ĐIỀU
GIÁC NGỘ 6
CHÁNH
VĂN:
Đệ
lục giác tri:
Bần
khổ đa oán,
Hoạnh
kết ác duyên,
Bồ-tát
bố thí,
Đẳng
niệm oán thân,
Bất
niệm cựu ác,
Bất
tắng ác nhân.
DỊCH:
Điều
thứ sáu phải nên giác biết:
Người
khổ nghèo lắm kết oán hờn.
Không
duyên tạo ác đâu sờn,
Bồ-tát
bố thí, ai hơn kẻ này.
Lòng
không còn thấy kia đây,
Ít
khi nhớ đến buồn gây thuở nào.
Dù
người làm ác biết bao,
Một
lòng thương xót, khổ đau cứu giùm.
GIẢNG:
Đệ
lục giác tri:
Bần
khổ đa oán,
Hoạnh
kết ác duyên.
Điều
giác ngộ thứ sáu, Phật dạy Bồ-tát khi làm việc lợi tha
phải biết tâm bệnh của chúng sanh là quá nghèo khổ nên
hay oán hận, hay kết nhiều duyên ác. Phàm người nghèo khổ
có nhiều oán hận là vì thiếu thốn vật chất, lúc nào cũng
bị những điều bất như ý bức bách ép ngặt, không bực
dọc với người ngoài thì bực bội trong gia đình. Nếu có
ai động chạm tới là họ quạu quọ nổi sân giận làm hung
làm dữ. Nhất là người không biết tu, không thông lý nhân
quả, khi lâm vào cảnh nghèo khổ đói cơm rách áo thì oán
trời trách đất. Thấy người giàu có hơn mình là sanh tâm
đố kỵ, thấy người quyền quí hơn mình là sanh tâm oán
ghét, lúc nào cũng có mặc cảm không tốt với người hơn
mình; mặc dù người quyền quí giàu có biết tu, không hề
khinh chê hay làm phiền lòng họ mà họ vẫn ghét. Vì họ cảm
thấy họ khốn khổ đủ điều, còn người giàu sang quyền
quí sung sướng đủ cách. Do mặc cảm không tốt đó, không
duyên cớ gì mà cấu kết duyên ác xấu, gây kết oan trái
với người. Vì vậy mà người nghèo học đạo khó, ngược
lại người đủ ăn đủ mặc ít bị những bực bội ép ngặt
thì dễ tu.
Là
Phật tử đã học Phật pháp, thấu suốt lý nhân quả, nếu
hiện tại lâm vào hoàn cảnh nghèo khổ, hiểu rằng mình trước
đã gieo nhân keo kiệt bỏn sẻn, không biết giúp đỡ ai, lại
thêm tham lấy của người. Đã lỡ gieo nhân xấu nên ngày
nay nghèo khó, vui chịu không oán trách than van, nỗ lực xả
bỏ tâm keo kiệt bỏn sẻn, chuyển nghiệp xấu thành nghiệp
tốt. Cố gắng phát triển hạnh lành phát tâm bố thí giúp
đỡ mọi người, đó là đoạn cái nhân nghèo khổ, sẽ được
giàu có an vui về sau.
Có
nhiều Phật tử than nghèo, cơm không đủ no, áo không đủ
mặc, của cải vật chất không có, lấy gì để bố thí?
Quí vị nghiệm lại xem, trong đời này có ai nghèo đến nỗi
không dư vài ba hột cơm để bố thí cho kiến ăn, hoặc không
dư một mảnh vải để băng bó vết thương cho người bị
nạn! Chắc chắn ai cũng có những món tối thiểu này. Tu không
phải đợi có tiền nhiều bố thí cúng chùa mới là làm phước,
chúng ta biết thương người, nghĩ đến người, tùy theo khả
năng, phương tiện sẵn có của mình mà giúp đỡ người.
Chẳng hạn nhường chỗ ngồi cho người già yếu khi xe chật,
phụ giúp người đi đường gánh bưng quá nặng… Như vậy
là chúng ta chuyển đổi tâm niệm keo kiệt bỏn sẻn thành
tâm bố thí lợi tha, chuyển đổi hành động xấu ác thành
lương thiện làm lợi ích cho người vật. Người nghèo mà
sống như thế thì đâu có kết duyên ác gây oán hận với
ai. Ngược lại, cứ khư khư ôm ấp tâm niệm xấu xa oán hờn,
đã khổ lại chồng chất thêm khổ. Thế nên người Phật
tử nghèo hiểu rõ lý nhân quả, phải khéo tu để chuyển
đổi hoàn cảnh nghèo nàn đau khổ của mình, trở thành an
vui sung sướng trong hiện tại và mai sau.
Ở
trước Phật chỉ cho biết nhân luân hồi sanh tử là vô minh.
Đến đây Phật dạy gốc nghèo khổ là keo kiệt bỏn sẻn,
tham lam lấy của người. Phải nỗ lực cố gắng tu để phá
trừ nó.
Bồ-tát
bố thí,
Đẳng
niệm oán thân,
Bất
niệm cựu ác,
Bất
tắng ác nhân.
Do
vì người nghèo khổ hay có tâm bệnh oán hờn, tạo nhiều
nghiệp ác, nên Phật dạy Bồ-tát khi làm việc lợi tha, gặp
người nghèo khổ như đã nói thì phải thông cảm cho họ.
Nếu họ lỡ kết oán gây hờn thì Bồ-tát hoan hỉ tha thứ
và đem lòng từ bi bình đẳng mà đối xử, không phân biệt
thân sơ. Tùy theo tâm niệm hoàn cảnh sở cầu của họ, biết
họ đang bị khổ ách nào chi phối, đang cần cầu điều gì,
theo đó mà giúp cho phù hợp. Như thế mới có kết quả tốt,
giống như lương y tùy bệnh cho đúng thuốc thì bệnh mau lành.
Cũng
vậy, Tăng Ni hay Phật tử chẳng những thương cái khổ hiện
tại của người bần cùng, mà còn thương cái khổ vị lai
của họ nữa. Tìm hiểu tâm niệm hoàn cảnh của từng hạng
người để giúp đỡ họ. Phật dạy do nghèo khổ mà phần
đông chúng sanh có tâm oán hờn và kết nhiều duyên ác, nên
khi gặp những người có hoàn cảnh như vậy, thì phải phương
tiện giúp cho họ bớt khổ, nghèo thiếu trong hiện tại, sau
đó hướng dẫn cho họ học hiểu đạo lý, biết nhân nào
là ác xấu, phải chịu quả báo khổ đau thì nên tránh, nhân
nào là tốt, cần phải làm để được an vui lợi ích.
Khi
Tăng Ni hay Phật tử ra làm lợi ích cho chúng sanh, luôn nhớ
chúng sanh nghèo khổ, nhiều lòng tham, nhiều oán hờn. Chẳng
hạn đi phát gạo phát tiền, họ lãnh rồi trở lại lãnh
nữa, lãnh nhiều lần như vậy; hoặc họ đến muộn, phẩm
vật chia đã hết họ tức giận chửi mắng. Chúng ta nên thông
cảm và thương họ đang bị nghèo khổ ép ngặt, mất sự
sáng suốt bình tĩnh, tha thứ và an ủi họ mà không buồn
giận.
Phật
lại dạy thêm, Bồ-tát khi bố thí là do lòng từ bi bình đẳng,
đối với kẻ oán người thân đều bố thí ngang nhau, không
nhớ nghĩ những điều ác mà họ đã làm ngày xưa và cũng
không hề ghét bỏ người hung dữ. Việc làm này hơi cao, người
thường khó thực hiện được. Nhưng đó là tinh thần Đại
thừa, nhằm lấy ân báo oán, khởi tâm từ bi hỉ xả, vong
kỷ lợi tha. Nên khi ra làm việc, chúng ta cần phải xem xét
tâm niệm mình có còn vị kỷ không? Có còn thân sơ không?
Có còn nhớ nghĩ đến oán cừu xưa không? Nếu còn thì phải
tiến tu hơn nữa, để chuyển hóa tâm niệm nhỏ hẹp cho xứng
đáng với lời Phật dạy. Vì nếu chúng ta còn vị kỷ thì
không thể nào thực hiện đúng lời Phật dạy. Giả sử có
người giàu có quyền thế lấn áp chúng ta, sau đó họ sa
cơ thất thế nghèo khổ, ngược lại chúng ta được quyền
thế giàu có. Trong một dịp đi bố thí gặp lại người lấn
áp mình ngày xưa, chúng ta không hoan hỉ cho người đó. Như
vậy là chúng ta còn nhớ lỗi xưa của họ, chúng ta còn tâm
vị kỷ hẹp hòi, chưa có tâm hỉ xả. Bồ-tát thì không như
vậy, dù xưa họ có làm khổ các ngài, nay thấy họ khổ,
các ngài vẫn ra tay cứu giúp.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy: “Bố thí cho một trăm
người dữ ăn không bằng bố thí cho một người hiền. Bố
thí cho một ngàn người hiền, không bằng bố thí cho người
giữ năm giới. Bố thí cho mười ngàn người giữ năm giới,
không bằng cúng dường cho một vị Tu-đà-hoàn… Cúng dường
một trăm ức vị Bích-chi Phật không bằng cúng dường một
vị Phật.” Nghĩa là bố thí cho người tu cao chừng nào,
thì có phước nhiều chừng nấy. Song, tại sao kinh này Phật
lại dạy bố thí phải bình đẳng? Đồng là lời Phật dạy
sao có sự mâu thuẫn nhau? Vậy kinh nào dạy đúng với tôn
chỉ của Phật?
Tôi
xin đưa ra một ví dụ để giải thích đoạn này cho quí vị
hết nghi ngờ. Phật tử nào lớn tuổi có con đông khéo dạy
dỗ con thì sẽ thông cảm điều này. Khi con còn nhỏ, quí
vị thường dạy: “Con phải chọn bạn mà chơi, đứa nào
hiền lành siêng học nên thân cận gần gũi, đứa nào hung
dữ biếng nhác nên tránh xa, vì gần nó sẽ nhiễm những thói
hư tật xấu, mà hỏng cả cuộc đời.” Khi con khôn lớn
học hành thành tài, có đức hạnh trí tuệ vững vàng, quí
vị lại khuyên con: “Con hãy coi bạn bè, đứa nào nghèo khó,
kém đạo đức nên tới lui giúp đỡ cho nó được tốt được
vui…” Sở dĩ quí vị khuyên dạy các con như thế, là vì
con quí vị có đủ khả năng tự chủ và làm lợi ích cho
người, góp phần xây dựng cho xã hội được tốt đẹp,
chớ không còn đóng khung bằng cách dạy con phải gần người
hiền người tốt mãi.
Cũng
như thế, người mới tu, tập khí tham sân si phiền não còn
dày, mà sức huân tu còn kém, nên Phật dạy tránh xa người
dữ, gần gũi người trí người hiền để được duyên thuận,
được yên ổn dễ tu dễ tiến. Đến khi phiền não tham sân
si cạn mỏng, đạo lực vững, có đức tự chủ không bị
chi phối bởi nghịch duyên, thì Phật dạy nên giúp đỡ làm
lợi ích mọi người, giúp kẻ dữ người hiền như nhau. Người
mới tu đạo lực non yếu cần bạn lành duyên tốt để tiến,
còn tu lâu có đạo lực, nếu ở trong cảnh thuận hoài sẽ
bị chìm trong ấy không tiến được. Giả sử có người tu
lâu, ăn trên ngồi trước mọi người, Phật tử đến chùa
đều đảnh lễ cúng dường, muốn gì được nấy, tha hồ
hưởng thụ, không gặp khó khăn thử thách nên không biết
mình tu đến đâu? Tuy tu mà không có ai chọc phá nên không
biết sân giận phiền não còn hay hết. Hoặc không có ai bỏ
đói, đâu có biết kham nhẫn cơn đói đến đâu? Vì vậy,
giai đoạn sau của người tu, cần phải có thử thách, để
trắc nghiệm xem tu đã thật sự tiến bộ chưa? Có đối xử
bình đẳng giữa kẻ xấu người tốt, kẻ sơ người thân
chưa?
Thế
nên tu trong cảnh thuận được an ổn thấy có tiến bộ, thì
chưa tin mình đã tiến thật sự, an ổn thật sự. Khi nào
gặp nghịch duyên thử thách mà vẫn thản nhiên an ổn vượt
qua thì mới thật là tiến bộ. Ví dụ tôi tuyên bố tu hạnh
nhẫn nhục, nhưng tôi cứ ở trong cảnh thuận, không có người
đến chửi mắng khi dể, vu oan giá họa, thì làm sao tôi biết
được tâm nhẫn nhục của tôi đến đâu? Người tu khi phát
nguyện tu hạnh nào, cần phải có duyên nghịch để thử thách
cho vượt qua mới thành tựu hạnh tu. Giống như đứa học
trò qua một năm học, cuối năm, chịu sự khảo hạch của
giám khảo, trả lời đúng mới được đậu. Việc tu hành
nói thì dễ, tưởng tượng thì dễ, sống trong thuận cảnh
cũng dễ. Nhưng, đối diện với thử thách, vượt qua một
cách thản nhiên, không bị sân si phiền não làm ô nhiễm mới
thật là khó.
Thế
thường, người đời khi bị chửi mắng, đánh đập, lấn
hiếp thì cho đó là ma quỉ theo phá không cho tu. Ngược lại,
đối với người tu Phật, thấy đó là Bồ-tát nghịch hạnh,
giúp cho mình cái duyên thù thắng để sớm thành tựu viên
mãn công hạnh tu hành. Vậy khi quí vị phát tâm tu, nếu gặp
duyên thuận gần gũi được bạn lành tận tâm giúp đỡ mọi
mặt, thì biết đó là thiện hữu tri thức ở mặt thuận,
chúng ta cũng phải nỗ lực tu tiến, chớ bằng lòng trong cảnh
thuận rồi quên tu. Nếu gặp nghịch duyên, người xấu ác
phá phách làm chướng ngại, thì biết mình đang gặp thiện
hữu tri thức ở mặt nghịch, chúng ta càng cố gắng nỗ lực
vượt qua, không thối chí nản lòng bỏ tu. Đối trước người
giúp đỡ hay làm chướng ngại mình vẫn bình thản, tâm không
chao động, ấy mới là oán thân bình đẳng, khi giúp đỡ
họ thì giúp như nhau tâm không thiên vị. Hiểu như thế, chúng
ta sẽ không thắc mắc khi đọc kinh Pháp Hoa thấy Phật kể
chuyện Đề-bà-đạt-đa trải qua nhiều kiếp về trước,
tạo nhiều duyên nghịch trong đời tu hành của Phật. Sau đó
Phật kết luận Đề-bà-đạt-đa là thiện hữu tri thức bậc
nhất của Ngài, nhờ thiện tri thức Đề-bà-đạt-đa mà Ngài
mau thành tựu Phật quả.
Người
tu mà chỉ mong gặp cảnh thuận, gặp người hiền thì không
biết rõ khả năng tu của mình. Người mong ước như thế
chỉ tu với Phật chớ không tu với chúng sanh. Song, Phật không
cần chúng ta tu với Ngài, vì lạy Phật hoài Ngài cũng không
mừng, chê Phật mãi Ngài cũng không buồn. Thế nên không cần
tu với Phật, mà phải tu với chúng sanh, thì sự tu hành mới
có ý nghĩa. Muốn được như thế, phải luôn nhớ người
chửi mắng gây phiền chướng cho mình, biết đâu là Bồ-tát
thị hiện giúp mình tu tiến.
Chúng
ta không nên tưởng Bồ-tát là những vị từ trên trời giáng
xuống, có hào quang có phép linh, để chúng ta đến đảnh
lễ cầu xin việc này việc nọ. Bồ-tát hiện thân rất thực
tế, có khi lại tầm thường, ở bên cạnh mà chúng ta không
biết. Sách xưa ở Trung Hoa có ghi lại câu chuyện: Tại chùa
Quốc Thanh ở núi Thiên Thai có hai vị Bồ-tát tên Hàn Sơn
và Thập Đắc. Ngài Hàn Sơn không ai biết rõ tông tích. Một
hôm trời lạnh như cắt, Ngài từ trong núi lạnh đi ra, quần
áo rách rưới bẩn thỉu, vô chùa xin ở. Do từ núi lạnh
đi ra, nên Ngài được gọi tên là Hàn Sơn. Còn ngài Thập
Đắc thì do Thiền sư Phong Can đi khất thực về, gặp đứa
bé bị bỏ bên đường bơ vơ, Ngài đem về chùa nhờ nuôi,
đặt tên là Thập Đắc, nghĩa là lượm được. Hai vị sống
trong chùa rất là bần hàn, ăn thì không ngồi trên quả đường
như chúng, lại ra sau bếp lượm cơm dư cơm đổ lọc rửa
lại để ăn. Ngủ thì ngủ ngoài hiên chùa, sống không cần
ai biết đến. Tuy nhiên, các Ngài sống rất vô tư hồn nhiên.
Sau khi Thiền sư Phong Can tịch, quan Tri phủ ở gần chùa bị
bệnh, mộng thấy ngài Phong Can chỉ cho món thuốc, ông uống
lành bệnh, nên ông rất tin tưởng Ngài. Lại một hôm ông
mộng thấy ngài Phong Can bảo ông có muốn đảnh lễ Bồ-tát,
thì đến chùa Quốc Thanh tìm hai ngài Hàn Sơn và Thập Đắc
mà đảnh lễ, hai ngài là Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền thị
hiện. Quan Tri phủ đến chùa tìm, Hòa thượng Trụ trì bất
đắc dĩ cho gọi hai Ngài ra. Tuy thấy hai Ngài ăn mặc lôi
thôi dơ bẩn, thái độ ngây ngô, nhưng ông vẫn đảnh lễ.
Hai Ngài biết tông tích mình đã bại lộ liền cõng nhau chạy
vô núi, mất luôn. Đó là Bồ-tát thật mà mọi người không
nhận ra được. Nên người đời thường ỷ mình khôn lanh,
tranh giành hơn thua, lắm khi phạm tội với Bồ-tát mà không
hay!
Tóm
lại, điều giác ngộ thứ sáu Phật dạy Bồ-tát khi làm việc
lợi tha, phải biết rõ tâm lý hoàn cảnh căn cơ của từng
người, thực hành lòng từ bi bình đẳng, không phân biệt
thân sơ ân oán, tha thứ mọi lỗi lầm cho người, nhất là
thương xót cứu giúp người nghiệp chướng nặng nề tạo
nhiều tội ác.