ĐIỀU
GIÁC NGỘ 4
CHÁNH
VĂN:
Đệ
tứ giác tri:
Giải
đãi trụy lạc,
Thường
hành tinh tấn,
Phá
phiền não ác,
Tồi
phục tứ ma,
Xuất
ấm giới ngục.
DỊCH:
Điều
thứ tư cần nên giác biết:
Kẻ
biếng lười hạ liệt trầm luân.
Thường
tu tinh tấn vui mừng,
Dẹp
trừ phiền não ác quân nhiều đời.
Bốn
ma hàng phục như chơi,
Ngục
tù ấm giới thảnh thơi ra ngoài.
GIẢNG:
Điều
giác ngộ thứ tư là lười biếng giải đãi thì bị sa đọa
trầm luân. Thế nên phải luôn luôn tinh tấn tu hành mới phá
trừ được phiền não nghiệp ác, hàng phục bốn ma, ra khỏi
ngục tù năm ấm và ba cõi.
Thế
nào là giải đãi, thế nào là tinh tấn? Giải đãi là bê
tha lười biếng. Tinh tấn là siêng năng chuyên cần. Ví dụ
người ham mê ngũ dục muốn có nhiều tiền của, chuyên cần
làm việc cả ngày lẫn đêm, không biết lười mỏi, không
biết chán ngán. Người như thế có được xem là tinh tấn
không? - Không. Tại sao siêng năng chuyên cần làm việc cả
ngày mà không phải là người tinh tấn? - Vì người chỉ biết
siêng năng làm cho có nhiều tiền của, để được thỏa mãn
dục lạc thế gian, mà không biết phát huy đức hạnh trí
tuệ, đó chỉ là người giải đãi trụy lạc, chớ không
phải là người tinh tấn. Tinh tấn đúng với tinh thần của
Phật dạy là phải biết dừng và ngăn chận điều xấu, làm
và phát triển điều tốt.
Tứ
chánh cần trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Phật dạy về
tinh tấn như sau:
1-
Điều thiện chưa sanh, phải siêng năng làm cho sanh khởi.
2-
Điều thiện đã sanh, phải cố gắng phát huy cho tăng trưởng.
3-
Điều ác chưa sanh, phải thường kiểm soát canh chừng ngăn
chận không cho sanh khởi.
4-
Điều ác đã sanh, phải cố gắng chặn đứng, diệt trừ
không cho sanh nữa.
Tinh
tấn theo nghĩa vừa nêu, thì người thế gian đắm mê ngũ
dục, dù có siêng năng làm việc cả ngày cả đêm cũng không
thể gọi là tinh tấn. Ngược lại, người tuy suốt ngày không
làm gì hết, mà tâm vừa khởi niệm bất thiện, liền dừng
không cho tiếp tục sanh khởi; khi tâm khởi niệm lành thì
phát huy cho nó thêm lớn mạnh, để làm lợi ích cho mọi người,
đó là người tinh tấn. Nói một cách đơn giản, tinh tấn
là ngăn ngừa không cho thân, khẩu, ý tạo nghiệp ác, mà luôn
khiến cho thân, khẩu, ý hiển phát nghiệp thiện. Giả sử
nếu vì tập quán, chúng ta đã lỡ tạo ác, vi phạm điều
Phật răn cấm, chẳng hạn như ghiền thuốc ghiền rượu,
thì phải nỗ lực bỏ lần lần. Cố gắng bỏ tật hư nết
xấu, dù khó khăn mấy cũng cố gắng trừ bỏ cho kỳ được,
để khép mình trong phạm vi giới luật của Phật chế định,
gìn giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý cho trong sạch, thường nỗ
lực phát triển những hạnh lành, lợi mình lợi người.
Giải
đãi hay tinh tấn đều tùy nơi mình, nếu giải đãi thì bị
trầm luân, còn tinh tấn tu hành thì phá trừ được phiền
não, đoạn dứt nghiệp ác. Phiền não mà Phật dạy đây,
không phải chỉ là nỗi buồn bực ray rứt trong lòng khi gặp
cảnh ngang nghịch trái ý, như mọi người thường nói, mà
là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến… Trong những món vừa
kể, si là phiền não gốc. Do si mê không thấy các pháp đúng
như thật, nên mới tham cầu chấp trước, tham cầu mà không
được thỏa mãn liền nổi sân hận, miệng mắng chửi, tay
chân đánh đập, đấm đá… tạo nhiều nghiệp ác, gây khổ
cho mình và cho người. Người tu hành phải luôn luôn thắp
sáng ngọn đuốc trí tuệ, trí tuệ sáng thì vô minh lui, vô
minh lui thì si mê không còn, thấy các pháp đúng như thật.
Đối với pháp hữu vi biết rõ là pháp vô thường biến hoại,
không bền không thật, không chấp trước đắm nhiễm, không
tạo tác ác nghiệp, ngang đây mọi phiền não khổ đau không
còn.
Thế
thường nói đến ma, thì người đời nghĩ đến hồn ma bóng
quế của người chết hiện lên, bằng những hình bóng cô
gái xõa tóc, le lưỡi, đi hỏng chân khỏi mặt đất… để
nhát phá người sống. Song, ma mà Phật nói ở đây là những
gì làm ngăn ngại phá hoại sự tiến đạo của người tu
hành chân chánh, đại lược có bốn thứ:
1-
Ma phiền não: là tham, sân, si, mạn, nghi… sẵn có nơi mỗi
người. Ví dụ người xuất gia phải sống phạm hạnh theo
giới luật Phật dạy, nhưng vì lòng trần chưa dứt, tham ái
hiện khởi, chạy theo nữ sắc, cởi áo hoàn tục, cưới vợ
sanh con. Đời tu hành ngang đây dở dang lui sụt. Tham mê sắc
dục tự lòng người tu hiện khởi, vì sức huân tu quá yếu
không khắc phục được, nên bị nó làm chướng ngại sự
tu hành, gọi đó là ma tham. Hoặc một Phật tử qui y thọ
năm giới, lý đáng phải giữ tròn, nhưng Phật tử ấy vốn
dĩ đã thích uống rượu, một hôm đi dự tiệc bạn bè mời
ép, lòng tham ăn uống không dừng được, nên uống say túy
lúy. Về nhà khi tỉnh lại thì hối hận mình đã phạm giới,
trách bạn bè phá mình, chớ không nghĩ do lòng tham ăn uống
của mình. Mình tu mà không khắc phục được, xuôi theo nó
nên phá giới mất thanh tịnh. Tu mà bị chướng ngại là tại
con ma tham ăn uống chớ đâu phải tại bạn bè! Bạn bè mời
ép mà mình chế ngự được lòng tham ăn uống, không uống
rượu thì có ai làm gì mình? Lại nữa, người tu lý đáng
là không được sân giận, nhưng một hôm bỗng dưng có một
người tới chùa nói năng gàn dở, chửi bới chúng Tăng, phá
phách trong chùa, vài thầy Tăng khó chịu cũng lớn tiếng nặng
lời lại. Như vậy là con ma sân của các vị ấy hiện. Vì
các thầy tu, đạo lực non yếu không điều phục sân giận
nên bị nó hoành hành, lớn tiếng nặng lời với người ta.
Lại nữa, đa số chúng ta tọa thiền, cốt là để lóng lặng
tâm cho an định tỉnh sáng, nhưng khi lên bồ đoàn ngồi xếp
chân độ mười phút, mười lăm phút thì tâm thần mơ màng
mờ mịt ngủ gà ngủ gật, ngủ như thế cho đến giờ xả
thiền, không gượng được. Khi xả thiền cố ý nằm yên
để ngủ thì không ngủ, vọng tưởng chạy nhảy lung tung…
Hễ cứ lên bồ đoàn tọa thiền là ngủ gục không kềm,
không gượng được. Như thế, có phải do thiếu ngủ mà ngủ
gục không? - Không. Ngủ như thế là do con ma thùy miên nó
phá nó ngăn che, khiến cho sự tu hành của mình bị ngăn ngại
lui sụt. Đó là ma si làm chướng đạo người tu. Và những
ma phiền não khác ngăn ngại người tu cũng thế.
2-
Ma ngũ ấm: đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm món
ngăn che làm cho con người không nhận ra chân lý, không sống
được với trí tuệ, cứ mê mờ tạo nghiệp đi trong luân
hồi sanh tử khổ đau.
- Sắc
ấm: là hình hài thân thể con người do đất, nước, gió,
lửa hòa hợp tạm có. Con người vì mê chấp thân tứ đại
là ngã nên tạo nghiệp đi trong luân hồi sanh tử, không nhận
ra Chân tánh nơi mình.
- Thọ
ấm: là cảm giác sướng khổ vui buồn khi sáu căn tiếp xúc
với sáu trần. Người vì mê chấp cảm giác vui buồn là thật,
nên khi thọ nhận được cảm giác vui, thì cố duy trì gìn
giữ không muốn cho mất. Nhưng cảm thọ vui ấy không bền,
là vô thường, mặc dù cố gìn giữ mà nó vẫn mất, và khi
mất rồi thì buồn khổ. Khi thọ nhận cảm giác khổ thì
không muốn nó tồn tại, song không được, vì nhân xấu đã
gây rồi nên quả khổ phải thọ nhận. Con người vì mê lầm
cố chấp cảm giác vui buồn là thật là ngã, nên tạo nhiều
nghiệp ác trầm luân trong sanh tử, không nhận ra Chân tánh
của chính mình.
- Tưởng
ấm: là cái nhớ nghĩ việc đã qua hay mơ ước việc chưa
tới. Cái mơ ước nhớ nghĩ đó là vô thường không thật.
Con người vì mê lầm, chấp nó là thật là ngã, rồi tạo
nghiệp thọ sanh, nên không nhận ra Chân tánh sẵn có nơi mình.
- Hành
ấm: là ý niệm nghĩ suy chuyển động vận hành tạo tác các
pháp hữu vi. Ý niệm suy tính vốn là vô thường không thật,
con người do mê lầm, chấp nó là thật là ngã, tạo nghiệp
rồi đi trong luân hồi sanh tử, nên không nhận ra Chân tánh
ở chính mình.
- Thức
ấm: là cái biết phân biệt cái này đẹp, cái kia xấu, cái
này hay, cái kia dở. Cái phân biệt đẹp xấu hay dở chợt
khởi rồi mất không thật. Con người vì mê mờ lầm chấp
nó là thật là ngã, nên tạo nghiệp, thọ sanh tử, không nhận
ra Chân tánh sẵn có nơi mình.
Tại
sao gọi sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm
là ma? Đối với Sắc thân tứ đại này, con người mê mờ
chấp nó là thật là ta, nên suốt cả ngày cả đời mải
mê lo vun bồi tô đắp cho nó được no đủ tươi tắn. Có
khi vì lo vun bồi cho thân mà tạo nhiều nghiệp ác, quên đường
đạo đức, không biết tu hành để tiến hóa trên đường
thiện, không nhận ra Chân tánh sáng suốt sẵn có nơi mình,
nên gọi là ma sắc ấm. Tuy nhiên, nếu biết dùng thân này
làm phương tiện tu hành tiến hóa trên đường thiện, nhận
ra Chân tánh sáng suốt nơi mình, làm lợi ích cho mọi người,
thì không gọi là ma.
Phàm
thọ khổ thọ vui đều là ma. Vì khi bị chê trách hay bị
mắng chửi liền nổi giận, khi đã nổi giận thì tâm trí
mê mờ không còn sáng suốt. Hoặc khi được khen được trọng,
sanh kiêu căng ngã mạn, thì tâm trí cũng mê mờ không sáng
suốt. Nên nói thọ lạc hay thọ khổ đều là ma. Tuy nhiên,
ma hay phương tiện đều do nơi mình. Nếu mình mê lầm để
cho nó làm chướng ngại việc tu hành, che khuất Phật tánh,
mất giống trí tuệ, thì đó là ma. Ngược lại, mình biết
lợi dụng nó để tu hành được giác ngộ thì đó không phải
là ma, mà là phương tiện. Tưởng ấm, hành ấm, thức ấm
cũng đều như vậy.
Người
chân chánh tu hành đối với thân năm ấm này, phải khéo sử
dụng để tu hành cho được giác ngộ, đừng để nó biến
thành ma che khuất Phật tánh, mất giống trí tuệ, không giác
ngộ.
3-
Ma chết: là con người sau khi chết thành yêu, thành quỉ, hiện
hình kỳ quái nhát người sống, hoặc làm cho người sống
đau bệnh hay chết. Hoặc người tu hành chân chánh đang tinh
tấn dụng công tu hành tiến bộ, bị vô thường đến chết
đi, làm dở dang đứt đoạn sự tu hành, cũng gọi là ma chết.
4-
Ma trời: là Ma vương và ma chúng ở cõi trời Dục giới, có
khả năng biến hóa làm trở ngại việc tiến đạo của người
tu hành lúc sắp thành đạo. Thái tử Sĩ-đạt-ta lúc sắp
thành đạo, thiên ma hiện hình mỹ nữ, để cám dỗ Ngài
trở lại hưởng dục lạc thế gian, không muốn Ngài thành
Phật. Vì thiên ma muốn ai cũng đắm chìm trong ngũ dục, để
chịu sự thống trị điều khiển của nó, nên khi thấy Thái
tử sắp thành Phật, nó hiện ra để phá, làm chướng ngại
việc thành đạo của Ngài. Lại nữa thiên ma còn lẫn lộn
trong mọi tầng lớp người ngoài xã hội và ngay cả trong
đạo. Nhiều khi nó ở ngay bên cạnh mà mình không hay không
biết. Chẳng hạn người phát tâm tu hành, không ham muốn danh
lợi vật chất nữa chỉ muốn giữ giới thanh tịnh để được
an định giải thoát thôi, nhưng lại có người ở bên cạnh
xúi giục hùn hạp làm ăn cho có tiền của, để tu cho thoải
mái khỏi nợ thí chủ, hoặc xúi giục theo đường tranh danh
đoạt lợi, để hưởng ngũ dục thế gian, đó cũng gọi là
thiên ma. Tóm lại bất cứ ai quyến rũ xúi bảo người tu
tranh danh đoạt lợi, hưởng thọ dục lạc thế gian, đều
là thiên ma. Như vậy, lúc nào và nơi nào bên cạnh chúng ta
cũng đều có thiên ma. Vì thế chúng ta phải thường xuyên
cảnh giác, để đường tu chúng ta không bị thoái bộ. Phật
dạy người tu tinh tấn chẳng những phá được phiền não
ác nghiệp, mà còn tồi phục được bốn ma, thì sẽ ra khỏi
ngục năm ấm và ngục tam giới. Tại sao Phật nói thân năm
ấm này là nhà ngục? - Vì con người lúc nào cũng mê chấp
thân này là thật là ngã, nên Phật tánh bị che khuất, trí
tuệ lu mờ, phiền não bao vây, nghiệp chướng trói buộc,
vì vậy mà nói thân năm ấm là nhà tù.
Tam
giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Cõi chúng
ta đang ở là Dục giới, nên chúng sanh ở cõi này, đa số
đều bị lòng tham muốn ngũ dục lôi cuốn thúc đẩy. Phật
nói: “Tam giới vô an du như hỏa trạch.” Chúng sanh còn ở
trong cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, đều không được an
ổn, giống như đang ở trong nhà lửa vậy. Tại sao? - Vì chúng
sanh ở ba cõi này luôn luôn bị lửa vô thường thiêu đốt,
sanh lên chỗ này rồi tử, sanh lên chỗ kia rồi tử; cứ sanh
tử, tử sanh, lộn đi lộn lại không biết bao nhiêu đời
bao nhiêu kiếp, không bao giờ ra khỏi. Nên nói tam giới là
nhà tù, nhà ngục. Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ nói: Ông Trưởng
giả có một ngôi nhà đang bị lửa cháy lớn, các con ông
đang ở trong nhà mải mê vui chơi, không hề hay biết nhà cháy
và sắp cháy tới thân mình. Ông Trưởng giả thấy đám con
dại khờ, ngu si, lửa cháy mà không biết tìm đường chạy
thoát, cứ mải mê vui chơi. Ông thương xót các con, gọi chúng
ra khỏi nhà, hứa cho xe dê, xe nai, xe trâu. Nghe cha cho xe, các
người con ham, mới chạy ra khỏi nhà và thoát nạn lửa cháy.
Ông Trưởng giả dụ cho đức Phật, nhà cháy dụ cho ba cõi
đang bị lửa vô thường thiêu đốt, con ông Trưởng giả,
dụ cho chúng sanh đang thọ hưởng dục lạc trong ba cõi, mà
không biết ngũ dục là vô thường, cứ mải mê thọ hưởng
không biết tìm đường thoát ra, giống như đang ở trong nhà
tù vậy. Người tu cốt yếu là thoát ra ngoài vòng luân hồi
sanh tử của tam giới, để được tự do tự tại, chớ đâu
phải chỉ quanh quẩn trong tam giới hưởng dục lạc thế gian!
Vì thế mà Phật dạy phải tinh tấn tu hành, để thoát khỏi
nhà năm ấm và nhà tam giới đang trói buộc chúng ta.
Như
vậy, mỗi người chúng ta ai cũng có Phật tánh (Chân tâm)
và ai cũng có ma chướng. Nên trên đường tu hành, chúng ta
phải nỗ lực tinh tấn phá phiền não nghiệp ác, hàng phục
ma chướng, bảo nhậm Phật tánh càng ngày càng tỏ sáng. Chúng
ta biết như vậy rồi, thì cứ ngay nơi tâm mình mà tu hành,
chớ không mong cầu ở ai khác bên ngoài. Muốn thành Phật
thì nuôi lớn tánh Phật ngày càng tỏ sáng càng viên mãn,
kết quả sẽ thành Phật. Nếu muốn thành ma thì trưởng dưỡng
tham sân si… nơi mình càng ngày càng lớn mạnh thì sẽ thành
ma. Thành Phật hay làm ma là do mình, ở đây chúng tôi chỉ
có trách nhiệm chỉ cho quí vị biết điều nào nên làm, điều
nào không nên làm, để quí vị tự tu sửa và nhận được
sự lợi ích trong việc tu hành.