghiêm, đạo phong mẫu mực trong tu tập và hành đạo.

Mỗi đoàn du tăng hoặc ni được thành lập với túc số từ 20 vị trở lên. Theo sự điều động của Tổ sư, các đoàn chia nhau đi hành đạo khắp các vùng Phú Lâm, Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định và các tỉnh khu vực miền Đông và Tây Nam Bộ. Dù ở nơi nào, mỗi sáng các nhà sư trong chiếc y vàng, mỗi sáng trình tự hóa duyên, trưa giờ ngọ tìm nơi tàng cây bóng mát hay miếu cổ vắng vẻ thọ thực đạm bạc thanh bần tùy theo số phẩm thực đã được hóa duyên. Chiều tối các nhà sư lại thuyết kinh giảng đạo tại các khu đông dân cư, nhà lồng chợ, sân trường học... để khuyên tu khuyến thiện cho bá tánh cư gia. Cứ như vậy, theo thời gian hình ảnh những nhà sư rày đây mai đó, vân du hóa đạo, không chấp giữ tiền bạc, của cải bổn đạo riêng tư, đã tạo dấu ấn thân thương trong tâm thức của hàng nam nữ Phật tử khắp nơi. Rồi lần lượt các nhà hảo tâm phát tâm cúng dường cơ sở đất đai, bá tánh chung lòng xây dựng những ngôi tịnh xá đạo tràng để chư Tăng có nơi tạm trú tu học và cư gia có nơi quy ngưỡng, thọ học đạo lành.

Tròn 50 năm qua (1948-1998), tại TP Hồ Chí Minh có khoảng 50 ngôi tịnh xá được thành lập như 50 đóa sen để làm nơi tu học và cho bá tánh có nơi nương tựa tinh thần. Sau đây là một số đạo tràng tiêu biểu: Tổ đình Pháp viện Minh Đăng Quang, phường An Phú, quận 2, xây dựng năm 1968, là Tổ đình của hệ phái (và Giáo đoàn IV); tịnh xá Trung Tâm, phường 13, quận 6, xây dựng năm 1966, di tích của cố Trưởng lão Thích Giác Lý, vị Trưởng đoàn khai sáng Giáo đoàn V; tịnh xá Ngọc Chánh, phường 24, quận Bình Thạnh, xây dựng năm 1953, trung tu năm 1988, di tích của Tổ sư Minh Đăng Quang tại Gia Định; tịnh xá Trung Tâm, phường 5, quận Bình Thạnh, xây dựng năm 1965, nguyên là văn phòng của hệ phái; tịnh xá Ngọc Đăng, phường 12, quận Bình Thạnh, xây dựng năm 1965, di tích của Trưởng lão Thích Giác Tánh, vị Trưởng đoàn khai sáng Giáo đoàn II; tịnh xá Ngọc Phương, phường 1, quận Gò Vấp, xây dựng năm 1957, nguyên là văn phòng của Ni giới hệ phái, di tích của Ni trưởng Thích nữ Huỳnh Liên; tịnh xá Ngọc Phú, phường 10, quận Tân Bình, xây dựng năm 1969, di tích của Sư bà Thích nữ Trí Liên tại Tân Bình, TP Hồ Chí Minh.

IV. SỰ PHÁT TRIỂN VÀ TINH THẦN HỘI NHẬP CỦA HỆ PHÁI TRONG CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Đầu năm 1980, Phật giáo Việt Nam đã thành lập Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam, hệ phái Khất sĩ là một trong 9 tổ chức thành viên có 2 đại biểu tham gia Ban Vận động: Thượng tọa Thích Giác Toàn đại diện cho Tăng già Khất sĩ và Ni sư Thích nữ Huỳnh Liên đại diện cho Ni giới Khất sĩ.

Đến tháng 11 năm 1981, Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tổ chức tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội, thành công và hệ phái Khất sĩ, một tổ chức Phật giáo biệt truyền tại miền Nam là một trong 9 tổ chức đứng ra thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời đại đất nước hòa bình, độc lập và thống nhất. Chư tôn đức Tăng Ni tiêu biểu của hệ phái hài hòa tham gia vào Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự, và các ban ngành Trung ương Giáo hội. Đến khi Ban Trị sự các tỉnh, thành được thành lập thì hầu hết chư Tăng Ni Khất sĩ ở các tỉnh, thành cũng tùy theo trường hợp cụ thể đã tham gia và được cơ cấu vào các ban ngành Phật giáo ở địa phương.

Ngay từ thời kỳ đầu khai sơn hệ phái, Tổ sư Minh Đăng Quang đã nêu cao tinh thần thống nhất và hội nhập trong cộng đồng Phật giáo. Đối với tập thể Tăng già, Ngài chủ trương người tu xuất gia: "Nên tập sống chung tu học: - Cái sống là phải sống chung, cái biết là phải học chung, cái linh là phải tu chung". Đối với cư sĩ tại gia, Ngài cũng chủ trương rất tích cực và gắn bó trong cuộc sống: "Mỗi người phải biết học chữ, mỗi người phải biết giữ giới, mỗi người phải biết tránh ác, mỗi người phải biết (học đạo) làm thiện". Vì vậy mà hệ phái Khất sĩ đã hòa nhập nhuần nhuyễn vào quá trình thành lập và những hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hệ phái Khất sĩ hiểu rõ nguyên tắc" thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức"; đồng thời cũng có ý thức tự biết giữ gìn những truyền thống tốt đẹp và đặc thù của hệ phái biệt truyền mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã dày công tạo dựng và các bậc tôn túc trưởng thượng đã kế thừa, phát huy cho đến ngày nay.

Ngày nay, cùng với nhân dân cả nước và nhân dân thành phố, chúng ta ôn lại dấu tích lịch sử 300 năm trên vùng đất quê hương thân yêu "Gia Định - Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh"; cũng chính là khắc họa lại những nét đẹp mà chư vị Tổ sư tiền hiền đã đóng góp cho "Đạo pháp và Dân tộc" bằng cả tấm lòng thủy chung chan hòa hạnh phúc thiêng liêng.

TP. HCM, kỷ niệm Gia Định-Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh 300 năm
 
 

Một số nét đặc thù của Phật giáo Nam Bộ
THÍCH TÂM THIỆN 

Như chúng ta đã biết, lấy mốc thời gian từ mùa Xuân năm Mậu Dần 1698, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệnh chúa Nguyễn mở cuộc Nam tiến để mở rộng đất đai, đồng thời thiết lập một nền hành chính mới trên vùng đất phía Nam, đặc biệt tại Gia Định-Sài Gòn; và tính cho đến nay, cũng mùa Xuân Mậu Dần 1998, là vừa tròn 300 năm. Tuy nhiên, nếu nói rộng ra cho toàn vùng Nam Bộ, thì phải kể đến sự phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài trong cuộc “Trịnh-Nguyễn phân tranh” lấy sông Gianh làm ranh giới, vào thế kỷ thứ XIII. Đây là cột mốc quan trọng ảnh hưởng đến tính chất lịch sử của Phật giáo (PG) Đàng Trong nói chung và Nam Bộ nói riêng. Và cũng từ đó, có thể tìm lại những nét đặc thù của PG Nam Bộ trên phạm vi rộng và PG Gia Định-Sài Gòn trên phạm vi hẹp. Vì thế ở đ