|
.
BÁT CHÁNH
ĐẠO
Con
Đường Đến Hạnh Phúc
Tác Giả:
Thiền Sư Bhante Henepola Gunaratana
Việt
Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
 |
 |
BƯỚC
8
CHÁNH
ĐỊNH
Chánh
định là bước quan trọng cuối cùng trên con đường đưa
đến hạnh phúc (Bát Chánh Đạo) của Đức Phật. Khi tâm
đã khinh an, định tĩnh, thì những chướng ngại cản trở
hạnh phúc không thể phát khởi. Hơn thế nữa, khi ngồi thiền,
chúng ta có thể trụ tâm định tĩnh trên đối tượng tâm
phát sinh cùng với thức. Định giúp chúng ta phá vỡ được
vẻ bề ngoài giả tạo của các đối tượng này để có
cái thấy rõ ràng về tính vô thường, khổ và vô ngã của
chúng. Với chánh định, ta càng tinh tấn hành thiền,
và chúng ta đạt được nhiều tiến bộ trên đạo lộ.
Thông
thường khi chúng ta nói rằng ai đó đang “định tâm”, ta
muốn chỉ đến bất cứ điều gì từ việc đắm chìm trong
một chương trình truyền hình, đến đăm chiêu trong một ván
cờ, đến hoạch định một tội ác. Nhưng loại định mà
Đức Phật dạy như là một chi phần của Bát Chánh Đạo
có ba đặc tính đặc biệt: thiện, nhất tâm và sử dụng
chánh niệm để phát triển trí tuệ.
Loại
định này không dễ có được. Cũng giống như các khả
năng khác, ta phải tu tập từng bước mới có được. Tâm
phải được rèn luyện. Có thể phải mất từ vài thời tọa
thiền đến vài năm tinh tấn nỗ lực để phát triển loại
định có tính thiện, nhất tâm, và chánh niệm này. Một khi
đã đạt được thiền định này, thiền giả phải tiếp
tục tu tập các bước cho đến khi thiền giả có thể đạt
được định dễ dàng, theo ý muốn.
Từ
lúc đầu, chúng ta đã nói đến sự quan trọng của việc
tìm được một vị thầy tốt để hướng dẫn ta tu tập.
Một vị thầy có thể dành cho ta nhiều sự giúp đỡ lớn
lao khi ta tu tập để phát triển thiền định. Khi ta cố gắng
để hoàn thiện khả năng của mình, nhiều câu hỏi có thể
phát sinh. Nếu không có thầy tốt, thì nguồn hỗ trợ
kế tiếp là những quyển sách thuần về chủ đề này. Hơn
thế nữa, rất khó cho tâm an định đủ để đạt được
thiền định nếu như ta tiếp tục phải đối mặt với những
vấn đề của cuộc sống đời thường mỗi ngày. Chúng tôi
khuyên quý vị hãy dành một khoảng thời gian nào đó để
thực hành thiền định, ví dụ như là suốt một tuần khi
quý vị không bị các bổn phận làm gián đoạn. Dự một
khóa tu chuyên sâu về thiền có thể là cách tốt nhất để
bắt đầu.
THIỀN
ĐỊNH 
Không
phải tất cả các định đều thiện. Thí dụ một chú mèo
đang chờ đợi để bắt mồi, đặt tất cả chú tâm vào
con mồi. Chú mèo có sự chú tâm rất mãnh liệt, nhưng nó
hoàn toàn không thiện. Tâm định thiện thì không có tham,
sân, hay si.
Trong
đời sống thường ngày, chúng ta có thể sử dụng sự chú
tâm cao độ để giải một bài toán, để sửa một chiếc
xe, hay để chuẩn bị cho một món ăn cầu kỳ. Loại chú tâm
này có thể là thiện pháp nếu nó được kích thích bởi
những ý nghĩ thiện như là từ bi, tình thương, hay bi mẫn.
Nó sẽ bất thiện nếu xuất phát từ những trạng thái bất
thiện như tham, sân, hay ác độc.
Các
trạng thái bất thiện, kể cả năm chướng ngại, đều có
mặt trong sự chú tâm hằng ngày của chúng ta, nhiều hơn chính
ta có thể ý thức được. Thí dụ, khi bạn cố gắng để
giải bài toán đố, có thể do bạn bị bám víu vào việc
muốn có điểm cao trong kỳ thi; khi sửa xe, bạn có thể ngại
công việc dơ bẩn; lúc nấu bữa ăn cầu kỳ đó, bạn có
thể suy nghĩ một cách đầy bực tức về một thành viên
trong gia đình, người sẽ được hưởng thụ món ăn đó.
Loại thiền định do Đức Phật dạy không có mặt của các
chướng ngại này.
Khi
ngồi thiền cũng thế, nếu ta đạt định khi có mặt của
bất cứ chướng ngại nào, thì đó cũng là bất thiện. Thí
dụ, bạn có thể phần nào được định khi trải qua chướng
ngại của hôn trầm, thụy miên. Bạn có thể ở trong trạng
thái nửa mê, nửa tĩnh, mơ màng nghĩ đến những điều dễ
chịu. Sau đó bạn có thể ảo tưởng rằng mình đã ngộ
được điều gì lúc tọa thiền. Đó là si, không phải là
thiện định.
Hành
thiền khi tâm đang hờn giận cũng là bất thiện. Bạn có
thể biết việc hành thiền của mình lúc đó đã sai vì bạn
sẽ cảm thấy căng thẳng, lo lắng, kiệt lực. Có thiền
giả còn bị nhức đầu vì đã cố ép tâm trụ vào đối
tượng thiền quán, mặc dầu tâm đang sân hận hay bực bội.
Những lúc như thế, bạn cần thực hành chánh tinh tấn để
chế ngự các chướng ngại đó và để tạo nên một trạng
thái tâm thiện trước khi bắt đầu. Lỗi lầm tệ nhất mà
một thiền giả có thể làm là bỏ thì giờ thiền để nghiền
ngẫm về một nỗi mất mát hay những tâm bất thiện khác.
Dĩ nhiên, đem ý thức chánh niệm đến với các trạng thái
này là thiền minh sát tuệ.
Do
đó bước đầu tiên trong việc thiết lập chánh định là
phải chắc chắn rằng sự thực hành của ta là thiện bằng
cách ngăn chặn các chướng ngại tấn công tâm. Sau đây
là những điều cần thực hiện thêm nếu bạn muốn đạt
được định khi tọa thiền.
•
Trong thời gian ngồi thiền, hãy buông xả tất cả mọi ý
nghĩ bám víu vào hoàn cảnh, tư tưởng, con người, và các
thói quen. Đừng nghĩ đến gia đình, bạn bè, quyến thuộc,
nghề nghiệp, lương bổng, thuế má, sở hữu, hay trách nhiệm.
Hãy tự nhủ: “Ta muốn dành thời gian đặc biệt này để
hoàn thiện bản thân. Ta không muốn ngồi trên gối thiền
này để suy nghĩ về tất cả những điều bình thường ta
vẫn nghĩ. Ta sẽ sử dụng thời gian này thật tốt.”
•
Đừng lo lắng về những điều gì bạn làm còn dang dở, về
những thứ mà bạn đã làm sai, hay về những lỗi mà bạn
có thể phạm với người khác. Hãy nhớ rằng quá khứ
đã qua, và điều gì đã làm, không thể làm lại được.
•
Hãy dành đôi phút để phát triển những ý nghĩ về tình
thương yêu để khiến tâm cảm thấy dễ chịu, sảng khóai
để có thể chú tâm hành thiền. Sau đó hít vào ba hơi thở
sâu.
•
Trụ tâm trên đối tượng thiền quán mà bạn đã chọn như
là hơi thở.
•
Hãy giữ tâm ở giây phút hiện tại.
•
Luôn kiên trì nỗ lực để giữ tâm không tán loạn.
•
Nếu một trong năm chướng ngại có mặt, chế ngự nó bằng
cách sử dụng những phương pháp ta đã học. Vun trồng tâm
thiện đối nghịch với bất cứ chướng ngại nào đang có
mặt. Thí dụ, nếu tham có mặt, thì hãy vun trồng tâm xả.
Hãy để tâm trở nên nhẹ nhàng và trong sáng.
•
Một khi chướng ngại đã được chế ngự, hãy hướng tâm
trở về với đối tượng thiền quán đã được chọn như
là hơi thở.
•
Hãy nhớ, mục đích của thời khóa này là để thực hành
phương pháp thiền. Ở thời điểm này bạn không nên đi vào
chi tiết của những gì bạn đã trải nghiệm, mà chỉ giữ
tâm trụ trên đối tượng thiền quán một cách đầy chánh
niệm.
•
Sau mỗi lần đạt được thiện định, bạn sẽ cảm thấy
dễ dàng hơn và hăng hái lên. Không cần biết tâm định thiện
đó ngắn ngủi hay mong manh, yếu ớt dường nào, chính yếu
là bạn đã đạt được một điều gì đó bằng cách vượt
thắng được những thói quen cũ và chuyển đổi được tâm.
Trong
lúc đang tu tập thiền quán để rèn luyện tâm, ta nên bằng
lòng với bất cứ tầng thiện định nào mà ta có thể đạt
được. Khi ngồi thiền, tâm định tĩnh nạp thêm cho ta năng
lượng, khiến ta cảm thấy thăng bằng và bắt đầu có niềm
tin trong việc hành thiền. Hỷ phát sinh vì tâm định chế
ngự các chướng ngại.
Ngay
chính trong cuộc sống hằng ngày, ta cũng phần nào cần đến
tâm thiện định để có thể sống một cách đạo đức.
Tâm thiện định giúp ta trụ vào những ý nghĩ, lời nói,
và hành động thiện và tránh xa điều bất thiện. Tâm thiện
định giúp ta giải quyết những vấn đề hằng ngày một
cách công bằng, với một trạng thái tâm xả. Điều ngược
lại cũng đúng. Ta có thành công trong việc phát triển tâm
định hay không, tùy thuộc vào một nền đạo đức vững
chắc. Khi cảm nhận của ta về đạo đức tiến bộ hơn,
thì tâm định của ta cũng thế.
Loại
thiền định mà chúng ta đã nhắc đến từ trước cho đến
giờ, có thể gọi “thiện định bình thường.” Loại thiền
định này thì tương đối dễ đạt được. Tuy nhiên, tuệ
giác phát sinh từ thiện định bình thường này cũng có thể
chuyển hóa cuộc sống. Nó giúp bạn tránh xa những ý nghĩ,
lời nói, và hành động bất thiện. Bạn không muốn làm việc
gì có thể cản trở sự giải phóng tâm. Đó là lý do tại
sao Đức Phật nói rằng tâm thiện định bao trùm tất cả
các trạng thái tâm thiện.
Khi
Đức Phật còn là thái tử Siddhattha Gotama, thân phụ của
Ngài, nhà vua, ngăn cản không cho Thái tử thấy bất cứ điều
gì khiến Ngài đi theo con đường tâm linh. Cuối cùng khi Thái
tử nhìn thấy bốn hình ảnh -một người già, một người
bệnh, một xác chết, và một tu sĩ– đó là một bước ngoặc
cho Thái tử. Quán tưởng trên bốn thứ này, Thái tử Siddhattha
đạt đến một trạng thái định. Tuệ tri phát khởi đối
với sự thật về khổ. Vì thế Ngài quyết định không trở
về với cuộc sống đầy dục lạc nơi cung điện của vua
cha mà đi tìm một giải pháp để giải thoát chúng sanh khỏi
đau khổ.
Điều
đó cũng có thể đúng đối với chúng ta. Khi ta quán sát sự
vật với tâm thiện định, thì những thứ bình thường trong
đời sống hằng ngày cũng có thể kích động tâm suy nghĩ
sâu xa hơn. Tuệ tri xuất phát từ tâm định tĩnh này có thể
thuyết phục ta rằng ta đã trôi lăn trong vòng khổ đau đủ
lâu rồi và đây là lúc bắt đầu một trang mới của cuộc
đời ta. Ta đã có một cái nhìn và tri giác mới về
khổ trong cuộc đời. Ta thấy được sự mù quáng trong
việc chạy đuổi theo hạnh phúc qua dục lạc; ta thấy những
sự thỏa mãn vật chất phải trả bằng khổ đau, lo lắng.
Ta không còn cố gắng để biện giải cho sự khổ sở của
mình như là hạnh phúc.
Con
đường thoát ra khỏi khổ đau cũng trở nên rõ ràng. Vì tâm
định giúp ta nhận ra chân lý trong lời dạy của Đức Phật,
ta cảm thấy có thêm động lực để phát triển các trạng
thái định sâu sắc hơn để ta có thể đạt được tuệ
giác thâm sâu hơn.
CÁC
TẦNG THIỀN ĐỊNH
Tâm
định sâu xa có thể dẫn đến những sự chứng ngộ sâu
sắc nhất được gọi là “thiền định” hay jhana. Thiền
định thì luôn thiện và nhất tâm. Tuy nhiên hãy nhớ rằng
tâm định này vẫn chưa phải là chánh định nếu chánh niệm
không có mặt. Với tâm định viên mãn, mức tiến triển đến
giác ngộ của ta được tăng tốc.
Ở
đây chúng ta nói về định với một ý nghĩa rất đặc biệt.
Mỗi khi tâm trụ trên bất cứ đối tượng nào, dầu không
quan trọng, định cũng phát sinh. Nhưng thường ta chỉ nhìn
thấy bức tranh toàn cảnh, chứ không để ý đến từng chi
tiết làm nên cảnh ấy. Thí dụ, khi đọc sách, mắt nhìn
vào một chữ rồi chữ kế tiếp, hay từng câu, rồi câu kế
tiếp, sau đó những thông tin này được chuyển lên não. Chúng
ta không đọc từng chữ cái một. Tâm quá nhanh và khả
năng chú tâm quá mãnh liệt đến nỗi chúng ta nhìn được
cả câu hay cả dòng một lúc.
Nếu
làm chậm quy trình đó lại, chúng ta có thể ý thức về từng
sát na của định. Mục đích của công phu tu thiền là để
duy trì sự tĩnh thức để tâm định có thể chuyển vào từng
sát na tâm kế tiếp, liên tục không gián đoạn. Tuy nhiên
mức độ tĩnh giác này rất khó. Từng sát na tâm quá nhỏ
đến nỗi gần như ta không thể tưởng tượng ra.
Có
người xin Đức Phật cho một thí dụ về sát na của tâm.
Ngài trả lời rằng Ngài không thể cho một thí dụ nào. Ngài
nói rằng không thể diễn tả được sự nhanh chóng, thoáng
chốc của từng sát na. Tuy nhiên, giả sử có một màng nhện
rất nhỏ, rất mong manh, và bạn muốn mang cây nến đến đốt.
Bạn cần bao lâu để đốt màng nhện đó? Gần như cây đèn
vừa được đưa đến gần, màng nhện đã cháy. Đức Phật
dạy rằng trong chỉ một khoảng thời gian ngắn như thế,
hàng ngàn sát na tâm có thể phát khởi, tăng trưởng, rồi
qua đi. Với thí dụ này, Đức Phật muốn diễn tả rằng
sự nhanh nhạy của tâm thì gần như không thể nghĩ bàn.
Mỗi
sát na tâm thoáng qua này bao gồm ba sát na còn ngắn ngủi hơn
nữa: giây phút phát khởi, giây phút viên mãn, và giây phút
hoại diệt. Ngay sau giây phút hoại diệt, một sát na tâm khác
lại phát khởi, theo cùng một quy trình như thế. Ba tích
tắc sát na ngắn này tạo nên một sát na tâm toàn vẹn. Tâm
định phát sinh với chỉ một số sát na tâm –có thể là
một trong cả tỷ sát na. Tâm định viên mãn có thể nhìn
xuyên suốt đến tận mức độ khi mỗi sát na tâm phát khởi,
viên mãn, rồi hoại diệt. Một khi ta đã quán sát trực tiếp
được sự phát khởi và qua đi của từng sát na tâm, chúng
ta không còn nghi ngờ sự thật về tính vô thường của vạn
pháp, và chúng ta phải buông xả thôi. Đó là lý do tại sao
chúng ta cần một tâm định viên mãn để có thể nhìn thấy
thực tại rõ ràng để đạt được giác ngộ.
Thiền
định viên mãn gồm có một số giai đoạn hay tầng lớp.
Đúng ra, có tám tầng thiền định (bát định) hay jhana mà
người chưa giác ngộ có thể đạt được, và bất cứ tầng
thiền định nào cũng có thể được sử dụng để đạt
được giác ngộ. Tuy nhiên để đơn giản hóa, chúng ta sẽ
chỉ nói về bốn tầng thiền định đầu tiên.
Ít
nhất phải đạt được tầng thiền định thứ nhất mới
có thể phát triển tâm lực cần thiết để tuệ giác mọi
thứ như chúng thật sự là. Với sự chứng đạt được từng
bậc của ba tầng định kế tiếp, ta sẽ dễ dàng nhận ra
chân lý hơn. Ở tầng thứ hai, tâm định được cải thiện
hơn do sự vắng mặt của quá trình suy tưởng. Ở tầng thứ
ba mức độ chánh niệm trở nên mãnh liệt hơn, và ở tầng
thứ tư càng nhiều hơn nữa, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh
với sự có mặt của xả.
Tầng Thiền
Thứ Nhất
Để
đạt được sơ thiền, tâm phải không còn chướng ngại và
thiết lập được thiện định. Sau đó năm yếu tố tâm thức
(thiền chi) phải cùng có mặt: ‘tầm”, “tứ”, hỷ, lạc
và định.
Bất
cứ một trong năm thiền chi này có thể phát khởi, đơn độc
hay cùng với nhau, tùy theo những điều kiện khác nhau.
Thí dụ, lạc phát khởi khi vắng mặt sân. Khi hôn trầm
qua đi, “tầm” có thể phát sinh. Khi trạo hối không
có mặt, ta có hỷ. Bất cứ khi nào ta có được giây
phút của thiện định, hỷ sẽ phát sinh do sự vắng mặt
của năm chướng ngại, và một vài thiền chi khác cũng có
thế xuất hiện.
Thật
là một cảm giác tuyệt vời với sự có mặt của một trong
năm thiền chi này. Bạn có thể tưởng rằng mình đang
ở cực lạc. Nhưng cảm giác tuyệt vời này không phải
là thiền chứng, ngay cả khi tình cờ các yếu tố này cùng
phát khởi, từng cái một. Phải tuân theo một hệ thống
nhất định mới có thể chứng được sơ thiền.
Phương
pháp này bắt đầu bằng thiện định bình thường. Niềm
vui bạn tìm được trong trạng thái này sẽ đưa đến lạc.
Hỷ và lạc là hai tình cảm khác nhau. Hý phát khởi trong
sự chờ đón đầy hy vọng về lạc. Lạc phát sinh từ
sự hài lòng là niềm hy vọng của mình đã thành sự thật.
Đây là một ẩn dụ có thể giúp ta phân biệt giữa hỷ và
lạc.
Bạn
đang đi trên một sa mạc. Không có nước hay bóng cây -chỉ
có cát. Bạn bước tới, mệt mỏi và khát. Bỗng thấy một
người đang đi tới tóc tai ướt đầm nước. Quá vui mừng,
bạn hỏi, “Nước ở đâu vậy?”
“Có một ốc đảo ngay phía trên kia.”
Bạn
tiến về ốc đảo. Đầu tiên khi nhìn thấy nước từ xa,
bạn cảm thấy rất mừng (hỷ). Càng đến gần hơn,
niềm vui (hỷ) của bạn tăng trưởng. Rồi bạn nhảy vào
nước. Bạn uống nước. Bạn nhảy nhót dọc theo bờ nước,
cảm thấy thật mát mẻ, sảng khóai. “Ôi thiệt là
lạc thú! Lạc chính là đây.”
Người
ta thường đồng hóa lạc (happiness) với sự hưng phấn (excitement).
Thí dụ, ai đó vừa trúng số độc đắc. Người đó sẽ
biểu lộ sự phấn khởi bằng cách la hét, nhảy lên nhảy
xuống, ôm nhau, khóc, cười. Người đó nghĩ “Ta cảm thấy
thật (hỷ) lạc!” Nhưng cảm giác đó không phải là lạc
thật sự. Đó là sự phấn khích. Khi an lạc thật sự phát
sinh, niềm hưng phấn sẽ biến mất và bạn cảm thấy thư
giãn, bình an.
An
lạc thật sự dẫn đến định tĩnh. Khi tâm đã trầm lắng,
dĩ nhiên nó trở nên định tĩnh hơn. Khi tâm định của bạn
sâu lắng hơn bạn có thể tiến tới việc rèn luyện để
tâm đạt đến an chỉ định với những bước sau đây:
•
Giữ tâm luôn trụ nơi hơi thở hay bất cứ đối tượng thiền
quán nào. Không nên, ở thời điểm này, quay ra quán sát các
đối tượng khác khi chúng phát sinh như là âm thanh hay tư
tưởng. Hãy buông bỏ bất cứ thứ gì phát sinh, và trở lại
với hơi thở. Hãy lặp đi lặp lại điều này, cho đến khi
tâm không còn quan tâm đến thứ gì khác và trụ nơi đối
tượng thiền quán.
•
Dần dần hơi thở hay một đối tượng thiền quán nào khác
mà ta đã chọn có vẻ qua đi và được thay bằng một bản
sao của nó. Hình ảnh tâm linh hay cảm thọ đó –được
gọi là “định tướng” (sign of concentration)-, trở thành
một đối tượng thiền quán mới của bạn, và bạn trụ
vào đó.
•
Khi hình ảnh tâm linh đó cũng qua đi và tâm trú vào chính
nó, là bạn đã đạt được đến tầng thiền định thứ
nhất (sơ thiền).
Điều
này xảy ra như thế nào? Khi thiện định sâu lắng hơn, tâm
dần dần không còn quan tâm tới gì khác, mà chỉ trụ vào
đối tượng thiền quán, như là hơi thở. Khi ta tiếp
tục chú tâm vào đối tượng này, nó trở nên quá vi tế
đến nỗi ta không còn để ý đến nó chút nào. Nhưng ở
điểm của sự chú tâm, như là đầu mũi, sự ghi nhớ về
hơi thở hay đối tượng thiền quán khác vẫn tiếp tục.
Sự ghi nhớ này trở nên là một cảm thọ rất dễ chịu
được gọi là “định tướng”. Tướng này có thể xuất
hiện như là một hình ảnh, ánh sáng, hay như một sự xúc
chạm nhẹ nhàng. Hình ảnh tâm linh này xuất hiện như thế
nào tùy thuộc vào mỗi cá nhân.
Dầu
tướng đó hiện ra như thế nào, hãy trụ vào đó. Hãy sử
dụng cùng một tướng mỗi khi bạn thiền quán. Đừng chia
sẻ với ai về tướng đó. Tướng của mỗi người đều
khác, và ta có thể khiến người khác hoang mang. Lúc bắt đầu
hành thiền, hơi thở vào, hơi thở ra của bạn là đối tượng
thiền quán. Giờ bạn sử dụng tướng kia như là đối tượng
thiền quán. Đức Phật đã khuyến khích đệ tử của Ngài
“thực hành, phát triển, và sửa đổi,” tướng. (A IV (9)
IV.4) Thực hành để đạt được định tướng nhiều lần,
cho đến khi bạn hoàn toàn có thể kiểm soát nó, để
bất cứ khi nào bạn muốn chứng nghiệm nó, thì tướng đó
sẽ xuất hiện và bạn có thể hòa hợp tâm bạn vào đó.
Khi
định tướng lần đầu tiên xuất hiện trong lúc ta đang hành
thiền, thì nó có vẻ tĩnh tại. Do đó định có thể phát
sinh dựa trên đó. Nhưng khi đặt tất cả sự chú tâm vào
tướng đó, ta bắt đầu thấy rằng tướng đó tự nó thay
đổi từng phút giây. Dần dần, giống như tất cả mọi hiện
tượng tùy duyên khác, tướng tự nó sẽ hoại diệt. Khi tướng
cũng biến mất, tâm không còn đối tượng nào khác ngoài
chính nó để trụ vào, vì thế tâm trú định trong chính nó.
Vào giây phút đó, “tầm” xuất hiện một cách ngắn ngủi.
Đó là sự bắt đầu của sự nhất tâm thiện.
Khi
tầm được duy trì khoảng vài giây, “tứ” có thể phát
khởi. Giờ thì tâm trụ vững chãi vào đối tượng.
Vì tâm không còn lang thang đây đó, một trạng thái hỷ vi
tế hơn xuất hiện, và tiếp ngay sau đó bởi một trạng thái
lạc vi tế hơn. Bốn thiền chi này khởi động thiền định.
Giờ năm thiền chi của sơ thiền -tầm, tứ, hỷ, lạc, và
định- cùng vận hành với nhau như một.
Người
ta thường hỏi tôi, “Làm sao tôi biết là tôi đã đạt được
sơ thiền?” Câu trả lời rất đơn giản: như chúng ta đã
nói trước đó, chỉ khi nào tất cả năm thiền chi cùng vận
hành nhịp nhàng với nhau thì lúc đó ta mới có thể nói rằng
ta đã chứng được tầng thiền thứ nhất hay Jhana. Hãy tưởng
tượng rằng bạn đang tìm kiếm một cầu vòng. Trước khi
tìm được cầu vòng, bạn có thể thấy màu đỏ ở đây,
màu xanh đằng kia, hay một màu hỗn hợp. Chúng có thể là
những gam màu đẹp tuyệt vời. Nhưng đó không phải là hiện
tượng của một cầu vòng. Chỉ đến khi đúng lúc ánh sáng
mặt trời phản chiếu vào mây, tạo nên một vòng cung xuất
hiện với tất cả các màu sắc xếp đặt theo một cách mà
chúng phải là, thì bạn mới có một cầu vòng. Tương tự,
chỉ đến khi ta có đủ duyên, và tất cả năm thiền chi đều
xuất hiện, nếu không ta chưa chứng được thiền.
Một
số người có ý nghĩ rằng tâm định phải trống rỗng. Họ
tưởng tượng tâm của thiền giả phải không có cảm giác
-giống như một hòn đá. Không có gì sai sự thật hơn thế.
Tâm chứng thiền không ngưng động mà sôi động. Trong sơ
thiền, tâm có được đặc tính mãnh liệt sau đây:
•
Xả, một cảm giác cân bằng, không khó chịu mà cũng không
dễ chịu.
•
Thanh tịnh, không quan tâm với bất cứ điều gì trên thế
giới, như là chính trị hay tình yêu.
•
Nhất tâm.
•
Các trạng thái tâm của xúc, thọ, tưởng, hành và thức.
•
Tinh tấn, quyết định, năng lực và chú tâm.
Tâm
định trú trong chính nó tạo ra một nội lực mạnh mẽ.
Giống như một hồ nước xoáy, tạo ra một cột nước mạnh
hơn bao giờ hết bằng cách vận hành trên chính nó. Nội
lực mạnh mẽ này được gọi là “định lực”. Hãy nghĩ
đến, thí dụ, nguồn năng lượng của thủy điện. Khi
một lượng lớn nước chảy qua một lỗ thoát nhỏ, lực
nước bị dồn nén rất mãnh liệt đến nỗi nó có thể làm
chuyển động trục quay để tạo ra đủ năng lượng thắp
sáng một thành phố. Đó là do dòng nước đó không chảy
lan tõa đến các đối tượng bên ngoài, thì năng lượng của
nó được tích tụ bên trong. Tương tự, khi tâm không bị
chi phối bởi một đối tượng ở bên ngoài hay bên trong,
tâm sẽ thâu tụ năng lực vào chính nó. Sau đó tâm cũng giống
như nước bị đẩy ra một lỗ thoát nhỏ. Lực định của
tâm lớn đến nỗi nó có thể quán sát trực tiếp tính vô
thường ở mức độ cơ bản nhất, chi tiết nhất, vi tế
nhất, của thân và tâm. Tâm chứng thiền là một trạng thái
thiện của sự nhất tâm như thế.
Tâm
định mãnh liệt này không giống như khi tâm bị “dính”
vào đối tượng thiền quán. Đó sẽ là bám víu, sẽ khiến
tâm dao động. Tâm định đó không phải là tâm hòa hợp với
đối tượng; đó là tâm hòa hợp với chính nó. Đối tượng
chỉ được dùng như là một đòn bẩy để vào tâm.
Nếu tâm chấp vào một đối tượng, đó không phải là thiện;
đó là tâm định với sự bám víu. Tiếc thay, đó là
loại thiền mà một số thiền giả thực hành, nhưng nó không
thể mang đến sự giải thoát.
Lần
đầu tiên khi bạn chứng được sơ thiền, bạn sẽ tràn đầy
niềm hỷ lạc đến nỗi các trạng thái tích cực này có
vẻ như là một bộ phận không thể tách rời của thân. Giống
như muối hòa tan hoàn toàn vào nước đến nỗi ta không còn
có thể phân biệt muối và nước. Tương tự, khi toàn thân
ta tràn đầy hỷ lạc, ta không thể tách biệt các cảm giác
này và cảm giác nơi thân. Cảm giác an tĩnh thật tuyệt vời
đến nỗi bạn muốn ở trong trạng thái định này mãi mãi!
Tầng Thiền
Thứ Hai
Sau
khi đạt được tầng thiền định thứ nhất (sơ thiền),
tôi khuyên bạn không nên cố gắng đạt được tầng thiền
định thứ hai (nhị thiền) ngay lập tức. Đó là một việc
làm khá dại dột, là một tham vọng tâm linh vô ích. Trước
khi đạt được nhị thiền, bạn phải hoàn thiện sơ thiền.
Nếu quá nôn nóng thì chắc rằng bạn sẽ không đạt được
nhị thiền mà còn có thể đánh mất khả năng chứng sơ thiền
trở lại.
Đức
Phật đã so sánh một thiền giả quá nôn nóng như thế với
một con bò khi vẫn còn chưa quen thuộc với cánh đồng cỏ
này, đã đi sang các cánh đồng khác. Vì thế, con bò
dại khờ này bị lạc trong các hang núi, không có đồ ăn,
nước uống và không thể tìm đường trở về nhà. Đây không
phải là lúc đi tìm niềm hưng phấn mới. Đây là lúc phải
kiên nhẫn rèn luyện tâm.
Do
đó, khi bạn chứng được tầng thiền thứ nhất, bạn cần
nhớ lại mình đã làm gì để đến được đó. Đây
là nơi bạn cần đến tâm chánh niệm của mình. Chánh
niệm giúp bạn nhớ lại những bước bạn đã thực hành.
Nếu tâm định ấy xảy ra cho bạn một cách bất ngờ, bạn
không nhớ mình đã tu tập, thực hành như thế nào, thì đó
thực sự không phải là thiền chứng. Có thể một vị
thầy nào đó cho là bạn đã chứng được một trong các tầng
thiền. Hãy tự mình thử nghiệm lại điều này. Đừng dễ
dãi nghe theo những ý kiến mà người khác có thể tự do tuyên
bố.
Sau
khi đã quán xét lại các bước tu tập, sau đó bạn quyết
định với tâm chánh niệm chứng sơ thiền lần nữa, quyết
định duy trì trạng thái tâm định này lâu hơn, và quyết
định khi nào trạng thái này sẽ chấm dứt. Sau khi đã
lập ra ba quyết định này, bạn sẽ thực hành theo các bước
cần thiết để chứng được sơ thiền nhiều lần.
Khi
lặp đi lặp lại quá trình này nhiều lần, ta sẽ không còn
quan tâm đến tầm và tứ nữa. Sự thay đổi này có
thể xảy ra trong một hay nhiều thời khóa thiền. Thí dụ,
bạn đã chứng được sơ thiền năm chục lần, mà mỗi lần
chứng thiền bạn lại thấy bớt quan tâm đến tầm và tứ.
Rồi, trong lần chứng thiền thứ năm mươi mốt, bạn hoàn
toàn bỏ qua hai yếu tố này, không chú tâm gì đến chúng
vì bạn đã hoàn toàn đánh mất sự hứng thú đối với chúng.
Ngay giây phút điều này xảy ra, hai chi thiền đó biến mất,
có nghĩa là bạn đã chứng tầng thiền thứ hai (nhị thiền).
Trong
nhị thiền, không còn có những suy nghĩ khiến tâm bị quấy
nhiễu và cản trở sự nhất tâm. Các thiền chi còn lại
là nhất tâm, hỷ và lạc mạnh mẽ hơn. Hỷ và lạc trong
nhị thiền ít hào nhoáng và nhiều vi tế hơn, vì nó không
còn dựa vào việc tâm cảm thấy tự tại vì đã loại trừ
được các chướng ngại. Giờ hỷ và lạc được dựa
trên định. Một cảm giác tự tin mới mẻ cũng có mặt do
thành quả mà bạn đã đạt được cho tới giây phút ấy
-tự tin vào khả năng có thể tiến bộ của mình, tự tin
vào phương pháp, và tự tin vào giáo lý của Đức Phật. Định
cũng được tăng thêm sức mạnh.
Hãy
tưởng tượng một hồ nước mát mẻ do nước từ một mạch
suối ngầm trong lòng đất trào lên. Dòng nước trong lành
từ mạch suối hòa lẫn với dòng nước mát lạnh của hồ,
làm nước hồ luôn sạch mà không bị xáo trộn. Tương tự,
trong nhị thiền, niềm hỷ lạc thanh cao do định mang tới
tiếp tục dâng trào trong tâm. Tâm được tưới tẩm và thân
hoàn toàn ngập tràn trong hỷ lạc.
Tầng Thiền
Thứ Ba
Sử
dụng cùng một quy trình như trên, hành giả tái lập tầng
thiền định thứ hai nhiều lần. Lần đầu tiên khi đạt
được nhị thiền, niềm hoan hỷ mà ta cảm nhận được thật
tuyệt vời và mới mẻ. Tuy nhiên sự lặp đi lặp lại khiến
niềm vui trở thành đơn điệu. Dần dần, ta bắt đầu
lơ là với nó. Vì thế chi thiền hỷ cũng dần qua đi.
Ngay giây phút hỷ rời khỏi tâm ta, ta chứng tam thiền.
Xả
và định trở nên mạnh mẽ hơn. Điều này khiến tâm
chánh niệm của ta trở nên vững chãi, mạnh mẽ hơn. Tâm
ta tràn ngập lạc ở một mức độ sâu xa và vi tế hơn. Thí
dụ hãy nghĩ đến một hồ đầy hoa lục bình nở trong nước.
Những bông hoa này sinh ra trong nước, sống dưới nước và
được nuôi dưỡng bởi độ sâu của nước. Chúng hoàn toàn
thấm đẫm nước, bên trong cũng như bên ngoài, mọi tế bào
của chúng chứa đầy nước. Tương tự, ở tầng thiền thứ
ba, thân ta hoàn toàn thấm đẫm và tràn ngập lạc. Trong nhị
thiền, phần nào có sự hoạt động, sự phấn khích, giống
như sự di chuyển của dòng nước suối tươi mát đổ vào
hồ. Nhưng ở tầng thứ ba này, ta không cảm thấy có nhu cầu
phải được tưới tẩm bởi lạc đến từ bên ngoài. Tâm
lạc vi tế có đặc tính của tĩnh lặng vì lạc đã hoàn
toàn tràn ngập thân tâm.
Tầng Thiền
Thứ Tư
Giống
như các lần trước, hành giả lập lại tầng thiền định
thứ ba nhiều lần, cho đến khi hành giả cũng không còn quan
tâm đến lạc nữa. Khi lạc đã qua đi, tâm chánh niệm trở
nên càng trong sáng hơn do sự có mặt của xả -cảm giác không
khổ cũng không lạc của một sự cân bằng tình cảm hoàn
hảo. Hành giả sẽ nhận thấy rằng chánh niệm và xả
còn thanh tịnh hơn là lạc. Và khi đã hoàn toàn buông bỏ
lạc, hành giả bước vào tầng thiền định thứ tư (tứ
thiền), nơi chánh niệm được thanh lọc bởi năng lực của
xả. Ta nhớ lại rằng trong tam thiền cũng có mặt của xả,
nhưng vì ta chưa buông bỏ được lạc, nên xả chưa đủ mạnh
để thanh lọc chánh niệm.
Ở
tầng thiền định thứ tư (tứ thiền), tâm hoàn toàn lắng
đọng, an định và vững chãi. Vì tất cả các trạng thái
tâm tiêu cực đã được chế ngự, tâm không còn bị lay động.
Tâm trong sáng, rõ ràng bao phủ toàn thân ta như một tấm vải
trắng, sạch, mềm mại quấn quanh thân. Tấm vải sạch
ấy mềm mại đến độ ta gần như không cảm nhận được
nó; nhưng nó che chở ta khỏi nóng, lạnh, gió, côn trùng.
Tương tự khi tâm trong sạch, rõ ràng, thì không có gì có
thể khiến nó trở nên bám víu hay sân hận. Tâm duy trì
được trạng thái xả ly. Ngay nếu như thân có bị côn
trùng cắn rứt, bị nóng, hay bị lạnh, tâm vần không bị
ảnh hưởng. Ngay cả khi có ai đó kéo áo ta, bắt chuyện,
tâm vẫn không quan tâm đến sự phá rối này, vẫn giữ được
định và không lay động.
Vào
thời điểm này, hành giả đã biết được sức mạnh thực
sự của định. Tâm đã được củng cố, trở nên trong
sạch, rỡ ràng, thoát khỏi chướng ngại và vững chãi.
Tâm nhu nhuyến nhưng bình tĩnh, mạnh mẽ và sắc bén trong
nhiệm vụ quan trọng nhất của nó. Khi hành giả chú
tâm định đó vào một đối tượng, hành giả sẽ nhín thấy
nó như nó thực là. Nói một cách khác, tâm an định
viên mãn đó có thể nhìn xuyên suốt vào bản chất thực
sự của thực tại.
____________________
Bốn
tầng thiền định quá tuyệt vời đến nỗi ta có thể muốn
đắm chìm trong đó để tận hưởng an lạc, mà không màng
đến việc hướng tâm đến tuệ giác. Tuy nhiên, nếu
hành giả chỉ lo ‘an lạc’ mà không phát triển các phương
cách để sử dụng tâm định, thì hành giả đã hạn chế
sức mạnh của định. Tâm định của hành giả vẫn
là thiện, và không có gì sai trái với điều đó. Nhưng
nếu hành giả không sử dụng tốt tâm định của mình thì
cũng giống như được tặng một con ngựa đua nhanh nhất thế
giới đã được huấn luyện chu toàn, mà chỉ dùng nó để
đi dạo quanh khu phố. Tâm thiền chứng cũng là một công
cụ quá quý giá, không nên uổng phí. Nếu trong định,
hành giả sử dụng chánh niệm để quán sát thực tại, định
lực ấy có thể giúp hành giả đạt được giải thoát.
CHÁNH
NIỆM VỀ CHÁNH ĐỊNH
Có
ba thái độ tốt nhất khi hành thiền. Đầu tiên là bắt
đầu thời thiền bằng nỗ lực để chứng thiền. Một
khi đã đạt được điều đó, hành giả sử dụng định
để hành minh sát. Đó là hành giả sử dụng định để
quán sát về tính vô thường, khổ và vô ngã (tam tướng)
của sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
Phương
cách thứ hai là bắt đầu thời khóa thiền với minh sát quán.
Khi hành giả hành thiền minh sát thì bất cứ khi nào một
đối tượng phát khởi, hành giả sẽ quán sát cho đến khi
nó qua đi, quán sát tính vô thường, khổ và vô ngã của nó.
Sau đó hành giả thư giãn rồi trở về với đối tượng
thiền quán ban đầu, như là hơi thở. Mỗi lần trở
về với hơi thở, thì tâm lắng sâu hơn. Nếu chướng
ngại có sinh khởi, hành giả chế ngự nó, điều đó cũng
giúp tâm lắng sâu. Khi tâm loạn động dần yên tĩnh,
hành giả sẽ không còn quan tâm đến những đối tượng mà
trước đây vẫn lôi kéo tâm chạy theo chúng. Các đối
tượng này nhẹ nhàng qua đi trong tâm thức. Dần dần
tướng định xuất hiện, theo sau bởi tầm và tứ, rồi cuối
cùng định xuất hiện theo như đã diễn tả ở trên.
Trong trạng thái định đó, hành giả tiếp tục minh sát, quán
sát tính vô thường, khổ và vô ngã của sắc, thọ, tưởng,
hành và thức.
Phương
cách thứ ba là bắt đầu hoặc bằng thiền minh sát hoặc
nỗ lực đạt định, và chuyển qua, chuyển lại giữa hai
cách này. Thí dụ, ta bắt đầu bằng cách chú tâm vào
hơi thở, không quan tâm đến các đối tượng khác trong nỗ
lực đạt định. Nếu không thành công, tâm trở nên
bực bội, và ta sử dụng thiền minh sát để quán sát những
chuyển đổi trong cảm xúc bực bội. Khi cảm giác này
qua đi, ta xét xem có chướng ngại nào khác xuất hiện.
Khi tâm đã vừng chãi, ta trở về quán sát hơi thở sâu lắng
hơn, không quan tâm đến các đối tượng nếu chúng phát khởi,
và lại nỗ lực để đạt định. Do đó trong phương
cách thứ ba này, sự chú tâm và chánh niệm kết hợp nhuần
nhuyễn với nhau để dần mang đến định sâu lắng và khiến
tuệ giác thêm sắc bén. Rồi có một ngày, khi tuệ giác
hầu như đã hoàn thiện khả năng thấy biết, và định gần
như đã viên mãn, cả hai sẽ hòa nhập.
Do
đó dầu bạn hành thiền bằng phương cách nào, niệm và định,
được sử dụng một cách thiện xảo, rồi cũng hòa hợp,
vận hành cùng nhau. Nếu khi ngồi xuống chiếu thiền,
bạn thấy rằng các chướng ngại có thể dễ dàng được
điều phục và tâm không tán loạn, thì bắt đầu bằng thiền
chỉ tốt hơn. Trái lại, nếu tâm loạn động, không
thể bắt nó yên ngay lúc đầu, thì bạn không nên cố gắng
phát triển định mà nên bắt đầu bằng thiền minh sát.
Hay chuyển đổi hai phương cách này qua lại. Bắt đầu
bằng phương cách nào tùy thuộc vào trạng thái tâm của bạn
lúc đó.
Dầu
bạn bắt đầu bằng phương cách nào, một khi niệm và định
đã kết hợp với nhau, bạn cần sử dụng chúng để diệt
trừ ba kiết sử đầu tiên. Đã biết được mọi vật
đều không có tự ngã, bạn không còn tin vào một cái ngã
thường hằng, bất biến. Bạn sẽ thấy giới cấm thủ
thật vô nghĩa lý. Nhận chân được Tứ Diệu Đế rõ
ràng hơn bao giờ hết và không còn nghi ngờ gì vế con đường
đến giác ngộ của Đức Phật.
Hãy
sử dụng tâm định giống như tia laser để đốt cháy một
vật cứng. Để nhắm tia laser chính xác, bạn phải dùng
đến mắt nhìn. Nếu chỉ lo nhìn quanh quất, bạn không
thể nhắm chính xác, cuối cùng thì vật không cần đốt bị
đốt, hoặc là không có gì bị đốt cả. Và dĩ nhiên
là nếu bạn không bật nút laser lên, thì dầu bạn có ngồi
cả ngày cũng không đốt được vật gì!
Trong
ẩn dụ này, đôi mắt giống như tuệ giác. Tia laser là
tâm định. Tuệ và định vận hành cùng nhau. Không
có tuệ, thì tia sáng của định cũng sẽ vương vải, hoặc
nhắm sai đối tượng. Không có tia sáng của định, thì
con mắt tuệ dầu có nhìn thấy đối tượng cũng không thể
đốt cháy nó được. Chúng ta muốn đốt cái gì?
Uế nhiễm. Tâm bất thiện. Chúng ta cần phải nhìn
thấy chúng bằng con mắt tuệ và hủy diệt chúng bằng tâm
định.
Như
thế, một khi bạn đã đạt được chánh định, bạn sẽ
nhắm vào đối tượng nào? Bạn nhắm nhất tâm thiện
vào sự biến đổi không dừng của các thành phần cấu tạo
nên thân và tâm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Bạn
chú tâm đến tính vô thường, khổ và vô ngã của các thành
phần này. Khi bạn chú tâm đến một trong các thành phần
này, bạn nhận ra rằng tất cả đều biến đổi. Bạn
thấy được sự liên hệ giữa vô thường và khổ do sự
bám víu của bạn vào các dục lạc chóng qua.
Nhận
ra được tính vô thường, khổ và vô ngã của sắc, thọ,
tưởng, hành và thức là nhiệm vụ chính yếu của thiền
minh sát. Khi nhiệm vụ đó hoàn thành, bạn sẽ được giải
thoát khỏi việc bám víu vào các uẩn hợp thành thân và tâm.
Không còn gì để bám víu vào, bạn được giải thoát.
Khi
các thiền giả vun trồng đủ định và niệm. Họ có thể
lần trở lại trong tâm những hình ảnh của các sự kiện,
thời gian, suy nghĩ, và hành động trong quá khứ cho đến khi
họ nhận ra được sự kết nối giữa dòng chảy không dừng
dứt trong hiện tại và các sự kiện, suy nghĩ, và hành động
trong quá khứ. Sợi dây nối kết này là tham ái và vô minh.
Họ tự nhận ra sự liên hệ giữa vô thường, lòng tham ái
đối với vật chất vô thường, và khổ. Tuệ giác thậm
sâu của vị thiền giả cũng nhận biết được tất cả mọi
tiêu cực trong mọi khía cạnh và chúng phát sinh thế nào và
tại sao. Tuệ giác nhận thức được rằng tất cả mọi tiêu
cực đều đến từ sự bám víu; và sự bám víu này có thể
chấm dứt, bằng cách chấm dứt chính tâm tham của mình.
Qua
tuệ kiến này, thiền giả hiểu biết bằng kinh nghiệm trực
tiếp nơi bản thân rằng mọi thứ đều vô thường, rằng
bám víu vào bất cứ thứ gì vô thường đều mang đến khổ,
và rằng tất cả vạn pháp hiện hữu đều không có một
bản thể thường hằng. Hiểu được như thế là chúng ta
thấy được cánh cửa đi vào giác ngộ.
Ứng Dụng
Tâm Định
Vào
đêm giác ngộ, Đức Phật phát triển thiền định mạnh mẽ
không phải để rồi thôi mà Ngài mang nó ra ứng dụng. Trong
một sát na mãnh liệt, đầy uy lực, ba chứng ngộ về vô
thường, khổ, và vô ngã, tất cả đã cùng bùng vỡ và Đức
Phật đã đạt được mục đích của mình.
Mang
sự chứng thiền ra để sử dụng là chìa khóa. Alarakarama
và Uddaka Ramaputta, hai vị thầy trước kia của thái
tử Sidhattha Gotama (Đức Phật trước khi Ngài giác ngộ), đã
đạt được định. Tuy nhiên họ đã không tự rèn luyện
để hướng sự chú tâm của họ vào sắc, thọ, tưởng, hành,
và thức để có thể nhìn thấy được bản chất thực sự
của chúng. Thay vào đó họ trở nên bám víu vào sự an lạc
của định và nghĩ rằng cảm giác an lạc đó là giác ngộ.
Thái
tử Siddhattha Gotama bảo rằng các vị thầy trước đó của
Ngài, giống như Ngài, cũng có lòng tin, tinh tấn, chánh niệm,
định, và tuệ. Giống như Ngài, tuệ giác đã giúp họ
hiểu được sự nguy hiểm của các chướng ngại, và sự
cần thiết phải chế ngự chúng. Nhưng không giống như thái
tử Siddhattha Gotama, các vị thầy này không biết rằng họ
chỉ sử dụng tâm định để đè nén chướng ngại, không
phải để hủy diệt chúng. Họ không khám phá ra các kiết
sử tiềm ẩn -nguồn lực trói buộc chúng sanh vào vòng sinh
tử không dừng dứt. Chỉ riêng thái tử Siddhattha Gotama
đã sử dụng thiền định của mình để thấy rõ ràng rằng
các chướng ngại và kiết sử trói buộc chúng ta như thế
nào.
Đức
Phật đã đạt được sự hiểu biết gì? Như chúng ta đã
biết, năm chướng ngại –tham, sân, hôn trầm thụy miên,
trạo hối, và nghi- cản trở thiền giả được chứng thiền.
Do đó, lúc tu tập để phát triển định, thiền giả cố
gắng gạt chúng qua một bên. Tuy nhiên các kiết sử, mà từ
đó các chướng ngại nẩy sinh, tiếp tục hiện hữu trong
tiềm thức của ta. Mười kiết sử là: tin rằng có một cái
ngã hay linh hồn thường hằng (thân kiến), nghi, tin vào sự
hữu hiệu của các nghi lễ (giới cấm thủ), tham, sân, ước
muốn được tái sinh trong cõi sắc giới, ước muốn được
tái sinh trong cõi vô sắc giới, ngã mạn, trạo hối và vô
minh. Những huân tập bất thiện của tâm vẫn ngủ yên đó
trong lúc ta tọa thiền. Vì các kiết sử tiềm ẩn này vẫn
ngủ ngầm trong tâm thức, khi ta xả thiền, các chướng ngại
trở lại. Lúc ta muốn chứng đạt trở lại một tầng thiền
định, ta lại phải gạt các chướng ngại qua một bên, do
đó dầu ta rèn luyện tâm, ta cũng gạt bỏ được các chướng
ngại dễ dàng hơn.
Giống
như khi chúng ta quét bụi trên mặt sàn bằng đất. Mặc dầu
ta vừa quét xong, không lâu sau, bụi lại xuất hiện. Mặt
sàn tiếp tục nứt, tường nứt, thế là ta lại có một đống
bụi. Để thoát khỏi bụi ta có thể quét cả nhà, vẫy nước
trên mặt sàn, hay đổ vài thùng nước để biến mặt đất
thành bùn. Tuy nhiên, rồi bụi cũng sẽ trở lại. Nhưng nếu
ta đào sâu xuống tận lớp đá, đổ bỏ tất cả cát bụi,
rồi đổ cement vào đó thì bụi đất không còn là một vấn
đề. Đào tất cả cát đất lên thì giống như thiền minh
sát chế ngự các chướng ngại và kiết sử. Đổ cement tượng
trưng cho việc bước vào giác ngộ -khiến cho tâm được cứng
rắn, không thể lay chuyển bởi những cám dỗ thế gian. Một
khi đã làm được điều đó, không có gì có thể lay chuyển
tâm ta.
Các
vị thầy của thái tử Siddhattha Gotama, Alarakarama và Uddaka
Ramaputta, cũng có trí tuệ. Họ biết được sự nguy hiểm
của dục lạc và ích lợi của thiền định, vì thế họ
tạm thời xua đuổi được tất cả mọi chướng ngại và
được chứng thiền. Tuy nhiên, các chứng ngộ này không đủ
để giải thoát họ ra khỏi những kiết sử trói buộc họ
với luân hồi sinh tử không dừng dứt. Chỉ thuần có
định không thể hủy diệt các kiết sử. Để có thể hủy
diệt chúng, ta phải kết hợp định, niệm và sự chú tâm.
Nếu không, ta sẽ bám víu niềm hỷ lạc của định, giống
như các vị thầy của thái tử Siddhattha Gotama, và không đi
đến đâu cả.
Tuệ
giác của Đức Phật rất đặc biệt. Với tuệ giác này Ngài
không những thấy được sự nguy hiểm của dục lạc, ích
lợi của thiền định, mà Ngài còn sử dụng tuệ giác này
để vượt xa hơn thiền định. Ngài sử dụng trí tuệ
của mình để khám phá rằng các chướng ngại mà Ngài đã
chuyển hóa được trong trạng thái định chỉ là dấu hiệu
của một vấn đề sâu xa hơn, mạnh mẽ hơn: các kiết sử.
Ngài thấy các kiết sử đã quấy nhiễu tâm như thế nào,
tạo các ảo tưởng về thực tại, đưa đến cảm giác khổ
về ngã. Với tâm chánh niệm thanh tịnh trong định, Ngài tìm
ra được phương cách để chuyển hóa các kiết sử: nhìn
thấy được tính vô thường, khổ, và vô ngã trong tất cả
các pháp hữu vi. Khi chúng ta nhìn thấy được ba tính chất
này ở mọi khía cạnh của hiện hữu, thì tham, sân, và si
cùng với các kiết sử khác, sẽ mãi mãi không còn.
Đừng
Tự Lừa Dối Mình!
Khi
chúng ta cố gắng đem giáo lý của Đức Phật ra thực hành,
chúng ta phải cẩn thận đừng tự lừa dối mình. Một số
người bảo rằng khi họ vào sâu trong định, họ không cảm
thấy gì, không nghe gì hay không có bất cứ suy nghĩ nào. Họ
nói rằng họ chìm sâu trong định đến nỗi họ không còn
nhớ tới thời gian đã qua. Ở các khóa tu thiền do chúng tôi
tổ chức, tôi đã được gặp các vị ấy lắc lư giống
như những thân cây mong manh trước gió. Sự bất thình
lình rơi vào trạng thái vô thức không được gọi là định.
Nó được gọi là ngủ! Một số vị còn ngáy nữa. Ngay khi
chúng tôi đánh chuông để chấm dứt thời khóa thiền, thì
các vị thiền giả này ra khỏi “định sâu xa” của họ
và nói, “Tôi đã có một buổi tọa thiền tuyệt vời. Hôm
nay tôi đã có thể đạt được tầng thiền thứ tư.”
Đừng
tự lừa dối mình! Đó chỉ là một ảo tưởng. Nếu thiền
giả thực sự đạt được bất cứ tầng thiền định nào,
thì hôn trầm buồn ngủ biến mất, tâm sẽ có tất cả những
tính chất tích cực như đã được nhắc tới ở trên. Thiền
định chỉ có thể đạt được với chủ tâm. Ta sẽ thấy
biết rõ ràng các bước mà ta đã trải qua để đạt được
thiền chứng. Do đó ta có thể lặp lại các bước đó sau
này khi ta muốn. Thiền định xuất hiện qua nhiều giai đoạn,
và chỉ khi tâm định đó kết hợp với chánh niệm mới có
thể giúp ta tiến trên con đường đến giác ngộ.
Ngoài
ra, cũng đừng tự dối gạt mình với suy nghĩ rằng định
cũng giống như là giác ngộ. Sự giác ngộ không quá dễ dàng
và nhanh chóng như thế. Hành giả phải trải qua các quá trình
chế ngự các chướng ngại, phải đạt được định và kết
hợp tâm định tĩnh đó với tuệ để hủy diệt các chướng
ngại và kiết sử. Không cần biết bạn đã ngồi thiền bao
lâu –ngay cả khi bạn ở trong tầng thiền cao cả nhất–mà
không hủy diệt được các kiết sử thì bạn cũng không thể
đạt được giác ngộ, dù chỉ là giai đoạn đầu của giác
ngộ.
Cuối
cùng, đừng tự lừa dối mình với suy nghĩ rằng chỉ có
tâm chánh niệm thôi cũng đủ để đưa ta đến giác ngộ.
Chúng ta không thể nói, “Ta không quan tâm đến định hay
giới. Tôi chỉ cần thực hành chánh niệm.” Không thể tách
chánh niệm ra khỏi các bước khác trên đạo lộ. Những người
không thực hành các bước khác trong Bát Chánh Đạo thường
nhận ra là họ không thể tận diệt được tham, sân, si, do
đó không thành công trong sự thực hành chánh niệm của họ.
Hãy
Kiên Nhẫn
Những
người cố gắng đạt được an chỉ định để giúp họ
thực hành thiền minh sát đôi khi lo lắng rằng họ không thể
làm được điều đó. Đừng nản chí! Đôi khi phải
mất hàng năm mới có thể đạt được định. Nếu hành thiền
với sự dẫn dắt của chánh niệm, thì hành giả sẽ cảm
thấy tự tại dầu hành giả có chứng thiền hay không. Đừng
cố gắng để cố tạo ra định. Mỗi khi ta hành thiền,
là ta tiến gần đến định hơn. Phải mất bao lâu tùy
theo ta có hành thiền thường xuyên không và ta thực hành các
ngành khác của Bát Chánh Đạo như thế nào.
Có
ngày bạn chú tâm tốt, và có ngày thì chánh niệm tốt hơn.
Nếu bạn đã từng đạt được định trong quá khứ nhưng
không hành thiền mỗi ngày và không thực sự làm chủ được
tâm định đó, thì khi cố gắng chứng thiền trở lại, bạn
có thể gặp khó khăn. Tệ hơn nữa, nếu bạn để các
chướng ngại tưởng đã ngủ yên, hoạt động trở lại,
hoặc bạn đã làm điều bất thiện, thì việc đó gần như
bất khả thi. Vào những ngày khi việc chú tâm hành thiền
có khó khăn, bạn chỉ cần chánh niệm đến tâm đang hoạt
động của mình chứ đừng tỏ ra quá lo lắng hay nói lên
rằng bạn không thể hành thiền. Sự quán sát một cách
đầy chánh niệm những gì đang xảy ra làm tăng thêm sự sắc
bén của minh trí sâu sắc của bạn đối với thực tại mà
bạn đang trải nghiệm. Khi nào bạn còn tiếp tục thực hành
tất cả các bước trên đạo lộ (Bát Chánh Đạo) và tiếp
tục cố gắng -mà không cố chấp- để đạt được định,
thì bạn có thể tin rằng Chánh định sẽ dần xuất hiện,
và bằng cách sử dụng công cụ đa năng này, bạn sẽ đạt
được hạnh phúc tuyệt đối.
TÓM
LƯỢC VỀ CHÁNH ĐỊNH
Những
điểm chánh yếu để đạt được hạnh phúc qua Chánh Định
là:
•
Chánh định có ba đặc tính: thiện, nhất tâm, và nó vận
hành với chánh niệm.
•
Đức Phật đã truyền dạy cho chúng ta một phương pháp tu
tập dần dần, từng bước, để đạt được chánh định.
•
Thiện định là loại định giải thoát ta khỏi tham, sân,
si. Không còn có năm chướng ngại.
•
Để phát triển được chánh định, trước hết phải thực
hành thiện định bằng cách chế ngự các chướng ngại.
Chú tâm vào hơi thở hay các đối tượng thiền quán đã chọn
khác và không để tâm đến các đối tượng vừa mới phát
sinh.
•
Sau khi bạn đã thực hành thiện định một thời gian, hơi
thở của bạn trở nên rất vi tế, gần như là biến mất.
Sự ghi nhớ về hơi thở ở nơi ta đặt chú tâm, như là ở
chóp mũi, sẽ được chuyển sang một cảm giác dễ chịu gọi
là “định tướng” (sign of concentration).
•
“Nhất tâm” ám chỉ tâm trụ vào chính nó sau khi định
tướng đã biến mất. Nhất tâm là một yếu tố của thiền
định hay jhana.
•
Tầng thiền định thứ nhất (sơ thiền) được đánh dấu
bằng tầm, tứ, hỷ, lạc, và định vận hành với nhau.
•
Ít nhất phải đạt được sơ thiền thì mới đạt được
giác ngộ.
•
Một khi bạn đã biết cách để đạt được sơ thiền, hãy
quyết tâm để đạt được thiền chứng này lần nữa, quyết
định xem bạn sẽ ở trong tầng thiền này trong bao lâu, và
khi nào bạn muốn xuất định.
•
Thực hành đạt được sơ thiền nhiều lần cho đến khi bạn
hoàn toàn làm chủ nó.
•
Nhị thiền (tầng thiền định thứ hai) phát khởi khi bạn
đã đạt được sơ thiền quá nhiều lần đến nỗi bạn
không còn quan tâm đến tầm và tứ nữa, khiến cho các chi
thiền này biến mất.
•
Tam thiền (tầng thiền định thứ ba) xuất hiện khi sự lặp
lại thường xuyên của nhị thiền khiến tâm không còn quan
tâm đến hỷ. Khi hỷ qua đi, lạc trở nên vi tế, lắng đọng
và xả niệm trở nên rõ ràng hơn.
•
Tứ thiền (tầng thiền thứ tư) phát khởi khi bạn không còn
quan tâm đến lạc và tâm niệm của bạn trở nên thanh tịnh
bằng sự buông xả sâu lắng.
•
Trong trạng thái định, tâm đầy ấp các tính chất thiện,
mạnh mẽ, quyết liệt, không trơ ra như đá hay giống như
ai đó đang ngủ.
•
Thiền định tạo ra chất lượng và sức mạnh cần thiết
để thực hành thiền minh sát.
•
Không cần biết bạn đã ở trong tầng định mạnh mẽ nhất
trong bao lâu, nhưng nếu chỉ có thế, sẽ không mang đến giác
ngộ cho bạn. Để đạt được giác ngộ, bạn phải
hủy diệt được các kiết sử.
•
Bạn có thể bắt đầu một thời khóa tọa thiền bằng phương
pháp thiền chỉ, vun trồng an chỉ định hay bằng sự thực
hành chánh niệm, tùy thuộc vào sự ổn định của tâm bạn
ngày đó. Hay bạn có thể chuyển qua chuyển lại giữa hai
phương pháp này.
•
Không cần biết bạn đã bắt đầu một thời khóa thiền
như thế nào, định và niệm phải đi với nhau để tạo thành
một trí tuệ viên mãn.
•
Bạn cần có một tri giác sắc bén để nhận ra được tính
vô thường, khổ và vô ngã của tất cả mọi hiện hữu.
Tuệ giác cho phép ta thấy được vai trò của tham trong việc
mang đến khổ, để ta có thể buông bỏ nó.
•
Chỉ có định hay chỉ có niệm không thể đưa ta đến giác
ngộ. Giác ngộ chỉ có thể xảy ra khi định kết hợp với
niệm để hủy diệt các kiết sử qua tuệ giác.
•
Có thể chỉ cần vài ngày hay rất nhiều năm mới đạt được
thiền định. Đừng nản chí nếu nó chậm đến và cũng đừng
cố gắng để áp đặt nó.
Lời Kết
Lời Hứa
Khả Của Đức Phật
Sự
phân chia con đường đạo của Đức Phật ra tám bước không
có nghĩa là ta phải bước từng bậc. Không cần phải làm
chủ được bước này trước khi tiến đến bước khác. Đạo
lộ đó giống như một vòng xoắn ốc. Khi đã bắt đầu bước
trên đường, là bạn đã có một số hiểu biết về tất
cả tám bước. Khi bạn tiếp tục thực hành, các bước này
ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong tâm bạn, và bạn có thể
tiến lên giai đoạn kế tiếp.
Tuy
nhiên, có một số phương cách có thể giúp ta nghĩ về đạo
lộ đó như là một tổng thể. Rõ ràng là tham, sân, và si,
là ba pháp bất thiện độc hại nhất và là nguồn gốc của
tất cả mọi khổ đau. Đối nghịch với chúng là ba ngành
quan trọng nhất của đạo lộ: Chánh Kiến về giáo lý của
Đức Phật; Chánh Tinh Tấn để chế ngự tham, sân, si; và
sự thực hành Chánh Niệm như là phương tiện để chế ngự
các pháp bất thiện này. Ba ngành này –Chánh Kiến, Chánh
tinh tấn và Chánh niệm- hỗ trợ lẫn nhau, vận hành cùng
nhau để giúp ta tiến bước trên đạo lộ.
Muốn
thấu hiểu được giáo lý của Đức Phật, hành giả cần
có nhiều nỗ lực. Chắc chắn sẽ dễ dàng hơn nếu ta không
phải cố gắng, không cần thay đổi, cứ sống dễ dãi và
tiếp tục suy nghĩ, hành động theo như các thói quen mà ta
đã huân tập. Tuy nhiên Đức Phật đã dạy rằng một khi
chúng sanh không nhận biết chân lý, họ sẽ nghĩ rằng họ
không có vấn đề gì hoặc vấn đề của họ không thể giải
quyết được.
Tuy
nhiên, nếu bạn có nỗ lực, bạn sẽ hiểu nhiều hơn. Chánh
niệm có thể hỗ trợ bạn. Thật ra, nếu không có chánh niệm,
bạn sẽ không bao giờ hiểu gì hết! Bạn có thể nỗ lực;
bạn có thể tranh đấu; nhưng nếu không có chánh niệm, bạn
sẽ không bao giờ tiến bộ trong sự hiểu biết của mình.
Với chánh niệm, bạn có thể nhận biết chân lý về khổ,
nguồn gốc của nó, sự tận diệt của nó và con đường
dẫn đến sự tận diệt đó. Hơn thế nữa khi thực hành
chánh niệm, bạn sẽ nỗ lực để giải thoát tâm khỏi tham,
sân, và si. Do đó thực hành chánh niệm đòi hỏi phải có
nỗ lực, và sự kết hợp của chánh niệm và nỗ lực giải
thoát tâm khỏi tà kiến.
Các
chi ngành khác trong Bát Chánh Đạo cũng dựa trên ba yếu tố
này. Chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng
và chánh định chỉ có thể được vun trồng với sự hỗ
trợ của chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm. Không
có chánh kiến, bạn sẽ không thể hiểu tại sao việc tu tập
để chuyển hóa cuộc đời bạn là quan trọng. Không có chánh
tinh tấn, bạn sẽ không thể nào tiến đến mục đích chuyển
đổi tích cực. Và chánh niệm là công cụ hoàn hảo bậc
nhất của ý thức và chú tâm để giúp bạn chế ngự tâm
bất thiện, và phấn đấu đến giải thoát.
Một
cái nhìn khác về cách mà tám bước của Bát Chánh Đạo vận
hành với nhau như thế nào là chia chúng thành ba nhóm: giới,
định, và tuệ. Mỗi nhóm thúc đẩy bạn tiến đến việc
thực hành nhóm kế tiếp tới và tiến đến sự thông suốt
hơn về Bát Chánh Đạo như là một tổng thể. Làm thế
nào để được như thế?
Nhóm
đầu tiên bắt đầu với một số hiểu biết nào đó. Thí
dụ, ta hiểu rằng tham khiến ta thất vọng như thế nào, vì
thế ta bắt đầu thực tập xả. Ta cũng hiểu sân hận mang
đến đau khổ cho ta và người khác như thế nào, vì thế
ta quyết định thực hành thương yêu và bi mẫn. Ba tư duy
này - xả, tình thương, và lòng bi mẫn- là chánh tư duy. Muốn
vun trồng những tư duy tích cực này, ta phải có trí tuệ.
Trí tuệ này phát xuất từ chánh kiến. Do đó, chánh
kiến và chánh tư duy kết hợp với nhau như là một khía cạnh
trí tuệ của Bát Chánh Đạo.
Nhóm
thứ hai phát sinh từ nhóm thứ nhất. Khi quán sát cuộc đời
mình với con mắt trí tuệ, ta sẽ thấy hạnh phúc và an bình
biết bao khi ta biết suy nghĩ và hành động thiện.
Trí tuệ cũng giúp ta hiểu rằng những đau khổ mà ta phải
hứng chịu là do tham ái, bám víu mà ra, và rằng khi ta hủy
diệt được những nguyên nhân này thì khổ sẽ chấm dứt.
Sự hiểu biết này thúc đẩy ta sửa đổi hành động của
mình. Vì ta thấy rằng nói dối, nói lời ác độc, nói
lời thô tục và nói xấu đem lại đau khổ, ta tránh các loại
ác ngữ và quyết định chỉ nói những lời lễ phép và đầy
ý nghĩa. Vì ta thấy rằng đau đớn và thương tâm là do các
hành động giết, trộm cắp, sử dụng các chất gây mê, và
tà dâm, ta tránh những hành động tiêu cực này. Thay
vào đó, ta tôn trọng sự sống của những chúng sinh khác
và cố gắng để cứu họ; ta tôn trọng tài sản của người
khác; ta tránh sử dụng những chất gây mê và không quan hệ
tình dục bừa bãi. Vì ta hiểu có những khổ đau, tai họa
gây ra do các phương tiện kiếm sống không lành mạnh, ta cố
gắng kiếm sống một cách lương thiện để hỗ trợ cho sự
tu tập tâm linh của mình. Những sự thay đổi bên ngoài do
ảnh hưởng của chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng được
nhóm lại với nhau như là một khía cạnh đạo đức (giới)
của đạo lộ.
Nhóm
thứ ba dựa trên sự hiểu biết rằng nếu chỉ có những
sự thay đổi bên ngoài thôi, ta sẽ không thể chấm dứt được
khổ. Ta cũng biết rằng hành động bắt đầu bằng ý
nghĩ và những ý nghĩ bất thiện tự chúng sẽ đem đến cho
ta rất nhiều khổ đau. Do đó ta cố gắng để rèn luyện,
kỷ luật tâm. Khi bắt đầu quán sát tâm mình, ta thấy
rằng dầu ta có ý hướng thiện, nhưng các bất thiện pháp
như tham, sân, si, và nghi vẫn khởi lên trong tâm thức ta.
Ta cũng nhìn thấy xa hơn nữa rằng phương cách duy nhất để
chống lại các cạm bẫy của tâm là áp dụng sự tinh tấn
miên mật và thành khẩn để tránh các thói quen suy nghĩ tiêu
cực, để chế ngự chúng khi chúng phát khởi, và để gieo
trồng, duy trì các thiện pháp. Hơn thế nữa, ta thấy
rằng chánh niệm rất cần thiết cho sự chuyển hóa tích cực,
ở ngoại tại cũng như nội tâm. Nếu không có định,
ta khó phát triển được tâm chánh niệm, vì chính định giúp
ta nhìn thấy sự việc như chúng thật sự là. Ba yếu tố
này –chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định– kết hợp
lại với nhau như là khía cạnh định Bát Chánh Đạo.
Vì
thế, hết lần này tới lần khác, chúng ta luôn thực hành
tám bước của con đường đạo này. Với mỗi lần thực
hành, lòng tham, sân, và si của ta lại giảm bớt. Với
mỗi lần thực hành, sự hiểu biết của ta về sự thật
của khổ, nguyên do của khổ và cách để tận diệt khổ
sẽ thâm sâu hơn. Không cần biết lúc bắt đầu, trình độ
hiểu biết của bạn ra sao, kết quả của con đường đạo
vẫn không khác -chấm dứt khổ đau, và cuối cùng, là mức
độ cao nhất của hạnh phúc và bình an.
GIÁC
NGỘ
Nhiều
người không tin có giác ngộ. Trên các diễn đàn trong internet
(chat room) thảo luận về Phật pháp, tôi nhận thấy có một
số người dùng lời lẽ mạ lỵ -những lời thô tục, giận
dữ- để nói về giác ngộ. Có thể họ đã hiểu sai
về giác ngộ. Giác ngộ không gì hơn là sự đoạn diệt niềm
đau cháy bỏng do tham, sân, si tạo nên. Giác Ngộ dập
tắt đi một lần và mãi mãi ngọn lửa của sinh, già, bệnh,
chết, buồn, khổ, đớn đau, và thất vọng.
Có
thể người ta chế diễu sự giác ngộ vì sợ rằng khi họ
dập tắt ngọn lửa đó, họ sẽ không còn gì để sống tiếp
trong bóng tối lạnh lẽo của thất vọng. Có thể họ đã
lẫn lộn ngọn lửa nội tâm đau đớn với ngọn lửa đã
khơi dậy nền văn minh, hay với ngọn lửa của điện lực.
Nhưng khi ngọn lửa khổ đau của ảo tưởng được dập tắt,
những gì hiện ra sau đó không phải là không khí lạnh lẽo
của một đêm đông đen tối. Đó không phải là một trạng
thái u ám, thiếu sinh khí. Không như thế chút nào. Khi ngọn
lửa của tham, sân, si, sinh, già, bệnh, chết, đau đớn, khóc
than, phiền não . . . đã được dập tắt, kết quả là sự
an bình trọn vẹn, thanh tịnh trọn vẹn, và hạnh phúc không
thể diễn tả, trong khi tâm và các giác quan, cùng lúc, một
trăm phần trăm trong sáng, thanh cao, đầy sinh lực. Giác ngộ
là ánh sáng của nội tâm, sự chiếu sáng, sự ấm áp của
nội tâm.
Khi
đã đặt xuống gánh nặng của tất cả mọi phiền não trong
tâm –tham, sân, si– thân và tâm sẽ cảm thấy thật khỏe
khoắn. Chúng ta không quen với cảm giác nhẹ nhàng này. Chúng
ta đã quen có một cái đầu đông cứng, một trái tim trĩu
nặng, một thân thể phục phịch. Viễn ảnh có được một
trái tim thanh thoát như thế khiến chúng ta e dè. Chúng ta sợ
rằng sự nhẹ nhàng thanh thoát đó sẽ khiến đầu ta lơ lửng.
Sự nặng nề, sự đau khổ đã quá quen thuộc đến nỗi chúng
ta sợ rằng mình sẽ cảm thấy mất phương hướng nếu ta
buông bỏ chúng.
Điều
này đã xảy ra cho một người bạn của tôi. Do công
việc anh ta phải chuyển nhiệm sở và dọn đến một căn
hộ cạnh một ga xe lửa ồn ào. Lúc đầu, anh không thể ngủ
được vì sự ồn ào nơi nhà ga. Một vài năm sau anh
lại phải dọn nhà lần nữa. Căn hộ mới của anh rất yên
tĩnh. Lần nữa, trong nhiều đêm, anh ta không thể ngủ. Anh
đã trở nên quá quen thuộc với tiếng động, với sự ồn
ào mà anh thực sự cần để thư giãn và đi vào giấc ngủ!
Tương tự, chúng ta cũng đã quá quen thuộc với tâm phiền
não, khổ đau đến nỗi chúng ta sợ sự thay đổi.
Điều
này cũng khiến tôi nhớ đến câu chuyện về một người
mà tôi đã đọc được trong báo khi tôi sống ở Washington
D.C. Người này phải chịu án chung thân vì tội giết người.
Nhờ chấp hành kỷ luật nghiêm túc, sau mười năm, anh ta được
ân xá. Một phóng viên phỏng vấn anh. “Chắc ông rất
hạnh phúc khi biết mình được ân xá?”
“Không.
Đừng nói với tôi về việc ân xá,” người đàn ông trả
lời một cách bực bội. Anh nói rằng anh đã cảm thấy rất
thoải mái với cuộc sống trong tù. Anh ta tận hưởng
những quyền lợi như được coi ti vi, và cuộc sống trong
tù không có những sự bất an như bên ngoài. Nhưng, tôi tự
hỏi, có phải anh đã thực sự trở nên quá quen thuộc với
sự bạo động trong tù, sự hà khắc, sự tàn nhẫn của những
người cai tù? Có phải anh đã quên niềm vui được sống
bên ngoài bức tường tù tội, cảm giác của không khí mát
mẻ, không gian rộng mở thông thoáng, những món ăn ngon, sự
tự do được gặp gỡ những người tự do khác, có phải
anh đã trở nên quá bám víu vào những điều kiện bên trong
tù đến nỗi được tự do có vẻ xa lạ và không hấp dẫn?
Những
người chế diễu, mạ lỵ giác ngộ hẳn cũng giống như người
đàn ông trong tù kia. Họ bám víu vào những gì họ đang có.
Họ không muốn xa rời sự quen thuộc dễ chịu của khổ đau.
Nhưng họ không biết họ thiếu sót, mất mát điều gì.
Giác
ngộ không phải là một điều gì đó ta muốn là có được.
Đó là một trạng thái mà bạn có được khi tất cả mọi
ham muốn đã không còn. Như Đức Phật đã dạy,
Nếu
nước ở khắp nơi,
ta
cần gì đào giếng?
Nếu
đã bứng sạch rễ tham,
ta
còn tìm kiếm gì?
(Ud
VII.9 [Do Ireland dịch])
Khi biết mình còn thiếu thốn điều gì đó, ta sẽ luôn đi
tìm. Trái lại, khi đã có tất cả mọi thứ mình mong
muốn, ta sẽ thôi không tìm kiếm. Vì đã đạt được
hạnh phúc tuyệt đối, sự hòa hợp hoàn toàn, bạn cảm thấy
bằng lòng để cho mọi người khác cũng được sống trong
hạnh phúc và hòa hợp.
Ở
cuối bài kinh Đại Niệm Xứ (Maha Satipatthana Sutta), Đức Phật
đã đảm bảo rằng bất cứ ai thực hành thiền chánh niệm
theo lời chỉ dạy của Đức Phật thì người đó chắc chắn
sẽ đạt được giác ngộ ngay trong kiếp sống này. Nếu không
được hoàn toàn giác ngộ vì còn một số kiết sử vi tế
cản trở, thì người đó ít nhất cũng trở thành một vị
Bất lai (non-returner), đạt được tam thiền. (D 22)
Đức
Phật không hàm ý rằng vị hành giả chỉ thực hành một
phần giới hạn của đạo lộ mà có thể đạt được Giác
Ngộ. Muốn được giác ngộ bạn phải phát triển toàn
vẹn mọi khía cạnh của giới, định, và tuệ. Hơn thế nữa,
trong lời hứa khả đáng ngạc nhiên này, Đức Phật không
chủ ý nói rằng một sự tu tập dễ dãi, không thường xuyên
-lúc có lúc không– là đủ. Trái lại, Ngài có ý dạy
rằng để đạt được giác ngộ, ta phải tu tập một cách
tinh tấn, kiên trì và tự nguyện. Để đạt được định,
sự nỗ lực của bạn phải được hỗ trợ bằng giới đức
hoàn toàn trong sáng. Thiền chứng của bạn phải thiện và
nhất tâm. Tâm định mãnh liệt này phải được vun trồng
bởi tâm chánh niệm cũng mãnh liệt không kém. Rồi thì trí
tuệ giải thoát sẽ xuất hiện với sự hỗ trợ của giới
luật thanh tịnh và chánh định.
Tuy
nhiên, một số người vẫn còn nghĩ rằng những lời của
Đức Phật là những lời hứa không thực tế. Tôi không biết
họ dựa vào đâu để nghi ngờ nó. Họ có giống như người
ghét xuống nước lại nghi ngờ rằng làm gì có ai lội nhanh
như các vận động viên Olympic? Hay giống như người
chưa bao giờ chạy một bước lại nghi ngờ rằng làm sao có
ai chạy được hai mươi sáu dặm marathon? Dĩ nhiên lời hứa
khả của Đức Phật có vẻ không thực tế đối với những
kẻ chưa từng ngồi trên gối thiền hay cố gắng quán sát
hơi thở mình trong một phút! Và lời hứa đó cũng không chắc
chắn đối với những ai đã ngồi thiền nhiều năm nhưng
chẳng bao giờ thực hành cả tám bước của Bát Chánh Đạo
bao gồm giới, định, và tuệ.
Thực
hành thiền quán đòi hỏi những giới luật khắt khe. Bạn
chấp nhận các giới luật này không phải để gây ấn tượng
đối với ai, mà là để giải thoát tâm khỏi những đau khổ
gây ra bởi chính những sự bất thiện của bạn. Nếu bạn
đến với đạo lộ như một thú tiêu khiển, hay một sự
sưu tầm, thì bạn sẽ không bao giờ thành công. Tám ngành
của Bát Chánh Đạo không phải là những điều mà bạn chỉ
nghiên cứu, tìm hiểu, rồi chỉ đem ra thực hành khi cần.
Đúng là bạn chỉ thực hành Bát Chánh Đạo khi cần –nhưng
bạn cần đến chúng mỗi giây phút trong cuộc đời bạn!
Tuy
nhiên, sự chánh niệm của bạn về tám bước trên con đường
của Phật, không cần phải hoàn thiện trước khi bạn có
thể bắt đầu thực tập. Nếu sự chánh niệm của bạn về
Bát Chánh Đạo có thể bị suy giảm, đừng lo lắng. Chỉ
cần chánh niệm về sự không chánh niệm đó ngay khi bạn
có thể. Sự thành công trên bước đường tu tập của bạn
tùy thuộc vào việc bạn có giữ được ý chí mạnh mẽ để
luôn chánh niệm, chứ không phải là việc bạn thực sự có
khả năng làm được như thế hay không. Khi bạn tiếp tục
nhắc nhở bản thân phải chánh niệm, thì sự xao lãng càng
ngày càng ít hơn, cho tới một ngày, sự chánh niệm về con
đường đạo trở nên tự động. Nếu bạn có được sự
nỗ lực như thế, bạn sẽ tiến bộ rất nhanh. Lúc đó bạn
sẽ là loại đệ tử mà Đức Phật đã nghĩ đến trong tâm
khi Ngài lập lời hứa khả này.
HÃY
ĐẾN ĐỂ THẤY
Quyển
sách này chỉ đưa ra những lời hướng dẫn căn bản để
giúp bạn đi theo con đường đạo. Khi đã tiến bộ trong việc
thực hành, nếu bạn thỉnh thỏang xem lại, bạn có thể thấy
là nó vẫn còn hữu ích cho bất kỳ trình độ hiểu biết
nào. Nhưng quyển sách này không thể giải thích tất cả những
điều bạn muốn biết về Phật pháp, về sự tu tập, về
kinh nghiệm của bạn và về những gì bạn sẽ đạt được.
Mỗi cá nhân sẽ có căn bản giáo dục, ý thức, sự hiểu
biết về Pháp, và những trình độ tiến bộ tâm linh khác
nhau. Hơn thế nữa, ngày mai các câu hỏi của bạn sẽ rất
khác với những câu hỏi của ngày hôm nay.
Ngay
chính Đức Phật cũng không thể trong một bài kinh có thể
nói hết về mọi khía cạnh cho mọi người. Đó là lý do
tại sao Ngài đã có hàng ngàn bài pháp. Quyển sách này chỉ
là một bảng tóm tắt của những điều này và một vài giải
thích về những điểm quan trọng nhất của chúng. Những gì
còn lại bạn sẽ phải thêm vào qua sự thực tập của mình.
Giây phút hiện tại là thầy của bạn. Hãy biến nó thành
một phòng thí nghiệm cho chính cá nhân bạn. Hãy chú tâm.
Hãy quán sát. Chỉ có bạn mới có thể mang lại trí tuệ
cho bản thân. Bạn thực hiện được điều đó bằng cách
theo đuổi các thiện pháp.
Những
thính giả có lòng nghi hoặc đã có lần hỏi Đức Phật rằng
tại sao họ cần phải tin Ngài, khi họ đã nghe quá nhiều
những vị đạo sĩ khác, ai cũng tự nhận mình nắm được
chân lý. Đức Phật trả lời rằng họ không nên tin bất
cứ điều gì chỉ vì một ai đó, ở đâu đó, đã nói rằng
đó là chân lý. Những nguồn tin được nghe qua, được báo
cáo, những niềm tin lưu truyền qua nhiều thế hệ, kinh sách
được coi là thánh điển, lời của một vị thầy được
kính tin, và giáo huấn từ một ai đó mà bạn nghĩ là rất
thông thái -tất cả đều không có sự bảo đảm của chân
lý. Đức Phật đã dạy rằng tất cả những điều này không
nên được chấp nhận chỉ dựa trên lòng tin.
Đức
Phật cũng dạy rằng ta không thể chỉ dùng lý trí để khám
phá ra chân lý. Ngài thuyết rằng không nên tin một điều
gì đó chỉ vì nó có vẻ logic, hoặc dường như mang ta đến
gần với mục đích của mình hơn, hoặc thích hợp với chí
hướng của ta hay có vẻ đúng sau khi ta đã suy nghĩ về nó.
Tại sao? Vì Pháp vẫn còn một khía cạnh mà không có
gì, ngay cả sự suy luận quán chiếu, có thể nắm bắt được:
sự trải nghiệm của bản thân ta.
Đức
Phật đưa ra một quy luật tổng quát đối với những gì
chúng ta nên chấp nhận. Quy luật này không dựa trên bất
cứ loại lòng tin hay lý luận nào. Đúng hơn, Đức Phật dạy,
khi quán chiếu một hành động, hãy tự hỏi, dựa vào kinh
nghiệm bản thân, rằng một hành động như thế có tổn hại
cho ai không, kể cả bản thân ta. Nếu nó tổn hại, bất thiện,
thì hành động đó không nên làm. Nếu nó hữu ích cho mọi
người, kể cả bản thân ta, và nếu người trí cũng chấp
nhận thì nó là thiện. và hành động đó nên làm. (A
I (Ba) VII.65)
Sau
đó Đức Phật dạy thêm rằng ta cần phải quán sát lại
sau mỗi hành động đã thực hiện. Ta nên tự hỏi, “Hành
động đó thực sự xảy ra như thế nào? Nó có thiện xảo
không?” Nếu không, và ta “phải nhận lãnh hậu quả với
nước mắt,” thì hành động đó cần phải được tránh
trong tương lai. Trái lại, nếu hành động đó thiện xảo,
và ta “gặt được kết quả với niềm vui trong mắt,” thì
hành động đó cần phải được làm lặp lại. (Dh 67-68)
Nếu ta chú tâm đủ và thành thật với bản thân về những
gì ta biết là đúng, thì –không cần phải tin vào bất cứ
điều gì người khác nói- ta có thể chọn lựa hành động
để phát triển tâm thanh tịnh và trí tuệ, và điều đó
mang đến nhiều hạnh phúc cho ta. Chỉ có ta là người
giữ chìa khóa đi vào cửa giải thoát của mình. Chìa khóa
đó là lòng quyết tâm để quán chiếu nội tâm và quyết
định hành động nào là thiện, mang đến cho ta những kết
quả tốt đẹp.
Bạn
có muốn được thấy Pháp không? Hãy quán chiếu những trải
nghiệm của mình. Hãy sử dụng kinh nghiệm bản thân
như là một tấm gương phản chiếu Pháp. Tất cả bản tánh
của mọi chúng sanh cũng phản chiếu qua đó. Trong cuộc sống
hằng ngày và trong từng giây phút hiện hữu, ta có thể thấy
tất cả những gì ta cần thấy ở bất cứ nơi đâu: nhân
quả, vô thường được biểu hiện qua dòng chuyển đổi không
dừng ở mọi mức độ, đau khổ có mặt ở bất cứ nơi
nào có tham ái, chấp ngã, và sự thật rằng dầu ta có cố
gắng để tìm kiếm tự ngã một cách khổ sở như thế nào,
ta cũng không thể tìm thấy gì.
Bạn
có muốn biết về kinh nghiệm của mình không? Hãy quán tưởng
Pháp. Qua đó bạn sẽ thấy tất cả các thành phần và mẫu
mực chung, không của riêng ai để tạo ra “con người bạn.”
Ở đó bạn cũng thấy rằng những gì bạn đã trải qua, trên
căn bản, cũng giống như những gì mà mọi chúng sanh khác
đã trải qua. Pháp có mặt ở khắp mọi nơi. Thí dụ,
ngay cả khi quán sát một con bọ đang vẫy vùng trong tô nước,
có thể cũng bừng lên trong tâm trí bạn về thực tại của
sự sợ chết mà bạn cũng như tất cả mọi chúng sanh khác
đều cảm thấy. Vạn pháp đều hiển lộ trong tất cả mọi
mặt của cuộc sống, trong từng giây phút, từng ngày. Nó
có mặt ngay đó để ta nhận dạng, không cần có một niềm
tin mù quáng hay một lý thuyết luận giải nào. Từ việc quán
sát rốt ráo này, ta có được tự tin trong việc tu t |