Bước
7
CHÁNH
NIỆM
Chánh
niệm là sự ý thức, chú tâm từng giây từng phút đến những
gì đang xảy ra quanh và trong ta. Một cách vô thức, chúng ta
cảm nhận bản thân và thế giới chung quanh qua những định
kiến hẹp hòi, theo thói quen, tạo ra bởi vọng tưởng, do
đó tư duy, ý thức tâm linh của ta đối với thực tại rất
tản mạn, rối rắm. Chánh niệm giúp chúng ta tạm thời dừng
lại mọi suy tưởng, hình ảnh, phán đoán giá trị, nhận
xét nội tâm, ý kiến, và suy diễn. Tâm chánh niệm chính
xác, sâu lắng, cân đối, và không rối rắm. Tâm đó
giống như một tấm gương phản chiếu mà không làm sai lệch
bất cứ gì ở trước gương.
Đức
Phật thường khuyên đệ tử “Hãy giữ tâm chánh niệm trước
mặt.” “Trước mặt” có nghĩa là ngay giây phút hiện tại.
Điều này không chỉ có nghĩa là phải biết rõ tâm đang làm
khi ta hành thiền; mà có nghĩa là ta phải biết rõ ràng mọi
chuyển động vật lý và tâm lý mà chúng ta thực hiện trong
suốt những giờ phút thức tĩnh trong ngày. Nói cách khác,
nó có nghĩa là có mặt ở đây, ngay bây giờ.
Giây
phút hiện tại thay đổi quá nhanh đến nỗi chúng ta thường
không để ý đến sự có mặt của nó chút nào. Mỗi sát
na tâm giống như một chuỗi hình ảnh chiếu trên màn hình.
Một số hình ảnh đến từ ấn tượng giác quan. Số khác
đến từ ký ức của quá khứ hay viễn ảnh của tương lai.
Chánh niệm giúp chúng ta giữ màn hình đứng yên để chúng
ta có thể trở nên ý thức về các cảm xúc và kinh nghiệm
như chúng thật là, không có sự tô vẽ méo mó của các phản
ứng do các điều kiện xã hội hay thói quen tạo ra.
Một
khi chúng ta đã tập nhận biết mà không phán xét những gì
đang thực sự xảy ra, là ta có thể quán sát cảm xúc,
tư tưởng của mình mà không vướng mắc, mà không bị lôi
cuốn theo các phản ứng của thói quen. Do đó chánh niệm cho
chúng ta thời gian cần thiết để ngăn chặn và chế ngự
những thói quen suy nghĩ và hành động tiêu cực, để vun trồng
và duy trì các thói quen tốt. Chánh niệm giúp ta thoát
khỏi sự bộc phát tự động, giúp ta kiểm soát được tư
tưởng, hành động, và lời nói của mình.
Hơn
thế nữa, chánh niệm đưa đến tri giác, “cái thấy nội
tâm” rõ ràng đối với bản chất của sự vật như chúng
thực sự là, không lệch lạc. Với sự thực hành thường
xuyên, trong các thời khóa hành thiền chính thức, cũng như
trong sinh hoạt hằng ngày, chánh niệm giúp chúng ta nhìn thế
giới bên ngoài và bản thân với con mắt của trí tuệ nội
tâm. Tri giác là vương miện của tuệ. Mở được con mắt
tuệ là mục đích cốt yếu của chánh niệm, vì tuệ tri về
bản chất thực sự của thực tại là bí mật tối thượng
của thanh tịnh và hạnh phúc vững bền. Chúng ta không cần
phải tìm kiếm nó ở bên ngoài; mỗi chúng ta đều có khả
năng nội tại để vun trồng giác tri. Một câu chuyện cổ
xưa sẽ làm rõ hơn điểm này.
Thuở
xưa có một vị thiên nhân muốn giấu kín một bí mật quan
trọng –bí mật của hạnh phúc. Đầu tiên ông nghĩ đến
việc giấu bí mật đó ở dưới đáy biển. Nhưng rồi
ông tự nhủ, “Không, ta không thể giấu bí mật của ta ở
đó. Con người rất thông minh. Một ngày kia họ sẽ tìm ra
nó.”
Kế
tiếp, vị ấy nghĩ đến việc giấu bí mật trong một hang
động. Nhưng rồi ông cũng từ bỏ ý định đó. “Có nhiều
người thăm viếng các hang động này, họ sẽ tìm ra bí mật
ở đó.” Sau đó ông nghĩ đến việc giấu bí mật trên đỉnh
núi cao nhất. Nhưng rồi ông cũng nghĩ, “Ngày nay con
người rất tò mò. Một ngày kia sẽ có người leo lên đỉnh
núi và khám phá ra nó.”
Cuối
cùng vị thiên nhân tìm ra được một giải pháp hoàn hảo
nhất. “À! Ta biết một nơi mà không có ai đến đó để
tìm kiếm. Ta sẽ chôn giấu bí mật này trong tâm của chúng
sanh.”
Vị thiên nhân này đã giấu sự thật trong tâm con người.
Giờ hãy để chúng ta đi tìm nó! Chánh niệm không nhằm mục
đích tìm hiểu điều gì ở bên ngoài. Mục đích của nó
là để tìm ra sự thật ẩn chứa bên trong chúng ta -ở ngay
tâm trí này.
Theo
Đức Phật tâm ta sáng láng tự nhiên. Trong mỗi sát na, khi
thức đầu tiên phát khởi, nó chói lòa ánh sáng. Tuy nhiên,
đối với tâm chưa giác ngộ, ánh sáng đó bị che mờ bởi
sự nhiễm ô của tham, sân, và si. Những nhiễm ô này
cản trở sự trong sáng của tâm, khiến tâm u tối, khổ đau.
Nhưng
chúng ta không thể nói rằng tâm đã sẵn thanh tịnh thì ta
không cần phải làm gì cả. Chúng ta phải tu tập để khiến
nó luôn được như thế. Chúng ta phải chùi rửa tâm trong
sáng này để ánh sáng tự nhiên đó không bị bất cứ nhiễm
ô nào làm mờ đục. Trí tuệ được vun trồng với chánh
niệm sẽ thiêu đốt chướng ngại của tham, sân, và si. Chúng
ta càng tháo gỡ được nhiều chướng ngại, thì tâm càng
trở nên tự tại, hạnh phúc, và chiếu sáng. Chánh niệm cũng
ngăn trở không để cho các lậu hoặc lại phát khởi. Do đó,
bí mật thâm sâu của hạnh phúc được giấu kín là chân
lý này đây: hạnh phúc đến từ bên trong bản tâm của ta
qua việc sử dụng chánh niệm để dẹp bỏ tham, sân, và si.
Bí mật của hạnh phúc được hiển lộ khi các lớp vỏ của
nhiễm ô được lột bỏ bởi trí tuệ.
Chánh
niệm đưa đến giác tri như thế nào, và giác tri giúp ta buông
bỏ các chướng ngại như thế nào? Khi hành giả quay vào quán
sát nội tâm, cố gắng để hiểu sự thật về hạnh phúc,
hành giả ý thức và quán sát năm uẩn của thân tâm. Khi hành
giả quán sát một cách có chánh niệm, hành giả bắt đầu
thấy mỗi uẩn phát sinh, tăng trưởng, sung mãn, suy yếu, rồi
hoại diệt đi như thế nào.
Thí
dụ, tấm thân đẹp đẽ này mà ta luôn cẩn thận gìn giữ
sức khỏe cho nó đang thay đổi từng giây phút. Khi ta đang
đọc những dòng này, mỗi tế bào, mỗi mô và những phần
nhỏ nhất của thân vật lý đang thay đổi –tăng trưởng,
hư hoại. Trái tim đang đập, phổi, thận, gan, óc, vân vân
đang hoạt động. Trong khi các bộ phận vật lý này đang
thay đổi, thì thọ, tưởng, thức và các đối tượng tâm
linh cũng phát sinh rồi qua đi. Chánh niệm trong giây phút hiện
tại tạo cho ta tri giác về những sự thay đổi này –vào
tính chất vô thường không thể tránh được của tất cả
vạn pháp.
Nhận
thức được tính chất vô thường của vạn pháp sẽ cho
ta cơ hội để nhận biết khổ do vô thường tạo ra. Thí
dụ, hãy hồi tưởng lại những cảm thọ tuyệt vời mà bạn
đã trải qua trong quá khứ. Giờ đây các cảm thọ đó có
hoàn toàn giống như trước không, dầu bạn có thể tạo dựng
lại hoàn cảnh, môi trường như xưa? Biết được rằng
những gì thuộc về quá khứ đã qua đi mãi mãi khiến ta cảm
thấy buồn. Khi chúng ta có thể thấy mọi thứ đều qua đi
như thế nào –thân, thọ, con người và vật chất mà ta thương
yêu, trân quý– không chỉ trong từng giây phút mà rất nhiều
lần trong những giây phút đó, là ta thấy được nguyên nhân
của khổ: tâm bám víu vào các pháp luôn biến chuyển không
dừng dứt.
Cuối
cùng, chánh niệm tạo cho chúng ta tri giác về sự hiện hữu
thực sự của vạn pháp, kể cả con người. Tri giác
về vô thường và khổ giúp ta thấy rằng thực tại không
phải là cái gì “ở bên ngoài”, tách biệt khỏi chúng ta.
Đúng ra, thực tại là sự trải nghiệm luôn thay đổi của
chúng ta đối với thế giới không ngừng biến chuyển -thế
giới nội tại và thế giới mà ta cảm nhận được qua các
giác quan.
Tu
tập chánh niệm giúp ta thấy việc không chấp nhận, chống
đối lại với những gì xảy ra trong cuộc đời là vô ích.
Chúng ta không chặt tay mình khi nó làm điều gì xấu. Tương
tự, nếu ta xa lánh những người hành xử khác ta, thì thật
dại khờ, vì tất cả chúng ta đều là một phần của thế
giới luôn biến chuyển, luôn khổ đau này. Tranh chấp với
thế giới thì cũng giống như bàn tay này đánh đấm với
bàn tay kia, hay con mắt bên phải đối nghịch với con mắt
trái.
Chúng
ta khám phá ra cuộc đời không phải là một cái gì bất biến.
Nó là một dòng chảy mãnh liệt của những biến đổi không
dừng. Khi đi tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời, tất cả những
gì ta có thể tìm thấy là sự thay đổi này. Khi chúng ta tiếp
tục quán tưởng về khía cạnh nổi bật này, ta sẽ không
thấy bản chất vững bền hay thường hằng trong đó –không
có cái ngã hay linh hồn bền vững, thường hằng nào ở bên
trong để ta có thể bám víu vào, và cũng không có cái ngã
hay linh hồn bền vững, thường hằng nào ở tha nhân để
ta tranh cãi với.
Do
đó, chánh niệm mang đến cho ta tri kiến về ba tính chất
của vạn pháp: vô thường, khổ, và vô ngã. Quay vào nội
tâm, tự quán sát mình, ta sẽ thấy thân vật chất này biến
đổi nhanh chóng đến dường nào, và những sự thay đổi
này khiến ta đau khổ biết bao. Ta đã ước muốn mãnh
liệt đến thế nào để không còn phải tái sinh, không phải
già, bệnh, không phải trải qua những khổ đau, thất vọng,
hay sầu não nữa. Ta biết khổ khi bám víu vào người
hay vật mà ta ưa thích, hoặc tránh né người hay vật mà ta
không ưa thích. Ta ý thức rằng bất cứ ham muốn nào,
dầu vi tế hay cao cả đến đâu, cũng mang đến khổ đau.
Ngay chính lòng ham muốn chế ngự dục tham -dầu là thiện
và cần thiết cho sự tiến bộ- cũng là khổ. Cuối cùng,
chúng ta thấy rằng cảm nhận về cái ngã, sự xác tín cá
nhân (personal identification) mà ta bảo vệ một cách mãnh liệt,
cũng chỉ là ảo tưởng, vì chúng ta là một quá trình, một
dòng chảy không ngừng của vật chất, tình cảm, và những
biến động tâm linh mới mẻ trong từng phút giây.
Ấn
Độ giáo đã diễn tả chân lý này một cách sống động
khi họ nói đến ba vị thần -vị thần sáng tạo Brahma, vị
thần bảo vệ Vishnu và vị thần hủy diệt Shiva. Vị
sáng tạo là giai đoạn phát khởi; vị bảo vệ là giai đoạn
sung mãn; và vị hủy diệt là giai đoạn hoại diệt. Mỗi
giây phút một pháp nào đó phát khởi; mỗi giây phút một
pháp nào đó sung mãn; và mỗi giây phút một pháp nào đó
bị hoại diệt. Không có giây phút nào ngưng đọng, vì không
có gì, ngay chỉ trong một tích tắc thời gian, là còn nguyên
vẹn. Quá trình này tiếp diễn không ngừng nghỉ.
Khi
đã đạt được tri kiến này, ta có thể để cho các xúc
cảm, cảm thọ, suy tưởng đi qua tâm mà không níu giữ lại
bất cứ thứ gì, dầu rằng chúng dễ chịu, thoải mái thế
nào. Trái lại, khi các trạng thái khó chịu, đau đớn,
hay không thể chịu đựng xuất hiện, ta cũng để chúng qua
đi mà không trở nên bực bội. Chúng ta chỉ để sự việc
xảy ra mà không cố gắng ngăn chặn chúng, không bám víu chúng
mà cũng không tránh né chúng. Chúng ta chỉ nhận biết sự
vật như chúng là.
Chúng
ta thấy, không chỉ với con mắt của trí tuệ mà ngay cả
với sự tĩnh thức hằng ngày, rằng tất cả mọi vật, mọi
chúng sanh hiện hữu dựa vào những nhân duyên luôn biến đổi.
Vì không có gì thường hằng để bám víu vào và không có
gì thường hằng để xua đẩy đi, chúng ta tự tại với một
tâm hoàn toàn an tĩnh, hoàn toàn hạnh phúc.
BỐN
LÃNH VỰC CHÁNH NIỆM
Chánh
niệm là sự ứng dụng thiền trong cuộc sống. Những
phương pháp thực hành chánh niệm được nói đến sau đây
dựa vào bài pháp do Đức Phật giảng với các đệ tử của
Ngài về bốn nền tảng của chánh niệm, (Maha-Satipatthana Sutta,
Kinh Đại Niệm Xứ, D 22). Trong bản kinh đó, Đức Phật
dạy nhiều phương pháp thiền định. Ngài bắt đầu với
sự giải thích mỗi phương pháp bằng những lời, “Lại
nữa, này các tỳ kheo …”. Với những lời này Đức
Phật muốn truyền dạy rằng cần đem các phương pháp này
ra thực hành. Ngài tuyên thuyết rõ ràng rằng bất cứ ai thực
hành chánh niệm theo các phương pháp này chắc chắn sẽ đạt
được hạnh phúc lâu bền trong giác ngộ. Tuy nhiên với nhiều
phương pháp như thế, làm sao chúng ta có thể thực hành tất
cả?
Sự
khác biệt trong các phương pháp mà Đức Phật đã dạy chỉ
gây khó khăn cho những ai chưa quen với giáo pháp. Thực
ra, các phương cách thực hành đều dựa trên các sinh hoạt
hằng ngày của chúng ta. Hơn nữa, các phương pháp của Đức
Phật đều dựa trên trí tuệ siêu việt của Ngài về cách
mà tâm chúng sanh vận hành.
Lấy
thí dụ một em bé. Bé rất dễ thương và tuyệt vời nhưng
cũng rất đòi hỏi. Em bé đòi ăn, đòi tả sạch, đòi không
khí trong lành, đòi ngủ, và nhiều thứ khác nữa, trong khi
sự chú tâm em bé rất ngắn. Bậc làm cha mẹ có bổn phận
giữ cho em bé bận rộn và khuyến khích bé bằng cách chắc
chắn rằng bé có một số đồ chơi hữu ích và những hoạt
động khác nhau. Tâm chúng ta cũng đòi hỏi tương tự như
thế, và sự chú tâm của chúng ta đôi khi cũng ngắn ngủi
như của một em bé. Đức Phật hiểu điều này. Ngài liệt
kê cho chúng ta cả một danh sách những việc cần làm. Chúng
ta có thể bắt đầu với bất cứ đối tượng nào của thiền
quán. Hơi thở, cảm thọ, một trạng thái tâm, một trong những
chướng ngại hay kiết sử –không quan trọng là gì- vì bất
cứ cái gì chúng ta chú tâm vào, không lâu sau sẽ thay đổi.
Khi tâm hướng đến điều gì đó bất thiện, ta lập tức
thay nó với điều gì đó tốt hơn, giống như khi cha mẹ đưa
cho em bé một quả bóng để lấy cất cái kéo mà bé vừa
cầm được. Khi tâm hướng đến điều thiện, ta sẽ khuyến
khích nó.
Bất
cứ điều gì phát khởi trong tâm sẽ trở thành đối tượng
của thiền chánh niệm. Chúng ta có thể dùng bất cứ đối
tượng nào để phát triển thêm trí tuệ của chúng ta về
ba tính chất của mọi hiện hữu: vô thường, khổ, và vô
ngã. Khi một tư tưởng nào đó hoại diệt đi một cách tự
nhiên, chúng ta chuyển tâm trở lại với đối tượng thiền
quán ban đầu.
Có
thể bạn sẽ tự hỏi, “Nếu tâm tôi không trụ vào đối
tượng thiền quán đầu tiên thì sao? Nếu tôi chọn quán chiếu
trên ba mươi hai phần của thân, nhưng trong một tiếng đồng
hồ tôi chỉ mới quán được năm phần đầu tiên thì sao?”
Nếu các đối tượng thiền quán khác sinh khởi nơi tâm và
bạn sử dụng chúng để quán chiếu về ba đặc tính của
thực tại, thì đâu có vấn đề gì? Bất cứ phương pháp
thiền nào mà có thể giúp bạn nhận ra được chân lý, thì
đó là một phương cách hữu hiệu. Đừng hy vọng rằng
tâm sẽ trụ trên đối tượng này hay đối tượng kia. Bản
chất tự nhiên của tâm là biến đổi. Nó đi từ đối
tượng này đến đối tượng khác.
Nhưng
không nên cố ý nhảy từ đối tượng này sang đối tượng
khác. Bắt đầu với sự chú tâm vào một đối tượng
thiền quán, như là thân, và chỉ chuyển đến đối tượng
khác khi nó tự nhiên sinh khởi. Thí dụ ta đang chú tâm vào
hơi thở, bỗng nhiên một tư tưởng phát khởi khiến ta nghĩ
về bệnh da của mình. Khi tư tưởng đó qua đi, tâm sẽ trở
về với hơi thở kế tiếp. Nếu không thể dứt chú tâm về
da, ta nên quán tưởng về sự vô thường của da –nó mong
manh như thế nào, luôn chuyển đổi như thế nào, và sẽ trở
nên nhăn nheo như thế nào. Ta cũng nên quán về việc chấp
vào da sẽ vô ích và phiền não như thế nào, vì dầu ta cố
gắng thế nào, nó cũng sẽ phải thay đổi, mà ta càng bám
víu vào nó, ta càng khổ đau. Ta cũng nên nghĩ đến tính vô
ngã của da –không có “cái ta” nào trong đó để làm chủ
nó. Sau đó ta quán sát khi các tư tưởng này qua đi. Ta cũng
nhận thấy rằng hành động quán sát là sự nhận thức đầy
chánh niệm về các luồng tư tưởng, chính nó cũng vô thường.
Khi tất cả mọi tư tưởng đã lắng dịu, ta hãy để tâm
trở về với hơi thở. Rồi khi bất cứ tư tưởng mới nào
phát sinh, ta cũng quán sát chúng theo cách như thế. Thực hành
theo phương cách này, dần dần các tư tưởng sẽ dừng bặt
và tâm đạt được định.
Các
phương pháp thiền quán của Đức Phật giống như một tủ
đựng đầy thuốc. Bạn không thể uống tất cả các loại
thuốc cùng lúc, cũng như bạn không thể thực hành mọi thứ
trong bốn lãnh vực chánh niệm (Tứ niệm xứ) cùng một lúc.
Hãy bắt đầu với bất cứ lãnh vực nào bạn cảm thấy
thoải mái. Rồi trong quá trình thiền quán, bạn có thể quán
về một lãnh vực khác, tùy thuộc vào đối tượng thiền
quán phát sinh. Hiện tại tâm của ta có vẻ lăng xăng,
lộn xộn, nhưng nó sẽ dần lắng xuống. Khi tâm chánh niệm
đã trở nên mạnh mẽ, sắc bén, tự nhiên tâm sẽ bắt
đầu quán xét các khía cạnh sâu sắc hơn trong giáo lý của
Đức Phật.
Bốn
lãnh vực của Chánh Niệm là:
•
Chánh niệm về thân
•
Chánh niệm về thọ
•
Chánh niệm về tâm
•
Chánh niệm về đối tượng của tâm
Chúng
ta bắt đầu với sự chánh niệm về thân, đặc biệt là
về hơi thở. Thiền quán dựa trên hơi thở tạo cho tâm và
thân thời gian để lắng xuống. Sau đó, khi các lãnh vực
chánh niệm khác phát sinh, ta có thể ý thức về chúng. Dầu
đối tượng nào phát khởi, dầu cho đó là sắc pháp hay tâm
pháp, ta cũng phải quán về tính chất vô thường, khổ, và
vô ngã của nó.
QUÁN
THÂN
Cho
đến giờ, chúng ta chỉ nói đến hơi thở như là một đối
tượng của thiền quán –và thật thế nó có thể đưa ta
đi trọn con đường đến hoàn toàn giải thoát. Nhưng
ta cũng có thể sử dụng các đối tượng khác. Theo truyền
thống chúng ta có thể kể đến bốn mươi loại đối tượng
thiền quán chánh yếu, kể cả thân và các bộ phận của
thân. Ba trong các phương cách hữu hiệu nhất để
vun trồng chánh niệm về thân là: chánh niệm về hơi thở,
chánh niệm về các tư thế và chánh niệm về các bộ phận
cơ thể.
Chánh
Niệm Về Hơi Thở
Đức
Phật khuyên chúng ta nên bắt đầu hành thiền minh sát với
chánh niệm dựa trên hơi thở. Hơi thở là một đối tượng
vừa luôn có mặt, vừa luôn biến đổi theo một cách
mà tự nhiên sẽ khiến ta phải chú tâm. Khi tâm hòa hợp theo
hơi thở vào ra, ta có thể chú tâm vào giây phút hiện tại
một cách tự nhiên. Ta có thể nhận biết cảm giác phát
khởi từ sự tiếp xúc của hơi thở ở bờ mũi. Ta có thể
nhận biết hơi thở vào dài hay hơi thở ra dài. Ta cũng có
thể nhận biết khi độ dài của hơi thở thay đổi, và hơi
thở vào ra nhanh chậm hơn trước đó. Ta cũng có thể
nhận biết khi một dọc hơi thở ngắn bị gián đoạn bởi
một hơi thở dài sâu. Ta cũng có thể nhận biết sự
căng phồng hay xẹp xuống nơi lồng ngực, bụng, và bụng
dưới. Quán sát được các trạng thái này của hơi thở khiến
tâm luôn có mặt trong giây phút hiện tại.
Quán
sát hơi thở với chánh niệm có thể giúp ta biết nhiều điều
về việc tâm vận hành như thế nào. Khi hít vào, ta cảm nhận
được sự an tĩnh ở một mức độ thấp. Khi thở ra,
ta cảm nhận được sự an tĩnh ở một mức độ thấp.
Sự an tĩnh mà ta có được do kết quả của việc hít vào
bị gián đoạn bởi sự thở ra, và ngược lại. Tuy nhiên,
nếu ta giữ hơi thở vào lâu hơn bình thường một chút để
kéo dài cảm giác an tĩnh, ta sẽ cảm thấy căng; tương tự,
nếu ta đợi một lúc lâu hơn bình thường trước khi hít
vào lại để kéo dài cảm giác an tĩnh, ta cũng cảm thấy
căng thẳng. Nếu giữ hơi thở vào hay ra lâu thái quá
còn có thể tạo ra cảm giác đau đớn.
Qua
sự quán sát này, ta thấy rằng mình muốn được an tĩnh,
giải tỏa căng thẳng và muốn tránh sự khó chịu của việc
chờ đợi quá lâu trước khi hít vào hay thở ra. Ta thấy
rằng ta muốn sự an tĩnh do quy trình hít thở tạo ra, sẽ
kéo dài hơn và sự căng thẳng sẽ sớm qua đi. Vì cảm
giác căng thẳng không qua đi nhanh như ta muốn, cũng như sự
an tĩnh không kéo dài như ta mong, ta trở nên bực bội. Do đó
chỉ với việc quán sát hơi thở, ta cũng thấy rằng ngay chính
với một ước muốn nhỏ về sự thường hằng trong một
thế giới vô thường, cũng có thể đưa đến khổ. Hơn thế
nữa, vì không có một bản ngã nào để làm chủ tình thế,
ước muốn được an tĩnh và giải tỏa căng thẳng sẽ luôn
khiến ta cảm thấy bất lực. Tuy nhiên, nếu ta thư giãn tâm
để quán sát hơi thở mà không mong cầu sự an tĩnh hay tránh
né căng thẳng đã phát sinh, chỉ trải nghiệm sự vô thường,
khổ, và vô ngã của hơi thở, tâm sẽ trở nên bình an, thanh
tịnh.
Trong
khi ta đang thực hành chánh niệm về hơi thở, tâm không trụ
hẳn vào hơi thở vào, ra. Tâm còn đi đến các đối tượng
giác quan như là âm thanh, hay đối tượng tâm thức như là
ký ức, tình cảm hay tưởng. Khi điều đó xảy ra, ta cần
phải quên hơi thở một lúc và chủ tâm vào các đối tượng
này -từng đối tượng một. Khi các đối tượng qua đi, hãy
để tâm trở về với hơi thở, là ‘căn cứ’ của tâm
sau những chuyến du hành dài, ngắn đến các trạng thái khác
nhau của thân và tâm.
Mỗi
khi tâm trở về lại với hơi thở, nó trở về với một
tri giác sâu lắng hơn về vô thường, khổ và vô ngã. Như
thế, qua sự quán sát không phân biệt, không chấp vào các
sự kiện này, tâm đã nhận thức được rằng các uẩn này
–sắc, thọ, tưởng, hành, và thức– chỉ hiện hữu vì
mục đích để đạt được tuệ giác sâu xa vào trong thực
tại của thân và tâm. Chúng không phải có mặt ở đây để
ta bám víu vào chúng.
Chánh
Niệm Về Các Tư Thế
Chánh
niệm về các tư thế có nghĩa là đi, đứng, nằm, ngồi với
sự chú tâm đầy chánh niệm. Có lẽ bạn sẽ hỏi, “Có
gì trong các hoạt động này để ta phải chánh niệm đến?
Khi đi, ta đi. Khi ngồi, ta ngồi. Khi nằm xuống,
ta nằm xuống. Ta biết ta đang làm gì. Vậy, ta có thể
đạt được tri kiến hay tuệ giác đặc biệt gì khi chú tâm
vào các hành động này?” Khi chánh niệm về các oai nghi của
thân, ta sẽ nhận thấy rằng các chuyển động vật lý luôn
biến đổi ngay nếu như ta đang cố giữ thân yên. Tim
vẫn đập, nhiệt tỏa đi khắp cơ thể, phổi phình lên, xẹp
xuống. Hãy chánh niệm về sự vô thường của chúng.
Ta có thể nhận thấy rằng, đối với các chuyển động bên
ngoài thân, ta còn có chút ít kiểm soát, nhưng hoàn toàn không
thể làm gì đối với các chuyển động vi tế bên trong thân.
Sự bất lực này khiến ta bức xúc. Nhận thức được
như thế, ta vun trồng tuệ giác về bản chất khổ và vô
ngã của các chuyển động nơi thân.
Ta
cũng cần quán sát các yếu tố vật lý cấu tạo nên thân
và những vật chất mà ta tiếp xúc –thí dụ, sự nặng nề,
cứng chắc của yếu tố đất. Quán sát xem tất cả
các yếu tố vật lý này luôn biến đổi như thế nào.
Quán sát xem tất cả những trải nghiệm vật lý của ta vô
thường ra làm sao. Tuy nhiên, cũng giống như khi ta chánh
niệm về hơi thở, không nên chỉ chú tâm vào những thay đổi
vật lý. Khi bất cứ yếu tố tâm linh nào trở thành nổi
bật, hãy hướng sự chú tâm đến chúng. Thọ và tưởng tạo
ra bởi những chuyển động vật lý luôn thay đổi; hãy nhận
biết tính vô thường của chúng. Nếu trong khi ngồi, đứng,
đi hay nằm, ta nhận biết có những tư tưởng về tham, sân,
hay nghi – hay về tâm bi mẫn, thương yêu, hoan hỷ- hãy quán
sát khi chúng sinh khởi và hoại diệt. Ta không thể tạo dựng
hay cản trở được những sự sinh khởi, hoại diệt tự động
nơi thân, thọ, tưởng, hành và thức. Hãy nhớ những điều
này khi ta đi, đứng, nằm ngồi, hãy quán sát tính vô thường,
khổ, và vô ngã của tất cả các pháp. Trong mọi tư
thế và trong mọi hoạt động, như là khi ta đưa tay mở cửa,
đi trong siêu thị, hay nằm xuống để ngủ, tiếp tục vun
trồng tuệ giác đối với các tính chất này của năm uẩn.
Hành
giả có thể hoàn thiện khả năng nhận biết các tính chất
này của các uẩn bằng cách thực hành thiền bằng những
chuyển động thật chậm chạp. Hãy nghĩ đến một cuộn video
quay chậm trở lại của một trò chơi thể thao. Khi chuyển
động ở mức độ bình thường, chúng ta không thấy những
chi tiết vi tế, nhưng khi quay chậm trở lại, ta có thể thấy
những tiểu xảo, những lối chơi xấu nhau của các vận động
viên. Cũng thế khi chúng ta di chuyển một cách chậm chạp,
như khi thiền hành, chúng ta có thể nhận biết được những
sự thay đổi của tư thế để tạo nên một hành động -giở
gót, đưa tới, đặt chân, và chạm mặt sàn nhà.
Nếu
bạn đã thực hành việc ngồi thiền chú tâm vào hơi thở
được một thời gian và quyết định thực hành chánh
niệm về thiền hành một cách chậm rãi, thì đây là điều
bạn phải làm:
Từ
từ đứng dậy, tiếp tục chú tâm vào hơi thở vào, ra. Khi
bạn đang đứng, hãy ý thức đến những sự thay đổi trong
các cảm giác vật lý và các tưởng. Hãy biết rằng mọi
bộ phận trên cơ thể phải liên kết với nhau để bạn có
thể đứng được. Trong lúc đứng, tiếp tục quán sát hơi
thở.
Giờ,
trong lúc hít vào, hãy nhón một gót chân lên, và trong lúc
thở ra, hãy đặt chân xuống trên mấy đầu ngón chân. Kế
tiếp, trong lúc hít vào, hãy đưa cả bàn chân lên và bước
tới, và trong khi thở ra, từ từ hạ nó xuống và đặt bàn
chân xuống sàn nhà. Lập lại quy trình đó với bàn chân bên
kia. Khi bạn đi một cách có chánh niệm như thế, chú
tâm vào hơi thở, bạn sẽ bắt đầu thấy tất cả mọi phần
của thân từ đầu đến chân đều chuyển đổi, liên kết,
ăn nhịp với nhau như thế nào, trong quá trình đi. Thí
dụ, ta thấy rằng các cử động vật lý tạo ra bước đi
bắt đầu với những chủ đích nơi tâm. Ta thấy chủ
đích để giở bàn chân lên, chủ đích đưa nó ra phía trước,
và chủ đích đặt nó xuống, chạm sàn nhà. Cùng lúc với
các chủ đích này, các cử động được thành hình. Ý và
hành xảy ra cùng lúc với nhau rất nhanh đến nỗi ta không
còn kịp thấy sự liên kết của chúng.
Dĩ
nhiên, không ai nghĩ đến tất cả những bước này trong quy
trình thiền hành. Họ chỉ đi tới! Tất cả mọi thứ xảy
ra trong tíc tắc của giây. Tuy nhiên, khi bạn làm chậm
lại tiến trình và quán sát từng cử động một cách chánh
niệm, bạn sẽ thấy rằng nhiều cử động khác nhau phải
cùng kết hợp lại để việc bước đi tới có thể xảy
ra. Khi ý muốn đi tới phát khởi trong tâm, thì năng lực được
tạo thành, lan tỏa khắp thân qua hệ thần kinh. Rất nhiều
tế bào thần kinh khác nhau kết hợp để chuyển tải thông
điệp đó, và nhiều bộ phận khác của thân tạo ra những
cử động cần thiết. Các cơ co duỗi, các khớp đàn
hồi, và sự cân bằng lại được đảm nhiệm bởi nhiều
cơ cấu phức tạp khác nữa.
Thực
hành theo như trên, ta có thể thấy rất rõ về tính vô thường.
Thí dụ, bạn có ý giở chân mặt, nhưng khi bạn vừa giở
nó lên, ý thức đó đã qua đi và cảm giác mà bạn có trước
khi bàn chân được giở lên cũng đã qua đi. Khi tỳ trên các
ngón chân, bạn có một cảm giác, và khi bước tới, cảm
giác đó cũng mất đi, và một cảm giác mới lại phát sinh.
Tương
tự, tâm cũng luôn thay đổi. Khi trọng lượng thân được
chia đều thăng bằng, tâm ta sẽ có cảm giác dễ chịu, thăng
bằng. Nhưng khi trọng lượng thân di chuyển (bước tới),
thì cảm giác đó cũng thay đổi. Do đó tâm chờ đợi một
giây phút dễ chịu khác phát sinh. Nhưng khi giây phút dễ chịu,
thăng bằng kế tiếp phát sinh, nó cũng qua đi. Mỗi lần từ
một giây phút dễ chịu chuyển sang khó chịu, tâm cảm thấy
thất vọng. Sự lặp đi lặp lại của những giây phút dễ
chịu, rồi khó chịu, khiến ta mệt mỏi. Mệt mỏi là một
trạng thái thất vọng kéo dài bị dồn nén tích lũy qua những
lần thay đổi lặp đi lặp lại.
Trong
khi chú tâm đến những chuyển động của đi, ta cũng nhận
biết được các dòng tư tưởng thay đổi không dừng. Khi
đang đi, ta có thể cảm thấy sợ hãi, lo lắng, căng thẳng,
ham muốn, giận dữ, ghen tức, hay tham đắm. Trong đầu ta có
thể phát khởi ý nghĩ, “Ta đang kinh hành rất chánh niệm.
Ta mong là mọi người đều nhận thấy ta đang tiến bộ thế
nào.” Những suy nghĩ như thế phát xuất từ lòng tự hào
hay lòng ham muốn được chấp nhận. Ta cũng đã học cách
đối phó với chúng. Trước tiên ta phải trở nên chánh niệm
đối với chúng. Nếu chúng không qua đi, ta áp dụng những
phương pháp dùng để chế ngự các trạng thái tâm bất thiện
mà ta đã thực hành trong lúc ngồi thiền. Sau đó ta tiến
tới việc làm tăng trưởng các hoạt động tâm linh thiện
bằng cách buông bỏ lòng tham và sân và bằng cách vun trồng
tình thương, lòng hoan hỷ và xả.
Điều
quan trọng là ta phải có biện pháp để ngăn chặn các trạng
thái tâm tiêu cực phát sinh. Có một thiền sinh trẻ đã thú
nhận với tôi về những gì đã xảy ra trong tâm, khi anh đi
kinh hành ở phía sau một phụ nữ trẻ đẹp. Anh buồn bã
nói, “Thưa Sư, có một cô gái đi trước mặt con. Và
suốt thời gian kinh hành, con không thể dứt tâm ra khỏi cô
ấy”. Vài năm sau, tôi đã gặp lại người thiền sinh ấy.
Tiếc thay, tâm anh ta vẫn còn loạn động, không thể kiềm
chế. Đó là vì anh ta không thể áp dụng các phương
pháp chế ngự tâm bất thiện. Chúng trở ngại sự tu
tập của anh, khiến anh không thể tiến bộ.
Đi
một cách có chánh niệm còn có thể giúp ta nhận thức rằng
các hoạt động phức tạp của thân-tâm này, không có một
chủ thể thường hằng nào ở phía sau đó để điều hành
chúng. Không có một thứ gì mà ta có thể gọi là “ngã”
hay “cái tôi” điều khiển những dòng tư tưởng và hành
động phức tạp trong tất cả mọi thứ ta làm.
Làm
thế nào mà thiền hành có thể đưa đến tuệ giác này? Trong
khi đi, bạn quán sát một cách đầy chánh niệm về tư thế
và sự chuyển động của thân. Bạn cũng ý thức về các
cảm thọ, tưởng và các trạng thái tâm thức khác nhau khi
chúng phát khởi. Bất cứ khi nào ý nghĩ “Tôi đang đi”
khởi lên, hãy tự hỏi, “Gì là ‘cái tôi’ này? Có phải
là thân này? Nó có giống hay khác với thân? Nó ở trong hay
ở ngoài thân? Thân có ở trong ‘tôi’ hay ‘tôi’ ở trong
thân?” (Đây là những câu hỏi không có chủ thể để tìm
hiểu thực tại, không giống như những câu hỏi từ tâm nghi
như là “Tôi là ai?”, hàm ý rằng ngã hiện hữu.)
Ta
sẽ không thể nào trả lời thỏa đáng cho các câu hỏi này.
Tâm sẽ nói rằng “tôi” là người đang giở chân lên, đưa
nó ra trước, và đặt nó xuống sàn. Nhưng cũng chính “tôi”
đang đứng, thở, nhìn, nghe, nghĩ, hồi tưởng, cảm nhận,
và tham dự vào nhiều hoạt động khác nhau trong từng giây
phút. Những chuyển động và hoạt động này biến đổi quá
nhanh đến nỗi ta không thể để ý đến tất cả. “Tôi
thở vào” thì khác với “Tôi đi,” mà cũng khác với “Tôi
thấy,” “Tôi hồi tưởng” hay “Tôi cảm thấy buồn”.
Ta không thể tìm được một “cái tôi” nào không tùy thuộc
vào những việc ta đang làm, trong bất cứ hoạt động nào.
Bạn
sẽ bắt đầu thấy rằng “tôi” chỉ là một khái niệm
chúng ta sử dụng cho tiện lợi để chỉ cho một dòng trải
nghiệm không dừng đổi thay. Không có một chủ thể độc
lập duy nhất nào hiện hữu trong thân hay tâm. Ý niệm về
“cái tôi” thay đổi nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào
hoạt động mà “tôi” đang tham dự. Nó không có một sự
hiện hữu độc lập nào dầu chỉ trong phút giây. “Cái tôi”
chỉ hiện hữu khi bạn nghĩ đến nó. Do đó sự có mặt của
“tôi” cũng do duyên hợp như mọi thứ khác.
Do
đó bước chậm rãi và đầy chánh niệm là một cách hành
thiền hoàn toàn có thể biểu lộ cho ta thấy tự tính vô
thường, khổ và vô ngã có mặt trong từng phút giây như thế
nào. Phương pháp này cũng có thể áp dụng cho các tư thế
ngồi, đứng và nằm. Dĩ nhiên đây không phải là cách ta
cử động bình thường, mà là một phương cách đặc biệt
chúng ta dùng để rèn luyện tâm. Chủ yếu không phải chỉ
để đặt thân vào các chuyển động chậm rãi mà là để
phân tích cách mà thân và tâm kết hợp với nhau để tạo
ra một tư thế, và để thấy sự vô thường, khổ và vô
ngã của thân và tâm.
Trong
khi theo dõi các tư thế của thân, ta có cơ hội tốt để
quán sát những gì đang xảy ra trong tâm, để xem các trạng
thái như tham, sân, ganh tỵ, hay sợ hãi có phát sinh không.
Khi tâm không tán loạn, ta dễ nhận biết sự sinh khởi của
chúng. Một khi bạn đã tự rèn luyện để quán sát các
trạng thái tiêu cực này trong khi hành thiền chánh niệm về
các oai nghi khác nhau –đi, đứng, nằm, ngồi- thì bạn cũng
có thể đem tâm tinh tấn đó áp dụng cho tất cả mọi hoạt
động khác trong đời sống hằng ngày.
Chánh
Niệm Về Các Bộ Phận Của Thân
Quán
sát các bộ phận của thân giúp ta chấm dứt mọi quan niệm
sai lầm về thân. Khi ta phân chia thân thành nhiều bộ phận
trong tâm, ta sẽ thấy thân và các bộ phận của thân đúng
như chúng thật là.
Thường
chúng ta không nhìn thân với cái nhìn phân tích như thế.
Chúng ta ít khi nghĩ đến các bộ phận của thân trừ khi có
điều gì trục trặc hay khi chúng ta bị đau nhức. Đức
Phật đã nói đến phương pháp thiền này bằng một từ Pali
có nghĩa “đi ngược dòng.” Nói như thế Đức Phật muốn
ám chỉ rằng khi thực hành phương pháp thiền này, chúng ta
đi ngược lại với cách mà ta thông thường nghĩ về thân.
Người
ta thường có cảm giác ghê tởm khi nghĩ về một số bộ
phận trong thân. Họ không nề hà mang các bộ phận này
trong thân và coi chúng rất quý báu. Nhưng khi nghĩ về chúng,
họ cảm thấy tởm nhờm. Người khác thì lại chấp vào các
bộ phận nào đó của thân, coi chúng như là đẹp đẽ, thường
hằng, hoặc họ cảm thấy kiêu hãnh về vẻ ưa nhìn của
mình, về sức khỏe tốt hay về sức lực của họ. Phương
pháp thiền này có thể giúp ta bỏ được những ảo tưởng
đó. Nó giúp ta xem thân như nó là mà không gớm ghiếc
hay bám víu vào đó.
Đức
Phật khuyên thiền giả hãy chia thân ra làm ba mươi hai phần
trong tâm. Trong đó, hai mươi là chất rắn hay là những bộ
phận thuộc về đất và mười hai là nước. Hai mươi bộ
phận rắn chắc là tóc trên đầu, lông trên thân, móng tay,
răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, lá lách, lồng
ngực, ngực, ruột già, ruột non, thực phẩm chưa tiêu hóa,
phân, và óc. Mười hai bộ phận chất lỏng là mật, đờm,
dãi, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước miếng, nước
nhầy, nước nhờn ở các khớp, và nước tiểu.
Ngoài
ra, Đức Phật liệt kê mười quy trình (process) thuộc về
thân liên quan đến lửa và gió. Bốn quy trình thân liên quan
với lửa là nhiệt do sự tiêu hóa thực phẩm, nhiệt do lão
hóa, nhiệt do lòng sân hận, và thân nhiệt. Sáu quy trình liên
quan đến gió là ợ, xì hơi, khí trong bộ máy tiêu hóa, gió
trong lỗ chân lông, hơi thở vào và hơi thở ra.
Có
thể nói phương pháp thiền này rất giống với cách một
nhà sinh vật học quán sát thân. Nhà sinh vật học sau khi mổ
xẻ một con vật không bỏ chạy khi ruột gan con vật phơi
bày ra. Trái lại, người ấy muốn nhìn xem các bộ phận ấy
là gì, hoạt động ra sao. Sự khách quan khoa học này giúp
cho nhà sinh vật học nhìn các bộ phận này như chúng là,
mà không thêm vào đó bất cứ ý niệm tình cảm hay sự lãng
mạn nào. Chúng ta cần vun trồng tình cảm buông xả này khi
chúng ta hành thiền.
Để
thực hành phương pháp thiền này, hãy chú tâm vào từng bộ
phận của thân, bắt đầu với những phần dễ thấy nhất.
Thí dụ khi nghĩ đến tóc trên đầu, hãy tự hỏi, “Lúc
năm tuổi, tóc ta có như thế này không?” Dĩ nhiên câu trả
lời là không. Sau đó tự hỏi điều gì đã xảy ra.
Ta sẽ nhận ra ngay rằng, tóc đã đổi thay, cũng giống như
các bộ phận thân khác như là móng tay, da, răng, vân vân.
Thiền quán này đưa ta đến kết luận rằng không có gì bền
vững về thân và các bộ phận của thân. Tất cả mọi
thứ đều vô thường. Đó là thực tại.
Thiền
quán về thân như là một tập hợp của những bộ phận luôn
thay đổi cũng giúp ta chế ngự được kiết sử tham hay sự
chấp thân. Không có nghĩa rằng bạn muốn vứt bỏ thân này
trước khi chết! Ta vẫn muốn duy trì thân, tắm rửa,
trang phục, và chăm sóc, bảo vệ nó. Nhưng ta có thể làm
những việc này mà không hoang tưởng, không có sự bám víu
quá sức. Khi ta đã ý thức về sự phân hủy của thân -sức
mạnh của nó trở nên lung lay, vẻ đẹp của nó trở nên
suy giảm, xa, sức khỏe của nó trở nên sa sút – ta
thấy rằng những sự thay đổi này xảy ra cho tất cả mọi
thân người. Ta sẽ thấy rằng không có gì thường hằng,
bền vững về cái thân mà ta lâu nay vẫn hằng bám víu.
Thay
vì thất vọng, bực tức, ta trở nên khiêm hạ khi đối diện
với thực tại này. Sự thật về tính vô thường của thân
quá mãnh liệt, quá đau đớn, quá dữ dội đến nỗi ta phải
tự động đầu hàng. Ta còn có thể làm được gì chứ?
Ta có thể chạy trốn sự thật này được không? Không. Bạn
không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận nó.
Do đó phương pháp thiền này cũng giúp ta chế ngự kiết sử
thân kiến, khiến ta tin rằng có sự hiện hữu của một cái
ngã thường hằng. Hơn thế nữa, ta nhận ra rằng tất cả
mọi chúng sanh đều phải đối mặt với cùng một nỗi sợ
hãi về tuổi già, bệnh hoạn, và cái chết. Nhận ra được
tính chất phổ quát của điều này giúp ta chế ngự được
những nỗi sợ hãi riêng tư và phát triển được lòng bi
mẫn đối với những đau khổ của tha nhân.
Từ
đó, ta có thể suy ra rằng nếu bất cứ bộ phận nào của
thân bị hư hoại, bị cắt bỏ, hay không còn hoạt động
nhịp nhàng với các bộ phận khác thì thân ta sẽ vận hành
khác đi. Nhận thức này cho ta tri giác về tính tùy thuộc,
duyên hợp của tất cả mọi hiện hữu.
Khi
so sánh thân mình với thân của người, ta thấy tất cả thân
đều giống nhau. Thân ta sẽ già đi, bệnh hoạn, và trở
nên yếu đuối. Thân của tất cả đều như thế. Những
gì xảy ra cho thân bạn do sự thay đổi hormon, tai nạn, hay
lý do gì đó, thì chúng cũng xảy ra cho thân của mọi người
khác. Do đó, không quan trọng là thân bạn nhìn bên ngoài đẹp
hay xấu, mập hay ốm, có tóc hay hói đầu như thế nào, tất
cả mọi thân đều vận hành, phát triển, già đi, trở bệnh,
hoại diệt, chết, và tan rã trong những cách rất giống nhau.
Về khía cạnh này, bạn và tha nhân hoàn toàn không khác nhau.
Tuệ giác này giúp bạn vun trồng tâm xả và đối xử với
tất cả mọi chúng sanh bằng lòng bi mẫn và thương yêu.
CHÁNH
NIỆM VỀ THỌ
Chúng
ta thường nói, “Tôi cảm thấy,” mà không ý thức rằng
cảm thọ là một hiện tượng không có tự tính. Chúng đến
và đi tùy theo duyên khiến chúng phát sinh. Khi ta biết về
các loại cảm thọ khác nhau và cách chúng vận hành, thì ta
có thể ngăn chặn các yếu tố dẫn đến những trạng thái
tâm đau khổ, phiền muộn chỉ bằng cách thư giãn và thay
đổi thái độ của chúng ta. Như thế, tâm ta sẽ giữ
được sự dễ chịu và trong sáng. Nhưng đó chỉ là bước
khởi đầu. Ngoài ra, do nhìn thấy được bản chất thật
của cảm thọ, ta trở nên buông xả hơn và ít phản ứng
lại với bất cứ cảm thọ gì có thể sinh khởi. Đó là
cách thực tập buông bỏ tham và sân. Khi đã biết buông
xả, chúng ta có thể đào tận gốc rễ của khổ đau để
tiến đến hoàn toàn Giác Ngộ.
Chúng
ta thường đổ cho ngoại cảnh hay tha nhân khiến ta cảm thọ
thế này hay thế kia. Tuy nhiên, nếu chúng ta quán sát
các cảm thọ dễ chịu hay khó chịu của mình một cách đầy
chánh niệm, ta sẽ thấy rằng chúng không đến từ đối tượng
mà ta cảm nhận nhưng đến từ chính trạng thái tâm hay quan
điểm, thái độ của chúng ta. Một thí dụ điển hình: Nhiều
người cùng xem một cuốn phim, nhưng mỗi người lại có một
số cảm giác, phản ứng khác nhau về cuốn phim. Do đó,
chúng ta có thể dừng sự trách móc người khác về những
nỗi buồn khổ của mình để bắt đầu nhìn vào bên trong
–nơi chúng ta thực sự có quyền lực để thay đổi sự
việc. Đó là ý Đức Phật muốn khuyên nhủ chúng ta khi nói
“Hãy đến để thấy”.
Khi
đã trở nên quen thuộc với các cảm thọ của bản thân,
bạn có thể dễ dàng so sánh cảm thọ của mình với cảm
thọ của người khác. Bạn nhận thấy rằng khi bạn phát
khởi các loại cảm thọ khác nhau tùy theo hoàn cảnh, thì
người khác cũng thế. Rồi khi cảm xúc của bạn qua đi, thì
cảm xúc của người khác cũng thế. Tri thức mà bạn có được
từ việc chánh niệm về chính các cảm xúc của mình được
gọi là “trực giác” (direct insight). Tri thức bạn có
được từ việc so sánh kinh nghiệm của mình với của người
khác được gọi là “tri giác do suy diễn” (inferential understanding).
Mặc dầu không có cách gì để có thể biết chắc chắn người
khác nghĩ thế nào, nhưng sự hiểu biết do suy diễn có thể
giúp bạn đạt được nhiều tri kiến về thực tại.
Khi
ta biết rằng tất cả mọi chúng sanh đều có cảm thọ, rằng
tất cả đều trải qua những đau đớn thể xác và tinh thần,
khổ vì đói lạnh, buồn bã khi cô đơn, chúng ta trở nên
bớt ích kỷ và bớt có khuynh hướng bảo vệ cho rằng cảm
xúc của mình luôn đúng. Chúng ta có thể lắng nghe một cách
bình tĩnh sự than thở của người khác mà không thấy khó
chịu. Khi chúng ta chánh niệm rằng tất cả mọi chúng sanh
đều có cảm xúc như nhau, thì làm sao ta có thể nói hay làm
điều gì đó để gây thương tổn cho người khác?
Từng
giây, từng phút quy trình khổ đau lại được tăng thêm sức
mạnh bởi những phản ứng vô minh của tâm đối với các
cảm thọ. Tất cả chúng sanh, không có ngoại lệ, đều có
cảm xúc và tất cả các chúng sanh chưa giác ngộ đều khổ
đau từ phản ứng của họ đối với các cảm xúc của bản
thân. Cảm thọ phát sinh ở ngoại vi thân từ sự tiếp xúc
với thế giới bên ngoài và cũng từ sâu thẳm trong tâm do
sự tiếp xúc với các sự kiện tâm linh. Do đó khi nói về
cảm xúc trong phạm vi của Tứ Niệm Xứ, chúng ta không phân
biệt giữa các cảm xúc vật lý (“Tôi cảm thấy trời nóng”)
và tình cảm (“Tôi cảm thấy buồn”).
Từ
lúc tế bào thần kinh bắt đầu phát triển, chúng ta đã kinh
nghiệm được các cảm xúc. Cảm xúc có mặt ngay khi
đứa trẻ còn trong bụng mẹ. Khi người mẹ di chuyển, đứa
trẻ trong bụng cũng cảm nhận được sự chuyển động. Khi
người mẹ hát, đứa bé cũng nghe được và được ru ngủ.
Khi bà tức giận, đứa bé cũng cảm nhận được sự căng
thẳng và giận dữ của bà. Khi bà cười, đứa bé cảm nhận
được sự vui vẻ của bà. Trong khi chúng ta có thể không
nhớ được những cảm giác này, chúng ta đã kinh qua chúng.
Hơn
thế nữa, mọi khía cạnh của cuộc đời ta –sự tranh đấu,
thành đạt, tư duy, sáng kiến, công việc, và ngay cả sinh
tồn– đều tùy thuộc vào việc chúng ta cảm thấy như thế
nào. Nhu cầu được có thực phẩm, quần áo, thuốc men, chốn
nương thân, tình dục, và sự thoải mái vật chất cũng tùy
thuộc vào cảm xúc. Con người đã khám phá, sản xuất, hay
phát triển nhiều thứ nhờ vào cảm xúc. Khi cảm thấy lạnh,
chúng ta tìm cái ấm. Khi cảm thấy đói, ta tìm thực phẩm.
Chúng ta sản sinh cũng tùy theo các cảm xúc của mình. Ngay
cả sự suy nghĩ của ta, thường cũng bắt đầu bằng một
cảm xúc. Chúng ta lý giải phản ứng tình cảm đối với
một hoàn cảnh bằng cách nói, “Tôi có đủ mọi lý do để
cảm thấy bất bình về những gì đã xảy ra.”
Khi
có một cảm thọ dễ chịu, tâm tham phát khởi; ta muốn thêm
nữa. Khi có một cảm thọ khó chịu, ta phản ứng bằng sự
giận dữ, chống đối nó. Khi cảm thọ trung tính, ta có khuynh
hướng lờ nó đi. Như ta đã biết tham, sân, và si là
nguồn gốc của mọi khổ đau. Chánh niệm về cảm thọ là
một cơ hội để ta quán sát nguồn gốc này, nơi ta có thể
buông bỏ mọi khổ đau.
Thí
dụ bạn ngồi với ý định quán sát sự ra, vào của hơi
thở -cùng với thọ, tưởng, hành, hay thức– trong vòng bốn
mươi lăm phút. Nhưng sau khoảng hai mươi lăm phút, lưng bắt
đầu đau, và tâm chuyển sang quán sát cái đau. Đôi khi
các cơn đau nhẹ này nhanh chóng qua, nhưng có trường hợp
cơn đau tăng gấp bội.
Nếu
ta tiếp tục ngồi yên, quán sát cơn đau, nó dần dần bộc
phát đến tột đỉnh và rồi vỡ tan. Khi đó, một cảm giác
dễ chịu sẽ hiện ra. Ta có thể quán sát cách tâm bám víu
vào cảm thọ dễ chịu đó, muốn được có nhiều hơn. Rồi
một vài loại cảm thọ khác thay thế cảm giác dễ chịu
đó. Khi các cảm thọ phát sinh và qua đi, ta có thể nhận
ra rằng chúng mong manh đến thế nào. Một cảm giác dễ chịu
chỉ dễ chịu trong chốc lát, rồi qua đi, và được thay thế
bằng cảm giác khó chịu, ngược lại cũng thế.
Khi
tâm không còn chú ý đến các cảm giác này nữa, thì ta lại
trở về với hơi thở.
Bạn
có thể thấy rằng ta không cần một phương pháp tọa thiền
đặc biệt nào để quán niệm cảm thọ. Đúng hơn, ta
vẫn sử dụng thiền chánh niệm bình thường để quán sát
sự sinh khởi và hoại diệt của cảm thọ giống như cách
ta quán sát dòng tư tưởng qua đi trong đầu. Chúng ta
tiếp tục thực hành như thế trong cuộc sống đời thường.
Dầu khi ngồi thiền hay tham gia vào các hoạt động thường
ngày, bất cứ khi nào một cảm thọ phát sinh đủ mạnh để
tâm phải hướng đến, thì ta quán sát nó.
Khi
chúng ta trở nên chánh niệm về các cảm thọ của mình, thì
chúng ta không còn phản ứng một cách thiếu chánh niệm đối
với chúng. Chúng ta trở nên khéo léo hơn. Nếu một lạc
thọ phát sinh, chúng ta có thể kiềm chế yếu tố tiềm ẩn
của lạc thọ - tham. Khi một khổ thọ phát sinh, chúng
ta cũng có thể kiềm chế yếu tố tiềm ẩn của loại cảm
thọ đó –sân hay sự chống đối. Nếu một cảm thọ trung
tính, chúng ta có thể ghi nhận điều đó và không cho phép
yếu tố tiềm ẩn của cảm thọ trung tính -si- xuất hiện.
Đức
Phật diễn tả hai loại cảm thọ chính: “thế tục” và
“xuất thế”. Các cảm thọ thế tục là những cảm thọ
với các yếu tố tiềm ẩn của lòng tham, sân, hay si tác động
ở một mức độ nào đó. Những cảm thọ này đưa ta thẳng
đến tham, sân, hay si. Các cảm thọ thế tục phát khởi
một cách tự nhiên khi ta theo đuổi cuộc sống tầm thường,
thế tục như là thụ hưởng dục lạc, chạy theo tiền bạc,
địa vị, người yêu, tạo ra quyền lực, danh tiếng.
Cảm thọ phát sinh từ các hoạt động này luôn khơi dậy
phần nào tham, sân, hay si.
Đức
Phật luôn cảnh báo đệ tử của Ngài rằng những cuộc chạy
đuổi theo thế tục và các cảm thọ thế tục là nguy hiểm
do các yếu tố tiềm ẩn của chúng. Ngài khuyên chúng ta nên
ý thức về sự nguy hiểm này để buông bỏ chúng. Với chánh
niệm chúng ta tự kiềm chế bản thân không để tham, sân,
hay si cuốn hút. Chúng ta cố gắng giảm thiểu các yếu tố
này -bằng cách quán sát chúng. Chúng ta chú tâm đến chúng
với một tâm thư giãn, không cố gắng để áp đặt bất
cứ điều gì, ngoại trừ buông xả.
Ngay
giây phút ta làm điều đó, ta trải nghiệm được các cảm
thọ xuất thế. Các cảm thọ xuất thế phát sinh khi ta theo
đuổi con đường giải thoát tâm linh. Những cảm thọ này
đi kèm với các yếu tố tiềm ẩn đã hoàn toàn được điều
phục hay trong trường hợp của vị giác ngộ - hủy diệt.
Bất cứ khi nào chúng ta chuyển hóa được một cảm thọ
thế tục, là ta có được một cảm thọ xuất thế.
Giờ
hãy xét đến các khía cạnh dễ chịu, khó chịu, và trung
tính của cả hai cảm thọ thế tục và xuất thế. Các lạc
thọ thế tục rất quen thuộc với chúng ta. Dục lạc đem
đến cho chúng ta bao nguồn lạc thọ thế tục. Thí dụ, một
bữa an ngon, một chương trình TV hấp dẫn, một chiếc xe hơi
đời mới bóng lộn, thường dễ kích hoạt các lạc thọ
thế tục. Trừ khi ta có thể giữ tâm chánh niệm mạnh mẽ,
nếu không các cảm giác dễ chịu nơi thân và tâm sẽ thuộc
về thế tục, vì chúng ta thích những thứ này và muốn được
tận hưởng chúng nhiều và nhiều hơn nữa.
Các
lạc thọ xuất thế có thể ít quen thuộc hơn. Chúng sinh khởi
khi nào ta làm được điều gì có thể giúp ta tiến bước
trên con đường giải thoát. Thí dụ, cảm giác bình yên và
hạnh phúc mà chúng ta có được từ thiền định sâu xa. Cảm
giác an bình, dễ chịu, mà ta có được khi sự thực hành
thiền chánh niệm phát triển tốt cũng là những cảm giác
xuất thế.
Khi
chúng ta thực hành chánh niệm để buông xả các cảm thọ
thế tục như là lạc thọ đến từ việc thưởng thức những
đồ ăn ngon miệng, thì các cảm thọ xuất thế sẽ phát khởi.
Tuy nhiên, hãy cảnh giác đối với những ai nói rằng bạn
có thể tận hưởng dục lạc một cách có chánh niệm. Đó
không phải là Pháp của Đức Phật. Trái lại, Đức
Phật dạy chúng ta chánh niệm để buông bỏ dục lạc và
thụ hưởng các cảm thọ xuất thế đến từ hạnh xả ly.
Khi buông xả, chúng ta vẫn giữ được chánh niệm về tính
vô thường của các dục lạc này. Do đó chúng ta duy
trì được tâm không bám víu, và sự không bám víu này khiến
các cảm thọ xuất thế được phát khởi.
Bất
cứ khi nào chúng ta buông xả được phần nào tâm tham, sân,
hay si, thì các cảm thọ xuất thế dễ chịu sẽ phát sinh.
Thực ra, mọi hành động dựa trên Bát Chánh Đạo đều có
thể khiến cho các lạc thọ xuất thế sinh khởi. Khi
chánh niệm phát triển, ta cảm nhận được các lạc thọ
xuất thế thường xuyên hơn.
Giả
thử rằng bạn bám víu vào vật gì đó, có thể là vật kỷ
niệm của một người bạn đã mất. Bất cứ khi nào nhìn
thấy đồ vật ấy, cảm giác tiếc nuối hay buồn bã sẽ
phát sinh, khiến bạn đau khổ. Khi đã có thể buông xả sự
bám víu, thì đó thật là một giải thoát lớn, vì các khổ
thọ sẽ dừng lại, không sinh khởi nữa. Bạn cảm thấy thư
giãn và một cảm giác dễ chịu phát sinh. Điều đó giống
như khi bạn đang nắm chặt một vật gì mà càng nắm chặt
thì tay càng bị đau. Rồi khi mở tay ra bạn sẽ cảm thấy
thật dễ chịu. Tương tự, các lạc thọ xuất thế phát khởi
vì bạn đã buông xả sự bám víu.
Khổ
thọ có thể là xuất thế hay thế tục. Khổ thọ thế tục
dễ đưa ta đến sự phản kháng. Thí dụ cảm giác đau
đớn của sân hận có thể phát khởi khi tham vọng của ta
bị cản trở, như khi ta không được tăng lương, hay thăng
chức. Ta có thể thực hành các phương pháp chế ngự
sân hận khi các khổ thọ thế tục này xuất hiện.
Các
khổ thọ xuất thế cũng có thể phát khởi khi chúng ta thực
hành theo con đường của Phật. Thí dụ bạn đã thực sự
hiểu những lời dạy của Đức Phật và rất muốn giải
thoát tâm khỏi tham, sân, và si. Do đó, bạn đã hành thiền,
tuân giữ tất cả các giới luật, và thực hành theo mọi
lời chỉ dẫn. Tuy nhiên, bạn cảm thấy mình không thể tiến
bộ trên con đường tiến tới mục đích. Cảm giác đau đớn
và thất vọng mà bạn trải nghiệm là có tính chất xuất
thế.
Tuy
nhiên, không giống như các loại khổ thọ khác, khổ thọ
xuất thế là thiện. Nó không phát sinh từ tham, sân, hay si.
Thí dụ, bạn có thể tự hỏi, “Ta đã làm gì sai? Tại sao
ta không đạt được mục đích mong đợi như người khác?
Có thể ta đã thiếu sót điều gì; ta phải bắt đầu lại
từ đầu.” Khổ thọ xuất thế thôi thúc ta tiếp tục
tu hành, tiếp tục thử nghiệm. Khổ thọ xuất thế không
dẫn ta đến sân hận mà tạo thêm động lực thúc đẩy ta
thêm tinh tấn, thúc đẩy ta tiến bước đến giải thoát.
Các
cảm thọ trung tính cũng có thể được chia làm hai loại thế
tục hay xuất thế. Đối với những mục đích thế tục,
khi không có mặt của khổ thọ hay lạc thọ, một cảm giác
ù lỳ, thờ ơ sẽ có mặt. Tuy nhiên, tâm si có thể phát
triển trong các cảm thọ trung tính thế tục này. Thí dụ,
khi một cảm giác trung tính phát khởi, ta có thể nghĩ, “À!
Đây là linh hồn; linh hồn sẽ cảm thấy như thế này trong
trạng thái trung tính, khi nó không bị chi phối bởi những
thứ gì khác.”
Khi
chánh niệm đưa ta đến chỗ nhận thức được rằng những
gì ta gọi là “ngã” hay “linh hồn” luôn biến đổi, luôn
chịu ảnh hưởng của vô thường thì cảm giác mà ta có được
là trung tính và xuất thế. Cảm giác đó toàn vẹn, không
phân biệt và không si mê. Ta cảm thấy tĩnh giác, quan tâm
muốn biết điều gì sẽ xảy ra kế tiếp. Ta sẽ không rơi
vào trong cái bẫy của tình cảm như thế này hay như thế
nọ -không ham muốn cũng không ghét bỏ- mà duy trì chánh niệm
và tâm xả. Bạn càng có thể duy trì trạng thái đó lâu,
thì tâm chánh niệm càng trở nên mạnh hơn.
Hãy
trở lại với thí dụ về cái lưng đau khi ta đang hành thiền.
Đầu tiên ta cảm thấy khó chịu với cái đau, tiếp theo là
cảm giác dễ chịu khi cái đau qua đi, và sự bám víu vào
cảm giác dễ chịu. Nếu ta tiếp tục quán sát các cảm thọ
này, ta sẽ thấy chúng thay đổi luôn. Dần dần, khi thấy
được tính vô thường của chúng, ta buông bỏ sự phản ứng
bám víu hay ghét bỏ. Sau đó tâm xả đối với các cảm thọ
này sẽ phát sinh. Trạng thái tâm xả này là một trạng thái
trung tính xuất thế.
Để
thực tập chánh niệm về các cảm thọ, khi một cảm thọ
phát khởi, trước hết ta xét xem nó thuộc thế tục hay xuất
thế, để ta quyết định có nên buông bỏ hay theo đuổi nó.
Nếu
chúng ta đang trải qua một cảm thọ xuất thế, hãy nỗ lực
để vun trồng cảm thọ này. Chúng ta ghi nhận nguyên nhân
tạo nên cảm thọ đó để có thể lập lại chúng trong tương
lai. Rồi ta cố gắng để tái tạo những điều kiện thích
hợp. Chúng ta tiếp tục tìm tòi những điều kiện và hành
động khác nhau, để tạo nên cảm thọ xuất thế này. Chúng
ta chú tâm phát triển thói quen làm phát sinh loại cảm thọ
này.
Trái
lại, nếu ta thấy rằng mình có một cảm thọ thế tục ẩn
chứa trong yếu tố tiềm ẩn của tham, sân, hay si, ta phải
nỗ lực mạnh mẽ để chế ngự các yếu tố tiềm ẩn của
cảm thọ này. Chúng ta phải rất chánh niệm để không bị
lôi cuốn theo trạng thái bất thiện phát sinh từ cảm thọ
này. Chúng ta quán sát một cách đầy chánh niệm cảm thọ
thế tục này mà không phản ứng, cho đến khi nó dần dần
qua đi. Trong quá trình chúng ta có thể thấy tính vô thường
của tất cả mọi thứ liên quan: sự vô thường của các
đối tượng được ham muốn (hay bị ghét bỏ), của ý kiến
cá nhân đối với hoàn cảnh đó, của bản thân ta, và của
khả năng thụ hưởng các dục lạc liên quan, và trạng thái
chóng qua của chính các cảm thọ này. Bằng cách quán sát
vô thường như thế, chúng ta có thể buông xả.
Khi
chúng ta buông xả, cảm thọ thế tục được thay thế bằng
một lạc thọ xuất thế, và chúng ta trở nên đầy chánh
niệm về sự vắng mặt của tham, sân, và si ngay lúc đó.
Sau đó tâm có thể trở về với hơi thở, hay tiếp tục quan
sát sự thay đổi không dừng của các cảm thọ xuất thế.
An lạc sinh khởi. Tâm lắng đọng, trở nên thanh tịnh,
bình an và hạnh phúc. Niềm an lạc, hạnh phúc đưa ta
đến một tầng sâu hơn của định.
Giả
dụ một buổi sáng thức dậy, bạn cảm thấy rất buồn.
Thay vì trở nên bực bội, bạn hãy ngồi xuống một nơi yên
tĩnh, nhắm mắt lại, và bỏ ra một ít thì giờ quán sát
nỗi buồn của bạn mà không phán xét hay lo âu gì, chỉ dồn
tất cả sự chú tâm vào khổ thọ thế tục này. Nếu bạn
cho phép mình bám víu vào nguyên nhân của nỗi buồn của bạn,
thì khổ thọ sẽ kéo dài hơn. Nhưng nếu bạn quán sát cảm
thọ của mình, bạn sẽ nhận ra sự thật về nỗi buồn đó.
Từ đó bạn tu tập để giảm bớt tham, sân, và si. Khi bạn
chấp nhận thực tế về sự biến đổi không dừng dứt của
cảm thọ trong từng giây phút, bạn được nhắc nhở rằng
may mắn thay, ngay cả những khổ thọ cũng vô thường. Nhờ
đó lạc thọ xuất thế phát sinh. Trạng thái tâm bạn chuyển
đổi từ buồn bã sang tĩnh lặng, hạnh phúc, bình an. Giờ
thì tâm đã trong sáng và có thể dễ dàng đạt được định.
Giả
sử vào một ngày khác, bạn lại cảm thấy thảnh thơi, vui
vẻ. Bạn quán sát lạc thọ xuất thế này như nó là, dốc
tất cả sự chú tâm vào nó khi nó còn có mặt. Nhưng
bạn không mong mỏi cảm giác đó sẽ kéo dài mãi. Khi
nào tâm bám víu không phát sinh, cảm giác này sẽ tiếp tục
làm chủ, đôi khi vài ngày. Khi nó bắt đầu phai đi,
bạn sẽ để nó qua. Khi tiếp tục chánh niệm về các cảm
thọ của mình, bạn sẽ nhận thấy rằng bạn không thể kéo
dài lạc thọ theo ý mình muốn. Ngược lại, bạn càng
cố gắng để duy trì một lạc thọ, thì nó càng nhanh chóng
qua đi. Nếu bạn chỉ quán sát các cảm thọ khi chúng đến
và đi, thì tâm bạn thư giãn và trở nên dễ chịu hơn. Bạn
cũng duy trì được sự thăng bằng tình cảm dễ dàng hơn.
Khi
ta quán sát một cách có chánh niệm bất cứ cảm xúc gì,
thì nó sẽ tăng trưởng, rồi hoại diệt. Cảm thọ này
thay thế cảm thọ kia, cùng một quy trình như thế. Có
thể bắt đầu là một lạc thọ, kế tiếp là khổ thọ hay
trung tính, hay một khổ thọ khác nữa. Các loại cảm thọ
ta trải nghiệm thay đổi liên tục, trong từng giây phút. Các
khuynh hướng cảm thọ thay đổi từ giờ này qua giờ khác,
ngày này qua ngày khác, vân vân. Quán sát bất kỳ một
trong những sự thay đổi này sẽ đem cho chúng ta tuệ giác
về bản chất thực sự của bản thân.
CHÁNH
NIỆM VỀ TÂM
Chánh
niệm về tâm ý chỉ sự quán sát những trạng thái tâm khác
nhau phát khởi và qua đi –tâm tham hay không tham, tâm sân hay
không sân, tâm vô minh hay sáng suốt, hẹp hòi hay cởi mở,
tâm vọng tưởng hay chánh niệm, tán loạn hay định tĩnh,
tâm phát triển hay ù lỳ, ràng buộc hay giải thoát. Ta quán
sát các trạng thái này khi chúng xuất hiện và qua đi cùng
với thức xuất hiện, và qua đi.
Không
thể tách thức ra khỏi các trạng thái tâm và đối tượng
tâm vì chúng phát sinh và qua đi cùng với nhau. Tuy nhiên, bạn
có thể ghi nhận khi thức bị chi phối bởi các trạng thái
tâm tiêu cực như là tham, sân, si, hôn trầm, trạo cử, hay
các trạng thái tích cực như là bi mẫn, kiên nhẫn, hay từ
ái.
Bạn
dành cho mỗi trạng thái sự chú tâm toàn vẹn khi nó phát
khởi, mà không làm bất cứ điều gì đặc biệt về nó và
không để bạn bị vướng mắc hay bám đuổi theo dòng tư
tưởng hay cảm xúc. Bạn chỉ đơn giản quán sát khi mỗi
trạng thái phát sinh và qua đi. Sự sinh khởi, rồi hoại diệt
là bản chất của tâm. Mỗi giây phút -thật sự, nhiều lần
trong mỗi giây phút- trạng thái tâm sinh khởi, viên mãn, rồi
hoại diệt. Tâm chúng sanh ở khắp mọi nơi đều giống
nhau. Bạn càng quán sát sự sinh khởi và hoại diệt của tất
cả mọi trạng thái tâm, bạn càng biết chúng mong manh, biến
chuyển thế nào. Nhận ra được sự chuyển biến này
là bạn đạt được tuệ giác về một pháp vô thường gọi
là “tâm.”
Do
đó, càng chú ý đến tâm bao nhiêu, thì ta càng thấy nó ít
bền vững bấy nhiêu. Giống như vạn pháp, tâm luôn biến
đổi. Hơn thế nữa, ta sẽ khám phá ra rằng không có một
tự tính thường hằng nào; không có ai đang điều hành bộ
máy cả. Tất cả đều chuyển biến, tất cả đều như dòng
chảy, tất cả đều ở trong một quy trình. Trong thực tế,
bạn chỉ là dòng chảy không dừng của từng sát na tâm thức
biến chuyển. Vì không thể kiểm soát quy trình này, ta
không có chọn lựa nào hơn ngoài việc buông xả. Khi
buông xả, ta trải nghiệm được niềm vui, và có thể trong
một giây phút thoáng qua nào đó ta sẽ nếm trải được sự
giải thoát và hạnh phúc là mục đích của con đường đạo.
Lúc đó ta sẽ biết rằng tâm này cũng có thể dùng để đạt
được tuệ.
CHÁNH
NIỆM VỀ ĐỐI TƯỢNG TÂM
Chánh
niệm về đối tượng của tâm có thể nghe giống như một
phương pháp hành thiền khác, nhưng đó chỉ là một cách diễn
tả khác của thiền minh sát mà bạn đã thực hành qua. “Đối
tượng tâm” ý chỉ tư tưởng -ở đây có nghĩa là
tất cả các hoạt động tâm thức. Có nhiều loại tâm
thức: kiết sử, chướng ngại, ngũ uẩn, những yếu tố của
sự giác ngộ, và Tứ Diệu đế. Chúng có thể sinh khởi theo
bất cứ trật tự nào.
Khi
ngồi thiền, trong lúc hướng đến một đối tượng thiền,
như là hơi thở, ta nhanh chóng trở nên chánh niệm đối với
bất cứ tư tưởng nào phát sinh, như là chướng ngại về
nghi hay một khía cạnh của một trong các uẩn. Đối tượng
tâm –ý nghĩ- trở thành một đối tượng thiền quán mới,
tạm thời. Ta ghi nhận đối tượng tâm đó và quán sát cho
đến lúc nó qua đi. Nếu như nó là tâm bất thiện và cứ
lẩn quẩn trong đầu, ta phải làm bất cứ điều gì cần
thiết để loại trừ nó. Khi nó qua đi, ta ghi nhận tính vô
thường, khổ, và vô ngã của nó. Rồi ta lại trở về với
hơi thở hay đối tượng thiền quán đã chọn. Khi ý nghĩ
khác phát sinh, ta lặp lại quy trình trên.
Hãy
nhớ rằng ta không tiên đoán được loại đối tượng tâm
nào sẽ sinh khởi trong khi hành thiền. Mà cũng không cần phải
đặt tên cho điều gì đã phát khởi như, “Ta đang quán sát
một kiết sử.” Khi quán sát các đối tượng tâm thiện
như là hỷ, ta sẽ làm bất cứ điều gì có thể để khuyến
khích đối tượng đó tiếp tục xảy ra, dầu ta vẫn tiếp
tục ghi nhận tính vô thường, khổ, và vô ngã của nó.
Như
ta đã biết, sự thực hành thiền chánh niệm không chỉ giới
hạn trong lúc ta tọa thiền. Dầu đang làm gì, bạn cũng có
thể ý thức về bất cứ hoạt động tâm linh nào khi nó phát
khởi. Khi bạn cố gắng để duy trì chánh niệm liên tục
trong ngày, các hoạt động tâm linh bất thiện dần dần ít
xảy ra hơn, và các trạng thái tâm thiện thường xảy ra hơn.
Vì bạn không phải mất nhiều thời gian đắm chìm trong những
suy nghĩ tiêu cực, bạn càng dễ nhận biết mọi hoạt động
của tâm.
Khi
đã có thể tự rèn luyện mình trở nên chánh niệm trong hầu
hết các hoạt động trong ngày, dần dần ta sẽ thấy tâm
chánh niệm của mình trở nên mạnh mẽ và vững chãi hơn.
Với tâm trong sáng, ta có thể nhận thấy rằng tất cả những
gì ta đã trải nghiệm tương ưng với Tứ Diệu đế như thế
nào. Khi điều này xảy ra, Tứ Diệu đế trở thành đối
tượng chánh niệm của ta. Một thí dụ về việc quán sát
Tứ Diệu đế đã được nói đến trong bước 2, trong phần
“Chánh niệm về chánh tri kiến”.
Khi
tâm chánh niệm đã tiến bộ, ta bắt đầu quán sát các yếu
tố của giác ngộ -đặc tính tâm cần thiết để đạt được
mục đích trên đạo lộ. Đức Phật đã trải qua nhiều kiếp
tu chứng trước khi đạt được sự hoàn hảo tuyệt đối
của các yếu tố Giác Ngộ để trở thành một vị Phật.
Bảy yếu tố giác ngộ (Thất giác chi) là niệm, trạch pháp,
tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả. Ta đã vun trồng
các yếu tố này từ lúc bắt đầu. Khi tâm chánh niệm của
ta phát triển, các yếu tố này tiến lên một trình độ cao
hơn. Theo truyền thống, thất giác chi được trình bày theo
thứ tự mà các chi phần phát khởi, vì sự phát triển của
chi phần này đưa đến một chi phần khác.
Khi
tâm chánh niệm trở nên mạnh mẽ, vững chãi, ta ghi nhận
sức mạnh của nó, và nó trở thành đối tượng thiền quán
của ta. Ta biết rằng mình có chánh niệm. Do đó chánh niệm
trở thành một đối tượng tâm của chánh niệm. Sự ý thức
của tâm chánh niệm soi rọi các trải nghiệm của ta về sắc,
thọ, tưởng, hành, và thức, do đó ta có thể thấy chúng
rõ ràng hơn. Ý thức này giúp ta tiếp tục rèn luyện tâm
chánh niệm. Từ khi bước theo con đường của Phật, ta đã
thực hành tâm chánh niệm. Chánh Niệm là một trong bảy
yếu tố Giác Ngộ. Dần dần, sau rất nhiều công phu
tu tập, ta sẽ đạt đến một mức độ ở đó tâm chánh
niệm trở nên sâu sắc hơn, rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn và
ta biết rằng tâm chánh niệm của ta đã viên mãn. Lúc đó,
tâm chánh niệm đã được phát triển tới mức độ của
một chi của giác ngộ.
Với
tâm chánh niệm ta đã phân biệt được các pháp thiện và
bất thiện. Ta đã quán sát được các đặc tính của những
đối tượng mà ta tiếp xúc, đó là vô thường, khổ, và
vô ngã. Qua các nỗ lực này, ta đã phát triển được thói
quen luôn tìm kiếm sự thật. Với tâm chánh niệm mạnh
mẽ, ý hướng thiện sinh khởi để quán xét trọn vẹn từng
kinh nghiệm mà ta đã trải qua. Ta ý thức được điều này.
Rồi đối tượng tâm của ta quán xét tất cả mọi sự kiện
trong cuộc sống. Tâm chánh niệm đã được nâng cao,
hoạt động như một ánh đèn soi sáng đồ vật trong bóng
đêm.
Với
ánh sáng của tâm chánh niệm mạnh mẽ chiếu rọi vào sự
trải nghiệm của bạn đối với một đối tượng, bạn xét
thấy rằng tự tính của đối tượng đó là vô thường.
Khi đối tượng đó biến mất, một đối tượng khác lại
hiện ra, phơi bày cùng một sự thật về vô thường, khổ,
và vô ngã. Khi bạn tiếp tục đi tìm chân lý và tiếp tục
nhận ra rằng mọi kinh nghiệm đều chia sẻ ba đặc tính này,
thì sự quán sát của bạn (trạch pháp) trở thành một chi
của giác ngộ.
Khi
tất cả mọi đối tượng quán sát tiếp tục phơi bày chân
lý này, thì nhiệt tâm muốn khám phá thêm nữa phát sinh. Tâm
tràn đầy năng lượng. Lúc đó tâm chánh niệm mạnh mẽ,
như thể nó đã hóa đá kim cương. Xuyên suốt quá trình
tu tập, ta nỗ lực nhiều -để phát triển chánh niệm, để
tháo gỡ các trạng thái bất thiện, để khuyến khích thiện
pháp, và để công phu tu tập tất cả chi trong Bát Chánh Đạo.
Giờ thì sự nhiệt tâm nỗ lực của bạn đã kết quả: đó
là yếu tố giác ngộ của tinh tấn.
Ta
cảm nhận được sự tràn đầy tinh tấn của tâm để đảm
nhận bất cứ trách nhiệm gì và tinh tấn trở thành đối
tượng tâm thức của chánh niệm. Tâm vẫn hoạt động nhưng
rất thư giãn. Thiện ý phát khởi để tâm đầy nhiệt huyết
luôn nẩy sinh. Bạn càng đầy nhiệt huyết để khám phá sự
thật, bạn càng cảm thấy tự tại, gần như là hỷ lạc.
Bạn cảm thấy tự tại vì bạn không còn chống đối thực
tại nữa. Do đó yếu tố hỷ của giác ngộ trở thành đối
tượng chánh niệm mới.
Hỷ
mang đến sự tự tại, rồi tự tại đưa đến hạnh phúc.
Hạnh phúc mang lại khinh an. Do đó khinh an phát sinh như là
một yếu tố của giác ngộ. Tiếp tục nhận ra được cùng
một chân lý, ở mọi cấp độ, trong mọi kinh nghiệm mà bạn
có thể trải qua, bạn trở nên thư giãn. Cái tâm đã từng
luôn ở trong dòng chuyển động xung đối giống như lá
cờ trên đỉnh núi. Giờ sự xao động đã lắng xuống.
Thanh tịnh đã có mặt. Định mạnh mẽ và sâu lắng
phát khởi. Trước đó có thể bạn cũng đã đạt định sâu
xa, mãnh liệt; ở đây cũng vậy. Nhưng giờ thì tâm đã chín
muồi, và bạn có thề sử dụng định này để đạt đến
các tầng giải thoát. Do đó định trở thành một yếu tố
của giác ngộ.
Tất
cả các yếu tố đều hoàn toàn hòa hợp –niệm, trạch pháp,
tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả. Ở giai đoạn này,
yếu tố xả của giác ngộ chiếm ưu thế. Nhìn bất
cứ điều gì phát sinh trong một trạng thái tâm không phân
biệt, ổn định, xả, sẽ thanh tịnh hóa từng chi phần. Trước
đây, lúc nào trong ta cũng có một vài ước muốn vi tế rằng
sự vật phải khác hơn chúng là. Thí dụ, bạn nghĩ, “Tôi
muốn điều tốt đẹp này sẽ kéo dài.” Ước muốn vi tế
đó chấm dứt khi tâm ở trong trạng thái xả ly.
Khi
tự tính vô thường của vạn pháp đã trở nên rất rõ ràng,
ta không còn hy vọng rằng giây phút kế tiếp sẽ khác đi.
Khi bản chất không như ý, khổ của pháp bắt đầu trở nên
rõ ràng, ta không còn ước muốn rằng giây phút kế tiếp
sẽ được như ý. Khi bản chất vô ngã, không thể kiềm chế,
không có cá thể của vạn pháp trở nên rõ ràng, ta không
mong đợi rằng giây phút kế tiếp có thể khác. Do biết xả
ly, tâm không còn dấu vết nào của lòng ham muốn, muốn nhìn
mọi vật bằng cách nào khác hơn như chúng là. Tâm hoàn toàn
thể nhập với chân lý. Đó là cách Tứ Diệu đế và thất
giác chi vận hành cùng nhau. Bạn nhìn thấy khổ như nó thực
sự là. Bạn nhìn thấy nguồn gốc của khổ đúng hệt như
nó thực là. Bạn cũng nhìn thấy sự đoạn diệt khổ đúng
như nó là. Và con đường giải thoát khổ mà bạn đã tiến
bước cho đến bây giờ -con đường đó, bạn cũng thấy đúng
như nó thực là.
Bất
cứ khi nào một yếu tố giải thoát không phát sinh, ta ý thức
về điều đó. Bất cứ khi nào chúng phát sinh, ta cũng ý thức
về điều đó và dung dưỡng chúng, cho đến khi ta đạt đến
mức độ hoàn hảo. Khi tất cả mọi chi phần của thất giác
chi đã được viên mãn, là bạn đạt đến niết bàn, hạnh
phúc tuyệt đối, an tịnh tuyệt đối. Chúng ta có thể đạt
được mục đích này ngay trong cuộc đời này. Khi được
như thế, tất cả khổ đau chấm dứt. Tất cả mọi câu hỏi
đều kết thúc. Tất cả mọi lo âu, sợ hãi, căng thẳng,
bất an đều biến mất, không bao giờ trở lại nữa. Không
còn có sự ham muốn, bám víu vào bất cứ điều gì. Chúng
ta sống trong một sự hòa hợp toàn vẹn, hoàn toàn thăng bằng.
Tất cả mọi giác quan của chúng ta đã được rèn luyện,
mài dũa. Chúng ta vẫn ăn, uống, nói, đi, và sử dụng thân
tâm, nhưng với tâm đầy chánh niệm, đầy ý thức. Giới
hạnh của chúng ta không khiến ta nghĩ mình hơn kẻ khác. Thiền
định của chúng ta không khiến ta tự khen mình và chê bai
người khác. Tuệ giác tạo cho chúng ta tình thương yêu, lòng
bi mẫn, và tâm hoan hỷ vẹn toàn. Hãy tận hưởng sự
hoàn toàn xả ly, chúng ta không bao giờ còn bị những thăng
trầm của cuộc đời làm ta xao động nữa.
TÓM
LƯỢC VỀ SỰ THỰC HÀNH CHÁNH NIỆM
•
Chánh niệm là sự chú ý trong từng giây phút đến việc gì
đang xảy ra. Tâm chánh niệm rất chính xác, thâm sâu, vững
chãi, không tán loạn. Nó giống như một tấm gương phản
chiếu trung thực bất cứ vật gì ở phía trước nó.
•
Chánh niệm cho ta có được tri giác thể nhập vào ba đặc
tính của tất cả mọi hiện hữu: vô thường, khổ,
và vô ngã.
•
Ta có thể sử dụng bất cứ đối tượng nào để phát triển
tâm chánh niệm, miễn là nó sẽ giúp ta đạt được tuệ
giác đối với ba đặc tính (tam tướng) trên.
•
Mục đích sâu xa của chánh niệm là để khai mở con mắt
tuệ, vì tuệ giác về bản chất thực sự của thực tại
là bí mật cuối cùng của hạnh phúc và hòa bình vĩnh
cửu.
•
Tứ niệm xứ là phương pháp quán niệm về thân, thọ, tâm,
và đối tượng của tâm.
•
Ba cách thực hành chánh niệm căn bản nơi thân là quán niệm
về hơi thở, về tư thế, và về các bộ phận của thân.
•
Quán niệm về hơi thở có thể giúp ta rèn luyện sự chú
tâm, vì ta dễ quán sát hơi thở và lúc nào nó cũng có mặt.
•
Hòa hợp tâm với hơi thở là đặt tâm vào giây phút hiện
tại. Hơi thở cũng hoạt động như một căn cứ địa để
tâm có thể quay về sau khi quán sát các hiện tượng khác.
•
Kinh hành, đi từng bước rất chậm rãi và đầy chánh niệm
có thể là một phương pháp hành thiền hoàn chỉnh, chứng
minh cho ta thấy các tính chất: vô thường, khổ, và vô ngã
có mặt trong từng giây phút như thế nào. Phương pháp thiền
này cũng có thể được dùng cho các tư thế khác, như là
nằm, ngồi, đứng.
•
Duy trì chánh niệm về tư thế suốt ngày rèn cho tâm có thể
thấy rõ ràng những đặc tính của năm uẩn.
•
Quán niệm về thân như là một tập hợp của bốn mươi hai
bộ phận và quy trình luôn thay đổi cho ta thấy rằng không
có gì thường hằng về cái thân mà ta quá bám víu.
•
Lạc thọ hay khổ thọ là do thái độ của bản thân ta, do
đó chúng ta có thể dừng lại việc trách móc người khác
đối với việc ta cảm thấy thế nào.
•
Cả quá trình của khổ đau được dung dưỡng bằng các phản
ứng vô minh của tâm đối với ba loại cảm thọ -bám víu
vào lạc thọ, tránh né khổ thọ, và trải qua ảo giác về
“ngã” trong trạng thái trung tính.
•
Các “cảm thọ thế tục” sinh khởi từ việc ta theo đuổi
những mục đích tầm thường, chứa đựng các khuynh hướng
tiềm ẩn đối với tham, sân, hay si. Các “cảm thọ xuất
thế” phát sinh từ tuệ giác, không chứa đựng bất cứ
khuynh hướng tiềm ẩn nào.
•
Quán niệm về thọ là một phần của sự thực hành thiền
minh sát. Thấy được sự vô thường của các cảm thọ, chúng
ta tập buông bỏ các trạng thái tiềm ẩn của tham, sân, và
si và vun trồng các cảm thọ xuất thế.
•
Đức Phật không hề dạy chúng ta “thụ hưởng một cách
chánh niệm” các dục lạc. Ngài dạy chúng ta chánh niệm
buông xả những ham muốn đối với các dục lạc thế tục
và tận hưởng các lạc thọ xuất thế được tạo ra bởi
sự buông xả này.
•
Khi ta vun trồng chánh niệm về tâm, ta ghi nhận sự phát sinh
và qua đi của các trạng thái của tâm như là tham, vô tham,
trạng thái tâm hẹp hòi hay cởi mở, vân vân.
•
Quán niệm về đối tượng của tâm nghĩa là ghi nhận sự
phát khởi và qua đi của năm chướng ngại, mười kiết sử,
năm uẩn, tứ diệu đế, và các yếu tố giác ngộ.
•
Ta có thể xem các yếu tố giác ngộ như là quả của sự
thực hành chánh niệm. Khi chánh niệm của ta sâu sắc, chúng
phát khởi theo thứ tự sau đây: niệm, trạch pháp, tinh tấn,
hỷ, khinh an, định, và xả.
•
Khi tất cả các yếu tố giác ngộ đã được viên mãn, ta
đạt được niết bàn, hạnh phúc tuyệt đối, thanh tịnh
tuyệt đối. Chúng ta có thể đạt được mục đích này ngay
trong kiếp sống này.