MỤC
LỤC
Lời
đầu sách
Mở
đầu
Điều
giác ngộ 1
Điều
giác ngộ 2
Điều
giác ngộ 3
Điều
giác ngộ 4
Điều
giác ngộ 5
Điều
giác ngộ 6
Điều
giác ngộ 7
Điều
giác ngộ 8
Tóm
tắt
LỜI
ĐẦU SÁCH
Đạo
Phật là đạo giác ngộ, toàn bộ giáo lý của Phật dạy
đều nhằm đánh thức con người sớm được giác ngộ. Mê
lầm là cội nguồn đau khổ, chỉ có giác ngộ mới cứu được
mọi khổ đau của chúng sanh. Để cứu khổ chúng sanh, ngài
An Thế Cao người nước An Tức sang Trung Hoa vào đời Hán
Hoàn Đế ở kinh đô Lạc Dương, trước tiên trích dịch tám
điều giác ngộ biên thành quyển kinh Bát Đại Nhân Giác này.
Chỉ
cần tám điều giác ngộ ở đây, người Phật tử khéo ứng
dụng tu hành sẽ tan biến hết mọi khổ đau và lần bước
tiến lên cấp bậc Bồ-tát cho đến Phật quả. Hiệu dụng
của tám điều giác ngộ quả thật không thể nghĩ bàn, nếu
ai thực tập thực tu sẽ nhận được kết quả không nghi
ngờ. Hàng Phật tử chúng ta chớ thấy quyển kinh mỏng mà
xem thường, phải nghiền ngẫm cho tận tường, phải tu tập
cho thuần thục sẽ đạt được bản nguyện thoát ly sanh tử.
Vì
thấy tính cách tuy đơn giản nhưng quan trọng của quyển kinh,
nên chúng tôi đem ra giảng cho Tăng Ni và Phật tử trước
nhất. Đồng thời muốn Tăng Ni nhớ mãi, chúng tôi dịch thành
văn vần để học mau thuộc.
Hiện
nay các Thiền sinh hợp tác ghi chép lại lời giảng của tôi
để phổ biến cho những bạn đồng tu được cơ hội đọc
lại quyển kinh này. Để tỏ lòng tùy hỉ, tôi xin ghi ít dòng
ở đầu sách.
THÍCH
THANH TỪ
Viết
tại Thiền viện Thường Chiếu
Ngày
27-08-1997
MỞ
ĐẦU
Theo
chương trình học ba năm thì kinh Bát Đại Nhân Giác được
dạy đầu chương trình. Tôi sẽ giảng ngay bản kinh chữ Hán,
do ngài An Thế Cao trích dịch, để cho quí vị mới học Phật
dễ nhận ra yếu chỉ tu hành.
Bát:
Là tám.
Đại
Nhân: Là người lớn. Người lớn mà Phật muốn nói ở đây
là người giác ngộ thấy rõ các pháp đúng như thật, không
còn mê lầm các pháp. Theo đạo Phật, người chưa biết tu
gọi là phàm phu. Người nghe lời Phật dạy, phát tâm tu chứng
từ Sơ quả Tu-đà-hoàn, đến Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán,
thì gọi là Thanh văn. Còn người phát tâm tu Lục độ vạn
hạnh chứng từ Thập tín… lên Sơ địa tiến dần đến
Thập địa, gọi là Bồ-tát. Và khi công hạnh tự giác giác
tha của Bồ-tát đã viên mãn thì thành Phật.
Như
vậy, hàng Bồ-tát, Phật gọi là đại nhân.
Giác:
Là biết, là trí tuệ tối thượng do tu chứng mà thành, thấy
biết đúng lẽ thật, chớ không phải cái biết thiển cận
sai lầm của người thế gian.
Bát
Đại Nhân Giác là tám điều giác ngộ của Phật và Bồ-tát.
Kinh:
Những lời giảng dạy của Phật, được kết tập lại thành
bộ gọi là kinh. Lời Phật dạy vừa phù hợp với chân lý,
vừa thích hợp với căn cơ tâm lượng của chúng sanh, trải
qua ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều đúng. Kinh Phật
nói cốt giáo hóa chúng sanh khiến cho chúng sanh nghe hiểu tin
nhận tu hành, để thấy rõ lẽ thật và được giải thoát.
Kinh
Bát Đại Nhân Giác, do ngài An Thế Cao dịch từ chữ Phạn
ra chữ Hán, vào thời Hậu Hán đời vua Hán Hoàn Đế, niên
hiệu Kiến Hòa năm thứ 2 (148 Tây lịch). Ngài là Thái tử
nước An Tức (Parthie), nay một phần thuộc Ba Tư (Persia) một
phần thuộc A Phú Hãn (Afghanistan). Lúc bấy giờ Phật pháp
từ Ấn Độ truyền sang An Tức rất thịnh hành, Ngài xuất
gia tu học, thông suốt kinh luận. Sau Ngài đem Phật pháp truyền
vào Trung Quốc, và dịch kinh này từ chữ Phạn ra chữ Hán.
Thông
lệ các kinh mở đầu đều có lục chủng chứng tín của
ngài A-nan khi kết tập: Tôi nghe như vầy, một thuở nọ, Phật
ở tại… Nhưng mở đầu kinh Bát Đại Nhân Giác không có
phần này là tại sao? Vì lúc bấy giờ Phật pháp mới truyền
vào Trung Quốc, người học Phật chưa thâm nhập giáo lý nhiều,
nếu để trọn bộ kinh dày cho họ đọc, e không kham đọc
nổi, nên Ngài phương tiện rút từng phần tinh yếu của Phật
pháp trong nhiều bộ kinh mà dịch, phân ra: thứ nhất, thứ
hai, thứ ba… đến thứ tám, tập thành Kinh Bát Đại Nhân
Giác, để cho người mới phát tâm tu học dễ nắm được
những điểm cần yếu trong Phật pháp, rồi sau mới học tiếp
những phần khác sâu rộng hơn. Vì lý do đó, mà kinh Bát Đại
Nhân Giác không có lục chủng chứng tín của ngài A-nan khi
kết tập.
(Thiền
viện Thường Chiếu)
05-12-2007
10:23:15