Duyên
Khởi
Hơn
năm năm trước, nhân chuyến chiêm bái Phật tích ở Ấn, trên
đường về, Đại Đức Minh-Giác, trụ trì chùa Niệm Phật
(Hòa Lan) đã ghé thăm và đảnh lễ ngài Diễn Bồi tại Bát
Nhã Giảng Đường ở Tân Gia Ba, và được ngài trao tặng
cuốn sách nhỏ, mang tựa đề Bát Quan Trai Giới Thập Giảng.
Về đến Âu Châu, thầy Minh-Giác đã tặng lại tôi cuốn
sách này. Vốn sẵn ngưỡng mộ tài đức ngài Diễn Bồi,
thêm phần nhân chân sự thực lợi của Pháp tu Bát Trai Giới,
nhất là đối với hàng Phật tử tại gia trong thời kỳ chính
tà khó phân này, nên tôi quyết định phiên dịch cuốn sách
trên, hầu làm tài liệu cho các Phật tử thích tu học, có
sự hiểu biết rõ ràng và đúng đắn về Pháp tu Bát Trai
Giới, pháp tu căn bản do chư Phật chế định và trao truyền
cho tứ chúng.
Sau
khi tài liệu này được diễn giảng trong các khóa tu học
ở Âu Châu và Canada, nhu cầu tu học Pháp Bát Trai Giới gia
tăng. Duyên may. được quý Phật tử người Hoa ở Montréal
tặng một số sách, trong đó có bài văn Phụng Khuyến Tăng
Tục Nam Nữ Phổ Trì Bát Quan Trai Giới của ngài Từ Hàng,
một trong tứ đại thánh tăng thời cận đại của Trung Hoa.
Bản văn này liền được dịch thuật và giảng dậy trong
các khóa tu học ở Oslo (Na Uy) và Bern (Thụy Sĩ).
Nhân
dịp đó, nhằm giúp cho người Phật tử có được phương
hướng tu tập chính xác, và còn để phổ biến Pháp tu
Bát Trai Giới rộng rãi hơn, Đại Đức Quảng-Hiền trụ
trì chùa Trí Thủ ở Bern, đã cùng quý Phật Tử tại Thụy
Sĩ phát tâm ấn tống lần đầu tập tài liệu về Bát Trai
Giới này. Song số sách ấn tống không đủ cung cấp cho mọi
nơi, nhất là ở Hoa Kỳ, nơi nhiều tự viện nhất, và đa
số các chùa đều thường xuyên tổ chức tu Bát Trai Giới
hàng tháng. Vì vậy Sư Bà Đàm-Lựu trụ trì chùa Đức Viên
ở San José, phối hợp cùng đạo hựu Diệu Phụng, đại diện
cho nhóm Phật tử tu Bát Trai Giới chùa Hương Tích ở Santa
Ana, tái bản tập sách này. Thành tâm tán thán công đức Sư
Bà Đức Viên cùng quý Phật tử.
Mong
rằng cuốn sách này sẽ là áo giáp, giúp người tu học ngăn
được ma chướng, chận đứng mũi tên dục nhiễm, để thân
tâm luôn thanh tịnh trang nghiêm, chính pháp do vậy hiển bày,
hướng đến Tịnh Độ, xa rời trần lao, lợi mình lợi người,
báo được Phật ân, không uổng một kiếp gặp được Phật
Pháp.
Nguyện
mười phương chư Phật chứng minh, hồi hướng mọi công đức
lành đến pháp giới chúng sinh đều thành Phật đạo.
Paris, 23/3/1993
Thích Thiện Huệ
Lời
Giới Thiệu
Giới
là chính nhân của xuất thế gian pháp, lìa giới ra không thể
có giải thoát, nên kể từ sơ phát tâm cho đến bát tướng
thành đạo, Đức Phật trong hằng niệm không rời Tam Tụ
Tịnh Giới, tu vô lượng thiện pháp, nhờ vậy mọi động
tĩnh nơi ba nghiệp không gì không là pháp thiện xảo cứu
độ chúng sinh. Giới có công năng phát sinh hạnh lợi mình,
lợi người như vậy, nên trước lúc nhập diệt, Đức Phật
cũng chỉ ân cần dặn: “Sau khi
ta diệt độ, nên tôn trọng, kính quý Ba La Ðề Mộc Xoa (Giới)
như tối tăm gặp ánh sáng, như nghèo khó được của báu.
Phải biết đó là bậc thầy của các vị, Như Lai có ở đời
cũng không khác như vậy”. Ngay
khi tại thế, Đức Phật cũng dùng giới làm cửa ngỏ vào
đạo cho người tu học, cả hai hàng Tăng Tục đệ tử đều
được trao cho giới pháp để tu. Vì Giới là nền tảng của
muôn hạnh lành, không Giới ắt thành thiên ma hoặc sa ác đạo.
Người
tu học Phật ngày nay, vì lơ là giới pháp, nhất là hàng đệ
tử tại gia, vọng cho giới chỉ dành riêng cho Tăng, không
lo thủ trì ngũ giới, tâm ý nhiễm trần, đem tâm phi giới
này cầu tìm pháp môn, nên không sao có trí phân biệt pháp,
chính tà chẳng rõ, ma Phật không phân, nên dễ sinh tâm thích
pháp tham dục, lạc vào nẻo dữ, thực uổng công tu hành.
Hoặc có kẻ phát tâm tu học, nhưng cũng bởi coi nhẹ giới,
nên chung cục không thực đạt được tự lợi lợi tha, vẫn
lẩn quẩn trong vòng nhân ngã thị phi. Thế nên, Diễn Bồi
Đại Sư cũng từng khuyến cáo: “Chúng
ta phát tâm tu học Phật, không phải để tiêu khiển, mà để
mong cầu Thánh quả; song Thánh quả không chỉ mong cầu mà
được, phải cầu bằng sự thực tiễn thật hành. Sự thực
hành không ngoài hai phương diện hành thiện và đoạn ác.
Nếu ác pháp không đoạn, thiện pháp tất khó tu”.
Phương pháp hành thiện đoạn ác tích cực nhất chính là
giới pháp. Vì vậy, Như Lai đã từ bi rất mực, thương xót
chúng sinh đa dục khó xả, nên dùng phương tiện thiện xảo,
lập nên pháp tu Bát Quan Trai Giới giúp người tu học có nền
tảng Thánh đạo vững chắc, gieo duyên mật thiết với Tam
Bảo. Bởi Bát Trai Giới là nhân xuất gia nên duyên với Tăng
Bảo, bởi Bát Trai Giới là nhân của pháp xuất thế nên duyên
với Pháp Bảo, bởi Bát Trai Giới là nhân thành Phật quả
nên duyên với Phật Bảo. Vì vậy, tu Bát Quan Trai Giới chính
là chân thật phụng sự, cúng dường và thân cận Tam Bảo.
Song
le, hàng đệ tử Tăng tục dù đã nhiều lần thọ trì Bát
Trai Giới, nhưng nơi ý nghĩa, công ích, tác pháp và các vấn
đề khác liên quan đến Bát giới vẫn còn rất hàm hồ, hiểu
biết lệch lạc, nên không thể đạt được điều quan trọng
và tôn quý nhất trong pháp thọ trì là đắc được giới
thể và phương cách dụng công tu tập cùng trì giới.
Chính
vì các lý lẽ trên, để người tu học Phật có được pháp
căn bản, để Phật pháp được cửu trụ, để thế gian thêm
lợi lạc, các bậc cao tăng đại đức như ngài Diễn Bồi,
Từ Hàng… đã ra công giảng giải và sửa đổi lại các
thói quen sai lạc xưa nay trong pháp tu Bát Quan Trai, là pháp
tu căn bản một tháng phải thọ trì sáu ngày vào thời Phật.
Những lời giảng dạy này được gọi là Bát Quan Trai
Thập Giảng và Phụng Khuyến Tăng Tục Nam Nữ Phổ Trì Bát
Quan Trai Giới Văn, là kim chỉ nam giúp người tu học
có nhận thức chính xác về Trai Giới, không còn hoài nghi
hay coi nhẹ giới pháp, nhờ vậy có thể thực tu, thực chứng,
đạt được thực lợi. Mong người đồng tu đạt được
nhiều lợi ích nơi quyển cẩm nang tu tập nhỏ bé này.
Nguyện
mười phương chư Phật chứng minh và hồi hướng cho pháp
giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.
Thích
Thiện Huệ
Bern,
ngày 29 tháng Hai năm 1992
Chương
1
Huấn
Luyện Xuất Gia
Ðức
Phật chế Cận Trụ Luật Nghi, mục đích để cho người tại
gia có được phương pháp tu học xuất gia tạm thời. Như
trong Kinh Thập Thiện Giới dạy: “Bát Trai Giới là
do chư Phật quá khứ, hiện tại vì hàng tại gia chế pháp
xuất gia”. Do đó, ta thấy rõ rằng: Chẳng riêng Đức Thích
Ca chỉ bày pháp xuất gia Bát Trai Giới này cho hàng tại gia,
mà chư Phật quá khứ cũng đều chỉ dạy như vậy. Từ quá
khứ, hiện tại, suy đến vị lai, tất nhiên chư Phật vị
lai cũng có chế độ này. Vì vậy, Bát Trai Giới tuy có vẻ
đơn giản, song rất ư trọng yếu, đáng cho Phật tử thường
luôn thọ trì, học tập phát xuất gia Bát Quan Trai này, để
từ từ tiến đến việc chánh thức xuất gia.
Ở
đây, hẳn có người tự hỏi: “Phật pháp đã có hai chúng
xuất gia và tại gia. Hàng đệ tử tại gia có thể ở nhà
tu học được rồi, cần gì phải chế pháp xuất gia tạm
thời này?” Về điểm này, tôi xin minh xác cùng quý vị:
Phật pháp tuy cũng nói có thế gian pháp, nhưng vẫn lấy xuất
thế làm mục đích tối hậu, không hề coi thế gian pháp là
trọng. Những người đắm nhiễm thế gian, dĩ nhiên muốn
họ xuất thế không phải điều dễ, hơn nữa, sức họ cũng
không làm nổi chuyện đó. Nhưng bất luận họ đủ sức hay
không, để đạt được mục đích tối cao, chỉ cần trong
đầu óc người học Phật luôn tâm niệm rằng đây là mục
đích duy nhất của mình. Không những chỉ vậy mà còn phải
luôn ghi nhớ không quên, mong mỏi sẽ có ngày thực hiện trọn
vẹn được mục đích xuất thế. Ðó là căn bản của việc
học Phật. Người học Phật nếu không có ý niệm này thì
dẫu học hay tu hành môn nào, cũng vẫn không tương ưng với
tinh thần chính yếu của Phật pháp.
Phật
pháp đã coi xuất thế là mục đích cao nhất, xuất gia lại
là con đường để đi tới mục đích này, nên tuy là hàng
tại gia học Phật cũng cần tìm cách học tập đời sống
xuất gia để sau này ắt có ngày chân chính xuất gia, dõng
tiến trên con đường xuất thế giải thoát. Phật pháp dĩ
nhiên chẳng kêu gọi hết cả mọi người phải xuất gia,
chỉ có điều hoàn cảnh thanh tịnh và phương thức sinh hoạt
của đời sống xuất gia thích hợp với những người tìm
cầu xuất ly và tiến tu giải thoát, bởi họ nhận ra rằng
đây là con đường thích hợp nhất để đạt được xuất
thế giải thoát.
Tại
sao trong Phật giáo lại coi trọng pháp xuất gia như vậy? Bất
luận các Thánh Quả của hàng Ðại Thừa hay Tiểu Thừa, dù
A La Hán Quả hay Vô Thượng Phật Quả, cũng đều do xuất
gia mới hoàn thành. Như hỏi ba đời chư Phật thành Phật
cách nào? Ðức Phật trả lời trong kinh, không có vị Phật
nào không từ xuất gia mà thành Phật. Nếu đã như vậy, chúng
ta học Phật, mong mỏi tương lai thành Phật, nếu không phát
tâm xuất gia, làm sao thành tựu được mục đích thành Phật?
Luận Bồ Tát Bổn Sinh nói: “Lợi
ích của xuất gia cao hơn cả Tu Di, sâu hơn biển cả, rộng
hơn hư không. Sở dĩ như vậy là do xuất gia mới thành Phật,
ba đời chư Phật chưa có vị nào thành Phật mà không do nhờ
xả gia xuất gia cả”. Vì vậy,
người hành Phật pháp, nếu muốn chứng thành Phật Quả,
tất phải có ngày xả tục xuất gia. Muốn khỏi xuất gia
mà thành Phật, cứ y theo kinh điển thì điều này không thể
thành tựu được.
Chẳng
những ba đời chư Phật như vậy, mà ngay cả đến A La Hán
của Tiểu Thừa cũng thế. Cứ như thuở giờ vẫn thấy người
xuất gia chứng Sơ Quả, tại gia cũng chứng Tu Ðà Hoàn, cho
đến hàng xuất gia chứng Tam Quả, tại gia chúng cũng chứng
quả Bất Hoàn (A Na Hàm), điều này chẳng có gì lạ từ thời
Phật đến sau này, nên ba quả đầu, xuất gia, tại gia đều
có thể chứng quả bình đẳng như nhau. Trừ ra A La Hán, tại
gia không thể chứng được. Ðiều này không có nghĩa hàng
cư sĩ học Phật không có khả năng chứng quả A La Hán, mà
ngụ ý phải hiện tướng xuất gia trước khi chứng A La Hán
quả. Như sắp chứng A La Hán quả mà vẫn xả không nổi mái
tóc, xuất gia thì vẫn dừng ở Tam Quả. Vậy nên mới biết:
Xuất gia mới đạt được quả vị cao nhất của cả Ðại
Thừa lẫn Tiểu Thừa.
Nhưng
vì đời sống xuất gia không đơn giản đến mức độ ai
cũng làm được, nên đức Phật đại từ đại bi, vì hàng
tại gia học Phật, chế ra Bát Quan Trai Giới một ngày một
đêm để huấn luyện cho người học Phật từ từ quen với
đời sống xuất gia. Vì vậy, Thái Hư Ðại Sư nói: “Ðây
là Phật vì cư sĩ tại gia chế ra giới điều để luyện
tập ngắn hạn đời sống xuất gia”. Hoặc có người
cho rằng: “Tôi đã thọ ngũ giới, hoặc đã thọ Bồ Tát
giới, cần gì phải thọ Bát Quan Trai giới?” Phải biết
thọ Bát Quan Trai Giới là thọ sự huấn luyện đời sống
xuất gia, cũng như tân binh phải tập tác chiến, từ từ huấn
luyện không ngừng sẽ trở thành thói quen, khác hẳn thọ
ngũ giới hay tại gia Bồ Tát giới sống đời thế tục. Ðây
là điều chư vị phải nhận thức rõ ràng trước tiên.
Có
người ngỡ đời sống xuất gia rất đơn giản, cho rằng
xuất gia là chuyện dễ, thậm chí bảo rằng người xuất
gia được hưởng phúc nhàn. Nào hay đời sống xuất gia rất
mộc mạc, thanh bần, ngay đến nhu yếu trong đời sống như
y phục, đồ ăn, chốn ở đều khác người thường. Trong
Giới Luật đã dạy chúng ta: Hàng nam tử, nữ nhân xuất gia
phải mặc áo hoại sắc, phải bỏ hết các món trang sức,
phải ở phòng ốc giản lậu; y lời Phật dạy, xuất gia còn
phải ôm bát đi khất thực. Các vị hiện tại thọ Bát Quan
Trai Giới, bao nhiêu nữ trang, vàng ngọc đều rời bỏ, y phục
hoa hòe đều được thay bằng áo hoại sắc, đó là tập đời
sống thanh đạm của người xuất gia. Các vị đều nhất
nhất làm tròn, chứng tỏ các vị đã nhận chân được trong
lúc sống đời xuất gia, là đang quan sát để cải tiến đời
sống vật chất hưởng thụ của ngày hôm nay. Các vị hẳn
rất khó được như vậy.
Song
thực sự xuất gia không chỉ có như vậy, trong Giới Luật
dạy phải khéo nhẫn chịu mười việc:
1)
Thứ nhất, trời lạnh phải chịu đựng được hàn khí xâm
hại, chẳng nề mưa tuyết, gió sương.
2)
Thứ hai, trời nóng phải kham nổi nắng thiêu gay gắt, chẳng
quản khí trời oi ả như thiêu như đốt.
3)
Thứ ba, phải chịu đựng được các thứ bức hại từ thiên
nhiên, chẳng ngại một thứ nào cả.
4)
Thứ tư, phải chịu được sấm sét rung trời, quyết không
vì vậy mà sợ sệt rúc trốn.
5)
Thứ năm, khi bụng đói cồn cào vẫn phải chịu đựng được
cơn đói.
6)
Thứ sáu, miệng khô, cổ rát vẫn nhẫn được cơn khát.
7)
Thứ bảy, nghiêm cách tuân thủ không ăn quá ngọ, mỗi ngày
chỉ ăn một bữa đúng ngọ, hoặc hai bữa sáng và ngọ.
8)
Thứ tám, nghiêm cách trì giữ các giới hạnh của Đức Phật
chế ra, cho dẫu lúc bị đe dọa tánh mạng , cũng không được
làm trái giới luật.
9)
Thứ chín, nhẫn chịu các ác ngữ khi nghe lời nhục mạ, chế
giễu, nói bóng, nói gió, nói sàm, nói quấy của người khác,
phải tảng lờ như không nghe, quyết không cho đó là điều
ngang ngược.
10)
Thứ mười, nhẫn chịu độc trùng làm hại. Bởi lẽ, Ấn
Ðộ là xứ nhiệt đới, các vị Tỳ Kheo thường ngồi dưới
gốc cây. Trong mười hai hạnh Ðầu Ðà, có pháp ngồi dưới
gốc cây. Muỗi mòng và độc trùng đến bức hại, Đức Phật
chỉ cho phép đuổi loài độc đi, hoặc các vị Tỳ Kheo phải
sắp xếp nơi chốn sạch sẽ, tránh làm chỗ sanh sản cho độc
trùng, tuyệt đối cấm Tỳ Kheo không được giết hại độc
trùng.
Như
mười điều đã nói ở trên, nghe có vẻ giản đơn, song biết
bao người nhẫn chịu không nổi mười điều này, nên trong
Luật, Đức Phật nói rằng: “Chỉ có đại trượng phu mới
nhẫn nổi”. Xuất gia cho đúng pháp, thực là điều cao quý.
Nếu chịu không nổi các sự bức hại của hoàn cảnh, sự
đả kích của tha nhân, sự gây tổn hại của độc trùng,
sự đạm bạc của đời sống, thì không bao giờ trở thành
người xuất gia chân chính được. Vì vậy, thật tình mà
nói, xuất gia không phải là chuyện dễ.
Ðức
Phật vì hàng tại gia học Phật, chế Cận Trụ Luật Nghi
học tập đời sống xuất gia, phải nói đó là thiện xảo
phương tiện, bởi lẽ Đức Phật hiểu rõ căn lành giải
thoát xuất thế không thể gieo trồng trong chốc lát, phải
huân tập lâu dần mới thành tựu. Tuy vẫn có thể học Phật
tại nhà, song hiềm bị quyến thuộc bao quanh, ân ái trói buộc
thân tâm, điều này gây trở ngại không ít cho mặt tu trì,
nên Đức Phật phương tiện chế Bát Quan Trai Giới một ngày
một đêm, khiến hàng nhị chúng nam nữ học Phật tuy ở trong
gia đình mà vẫn làm được như trong Kinh Bát Ðại Nhân Giác:
“Ngũ dục họa hoạn, không nhiễm thế duyên” để có thể
làm nổi: “Thường niệm ba y, bình bát pháp khí, chí nguyện
xuất gia”. Như vậy mới được nhân duyên thù thắng xả
tục xuất gia, giải thoát ràng buộc. Cho nên Bát Quan Trai Giới
chính là một trong những pháp môn phải tu của người học
Phật tại gia muốn tiến lên con đường giải thoát.
Thọ
trì Bát Quan Trai Giới đã là sự huấn luyện cho người tại
gia tập đời sống xuất gia nên tôi rất mong trong số các
vị thọ giới hôm nay, do sự huấn luyện này mà chân chánh
phát tâm xuất gia. Phật giáo ngày nay mong mỏi có người,
đặc biệt là nam nhân, phát tâm xuất gia. Ðiều này đã trở
thành vấn đề cấp bách. Bởi vì trong nước cũng như hải
ngoại, Tăng chúng càng ngày càng ít. Nếu không có những người
mới xuất gia bù vào, chẳng những không người hoằng dương
chánh pháp, mà ngay đến chùa chiền cũng thiếu Tăng trụ trì.
Như thế há bảo vấn đề chưa đến nỗi nghiêm trọng ư?
Sự kiện này há không khiến những người quan tâm đến sự
tồn vong huệ mạng Phật giáo lo như lửa đốt sao? Há không
tìm cách lôi kéo thanh niên đến chùa học Phật xuất gia sao?
Há không vì mạng mạch của Tăng già sắp đứt mà tìm cách
cứu vớt sao?
Kinh
luật dạy chúng ta: “Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu,
khuyên người xuất gia, khen ngợi kẻ xuất gia, hoặc chính
mình xuất gia, hoặc để người xuất gia, đều có đại công
đức”. Như Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên thuyết: “Cho
người xuất gia hoặc tự xuất gia, hoặc già hoặc trẻ, phúc
đức vô cùng”. Nhưng tôi cho rằng:
ngày nay Tăng chủng sắp đoạn tuyệt, nếu khéo khuyên người
xuất gia, hoặc huấn luyện người xuất gia, thì được công
đức cũng không thể nghĩ bàn.
Phật
giáo sở dĩ có chế độ xuất gia, đức Phật sở dĩ lập
Tăng đoàn, mục đích để cho chánh pháp mà Như Lai cần khổ
chứng được được tiếp nối lâu bền ở thế gian. Cũng
bởi lẽ này nên đức Phật đã trịnh trọng giao phó trụ
trì Tam Bảo cho hàng Tăng chúng. Có Tăng chúng hành hóa, một
số người mới biết có Phật, có Pháp. Giả sử nếu không
có Tăng chúng, thử hỏi ai biết được chánh pháp của Như
Lai, biết được bậc Ðại Giác? Vì thế, bất cứ ở thời
đại nào, dầu là thời Chánh Pháp, Tượng Pháp hay Mạt Pháp
đi nữa, Tăng Già, một trong Tam Bảo, vẫn không sao thiếu
được. Nếu Tăng không có, Phật pháp ắt diệt vong. Phật
Pháp lưu hành được ở thế gian hay không cũng tùy thuận
nơi có Tăng Già hay không. Luật nói: “Tăng có thì Pháp có,
Pháp có tức Phật có”. Ðây là nói rõ ý đó vậy.
Vì
Tăng có, để Pháp có là do nơi có người xuất gia. Như nếu
không người xuất gia, thử hỏi Tăng ở đâu mà có? Thế
nên, xét đến tột gốc, việc thứ nhất vẫn là khuyên người
xuất gia. Như tự mình không khuyên người xuất gia, người
khác tự đến xuất gia, lý ra khuyến khích và tán thán. Giả
như không làm như vậy, mà ngược lại chế giễu, khinh miệt,
cản trở người xuất gia, khác gì diệt mất hạt giống Tăng
Già, cũng đồng với diệt hạt giống Phật, lỗi này rất
lớn vậy. Kinh Xuất Gia Công Ðức nói: “Nếu có người phá
hoại nhân duyên xuất gia của người khác, tức là cướp
đoạt kho báu vô tận phúc thiện, hủy hoại nhân của 37 phẩm
Trợ Ðạo; ở nơi bốn đường (địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh, nhân), sanh ra thường đui, người này không có ngày giải
thoát”. Như vậy, vào thời buổi Tăng chủng sắp diệt này,
chúng ta sao đành nhẫn tâm phản đối người ta xuất gia.
Xuất
gia trong đạo Phật là việc cao thượng, không như một số
người tưởng tượng, không còn cách gì nữa mới xuất gia.
Nhưng người Trung Quốc đối với xuất gia thuở giờ thường
hay quan niệm cho rằng xuất gia rồi không được hoàn tục,
làm cho nhiều người muốn xuất gia mà không dám, vì sợ xuất
gia mà trở về thì rất khó coi. Kỳ thật, Phật Pháp không
có quy định cứng ngắc “xuất gia không được hoàn tục”,
mà vẫn cho phép trở về. Vào thời không người phát tâm
xuất gia này, điều này càng cần phải nhấn mạnh. Như vậy,
bất kể ai, chỉ cần phát tâm xuất gia, không cần quy định
kỳ hạn xuất gia, xuất gia hai ba tuần cũng được, hai ba
tháng cũng được, đôi ba năm cũng tốt, được trường kỳ
càng tốt. Ðến lúc nào đó, muốn trở lại đời sống thế
tục, cứ việc tự do rời đạo về thế.
Có
điều hoàn tục cần có điều kiện, không được lén lút
mà phải công khai trở về, phải trình bày rõ với một vị
cao tăng. Như vậy, tuy hoàn tục vẫn là đệ tử Tam Bảo,
vẫn thường lui tới chùa chiền. Ngày trước, những người
xuất gia muốn hoàn tục phải lén lút trốn về. Tại vậy
nên một khi hoàn tục là bỏ hết mọi quan hệ với Phật
pháp, trong Phật pháp không còn thấy bóng dáng người đó
nữa, chẳng những mất đi một vị Tăng, còn mất thêm một
tín đồ, thật là mất mát cho Phật Giáo. Thái Hư Ðại Sư
hiểu rõ việc này nên hô hào mọi người nên “tôn trọng
Tăng nhân hoàn tục”. Do đó, chư vị như không thể trọn
đời xuất gia, cũng không nên ngại xuất gia ngắn hạn thử.
Ðược tinh thần này, xuất gia cứ xuất gia, hoàn tục cứ
hoàn tục mà trôi chảy chẳng dừng, khiến Tăng chủng không
dứt, chùa chiền trụ trì cũng không thành vấn đề!
Chương
2
Chú
Thích Danh Nghĩa
Bát
Quan Trai Giới căn cứ theo Kinh luận, bất kể hàng tại gia
đã quy y Tam Bảo hay chưa, bất kể là người học pháp Tiểu
Thừa hay Ðại Thừa, đều có thể thọ Bát Quan Trai Giới.
Ðây là điểm đầu tiên chúng ta nên biết.
Bát
Quan Trai Giới thông thường cho rằng thọ vào các ngày lục
trai nhật, nhưng căn cứ theo Luật điển thì không cứ phải
vào ngày lục trai (sáu ngày ăn chay). Ngay cả những ngày vía
chư Phật, Bồ Tát, những ngày vía sanh hay kỵ của cha mẹ
hay của sư trưởng, hoặc ngày sanh của mình, thường tụng
niệm làm công đức, cũng có thể thọ Bát Quan Trai Giới.
Ðây là điểm thứ hai chúng ta nên biết.
Bát
Quan Trai Giới thông thường cho rằng thích hợp nhất là phải
đến chùa chiền, chốn đạo tràng thanh tịnh, xa lánh trần
tục, thỉnh một vị Tăng truyền thọ, nhưng cũng có thể
tự mình thọ giới tại gia, bằng cách mời một vị Tăng
đến nhà truyền giới. Nói đúng hơn, người nam đến chùa
thọ giới thì tốt, còn người nữ thọ giới tại nhà tiện
hơn. Ðây là điểm thứ ba nên biết.
Bát
Quan Trai Giới tuy là danh từ rất quen thuộc với chúng ta,
nhưng trong Kinh Phật Thuyết Trai, Đức Phật vì phu nhân Duy
Da phân biệt có ba loại:
- Mục
Ngưu trai,
-
Ni Kiền trai,
-
và Phật Pháp trai.
Nhưng
không có nghĩa là có tất cả ba loại Bát Quan Trai Giới khác
nhau, mà do cách dụng tâm của người thọ giới mà phân biệt
xếp loại, hợp với tinh thần thọ trai của Phật pháp mới
là Bát Quan Trai Giới của Phật giáo. Ðây là điểm thứ tư
nên biết.
Nguyên
nhân Phật nói Kinh Phật Thuyết Trai: Do có một lần
Đức Phật trụ ở nhà thừa tướng tại Xá Vệ thành. Sáng
sớm hôm đó, mẹ thừa tướng là bà Duy Da phu nhân dậy sớm,
tắm rửa sạch sẽ, dẫn con cháu đồng đến chỗ Phật lễ
lạy. Ðức Phật hỏi: “Sáng sớm đến có việc gì không?”
Duy Da phu nhân thưa: “Chúng con chỉ muốn thọ Trai Giới”.
Ðức Phật dạy: “Các vị phát tâm muốn thọ Trai Giới,
điều này rất tốt và rất khó được, nhưng có ba thứ là
Mục Ngưu trai, Ni Kiền trai và Phật pháp trai. Vậy quý vị
muốn thọ thứ nào?” Phu nhân Duy Da không hiểu ba loại này
khác nhau chỗ nào, xin Phật chỉ dạy. Ðức Phật vì vậy
giải thích chỗ sai biệt của ba loại.
Thứ
nhất, Mục Ngưu Trai, các vị vừa nghe tên này đã lấy
làm ngồ ngộ. Thật ra đây là thí dụ: Như người chăn bò,
mỗi ngày ra đồng chăn bò, đến chạng vạng trở về, trong
lòng luôn nghĩ: chỗ nào có cỏ nước nhiều, ngày mai đến
chỗ ấy chăn cho bò được no nê, có vậy mới thấy bớt
cực nhọc, và không thấy chăn bò là khổ. Người chăn bò
thường như vậy. Cũng thế, một số người phát tâm thọ
trai theo Phật một ngày một đêm, nhưng sau khi thọ giới,
không chịu cố gắng thành tâm thọ trì các giới, trong lúc
thọ trai lòng luôn sinh vọng tưởng: “Tôi hôm nay thọ Trai
Giới, cái gì cũng bị hạn chế không được hưởng thụ,
ngày mai phải hưởng bù chút dục lạc để vớt vát lại
ngày hôm nay phải chịu nhịn”. Thọ giới, không lưu tâm
đến các giới thọ, mà chỉ đặt tâm vào sự hưởng lạc
ngày mai, như vậy không phải là chân chánh thọ giới. Tỷ
dụ như các vị hôm nay thọ giới, nghiêm trì giới quá ngọ
không ăn. Giả như có người nghĩ chiều nay không ăn cũng
được; ngày mai về nhà ăn bù lại một bữa cho đã. Như
thế, dưới con mắt đại trí của chư Phật, đó là thọ
Mục Ngưu trai, không phải đệ tử Phật thọ giới chân chính.
Thứ
hai, Ni Kiền trai: Ni Kiền Tử là một thứ ngoại đạo
ở Ấn, thường gọi là Ly Hệ Ngoại Ðạo (lìa trói buộc).
Họ có phương pháp tu của họ. Hơn nữa, mục đích dụng
công tu của họ cũng để ra khỏi sự trói buộc của sanh
tử tam giới. Nhưng, dẫu rất tinh tiến dụng công tu hành,
vẫn không kiếm được con đường chân chánh, kết cuộc chẳng
sao tìm được sự giải thoát các thứ trói buộc. Do họ chuyên
tu khổ hạnh, như trời nắng như thiêu, phơi mình dưới sức
nóng bỏng của mặt trời; trời lạnh thì nằm ngoài sương
giá chịu rét, hoặc bôi tro, trét bùn trên người. Nhiều người
thấy vậy cho là hy hữu, khó được. Dưới mắt đức Phật
thì chỉ là sự khổ hạnh vô ích, chả có chút lợi ích gì
nơi sự giải thoát sanh tử, cũng không chút công hiệu với
việc thể ngộ chân lý. Họ thọ Trai Giới vào các ngày Rằm
mỗi tháng. Khi thọ Trai Giới, nằm xoài ra đất, nói với
chư thần trong mười do tuần rằng: “Tôi hôm nay thọ giới,
không còn dám làm các việc không như pháp, không hợp lý nữa.
Tôi nay rời gia đình, đồng với không có nhà. Vợ con, nô
bộc trong nhà nay không là của tôi, tôi cũng không phải là
chủ của họ”. Như vậy, không khác Bát Quan Trai Giới cho
lắm, chỉ không kê khai từng điều giới tướng mà thôi.
Họ tuy miệng nói như thế, nhưng không thiết thật thực hành,
chỉ phô bày bên ngoài làm hài lòng tai mắt thiên hạ, thật
thì khi người dối mình, kết quả vẫn đắm chìm trong biển
sanh tử. Người phát tâm thọ giới nếu trong ngày thọ giới
không buông bỏ được hết, hay lợi dụng ngày này thực tiễn
tu tập pháp, thì khác gì Ni Kiền Tử thọ giới. Qua hôm nay
rồi, ngày mai mọi việc lại vì Ta (Ngã). Ðâu phải là Trai
Giới nên thọ của người học Phật.
Thứ
ba, Phật pháp trai: Chính là Bát Quan Trai Giới chúng
ta đang đề cập đến hôm nay, trong Luật điển có nhiều
tên gọi khác nhau. Ðơn giản nhất là Bát Giới, có nơi gọi
là Bát Chi Giới, thông dụng nhất là Bát Quan Trai Giới. Nay
lược giảng danh nghĩa như sau:
Bát
trong Bát Quan Trai Giới là số mục. Tại sao lại là tám (bát)?
Vì khi thọ giới này, đề phòng và ngăn chận tám việc, nên
gọi là tám nhánh (bát chi) hay tám phần (bát phần), tức là:
Tám pháp ngăn che này, có khi gọi là Giới, có khi gọi là
Trai, hoặc gọi là Quan. Vì sao? Trong Phật pháp, Giới có nghĩa
là ngừa quấy ngăn ác (phòng phi chỉ ác). Như hai nghiệp thân,
khẩu: Thân có ba là sát sanh, trộm cướp, dâm dục; khẩu
có bốn là hai lưỡi, ác khẩu, nói điêu, thêu dệt. Tổng
cộng bảy chi đều là việc quấy. Các việc quấy ác này,
sau khi thọ Bát Quan Trai Giới, nơi thân tâm sẽ phát sanh sức
mạnh hoặc tác dụng có thể ngăn chặn được tám việc xấu.
Như tội sát sanh, nếu không thọ Trai Giới, ắt sẽ sát sanh
thẳng tay, không chút suy nghĩ; nhưng khi thọ giới rồi, khi
sắp sát sanh, Giới nơi tâm sẽ phát sanh một sức mạnh bảo
mình rằng: “Không nên giết, không được giết!” Nhờ vậy
mà chặn đứng được việc làm sát sanh hại mạng kia, phải
biết đó chính là sức mạnh và tác dụng của Giới.
Quan,
giải theo chữ có nghĩa là “đóng”, hàm nghĩa người thọ
Bát Giới này không còn làm bất cứ việc ác hại nào nên
cánh cửa của tam ác đạo bị đóng chặt lại, không còn
có thể vào trong ba đường dữ nữa. Té ra, ba đường địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh đều có cửa để vào. Bình thường,
cánh cửa tam ác đạo luôn khép kín, bất cứ ai muốn tiến
vào đều phải mở lấy, nhớ rằng không ai mở giùm mình
ngoài chính mình tự mở. Ðằng sau cánh cửa, rõ ràng toàn
là điều khốn khổ, sao lại tìm đến? Cũng chỉ vì không
tự chủ được mình, tạo bao điều ác nghiệp, cánh cửa
tam ác đạo kia tự mở, rồi mình bước vào hồi nào không
hay, chịu bao điều quả báo khó kham. Hiện nay, thọ Bát Quan
Trai Giới rồi không tạo các tội ác nữa, đừng nói cửa
tam ác đạo chưa mở, chúng ta quyết không đến mở, mà ngay
đến cửa này có mở rồi, ta cũng đóng nó lại để có muốn
vào, vào cũng không được. Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng:
Cửa tam ác đạo mở là do tự ta mở bằng cách gây biết
bao tội lỗi. Và cũng do chính chúng ta đóng bằng cách tu các
thiện pháp, tạo bao việc lành. Cho nên tục ngữ có câu: “Họa
phúc không cửa, do ta tự mời” (Họa phúc vô môn, duy nhân
tự chiêu). Hay còn nói: “Thiên đường có lối không ai đến,
địa ngục không cửa vẫn tự vào” (Thiên đường hữu lộ
nhữ bất tẩu, địa ngục vô môn nhữ tự khai). Nên đã là
đệ tử Phật, chẳng những không nên đi mở cửa tam ác đạo
mà còn phải đi đóng cửa này lại, có vậy mới hợp với
ý thú học Phật.
“Trai”,
thường giải thích như sau: Vì tư tưởng con người từ sáng
đến tối tạp loạn không dừng, khi nghĩ đến này, lúc tưởng
đến kia, không bao giờ ngừng nghỉ. Hiện tại, vận dụng
một phương pháp khiến các tư tưởng tạp loạn được chuyên
chú vào một cảnh, không còn lăng xăng, rối loạn. “Trai”
còn có nghĩa thanh tịnh, như thế tục thường có Trai Thái
Quán (tiệm chay), vừa bước vào đã thấy thật thanh khiết.
Phải biết hoàn cảnh thanh khiết rất quan trọng, như đến
nơi nào sạch sẽ, vẫn thấy thư thái; nếu chỗ dơ dáy, ắt
sanh tâm nhờm gớm. Nội tâm con người thường nhận thức
và cảm giác như vậy trước cảnh bên ngoài. Sở dĩ gọi
Trai là “thanh tịnh” bởi vì Trai Giới có thể giúp cho tâm
được thu nhiếp tịch tĩnh, đoạn được hết mọi tội lỗi,
phát sanh được sức phòng hộ căn môn. Căn môn là cửa của
sáu căn. Thế gian đầy dẫy tội ác đều do sáu cửa này
tạo ra. Như mắt thấy Sắc, thích thì khởi lòng tham, ghét
thì khởi lòng sân, rồi đưa đến hành động hoặc chiếm
hoặc bỏ, gây ra bao tội ác. Nếu muốn không tạo ác, phải
tìm cách thủ hộ, đề phòng căn môn, đừng để cho nó chạy
theo cảnh giới bên ngoài. Có vậy mới dứt trừ hết được
các tư tưởng tạp loạn, xa rời các thứ gây đến lỗi lầm,
không còn bị tà dục ở thế gian ô nhiễm. Chính vì Trai có
nghĩa là thanh tịnh, nên hàng kẻ sĩ và thục nữ thích gọi
tịnh thất hay thư phòng mình là “trai”, biểu thị siêu
nhiên thoát tục, không bị nhiễm thế.
Như
trên đã giảng, chư vị đã hiểu danh từ “Trai Giới” gốc
từ Trung Quốc. Các điển lễ trong sách xưa ghi: “Trai giới
để thưa với quỷ thần” (Trai giới dĩ cáo quỷ thần);
cho nên, người xưa trước khi cúng quỷ thần phải trai giới,
tắm rửa cho sạch sẽ. Lúc tu trai tức phải có giới, cho
nên gọi chung là “Trai Giới”. Ðặc tánh của Trai là tẩy
sạch nội tâm, không để cho các ý niệm bất tịnh tồn tại.
Năng lực của Giới ở chỗ phòng hoạn, không để cho các
hành vi bất chánh được hoạt động.
Trai
theo Ấn có nghĩa Bố Tát hoặc Bao Sà Ðà, bao gồm hai ý nghĩa
“tịnh trụ” và “trưởng dưỡng”. Cư sĩ tại gia vào
các ngày lục trai, thọ Bát Quan Trai Giới để trừ khử dần
các ác pháp, đồng thời tu tập thêm các pháp lành, thiện
pháp mỗi ngày mỗi tăng, ác pháp mỗi ngày mỗi giảm, nhờ
vậy, thân tâm mới trụ nơi thanh tịnh, không bị trụ trọn
ngày nơi phiền não và tội nghiệp, vì vậy gọi là “tịnh
trụ”. Thứ nữa, hàng tại gia học Phật, nhờ thọ bát vào
các ngày lục trai, thiện pháp mỗi ngày mỗi tăng trưởng,
bởi lẽ bất kỳ ai nếu muốn công đức được trưởng dưỡng,
bắt buộc phải tu tập không ngừng. Nếu nay tu mai nghỉ, ắt
không sao trưởng dưỡng. Trong Trí Ðộ Luận, ngài Long Thọ
dạy: “Hành thọ Bát Giới, đó là Bố Tát, Tần gọi Thiện
Túc”, ý nói: Bố Tát còn dịch là Thiện Túc, nghĩa là thọ
trì Bát Giới, khéo an trụ nơi pháp thanh tịnh, không còn bị
dục nhiễm trần lao quấy phá, nên gọi là “thiện túc”
(khéo trú).
Liên
quan đến vấn đề này, trong Trí Ðộ Luận ghi: “Thọ hành
tám giới, tùy học các Phật pháp, gọi là Bố Tát, nguyện
giữ phúc đức này, đời đời không đọa ba ác (1), tám nạn”
(2). Ý nói: Người học Phật tại gia phát tâm thọ trì, phụng
hành tám giới, tự nhiên có thể tùy thuận học hết mọi
Phật pháp; tu học và phụng hành Phật pháp như vậy gọi
là Bố Tát. Phúc đức Bố Tát này nguyện hồi hướng đời
đời kiếp kiếp không đọa ba ác, tám nạn. Ba ác, tám nạn
nói theo Phật pháp là không mỹ mãn, không lý tưởng. Khổ
như ba ác không lý tưởng đã đành, mà đến những nơi sung
sướng tợ thiên đường hay Bắc Câu Lô Châu, dù kiếp sống
rất thỏa thích, nhưng vì không có cơ hội tu học Phật pháp,
nên không những không được cho là chỗ tốt lành, mà ngược
lại còn bị coi là nơi hoạn nạn nữa! Phải biết điều
quan trọng nhất của học Phật là có cơ hội tu học, nếu
sanh vào lúc không có Phật pháp, thử hỏi làm sao y pháp tu
hành được? Cho nên sau khi thọ hành tám giới, nên phát nguyện
do công đức này, không còn đọa vào ba đường tám nạn.
Do đó chứng minh tám giới của Phật pháp, bất luận ở Luật
hay Luận đều gọi là Bố Tát, còn có thể thêm chữ Hộ
gọi là Bố Tát Hộ. Hộ có nghĩa là “thủ hộ”, chỉ sự
gìn giữ tự tâm, ý nói: người phát tâm thọ trì tám giới
phải khắc khắc thủ hộ tự tâm, vì tâm là đầu mối của
tội họa, tội ác nào cũng do từ tâm ra. Nếu khéo hành đúng
tinh thần tám giới, luôn luôn phòng giữ tự tâm, ắt không
phát triển ác nghiệp nữa, cho nên gọi là Bố Tát Hộ. Thọ
trì Bát Quan Trai Giới dĩ nhiên không chỉ chuyên phòng hộ
nội tâm, mà phòng hộ cả thân khẩu nữa, chính vì vậy các
bậc cổ đức thường bảo: “Nơi tâm gọi Hộ, nơi thân
khẩu gọi Giới”.
Còn
có Trai của Bát Quan Trai Giới, có người còn bảo quá ngọ
không ăn gọi là “trì trai”. Do nghĩa này làm tự thể của
Trai, thậm chí các giới trước như bất sát… chẳng qua chỉ
trợ thành trai thể mà thôi. Lại có người bảo ăn chay trường
là trường trai, ăn chay sáu ngày là hoa trai. Ðâu biết “trai”
của trường trai, hoa trai chẳng ăn nhập gì với “trai”
của Bát Quan Trai, lại cũng chẳng quan hệ gì với giới “ăn
ngọ”. Vì không ăn quá ngọ chỉ là duyên phòng phạm, cùng
trai thể vô can.
Trong
kinh đức Phật dạy: Căn cứ vào truyền thuyết của các tôn
giáo Ấn, thế giới này khi mới thành lập gọi là Kiếp Sơ,
có rất nhiều ác thần, ác quỷ có nhiều thế lực, thường
ở thế gian hút lấy tinh khí của con người vào các ngày
lục trai. Sự tồn vong của sinh mạng dựa vào sự duy trì
của tinh khí, mà hễ tinh khí này bị rút mất, ắt sự sanh
tồn phải bị đe dọa. Vì vậy, ai nấy cũng vì sự sanh tồn
mà sanh tâm đề phòng. Bấy giờ, có một vị đại trí huệ
muốn trừ sạch các mối nguy này, nên bảo mọi người rằng:
“Ðừng sợ sệt, đã có biện pháp. Chỉ cần mọi người
cứ vào sáu ngày trai, không ăn nguyên ngày cho tâm tịch tĩnh,
thân được tiết chế; nhờ vậy, ác thần, ác quỷ không
sao hút được tinh khí. Tinh khí được bảo toàn, mạng sống
không phải lo mất!”
Như
thế, thuở giờ bên Ấn đã có lục trai nhật; hơn nữa, vào
lục trai nhật còn không ăn bất cứ gì. Sau này khi Phật xuất
thế, ngài thấy phương pháp lục trai nhật có thể duy trì,
song cần phải sửa đổi để thích hợp với Phật pháp, nên
thay vì “không ăn” đổi thành “quá ngọ không ăn”, gọi
là “không ăn phi thời”. “Phi thời” ý chỉ sau 12 giờ,
qua giờ đó thì không ăn nữa, đó là một trong Bát Giới.
“Không
ăn phi thời” đã là một trong tám giới, đương nhiên không
phải là trai thể, ai bảo đó là trai thể tức ngộ nhận
đó vậy. Nhưng có thể có người bảo: “Ăn cơm đâu phải
là tội ác, không phải giờ mà ăn thì có sao đâu?” Phải
biết rằng ăn uống là duyên tăng thượng trầm luân sanh tử
của chúng sanh, do đó không nên xem thường. Tại sao ăn uống
lại là tăng thượng duyên cho sự trầm luân sanh tử của
chúng sanh? Chúng ta thường hay nói: “Ăn no ấm cật sanh tà
vạy”. Ðời sống người nào quá đầy đủ, ăn ngon, hưởng
đủ hay sanh chuyện nghĩ bậy. Ðể giúp ta thanh tịnh, ít dục,
đức Phật chế quá ngọ không ăn để tiết chế sự tham
ăn không cho tăng trưởng, ngăn chặn ác pháp không để lan
rộng. Cho nên Ðạo Tuyên Luật Sư bảo là: “Duyên phòng đó
vậy” rất đúng. Nếu bảo giới “không ăn phi thời” là
trai thể, các giới khác là trợ thành trai thể thì không hạp
với nghĩa trên. Chúng ta phải hiểu cho rõ điểm này. Nếu
không thọ trì Bát Quan Trai Giới, chỉ mải lo đặt nặng vấn
đề “không ăn phi thời” mà xao lãng các giới kia, như vậy
không hợp với tinh thần của Bát Giới.
Bát
Quan Trai Giới còn gọi là Cận Trụ Luật Nghi, hay Trưởng
Dưỡng Luật Nghi. Ý nói: Người phát tâm thọ Bát Quan Trai
Giới thiện căn ban đầu vốn rất nhỏ nhưng lâu ngày sẽ
tăng trưởng nhờ thọ tám giới. Hoặc có thể nói như vầy:
Người học Phật tại gia khéo phát tâm thọ trì tám giới,
huân tập công đức này không ngừng, lâu dần căn lành xuất
gia càng tăng trưởng. Bởi vì thọ Bát Quan Trai Giới chủ
yếu để tập đời xuất gia, tuy chỉ trong một ngày một
đêm; nếu một tháng thọ một lần hay nhiều lần ắt sẽ
huân tập và trưởng dưỡng căn lành xuất gia. Cho dù vốn
không có ý niệm xuất gia, do vì thường thọ Bát Quan Trai
Giới, chịu sống đời xuất gia, lâu ngày sẽ cảm nhận được
đời xuất gia rất hợp với mình. Do vậy, ắt tự nhiên nghĩ
rằng tại gia chẳng bằng xuất gia. Ðó chính là trưởng dưỡng
căn lành xuất gia. Bởi vì khéo trưởng dưỡng như vậy, nên
đức Phật còn gọi Bát Quan Trai Giới là Trưởng Dưỡng Luật
Nghi.
Còn
tại sao gọi là Cận Trụ Luật Nghi? Nói giản lược là do
vì thân cận Tam Bảo, an trụ ở đạo tràng của Tam Bảo,
chịu sự huân tập của tư tưởng Tam Bảo, như chư vị hiện
đang trụ ở đạo tràng này vậy. Nói rõ hơn có ba nghĩa:
1.
Thứ nhất, cận thời nhi trụ (ở thời gian ngắn). Ý
nói: Chỉ thọ giới trong một ngày đêm; xét về mặt thời
gian, chỉ trụ trong một thời gian quá ngắn tạm, trong vòng
24 giờ. Vì vậy gọi là Cận Trụ Luật Nghi.
2.
Thứ hai, cận tận thọ giới trụ. Chúng xuất gia, bất
luận là tỳ kheo hay sa di, không thọ giới thì thôi, như phát
tâm thọ giới tất phải cả đời trì giới. Như hôm nay thọ
giới Tỳ Kheo rồi thì phải giữ cho đến khi thọ mạng hết,
giới thể mới lìa thân. Trước lúc chết, chỉ cần đừng
phá giới căn bản, giới thể luôn tại thân tâm, có tác dụng
phòng quấy ngăn ác, cho nên hàng tứ chúng xuất gia phải giữ
giới đến chết. Bát Quan Trai Giới tuy chỉ tạm thời một
ngày đêm, nhưng đó là quy tắc xuất gia tạm thời cho hàng
nhị chúng tại gia, tuy chưa xuất gia, song vẫn tạo được
thắng nhân cho giới xuất gia tận hình thọ. Bởi vì từng
lần từng lần thọ trì, huân tập, không ngừng tăng trưởng
căn lành xuất gia; dần dà nhận thấy thọ từng lần chẳng
bằng một lần xuất gia thọ Ðại Giới đến trọn mạng
sống. Như vậy đủ thấy Bát Quan Trai Giới một ngày một
đêm tợ hồ rất ngắn, nhưng rất gần với giới xuất gia
một đời, nên còn có thể gọi là “phương tiện ban đầu”
cho giới xuất gia trọn đời. Vì vậy gọi là Cận Trụ Luật
Nghi.
3.
Thứ ba, cận A La Hán trụ. Ý nói: Thọ Bát Quan Trai Giới
học tập đời xuất gia, đó là hành môn của A La Hán, nên
thọ giới chính là tu học A La Hán. Như thường tu học A La
Hán pháp, người thọ hành Bát Quan Trai Giới này, chẳng bao
lâu, trong tương lai ắt chứng được A La Hán quả. Tuy hôm
nay còn là một kẻ phàm phu, song nhờ thân cận chỗ A La Hán,
cùng A La Hán gần gũi, nên gọi là Cận Trụ Luật Nghi.
Danh
nghĩa của Bát Quan Trai Giới tóm tắt giải nghĩa như vậy.
Chúng ta có thể thấy rõ ràng: tu Bát Quan Trai Giới trong vỏn
vẹn có một ngày một đêm, thanh tịnh thân tâm, phòng hộ
giữ mình. Tuy chưa xuất ly tam giới ngay được, nhưng nhờ
nương công đức Trai Giới này, gieo trồng hạt nhân xuất
thế thù thắng; tương lai chắc chắn được giải thoát. Học
Phật mục đích quan trọng và lớn nhất chính là sự giải
thoát dứt sanh tử, như nếu chưa đạt được giai đoạn này
thì rồi sẽ lại bị chìm đắm trong biển sanh tử mãi không
ngày ra. Chư Phật vì muốn hóa độ chúng sanh nên đặc biệt
chỉ bày pháp môn hy hữu, phương tiện tối thắng này. Mong
chư vị thọ giới không nên xem thường đó vậy!
________________________
(1)
Ba ác: tức tam ác đạo gồm súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục.
(2)
Tám nạn: Tám sự chướng ngại việc gặp Phật, nghe Pháp
nên gọi là Nạn, gồm: Ðịa ngục; ngạ quỷ; súc sanh; Uất
Ðan Việt (còn gọi là Bắc Câu Lô Châu), nơi đây thọ báo
khoái lạc, không còn sự khổ; Trường Thọ Thiên (chỉ Sắc
Giới và Vô Sắc Giới), nơi đó được an ổn trường thọ;
đui điếc câm ngọng; thế trí biện thông: trí thông minh của
thế gian; Phật tiền Phật hậu: sanh ra trước hay sau đời
có Phật.
Phẩm
Phương Tiện kinh Duy Ma Cật nói: “Khi Bồ Tát thành Phật,
nơi quốc độ không có ba ác và tám nạn”. Tịnh Tâm Giới
Quán Pháp nói: “Gốc sanh 448 thứ bệnh do nơi ăn đêm, gốc
sanh ba ác tám nạn do nơi nữ nhân”.
Chương
3
Chế
Lập Duyên Khởi
Tất
cả Giới Luật trong Phật giáo đều do đức Phật chế, có
hai loại khác nhau: Một loại phải đợi nhân duyên mới chế,
một loại không cần. Loại có nhân duyên rồi chế là Thanh
Văn Luật Nghi Giới; loại không cần nhân duyên là Bồ Tát
Tam Tụ Giới. Gọi là “đợi nhân duyên mới chế” là vì
phải có một nhân duyên nào xảy ra, đức Phật mới nhân
đó chế giới. Cho nên Sa Di có nhân duyên chế lập Sa Di Giới,
Tỳ Kheo có nhân duyên chế lập Tỳ Kheo Giới. Hiện nay quý
vị thọ Bát Quan Trai Giới là một loại Luật Nghi Giới, tất
nhiên phải có duyên khởi chế lập của nó. Ðại Thừa Bồ
Tát Giới không vậy, do Như Lai nhất thời chế lập, trong
một lần Ngài chỉ bày cặn kẽ giới Ðại Thừa Bồ Tát
mà chẳng phải đợi đến một nhân duyên nào xảy ra mới
chế giới. Cho nên giới Ðại Thừa, Tiểu Thừa không chỉ
khác nhau ở nội dung mà còn khác ở phương thức chế lập.
Ðức
Phật vì chúng ta chế Bát Quan Trai Giới do nhân duyên nào,
đó là điều hôm nay tôi muốn trình bày đến chư vị. Chư
vị phát tâm thọ Bát Quan Trai Giới, điều này thực tốt,
song nếu không biết duyên khởi chế lập Bát Quan Trai Giới
thì thực không mỹ mãn.
Cầu
thọ Bát Quan Trai Giới, thực mà nói, vốn không cần hạn
định thời gian, như thọ hằng ngày cũng được, một tháng
thọ hai mươi ngày, mười lăm ngày gì cũng được. Thọ càng
nhiều ngày càng được lợi ích, song vì một số người đầu
óc rối ren chuyện gia đình, vì để duy trì đời sống gia
đình, đôi khi phải cầu niềm vui thế tục, không thể xả
bỏ hết được, cũng không có nhiều thì giờ để thường
đến thọ Bát Quan Trai Giới. Ðức Phật vì muốn thích ứng
với thời gian của mọi người nên chế định thọ bát trong
lục nhật trai. Như kinh Ưu Bà Di Ðọa Xá Ca thuyết minh cho
điều này: “Người ta có nhiều nỗi lo chuyện nhà, cho nên
ta dùng cách cho thọ Bát Giới trong lục nhật trai. Nếu có
người hiền thiện nào muốn được quả A La Hán, muốn mau
thành Phật, hoặc muốn sanh Thiên, phải tự đoan nghiêm tâm,
nhất ý bất loạn, một tháng mười lăm ngày trai cũng tốt,
hai mươi ngày trai cũng tốt. Người lo nhiều chuyện gia đình
chỉ cần một tháng sáu ngày”. Ðức Phật chế định thọ
Bát Quan Trai vào lục trai nhật hoàn toàn vì hàng tại gia học
Phật.
Theo
tình hình hiện nay xét, phải nói rằng sự chế định này
của đức Phật quả là sự chọn lựa từ nơi trí huệ của
Ngài, bởi vì đến cái thời đại phát triển máy móc này,
đừng nói một tháng thọ bát sáu ngày khó làm, mà đến một
tháng một ngày cũng không phải dễ. Ngày xưa vào thời đại
nông nghiệp, công việc đã không bận bịu như ngày nay, mà
đời sống cũng không chật vật như hiện giờ. Cứ xem tình
trạng hiện nay, ai nấy cũng bận cả ngày, bận đến bù đầu
bù cổ, đến chuyện nhà còn lo không xuể. Vì vậy, từ vợ
đến chồng cả ngày lo chuyện gia đình, giờ lại bảo ông
hay bà bỏ chuyện nhà đi thọ bát thì quả là chuyện nan đắc.
Bởi thế, quý vị trong trăm thứ lo, bỏ chút thời giờ nghỉ
thọ Bát Quan Trai Giới, thực rất đáng tán thán.
Bậc
Ðại Thánh Thích Ca Mâu Ni xuất hiện cách đây hơn 2.500 năm
quan sát tình thế lúc ấy, biết thế nhân không dễ thọ giới,
nên mới chế trong lục nhật trai thọ Bát Quan Trai Giới, phải
nói đức Phật đã sớm biết thời kỳ Mạt Pháp càng khó
thực hiện. Sự thực quả vậy, đừng nói một tháng sáu
ngày, một tháng một ngày cũng không mấy ai phát tâm.
Lục
trai nhật đức Phật chế định là sáu ngày nào? Theo nông
lịch của chúng ta thì vào các ngày 8, 14, 15, 23, 29 và 30 mỗi
tháng. Nhưng vì nông lịch có tháng đủ, tháng thiếu không
có ngày 30, phải lấy 28 và 29 thế 29 và 30, như vậy vẫn
đủ một tháng sáu ngày.
Hàng
cư sĩ tại gia thọ Bát Quan Trai Giới danh xưng khác với hàng
cư sĩ không thọ Bát Giới. Dù thọ Tam Quy Ngũ Giới nhưng
không thọ Bát Quan Trai Giới thì chỉ gọi là Ưu Bà Tắc hoặc
Ưu Bà Di. Còn nếu có thọ Bát Quan Trai Giới thì được gọi
là “tịnh hạnh ưu bà tắc” hoặc “tịnh hạnh ưu bà di”.
Tịnh hạnh ở đây có tánh cách rất trọng yếu. Như thọ
Ngũ Giới vốn không chủ trương tuyệt hẳn dâm dục, sự
quan hệ chính thường giữa vợ chồng vẫn được chấp nhận,
cho nên gọi là “tận hình thọ bất tà dâm” (đến chết
không tà dâm). Nhưng trong một ngày đêm thọ Bát Quan Trai Giới,
chẳng những không được tà dâm, mà ngay đến sự quan hệ
chính thường giữa vợ chồng cũng bị cấm chỉ, cho nên khi
tuyên giới thường nói: “Nhất nhật nhất dạ bất dâm dục”
(một ngày một đêm không dâm dục) là để hiển thị tinh
thần hoàn toàn thoát ly quan hệ nam nữ. Có vậy mới thành
chân chánh thanh tịnh hạnh. Cho nên tịnh hạnh ưu bà tắc,
tịnh hạnh ưu bà di chẳng phải hành Tam Quy Y, thọ Ngũ Giới
mà được gọi. Phải thọ Bát Quan Trai Giới vào lục nhật
trai mới có danh xưng là “tịnh hạnh”.
Phật
pháp nói chữ “trai” trong lục trai nhật, chủ yếu chỉ
thọ Bát Quan Trai Giới. Ðiều này đã giảng trong phần Danh
Nghĩa. Nhưng thuở giờ nhiều người ngộ hội, cho rằng ăn
chay là Trai, cho nên dân gian vẫn thường hay nói: “Phát tâm
tin Phật, ăn chay trường kỳ gọi là trường trai. Còn nếu
chỉ phát tâm ăn chay vào sáu ngày gọi là hoa trai”. Ðúng
vậy, chỉ chuyên ăn chay không còn ăn thịt là điều Phật
pháp đề xướng cực lực, hy vọng trong lúc trường trai,
bồi dưỡng tâm đồng tình, tăng trưởng tâm từ bi. Nhưng
nói chính xác: Trai của Phật pháp không phải chỉ ăn chay,
còn phải thọ trì giới “không ăn quá ngọ” và các giới
của Bát Giới, mới được là chơn chánh trì trai. Ðiểm này
chúng ta cần phải phân biệt cho rõ, không nên nhập bừa làm
một.
Nhân
duyên chính đức Phật chế định cho thọ Bát Quan Trai Giới
trong lục nhật trai là để cho hàng tại gia nhị chúng gieo
trồng căn lành giải thoát, thú hướng xuất ly, nên vào những
ngày lục trai, nên đến trước chư Tăng thỉnh truyền tám
giới này, nương nhờ thời gian ngắn ngủi này xa rời mọi
sự phiền lụy ở thế gian, chuyên tâm nhất chí tu học Phật
pháp để tuy thân còn ở nhà mà không hề bị bụi trần làm
mê, vững bước trên con đường giải thoát. Ðức Phật đại
từ đối với sự hóa độ hàng đệ tử này, một mặt quan
sát tìm thời gian cho họ tu học, một mặt không quên dẫn
dắt họ hướng đến giải thoát. Ðây là thiện xảo phương
tiện của Ngài. Ðức Phật luôn vì chúng ta nghĩ bày, chúng
ta nên tuân theo sự chỉ dạy của Ngài thực hành từng bước
chắc, để khỏi cô phụ ân đức hóa độ của Ngài.
Tại
sao thọ Bát Quan Trai Giới vào các ngày lục trai? Căn cứ theo
Kinh, Luật, có hai lý do khác nhau, phân biệt như sau:
a.
Thứ nhất, theo ngài Long Thọ trong Trí Ðộ Luận: sở
dĩ đức Phật chọn lục trai nhật tu Bát Quan Trai Giới vì
theo truyền thuyết của các tôn giáo cổ bên Ấn, trong sáu
ngày này thế gian thường có loài quỷ dữ theo sau con người,
rình đoạt lấy sanh mạng. Nếu không đoạt mạng thì cũng
gây cho họ chuyện nghịch ý. Vì vậy, vào thời kỳ dân trí
chưa mở mang, người ta cho rằng sáu ngày là những ngày cực
xấu, và ai cũng sợ hãi khi tới những ngày này. Do vậy, theo
truyền thuyết có một vị thánh nhân đại trí huệ, vì muốn
trừ diệt sự khủng bố này, nên dạy mọi người phải làm
phúc, tu thiện vào sáu ngày đó. Nhưng sự trì trai tu phúc
đó không giống sự thọ trì Bát Quan Trai Giới của Phật
giáo, chỉ dạy cả ngày đừng ăn gì cả, vì cho rằng như
vậy quỷ dữ không theo được. Theo Phật giáo thì quỷ phần
nhiều là ngạ quỷ, các tôn giáo xưa của Ấn Ðộ cũng đều
nhận như vậy. Bởi vì là ngạ quỷ (quỷ đói) nên khi thấy
người ăn uống, phải chịu đựng cơn đói rất là khổ sở.
Nếu may gặp loại quỷ có chút thiện lương, có khổ sở
và đói cũng nhẫn nại chịu đựng. Còn chẳng may gặp quỷ
dữ ắt sanh khởi ác tâm, cho rằng tại sao loài người được
no đủ mà mình chịu đói khát nên nghĩ cách làm khổ con người.
Rồi thì loài người vì tránh họa quỷ nên trong ngày đó
không dám ăn. Ðó là truyền thuyết của Ấn Giáo.
Các
tôn giáo cổ ở Ấn đã bày ra lục trai nhật, và truyền đến
đời Phật vẫn được thịnh hành. Bấy giờ, đức Phật
thấy trì trai tu phúc là một việc tốt, nhưng Ngài sửa đổi
lại thành Bát Quan Trai Giới, dạy mọi người: trì trai tu
thiện làm phúc rất đúng, nhưng đâu phải chỉ trọn ngày
không ăn là đủ, còn phải trì giới mới thực sự trừ tai
tránh nạn được. Như Trí Ðộ Luận nói: “Phải như chư
Phật giữ tám giới trong một ngày một đêm, không ăn quá
ngọ, công đức này đem mình đến Niết Bàn”. Ðức Phật
coi nặng chuyện không ăn quá ngọ vì Ngài cho rằng tảo và
ngọ phạn, hai bữa này không ảnh hưởng đến sự đói khổ
của ngạ quỷ, còn buổi chiều là giờ ăn của ngạ quỷ,
nên hễ thấy ai ăn thì ngạ quỷ phải chịu sự đói khổ
dày vò. Vì lẽ ấy, đức Phật thay vì cấm ăn như Ấn Giáo,
thì cấm ăn quá ngọ và thêm các giới khác. Như vậy, không
những tu thiện, tăng phúc, tiêu tai miễn nạn, mà còn nhờ
công đức này đến được Niết Bàn. Do đây biết rằng nghi
thức tôn giáo trì trai vào lục trai nhật không phải là của
Phật giáo bày ra, mà có sẵn ở Ấn, đức Phật chỉ sửa
đổi thành Bát Quan Trai Giới, để không phải chỉ trừ tai
nạn, mà còn để gây trồng nhân xuất gia giải thoát. Ðó
là thiện xảo phương tiện của Phật.
Phật
pháp sửa đổi nhiều lại nhiều nghi thức của Ấn giáo cổ
xưa, như kinh Tạp A Hàm quyển 93 từng đề cập đến việc
bà la môn dùng ba thứ lửa để tế tự. Ðức Phật xem hành
động đốt lửa tế trời của bà la môn hoàn toàn là mê
tín. Nhưng khi đi hóa độ bà la môn, Ngài khéo dùng thiện
xảo phương tiện, không trực tiếp chỉ cái sai lầm của
họ, mà vẫn khen họ dùng tam hỏa tế trời rất hay, “nhưng
có điều trong giáo pháp của ta, cũng có ba thứ lửa. Nếu
được giống như thứ lửa của ta thì còn đạt được công
đức vô kể”. Bà la môn nghe lấy làm kỳ quái, không biết
Ngài thờ lửa gì, nên cầu hỏi Phật. Ngài bèn khai thị:
“Ba thứ lửa của ta là: Cúng dường cha mẹ gọi là lửa
căn bản (gốc). Cúng dường vợ con, quyến thuộc gọi là
lửa nhà. Cúng dường sa môn, bà la môn gọi là lửa phúc điền”.
Mục
đích thờ lửa của bà la môn không ngoài mong muốn được
chư thiên ban phúc, nhưng đâu biết chỉ như vậy thôi thì
thực không sao đạt được phúc. Ðức Phật nhận rằng cầu
Thiên ban phúc chẳng bằng cầu phúc ngay ở thế gian hiển
thật này. Ðó là con đường cầu phúc hợp lý nhất, vì lẽ
nơi gia đình không lỗi nhờ hiếu thuận cúng dường cha mẹ,
làm cho tình vợ chồng thêm hòa thuận; về mặt tôn giáo thì
cúng dường sa môn, bà la môn được công đức vô cùng. Bà
la môn nghe đức Phật nói, thấy được cách thờ lửa của
Ngài rất hợp lý, nên vứt bỏ hết khí cụ thờ lửa, theo
Ngài học đạo. Nên biết lửa đại biểu cho sự ấm áp.
Quan hệ giữa người với người quan trọng nhất vẫn là
đạt được sự ôn noãn. Gia đình và tôn giáo cũng vậy,
phải được sự ôn noãn, nên gọi là tam hỏa (ba thứ lửa).
Ngoài
ra còn có tín đồ thần giáo lễ bái sáu phương. Ðức Phật
cũng dạy lễ bái sáu phương, nhưng đó là nghĩa vụ giữa
cha con, thầy trò, vợ chồng, bạn bè, quyến thuộc, chư Tổ,
sư trưởng và tín đồ (Trung A Hàm: Thiện Sinh Kinh). Qua các
sự việc trên, chúng ta đều nhận thấy: để cảm hóa tín
đồ các tôn giáo khác, không nên đả kích, chê bai họ là
sai trái, mà nên khéo léo dùng lý chỉ cái hay cho họ, người
có chút lý trí ắt sẽ tiếp nhận mọi điều hợp lý, trừ
ra những kẻ cực kỳ cố chấp. Ðức Phật đã dùng lề lối
này sửa đổi lại nhiều nghi thức của các tôn giáo cổ
thành cách thức hợp tình, hợp lý của Phật giáo có nhiều
hiệu quả hơn nữa. Vì vậy, trong Phật pháp có nhiều nghi
thức căn bản không phải của Phật giáo lập ra.
Thứ
hai, theo kinh Tứ Thiên Vương: Sở dĩ đức Phật cho
thọ Bát Quan Trai Giới vào lục trai nhật, vào các ngày này,
chư Thiên thường đến nhân gian để xem xét thiện ác. Vì
vậy, đức Phật dạy đồ chúng: Mỗi ngày trai, các người
phải chú ý tâm mình, xem hướng thiện hay hướng ác? Nếu
là hướng thiện thì phải gìn giữ luôn luôn. Nếu là hướng
ác thì phải lập tức dừng ngay lại. Chẳng những quan sát
tâm như vậy mà ngay đến thân và khẩu cũng phải cẩn thận,
không thể lơ đãng. Ðức Phật dựa vào truyền thuyết của
Ấn giáo: Ðế Thích Thiên của Dục Giới đầy đủ phúc đức,
bên dưới có Tứ Thiên Vương. Vào các ngày trai, Ðế Thích
sai sứ giả đi tuần tra nhân gian, xem thiên hạ làm thiện
nhiều hay ác nhiều. Nếu ác nhiều thì trừng phạt, gây cho
nhân loại nhiều điều nghịch ý. Nếu thiện nhiều thì ủng
hộ bằng cách cho nhân loại nhiều việc tốt lành. Ðó là
trách nhiệm của Tứ Thiên Vương. Theo trong kinh: Ngày 8 mỗi
tháng, Tứ Thiên Vương phái sứ giả đi tuần tra nhân gian,
xem hoạt động của nhân loại, bất luận thiện hay ác đều
phải báo cáo, như ông Táo của Trung Quốc có bức liễn đề:
“Trên trời tâu chuyện tốt, dưới đất được bình an”.
Ngày 14 của mỗi tháng, sai Thái Tử của Tứ Thiên Vương đi
tuần tra. Ngày 15, Tứ Thiên Vương đích thân đi. Ngày 23 lại
sai sứ giả tuần xét. Ngày 29 đến Thái Tử tuần tra. Ngày
30 Tứ Thiên Vương đi xem xét. Luận Tỳ Bà Sa quyển 41 nói:
“Vào các ngày trăng sáng, tối, thường ngày 8 hoặc 14, hoặc
15, chư thiên 33 từng trời tập họp ở Thiện Pháp Ðường,
luận kể thế gian bao nhiêu thiện ác, thấy người làm thiện
thì ủng hộ, thấy người làm ác thì hủy đi”. Ðế Thích
cân nhắc việc thiện ác ở thế gian, hoàn toàn theo lời báo
cáo của Tứ Thiên Vương. Trong kinh nói: Chư thiên đi tuần
nhân gian, nếu thấy nhân loại trì giới như pháp, cần hành
bố thí, hiếu thuận cha mẹ, liền báo với Thiên Ðế Thích.
Ðế Thích hoan hỷ ban phúc cho nhân loại, khiến thế gian mưa
thuận gió hòa, quốc thái dân an. Nếu ngược lại, nhân loại
hẳn không thể sống bình yên. Ðế Thích có kệ: "Tháng sáu
ngày thần du, thọ trì thanh tịnh giới, người này mạng chung
rồi, công đức chẳng khác tôi”. Ðức Phật nghe Ðế Thích
nói kệ rồi, liền bảo các tỳ kheo: “Ðế Thích nói kệ
tuy không phải cứu cánh, nhưng không phải là sai, các ông
nên tin vậy”.
Như
vậy, chúng ta biết rằng: Bất cứ nơi đâu, chỉ cần có
người thọ trì Bát Quan Trai Giới thì ác quỷ nào cũng phải
lánh xa, nơi đó được tốt lành, nên nơi sáu ngày đó thọ
trì Bát Quan Trai Giới được công đức nhiều hơn các ngày
khác. Có điều ở đây xin mọi người lưu ý để tránh hiểu
lầm, đừng cho rằng trong sáu ngày có chư Thiên lai vãng nên
quy quy củ củ, không dám làm bậy, qua trai nhật rồi đâu
lại vào đó. Nên biết rằng làm người ở thế gian này,
bất cứ lúc nào, ba nghiệp thân, khẩu, ý đều phải như
pháp thanh tịnh, hành vi phải hợp đạo lý.
Theo
Thành Thật Luận: “Tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín gọi
là ba tháng lành, là tháng Tỳ Sa Môn thiên vương phân trấn
Nam Châu”, tại gia nhị chúng nên thọ trai phúc, tại sao trong
kinh chưa nói đến? Thọ trai vào ba tháng lành đối với Phật
đương nhiên là chuyện tốt vô cùng, nhưng đối với tục
nhân thực khó mà thi hành nên phải tùy thuận sức và khả
năng họ, không bó buộc cứng ngắc ép họ phải thực hành.
Còn lục trai nhật vì thời gian ngắn, thực hành tương đối
dễ, không đến nỗi cảm thấy bất tiện, nên đức Phật
chọn thọ Bát Quan Trai Giới vào lục trai nhật.
Chương
4
Công
ích thù thắng
Thọ
giới, bất cứ giới nào cũng có công đức của nó. Thọ
Ngũ Giới có công đức của Ngũ Giới. Thọ Bát Giới có công
đức của Bát Giới. Chư vị hiện thọ Bát Giới, công đức
như thế nào? Trước hết, phải so sánh với công đức của
Ngũ Giới thì mới rõ được công đức thù thắng của sự
thọ trì Bát Quan Trai Giới và mới có thể kiên quyết tín
nguyện, thọ trì.
Trong
kinh nói: “Giả sử có người nào phát tâm dùng y phục, ẩm
thực, thuốc men, giường nằm cúng dường cho chúng sanh trong
khắp bốn phương, như vậy cho đến cả trăm năm trường
kỳ cúng dường, công đức người này tất nhiên không thể
nghĩ bàn. Nhưng cho dù công đức có nhiều đến đâu đi nữa,
cũng không bằng công đức thọ trì Bát Quan Trai Giới trong
vỏn vẹn một ngày đêm”. Giới đức cao tột, thù thắng,
điều này ở đây có thể chứng minh.
Thọ
trì Ngũ Giới, tuy có công đức lớn, nhưng so với công đức
thọ trì Bát Quan Trai Giới còn kém xa. Trong Trí Ðộ Luận,
ngài Long Thọ thí dụ rất hay: “Thí dụ như vị tướng đem
quân đi đánh trận. Nếu khiếp nhược nhát gan thì dầu có
nhiều năm tác chiến cũng không thể tạo công lao phá địch.
Còn nếu là viên dũng tướng uy mãnh, mau lẹ phá tan cường
địch, chỉ trong một ngày lập nên công lớn trong thiên hạ.
Phải hiểu công đức của Ngũ Giới và Bát Giới không đồng,
cũng giống như vậy”. Bởi Ngũ Giới chỉ có thể lìa tà
dâm, chưa thể trừ tận căn của Dục. Bát Giới đoạn trừ
hết dâm, không còn bị dục nhiễm làm loạn, sự tướng đồng
với vô lậu. Thời gian tuy chỉ một ngày một đêm, song được
rất nhiều giới hạnh, cho nên công đức vượt xa Ngũ Giới.
Tuy
nhiên, cũng có điểm phải cần nói rõ. Bất luận thọ trì
Ngũ Giới hay Bát Giới, theo Ðại Trí Ðộ Luận, điều quan
trọng nhất là phải phát tâm rộng lớn. Có phát tâm rộng
lớn thì tuy giữ giới một ngày đêm vẫn đạt được phúc
đức thù thắng, nếu không phát tâm rộng lớn dầu giữ Ngũ
Giới đến trọn đời, cũng chỉ được phúc đức hữu lậu.
Thế nên các vị phát tâm thọ Bát Quan Trai Giới, không nên
vì giải thoát hay công đức riêng mình, mà nên vì tất cả
chúng sanh thọ giới hạnh này, nghĩa là không xem công đức
thọ giới là của riêng mình, mà coi như của chúng sanh chung
có, nguyện cùng chúng sanh đồng hướng đến quả vô thượng
Phật đạo. Như vậy mới có thể đạt được công đức
tối thắng. Ðại Thừa Phật Giáo rất đặc sắc ở chỗ
muốn mỗi người đệ tử bất luận làm việc công đức
lành nào, cũng vì nghĩ tưởng đến hết thảy chúng sanh, không
bao giờ vì lợi ích riêng tư của mình.
Hoằng
Nhất Luật Sư nói: “Ngũ Giới, Bát Giới đều thuộc về
Tiểu Thừa, thế nhưng muốn thọ Giới Phẩm phải phát Ðại
Bồ Ðề tâm. Chưa thể riêng tu thiện cho mình, thiên cầu
tịch diệt, tuy vẫn Khai, Giá, Trì, Phạm, song không khác Thanh
Văn. Phải nên đồng như bậc Ðại Sĩ mà phát tâm hành thọ,
như hằng tin trong sạch, nỗ lực tu tiến”. Luật Sư lại
nói: “Bát Giới thông cả Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa.
Tiểu Thừa như các luận Thành Thật. Ðại Thừa tức Bồ
Tát Bát Giới, như các kinh Văn Thù Vấn hoặc Bát Chủng Trưởng
Dưỡng Công Ðức đều nói rõ. Chúng ta đã thọ Bồ Tát Giới,
nay thọ Bát Giới tức là Ðại Thừa Bát Giới vậy”.
Cho
nên đã thọ Bồ Tát giới, cũng có thể thọ Bát Quan Trai
Giới. Ai bảo thọ Bồ Tát giới rồi, khỏi cần thọ Bát
Quan Trai Giới thực là lầm. Cứ như lời Hoằng Nhất Ðại
Sư thọ Bồ Tát giới và thọ Bát Quan Trai Giới đã không
lập lại, cũng không trở ngại nhau.
Công
đức thọ Bát Quan Trai Giới thuộc vô lậu, và còn là Ðại
Thừa nên công đức hữu lậu thế gian không thể so được.
Vì vậy, đức Phật đã từng trách mắng Ðế Thích. Một
hôm, Ðế Thích nghe đức Phật nói các công đức thù thắng
của Bát Quan Trai Giới, liền vui mừng tán thán: “Tháng Sáu
ngày thần du, phụng hành tám Trai Giới, công đức thù thắng
này, đồng với tôi không khác”. Một số người nghe tu Bát
Quan Trai được công đức đồng như Ðế Thích rất hoan hỷ,
song đức Phật quở Ðế Thích: “Ông nói không đúng đạo
lý. Ông cũng không đủ tư cách để nói lời này. Chỉ có
bậc A La Hán mới nói như vậy được! Vì sao vậy? Ðế Thích
ông nên biết: Ông đã không xa rời các phiền não tham, sân,
si, cũng không giải thoát được khổ lớn sanh, lão, bệnh,
tử, biết bao ưu sầu khổ não còn vây chặt thân tâm ông.
Sao lại dám bảo thọ trì Bát Quan Trai Giới được công đức
như ông? Thực ra, công đức của ông chỉ có thể cảm thọ
được quả báo Ðế Thích, còn công đức của người thọ
trì Bát Quan Trai Giới đủ chứng được quả Bồ Ðề xuất
thế của tam thừa thánh. Như bậc A La Hán xả gánh nặng sanh
tử mới có thể bảo công đức của người thọ Bát Quan
Trai Giới đồng với ta không khác”. Như vậy, chúng ta thấy
rõ: phúc đức của Ðế Thích so với công đức vô lậu của
Bát Quan Trai Giới thật là một trời, một vực.
Hơn
nữa, công đức thọ trì Bát Quan Trai Giới chẳng những tương
đồng với các công đức A La Hán, mà còn là Bồ Tát ở thế
gian. Trong Văn Thù Vấn Kinh nói: “Bồ Tát thế gian chính là
tám giới” (Thế gian Bồ Tát, Bát Giới giả thị). Vậy đủ
thấy muốn làm vị Bồ Tát ở thế gian cũng chả khó mấy.
Chỉ cần phát đại Bồ Ðề tâm thọ trì Bát Giới liền
thành thế gian Bồ Tát. Công đức thọ trì Bát Giới còn hơn
nữa. Như trong kinh Xử Thai nói: “Bát Quan Trai Giới là cha
mẹ chư Phật”. Có thể nói công đức này đồng với chư
Phật, thậm chí chư Phật đều do Bát Quan Trai Giới mà sanh.
Kinh Kim Cương nói: “Tất cả chư Phật và pháp A Nậu Ða
La Tam Miệu Tam Bồ Ðề đều từ kinh này mà ra”. Dựa theo
câu này, có thể bảo rằng: “Hết thảy chư Phật và các
pháp Tam Miệu Tam Bồ Ðề đều do từ Bát Quan Trai Giới mà
ra”. Như thế, công đức thù thắng của Bát Quan Trai Giới
thực là không thể nghĩ bàn.
Luận
Bồ Tát Bổn Sinh Man cũng nói rõ công đức Bát Giới như sau:
“Nếu có người có thể trì pháp Bát Trai Giới, tuy họ không
mặc y phục hoa lệ, nhưng họ có y phục tàm quý (3). Phải
biết y phục tàm quý trang nghiêm hơn hết mọi y phục. Người
thọ trì Bát Giới trai pháp, tuy không có bức tường ngăn
chặn trộm cướp bên ngoài lẻn vào trộm của báu, nhưng
họ có thành trì vô hình, chế ngự oán tặc lục căn cướp
đoạt công đức nội tâm”. Nói theo Phật pháp, của cải
có mất cũng không đáng tiếc. Pháp Bảo mất mới đáng tiếc.
Muốn Pháp Bảo không bị trộm mất, phải xây tường Trai
Giới. Thọ Bát Quan Trai Giới dù là chủng tộc thấp hèn như
Chiên Ðà La, nhờ thọ Bát Giới cũng ở địa vị của thánh,
trải qua một thời gian chứng thành Thánh Quả. Nhờ vậy,
Bát Giới thật cao quý. Ngày xưa, Ấn Ðộ cho anh lạc là món
trang sức cao quý. Người thọ Bát Quan Trai Giới tuy không có
anh lạc, châu bảo, nhưng nhờ có Bát Giới Trai Pháp trên thân
nên được đủ các thiện pháp công đức trang nghiêm thân.
Hơn nữa, loại trang nghiêm này không một bảo vật nào ở
thế gian có thể bì được. Kinh Ưu Bà Tắc Giới, phẩm Bát
Giới Trai nói: “Bát Giới Trai tức chính là anh lạc trang
nghiêm vô thượng Bồ Ðề”. Như vậy, người thọ trì Bát
Giới Trai Pháp tuy không có thất bảo, kim, ngân, nhưng chứa
đủ bảy pháp tài (4) của nhân thiên, không cần cầu bè cũng
băng qua được hiểm đạo.
Công
đức thọ trì Bát Giới thù thắng như vậy, cho nên trong kinh
cũng nói: “Dùng tất cả trân bảo của mười sáu nước
lớn cúng dường các tỳ kheo tăng không bằng công đức trì
giới một ngày đêm”. Tát Bà Ða Luận cũng nói: “Nếu có
vị vua Diêm Phù Ðề hành hạnh bố thí rộng lớn, khiến
cho hết thảy nhân dân được đủ các bảo vật, công đức
này rất lớn, nhưng so với công đức thọ trì Bát Giới Trai
Pháp, công đức vua Diêm Phù Ðề chưa bằng một phần mười
sáu”. Các kinh, luận sở dĩ tán thán công đức Bát Giới
như vậy vì đây là căn bản của xuất gia lìa tục, là hạt
giống đắc tam thừa Bồ Ðề, cho đến thành Phật cũng do
một niệm thọ trì Bát Giới Trai Pháp.
Thọ
trì Bát Giới công đức thù thắng như vậy, ắt tự nhiên
có thể trừ diệt các tội. Ðiều này trong kinh Thiện Sanh
nói rất rõ: “Thọ trì Bát Giới có thể trừ được các
tội nặng Ngũ Nghịch”. Kỳ dư, các tội khác dĩ nhiên không
thành vấn đề. Ngũ Nghịch gồm các tội: giết cha, giết
mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật ra máu.
Các tội nặng này tương lai phải chịu quả khổ Vô Gián.
Nhưng hiện tại nhờ thọ trì Bát Giới, tội nặng Ngũ Nghịch
liền được tiêu trừ, công đức thù thắng của Bát Trai
Giới quả khó nghĩ bàn. Trong Trung A Hàm Kinh cũng nói: “Hàng
thánh đệ tử đa văn, khi trì tám giới này, ghi nhớ mười
hiệu của Như Lai, nếu có các điều bất thiện nghĩ ác đều
được trừ diệt”. Hàng đa văn thánh đệ tử còn phải
nương công đức này để diệt trừ tội khiên, tu thiện tiến
đức, vậy những ai muốn trừ tội tăng phúc nên nhân cơ
hội này thọ trì Bát Trai Giới.
Thọ
trì Bát Trai Giới được công đức thù thắng như vậy, không
phải là vấn đề, vấn đề ở chỗ trong thời gian ngắn
ngủi một ngày một đêm làm sao cho tịnh niệm tương tục,
để gìn giữ cho thân tâm thanh tịnh, nhờ vậy mới đạt
được công đức như nói ở trên. Nếu không, do vì tâm không
nhất niệm, tưởng Ðông nghĩ Tây, không chú tâm vào Trai Giới,
nên công đức không sao thành tựu! Cho nên trong một ngày đêm
thọ Trai Giới, phải buông bỏ hết mọi việc thế tục, đem
trọn thân tâm tắm gội trong Phật pháp, chịu sự thấm nhuần
của Phật pháp và tương ưng với pháp Phật. Nếu chỉ làm
hùa theo người, thọ giới thì thọ giới, nhưng chưa hề chuyển
theo giới, kết quả một ngày trôi qua luống không, thực là
đáng tiếc.
Tịnh
niệm cũng tương tục, cố nhiên là phương pháp rất tốt
để bảo trì cho Bát Giới thanh tịnh. Ngoài đây ra, trong Thành
Thật Luận nói: “Có năm pháp có thể khiến cho giới hạnh
được thanh tịnh. Thứ nhất, trong thời gian thọ giới có
thể đúng pháp hành Thập Thiện. Thứ hai, trong thời gian thọ
giới, đoạn trừ hết các điều gây não hại cho chúng sanh
từ trước hay sau này, không còn làm chúng sanh chịu khổ nữa.
Thứ ba, trong thời gian thọ giới, không để cho ác tâm làm
não loạn nội tâm, tức không để cho các niệm không chánh
đáng khởi lên, để khỏi trở ngại cho sự thanh tịnh của
giới hạnh. Thứ tư, trong khi thọ giới luôn luôn nhớ tưởng
Phật, Pháp, Tăng, Giới, Xả, Thiên để thủ hộ cho giới
hạnh. Dựa vào công đức của sáu niệm này, bảo trì cho
giới hạnh thanh tịnh. Thứ năm, trong khi thọ giới, nguyện
đem công đức trì giới này hồi hướng đến Cứu Cánh Niết
Bàn, quyết không dùng công đức này cầu phước báo nhân
thiên. Thọ Trai Giới như vậy giới hạnh ắt thanh tịnh”.
Tỳ
Bà Sa Luận phân biệt công đức thọ trì Bát Giới có được
đại quả hay không bằng năm câu:
- Thứ
nhất, như có người tự tại thọ Trai Giới này, biết
nhà bếp sắp sát sanh để nấu cho mình ăn, người ấy bảo
đầu bếp: “Hôm nay tôi thọ Trai Giới nên không sát sanh,
hãy cất đi, để mai làm chưa muộn”. Ðó là quan niệm chung
của mọi người. Lại có người lính chiến, bắt địch quân
giải đến thượng quan, xin xử tội kẻ địch. Thượng quan
bảo: “Hôm nay tôi thọ Trai Giới không thể sát sanh, nhốt
lại mai giết cũng được”. Thọ Bát Trai Giới kiểu này,
căn bổn nghiệp đạo tuy thanh tịnh, song cận phận thì không
thanh tịnh. Ðức Phật bảo tuy là thắng nghiệp, song không
đủ để chứng đại quả.
- Thứ
hai, lại có người thọ Bát Trai Giới, chẳng những căn
bổn nghiệp đạo rất thanh tịnh mà cận phận cũng rất thanh
tịnh. Nhưng bị dục tầm tư (5), khuể tầm tư và hại tầm
tư gây tổn hại. Thọ Trai Giới như thế vẫn chưa phải là
lý tưởng. Phải biết ba loại tầm tư: dục, khuể và hại,
là một thứ ác phân biệt. Có chứa sự phân biệt bất chánh
này nội tâm không sao thanh tịnh được, và dĩ nhiên ảnh
hưởng đến sự thủ trì giới hạnh. Chính do cái ác tầm
tư nhiễu loạn tâm linh này mà đức Phật nói người phát
tâm thọ giới và giới họ thọ tuy là thắng nghiệp, nhưng
không thể nhờ đó mà đạt được đại quả.
- Thứ
ba, còn có người thọ Trai Giới này chẳng những căn bổn
nghiệp đạo và cận phận rất thanh tịnh, hơn nữa, cũng
không bị ác tầm tư gây tổn hại, tất nhiên rất khó được.
Nhưng vẫn không lý tưởng vì họ chưa khởi được chánh
niệm, không nhất tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm
Giới, niệm Xả, niệm Thiên, và vẫn còn hiện khởi các niệm
bất chánh đáng. Do vì vọng niệm không ngừng hiện hành nên
tâm không sao an trụ được nơi tịnh giới, do đó, không thể
cầu thanh tịnh giới hạnh được. Chính vì vậy, đức Phật
nói người phát tâm thọ giới này và giới họ thọ tuy là
thắng nghiệp, song không chứng được đại quả.
- Thứ
tư, lại có người thọ trì Bát Trai Giới, căn bổn nghiệp
đạo cũng như cận phận đều thanh tịnh, cũng không bị ác
tầm tư làm tổn hại, lại hay đề khởi chánh niệm, thực
là nan đắc, nhưng vẫn không mỹ mãn. Vì họ vẫn không thể
đem công đức thọ trì Bát Giới hồi hướng về quả xuất
thế giải thoát, chỉ mong cầu sanh thiên hưởng lạc. Do vậy,
đức Phật nói người thọ giới này và giới họ thọ tuy
là thắng nghiệp, song không chứng được đại quả.
- Thứ
năm, lại có người thọ giới này, nghiệp đạo căn bổn
và cận phận đều thanh tịnh, cũng không bị ác tầm tư tổn
hại, nhiếp thọ chánh niệm, hồi hướng giải thoát. Ðức
Phật bảo người này và giới họ thọ chẳng những là tu
thắng nghiệp mà còn chứng được đại quả. Theo Tiểu Thừa
là giải thoát Niết Bàn, theo Ðại Thừa là Phật Quả Bồ
Ðề.
Thọ
trì Bát Giới xác thực có công đức thù thắng, nên phải
thường phát tâm phụng hành Bát Giới. Có điều trong xã hội
máy móc này, nếu cứ vào lục trai nhật thì ít có người
thọ được. Vì vậy, tối thiểu mỗi tháng một lần. Hoằng
Nhất Luật Sư nói: “Nếu thấy một tháng sáu ngày hơi nhiều,
có thể giảm xuống một hay hai ngày. Bởi chỉ cần một ngày
còn có công đức lớn, huống là cả sáu ngày”. Tuy nhiên
khi phát tâm thọ giới, bất luận là trước hay sau, hoặc
trong khi thọ giới, phải nghiêm túc dùng tám giới rửa sạch
thân tâm khiến thân tâm tương ưng với giới. Như vậy mới
được thanh tịnh và đủ công đức thù thắng.
_______________________
(3)
Tàm quý: là hai thiện pháp đứng đầu trong mười một thiện
pháp của tâm sở. Tàm có nghĩa là tự thẹn mình, quý có
nghĩa hổ thẹn với người.
(4)
Thất pháp tài: Gồm bảy tài bảo dùng làm pháp xuất thế,
còn gọi là Thất Thánh Tài.
1.
Tín tài: Tín mới thọ trì chánh pháp được, nên Tín chính
là tư lương (tài) để đến quả Phật.
2.
Tiến tài: Chưa thấy lý Chân Ðế, song nhất tâm tinh tiến
cầu đạo xuất thế, nên là tư lương để thành Phật.
3.
Giới tài: Giới là căn bản của đạo giải thoát, có công
năng ngăn chận và phòng hộ các lỗi quấy nơi thân khẩu
ý nên là tư lương để thành đạo.
4.
Tàm Quý tài: Do tàm quý nên không tạo ác nghiệp, nên là tư
lương để đến quả Phật.
5.
Văn tài: Văn đứng đầu trong Tam Huệ, nhờ Văn nên Tư, có
Tư mới có Tu, nếu được nghe Phật thuyết pháp, ắt khai
phát diệu giải, tu hành đúng Pháp, nên là tư lương để
thành đạo quả.
6.
Xả tài: Xả tức là xả thí, nếu vận dụng được tâm bình
đẳng, không tác ý thương ghét, tùy sự cầu xin mà ban cấp
tài vật hay thân mạng không chút luyến tiếc, nên là tư lương
để thành đạo.
7.
Ðịnh Huệ tài: Ðịnh Huệ là Chỉ Quán, Ðịnh nên nhiếp
tâm không loạn, đình chỉ vọng niệm. Huệ nên quán chiếu
các pháp, phá tan tà kiến, nên là tư lương để thành Phật
Quả.
(5)
Tầm tư: Cựu dịch là Giác Quán. Thô tư gọi là Giác, tế
tư gọi là Quán. Hai thứ này phương hại đến định tâm
nên tùy theo có tầm tư hay không mà xét đoán định tâm sâu
hay không.
Chương
5
Thọ
Giả Phân Biệt
Phần
trên đã cùng chư vị hai lần bàn về giới đức thù thắng.
Giới đức đã thù thắng như vậy, lẽ ra mọi người đều
nên thọ Bát Quan Trai Giới để được công đức thù thắng.
Song tuy nói vậy, nhưng không phải ai cũng có thể thọ Bát
Quan Trai Giới. Muốn thọ phải đủ tư chất, nếu không, dù
có phát tâm đến đâu đi nữa, cũng không được phép thọ
giới. Như vậy, ai là người được thọ, ai là người không
được thọ; do đâu phân biệt được điều này? Việc này
trước khi thọ giới, phải tra xét kỹ càng xem họ có phải
là pháp khí thọ giới hay không, rồi sau mới quyết định
truyền giới. Trong Giới Luật, sự khảo xét trước khi truyền
giới là “vấn già nạn”. Truyền Giới Sư phải hỏi tường
tận người phát tâm xem có làm các điều gây nạn (“nạn”)
hay ngăn che (“già”) việc thọ giới không? Nếu có thì gây
trở ngại không ít cho việc thọ giới nên không thể cho thọ
giới. Chú Yết Ma nói: “Trước khi thọ giới nên hỏi Già
Nạn”, ý chỉ việc này.
Những
việc gì chướng ngại cho sự thọ giới? Theo kinh Thiện
Sanh, kể ra bảy điều ngăn che như sau:
1)
Có từng trộm vật của hiện tiền Tăng không?
2)
Có từng hành dâm với nam nữ trong lục thân không?
3)
Có từng phá thanh tịnh hạnh của Tăng, Ni không?
4)
Có từng bỏ mặc khi cha đang bệnh không?
5)
Có từng bỏ mặc khi mẹ đang bệnh không?
6)
Có từng bỏ mặc khi sư trưởng đang bệnh không?
7)
Có từng giết hại người phát Bồ Ðề tâm không?
“Tăng
vật” là những đồ cúng dường chư Tăng, hoặc tài vật
thuộc về Thường Trụ. Vật thường trụ theo Luật có bốn
loại:
- Thứ
nhất, Thường Trụ Thường Trụ, như phòng ở của chư
Tăng, đồ dùng, hoa quả hay cây cối của chư Tăng trồng,
vườn tược, đất đai của chư Tăng. Ở đâu thuộc về nơi
đó, không được di chuyển đi nơi khác; cho nên gọi là “thường
trụ”. Chư Tăng trụ trong phạm vi thường trụ này chỉ có
thể thọ dụng, nhưng không được chia hay bán, phải để
của này tồn tại vĩnh viễn nên lại gọi là “thường trụ”.
- Thứ
hai, Thập Phương Thường Trụ, tức các đồ cúng dường
cùng phẩm vật ăn uống cung cấp cho chư Tăng trong chùa chiền,
chẳng những chư Tăng hiện tiền trong chùa được quyền thọ
dụng mà ngay các khách Tăng từ nơi khác đến cũng được
quyền dùng, cho nên gọi là “thập phương”. Các đồ dùng
ẩm thực này thuộc về chùa, tuyệt đối không được đem
đi nơi khác, nên gọi là “thường trụ”.
- Thứ
ba, Hiện Tiền Thường Trụ, như có tín đồ nào phát tâm
cúng dường tài vật, nói rõ là cúng cho chư Tăng trụ trong
chùa này, hoặc cúng đích danh cho vị Tăng nào trong chùa, gọi
là “hiện tiền”. Người phát tâm cúng thí như vậy nay
đem vật cúng đó chia cho các người được cúng, không để
lại chút nào, nên lại gọi là “hiện tiền”.
- Thứ
tư, Thập Phương Hiện Tiền, như hàng ngũ chúng xuất gia
sau khi chết, các di vật có thể phân chia, nên cử hành phép
Yết Ma phân chia. Trước khi hành Yết Ma, các di vật của người
mất thuộc về Thập Phương Tăng, bất luận ông Tăng khách
từ đâu đến cũng được một phần. Còn nếu đã làm Yết
Ma, hiện tiền Tăng chúng tự chia, bấy giờ có khách Tăng
nào lại cũng không được dự phần, gọi là “hiện tiền”.
Tăng
vật có bốn loại bất đồng, nhưng chúng ta không có quyền
trộm bất cứ loại nào. Nếu trộm Tăng vật, lỗi này rất
nặng. Theo Phật pháp thì vật của Tam Bảo thứ nào cũng nặng,
nhưng Tăng vật là nặng nhất. Trong kinh Phương Ðẳng, Hoa
Tụ Bồ Tát nói: “Năm tội nghịch, bốn tội trọng, tôi
còn có thể cứu, trộm cắp Tăng vật, tôi không cứu được”.
Kinh Ðại Tập nói: “Người trộm Tăng vật, tội đồng Ngũ
Nghịch”. Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Người dùng Tăng
Kỳ vật, tội còn hơn giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ”.
Ở
đây hoặc có người hỏi: “Trộm Tăng vật tại sao tội
lại nặng như vậy?” Phải biết đàn na tín thí cúng dường
cho chư Tăng dầu một hạt gạo, cũng vốn muốn cúng cho mười
phương các phàm thánh Tăng. Cho nên mỗi lần trong chùa nổi
chuông, bất luận xa gần đều nghe, hoặc phàm hoặc thánh
đều có thể thọ dùng. Như vậy, vừa trợ thành đạo nghiệp
cho Tăng chúng, vừa được các phúc đức sâu kín. Vì vậy,
trộm Tăng vật không kể nhiều ít, tội này không thể tha
thứ.
Trong
hàng đệ tử Phật có tỳ kheo Ngưu Thí, tuy tu chứng A La Hán
quả, nhưng vẫn có tướng ăn như trâu nhai cỏ. Có người
hỏi Phật do nhân duyên gì mà có tướng như vậy? Phật bảo
các vị tỳ kheo: “Quá khứ Ngưu Thí từng ăn trộm năm sáu
hạt gạo cho vào miệng nhai, vì vậy bị đọa làm bò năm
trăm đời. Bò thường nhai cỏ như vậy, nên trải qua năm
trăm đời đã thành tập quán. Vì thế, tuy tu chứng A La Hán
mà tướng ăn vẫn vậy”.
Trộm
dùng Tăng vật dĩ nhiên phần đông là người xuất gia. Hàng
tục nhân, nhất là các tín chúng, rất ít phạm tội này,
song không phải không có. Như hiện nay ở các nơi, hạng tự
xưng là đại biểu tín đồ, đổi khách làm chủ, là hạng
chuyên xâm tổn của Thường Trụ, đem Tăng vật chiếm cứ
làm sở hữu của mình. Tín đồ Phật giáo như vậy chẳng
những không đủ tư cách thọ Bát Quan Trai Giới mà còn khôn