RYOKAN
TAIGU
(1758
– 1831)
Ryokan
ra đời trong năm 1758 (ngày chính xác không rõ), tại ngôi làng
hẻo lánh ven biển Izumozaki, thuộc tỉnh Echigo, bây giờ gọi
là Quận Niigata. Vùng này, Honshu phương bắc, còn đuợc gọi
là “xứ tuyết,” nơi các trận tuyết mùa đông dày ngập
tới nổi buộc cư dân phải rời nhà và vào lại nhà họ
bằng tầng [lầu] thứ nhì. Quận cũng khét tiếng về một
số trận động đất tệ hại nhất trong lịch sử Nhật Bản,
và nổi tiếng với hòn đảo Sado dễ thương, nơi lưu đày
loạn quân và là nơi có những mỏ vàng được các tướng
quân khai thác. Cha của Ryokan, Inan (1738—95), là người được
kế thừa cha truyền con nối làm trưởng làng, và là một
tu sĩ Thần Đạo. Inan cũng là một nhà thơ mà vài người
ghi nhận là có liên hệ xa với trường phái thơ hài cú Basho.
Dưới đây là một bài của ông:
Liên
tục cứ biến đổi,
Các
đám mây hè lên lười biếng,
Cao
trên các ngọn đồi.
Không
có mấy thông tin về mẹ của Ryokan, chỉ biết bà ra đời
trên đảo Sado, nhưng từ những gì chúng ta có thể ghi nhận
từ thơ của Ryokan thì bà như dường là một người dịu
dàng và yêu thương:
Trong
các giấc mơ của tôi
Hình
dạng của mẹ hiện ra
Ban
sáng và ban đêm,
Trong
sương mù xa vây phủ
Các
bờ của đảo Sado.
Tên
thời thơ ấu của Ryokan là Eizo. Một cậu bé lặng lẽ, siêng
năng, yêu thích sách, cậu ghi danh ở một trường Khổng Giáo
khoảng năm lên mười, và nơi đó được nền học vấn
căn bản của sách thánh hiền Trung Quốc và Nhật Bản. Nhiều
năm sau, Ryokan thăm nấm mộ của vị thầy đầu tiên là Omori
Shiyo (chết năm 1791), và làm bài thơ cảm động này để tưởng
niệm:
Một
nấm mộ cũ nằm ẩn dưới chân đồi hoang vắng,
Tràn
ngập bởi cỏ rậm năm này qua năm kia;
Không
còn ai để chăm sóc ngôi mộ,
Và
chỉ một bác tiều phu thỉnh thoảng đi ngang.
Một
thời con là học trò của thầy, cậu bé có tóc tua tủa,
Học
thâm sâu từ thầy bên Dòng Sông hẹp.
Một
sáng, con khởi hành trên chuyến đi cô đơn
Và
nhiều năm trôi qua lặng lẽ giữa thầy trò.
Bây
giờ con về, thầy đã an nghỉ nơi đây.
Làm
sao con tưởng niệm hương linh thầy?
Con
rưới chút nước trong lên trên bia mộ thầy
Và
dâng thầy một bài kinh im lặng.
Mặt
trời đột nhiên lặn sau ngọn đồi,
Và
con bị vây bọc bởi gió bạt từ rừng thông.
Con
tìm cách tự kéo mình ra nhưng không thể;
Một
dòng thác nước mắt ướt đẫm các tay áo con.
Dưới
hướng dẫn của Shiyo, Ryokan đã có một đam mê cả đời
kinh điển Khổng Giáo. Thường thì mẹ cậu gửi cậu ra khỏi
nhà để dự vài lễ hội của làng, chỉ để lại thấy sau
đó cậu bé ngồi thu mình dưới một trụ đèn đá trong vườn
và đọc cuốn Luận Ngữ. (Khi Ryokan lớn hơn, cậu mô tả
về vị thầy Trung Hoa [Khổng Tử] không phải như một mẫu
mực của tính chính thống và là cái hành thiện ngột ngạt,
nhưng như là một người, khiêm tốn và nồng ấm và độc
lập, đi tìm sự thật, người đã bị các người đương
thời gọi một cách bất công là mơ tưởng thiếu thực dụng!)
Khi còn trẻ, Ryokan hầu như vui hưởng các cuộc đi bộ cô
đơn dọc theo bờ biển, phía hướng ra Biển Nhật Bản đầy
sóng bão, hay là mơ tưởng lặng lẽ dưới một gốc thông
già trong vườn nhà. Ngay từ khi còn bé, cậu không bao giờ
nói dối hay cãi nhau với các cậu bé khác.
Người
cha thất thường và xốc nổi Inan mong muốn chuyển giao nghề
trưởng làng cho cậu con trai cả ngay khi nào Ryokan tới tuổi
trưởng thành. Không may, với nhiều lý do khác nhau, chàng thanh
niên Ryokan 17 tuổi lại không thích hợp với việc đó. Bản
chất lương thiện và hoà giải, chàng không ưa tranh chấp
dù là kiểu nào; cực kỳ ngây thơ, chàng không thể hiểu
được vì sao những người khác lại không nhiệt tình như
mình. Sau khi trải qua một khủng hoảng tâm linh, chàng quyết
định rời nhà và trở thành một nhà sư.
Nhiều
giải thích khác nhau đưa ra cho hành vi quyết định này: Ryokan
nhận thấy là chàng thiếu cái xảo quyệt cần thiết của
một lãnh tụ chính trị; chàng chấn động bởi cuộc xử
tử hình đẫm máu một dân làng bị kết trọng tội (người
trưởng làng phải làm nhân chứng chính thức trong các buổi
xử tử như thế); chàng đột nhiên thấy ánh sáng sau một
đợt vui chơi phóng đãng.
Khi
còn thanh niên, con mọt sách Ryokan có vẻ như có thời gian
ngắn trở thành một Don Juan – “các dân làng nói về chàng,
“Khi thằng đó lảng vảng, nhớ phải cảnh giác mấy đứa
con gái của mình.” Theo một chuyện kể, Ryokan một lần trong
một bữa tiệc với cô kỹ nữ chàng ưa thích. Tiệc càng
vào đêm, nhưng chàng càng lúc càng sầu muộn. Cô tình nhân
tìm mọi cách làm chàng vui, nhưng không gì có thể xua đi nỗi
buồn tràn ngập của chàng. Sau khi xài tiết tiền, chàng về
nhà trong tuyệt vọng sâu thẳm.
Sáng
hôm sau, gia đình thấy chàng có chiếc đầu cạo trọc và
quấn mình trong bộ áo kimono trắng. Không nói nhiều, chàng
tới ngay ngôi chùa gần đó để xin đi tu. Trên đường, chàng
tình cờ gặp nàng kỹ nữ, và cô nài nỉ chàng xét lại.
Ryokan vẫn im lặng và vẫn kiên quyết hướng mình chọn.
Sự
thật, nhiều phần là chính sự kết hợp các yếu tố trên
đã dẫn Ryokan vào chùa. Cũng vậy, với nếp văn hóa trưởng
thành của chàng – nhiều người khác trong gia đình của chàng
cũng đã xuất gia vào chùa – thì không ngạc nhiên gì khi
chàng đi tìm niềm vui trong tôn giáo. Chức trưởng làng mới
truyền cho em của Ryokan là Yoshiyuki (1762—1834), người lại
trở thành hành chánh trưởng quan tệ hại nhất có thể có,
và rồi phung phí hết tài sản của gia đình.
Ryokan
làm sa di ở Kosho-ji, ngôi chùa Thiền Tào Động địa phương,
trong nhiều năm. Khoảng năm 1780, thiền sư Kokusen (viên tịch
1791) viếng thăm Kosho-ji, và Ryokan, người cảm xúc thâm sâu
vì cách sống nghiêm túc và chân thật của vị thầy, mới
xin và được phép để chính thức trở thành môn đệ của
Kokusen. Sau đó, họ cùng nhau trở về chùa Entsu-ji, ngôi tự
viện của Kokusen tại Tamashima (bây giờ là Quận Okayama).
Chùa
Entsu-ji chỉ nhỏ thôi, dễ thương, gồm một hồ sen và rừng
tre đẹp, nằm trên một ngọn đồi nhìn ra hải cảng Tamashima.
(Hầu hết các khu nhà từ thời Ryokan bây giờ vẫn còn.) Tamashima
là một trung tâm giao thương thịnh vượng, và chùa Entsu-ji
đã lớn dậy dưới hướng dẫn của Kokusen, không bao giờ
dưới 40 sư đang tu học. Cũng như vị thầy Kaso của Ikkyu,
và vị thầy Shoju của Hakuin, Kokusen là một vị thầy có lối
dạy cụ thể, người tuyên bố kiều Thiền của mình gồm
cả việc “khiêng đá và đổ đất.” Nghĩa là, tu Thiền
phải thực hiện ngay giữa các việc làm hàng ngày trong đời
thường.
Một
trong những vị trong chúng mà Ryokan ưa thích là Senkei, một
vị sư hiện thân cho giáo pháp của Kokusen.
Sư
Senkei, người chân thực của Đạo!
Sư
làm việc trong lặng lẽ—không lời dư thừa nào cho sư.
Trong
30 năm, sư trong chúng của thầy Kokusen.
Sư
không bao giờ tọa thiền, không bao giờ đọc kinh,
Không
bao giờ nói một chữ về đạo Phật—
Chỉ
làm việc cho lợi ích của nhất thiết chúng.
Tôi
đã thấy sư, nhưng không thực sự thấy sư;
Tôi
đã gặp sư, nhưng không thực sự gặp sư.
A
ha, sư không ai có thể bắt chước được,
Sư
Senkei, người chân thực của Đạo!
Ryokan
trong 10 năm sau đó tại chùa Entsu-ji đã tận hiến cho tu tập
Thiền, và học sâu thêm về cổ thư Trung Hoa, kinh Phật, thi
ca, và thư pháp. Sau đó trong đời, Ryokan gợi lại những năm
ở Entsu-ji trong các bài thơ sau:
Nơi
chùa Entsu-ji ngày xưa đó—
Bao
nhiêu lần đông đi xuân tới?
Vượt
qua cổng một ngàn ngôi nhà
Nhưng
không hề một người quen.
Khi
áo bẩn, ta giặt áo;
Khi
hết gạo, chúng ta ra phố khất thực.
Ta
suy ngẫm về đời các sư siêu quần
Và
hiểu được lời các sư ngợi ca cái nghèo bậc thánh.
Nghĩ
lại, ta nhớ những ngày ở Entsu-ji
Và
cuộc chiến đơn độc truy tầm Đạo.
Vác
củi làm ta nhớ tới Cư Sĩ Ho;
Khi
ta giã gạo, lại nhớ Lục Tổ.
Ta
luôn luôn ở hàng đầu để nghe lời dạy của thầy,
Và
không bao giờ bỏ qua một giờ tọa thiền.
Ba
mươi năm bay vèo qua
Từ
khi ta rời các ngọn đồi lam và biển xanh của nơi yêu thương
đó.
Các
bạn đồng môn cũ của ta bây giờ ra sao?
Và
làm sao ta có thể quên từ tâm của thầy kính yêu?
Nước
mắt tuôn xuống không thôi, hòa lẫn với thác nước.
Cũng
có vài giây phút nhẹ nhàng tại Entsu-ji cho Ryokan:
Những
ngày hè dài tại Entsu-ji!
Nhất
thiết đều tươi mới và thanh tịnh.
Cảm
xúc thế tục không bao giờ thấy nơi đây.
Trong
bóng mát, ngồi đọc thơ, vẻ đẹp vây chung quanh,
Ta
chịu đựng hơi nóng bằng cách lắng nghe
Tiếng
bánh xe nước quay làm mát.
Trên
ngọn đồi, sau Entsu-ji, chúng ta vào ẩn trong rừng,
Thoát
khỏi hơi nóng, và uống sake để thư giãn.
Chúng
ta nốc hết hũ rượu và làm vài bài thơ.
Không
bị bỏ quên, chúng ta ngồi hạnh phúc tới khi có chuông gọi
vào.
Trong
khi ở tại Entsu-ji, Ryokan say mê các bài viết của Dogen (1200—53;
Việt: Đạo Nguyên), sơ tổ của Thiền Tào Động tại Nhật
Bản. Sư đặc biệt ưa thích Dogen với Tứ Đại Công Đức:
Từ Thiện, Lời Tử Tế, Việc Tốt và Đồng Cảm. Ryokan áp
dụng tứ đại công đức này trong cách cụ thể, như chúng
ta thấy trong chuyện sau. Vào những ngày đó, bọn cướp thường
giả trang làm các vị sư, và chàng Ryokan trang phục rách rưới
đã bị các quan lại đa nghi bắt giam nhiều lần khi đi khất
thực. Gợi nhớ tới chuyện Hakuin và em bé sơ sanh, Ryokan cũng
không nói gì biện hộ ngay cả khi bị đe dọa đánh đập.
Và lần nào cũng vậy, lời tử tế của sư, phong thái bình
an và bất bạo động của sư đã chiến thắng, và sư được
thả ra an ổn.
Năm
1790, khi 32 tuổi, Ryokan được bổ nhiệm làm thủ chúng tu
viện này, và được trao tặng một inka (chứng nhận giác
ngộ). Không giống như các kinh nghiệm ngộ đạo căng thẳng,
gần như gay cấn, của Ikkyu và Hakuin, Ryokan hiển nhiên không
có bất kỳ bước nhảy quyết liệt đơn độc nào; thay vào
đó, sự giác ngộ của sư đơn giản là sự nở hoa tự nhiên
phù hợp truyền thống Thiền Tào Động của “chỉ ngồi
như Phật thôi” và “tu chứng nhất như.”
Lúc
đầu khi thọ giới, sư được đặt tên là “Ryokan Taigu.”
Chữ “Ryo” có nghĩa là “tốt lành, thiện” và “kan”
nghĩa là “quảng đại” trong nghĩa rộng lượng và đại
bi. Còn chữ “Taigu” nghĩa là “Đại Ngu,” chỉ vào tính
thơ ngây trẻ dại và thiếu vắng cái giả hình. Kokusen gợi
tới các phẩm chất này trong tờ inka trao cho môn đệ hàng
đầu của thầy.
Ryo
trông ngu ngơ, nhưng đã đi qua Đại Đạo;
Không
ngăn ngại, ai có thể hiểu thấu sư?
Ta
trao chứng nhận này cùng với một cây gậy làm bằng gỗ
trên núi;
Bất
cứ nơi đâu lang thang, sư sẽ vẫn giữ được sự bình an
thành tựu giữa các bức tường này.
Bản
văn này là tài sản trân quý nhất của Ryokan, và sư giữ
nó bên mình cho tới cuối đời.
Kokusen
viên tịch năm sau đó, và Ryokan rời Entsu-ji để đi chuyến
du phương dài, lang thang với mây và trôi với nước. Ryokan
như dường hầu hết là ghé vào các miền quê trong suốt thời
kỳ năm năm, ngủ trên các cánh đồng hay ngả lưng trong các
căn lều dã chiến, và tránh các trung tâm đô thị và tu viện
lớn. Tuy nhiên, sư có tìm Thiền sư Shuryu tại chùa Daitoku-ji,
ngôi bản tự của Ikkyu.
Khi
Ryokan tới cổng chùa Daitoku-ji, sư bị đẩy ra lạnh lùng,
nghe nói rằng Shuryu bây giờ đang sống hưu dưỡng và không
muốn gặp ai. Không nản, Ryokan lẻn vào trong sân chùa, nhảy
qua bức tường khổng lồ, và chờ bên ngoài nơi ẩn tu của
sư trụ trì. Rồi Ryokan để một lá thư gửi cho Shuryu, dằn
cục đá lên, để bên cái chậu nước rửa tay bằng đá,
hy vọng sư trụ trì sẽ thấy nó khi ngài bước ra cho khóa
công phu sáng sớm. Vài vị sư có bắt gặp Ryokan, nhưng khi
họ tới đuổi sư ra thì ngài Shuryu xuất hiện, đọc
lời cầu xin chân thành của Ryokan, và nói sư cứ tới thăm
bất cứ khi nào sư thích. Ryokan sau đó kể lại cho các bạn
rằng sư đã hưởng lợi ích rất nhiều từ cách dạy Thiền
kiểu Lâm Tế của Shuryu.
Câu
chuyện khác duy nhất mà chúng ta có về cuộc lang thang của
Ryokan là lời của Kondo Manjo (chết năm 1848), người gặp sư
ở Shikoku ở phía nam.
Khi
tôi bước vào đầu các năm hai mươi tuổi, tôi du hành tới
quận Tosa. Vào một đêm, tôi gặp mưa bão lớn, và vì lúc
đó khá xa thị trấn, tôi mới trú vào một túp lều nhỏ
đơn độc bên đường. Một nhà sư trang phục rách rưới
đang ngụ trong đó mời tôi vào, với lời xin lỗi rằng không
có gì để ăn, cũng không có giường nằm gì cả. Sau cuộc
nói chuyện ban đầu, vị kia không nói gì nữa chỉ trừ ngồi
lặng lẽ trong tư thế thiền tọa. Tôi nghĩ rằng vị đó
trong đầu có một chút suy yếu.
Tôi
ngủ, và sáng hôm sau vị đó chia phần cháo nhỏ với tôi.
Những gì duy nhất trong lều là một tượng Phật nhỏ, một
bàn nhỏ và hai quyển sách. Cuốn tôi cầm lên là ấn bản
đời Đường tác phẩm của Trang Tử; bên trong là bản viết
các bài thơ bởi vị ẩn tu này trong nét chữ thảo tuyệt
đẹp. Tôi mới nhận ra rằng đây không phải một vị sư
bình thường. Tôi mới xin sư đề chữ vào hai chiếc quạt
trống tôi mang theo mình. Trên một chiếc, sư vẽ hoa đào nở,
và trên chiếc khác sư vẽ Núi Phú Sĩ. Sư ký tên vào chúng
là “Ryokan, sinh quán Echigo.” Vị sư từ chối lấy tiền,
nhưng vui vẻ nhận lấy một số giấy thư pháp.
Mẹ
của Ryokan đã từ trần trong khi sư ở tại chùa Entsu-ji, và
cha của sư, vẫn cứ xốc nổi và nóng nảy, rời nhà và tới
ngụ ở Kyoto, nơi một trong những người em trai của Ryokan
thành danh là một học giả. Nơi đó, vào năm 1795, ông Inan
đã kết thúc cuộc đời rắc rối của ông bằng cách tự
trầm trong Sông Katsura. Đau buồn trước tin về cái chết bi
thảm của cha, Ryokan đi tới Kyoto để làm lễ cầu siêu cho
cha, và rồi đi hành hương tới ngọn núi linh thiêng Koya để
cầu nguyện cho hương linh của cả cha mẹ được an lành.
Tại
Kyoto, Ryokan nhận được bản viết các bài thơ cuối cùng
của cha và rồi viết:
Các
tờ chép thơ
Của
cha ta trở thành
Nhòa
đi với nước mắt ta
Như
ta gợi nhớ
Những
thời bên nhau xưa thật xưa.
Với
cương vị người nối pháp của Kokusen, một trong những vị
Thiền sư Tào Động lớn nhất lúc đó, Ryokan có thể dễ
dàng giữ chức trụ trì một chùa lớn, nhưng những năm tự
nguyện sống khó nghèo và tự do trên các cánh đồng đã làm
cho sư không thích bị ràng buộc với gánh nặng ngôi chùa.
Thêm nữa, có sự kình chống nhau kịch liệt giữa các phe
chùa Eihei-ji và chùa Soji-ji của Thiền Tào Động, và với
tư cách trụ trì Ryokan sẽ phải bị lôi kéo vào tranh chấp.
Không
kế hoạch cụ thể nào trong đầu, Ryokan năm 40 tuổi về lại
nơi mình ra đời, dọc đường vui với những nơi có cảnh
đẹp và các nơi linh thiêng của Nhật Bản. Khi Ryokan cuối
cùng về tới Echigo, sư ghi lại trong hai bài thơ sau:
Ta
đã về lại ngôi làng cũ, và
Ngả
bệnh, ta nghỉ nơi một lữ quán địa phương.
Ta
lắng nghe tiếng mưa—
Một
y, một bát là những gì ta có.
Mạnh
hơn một chút, ta nhấc tấm thân yếu này,
Dậy
thắp hương, và ngồi thiền tọa;
Cả
đêm, mưa rơi buồn bã
Như
ta mơ về chuyến hành hương dài của các năm qua.
Từ
xưa rồi, ta bỏ thế gian để tìm chân sư,
Về
lại ngôi làng xưa sau hai mươi năm,
Tài
sản duy nhất chỉ một y, một bát.
Ta
hỏi về các bạn cũ—
Hầu
hết đã trở thành tên khắc trên bia mộ phủ rêu.
Một
hôm, một vị sư sương gió tả tơi bước tới Gomoto, một
ngôi làng khoảng 10 dặm phía bắc Izumozaki. Sư được phép
vào cư ngụ ở một túp lều đổ nát và chẳng bao lâu đã
trở thành hình ảnh thường thấy quanh thị trấn. Khi sư nhận
lãnh nhiều lương thực hơn mức cần trong một ngày, sư đem
chia bớt cho chim chóc và thú vật. Dân địa phương nhanh chóng
cảm phục sư và bắt đầu cúng dường sư y áo và lương
thực, nhưng vị sư vẫn chia những gì nhận lãnh cho những
người ăn mày tệ hại hơn sư. Nhiều dân làng thấy sư mang
máng quen thuộc, nên một người mới tới thăm sư. Túp lều
thì trống trơn, chỉ trừ vài bài thơ nét chữ tuyệt đẹp
treo trên vách. Người này mới tìm cách thông báo cho gia đình
của Ryokan rằng người anh cả đi từ lâu rồi bây giờ đã
về lại quê nhà. Tuy nhiên, Ryokan từ chối về lại nơi sinh,
và gửi lại hầu hết phẩm vật mà gia đình sư gửi tới.
Ryokan
sống trong nhiều nơi ẩn cư gần đó, trước khi cuối cùng
về ngụ tại am viện Gogo-an, một tự viện được xây kiên
cố nhưng cô lập trong một khu rừng dầy đặc các cây tùng
và thông già phía sau chùa Kokujo-ji trên Núi Kugami. Tên của
nơi ẩn tu này có nghĩa “năm chén,” tức là số lượng
gạo nhận mỗi ngày bởi vị cựu trụ trì Chân Ngôn Tông
của chùa Kokujo-ji, người đã ra lệnh xây am Gogo-an để ngài
lui về hưu dưỡng.
Ryokan
sống tại Gogo-an từ năm 1797 tới 1802, và từ 1804 tới 1816.
(Giữa các năm 1802 và 1804, một vị trụ trì về hưu của
chùa Kokujo-ji đã dùng nơi cư trú đó, và trong thời kỳ này
Ryokan cư trú tại các ngôi chùa Chân Ngôn Tông khác trong vùng.)
Ryokan tự sống như người ẩn tu, nhưng không phải kiểu tự
ly cách hoàn toàn với con người. Ryokan hy vọng học theo Đức
Phật, người đã có thể qua lại tự tại giữa các cõi thánh
và cõi phàm:
Đây
là Con Đường mà Ngài đã đi để giải thoát thế giới;
Đây
là Con Đường mà Ngài đã đi để về lại thế giới.
Cũng
thế, con tới và đi theo Thánh Đạo
Bắc
cầu ngang bờ Sinh và Tử, và vượt qua mê vọng.
Là
một ẩn tu, Ryokan ngồi trên thiền sàng và sống nhiều phần
hệt như các vị tổ sư Thiền xa xưa, tìm giác ngộ sâu trong
các rặng núi:
Trong
vắng lặng, bên cửa sổ trống
Ta
ngồi thiền tọa, mặc phẩm phục trang nghiêm,
Rún
và mũi thẳng đường,
Tai
song song với vai
Aùnh
trăng ngập cả phòng;
Mưa
đã ngưng, nhưng mái hiên còn nhỏ giọt.
Toàn
hảo giây phút này—
Trong
tánh không vô tận, hiểu biết ta thẳm sâu.
Vào
đêm, sâu trong núi,
Ta
ngồi trong thiền tọa
Chuyện
nhân gian không bao giờ tới đây;
Tất
cả đều vắng lặng và rỗng rang,
Nhang
đã tàn trong đêm vô tận.
Aùo
ta đã đẫm sương.
Không
ngủ được, ta bước vào rừng—
Đột
nhiên, trên đỉnh cao, trăng tròn hiện.
Đời
ta nghèo
Nhưng
tâm ta sáng tỏ
Khi
ta qua
Ngày
lại ngày
Trong
lều cỏ này.
Như
dòng suối nhỏ
Len
lỏi qua
Các
vách núi rêu,
Ta
cũng lặng lẽ
Trở
thành sáng tỏ và trong trẻo.
Khi
các niệm
Đã
vắng cả rồi
Ta
lẩn vào rừng [pháp]
Và
gom nhặt
Một
xấp tiền của mục đồng.
Rách
rưới và tả tơi, rách rưới và tả tơi
Rách
rưới và tả tơi là đời này.
Lương
thực? Rau cỏ dại bên đường.
Những
bụi cây mọc quanh lều ta.
Trăng
và ta thường ngồi chung cả đêm,
Và
hơn một lần, ta đi lạc giữa rừng hoa dại,
Quên
lối về nhà.
Không
ngạc nhiên gì, ta rời khỏi chúng:
Làm
sao một ông sư khùng như thế sống trong chùa?
Sống
sâu trong núi, tất cả thiên nhiên trở thành bạn của Ryokan:
Nếu
nơi ngươi ẩn tu
Nằm
sâu trong rặng núi
Chắc
chắn là mặt trăng,
Hoa
và lá đỏ thắm
Sẽ
trở thành bạn ngươi.
Hoa
mẫu đơn dại
Đã
hoàn mãn
Nở
ra tròn đầy:
Quá
trân quý để hái về,
Quá
trân quý để không hái về.
“Phong
Lan”
Sâu
trong thung lũng, một vẻ đẹp ẩn mình:
Thanh
tĩnh, vô song, ngọt ngào vô lượng.
Trong
bóng mát im vắng của bụi tre
Như
tiếng thở dài nhẹ cho tình nhân.
Cây
và hoa
Ta
trồng quanh lều
Bay
giờ ta giao lại
Cho
ý muốn
Của
ngọn gió.
Một
ngày xuân, Ryokan ghi nhận thấy ba chồi tre mọc dưới hàng
hiên. Tre lớn dậy nhanh chóng, và rồi tre mọc thúc vào sàn.
Ryokan lo ngại, vì sư không muốn thấy bất cứ gì chịu đau,
ngay cả cây cỏ. Sư quyết định khoét một lỗ hở nơi sàn
và đốt cho thủng một lỗ trên mái tranh đang che mái hiên,
để cho tre mọc không cản ngại, nhung khi Ryokan đưa ngọn
nến tới phần mái đó, toàn bộ mái hiên bắt lửa và cháy
rụi. Ryokan làm một tang lễ cho cây tre bị thiêu rụi, và
rồi dựng một hàng hiên không mái với mặt sàn là các tấm
gỗ kéo qua lại, để sẽ cho các chồi tre mọc xuyên qua.
Mặc
dù Ryokan rời bỏ thế gian, nhưng sư không ghét bỏ nó:
Không
phải là
Ta
không muốn
Hòa
hợp với người khác
Nhưng
sống đơn độc trong tự do
Là
Con Đường tốt hơn cho ta.
Khi
ta nghĩ
Về
khổ đau
Của
chúng sinh cõi này,
Nỗi
buồn của họ
Trở
thành của ta.
Ô,
tấm áo thầy chùa của ta
Đủ
lớn rộng
Để
bao lại hết tất cả
Những
người đau khổ
Trong
trần gian trôi nổi này.
Theo
“Mười Tranh Chăn Trâu,” cao điểm của tu Thiền là “trở
về xóm chợ với hai bàn tay trao cho người những niềm an
lạc,” và Ryokan, hệt như Ikkyu và Hakuin trước sư, đã về
hòa lẫn với đủ mọi hạng người – các lãnh chúa, ăn
mày, nông dân, thương gia, người bán cá, chủ quán trọ, kỹ
nữ, trẻ em, người bị ruồng bỏ—mà không mang tâm hạ
mình hay ngăn ngại.
Ryokan
là một trong vài nhà sư Nhật Bản sống toàn bộ nhờ khất
thực. Trong khi Ikkyu và Hakuin cũng có lúc đi khất thực, nhưng
hầu hết trong đời hai vị này—cũng như gần như tất cả
tăng sĩ [Nhật], quá khứ và hiện tại—hoặc là dựa vào
các thí chủ giàu có hay là một nhóm Phật Tử thường xuyên
cúng dường. Tuy nhiên, Ryokan đã ca ngợi việc khất thực
như là “huyết mạch của đời sống tự viện,” một pháp
tu linh thiêng do chính Đức Phật thiết lập, và sư đã trung
thành theo luật sống khó nghèo trong suốt đời mình.
Mây
đã tan,
Bầu
trời trong trẻo—
Đi
xin ăn
Với
tâm thanh tịnh
Là
ơn phước từ trời.
Ryokan
một lần viết, “Thực phẩm nên được đón nhận như các
con ong hút mật từ hoa; người ta nên khất thực một cách
khiêm tốn như ánh trăng chiếu sáng cánh đồng.”
Trong
một bài thơ, Ryokan viết, “Ta sẽ ghé mọi nhà, ngay cả nhà
kẻ bán rượu và dân bán cá, y hệt như Hoàng Tử Của Những
Người Khất Thực [Đức Phật].”
Ryokan
cũng trích dẫn từ một kinh trong đó một vị sư bị khiển
trách vì không chịu ghé xin ăn ở một số nhà nào đó,
“Trên đường khất thực, tất cả mọi người phải được
đối xử bình đẳng.”
Do
vậy, Ryokan sẽ dừng chân, không do dự, để xin ăn trước
nhà của các cô bán dâm. Có lúc, khi các cô không bận rộn,
các cô bước ra và chơi môn thể thao bắn bi với Ryokan. Khi
Yoshiyuki nghe về phong cách kỳ quái của anh mình, ông mới
giễu sư Ryokan bằng bài thơ sau:
Oâng
sư áo đen
Chơi
thể thao với
Các
cô gái giang hồ—
Cái
gì bên trong
Tâm
của sư này?
Ryokan
trả lời bằng thơ:
Thể
thao và thể thao,
Khi
ta đi xuyên qua cõi trôi nổi này.
Tìm
thấy mình nơi đây,
Không
phải tốt sao
Khi
xua tan ác mộng của người khác?
Yoshiyuki
vẫn chưa hài lòng:
Thể
thao và thể thao
Trong
khi đi qua cõi này
Có
lẽ là tốt,
Nhưng
sao sư không nghĩ
Về
cõi sắp tới?
Kết
luận của Ryokan là:
Chính
trong cõi này,
Với
tấm thân này
Mà
ta thể thao.
Không
cần nghĩ ngợi
Về
cõi sắp tới.
Một
lần, Ryokan du hành với một vị sư trẻ. Tại một tiệm trà,
họ được cúng dường thức ăn trong đó có lẫn cá. Vị
sư trẻ không động tới con cá, theo đúng truyền thống Phật
Giáo chính thống, nhưng Ryokan ăn sạch không nghĩ ngợi.
Vị
sư mới nói với Ryokan, “Thức ăn đó có cá, thầy biết.”
Ryokan
đáp với nụ cười, “Đúng vậy, nó ngon tuyệt.”
Đêm
đó, một nông dân đón họ vào trú ngụ, và sáng hôm sau vị
sư trẻ mới than phiền, “Chí rận cắn như khùng điên, và
con thức suốt đêm. Nhưng sao thầy ngủ ngon như con nít. Sao
vậy?”
“Ta
ăn cá khi được cúng dường, nhưng ta cũng để chí rận và
muỗi mòng ăn tiệc trên thân ta. Không gì làm phiền ta cả,”
Ryokan trả lời như thế. (Ryokan ngủ trong mùng, không phải
để ngăn muỗi, nhưng là để bảo vệ chúng—sư sợ sư có
thể vô ý giết chúng trong khi đang ngủ. Tuy nhiên, sư thò
một chân ra ngoài mùng để cho muỗi không phải đói.)
Y hệt
như Phật, Ryokan với lòng biết ơn đón nhận bất cứ gì
đặt vào bình bát khất thực của sư:
Vì
lợi ích cho chúng ta
Các
con sò trai và cá
Tự
hiến thân mình
Không
hề ích kỷ
Để
làm thức ăn.
Ryokan
viết các bài thơ sau về công đức khất thực:
Mùa
xuân—chậm rãi tiếng chuông an bình
Từ
cây trượng xin ăn của ta vang về làng.
Trong
các vườn, các cây liễu xanh;
Hoa
lá nổi thanh tĩnh trên hồ.
Bát
của ta thơm hương gạo ngàn nhà;
Tâm
của ta đã rời mọi danh vọng phú quý.
Lặng
lẽ giữ gìn hồi ức về các vị cổ Phật,
Ta
đi bộ tới làng thêm một ngày xin ăn.
Sau
cả ngày khất thực trong làng
Ta
ngồi an bình dưới một mỏm đá trong đêm mát.
Đơn
độc, với một y, một bát—
Đời
một sư Thiền thực sự tự do nhất!
Theo
Phật Giáo truyền thống, các thí chủ nên biết ơn vì chính
họ đang thu góp công đức khi cúng dường thức ăn cho một
vị sư, nhưng Ryokan luôn luôn nhớ một câu được nhắc trong
Thiền Tông: “Hãy nhớ tới công khó của nông dân khi gieo
trồng gặt hái thức ăn này.” Thay vì nhìn thẳng về
phía trước trong im lặng và đón nhận thức ăn mà không ghi
nhận gì, như luật đòi hỏi, Ryokan lại nâng bát lên một
cách tôn kính với trọn tấm lòng biết ơn, mỗi lần sư được
cúng dường. Ryokan chắp tay vái chào và xin ơn Phật gia hộ
bất cứ khi nào sư đi ngang qua các nông dân đang làm việc
trên đồng ruộng, và sư để ra nhiều giờ trong lều ẩn
tu để tụng kinh hồi hướng cho họ.
Mùa
xuân mưa phùn,
Mùa
hè mưa rào,
Mùa
thu khô.
Xin
nguyện cho thời tiết an lành
Và
chúng ta đều được thịnh vượng.
Nếu
mùa màng trúng đặc biệt, có khi Ryokan cũng tự mình lấy,
khỏi chờ cúng. Một lần sư treo bài thơ này trên một cây
trong vườn của một nông dân địa phương.
Xin
đừng nhầm ta
Với
một con chim
Khi
ta bước
Vào
vườn của ngươi
Để
ăn các quả táo dại.
Đôi
khi phẩm vật cúng dường tới bất ngờ:
Sau
khi gom củi từ trong núi
Ta
về lại căn lều
Và
thấy các quả mận đã ngâm dấm và khoai
Để
dưới cửa sổ bởi một vị khách.
Các
quả mận được gói giấy,
Khoai
để trong cỏ xanh,
Và
một mẩu giấy ghi tên thí chủ.
Sâu
trong núi, thức ăn thì vô vị—
Hầu
hết là củ cải và quả xanh—
Nên
ta mau chóng nấu sôi chúng lên với tàu hủ và muối.
Làm
đầy bao tử vẫn thường trống trơn của mình
Với
ba chén đầy.
Nếu
bạn ta đã để lại chút rượu sake
Thì
đã trở thành bữa tiệc thực sự.
Ta
thưởng thức một phần năm món quà và cất của dư;
Vỗ
bụng đầy, ta trở lại việc thường ngày.
Trong
6 ngày nữa sẽ là lễ Phật Thành Đạo
Và
ta không biết lấy gì cúng dường,
Nhưng
bây giờ ra giàu rồi—
Phật
sẽ ăn tiệc với mận và cháo khoai ngon tuyệt.
Ryokan
nổi tiếng vì không phí chút thức ăn nào. Nếu có gì còn
dư, sư lại cất vào một nồi đất sành. Một cách tự nhiên,
các thức ăn này dần dà lên men và hư đi, đầy các con giòi.
Một vị khách một lần thấy Ryokan ăn từ nồi này.
Vị
khách la lên, “Đừng ăn thế. Nó hư rồi và có sâu trong
đó.”
Ryokan
mới trấn an khách, “Không sao, được mà. Ta đã gạt giòi
ra ngoaì rồi mới ăn, bây giờ thì ngon lắm!”
Ryokan
thường chia sẻ thức ăn với chim, và với chó mèo lạc. Bên
cạnh những lúc dư thừa, dù vậy, vẫn có lúc gian nan:
Trên
trời xanh, một con ngỗng mùa đông kêu lên;
Núi
trần trụi, chỉ trừ lá rơi.
Hoàng
hôn—trở về dọc con đường lạnh,
Đơn
độc, mang một bát cơm trống.
Không
xin ăn
Một
lần nữa hôm nay
Trong
làng.
Tuyết
rơi
Và
rơi.
Hôm
nay không may trong chuyến khất thực;
Ta
tự lê thân từ làng này sang làng kia.
Tới
hoàng hôn, thấy mình trong núi, cách lều nhiều dặm.
Gió
thốc vào thân gầy của ta
Và
bình bát nhỏ trông tội nghiệp—
Nhưng
đây là đường ta chọn và đã dẫn ta
Xuyên
qua thất vọng và đau đớn, lạnh và đói.
Mặc
dù Ryokan dựa hoàn toàn vào khất thực, sư thường ngây ngất
bởi vẻ đẹp của các mùa trong khi đi bát.
Ta
đi nơi đó
Để
xin cơm,
Nhưng
bụi cỏ ba lá nở bông
Giữa
các đá tảng
Làm
ta quên cả lý do đi.
Ryokan
rất ưa thích cái bình bát nhỏ và thô nhám của mình, nguyên
là vật cúng dường từ một gia đình mà họ từng dùng làm
nồi nấu ăn.
Trong
bát khất thức nhỏ của ta
Hoa
tím và hoa vàng
Lẫn
vào nhau
Làm
vật cúng dường lên
Chư
Phật của Ba Cõi.
Nhặt
hoa tím
Bên
đường, ta vô tâm
Để
quên bình bát nhỏ lại—
Ô
tội nghiệp chiếc bát nhỏ!
Ta
đã quên
Bát
khất thực nhỏ lần nữa—
Không
ai sẽ nhặt ngươi,
Chắc
chắn không ai sẽ nhặt ngươi,
Chiếc
bát nhỏ và buồn của ta!
Trên
đường khất thực, Ryokan thường ngừng chân để giúp các
gia đình việc bếp núc—rửa rau, chẻ củi, nhóm lửa. Nếu
không có việc cụ thể nào để làm, sư ngồi lặng lẽ thiền
tọa trong góc nhà. Sư cũng là một thầy lang dân gian xuất
sắc, và chữa trị người bệnh trong gia đình thí chủ bằng
xoa bóp, ngải cứu và thuốc dược thảo. Tuy nhiên, khi gia
đình mời sư tới thăm họ ngày kế tiếp, sư luôn trả lời,
“Rất tiếc, không hứa được. Chúng ta không bao giờ biết
ngày mai ra sao.”
Ryokan
thích ngừng chân và chơi kusa-awase (trò chơi kéo dây, bằng
các dây cỏ bện vào nhau) với các cậu trai làng, và
chơi temari (thảy banh vải) với trẻ gái làng.
Một
lần nữa, trẻ con và ta giao chiến bằng dây cỏ xuân
Bây
giờ tiến, bây giờ lui, mỗi lần thêm tinh luyện.
Hoàng
hôn—mọi người về nhà;
Mặt
trăng sáng, tròn giúp ta chịu đựng nỗi cô đơn.
Những
ngày đầu xuân, trời xanh, mặt trời sáng.
Tất
cả đều đang dần dà tươi xanh.
Mang
bình bát, ta đi chậm vào làng.
Ngạc
nhiên thấy ta, trẻ em
Vui
mừng vây quanh, mang
Chuyến
khất thực của ta tới một cổng chùa.
Ta
đặt bát trên một tảng đá trắng và
Treo
túi lên cành cây.
Nơi
đây chúng ta chơi với cỏ dại và ném banh.
Mỗi
lần ta chụp banh, trong khi trẻ em hát;
Rồi
đây là phiên của ta.
Chơi
thế này, nơi đó và đây, ta quên thời gian.
Người
qua đường chỉ và cười ta, hỏi,
“Sao
lại ngốc nghếch thế?”
Ta
không đáp, chỉ cúi chào sâu;
Ngay
cả nếu ta đáp, họ sẽ không hiểu.
Hãy
nhìn quanh, không có gì khác đâu!
Ryokan
được gọi là “Vị Thầy Môn Chơi Temari” trong tỉnh, và
luôn luôn giữ hai hay ba quả banh vải trong tay áo, sẵn sàng
kéo ra ngay khi trẻ em xuất hiện:
Chúng
ta ném quả banh nhỏ tới và lui.
Ta
không muốn khoe tài nhưng...
Nếu
ai hỏi bí mật tài này, ta sẽ nói,
Một,
hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy!
Chơi
banh temari
Với
trẻ em làng
Ngày
xuân
Am
áp, và sương mù—
Không
ai muốn ngưng.
Trong
cõi Phật mười phương
Chỉ
có Nhất Thừa.
Khi
thấy rõ xong, sẽ không còn dị biệt trong các giáo pháp.
Có
gì để mất? Có gì để được?
Nếu
chúng ta được gì, thì nó đã ở đó ngay bước đầu;
Nếu
chúng ta mất gì, thì nó chỉ bị giấu gần bên.
Hãy
nhìn quả banh vải trong tay áo ta—
Chắc
chắn, nó là bảo vật của giác ngộ!
Ryokan
thương yêu trẻ em và đã viết nhiều bài thơ về các bạn
nhỏ này.
Trẻ
em!
Chúng
ta sẽ đi
Tới
Iyahikp
Để
xem ngọn đồi
Đầy
hoa tím nở?
Tay
trong tay
Trẻ
em và ta
Hái
rau mùa xuân.
Có
gì mà
Tuyệt
diệu hơn?
Mới
bắt đầu tháng chín
Khi
chúng ta đi tới Gò Đuôi Thông (Pine Tail Ridge).
Con
ngỗng cô đơn bay trên đầu,
Hoa
cúc đã nở trọn.
Trẻ
và ta đã tới rừng thông này.
Chúng
ta chỉ đi bộ khoảng ngắn,
Nhưng
thế giới hàng trăm dặm cách xa rồi.
Khi
ta nhìn
Trẻ
chơi đùa hạnh phúc
Mà
không nhận ra thế
Mặt
ta
Đầy
nước mắt.
Mùa
xuân tới rồi,
Cây
mọc xanh tươi lại,
Và
những lá mùa thu trước đã đi xa.
Ta
phải vội vã
Tìm
gặp bọn trẻ!
Một
lần, Ryokan đang chơi trốn tìm với trẻ con, và sư chạy nấp
trong một chái nhà gần đó. Trẻ con biết chỗ sư nấp và
quyết định giỡn sư—chúng bỏ chạy mất mà không cho sư
biết trò chơi xong rồi. Sáng hôm sau, một phụ nữ nông dân
tới chái nhà này và kinh hoảng thấy Ryokan ẩn mình trong góc.
Bà hỏi, “Thầy làm gì ở đây vậy, thầy Ryokan?” Sư mới
thì thầm, “Suỵt, xin im lặng giùm. Nếu không thì bọn trẻ
sẽ kiếm ra ta.”
Ryokan
là chuyên gia về giả chết. Sư ngả sấp người và để trẻ
em chôn sư bằng cỏ và lá. Một lần, bọn trẻ thấy là sư
ngưng thở. Bọn trẻ khóc rống lên, “Ồ, đừng. Thầy Ryokan
lần này chết thật rồi!” Đột nhiên, Ryokan chồm dậy với
một tiếng hét, hù bọn trẻ. Nhiều năm dài tọa thiền và
kiểm soát hơi thở đã tập cho Ryokan nín thở và giữ không
nhúc nhích trong nhiều phút.
Một
lần khác, Ryokan đang đi bộ gần làng thì nghe có tiếng la
nhỏ, “Cứu con với! Xin cứu con, làm ơn!” Một cậu bé
bị kẹt trên mấy cành cao nhất của một cây hồng vàng.
Ryokan giúp cho cậu nhỏ xuống, và nói là sư sẽ hái vài trái
cho cậu bé. Ryokan trèo lên cây và hái một trong các quả hồng
vàng. Sư quyết định nếm thử trước, bởi vì quả hồng
vàng chưa chín thì làm tê lưỡi, và sư không muốn làm cậu
bé thất vọng. Ryokan thấy quả hồng vàng này rất ngọt,
nên sư hái thêm quả nữa, và rồi cũng ngọt nữa. Quả này
sau quả kia, sư ăn liên tục, la lên, “Ô, ngọt quá!” Sư
đã hoàn toàn quên bẵng cậu bé đói khát đang chờ bên dưới,
cho tới khi cậu la lên, “Thầy Ryokan ơi! Cho con vài quả với!”
Sư Ryokan mới sực nhớ, cười to và chuyền các quả hồng
vàng cho cậu nhỏ.
Ryokan
đã viết bài thơ tưởng niệm sau cho tất cả trẻ em chết
trong một trận dịch đậu mùa:
Khi
mùa xuân tới
Từ
đầu các cành
Hoa
sẽ nở,
Nhưng
các lá đỏ của năm ngoái
Những
chiếc lá nhỏ,
Sẽ
không bao giờ trở lại nữa.
Ryokan
cũng vui thú nhấp rượu sake—thứ “nước nóng của trí
tuệ siêu việt” và thuốc “tốt nhất trong mọi phương
thuốc”—với dân làng trong những khi nông dân rãnh rỗi:
Đi
bộ dọc bên sông nước trong,
Ta
đến một nhà nông.
Hơi
đêm lạnh đã lui, để chỗ cho hơi ấm mặt trời.
Đàn
chim sẻ vào một vườn tre,
Tiếng
ríu rít nơi đây và kia.
Ta
gặp một cụ nông dân từ ruộng về;
Oâng
chào ta như bạn lâu ngày gặp.
Trong
nhà, vợ nông dân này hâm nóng rượu sake
Trong
khi chúng ta ăn rau mới hái và hàn huyên.
Cùng
nhau, say mềm người, chúng ta không còn biết
Ý
nghĩa của điều không vui.
Giữa
mùa hè—
Ta
chống gậy đi.
Các
nông phu già thấy ta
Và
gọi ta vào uống chút.
Chúng
ta ngồi trong cánh đồng
Lấy
lá làm đĩa.
Say
vui vẻ và hạnh phúc như thế,
Ta
trôi dạt bình an
Nằm
dài người ra trên bờ ruộng.
Uống
rượu sake ngọt ngào
Với
các nông dân
Trong
khi lông mày chúng ta
Đổi
màu trắng
Vì
tuyết vương.
Ngày
mai?
Ngày
sau đó?
Ai
biết?
Chúng
ta say
Hôm
nay mà!
Đôi
khi Ryokan ghé thăm các bạn già. Các bạn này kể về sư như
sau:
Khi
Ryokan ghé thăm, cứ hệt như mùa xuân tới trong một ngày mùa
đông u ám. Nhân cách sư thanh tịnh, và sư không hề có tính
mưu mẹo và hai lòng. Cao và gầy, Ryokan trông giống như một
vị tiên mà văn chương cổ và tôn giáo nói tới. Sư không
có chút xíu khoa trương nào, và sư toát ra hơi ấm và từ
bi. Sư không bao giờ giận dữ, và cũng không chịu nghe chuyện
chỉ trích người khác. Giọng nói của sư luôn luôn trong trẻo
và sáng ngời. Khi sư vào ngồi trong một căn nhà nào, mọi
rắc rối trong gia đình đó như dường biến mất, và ngôi
nhà sẽ vẫn giữ được nhiều ngày an bình sau chuyến viếng
thăm đó. Chỉ đơn giản gặp sư thôi, mọi người cũng thấy
mình tốt đẹp ra.
Trong
khi nhiều vị sư thuyết giảng nhiều giờ về sự thâm diệu
của kinh điển, hay là làm các buổi lễ phức tạp (và tốn
kém), Ryokan chỉ đơn giản lang thang trong bộ y tả tơi, luôn
luôn mỉm cười và cúi chào mọi người, một bài thuyết
giảng sống không khác gì Thánh Francis of Assisi, “Gã Khờ
của Thiên Chúa.” Vị thánh bảo hộ cho Ryokan là Jofukyo, “Thường
Bất Khinh Bồ Tát.”
Buổi
sáng, cúi lạy tất cả;
Buổi
tối, cúi lạy tất cả.
Tôn
kính mọi người là nhiệm vụ duy nhất của ta—
Nam
Mô Thường Bất Khinh Bồ Tát
Trong
khắp đất trời, ngài đứng đơn độc.
Một
vị sư chân thực
Cần
Chỉ
một thứ—
Một
tâm hệt như
Thường
Bất Khinh Bồ Tát.
Ryokan
dịu dàng quở trách các sư bạn vì quá chú trọng tới chi
tiết và phân chia tông phái, chữ nghĩa và khái niệm:
Khi
ta thấy các sư uyên bác giảng kinh,
Lời
hùng biện của họ trôi chảy thành vòng tròn;
Ngũ
Thời Phán Giáo và Bát Thuyết—
Những
lý thuyết đẹp, nhưng ai cần chúng?
Người
sính chữ thì nhét đầy đầu,
Nhưng
hãy hỏi họ các chuyện quan trọng thật
Và
bạn chỉ nghe các lời trống rỗng.
Đức
Phật có vô lượng pháp môn,
Mỗi
pháp hiển lộ sự thật thanh tịnh nhất
Hệt
như mỗi làn gió mát và mỗi giọt mưa
Làm
tươi mát cánh rừng.
Không
kinh nào mà không đưa tới giải thoát.
Hãy
nắm yếu nghĩa của mỗi tông phái,
Và
ngưng xếp hạng Phật pháp.
Không
gì làm ta
Hạnh
phúc hơn
Là
lời nguyện Phật A Di Đà
Để
cứu
Tất
cả chúng sinh.
Trong
một làng, có một người chèo đò chuyên gây rắc rối. Người
này bực bội vì cứ nghe mọi người ca ngợi sư Ryokan, và
khi sư Ryokan lên ghe người này để qua sông, người này mới
lắc thuyền dữ dội, và Ryokan té xuống sông. Ryokan gần như
chết đuối, cho tới khi người chèo đò kéo sư lên. Không
biết là người lái đò cố ý làm sư té sông, Ryokan cảm
ơn người đó vô kể. Người chèo đò không mong đợi sự
đáp ứng đó, và bắt đầu ân hận về chuyện này và về
tất cả việc xấu đã làm. Oâng đưa Ryokan lên bờ, và sư
một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc. Sau đó, khi
Ryokan quay lại cho chuyến trở về, người lái đò mới thú
tội và xin sư Ryokan tha lỗi. Ryokan chỉ mỉm cười và nói
người này đừng lo lắng gì nữa. Họ cùng chia nhau một hũ
rượu sake và người lái đò sau đó sống an lành tử tế.
Một
lần khác, một nhà sư say rượu bỗng nhiên lên cơn và tấn
công Ryokan. Sư Ryokan chỉ lặng lẽ chịu đựng những cú đánh
của nhà sư kia, cho tới khi hung thủ bị dân làng trấn áp.
Đêm đó, một trận bão xô tới, nhưng Ryokan, lúc đó đang
ngụ tại nhà một người bạn, đột nhiên bước ra ngoài.
Lo ngại cho sự an toàn của Ryokan, người bạn mới ra theo
sư, thì thấy Ryokan lấy một chiếc áo mưa bằng rơm che cho
nhà sư khùng kia, người đang ngủ mê man trong một cánh
đồng.
Một
lần, một thân nhân của Ryokan yêu cầu sư nói chuyện với
cậu con trai hư hỏng của người này. Ryokan tới thăm gia đình
này, nhưng không nói một lời khiển trách nào với cậu kia.
Sư ở lại qua đêm, và sửa soạn rời vào sáng hôm sau. Khi
cậu con trai hư hỏng kia giúp buộc đôi dép rơm của Ryokan,
cậu cảm thấy có một giọt nước ấm trên vai mình. Ngẩng
lên, cậu thấy Ryokan đang nhìn xuống cậu, mắt sư đầy nước
mắt. Ryokan quay trở lại am viện Gogo-an, và cậu thanh niên
kia từ đó về sau hoàn toàn tu tỉnh.
Ryokan
không bao giờ tìm kiếm đệ tử, nhưng sư có một người
bạn, Saichi, người cùng họ với sư. Khi Saichi chết, Ryokan
cảm xúc đau đớn:
Ah...
người cư sĩ Thiền sinh của ta.
Ngươi
theo ta học hai thập niên;
Ngươi
là người thật sự
Hiểu
các thứ
Những
người khác đã bỏ sót hoàn toàn.
Vị
tướng quân của một vùng địa phương muốn xây một ngôi
chùa khổng lồ và để Ryokan làm trụ trì. Vị này tới tìm
gặp Ryokan ở Gogo-an, nhưng Ryokan lúc đó đang ra ngoài hái
hoa, và vị tướng quân và tùy tùng phải chờ cho tới khi
sư trở về với bình bát đầy các hoa thơm. Vị tướng quân
nói lên thỉnh nguyện, nhưng Ryokan giữ im lặng. Rồi sư lấy
cọ viết bài thơ hài cú và trao cho tướng quân:
Ngọn
gió mang tới
Đủ
lá rơi
Để
nhóm một ngọn lửa.
Vị
tướng quân gật đầu ra dấu hiểu, và về lại lâu đài.
Một
lần, một tên trộm nhầm lẫn vào am Gogo-an, nhưng dĩ nhiên
không thấy gì giá trị. Thất vọng, tên trộm mới lấy chiếc
mền cũ và tả tơi và chiếc bồ đoàn thiền tọa của sư.
Khi Ryokan về lại căn lều, thấy chuyện xảy ra mới viết
bài thơ hài cú sau:
Tên
trộm để lại phía sau—
Mặt
trăng
Nơi
cửa sổ.
Ryokan
yêu thích dự các buổi nhảy múa suốt đêm của Lễ Hội
Bon giữa mùa hè, nhưng vì là thầy chùa, nên sư phải ngụy
trang bằng cách trùm một vuông khăn lớn và mặc bộ áo kimono
phụ nữ. Dĩ nhiên, tất cả dân làng đều biết đó là Ryokan,
và tới một năm, nhiều người dân làng quyết định trêu
chọc sư. “Cô gái yêu kiều này là ai vậy?” họ thì thầm
với nhau nhưng đủ lớn cho Ryokan nghe. “Cô này chắc chắn
là một người nhảy múa hay lắm!” Rất mực khoái trá, sư
say mê với vai trò của nữ vũ công, nhảy tới nhảy lui với
vẻ diễm kiều đầy nữ tính.
Ryokan
không thích lễ lạc long trọng. Một hôm, sư được mời dự
một lễ trà đạo chính thức tại nhà một gia đình giàu
có. Người chủ hãnh diện về các bộ đồ trà đắt giá,
thanh lịch, và các vị khách khác tới trong các bộ kimono bằng
gấm Kyoto đắt tiền. Khi Ryokan, mặc bộ đồ thường lệ
rách rưới chắp vá, nhấp hớp trà, rồi nhăn mặt và la lên,
“Đắng quá—hương vị ghê quá!” Rồi sư mới nhổ trà
vào lại tách. Để gây rối thêm, Ryokan mới khạy mũi của
mình và tìm cách quẹt vào tay áo của vị khách ngạo mạn
ngồi kế bên sư.
Mặc
dù Ryokan hài lòng với đời sống của một ẩn tu, vẫn có
những lúc cô đơn sâu thẳm:
Đôi
khi ta ngồi lặng lẽ,
Lắng
nghe tiếng lá rơi.
Thật
sự bình an là đời sống của một vị sư,
Cắt
lìa khỏi tất cả chuyện đời.
Mà
sao ta rơi nước mắt?
Trong
thế giới này
Nếu
có ai
Cùng
tâm này—
Chúng
ta có thể cả đêm
Nói
chuyện trong căn lều nhỏ của ta!
Ryokan
vui sướng khi có khách thăm, và thường gửi các bạn thư
mời bằng thơ:
Nếu
bạn không ngại
Tiếng
vang thung lũng
Và
các ngọn núi đầy sao trời,
Sao
không đi xuyên rặng cây tùng
Và
tới thăm ta?
Xuân
tới rồi!
Trân
châu và vàng bạc
Khắp
mọi nơi—
Làm
ơn, làm ơn
Tới
thăm ta.
Các
cành cây sẽ
Dùng
làm củi mùa thu
Vẫn
còn đang nở hoa—
Hãy
gom cỏ đẫm sương
Và
tới thăm ta.
Tối
rồi
Hãy
tới lều của ta—
Các
dế mèn sẽ
Hát
ru bạn, và ta sẽ
Giới
thiệu bạn với rừng đầy trăng.
Khi
có khách tới thăm Ryokan, sư mang ra cho họ một chiếc bát
dùng làm chậu rửa tay. Họ sẽ phản đối, “Đó là bình
bát để ăn của sư mà—chúng tôi không thể dùng nó để
rửa tay mình!”
Ryokan
sẽ trấn an họ, “Không, không. Đây là chiếc bát duy nhất
ta có, và nó dùng được cho cả nấu ăn, bát đựng nước,
và chậu rửa tay. Thêm nữa, ta thấy nó bị ném bỏ trong một
bụi cây. Có ai ném nó đi mà, nhưng ta đã cho nó một nơi
ở mới!”
Bosai
(1752—1826), một học giả nổi tiếng từ kinh đô Edo, từ
lâu muốn gặp vị Thiền sư kỳ dị xứ Echigo. Oâng tìm tới
lều của Ryokan, nhưng khi tới thì Ryokan đang ngồi tọa thiền
ở hàng hiên. Không muốn làm gián đoạn, Bosai chờ cho tới
khi Ryokan hết thời thiền tọa, gần như ba giờ đồng hồ
sau đó. Ryokan rất mực vui mừng được gặp học giả nổi
tiếng này, và họ nói chuyện về thi ca, triết học, và văn
chương suốt cả ngày hôm đó. Khi đêm tới, Ryokan muốn đi
tìm chút rượu sake. Ryokan bảo Bosai chờ một chút, trong khi
sư chạy xuống một nhà nông dưới núi để mượn chút rượu.
Bosai chờ và chờ, nhưng Ryokan không trở lại.
Cuối
cùng, Bosai mới đi tìm sư. Oâng kinh ngạc gặp sư cách lều
có vài trăm thước, ngồi dưới một gốc thông, nhìn mơ mộng
vào trăng rằm.
“Thầy
Ryokan! Thầy ở đâu vậy? Tôi chờ thầy mấy giờ liền! Tôi
nghĩ thầy gặp chuyện bất trắc!”
“Bosai
ơi! Bạn tới vừa đúng lúc. Không phải trăng đẹp tuyệt
vời sao?”
“Vâng,
vâng, nó đẹp tuyệt vời. Nhưng rượu sake đâu?”
“Sake
hả? Ô, vâng, rượu sake. Xin tha lỗi cho tôi. Tôi sẽ lấy
nó ngay mà!” Ryokan chồm dậy và phóng xuống núi, để Bosai
đứng nhìn ngơ ngẩn.
Khi
bạn hữu ghé thăm, Ryokan thường đón bạn bằng thơ:
Sâu
trong rừng,
Vây
phủ giữa mùa đông
Một
lão già như ta—
Ai
sẽ là người đầu tiên tới thăm?
Ta
biết đó sẽ là bạn!
Trong
khi dứt hạt mưa
Ta
đi hái vài
Rau
ngò tây dại
Để
bạn thưởng thức
Trong
khi viếng thăm.
Thật
vô tâm
Cho
các chùm tuyết
Không
chịu rơi
Vào
ngày
Bạn
quý thăm.
Đối
với các bạn sắp chia tay, Ryokan viết:
Hãy
chờ ánh trăng
Trước
khi bạn đi—
Lối
mòn xuống núi
Dầy
đặc những
Hạt
dẻ rơi!
Phủ
dầy sương, lối núi
Đường
sẽ giá lạnh.
Trước
khi bạn rời
Hãy
thử nha
Một
tách cuối rượu ấm?
Ryokan
không phải một nhà khổ hạnh chán đời, tim lạnh cho dù
là đang ở phố chợ hay nơi ẩn cư:
Cả
đêm dài
Trong
gian lều cỏ
Sưởi
ấm bởi nét bút
Chúng
ta nói chuyện và nói chuyện.
Làm
sao ta quên đêm tuyệt diệu đó.
Xuống
lũng sâu để hái phong lan
Mặt
đất phủ đầy sương và giá
Và
mất cả ngày để tìm hoa.
Ta
hốt nhiên nghĩ về một bạn cũ
Cách
biệt nhiều dặm núi sông.
Chúng
ta có bao giờ gặp lại?
Ta
nhìn lên trời xa
Dòng
lệ chảy xuống đôi má.
Cũng
như với Ikkyu và Hakuin, thi ca và thư pháp là trọng tâm Thiền
của Ryokan, và thơ của sư được dùng làm các bài giảng
Phật Giáo kín đáo. Về mặt kỹ thuật, Ryokan bị ảnh hưởng
bởi kinh điển thi ca Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng sư phần
lớn viết những khi nào sư thích và nói chung thì bỏ lơ các
luật về thơ.
Ai
nói thơ ta là thơ?
Thơ
ta không phải thơ.
Sau
khi ngươi biết thơ ta không phải thơ,
Thì
chúng ta có thể bàn về thơ!
Ryokan
cảm thấy thích đặc biệt nhân vật Hàn San (Nhật: Kanzan;
Hoa: Han-shan; Việt: có khi được phiên âm là Hàn Sơn), nhà
thơ Thiền kỳ dị đầy huyền thoại của Thiền Tông Trung
Hoa, thời nhà Đường. (Hàn San cũng được ưa chuộng đặc
biệt bởi Hakuin, người đã viết một bài luận giảng dài
về thơ Hàn San và vẽ vị này thường xuyên trong hội họa.)
Dưới đây là một bài điển hình của Hàn San:
Nhà
ta là hang động, không vật gì bên trong—
Thanh
tịnh và rỗng rang diệu kỳ,
Sáng
tỏ và trong trẻo như mặt trời.
Một
dĩa rau núi là đủ,
Và
một áo vá đủ che thân ta.
Hãy
để thiên ma hiện lên hứa dâng đủ thứ
Ta
đã có Tối Thắng Phật nơi đây rồi!
Ryokan
làm bài thơ sau, cùng phong cách đó:
Về
nhà sau một ngày khất thực;
Rau
thơm đã phủ nơi cửa.
Giờ
đây, một nắm lá đốt chung với củi.
Lặng
lẽ, ta đọc thơ Hàn San,
Bên
tiếng gió thu rít qua mái tranh.
Ta
duỗi thẳng chân và nằm xuống.
Có
gì để lo lắng nữa?
Có
gì để ngờ vực nữa?
Thư
pháp của Ryokan còn được trân quý hơn thơ của sư—vẻ
đẹp tinh tế và nét khác thường quyến rũ trong chữ sư viết,
kết hợp với sự thanh tịnh và nồng ấm hiển lộ trong từng
nét bút dẫn tới một ảnh hưởng, có lẽ, không gì ngang
hàng được trong nghệ thuật Nhật Bản. Thực sự, hiện tượng
những người thưởng ngoạn sành điệu ưa thích thơ và thư
pháp của Ryokan lại mang tính bi hài, vì Ryokan một lần nói
rằng trong vài thứ sư không ưa là “thơ viết bởi một nhà
thơ, và thư pháp viết bởi một nhà thư pháp.”
Ryokan
vẫn liên tục tập luyện thư pháp,
trân trọng viết Thousand Character Classic (Sách Một Ngàn Chữ)
mỗi buổi sáng, và làm đen kịt các tờ giấy tập viết.
Ngay cả trong các chuyến đi khất thực, sư cũng dùng ngón
tay kẻ chữ trên không hay lên mặt cát dưới chân mình. Từ
khi thư pháp của sư được đánh giá cao, đủ thứ loại người
mới tới xin các bản thư pháp của sư:
Ta
cạo đầu, làm Thiền sư,
Mất
nhiều năm tìm Đạo xuyên rừng cỏ rối.
Nhưng
bây giờ, người ta chỉ nói với ta,
“Viết
cho con bài thơ với! Viết cho con bài thơ với!”
Khi
người ta bắt đầu say mê tìm các bức thư pháp của sư chỉ
để trưng bày, trong khi bỏ lơ nội dung Thiền tính, Ryokan
bắt đầu thoái thác. Điều này đã dẫn tới một trận chiến
gài mưu rất buồn cười.
Một
hôm, một thương gia giàu có thèm muốn vài tấm thư pháp của
Ryokan mới nói với nhà sư ngây thơ rằng một họa sĩ nổi
tiếng sắp tới viếng nhà ông. Ông mời Ryokan tới để gặp
họa sĩ, và khi Ryokan tới nhà thương gia, Ryokan được dẫn
vào một phòng lớn trong đó đặc biệt sửa soạn cho tác
phẩm của một bậc thầy: bột mực tươi, thơm, một bộ
cọ tốt nhất, hàng xấp giấy thư pháp. Thương gia mới nói
dối, “Họa sĩ sẽ tới đây sớm. Xin thầy cứ tự do sử
dụng các vật liệu này cho tới khi hoạ sĩ tới.” Đúng
như thương gia đã tính toán, Ryokan không chống cự nổi, và
chẳng bao lâu căn phòng chất đầy các tấm thư pháp của
Ryokan. Khi Ryokan rời khỏi cơn thơ mộng, sư mới nghĩ rằng
thương gia sẽ nổi giận vì sư đã xài hết mực và giấy,
nên sư mới ngượng ngập rời khỏi nhà vị thương gia. Vị
này đã có điều ông muốn.
Trong
một chuyện tương tự, Ryokan được để đơn độc trong một
phòng với các cánh cửa mới dán giấy. Sư bị màu trắng
của giấy mới thu hút, nên cầm bút viết các bài thơ của
Hàn San khắp lên đó. Mặc dù việc này không tính toán trước,
vị chủ nhà rất mực hài lòng và sau đó cho bóc giấy ra
khỏi các khung cửa, và treo vào các cuộn thư pháp.
Ryokan
rất thích hoa, và người bạn Yamada của sư có một ngôi vườn
đầy các hoa mẫu đơn tuyệt diệu. Yamada không để cho ai
chạm tới các cành hoa quý giá này, nhưng một hôm ông
bắt gặp Ryokan, người không thể tự giữ mình lâu hơn, tìm
cách lẻn ra với một cành hoa. Thấy ngay một cơ hội để
xin một số thư pháp từ Ryokan, Yamada mới hô lên, “Cho dù
thầy là một Thiền sư, thầy cũng không thể thoát đi với
nó!”
Yamada
dẫn nhà sư Ryokan đang mắc cỡ ra giao cho viên cảnh sát trong
làng, và để giam sư trong một căn phòng nhỏ. Yamada mới vẽ
phác thảo cảnh sư Ryokan trộm hoa mẫu đơn và nói với sư.
“Hãy nghe đây, sư trộm hoa! Tôi sẽ để sư đi nếu sư vẽ
một bài viết bên phác thảo này.” Ryokan viết một cách
ân hận:
Ryokan
bị bắt
Quả
tang
Đang
trộm hoa.
Giờ
thì mọi người
Sẽ
luôn luôn biết thế.
Một
đại tác phẩm thư pháp Nhật Bản cũng được kiếm bằng
phương thức đầy thủ đoạn tương tự. Khi Ryokan tới gần
một nhóm trẻ con đang làm diều, các em khóc lên, “Ryokan!
Ryokan! Xin thầy viết cái gì lên đi, để làm cho diều của
tụi con bay!” Ryokan suy nghĩ chút xíu, rồi viết lên tờ giấy
bản mà các em đưa cho sư “Trời—Lên—Gió—Lớn.”
Vẻ
đẹp của bốn chữ này—trong các mẫu tự đơn giản nhất
của ngôn ngữ Nhật mà tất cả trẻ em đều biết—được
viết một cách hồn nhiên với cây bút vay mượn, lên tờ
giấy đặt trên mặt đất, thì không có thể mô tả được,
và tác phẩm này trở thành một bảo vật thật sự. Nhưng
thực sự, trẻ con đã bày trò xin là do một người hàng xóm
thông minh xúi giục.
Dù
vậy, trong nhiều trường hợp, Ryokan đã chơi gác cơ. Một
lần, Ryokan bị gạt lên lầu của một căn nhà lớn, và bị
kẹt nơi đó khi gia chủ rút thang ra. Họ mới nói với tù
nhân, “Tụi con sẽ không để thầy xuống, cho tới khi thầy
viết một số thư pháp cho tụi con.”
Ryokan
nói, “Tốt lắm.” Sư mới viết ào ạt mấy tấm thư pháp,
cầm lên cho họ xem, và họ mới đặt thang vào lại. Nét viết
rất khó đọc, nhưng sau đó họ mới thấy là tất cả các
tấm đều viết cùng một câu: “Không có thang, ta không có
chân.”
Trong
một hoàn cảnh tương tự, khi Ryokan gặp một trận mưa lớn
và cần nơi núp mưa, sư bị buộc phải viết chữ lên nhiều
chiếc quạt. Một chiếc quạt ghi chữ, “Khi trời mưa, Ryokan
rất buồn.”
Một
trường hợp khác, một vị sư bạn mang một số giấy tới
cho Ryokan và nói, “Người ta nói thư pháp của sư không đẹp
như trước kia, bởi vì sư không thực tập đủ. Đây, sư
có thể thực tập trên giấy này.” Ryokan viết nguệch ngoạc
lên, “Đường ngọt, thuốc đắng.”
Ryokan
một lần vẽ một đầu lâu, một chủ đề được ưa chuộng
của các họa sĩ Thiền, cho một nhà sư bạn. Vị sư này muốn
Ryokan viết thêm vào mấy chữ, nhưng Ryokan nghĩ tấm tranh thế
là đủ. Nhưng vị sư cứ nài nỉ, đòi Ryokan phải viết chữ
gì đó mỗi lần sư ghé thăm. Cuối cùng, Ryokan mới viết
lên dòng chữ: “Hôm nay, Ryokan đã viết chút gì.”
Một
lần, sau một mùa đông dài giam hãm, Ryokan được bác thợ
hớt tóc cạo phân nửa chiếc đầu bờm xờm, và rồi đòi
“tiền chuộc” để cạo phân nửa còn lại: một mẫu thư
pháp của Ryokan. Ryokan mới viết tên một vị thần của Thần
Đạo. Loại kẻ chữ này dùng như một lá bùa may mắn, nên
bác thợ cạo mới gắn vào cuộn tre và treo trong nhà. Một
hôm, một người bạn nói, “Thiếu một mẫu tự trong tên
vị thần này.” Tình hình thiếu chữ này làm hỏng hiệu
quả thư pháp dùng như lá bùa may mắn, nên bác thợ cạo mới
tìm tới Ryokan, thì mới nghe đáp, “Thì ngươi làm thiếu
cho ta, nên ta mới làm thiếu cho ngươi. Còn như bà già tử
tế dưới phố kia cứ luôn luôn cho ta thêm bánh, nên bức
thư pháp ta cho bà cụ có thêm mẫu tự khác nữa trong đó!”
Ryokan
yêu thích chơi môn cờ Go, nhưng sư không muốn thua, điều
rất là bất hạnh vì sư không phải cao thủ. Một lần, sau
một ván cờ thua suýt soát, sư muốn đấu lại, và bấy giờ
đối thủ mới nói, “Chỉ [đấu lại] khi nào thầy hứa
cho con một bức thư pháp mỗi lần thầy thua cờ.” Ryokan
do dự đồng ý, nhưng sư lại cứ thua hoài thôi. Đối thủ
của sư mong đợi thắng nhiều giải thưởng thư pháp đầy
Thiền ngữ, nhưng tất cả những gì kiếm được lần này
chỉ là các tấm sư viết:
Hái
các quả hồng vàng—
Hai
hòn dái ta lạnh cóng
Vì
gió thu.
Ryokan
thường vô ý bỏ sót một số chữ khi sư viết các bài thơ
dài hay trích dẫn từ trí nhớ, và một lần có người than
phiền về điều này. Ryokan đáp, “Bất kỳ ai có thể đọc
thư pháp của ta đều có thể dễ dàng kiếm ra chữ bị sót;
còn những ai không đọc được thì họ không thấy bị thiếu
chữ nào!”
Một
người bạn của Ryokan xin một tấm thư pháp để mang may mắn
và thịnh vượng cho gia đình ông. Ryokan viết một chữ “Shi”
đơn độc lên một tấm giấy khổ lớn. Người bạn hỏi,
“Thế là nghĩa gì?” Như gợi lại công án của Hakuin, sư
Ryokan trả lời, “Tử. Sự chết. Khi người ta cứ nghĩ hoài
về sự chết, họ không hoang phí thì giờ hay tiền bạc gì
nữa.”
Một
lần, chủ một tiệm nước tương ở Nagaoka đi một chuyến
đường dài tới căn lều của Ryokan với thỉnh cầu đặc
biệt. Tấm bảng hiệu trước tiệm của ông được kẻ chữ
quá xấu, và người chủ thấy đó là lý do làm khách không
vào tiệm ông. Ryokan có sẽ giúp người này bằng cách viết
chữ cho tấm bảng hiệu mới? Ryokan đồng ý và viết lên
“Giấm—Nước Tương—Joshuya.” Người chủ tiệm cực kỳ
vui thích và hãnh diện trưng bảng hiệu khi về lại. Vài ngày
sau, Bosa