Bát
nhã ba la mật đa tâm kinh
"Quán
Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu
kiến ngã uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi
Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị
không, không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục
như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh
bất diệt bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, thị
cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn
nhĩ tỷ thiệt thân ý. Vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô
nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô
vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô
khổ tập diệc đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc
cố. Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô
quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly
điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật
y bát nhã ba la cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề
cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại
minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng
trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư, cố thuyết bát
nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết, yết đế, ba
la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Bát
nhã ba la mật đa tâm kinh.
"Diệu
trí phương hà đạt bỉ ngạn,
Chân
tâm tự năng khế giác nguyên
pháp
dụ lập danh siêu đối đãi
Không
chư pháp tướng thể tuyệt ngôn
Tông
thú nguyên lai vô sở đắc
Lực
dụng khu trừ tam trược
Thục
tô phán tác kỳ giáo nghĩa
Ma
ha phản chuyển bát nhã thuyền
Dịch:
Dùng
diệu trí mới đạt bờ giác
Chân
tâm tự năng hợp nguồn giác
Lập
danh pháp dụ vượt đối đãi
Pháp
tướng vốn không, thể không lời
Tông
thú xưa nay không chỗ đắc
Dụng
lực dẹp trừ ba chướng trược
Thục
tô xác định giáo nghĩa này
Ma
ha phản chuyển thuyền bát nhã".
Kinh
này được phân ra thành hai phần : 1/ Giải thích tổng quát
về danh đề . 2/ Giải thích riêng về văn nghĩa.
Phần
giải thích về danh đề được phân làm hai : Kinh đề và
nhân đề.
Bàn
về đề mục của kinh, trong ba tạng kinh điển, mười hai
phần giáo có bảy loại lập đề.
1/
Ðơn nhân lập đề (lập đề mục riêng một người). Sao
gọi là đơn nhân lập đề ? Như Phật thuyết kinh A Di Ðà.
Phật là người. Phật A Di Ðà cũng là người, nên gọi là
đơn nhân lập đề.
2/
Ðơn pháp lập đề ( lập đề mục cho một pháp đơn độc).
Sao
gọi là đơn pháp lập đề ? Như Phật thuyết kinh Niết Bàn,
Ngài dùng tướng pháp làm đề mục, đó là đơn pháp lập
đề.
3/
Ðơn dụ lập đề (dùng một ví dụ đơn độc mà lập ra
đề mục). Phật thuyết kinh Phạm Võng, là ví dụ đơn độc.
Vì sao ? Kinh Phạm Võng thuyết về giới luật. Giới luật
giống như tràng la võng ( tràng lưới) ở cõi trời Ðại Phạm.
Tràng lưới này hình vòng tròn, được treo trước cung điện
vua trời Ðại Phạm; biểu hiện sự trang nghiêm. Mỗi tràng
lưới có rất nhiều lỗ. Nơi mỗi lỗ có treo một hạt bảo
châu. Những hạt châu này rất quý giá. Chúng hỗ tương chiếu
sáng. Mỗi lỗ lưới đều tương thông lẫn nhau. Hạt châu
này chiếu soi những hạt châu kia. Hạt châu kia chiếu soi những
hạt châu nọ. Chúng hỗ tương soi sáng. Ánh sáng của chư
vị chiếu soi ánh sáng của tôi. Ánh sáng của tôi chiếu soi
ánh sáng của chư vị. Tuy nhiên, những ánh sáng này không
lấn áp xung đột lẫn nhau. Không thể cho rằng ánh sáng của
tôi không được chiếu đến ánh sáng của chư vị và ánh
sáng của chư vị không được chiếu đến ánh sáng của tôi.
Ánh quang tương chiếu, lỗ lỗ tương thông. Giới luật cũng
giống như những hạt bảo châu, ánh quang hỗ tương soi chiếu.
Chư vị giữ một giới thì có một ánh quang. Chư vị giữ
nhiều giới thì có nhiều ánh hào quang. Mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh, mỗi mỗi giới đều phóng ra giới
quang, cũng giống như tràng lưới trời Ðại Phạm vậy. Vì
sao bảo châu chiếu rọi trong những lỗ lưới ? Ví như, trước
khi thọ giới Bồ Tát, tâm chúng ta có những chỗ lậu hoặc.
Tuy thế, những lậu hoặc này có thể chuyển đổi thành bảo
châu. Chư vị giữ một giới thì có một hạt bảo châu chiếu
sáng. Nếu phạm giới thì tạo lậu hoặc (lỗ hổng).
Ánh
sáng tương chiếu; lỗ lỗ tương thông cũng biểu thị cho
Phật pháp. Tâm Phật, tâm Bồ Tát, tâm chúng sanh, tâm tâm
tương ấn. Vì sao chư Phật chứng quả vị Phật ? Vì do tu
hành giới luật mà thành tựu. Bồ Tát cũng nương nhờ giới
luật mà thành Phật. Chúng sanh cũng phải tôn thủ giới luật
thì mới mong thành Phật được, biến hóa vô cùng, thật không
cùng tận.
Ðấy
là do ví dụ mà lập đề như kinh Phạm Võng này.
Ba
loại lập đề bên trên được gọi là đơn tam (ba lập đề
đơn độc).
4/
Nhân pháp lập đề. Như kinh Văn Thù Sư Lợi vấn Bát Nhã,
Văn Thù là người. Bát Nhã là pháp, cũng là pháp tướng.
Thế nên gọi là nhân pháp (người và pháp) lập đề.
5/
Nhân dụ lập đề (người và ví dụ). Như kinh Như Lai Sư
Tử Hống, Như Lai là người, sư tử hống là dụ. Ðức Như
Lai thuyết pháp cũng giống như tiếng rống của sư tử, khiến
muôn thú đều run sợ.
6/
Pháp dụ lập đề. Như kinh này, Bát Nhã Ba La Mật Ða là pháp,
tâm là ví dụ, nên kinh này lấy pháp và dụ lập đề.
Ba
loại trên thuộc về lập đề kép. Sao gọi là kép ? Kép tức
là trùng phức, hợp hai loại đề thành một.
7/
Nhân pháp dụ lập đề. Có người, có pháp, có dụ, đầy
đủ cả. Như kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Ðại
Phương Quảng là pháp, Phật là người. Hoa Nghiêm là dụ.
Ðây biểu thị dùng nhân vạn hạnh mà làm hoa trang nghiêm
cho quả đức vô thượng. Ðại Phương Quảng là thuyết về
thể của pháp. Hoa Nghiêm biểu thị dụng của pháp. Ðại
Phương Quảng tức nói về Phật đã tu các pháp đại phương
quảng, rộng lớn mới thành Phật được. Nhân hoa vạn hạnh
là tu chứng được lục độ cũng như hoa nở. Quả đức vô
thượng chính là hạnh đức Phật quả. Thế nên bảo rằng
dùng vạn hạnh như hoa làm chủng nhân để trang nghiêm hạnh
đức Phật quả vô thượng. Ở trên là nói về bảy loại
lập đề.
Nay
tôi sẽ dùng kệ mà giải thích đề kinh. Mỗi phần đoạn
dùng tám câu kệ để giải thích. Tám câu kệ này giảng rõ
về kinh bát nhã ba la mật đa. Giảng về đề mục của kinh
này, y chiếu theo năm loại huyền nghĩa.
Thứ
nhất là giải thích danh nghĩa.
"Diệu
trí phương hà đạt bỉ ngạn, (dùng diệu trí mới đạt bờ
giác)".
Sao
gọi là diệu trí ? Bát Nhã là diệu trí. Ðạt đến bờ bỉ
ngạn (bờ giác) tức là bát nhã ba la mật đa. Vì thế, chư
vị dùng trí bát nhã thì mới đạt đến bờ giác.
"Chân
tâm tự năng khế giác nguyên, (chân tâm tự khế hợp nguồn
giác)".
Chân
tâm này là chữ tâm, cũng là bát nhã. Chư vị có trí huệ
vi diệu bát nhã. Khi có chân tâm này, thì tự nhiên năng khế
hợp với nguồn giác, cũng là tương hợp với bổn giác của
chư Phật, đắc được thể của bổn giác. Khế hợp được
tức là tương hợp được, cùng hiệp thành một khối.
"
Pháp dụ lập danh vượt đối đãi, (lập danh pháp dụ vượt
đối đãi)".
Tâm
kinh bát nhã ba la mật đa lấy pháp và dụ mà lập danh đề.
Bát nhã ba la mật đa là pháp. Tâm là dụ. Bát nhã là gì ?
Bát nhã có ba loại là văn tự bát nhã, quán chiếu bát nhã,
thật tướng bát nhã. Dùng văn tự bát nhã mà xuất sanh quán
chiếu bát nhã. Dùng quán chiếu bát nhã mà khế hợp với
thật tướng bổn giác bát nhã. Cùng tột thật tướng bát
nhã chính là trí huệ, tức là trí huệ vi diệu, cũng gọi
là trí huệ triệt để. Trí huệ này thật triệt liễu, là
trí huệ để mình trở về quê nhà, tức là trí huệ của
chư Phật.
Sao
nói như thế ? Vì trí huệ bát nhã chính là chân tâm. Chân
tâm cũng là trí huệ. Chữ 'bát nhã' được dịch là 'chân
tâm'. Kinh này nói về tâm trong tâm. Ðây là tâm mà sáu trăm
quyển bát nhã luôn đề cập tới. Bộ kinh này nói về tâm
trong tâm. Bát nhã là tâm, cũng là tâm trong tâm. Tâm trong tâm
nghĩa là tâm, nên gọi là tâm kinh. Vì chữ 'bát nhã' được
dịch là 'nhất chân tâm', nên kinh đại bát nhã cũng gọi
là kinh 'đại chân tâm'. Tâm này không phải là tâm giả dối,
mà là diệu lý thật dụng.
Bộ
tâm kinh là tâm trong tâm bát nhã, tuy chỉ có hai trăm sáu mươi
chữ mà lấy chữ tâm trong kinh bát nhã làm chủ thể, nên
gọi tâm trong tâm. Nay lại nói chữ tâm này, chính là tâm
trong tâm, nên gọi là tâm kinh. Chân tâm biểu hiện chân tâm,
nên dùng một chữ tâm. Pháp này là bát nhã ba la mật đa,
cũng là pháp đạt đến bờ giác. Tâm là dụ. Kinh này lấy
tâm trong một đời người làm chủ thể, nên tuyệt không
và vượt ngoài đối đãi. Pháp tuyệt không đối đãi này
cũng không có pháp nào đối đãi được, siêu việt, vượt
ngoài cảnh giới đối đãi.
Thứ
hai là hiển thể.
"Không
chư pháp tướng thể tuyệt ngôn, (pháp tướng vốn không,
thể không lời)".
Thể
của kinh này là gì ? Tức là không có tướng của các pháp,
cũng là các pháp không tướng. Không tướng tức không có
tướng thật. Không chư pháp tướng được dùng làm thể của
kinh. Tuyệt ngôn ngữ tức là không chi nói được. Thể đó
là không chư pháp tướng; việc chi cũng không có, cho đến
lời nói hay ho của chư vị cũng thế. Thể đã tuyệt ngôn
ngữ tức là kinh xa lìa tướng của ngôn ngữ lời nói. Xa
rời tâm thường duyên theo hình tướng, xa lìa tướng văn
tự, xa rời tất cả tướng, tức xa rời tất cả pháp.
Thứ
ba là chỉ rõ tông thú (đường hướng của tông giáo).
"Tông
thú nguyên lai vô sở đắc, (tông thú vốn không chỗ đắc".
Câu
thứ năm chỉ rõ đường hướng của tông giáo. Bộ kinh này
theo tông chỉ gì ? Lấy vô sở đắc (không có chứng đắc)
làm tông chỉ. Bên trên, kinh nói rằng vô trí diệc vô sở
đắc (không trí cũng không có chỗ đắc). Tông thú (đường
hướng của tông giáo) là gì ? Tức là không có chỗ đắc.
Nay
dùng pháp thế gian mà giảng Phật pháp. Như con người, là
danh xưng thông thường. Con người thì gọi là người. Kinh
này gọi là kinh. Gọi tên người như thế nào ? Hoặc gọi
Trương Tam, Lý Tứ, đó là giải thích về danh tự. Người
đó tên là Trương Tam, mà cao, thấp, trắng, mập, ốm như
thế nào ? Thể tánh của người đó ra sao ? Thân thể có hoàn
toàn hay không ? Có mắt, mũi, tai không ? Nói rõ ràng thể tánh
của người đó tức là hiển thể.
Kế
tiếp, chỉ rõ tông giáo. Chỉ rõ tông giáo như thế nào ?
"Ông ấy là người rất cao, nên làm được nhiều việc khó
nhọc. Ông ấy là người có học vấn, nên có thể làm bí
thư. Ðó là tông chỉ của ông ta ! Ông ta trước kia là người
như thế nào thì nay có thể làm những việc như thế ấy".
Ðó
là nói rõ tông chỉ.
Thứ
tư là luận bàn về dụng.
"Lực
dụng khu trừ tam trược, (dùng lực dẹp trừ ba chướng trược".
Dùng
lực gì ? Ðể làm gì ? Dùng tâm kinh bát nhã ba la mật đa
để làm chi ? Tức là dùng lực dụng của kinh này để phá
trừ ba chướng. Ba chướng là gì ? Một là báo chướng. Hai
là nghiệp chướng. Ba là phiền não chướng.
Báo
chướng có hai loại là chánh báo và y báo. Sao gọi là chánh
báo, y báo ? Chánh báo tức là chúng ta đang thọ báo trong hiện
tại, cũng là thân thể chính mình. Y báo tức là y cứ theo
cuộc sống mà thọ báo, như y phục, thức ăn, chỗ ở, v.v...
Chánh báo của con người là thân thể đẹp xấu, khỏe mạnh
hay bịnh tật, tướng mạo anh tuấn hay xấu xí, người người
trông thấy đều hoan hỷ, ái kính hay ghét bỏ. Hoặc giả
người có trí huệ, hay có thiện căn. Tuy nhiên trong mỗi hạng,
cũng phân làm hai.
Thứ
nhất, người có trí huệ mà không có thiện căn. Vì sao thế
? Những hạng người này đa số đều từ quỷ quái yêu ma
mà sanh ra trên thế gian. Như sơn tinh ở núi lâu năm thành
yêu quái, là loài si mị võng lượng (quỷ xuất sanh từ gỗ
đá). Những loại quỷ thần đầu trâu mặt ngựa này là những
yêu tinh lâu năm thường ăn thịt người, hay những yêu quái
đã chết lâu rồi, nay trở lại làm người. Chúng rất thông
minh như những người khác. Tuy nhiên, chúng làm việc gì cũng
đều không thông minh, luôn làm những việc sai lầm, chuyên
môn không giữ luật lệ. Những việc có hại đến người
khác thì chúng đều làm. Chúng thường nói những điều làm
loạn trật tự xã hội, vì sợ thiên hạ không bị loạn.
Loại người này có trí huệ mà không có thiện căn.
Lại
nữa, người có thiện căn mà không có trí huệ. Có thiện
căn là vì đời trước có làm những việc lành, nhưng không
nghiên cứu kinh điển, nên không có trí huệ, rất ngu si. Bàn
về chánh báo, có người tướng mạo đầy đủ, thọ mạng
lâu dài, được phú quý. Lại có người tướng mạo xấu
xí, thọ mạng ngắn ngủi, chết lúc tuổi còn nhỏ. Tất cả
đều do tiền nhân hậu quả, (nhân trước quả sau).
Y
báo là y phục, thức ăn, nhà cửa v.v...Y báo cũng là quả
báo của đời quá khứ. Ðời trước trồng nhân lành thì
đời này được quả báo tốt. Ðời trước trồng quả ác
thì đời này chịu quả báo xấu. Tương lai có thể còn chịu
quả báo xấu nữa. Ðó là báo chướng.
Bàn
về nghiệp chướng thì nghiệp tức là sự nghiệp, công nghiệp.
Không luận người xuất gia hay tại gia, nhất định đều
có sự nghiệp. Tạo ra sự nghiệp rồi thì nhiều vấn đề
khó khăn phát sanh. Khi có khó khăn thì liền sanh phiền não,
rồi gặp bao việc không vui. Ðó gọi là nghiệp chướng.
Nói
về phiền não chướng thì chúng ta ai ai cũng có ít nhất một
loại phiền não. Phiền não này phát sanh từ đâu ? Nó do tâm
tham, tâm sân, tâm si phát khởi ra. Sao chư vị phát sanh phiền
não ? Vì có tâm tham, nên tham không được liền sanh phiền
não. Vì có tâm sân hận nóng giận, mọi sự tình đều không
hợp với tâm ý chư vị, liền phát sanh phiền não. Vì tâm
ngu si, không sáng suốt, nên phát sanh phiền não. Vì còn tâm
ngã mạn, kiêu căng, nên xem thường người khác, nên phát
sanh phiền não. Vì tâm nghi, đối với tất cả sự tình đều
phát sanh hoài nghi. Do có hoài nghi nên tạo ra phiền não. Lại
vì còn tà kiến, nên kiến giải của chư vị không chánh đáng,
nên phát sanh phiền não. Nếu có chánh tri chánh kiến, tức
có trí huệ chân chánh thì đối với mọi việc, chư vị đều
hiểu rõ ràng. Vì thông suốt từ đầu đến cuối nên không
sanh phiền não. Vì vậy, phiền não do tâm tham lam, sân hận,
si mê, ngã mạn, tà kiến phát khởi lên.
Bộ
tâm kinh này năng phá trừ được ba chướng là báo chướng,
nghiệp chướng và phiền não chướng. Làm sao phá trừ được
? Do có trí huệ chân chánh, trí huệ vi diệu, tâm như như
bất động, và chân tâm nên phá trừ được ba chướng. Chúng
ta hiểu rõ giáo nghĩa tâm kinh bát nhã ba la mật đa thì mới
có trí huệ chân chánh, dẹp trừ được ba chướng.
Thứ
năm là nói rõ giáo tướng.
"Thục
tô phán tác kỳ giáo nghĩa, (thục tô xác định giáo nghĩa
này".
Dùng
thục tô mà xác định nghĩa lý tâm kinh bát nhã ba la mật
đa. Thục tô là thời đức Phật thuyết pháp Bát Nhã lần
thứ tư. Ðức Phật thuyết pháp có năm thời tám giáo. Năm
thời tám giáo này do Trí Giả đại sư tông Thiên Thai phân
lập ra.
Nay
tôi y chiếu hai nghĩa trí huệ quyền thật mà thuyết về năm
thừa.
Thời
Hoa Nghiêm : Lần đầu tiên đức Phật thuyết pháp, vừa quyền
vừa thật, cộng thảy hai mươi mốt ngày. Ngài thuyết ra thật
pháp, thật trí, và quyền trí. Sao gọi là thật trí và quyền
trí ? Kinh Hoa nghiêm giảng về đạo lý của pháp giới, mà
trong đó có sự pháp giới và lý pháp giới. Sự lý vô ngại
pháp giới, sự sự vô ngại pháp giới. Giáo nghĩa này tuy
Phật vì Bồ Tát mà thuyết, nhưng cũng là pháp phương tiện
quyền xảo cùng trí huệ chân thật của Phật pháp. Thời
kinh Hoa Nghiêm là nhất quyền và nhất thật, (một quyền,
một thật).
Thời
A Hàm : Lần thứ hai, duy chỉ có quyền giáo pháp mà không
thật pháp. Giảng về quyền giáo, dùng pháp môn phương tiện
quyền xảo để dạy dỗ, giáo hóa chúng sanh. Trong thời thứ
hai, chỉ có quyền pháp chứ không có thật pháp, không có
thật trí.
Thời
phương đẳng : Là thời thứ ba, có ba loại quyền, một loại
thật. Tại sao? Vì thời này là bốn giáo đồng luận đàm.
Bốn giáo là tạng, thông, biệt, viên. Dẹp phá thiên chấp
tiểu giáo, tán thán đại giáo. Thiên chấp tức kiến chấp
thiên lệch của chư vị không đúng. Phá tiểu, tức nói giáo
lý tiểu thừa không đúng. Tán đại tức là tán thán đại
thừa, phô trương viên giáo. Sao gọi là phương đẳng ? Vì
đồng đàm luận bốn giáo. Ðồng thời khi giảng về đạo
lý bốn giáo cũng nói về ba loại quyền pháp, tức tạng,
thông, biệt. Loại quyền pháp này cũng là viên giáo.
Thời
Bát Nhã : Là thời thứ tư, có hai loại quyền và một loại
thật. Hai loại quyền là thông giáo và biệt giáo. Một loại
thật là viên giáo.
Thời
Pháp Hoa, Niết Bàn : Chỉ có thật pháp mà không có quyền
pháp, có thật trí, không có quyền trí, lại không có pháp
phương tiện quyền xảo.
Năm
thời bên trên luận bàn y cứ theo pháp quyền thật. Năm thời
này thường được giảng tới giảng lui. Mỗi lần giảng
kinh đều nhắc đến. Chư vị nếu thông được điểm nào
thì hiểu được điểm đó.
"Ma
ha phản chuyển bát nhã thuyền, (ma ha chuyển ngược thuyền
bát nhã".
Ma
ha nghĩa là lớn. Chuyển ngược tức là đảo chuyển trở
lại. Ðảo chuyển như thế nào ? Tức đảo chuyển thuyền
bát nhã. Tại sao chư vị muốn đảo chuyển thuyền bát nhã
mà không đảo chuyển bát nhã ? Ðảo chuyển gì ? Ðó là đảo
chuyển ngu si của mình. Chuyển được tức là niết bàn. Chuyển
ngược dòng nước, phải dùng hết sức lực chứ không thể
dể duôi mà đi được. Tuy nhiên, không cần phải đợi ba
a tăng kỳ mà trong một đời, hai đời, ba đời v.v..., có
thể đắc được trí huệ chân chánh. Nói thời gian dài quá
thì chúng ta đâm ra chán ngán, không muốn tu. Không muốn tu
cũng không thể miễn cưỡng. Miễn cưỡng không phải là đạo.
Thế nên đệ tử của tôi muốn đọa lạc thì cứ đọa lạc.
Chư vị không muốn chuyển ngược thuyền bát nhã, thì thuận
theo dòng nước lớn mà trôi xuống, càng trôi xuống thì càng
xa. Nếu chư vị chuyển ngược, tức là đi trở lên dòng nước.
Nếu không muốn phản chuyển, thì sẽ đi xuống theo dòng hạ
lưu. Xem thấy chư vị đang đi lên thượng lưu, rồi lại chạy
xuống theo dòng hạ lưu.
Bát
nhã ba la mật đa là pháp. Tâm là ví dụ. Kinh là bộ kinh này.
Kinh có thông danh và biệt danh. Thông danh là thống nhiếp hết
mọi bộ kinh. Biệt danh là mỗi bộ kinh có danh tự riêng biệt,
những bộ kinh khác không có tên giống nhau. Tâm kinh bát nhã
ba la mật đa là biệt danh của bộ kinh này. Bộ tâm kinh bát
nhã ba la mật đa này thuộc trong bộ Bát Nhã, biểu thị tâm
trong tâm.
Sao
gọi là kinh ? Kinh tức là kinh pháp thường bất chuyển, không
thể thay đổi. Một chữ cũng không thể bỏ được, hay cũng
không một chữ được. Ðó là kinh pháp thường bất biến.
Lại
"kinh" là một con đường, nghĩa là tu hành phải đi qua một
con đường nhất định. Chư vị có muốn tu hành à ? Nhất
định chư vị phải đi trên đường đạo này. Nếu chư vị
không đi trên đường đạo này thì sẽ bị lạc vào rừng
rậm hoang vu. Chư vị phải nên đi trên đường tu hành thì
không bị lạc đường. Ngày này qua ngày nọ đều được
bình an, sáng suốt. Sao gọi là đi lạc ? Vì chư vị xưa nay
quên mất, không biết tụng niệm kinh này. Qua ba bốn tháng,
không tụng niệm nên quên mất, mới đi lạc. Tụng kinh được
lợi ích gì ? "Tụng kinh không được lợi ích gì cả, chỉ
mất thời gian, tốn sức thôi. Tụng bộ kinh này từ đầu
cho đến cuối tốn khí lực, thời gian, tinh thần. Sao lại
cho là có ích lợi ?"
Này
chư vị cư sĩ ! Ðừng để tâm vô minh che lấp. Chư vị đừng
tìm cầu lợi ích. Càng tìm cầu thì càng không chân thật.
Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng (nếu còn có tướng
thì đều là hư giả cả). Nếu có hình có tướng mà chư
vị có thể thấy được thì không phải là lợi ích chân
thật. Tại sao lại không thấy được ích lợi ? Chư vị tụng
kinh một lần thì tự tánh được rửa sạch một lần. Như
khi chư vị tụng kinh Kim Cang, tụng qua một lần thì hiểu
rõ ý nghĩa của kinh đôi chút. Tụng hai lần thì hiểu thêm
nữa. Tụng ba lần thì lại càng hiểu rõ thêm. Tụng kinh khiến
trí huệ tự tánh càng gia tăng. Nhưng khi trí huệ gia tăng
thì chư vị không thể thấy, chỉ tự cảm giác thôi. Thế
nên, lợi ích của sự tụng kinh không thể nói hết được.
Nhưng,
không nên vì tụng kinh mà sanh ra phiền não. Chớ nói ": Này
đạo hữu ! Ðạo hữu tụng kinh quá nhanh, khiến tôi theo không
kịp. Hoặc đạo hữu tụng kinh quá chậm, khiến tôi phải
đợi. Hoặc tiếng tụng kinh của đạo hữu không hay lắm,
khiến tôi không thích nghe."
Không
nên dùng công phu tu học như thế. Chúng ta biết rằng mọi
người đều là những kẻ mới bắt đầu học Phật pháp.
Không phải ai cũng biết tụng kinh hết, hay có người biết
tụng mà không muốn tụng. Nhưng, tất cả mọi người đều
phải đồng tụng kinh. Ðược như thế thì ai ai cũng đều
đồng huân tu tập. Lại nữa, không nên mình tìm lỗi xấu
người; người khác tìm lỗi xấu mình. Nếu thật có lỗi
xấu thì thì mọi người nhất định phải tự mình nhìn thấy.
Nếu không tự mình nhìn thấy thì lỗi xấu càng ngày càng
nhiều; tu hành không thể tương ưng với đạo được. Thế
nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp
việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim
Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được
trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích
nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể
thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu
chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi.
Ðó là ý nghĩa của sự tụng kinh.
Kinh
cũng có bốn loại ý nghĩa, tức là quán, nhiếp, thường,
pháp. Chữ quán, nghĩa là quán xuyến, tức là tất cả nghĩa
lý đều nối thông với nhau như nối lại tất cả đường
chỉ với nhau.
Nhiếp
tức là nhiếp trì hóa độ những chúng sanh có duyên lành.
Kinh năng nhiếp thủ những chúng sanh có cơ duyên, tùy theo
bịnh mà cho thuốc. Sao gọi là nhiếp ? Chư vị có thấy nam
châm hút sắt không ? Tuy sắt ở xa, nhưng nam châm vẫn hút
được. Kinh cũng giống như nam châm hút sắt. Tất cả chúng
sanh như sắt cứng, ương ngạnh cứng cõi, tánh nóng giận
hẩy hừng, lỗi lầm đầy dẫy. Nhưng nhờ sức hút của kinh,
tâm tánh chúng sanh từ từ nhũn nhặn, tập khí cững dần
dần tiêu hết.
Chữ
thường nghĩa là vĩnh viễn thường hằng bất biến. Mãi không
biến đổi là từ đầu đến cuối, từ xưa đến nay, đều
y chiếu theo kinh mà tu hành.
Pháp
là phương pháp. Dùng phương pháp này để tu hành. Ðời quá
khứ, hiện tại và vị lai đều dùng phương pháp này mà tu
hành. Vì vậy ba đời đồng tôn kính gọi là pháp. Xưa và
nay không đổi nên gọi là thường.
Lại
nữa, kinh nghĩa là mực thước. Thợ mộc xưa kia dùng dây
nhuộm phấn đen. Khi muốn gạch lằn ngang liền căng dây ra,
rồi ấn xuống. Khi lấy dây lên tạo ra một lằn phấn đen
để làm mực thước, không như hiện nay có phấn có thước
kẻ đường ngay ngắn.
Tóm
lại, kinh là quy củ, tiêu chuẩn, mực thước. Nay chúng ta
nghiên cứu kinh Bát nhã, cũng là y theo quy tắc Bát Nhã. Chư
vị nếu y theo quy tắc Bát Nhã thì nhất định sẽ khai mở
trí huệ.
Giải
thích danh đề tổng quát.
Giảng
về đề kinh, đại khái cũng giống như những lời giảng
ở phần trên. Nay giảng trạch về người phiên dịch. Hiện
tại, chúng ta hiểu rõ bộ kinh này phải nhớ ơn người phiên
dịch. Nếu không có người phiên dịch, sợ rằng ngày nay
chúng ta không thể đọc, nghe được tên kinh này. Nếu không
được nghe, không được đọc đến tên kinh này thì chúng
ta y chiếu theo kinh nào, phương pháp nào để tu hành ? Không
có phương pháp thì làm sao chúng ta tìm được con đường
tu hành. Thế nên, chúng ta phải tri ân người phiên dịch kinh.
Trải qua bao thời đại, người dịch giả, vì lòng từ bi
giáo hóa chúng sanh nên phát tâm phiên dịch kinh điển và lưu
truyền lại cho đến hôm nay. Thế nên, công đức của người
phiên dịch kinh điển không thể nghĩ bàn, thật to lớn. Người
phiên dịch kinh này là ai ? Chính là do tam tạng pháp sư Ðường
Huyền Trang vâng chiếu dịch kinh. Ðường tức là Ðường
triều. Tam tạng là kinh tạng, luật tạng, và luận tạng.
Tạng kinh có rất nhiều bộ kinh. Tạng luật giảng về giới
luật. Tạng luận giảng về đạo lý kinh điển.
Pháp
Sư là lấy pháp làm thầy, đem pháp bố thí cho người. Dùng
tam tạng kinh điển của Phật pháp làm thầy mình, và đem
pháp giáo hóa chúng sanh, nên gọi là tam tạng Pháp Sư. Mỗi
vị pháp sư hiện nay tôn tam tạng kinh điển làm thầy và
đem pháp ra giáo hóa chúng sanh. Ðầy đủ hai nghĩa này thì
chư vị mới có thể gọi họ là vị pháp sư tôn kính pháp
làm thầy và dùng pháp để giáo hóa chúng sanh.
Huyền
Trang là tên của một vị pháp sư. Căn cơ của Ngài rất thâm
hậu, áo diệu. Cảnh giới của Ngài thật không thể nghĩ
bàn. Bàn về Phật giáo đời cận đại, Ngài là một vị
pháp sư rất cao thâm, vĩ đại. Vì sao ? Ngài qua Ấn Ðộ thỉnh
kinh. Khi ấy, chưa có phương tiện giao thông như máy bay, xe
lửa, tàu bè, chỉ dùng ngựa thôi. Thế nên, Ngài cỡi ngựa
từ Tân Cương qua trung tâm Á Tế Á, vượt dãy Hy Mã Lạp
Sơn đến Ấn Ðộ. Cuộc hành trình của Ngài xa viễn, gian
khổ. Chưa ai làm được như Ngài. Trước khi qua Ấn Ðộ thỉnh
kinh, mỗi ngày Ngài thực tập đi bộ từ sáng đến tối.
Vùng gần nhà không có núi, Ngài sắp ghế bàn lại với nhau,
rồi nhảy qua bàn qua ghế, thực tập cách leo núi, trèo non.
Vì vậy trên đường từ trung tâm Á Tế Á đến Ấn Ðộ,
tuy có rất nhiều núi non hiểm trở cheo leo, nhưng nhờ khi
ở nhà Ngài đã từng thực tập chuẩn bị rồi nên Ngài đi
như bay, bao nguy hiểm đều vượt khỏi. Cuối cùng, Ngài đạt
mục đích là đến được Ấn Ðộ. Ngài lưu lại Ấn Ðộ
mười bốn năm ròng rã, rồi sau đó thỉnh kinh trở về nước
để phiên dịch.
Phụng
chiếu dịch; phụng là thừa phụng; chiếu là chiếu thư; dịch
tức là phiên dịch. Từ tiếng Phạm của Ấn Ðộ, phiên dịch
thành tiếng Hoa. Nay có nhiều vị cư sĩ thông đạt Anh văn,
Phạm văn, Ðức văn v.v... Nếu có thể phiên dịch ra nhiều
ngôn ngữ ở tây phương thì công đức thật vô lượng. Ảnh
hưởng này không phải một đời mà kéo dài đời này qua
đời nọ. Người tây phương sẽ rất tri ân. Vì vậy, tôi
hy vọng mỗi vị Phật đừng để người sau thất vọng, mà
hãy mau học tiếng Tàu, rồi phiên dịch kinh điển ra tiếng
Anh, ngõ hầu cống hiến phục vụ cho người tây phương. Hãy
tranh thủ mà làm. Ngày nay thế giới thật là hư hoại. Chỉ
có Phật pháp mới năng vãn hồi cứu độ kiếp ác này. Nếu
mọi người đều không hiểu Phật pháp thì e sợ rằng thế
giới sẽ đến thời kỳ diệt vong. Ðạo Gia Tô nói về ngày
tận thế. Ngày tận thế cũng không xa lắm đâu ! Nếu kinh
điển Phật giáo được phiên dịch qua tiếng Anh, khiến người
người đều thông hiểu Phật pháp, biết rõ rằng không nên
lười biếng, cố gắng tiến bước phát tâm tu đạo. Nếu
được như thế thì ngày tận thế càng lúc càng xa vời, và
không biết con người sẽ sống đến bao nhiêu đại kiếp
nữa, hoặc giả không có luôn ngày tận thế. Tại sao ? Vì
Phật pháp thường chuyển đại pháp luân, nên khiến mặt
trời luôn trụ mãi, không tan mất đi. Vì vậy, không có ngày
tận thế. Mọi việc trên thế gian đều sống động cả.
Chúng không chết cứng, ù lỳ. Ngày tận thế thật chẳng
phải
là ngày tận thế. Nếu đến ngày tận thế, cũng không chính
là ngày tận thế. Việc quan trọng là nếu mọi người đều
học Phật pháp thì chắc sẽ không có ngày tận thế. Nếu
không ai chịu học Phật pháp thì ngày tận thế đã đến.
Lý này rất sống động chứ không cứng nhắc. Giống như
lúc trước có tin rằng trong tháng tư năm nay thành phố Cựu
Kim Sơn sẽ có động đất, cả thành phố đều sẽ bị chìm
xuống biển. Tin đồn này không phải mới phát sanh trong năm
nay mà năm trước cũng đã có rồi. Nhiều kẻ giàu có, sợ
chết chìm nên đã bỏ đi đến sống nơi khác. Năm rồi tôi
có nói rằng chư vị chỉ nên cố gắng học Phật pháp thì
thành phố Cựu Kim Sơn sẽ không bị động đất. Năm nay tôi
lại nói rằng chư vị nên thành tâm tụng chú đại bi, học
Phật pháp. Tôi bảo đảm với chư vị là thành phố Cựu
Kim Sơn sẽ không bị động đất. Những lời này tôi cũng
đã từng nói với chư vị rồi. Tại sao cho đến nay Cựu
Kim Sơn cũng chưa có động đất ? Có phải là do sự cảm
ứng không ? Chư vị thành tâm tụng chú Lăng Nghiêm, học Phật
pháp nên thiên long bát bộ đều ủng hộ đạo tràng. Vì vậy,
không phát sanh động đất. Việc này cũng giống như ngày
tận thế. Ngày tận thế chuyển thành ngày không tận thế.
Hà huống có sự động đất ở vùng Cựu Kim Sơn ? Muốn động
đất cũng không có động đất, như chúng ta muốn dời nhà
nhưng không tìm được nơi thích hợp nên không thể đời
đi được. Không thể tìm được nơi tương xứng nên vùng
Cựu Kim Sơn sẽ không bị động đất.
Vietnamese
Buddhism
Xem
Thêm:
Bát
Nhã Tâm Kinh Lược Giải, Thích Duy Lực*
Bát
Nhã Tâm Kinh Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Bát
Nhã Tâm Kinh Lược Giảng, HT. Tuyên Hoá - Tỳ Kheo Thích Hằng
Đạt Việt dịch
Tâm
Kinh, HT. Thích Trí Quang Dịch Giải
Kinh
Trái Tim Tuệ Giác, Tusito Thái Minh Trung, MD