ĐIỀU
GIÁC NGỘ 8
CHÁNH
VĂN:
Đệ
bát giác tri:
Sanh
tử xí nhiên.
Khổ
não vô lượng,
Phát
đại thừa tâm,
Phổ
tế nhất thiết,
Nguyện
đại chúng sanh,
Thọ
vô lượng khổ,
Linh
chư chúng sanh,
Tất
cánh đại lạc.
DỊCH:
Điều
thứ tám lại nên giác ngộ:
Tử
sanh hoài đau khổ vô cùng.
Phát
tâm dõng mãnh đại hùng,
Quyết
lòng độ hết đồng chung Niết-bàn.
Thà
mình chịu khổ muôn vàn,
Thay
cho tất cả an nhàn thảnh thơi.
Mọi
người đều được vui tươi,
Đến
bờ giác ngộ rạng ngời hào quang.
GIẢNG:
Đệ
bát giác tri:
Sanh
tử xí nhiên.
Khổ
não vô lượng,
Phát
đại thừa tâm,
Phổ
tế nhất thiết.
Điều
giác ngộ thứ tám, Phật dạy việc sanh tử của chúng sanh
quá nhiều, liên tục không dứt, nên sự khổ não không thể
nào kể hết được, mỗi lần chết đi sanh lại là chịu
nhiều khổ đau. Hiện tại chúng ta đang mang thân này, là đã
trải qua vô lượng kiếp bỏ thân rồi mang thân. Như vậy
thì sự khổ não không thể tính kể. Quí vị thử xét lại
xem, như ở trước đã nói, chỉ một đời này thôi chúng
ta cũng đã chịu nhiều đau khổ, huống là trải qua nhiều
đời. Khi lọt lòng mẹ mở mắt chào đời cất tiếng khóc
vang là một lần khổ, rồi lớn dần, mỗi khi biết lật biết
bò, biết ngồi biết đi… là ấm đầu nhuốm bệnh… Khi
lớn khôn đi học hay đi làm ăn xa, mỗi lần xa cách là mỗi
lần nhớ thương đau khổ. Lại mỗi lần buồn lo, sợ hãi,
giận ghét là mỗi lần đau khổ. Lại nữa, mỗi lần yếu
đau bệnh hoạn hay chết chóc của người thân hoặc của mình
là mỗi lần đau khổ… Một đời người chuyện buồn lo
thương ghét giận hờn… xảy ra không biết bao nhiêu lần,
không thể tính hết được. Như vậy vô lượng vô số kiếp
niềm đau nỗi khổ của chúng sanh làm sao tính đếm được!
Chúng
sanh vì mê muội hiện sống trong đau khổ lại tưởng là vui,
cứ đắm mình trong đau khổ. Chết đi sanh lại là khổ mà
có ai biết chán biết sợ! Sống trong đau khổ mà nghe nói
chết là không ưng. Ai cũng muốn cho mình được sống lâu.
Nhưng thử hỏi sống để làm gì? Đa số người đời mong
sống lâu để thọ hưởng ngũ dục, chớ không biết nương
nhờ mạng sống để tu, để giải quyết cái khổ sanh tử
luân hồi. Nhiều người lầm tưởng người tu do chán đời
sợ khổ, nên trốn vô chùa để ẩn dương nương Phật, tránh
không còn thấy không còn bị khổ nữa. Người tu với tâm
niệm như thế thì tu không tiến bộ, không lợi ích. Người
tu cần phải có trí tuệ, trước là phản tỉnh phá trừ vô
minh phiền não tự tâm, sau đó phát tâm Đại thừa làm lợi
ích cho tất cả chúng sanh. Phát tâm Đại thừa làm lợi ích
cho tất cả chúng sanh bằng cách nào? Nguyện thay chúng sanh
chịu vô lượng khổ. Giả sử có người phạm pháp bị tội,
chính quyền đang truy nã tội phạm. Lúc đó có người phát
tâm ra nhận tội thế cho kẻ phạm pháp, chính quyền bắt
người nhận tội hành hình chớ không bắt người phạm pháp.
Đó là trường hợp thay chúng sanh chịu khổ. Tuy nhiên, ở
đời có mấy ai tốt bụng như thế. Giả sử bị đổ tội
thì lại kêu oan không nhận tội. Như vậy với tâm niệm của
chúng sanh, ai cũng muốn cho bản ngã mình được sung sướng,
luôn bảo vệ cho bản ngã được an ổn, chớ không ai chịu
khổ thế cho ai, ngoại trừ hàng Bồ-tát. Song Bồ-tát thay
chúng sanh chịu khổ như thế nào?
Trước
tôi giải thích những việc của chúng sanh và sự đau khổ
của sanh tử. Sau đó mới nói đến thay chúng sanh chịu khổ
của Bồ-tát.
Trong
kinh có ghi lại đoạn Phật nói về tương lai:
“…
Qua thời kỳ kiếp giảm, sẽ tới thời kỳ kiếp tăng. Khi
tuổi thọ con người tăng lên đến tám mươi bốn ngàn tuổi
thì Phật Di-lặc ra đời. Khi Phật Di-lặc ra đời thì có
một vị Chuyển Luân Thánh vương cũng ra đời cai trị thiên
hạ bằng chánh pháp. Bấy giờ dân chúng được an cư lạc
nghiệp sống đời thái bình. Khi nghe Phật nói như vậy, một
vị
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, con nguyện tu cho đến khi đức Phật Di-lặc ra đời,
con sẽ làm vị Chuyển Luân Thánh vương đó, để đem giáo
pháp của Phật ra giáo hóa chúng sanh.
Đức
Phật bèn duỗi ngón tay xuống đất, khơi một chút phân trâu
(tập tục Ấn Độ thường dùng phân trâu để tráng nền
nhà), Ngài đưa ngón tay có dính phân trâu lên, hỏi đại chúng:
- Ngón
tay ta có dính chút phân trâu là dơ hay sạch?
- Bạch
Thế Tôn, dơ.
- Như
vậy đáng bỏ hay đáng giữ?
- Đáng
bỏ.
Phật
dạy: Một chút phân trâu dính trên đầu móng tay còn chán
sợ phải bỏ, huống nữa là nhiều. Cũng thế, mỗi một lần
sanh tử là mỗi một lần khổ đau nhơ nhớp. Nhơ nhớp gấp
mấy lần chút phân trâu này mà ông không biết chán sợ, lại
muốn sanh tử nhiều lần, chờ chừng đó để làm Chuyển
Luân Thánh vương có phải là ngu si không?”
Đức
Phật chỉ cho chúng ta thấy rõ một lần sanh tử là chịu
vô số khổ não. Vì vậy, mà phải biết đặt vấn đề: Làm
sao giải quyết việc sanh tử của mình cho xong, để rồi còn
giúp người khác giải quyết sanh tử của họ nữa. Khi đã
được nghe kinh sớm giác ngộ, mà cứ quan niệm rằng: “thôi
mình an phận, cứ lo làm phước lành, mong cầu đời sau được
giàu sang sung sướng, hưởng phước báo ở cõi trời cõi người…”
người quan niệm như thế là không có tâm muốn thoát ly khổ
sanh tử luân hồi, vì khi hưởng hết phước thì sẽ bị đọa.
Thế nên người trí phải tỉnh giác, thấy rõ sanh tử là
nỗi khổ lớn cần phải thoát ra, chớ có lầm tưởng sống
đây là khỏe mạnh là hạnh phúc, rồi không chịu tu hành
cứ đắm chìm mãi trong đó.
Ở
đây Phật chỉ cho chúng ta thấy vòng sanh tử liên tục, sự
khổ não không thể nào đo lường hết được, để chúng
ta phát tâm cần cầu thoát ra khỏi vòng khổ não đó và thay
chúng sanh chịu khổ.
Thay
chúng sanh chịu khổ, không phải thấy người khuân vác gánh
gồng ngoài phố ngoài đồng nặng nhọc, chúng ta đến đó
xin gánh giùm cho họ. Nếu thay như thế thì chúng ta chỉ thay
được vài người thôi, còn bao nhiêu người khác khổ cực
ai thay cho họ? Ít người gánh gồng khuân vác nặng nhọc,
chúng ta thế được, còn khổ vì bệnh hoạn phiền não, chết
chóc thì làm sao thế được? Tất cả bệnh như tim, gan, phổi,
ruột… ai đau người ấy phải chịu. Hoặc buồn rầu, lo
sợ, giận tức… ai phiền não thì người đó mang. Hay chết
chóc, dù con cũng không thế cho cha được, vợ cũng không thế
cho chồng được… Chỉ thay bằng cách đem lời Phật dạy,
phá mê đánh thức cho người khổ đau tỉnh giác, hết mê
lầm, không tạo nghiệp ác để thọ quả khổ, và không còn
đi trong luân hồi sanh tử nữa. Song, đem lời Phật dạy ra
nói suông để người nghe suông chưa được, mà tự mình phải
chịu cực khổ nhọc nhằn, thức khuya dậy sớm để học
để tu, tìm cầu cho ra lý đạo, rồi đem đạo lý được
giác ngộ ra giảng giải cho mọi người nghe, và hướng dẫn
cho họ tu hành khiến họ giác ngộ, thoát vòng luân hồi sanh
tử. Thay cái khổ cho chúng sanh là thay như thế. Khi xưa, Thái
tử Sĩ-đạt-ta (Siddhàta) giác ngộ lý vô thường sanh già
bệnh chết khổ đau của kiếp người, Ngài liền bỏ cung
vàng điện ngọc, đi tu để tìm một lối thoát, trước tự
cứu mình sau cứu độ chúng sanh, vì Ngài thấy rõ mình cũng
đang chìm đắm trong sanh tử khổ đau cần phải thoát ra trước,
rồi mới có thể cứu người thoát ra sau.
Quí
Phật tử nghe Phật dạy thân chúng ta không thật, chỉ là
tạm bợ vô thường là khổ, không, vô ngã, nên sự còn mất
của thân này không còn là vấn đề quan trọng nữa, nhờ
vậy mà bớt chấp về thân. Bớt chấp thân thì bớt khổ
về thân. Ví dụ, từ trước có người bị tai nạn hay đau
bệnh thì khóc sướt mướt kêu than thảm thiết. Sau, biết
tu hành có tỉnh giác tuy gặp tai họa, ốm đau hay chết chóc,
họ không còn lo sợ buồn khổ khóc lóc nữa. Lại, bớt chấp
tâm là bớt khổ về tâm. Chẳng hạn người bị mạ lị chỉ
trích, khi chưa biết tu thì tự ái buồn phiền khổ sở, nhưng
khi biết tu thì tự xét lại mình xem có vấp phải lỗi lầm
ấy không? Nếu xét thấy có lỗi thì sửa chữa, nếu không
có lỗi thì bỏ qua, lòng an ổn, lo tiến tu. Sở dĩ lâu nay
chúng ta khổ nhiều là do chúng ta mê mờ thấy biết sai lầm,
cùng một sự việc xảy ra mà khi mê thì khổ, lúc tỉnh thì
an, có khác nhau. Ngay trong cuộc sống này, người giác ngộ
biết tu đã làm vơi đi mọi sự khổ đau rồi. Như thế, Phật
không cứu khổ cho chúng sanh là gì? Tuy nhiên, nói Phật cứu
chúng ta, nhưng kỳ thật mình tự cứu lấy mình. Vì nhờ Phật
chỉ dạy pháp tu, chúng ta học hiểu và ứng dụng vào cuộc
sống, nên bớt khổ an vui, tức là đã tự cứu lấy mình.
Như vậy là mỗi người đều có sẵn Phật của mình, nên
ở bất cứ trường hợp nào cũng được an ổn. Như trường
hợp một Phật tử người Việt gốc Hoa ở Vĩnh Long, giỏi
chữ Hán, thâm hiểu Phật pháp. Trước kia Sư cụ Huệ Quang
có tặng cho Phật tử ấy một cuốn kinh Pháp Bảo Đàn, dặn
dò hãy đọc cho kỹ để ứng dụng tu hành. Đạo hữu đọc
mãi gần thuộc lòng. Một hôm công việc làm ăn bất ổn sao
đó, đạo hữu bị bắt nhốt trong khám. Những người cùng
bị giam buồn rầu than oán rên xiết, còn đạo hữu thì nhớ
lời Phật dạy cố gắng tu hành, cứ ngồi thiền hoài, nhờ
lo tu mà không thấy khổ. Chúng ta thấy cùng một hoàn cảnh,
người không biết tu thì đau buồn khổ não, người thâm hiểu
Phật pháp biết tu hành vẫn được an ổn không khổ đau.
Nếu
không vạch rõ ra thì quí Phật tử không hiểu, cứ thắc mắc
kinh nói Phật cứu chúng sanh, sao chúng sanh khổ mà Ngài không
hiện ra để cứu? Chớ thiển cận! Đừng tưởng Phật cứu
là đưa tay kéo mình lên, hoặc bị nhốt trong khám, Phật mở
cửa khám đưa mình ra. Không phải vậy! Phật cứu khổ chúng
sanh là chỉ dạy cho thấy rõ lý vô thường khổ, không, vô
ngã, rồi chúng sanh nương theo lời Phật dạy tu hành, tự
mình thoát khỏi sanh tử khổ đau và cứu giúp người được
hết khổ như mình. Hiểu như vậy mới không lầm phát tâm
Đại thừa, nguyện thay chúng sanh chịu khổ là làm mọi việc
nặng nhọc thế cho mọi người, mà mọi người phải lưu
ý là, chính mình tu cho hết phiền não mê mờ dứt khổ đau,
mới đủ khả năng, đủ sáng suốt hướng dẫn người khác
tu. Nếu tự mình không tu, không hết phiền não vô minh, trí
tuệ chưa sáng, làm sao hướng dẫn người ta tu? Cũng giống
như muốn cứu người sắp chết chìm giữa dòng sông, điều
kiện tất yếu là mình phải biết lội, lội giỏi, có thuyền
bè hoặc phao nổi thì mới cứu được. Ngược lại, nếu
thấy người đang lặn hụp sắp chết chìm giữa dòng sông,
lòng thương xót muốn cứu vớt, mà không biết lội, không
phao nổi, không thuyền bè làm sao cứu? Chỉ thương suông thôi!
Lội
giỏi, thuyền bè, phao nổi, chỉ cho sự tu hành, đoạn dứt
vô minh phiền não, hết khổ đau, trí tuệ sáng suốt, đạo
lực vững vàng. Người như thế mới đủ khả năng tế độ
người đang trầm luân trong sanh tử khổ đau.
Ví
dụ quí vị có bạn bè hay thân nhân gặp tai nạn, hoặc làm
ăn bị thất bại họ đau buồn khổ sở. Quí vị gặp hoàn
cảnh như vậy, cũng buồn rầu khổ não như họ, thử hỏi
quí vị có thể khuyên bảo họ bớt buồn bớt khổ được
không? - Chắc chắn là không. Vì quí vị đâu tỉnh sáng, đâu
có lời chân lẽ thật để khuyên. Chỉ khi nào quí vị tu
giác ngộ giải thoát rồi, gặp hoàn cảnh xuôi ngược thế
nào cũng vẫn an nhiên tự tại, thì mới có thể khuyên họ
được. Như vậy, chúng ta phải tự tạo cho mình một đời
sống an vui sáng suốt tự chủ. Tức là chúng ta lấy trí tuệ
và từ bi làm chiếc bè, làm phao nổi, để chở mình và đưa
người qua bể khổ lên bờ giác ngộ.
Hàng
Bồ-tát phát tâm Đại thừa, muốn cho chúng sanh được an
vui, nên các ngài phải hi sinh chịu đựng mọi gian khổ, khép
mình vào thanh qui giới luật, thức khuya dậy sớm tu hành,
mong cầu sớm được giác ngộ giải thoát để rồi giúp chúng
sanh cũng được giác ngộ giải thoát. Người tu chân chánh
có hai trường hợp xuất gia:
- Trường
hợp thứ nhất: Thấy cuộc đời lắm chuyện nhiễu nhương
đau khổ, sợ khổ mà đi tu. Đi tu để tự cứu mình.
- Trường
hợp thứ hai: Thấy chúng sanh bị trầm luân trong sanh tử khổ
đau không thoát ra được, nên phát tâm đi tu tìm cho ra lối
thoát để cứu độ chúng sanh, đó là hàng Bồ-tát Đại thừa
đi tu. Cũng như người đóng thuyền để cứu vớt người,
chớ không nghĩ đóng thuyền chỉ để chở mình. Nhưng khi
chèo thuyền cứu người bị chết chìm, thì mình đã thoát
chết rồi. Nghĩa là khi phát tâm nghĩ đến sự lợi tha là
mình đã được phần tự lợi rồi. Tức là chăm lo cứu người
là mình đã tự cứu mình vậy.
Trong
kinh Phật có kể lại câu chuyện:
Vào
một kiếp xa xưa, có người thợ săn giết nhiều thú rừng.
Sau khi chết đọa vào địa ngục kéo xe chở vật nặng và
bị đánh đập đau đớn khổ sở. Trong khi bị đánh đập
khổ sở, thợ săn chợt thấy một cây trụ đồng cháy đỏ,
hơi nóng tỏa ra hừng hực, quỉ sứ bắt người ném vào,
họ la khóc kinh khủng. Thấy vậy, thợ săn động lòng thương
xót, phát thệ nguyện: “Tôi xin chịu khổ một mình trong
địa ngục này, để thế cho mọi người, cầu mong mọi người
được thoát ra an ổn, không còn khổ sở nữa.” Ngay sau đó
cảnh khổ của địa ngục không còn đối với người thợ
săn.
Do
tâm từ bi rộng lớn của người thợ săn, nguyện chịu khổ
thế chúng sanh, nên chuyển hóa được cảnh khổ của ông.
Vì vậy nên nói: “Trong lợi tha đã có tự lợi.”
Người
tu hành khi thấy chúng sanh bị khổ, cảm nhận như mình bị
khổ, đó là người đại phát tâm, đại tu hành. Thế nên
khi vì người mà hoan hỉ chịu lao nhọc khốn khó thay cho người,
thì không cảm thấy bực bội khổ não, vì tâm cao thượng
thương người bộc phát mạnh, lấn át mọi ý niệm khổ đau.
Ngược lại người chỉ muốn cho mình được sung sướng an
lành mà bị khổ, thì cảm thấy bực bội khổ não vô cùng.
Khổ nhiều hay khổ ít là do tâm lượng rộng hẹp của con
người mà ra vậy. Ví như người mê mờ, không sáng suốt
làm điều sai quấy lỗi lầm, bị quở trách la rầy nên tự
ái lo buồn, bèn biện hộ bào chữa, không nhận lỗi. Vì thế
chúng bạn nhìn họ với tâm dò xét nghi ngờ. Một người
bên cạnh thấy vậy, đứng ra nhận lỗi thay để đánh tan
sự dò xét nghi ngờ trong chúng. Khi bị khiển trách la rầy,
người nhận lỗi không thấy buồn khổ, lại còn vui, vì họ
có đủ sáng suốt và tự chủ. Quả thật như vậy, khi đã
phát tâm thay thế chịu khổ để cứu độ người, thì tâm
mình thấy vui mà không thấy khổ. Vì niệm từ bi hỉ xả
đã tỏa rộng ra, thì niệm đau khổ đoạn diệt.
Người
tu Phật thường lấy cái khổ của người làm cái khổ của
mình để lo cứu giúp; lấy cái vui của người làm cái vui
của mình, mà không đố kỵ tị hiềm thì thường vui hơn
là khổ. Để thấy rằng khi phát tâm từ bi rộng lớn, thì
tâm niệm ích kỷ khổ đau ngay đó liền tiêu tan, nên hết
khổ. Khi nào mọi người đều mở rộng lòng thương cứu
giúp cho nhau, thì mọi sự khổ trên thế gian này không còn
nữa.
Cho
nên hàng Bồ-tát phát tâm Đại thừa, chỉ vì thấy được
cái khổ thống thiết của sanh tử luân hồi, mà chúng sanh
đang gánh chịu, nên các ngài khởi nguyện đi vào lục đạo
để làm lợi ích cho chúng sanh. Trong kinh nói: “Bồ-tát dĩ
lợi sanh vi bản hoài.” Nghĩa là Bồ-tát lấy việc lợi ích
chúng sanh làm hoài bão chánh, nên các ngài đi từ nơi này
đến chỗ kia, làm tất cả mọi việc, chỉ vì mục đích
là cứu độ cho chúng sanh hết khổ.
Người
biết thương xót chúng sanh, nỗ lực tu học, để giảng giải
cho mọi người thấy rõ cái khổ sanh tử luân hồi, mà chán
sợ không tạo tác nhân trầm luân ấy nữa. Người hiểu và
làm được như vậy, tự mình dứt khổ đau được vui lớn
là giải thoát Niết-bàn. Ở đây không nói riêng hàng Bồ-tát,
mà tất cả mọi người trong chúng ta đều nên phát tâm và
làm như thế.
TÓM
TẮT
CHÁNH
VĂN:
Như
thử bát sự,
Nãi
thị chư Phật,
Bồ-tát
đại nhân,
Chi
sở giác ngộ,
Tinh
tiến hành đạo,
Từ
bi tu tuệ,
Thừa
pháp thân thuyền,
Chí
Niết-bàn ngạn,
Phục
hoàn sanh tử,
Độ
thoát chúng sanh.
Dĩ
tiền bát sự,
Khai
đạo nhất thiết,
Linh
chư chúng sanh,
Giác
sanh tử khổ,
Xả
ly ngũ dục,
Tu
tâm Thánh đạo.
Nhược
Phật đệ tử,
Tụng
thử bát sự,
Ư
niệm niệm trung,
Diệt
vô lượng tội,
Tiến
thú bồ-đề,
Tốc
đăng chánh giác,
Vĩnh
đoạn sanh tử,
Thường
trụ khoái lạc.
DỊCH:
Tám
điều như thế dạy qua,
Chính
hàng Bồ-tát cùng là Thế Tôn,
Đã
từng giác ngộ lẽ chân,
Tiến
tu đạo hạnh vô ngần từ bi.
Đốt
đèn trí tuệ phá si,
Pháp
thân thuyền quí dạo đi Niết-bàn.
Trở
vào sanh tử thanh nhàn,
Chúng
sanh độ thoát an toàn vui lây.
Lại
dùng tám việc trước này,
Mở
đường khai lối dắt dìu chúng sanh.
Khiến
cho hết thảy biết rành,
Tử
sanh khổ não đừng manh chớ mờ.
Xa
lìa năm dục đục lờ,
Tâm
tu đạo Thánh không giờ nào quên.
Nếu
là Phật tử phải nên,
Tám
điều như thế hằng đêm tụng hoài.
Ở
trong mỗi niệm hằng ngày,
Bao
nhiêu tội lỗi diệt rày sạch trơn.
Bồ-đề
hoa báu nhẹ thơm,
Trên
bờ chánh giác gót chân giẫm liền.
Hằng
hà sanh tử lưu linh,
Thường
vui yên ổn tâm tình tiêu tan.
GIẢNG:
Như
thử bát sự,
Nãi
thị chư Phật,
Bồ-tát
đại nhân,
Chi
sở giác ngộ,
Tinh
tiến hành đạo,
Từ
bi tu tuệ,
Thừa
pháp thân thuyền,
Chí
Niết-bàn ngạn.
Chư
Phật và Bồ-tát, hàng đại nhân được giác ngộ là do tinh
tấn tu hành, phát tâm tu hạnh từ bi cứu giúp chúng sanh. Các
ngài luôn luôn thắp lên ngọn đuốc trí tuệ nơi tâm mình,
để phá trừ si mê mờ tối, kết quả là ngộ được Pháp
thân chứng Niết-bàn. Nên nói ngồi thuyền Pháp thân đến
bờ Niết-bàn. Đó là phần thứ nhất, chư Phật và Bồ-tát
y cứ nơi tám điều này, mà tinh tấn tu hành ngộ Pháp thân
chứng Niết-bàn.
Phục
hoàn sanh tử,
Độ
thoát chúng sanh,
Dĩ
tiền bát sự,
Khai
đạo nhất thiết,
Linh
chư chúng sanh,
Giác
sanh tử khổ,
Xả
ly ngũ dục,
Tu
tâm Thánh đạo.
Sau
khi Phật và Bồ-tát đã ngộ Pháp thân chứng Niết-bàn giải
thoát, các ngài khởi bi nguyện trở lại trong sanh tử, để
giáo hóa cứu độ chúng sanh. Tuy cũng lăn lộn trong sanh tử,
nhưng các ngài không vì nghiệp hoặc dẫn dắt, mà vì lòng
từ bi khởi nguyện cứu độ chúng sanh, nên các ngài ra vào
trong sanh tử rất tự tại, không bị phiền não khổ đau bức
bách. Lúc giáo hóa, các ngài cũng dùng tám điều giác ngộ
đã nêu, để mở đường dẫn lối cho chúng sanh thấy rõ
cái khổ của sanh tử luân hồi, để xả bỏ năm món dục
lạc thế gian, lo tu Thánh đạo. Đây là phần thứ hai là phần
giáo hóa chúng sanh của hàng Bồ-tát.
Nhược
Phật đệ tử,
Tụng
thử bát sự,
Ư
niệm niệm trung,
Diệt
vô lượng tội,
Tiến
thú bồ-đề,
Tốc
đăng chánh giác,
Vĩnh
đoạn sanh tử,
Thường
trụ khoái lạc.
Phần
thứ ba nói: Người đệ tử chân chánh của Phật, mỗi niệm
mỗi niệm hằng nhớ tám điều giác ngộ này. Nhờ mỗi niệm
hằng nhớ đến tám điều giác ngộ, mà không nhớ tưởng
điều gì khác, do đó không tạo tác nghiệp nhân ác, nên tội
lỗi theo đó mà dứt. Tại sao? - Vì tâm không còn nghĩ đến
tư lợi, không nghĩ đến điều hại người hại vật. Lúc
nào cũng nhớ nghĩ đến việc tu hành, thường xuyên tỉnh
giác, nghĩ nhớ thương chúng sanh tìm phương thế để cứu
độ. Người sống được như vậy thì sẽ tiến đến quả
Bồ-đề, chóng thành tựu quả Phật. Khi đã đoạn lìa sanh
tử vĩnh viễn thì thường được ở trong cảnh an tịnh vui
vẻ.
Để
quí Phật tử dễ nhớ và nhớ kỹ, tu hành khỏi sợ sai lạc.
Tôi tóm lược lời giảng như sau:
1-
Điều giác ngộ thứ nhất: Thường thấy thân tâm của mình
và sự vật bên ngoài là vô thường không bền chắc không
có thật ngã. Phải biết tâm là gốc sanh ra tội ác, chớ
mê chấp tâm là thật, là ta. Biết vọng tưởng không thật
nên không mê chấp chạy theo nó. Lại cũng biết thân này là
rừng tội lỗi, nên không chấp thân là thật, là ta. Thường
quán xét như thế để xa lìa khổ luân hồi sanh tử.
2-
Điều giác ngộ thứ hai: Nên biết tham cầu nhiều thì khổ
đau cũng lắm. Gốc của luân hồi sanh tử là do tham đắm
ngũ dục thế gian. Vì vậy mà phải bớt tham muốn. Khi tâm
bớt tham cầu ngũ dục thì sẽ được an ổn vui vẻ.
3-
Điều giác ngộ thứ ba: Nên biết người nào dục vọng càng
nhiều thì tội ác càng lớn. Do đó mà phải dứt tâm ham muốn,
không tham cầu ngũ dục. Lúc nào cũng ít muốn biết đủ,
an phận nghèo để gìn giữ đạo đức, phát huy trí tuệ,
lấy trí tuệ làm sự nghiệp, không để tâm đuổi bắt danh
lợi thế gian.
4-
Điều giác ngộ thứ tư: Người lười biếng giải đãi không
đoạn trừ nghiệp ác, tu hạnh lành, thì bị trụy lạc trầm
luân. Vì vậy mà phải tinh tấn tu hành, để phá trừ vô minh
phiền não, hàng phục các thứ ma chướng, ra khỏi ngục tù
ngũ ấm và tam giới.
5-
Điều giác ngộ thứ năm: Phải biết gốc của luân hồi sanh
tử là ngu si. Vì vậy phải học rộng nghe nhiều về Phật
pháp, nhờ thế mà trí tuệ tăng trưởng sâu rộng, có đủ
khả năng, đủ biện tài để giáo hóa chúng sanh.
6-
Điều giác ngộ thứ sáu: Nên biết người nghèo khổ nhiều
hay sanh oán hận, thường kết nhiều duyên ác, vì vậy không
tránh khỏi quả báo khổ đau. Nên người tu phát tâm thương
xót họ, thứ tha cho những lầm lỗi hờn oán không duyên cớ
của họ. Lại còn đem tâm bình đẳng bố thí giúp đỡ họ,
không nhớ lỗi lầm ngày trước mà ghét bỏ họ. Biết và
làm được như vậy, mới là người thực hành đúng theo hạnh
bố thí của Phật và Bồ-tát.
7-
Điều giác ngộ thứ bảy: Biết rõ ngũ dục là tội lỗi
là tai họa. Tuy hiện đời là người thế tục mà biết tránh,
không đắm mê theo ngũ dục, luôn nuôi chí nguyện xuất gia,
muốn gìn giữ giới hạnh nghiêm minh thanh tịnh, sống đời
siêu thoát. Tự làm lợi ích cho mình để rồi khởi lòng từ
cứu độ tất cả chúng sanh.
8-
Điều giác ngộ thứ tám: Phải biết luân hồi sanh tử liên
tục là khổ đau vô cùng vô tận. Nên phát tâm từ bi rộng
lớn, nguyện thay chúng sanh chịu khổ và giúp cho tất cả
được đến chỗ cứu kính an lạc là Niết-bàn giải thoát.
Đó
là tám điều giác ngộ, mà chư Phật, Bồ-tát đã làm và
những người tu Phật chân chánh đang làm. Ai là người muốn
học Phật, tu theo Phật thì phải làm những điều này không
thể bỏ qua được. Tại sao? Vì học Phật là học giác ngộ.
Phàm nói đến học Phật là nói đến đạo lý giác ngộ của
Phật và Bồ-tát đã tu đã giác, chớ không phải học thuộc
lòng kinh nhiều, hay tụng kinh giỏi mà không tu không giác,
rồi cho rằng mình học Phật. Nhớ là không phải như vậy!
Giác ngộ những gì? - Giác ngộ từng phần như trước đã
kể. Thấy rõ thân người và cảnh vật là vô thường, thấy
rõ tham dục nhiều thì khổ đau nhiều… Thấy rõ như vậy
là mình đã có mầm giác ngộ, kế đó nhờ trợ duyên thầy
sáng bạn tốt làm thiện hữu tri thức, để tiến đến chỗ
giác ngộ viên mãn.
Đến
đây tôi xin nói rộng ra để quí vị dễ hiểu dễ nhớ, không
lầm. Trong kinh này Phật chỉ nói một chiều, chê thân tâm
là vô thường, vô ngã, khổ đau, gốc tội lỗi. Nhưng, ở
chỗ khác Phật lại nói có thân này là do tích chứa nhiều
phước đức mà được. Thế nên làm người phải luôn tự
vấn: “Được thân này, sống để làm gì?” Có người đã
tự vấn mình, nhưng không giải đáp được. Lại cũng có
người không biết mình có thân này, sống để làm gì? Phật
dạy được thân người là khó, thế nên phải biết lợi
dụng thân này để tiến tu cho được giác ngộ giải thoát,
sau dẫn dắt chúng sanh từ chỗ mê mờ đến chỗ giác ngộ,
từ chỗ tội lỗi đến chỗ an vui.
Phật
dụ người đi biển bị chìm thuyền, không có phao nổi, sóng
dồi gió dập, trồi lên hụp xuống mệt lả, bỗng vớ được
khúc gỗ mục đang nổi trên mặt biển. Khi ôm khúc gỗ mục,
người ấy biết nó là gỗ mục đang trôi nổi, rồi sẽ hư
hoại không lâu. Song, người ấy biết rằng mình đang cần
nương nó, để lội vào bờ, khỏi bị chết chìm. Khúc gỗ
mục ấy, lúc bấy giờ đối với người sắp chết đuối
thật là hữu ích, vì nhờ nó mà khỏi chết chìm. Như vậy,
mục đích của người dùng khúc gỗ mục không phải để
khoe khoang, không phải để tô điểm sơn phết cho đẹp, không
phải để quí trọng như một bảo vật, mà khúc gỗ là vật
hữu dụng, đang cần để đưa người vào bờ.
Cũng
vậy, mọi người cần phải thấy đúng ý nghĩa về thân này.
Biết thân này là vô thường tạm bợ không chấp chặt nó,
không quí thân này hơn thân khác. Không vì nó mà tạo nghiệp
ác, cũng không vì thấy nó vô thường tạm bợ mà bi quan than
thở, ngồi chờ chết. Biết thân này vô thường tạm bợ,
phải cấp thiết lợi dụng thân này làm tất cả mọi việc
hữu ích. Lo tu hành để mình được giác ngộ giải thoát
mọi khổ đau và giúp người cũng được giác ngộ giải thoát
khổ đau hoàn toàn.
Người
sống được như vậy là người giác ngộ, biết đúng ý nghĩa
về thân này và có thái độ sống hợp đạo. Đó là điều
căn bản của người tu theo đạo Phật.