Bước
6
CHÁNH
TINH TẤN
Chúng
ta chọn lựa giữa cái thiện và cái ác trong từng giây phút
sống. Chúng ta không phải là những nạn nhân khốn khổ, thúc
thủ trước số mệnh. Chúng ta không phải là những con rối
được điều khiển bởi những quyền lực nào đó, và những
gì xảy ra cho chúng ta cũng không phải do tiền định.
Ngay giây phút này chúng ta chọn lựa hành động, rồi giây
phút kế tiếp ta phải nhận lãnh kết quả của sự lựa chọn
đó, cùng với bất cứ ảnh hưởng nào còn lại của những
sự chọn lựa trong quá khứ. Một sự khéo chọn trong giây
phút này sẽ tạo nên một môi trường tâm linh tốt đẹp
cho hỷ lạc trong giây phút kế tiếp. Nếu sự chọn lựa trong
giây phút vừa qua khá trong sạch và thanh tịnh, thì giây phút
hiện tại cũng sẽ được như thế. Với hàng tỷ của những
giây phút khá trong sạch, chúng ta sẽ có được những giây
phút của hỷ lạc. Với sự phát triển của những thói
quen tâm linh cao thượng, từ giây phút này qua giây phút khác,
những giây phút này sẽ tích lũy để tạo nên những giây
phút hỷ lạc dài lâu hơn. Cuộc sống của chúng ta được
tạo dựng từ những sự chọn lựa nhỏ nhặt này, hằng tỷ
sự chọn lựa như thế xảy ra trong giây phút.
Nhưng
những tinh tế này của tâm không phải là nơi để ta bắt
đầu thực tập. Ta phải bắt đầu ở nơi ta có thể thấy
rõ ràng, qua các hành động bên ngoài. Trước hết, hãy giữ
năm giới và dừng lại những hành động nguy hại đến sự
tiến bộ tâm linh. Một khi tâm không còn bị xáo trộn
bởi ảnh hưởng của các bất thiện pháp, ta sẽ có thể
dễ dàng thấy được những gì đang xảy ra trong tâm. Lúc
đó ta có thể đủ thong dong để nhìn thấy được dòng tư
tưởng của mình. Sau này, khi ta rèn luyện được khả năng
có thể nhìn thấy tâm chuyển động như thế nào, ta có thể
thấy những giây phút tâm phát sinh, dâng trào, và rồi tàn
lụi. Tuy nhiên để bắt đầu, chỉ cần chánh niệm về khuynh
hướng chung của các dòng tư tưởng khi chúng phát sinh là
đủ.
Với
ý thức đó, chúng ta có thể sử dụng Chánh Tinh Tấn để
tạo ra những lựa chọn mới. Đức Phật khuyên tất cả chúng
ta nên chọn các tâm thiện để thay cho các tâm bất thiện
và vun trồng các tâm thiện trong từng giây phút, cho đến
khi các tâm bất thiện không còn xuất hiện nữa. Theo
như Đức Phật dạy, chúng ta thực hiện điều đó bằng cách
luôn tự thúc giục, “tinh tấn, tạo ra năng lực, và khơi
dậy tâm.” (D 22)
Trong
bước thứ sáu của Bát Chánh Đạo, Chánh Tinh Tấn, Đức
Phật đã giải thích một cách cụ thể làm thế nào để
điều khiển nỗ lực của chúng ta, phân chia quy trình đó
thành ra bốn phần. Đầu tiên, với sự quyết tâm và
năng lực mạnh mẽ, chúng ta làm bất cứ điều gì có thể
để ngăn chặn sự phát khởi của các tâm bất thiện, như
là hờn giận, ghen tỵ, hay tham. Tuy nhiên vì ta chưa giác ngộ,
một số các tâm tiêu cực vẫn sẽ len lỏi vào, không kể
ta cố gắng đến mức nào. Sau đó ta sẽ nỗ lực lần
thứ hai, thúc giục bản thân phải chế ngự bất cứ tâm
bất thiện nào đã phát sinh. Ba là, chúng ta thay thế các tâm
bất thiện với các tâm thiện, như là những tư tưởng thương
yêu, độ lượng, hay những tình cảm của lòng bi mẫn. Cuối
cùng, chúng ta khơi dậy lòng tinh tấn để vun trồng sâu xa
hơn nữa các tâm thiện. Ta càng tinh tấn, thì kết quả
tất nhiên là tâm ta càng trở nên trong sáng, bớt khổ đau,
và ta càng cảm thấy an lạc, tự tại hơn.
Muốn
thành tựu được bất cứ điều gì cũng đòi hỏi sự nỗ
lực. Điều này đúng đối với những sinh hoạt đời thường
như là sơn nhà, kinh doanh buôn bán; đời sống tâm linh còn
đòi hỏi ta nhiều nỗ lực tinh tấn hơn nữa. Ở từng bước
của Bát Chánh Đạo luôn tiềm ẩn sự có mặt của Chánh
Tinh Tấn. Khi chúng ta thực hành lời dạy của Đức Phật
về bốn loại tinh tấn, khiến tâm thiện toàn, trong sáng và
có khả năng hiểu biết, là ta đã đạt được Chánh Kiến
về con đường đạo. Rồi khi ta áp dụng bốn tinh tấn
này vào ý nghĩ, lời nói, và hành động, ta sẽ đạt được
kết quả trong Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, và Chánh Nghiệp. Và
khi ta đem bốn tinh tấn này ứng dụng vào các quy luật đạo
đức trong công việc, là ta đạt được Chánh Mạng.
Cuối cùng khi ta tinh tấn trong việc thực hành thiền, là ta
có được Chánh Niệm và Chánh Định. Chúng ta có thể kết
luận một cách chính xác rằng Chánh Tinh Tấn là năng lượng
cần có để thúc đẩy sự thành công của chúng ta trên từng
bước của Bát Chánh Đạo. Thật ra, có được một sự nỗ
lực mạnh mẽ để tự kìm chế bản thân là đã thắng được
nửa chiến trận. Không có sự nỗ lực mạnh mẽ này
để đạt được trạng thái tâm thiện toàn, chúng ta sẽ
khó thể tiến xa trên con đường đi đến hạnh phúc tối
thượng.
Chúng
ta rất muốn tin rằng chỉ cần chú tâm là có thể đi trọn
con đường đạo. Chắc chắn là sự chú tâm nghe có vẻ
dễ thực hiện hơn là phải nỗ lực tinh tấn. Tiếc thay chỉ
có sự chú tâm bình thường, đơn giản thì không đủ. Chúng
ta cần phải rèn luyện sự chú tâm đầy chánh niệm -cả
trong khi ta tọa thiền hay tham gia vào các sự thực hành tâm
linh khác và khi ta sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Đức
Phật đã biết rằng chúng ta cần có sự nỗ lực đầy chánh
niệm để diệt bỏ các tâm tiêu cực và vun trồng tâm tích
cực trong mọi khía cạnh của đời sống, nếu không
tâm ta sẽ chẳng bao giờ được an tịnh để ta có thể tiến
xa hơn trên con đường đạo.
Đến
lúc này, bạn có thể nghĩ, “Tôi biết là không dễ mà.
Sao nghe khó khăn quá!” Dĩ nhiên, bạn nói đúng. Chắc chắn
là việc để các tâm tiêu cực nằm yên trong tâm thức ta
còn dễ hơn là buông bỏ chúng. Tham, sân, si, dễ duôi, cao
ngạo, hãnh tiến, cay độc, cố chấp, sợ hãi, có thể đã
trở thành những thói quen hằng ngày của chúng ta. Chúng ta
không muốn nỗ lực buông bỏ chúng. Tuy nhiên, ta vẫn muốn
được an nhiên, tự tại và đạt được mục đích tâm linh
của mình.
Chánh
Tinh Tấn là lòng kiên trì để khiến cho cuộc hành trình trên
con đường đạo có thể khả thi. Đó là sự can đảm để
nói: “Phải dứt bỏ những thói xấu của ý nghĩ và hành
động, ngay bây giờ!”. Đó là trí tuệ để thấy rằng
phải vun trồng ý nghĩ, lời nói và hành động tích cực,
thiện toàn, thì ta mới có thể hy vọng đạt được hỷ lạc,
hạnh phúc.
MƯỜI
KIẾT SỬ
Để
buông bỏ được những thói quen của tâm uế nhiễm, chúng
ta cần phải nhận diện được chúng. Nói chung, những gì
chúng ta muốn trừ diệt là bất cứ tâm sở nào ngăn cản
tâm được tự tại, an nhiên. Nếu muốn nhổ cỏ dại
trong một khu vườn, ta phải biết phân biệt giữa cỏ dại
và bông hoa. Với tâm cũng thế. Lúc đầu, chúng ta sẽ cảm
thấy khu vườn tâm đầy cỏ dại. Chúng ta nhận diện và
nhổ bỏ các tâm sở bất thiện như là sân hận, và thay thế
chúng với các tâm sở thiện toàn, hữu ích, như là tình thương
yêu.
Nếu
dành chút thời gian để suy nghĩ về vấn đề này, ta có thể
liệt kê một danh sách của các loại cỏ dại tâm linh. Ta
cũng biết khi đang trong trạng thái giận dữ, sân hận, ganh
tỵ, hay ham muốn, ta không thể cùng lúc cảm thấy hạnh phúc.
Bên dưới các tâm sở tiêu cực này, dầu chúng biểu hiện
ở bên ngoài như thế nào, tất cả đều đến từ các cội
rễ căn bản: tham, sân (mặt khác của tham), và si (hay vô minh).
Tham,
cùng với vô minh, là gốc của mọi loại cỏ dại tâm linh.
Tham thể hiện trong mười uế nhiễm tâm linh sâu xa mãnh liệt
được gọi là “kiết sử.” Chúng khiến ta có tri kiến
lệch lạc, ảnh hưởng đến sự suy nghĩ của ta, cũng giống
như dòng kênh ảnh hưởng đến lưu lượng nước chảy. Các
kiết sử thường mang đến cho ta khổ đau. Không phải
một thời thơ ấu khó nhọc hay quá khứ đau buồn nào tạo
ra các kiết sử, mà chúng đã theo ta từ rất nhiều kiếp
quá khứ. Chúng là nhân của mỗi kiếp sống và những khổ
đau trong kiếp sống đó. Sự có mặt của các kiết sử bảo
đảm ta còn phải luân hồi nhiều kiếp nữa, và ngăn cản
ta được giác ngộ. Kiếp sống này cũng do các kiết sử tạo
nên.
Chúng
tôi thường liệt kê mười kiết sử để phản ảnh những
giai đoạn ở đó chúng phải được chế ngự trên con đường
đến giác ngộ.
Các
kiết sử cần được chế ngự để đạt được giai đoạn
đầu của giác ngộ:
•
tin vào sự hiện hữu của một cái ngã hay linh hồn thường
hằng (thân kiến)
•
nghi ngờ giáo lý của Đức Phật (nghi)
•
tin tưởng rằng ta có thể chấm dứt khổ đau bằng cách chỉ
tuân theo các luật lệ và nghi lễ (giới cấm thủ)
Các
kiết sử cần được chế ngự để đạt đến giai đoạn
thứ hai và thứ ba của giác ngộ:
•
lòng ham muốn dục lạc (tham dục)
•
sân
Các
kiết sử cần được chế ngự để đạt đến giai đoạn
thứ tư của giác ngộ:
•
dục tham vi tế muốn được hiện hữu trong sắc giới (sắc
ái)
•
dục tham vi tế muốn hiện hữu trong vô sắc giới (vô sắc
ái)
•
tự phụ, hay nhận thức tiềm ẩn về ngã (mạn)
•
trạo hối
•
vô minh
Tâm
người chưa giác ngộ luôn tràn đầy các kiết sử này, ít
nhất là trong trạng thái ngủ ngầm. Thỉnh thỏang một trong
các kiết sử này sẽ phát khởi trong tâm, khiến cho ta có
cái nhìn rất sai lạc về thực tại, và phải khổ đau. Mỗi
sát na tâm đều hàm chứa ít nhất kiết sử của dục tham
và vô minh vi tế, nhưng các kiết sử khác đôi khi cũng xuất
hiện chung với chúng.
Khi
công phu tu hành của ta dần tiến bộ, ta có thể làm suy yếu
các kiết sử này, để rồi cuối cùng chế ngự và hủy diệt
được chúng ở từng giai đoạn thiền định. Sau mỗi giai
đoạn chúng ta đạt đến một tầng cao hơn của giác ngộ.
Khi chế ngự được ba kiết sử đầu tiên, hành giả đạt
được sơ thiền. Làm suy yếu được hai kiết sử kế
tiếp, hành giả đạt đến nhị thiền. Tuy nhiên dư phần
của dục tham và sân vi tế hơn tất cả những gì đã được
diệt bỏ. Khi hành giả cuối cùng vượt qua được các dư
phần này, thì đạt đến tam thiền. Năm kiết sử cuối
cùng rất vi tế. Khi diệt trừ được chúng, hành giả đạt
đến tầng thiền thứ tư và là tầng cuối cùng của giác
ngộ (final stage of enlightenment).
Thân
Kiến
Kiết
sử đầu tiên, thân kiến là tin vào một cái ngã hay linh hồn
thường hằng, khiến ta tin rằng các uẩn phần nào có liên
hệ đến một cái ngã hay linh hồn. Kiết sử này có thể
biểu hiện qua lòng tin rằng thân, thọ, tưởng, hành, và thức
là một và cũng là linh hồn, và rằng chúng giống nhau. Cũng
có khi kiết sử này tạo ra niềm tin rằng các uẫn có linh
hồn (hay linh hồn sở hữu các uẫn này.) Chúng ta có thể
cũng tin rằng linh hồn tạo ra sự kết hợp của các uẫn
(hay các uẫn đã tạo ra linh hồn). Cuối cùng, kiết sử
này cũng có thể biểu hiện qua lòng tin rằng linh hồn hay
ngã là một, và thân, thọ, tưởng, hành, và thức là một
cái gì hoàn toàn tách biệt, không liên quan gì đến linh hồn.
Nhưng
kiết sử này thể hiện thông thường nhất là qua niềm tin
rằng chúng ta có một linh hồn trong kiếp sống trước, và
linh hồn đó đã đến kiếp sống này, đang sở hữu các uẫn,
và nó sẽ rời bỏ thân này để đi đến một sự hiện hữu
khác sau khi ta chết. Nói tóm lại, niềm tin này dựa vào ý
nghĩ rằng có một linh hồn thường hằng, bất biến, và bất
diệt.
Nghi
Kiết
sử thứ hai, nghi, đặc biệt muốn nói đến lòng nghi hoặc
rằng sự thực hành giới, định, và tuệ theo giáo lý của
Đức Phật sẽ mang đến hạnh phúc lâu dài. Kiết sử
nghi sẽ phát khởi khi ta lạc bước khỏi những gì ta thực
sự biết trong giờ phút hiện tại và dại dột nghĩ tưởng
đến những vấn đề có khuynh hướng khơi động tâm nghi
hoặc. Ai cũng biết đến khả năng khơi động và củng cố
thêm kiết sử nghi của một số “vấn đề không thể nghĩ
bàn”. Đó là những câu hỏi suy đoán về vũ trụ xuất
hiện như thế nào, tại sao và những vấn đề đại loại
như thế.
Một
số các đề tài đem lại lòng hoài nghi là những câu hỏi
về quá khứ và tương lai: “Ta có mặt trong thời quá khứ,
hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Những kiếp quá khứ
của ta như thế nào? Có đời sống sau khi chết hay không?
Ta có bị đoạn diệt không? Có thiên đàng hay địa ngục
không? Ta có tái sinh không? Đời sống mới sẽ như thế nào?”
Hiện
tại cũng có thể đem đến cho chúng ta nhiều nghi hoặc: “Ta
có hiện hữu? Hay ta không hiện hữu? Ta có bình thường không?
Ta là ai? Ta từ đâu đến?”
Một
số những suy tư tương tự cũng thường phát khởi trong tâm,
khiến ta sinh lòng nghi hoặc: “Do tự mình, ta tưởng tri ta
có tự ngã” hay “Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự
ngã? Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ
quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính
tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn,
không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại.” (M
2)
Tất
cả các câu hỏi và suy tư này thường đưa chúng ta đi sâu
vào những ngõ tối, sâu dầy lòng nghi hoặc, hoang mang.
Chìm đắm trong đó sẽ ngăn trở chúng ta chú tâm chánh niệm
đến những gì thực sự quan trọng. Những loại câu hỏi
này không bao giờ có thể được trả lời một cách thỏa
đáng mà chỉ làm chúng ta phân tâm. Nhưng cho đến khi chúng
ta đạt được sơ thiền, chúng vẫn còn lảng vảng trong tâm.
Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên quán sát những câu hỏi
này khi chúng phát sinh và hoại diệt. Đừng lo lắng hay chạy
đuổi theo chúng. Ngay trong hiện tại, cứ tiếp tục với những
cố gắng tìm hiểu, dựa trên những gì ta có thể biết được
qua kinh nghiệm bản thân, chứ không chỉ bằng lý luận.
Hãy
có lòng tin vào con đường đưa đến hạnh phúc của Phật
giáo, vì đã có bao người tin theo và đạt được giác ngộ.
Tín tâm, theo thuật ngữ Phật giáo, có nghĩa là lòng tin –dựa
trên những gì ta đã chứng kiến và những gì ta nghĩ là đúng
dựa trên kinh nghiệm đó. Thí dụ, ta có thể tự quan sát
rằng bất cứ khi nào tâm ta đầy các tâm sở bất thiện,
thì ta cảm thấy đau khổ. Ngược lại, khi nào tâm ta tràn
đầy các tâm sở thiện, thì ta cảm thấy hạnh phúc. Khi tất
cả các tâm sở này thay đổi, ta nhận ra được trạng thái
vô thường của chúng. Đây là sự thật. Ta có thể tin
tưởng như thế. Lòng tin này giúp ta tiến bước cho đến
khi ta đạt được nhận thức sâu xa về chân lý khiến tâm
ta không còn chỗ cho kiết sử nghi.
Giới
Cấm Thủ
Kiết
sử thứ ba là một động thái đầy bản năng của tâm để
tìm các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài, hơn là từ sự thanh
lọc nội tâm. Điều đó thể hiện qua sự tin chấp vào hiệu
lực của những luật lệ, nghi lễ sẽ đem đến giác ngộ.
Từ đó, ta nghĩ rằng hạnh phúc tuyệt đối có thể đạt
được bằng cách thực hành các nghi lễ, tham gia vào các sự
tế tụng, thiết lập các đàn tràng, cúng dường cho Phật
hay cho các vị thần thánh, tụng kinh, cầu nguyện, và niệm
chú, hơn là hành thiền và áp dụng những lời dạy của Đức
Phật vào cuộc sống hằng ngày. Sự tin chấp này làm tổn
phí thời gian và cản trở khả năng nhận biết chân lý của
ta. Do đó ta tự làm trì trệ sự tiến bộ của mình
trên con đường tâm linh.
Dục
Tham
Dục
tham kiết sử là lòng ham muốn các dục lạc. Nó bao gồm lòng
ham muốn đối với bất cứ cảnh tượng, âm thanh, mùi vị,
và sự xúc chạm dễ chịu nào, kể cả thân xác này. Nó cũng
bao gồm tất cả những tư tưởng, ý nghĩ, quan niệm, và ý
kiến mà mình ưa thích.
Sân
Kiết
sử sân là sự ghét, ác cảm đối với bất cứ những gì
khó chịu, bất cứ những gì mà ta không thích.
Ước
Muốn Được Hiện Hữu
Ước
muốn vi tế để được hiện hữu trong sắc giới hay vô sắc,
lòng tự cao, và những kiết sử của trạo hối và vô minh
là những hình thức vi tế nhất của lòng tham dục. Năm kiết
sử này hợp thành những chướng ngại cuối cùng của sự
giác ngộ viên mãn. Lòng ham muốn vi tế để được hiện
hữu trong sắc giới hay vô sắc ám chỉ đến ý muốn được
sống, được hiện hữu dưới hình thức nào đó, bất cứ
hình thức nào.
Ước
muốn được hiện hữu “trong” thân xác vật lý này biến
mất khi ta đoạn trừ được lòng tham dục ở mức độ thô
lậu hơn. Tuy nhiên, ước muốn được hiện hữu
trong một hình thức tốt đẹp hơn, “siêu trần” hơn vẫn
còn đó, như là ước muốn được hiện hữu trong những thân
xác như thần tiên. Người ta coi đó là hình tướng của
các vị trời trên cao. Ngay cả khi không được có thân,
ta vẫn ước muốn được hiện hữu. Người ta tin đó
là sự hiện hữu vị lai của các bậc đã đạt các quả
vị thiền định cao nhất; họ đã trở thành các vị trời
cao cả nhất.
Mạn
Mạn
kiết sử ám chỉ đến đặc tính coi mình hiện hữu như là
một ai đó. Kiết sử này là sự cảm nhận từng giây
phút về “cái tôi” để từ đó sinh ra quá nhiều hiểu
lầm, hoang mang. Tâm luôn nghĩ “Ta…, Ta…, Ta…,” mà
không hiểu rằng sự cảm nhận về “cái tôi” cũng chỉ
là một trạng thái tâm vô thường và vô ngã trong quá trình
tư duy. Thí dụ, tâm có thể nói, “Tôi nghe âm thanh,” nhưng
với trí tuệ là chân lý, là sự hiểu biết rằng chỉ có
âm thanh.
Trạo
Hối
Kiết
sử trạo hối (trạo cử và lo lắng) rất vi tế, không giống
như chướng ngại có cùng tên. Lo lắng là tâm trạng bức
rứt do tác động của các lậu hoặc vi tế nhất còn sót
lại trong tâm. Lo lắng đưa đến trạo cử, khiến tâm
không thể an trụ vào điều gì. Kiết sử trạo hối
khiến tâm lay động giống như một tấm biển treo trước
gió, vì thế nó không thể dừng lại để nhận biết sự
thật về tính vô thường của bản thân. Tâm dường
như luôn lo lắng vì sợ không được hiện hữu. Kiết sử
này sẽ không bao giờ hoàn toàn mất đi cho đến khi hành giả
đạt được Giác Ngộ viên mãn.
Vô
Minh
Kiết
sử vô minh ám chỉ sự mù quáng triền miên đối với bản
chất của khổ, nguồn gốc của khổ, khả năng có thể đoạn
diệt của khổ và phương cách để đoạn diệt khổ.
Nói cách khác là vô minh về Tứ Diệu Đế.
Mười
kiết sử này mạnh mẽ không thể tưởng được. Khi ta cảm
nhận được sự có mặt của chúng, thì chúng đã sùng sục
nóng như một nồi nước sôi, lúc đó ta cần nhiều nỗ lực
để làm chúng nguội đi. Tại sao chúng được gọi
là kiết sử? Vì giống như những sợi dây xích sắt cứng
rắn chúng trói buộc ta vào khổ đau trong kiếp sống này và
vào những sự tái sinh luân hồi không dừng dứt trong tương
lai.
Chức
năng của các sợi dây xích này rất vi tế, lắc léo, nhưng
với tâm chánh niệm, chúng ta có thể biết nó vận hành như
thế nào. Hãy thử quán sát kiết sử thứ tư: dục tham. Ta
biết mình có các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
tâm. Chúng ta cũng biết các căn này tiếp xúc với thế giới
bên ngoài. Vì sự tiếp xúc không dừng giữa các căn và các
trần, dục lạc có thể phát sinh, rồi lòng ham muốn
hưởng thụ các dục lạc này phát khởi trong ta. Với
tâm chánh niệm, ta có thể cảm nhận được sự phát khởi
của ái dục. Nếu, vì lý do gì đó, ái dục không phát
sinh, thì ta cũng nhận biết được sự thiếu vắng lòng ái
dục.
Ái
dục khiến ta muốn thứ này hay thứ kia, thích lúc này hay
lúc khác, yêu người này hay người kia – hay môi trường,
cảnh vật, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, ý nghĩ.
Vì tất cả những sự thích hay không thích này, tâm ta luôn
hoặc là bám víu hoặc là ghét bỏ. Đáng nói hơn cả
là chúng khiến ta luyến ái cuộc sống này, bám víu vào đó
hay chán ghét nó. Do đó, lòng ham muốn đối với các dục
lạc làm tăng thêm sức mạnh cho sợi dây xích trói buộc ta
vào vòng luân hồi không dừng dứt.
Bất
cứ kiết sử nào cũng có thể phát khởi ngay khi có sự tiếp
xúc. Hãy xét về kiết sử thân kiến. Khi có sự tiếp
xúc, một cảm thọ phát sinh mà có thể là dễ chịu, khó
chịu, hay trung tính. Ngay lúc đó, ý thức về một cái ngã
thường hằng phát sinh: Đó là ‘cái tôi’ khiến cho ‘tự
ngã’ cảm nhận. Và ‘cái tôi’ này ở trong ‘tự ngã’
một cách thường hằng, bất biến và bền chắc.
Thân kiến kiết sử trói buộc ta vào việc tìm kiếm các đối
tượng dễ chịu và chống đối các đối tượng khó chịu.
“Cái tôi” không hạnh phúc. Nó không thể chỉ tiếp xúc
với các đối tượng dễ chịu, theo như ý nó muốn.
Cảnh trần bao bọc quanh ta, và không phải tất cả chúng đều
dễ chịu.
Tuy
nhiên, nếu chúng ta có thể thực sự thấy rằng một cảm
thọ phát sinh là vô thường -nếu ta có thể ý thức về sự
phát khởi và hoại diệt của nó– ta sẽ không bám víu vào
đó. Ta sẽ bước tới. Nếu ta có thể nhận thức được
rằng bản chất của sự vật là vô thường, để buông xả
khi chúng hoại diệt, thì tâm ta sẽ thoát được khỏi sự
căng thẳng của việc phải luôn tìm kiếm các đối tượng
đem lại sự dễ chịu. Nếu ta có thể duy trì chánh niệm
vế tất cả các pháp sinh khởi, biết rằng chúng sẽ qua đi,
thì thân kiến kiết sử sẽ không có mặt.
Hãy
xét về một kiết sử khác: giới cấm thủ. Có lẽ bạn có
một nghi lễ là mỗi sáng phải đốt đèn cầy và cầu nguyện
để được thoát khổ. Mỗi sáng thức dậy, bạn nghĩ, “A,
tôi phải thực hiện nghi lễ của mình.” Nhưng bạn không
cố gắng để giảm thiểu tâm uế nhiễm bằng cách vun trồng
trí tuệ, thiền định, hay các thiện pháp như là tình thương
yêu. Thay vào đó, bạn bám víu vào niềm tin rằng thực hiện
nghi lễ này mỗi buổi sáng chắc chắn sẽ mang đến hạnh
phúc. Làm thế thì bao năm sau, dầu bạn chẳng bao giờ bỏ
qua một ngày thiếu ‘nghi lễ’, thì bạn cũng không đến
gần hơn với Giác Ngộ.
Khi
quán sát tâm với chánh niệm, ta có thể thấy các kiết sử
phát sinh khi các giác quan tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
Cho đến khi ta đạt được giác ngộ, mỗi lần một trong
sáu giác quan này tiếp xúc với đối tượng của chúng, các
kiết sử sẽ phát khởi. Chánh niệm có thể giúp ta phân biệt
giữa các giác quan, đối tượng của giác quan, và các kiết
sử khi chúng phát khởi. Khi các kiết sử xuất hiện, ta cần
sử dụng sự tinh tấn đầy chánh niệm để chế ngự chúng.
Khi chúng hoại diệt, ta cũng cần chánh niệm về trạng thái
này, và khi chúng không có mặt, ta cũng phải nhận thức về
trạng thái đó nữa.
NĂM
TRIỀN CÁI
Từ
mười kiết sử đó sinh ra một số các trạng thái tâm vô
cùng bất thiện, cản trở ta tiến bộ trong việc hành thiền
hay làm được điều gì tốt đẹp trong cuộc đời. Chúng
ta gọi các trạng thái tâm đó là các chướng ngại (triền
cái). Nếu kiết sử giống như là ngọn gió, thì chướng ngại
là trận cuồng phong. Chướng ngại thật sự gây khó khăn
cho các hành giả mới bắt đầu tu thiền.
Năm
chướng ngại đó là tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo hối
và nghi. Chúng phát sinh từ các kiết sử trên tùy theo
điều kiện, bùng phát lên giống như những ngọn lửa từ
các đống than rực nóng. Nhưng, cũng giống như các ngọn lửa,
chướng ngại có thể được dập tắt với Chánh Tinh Tấn,
nếu áp dụng đúng cách.
Các
chướng ngại có thể được ngăn chặn bằng thiền định
hay bằng sự kiên trì chánh niệm. Chánh niệm hay định tĩnh
sẽ làm hạ nhiệt các chướng ngại và chế ngự chúng khi
chúng phát khởi. Khi tâm không chất chứa bất kỳ chướng
ngại nào, tâm tự động sẽ trở nên sáng suốt, thanh tịnh.
Nhờ đó, tâm dễ nẩy sinh các trạng thái tâm thiện, đưa
đến thiền định, đến khả năng nhận biết rõ ràng bản
chất vô thường của vạn pháp. Bất cứ ai trong chúng ta cũng
có thể loại trừ các chướng ngại này, ít nhất là một
cách tạm thời. Bao giờ mà mười kiết sử cốt yếu vẫn
còn hiện hữu thì các chướng ngại vẫn còn có thể quay
trở lại để quấy nhiễu tâm, không lúc này thì lúc khác.
Nhưng với sự thực hành bốn loại Chánh Tinh Tấn (tứ chánh
cần), ta có thể giảm bớt và làm ngắn đi những sự xuất
hiện của chúng. Khi ta trở nên nhuần nhuyễn hơn trong việc
áp dụng Chánh Tinh Tấn, các chướng ngại không thể gây nhiều
khó khăn cho việc hành thiền hay trong cuộc sống hằng ngày
của ta.
Tham
Chướng
ngại tham hay ái dục là ước muốn được chiếm hữu. Khi
hành thiền, chướng ngại này xuất hiện như những ham muốn
về đồ ăn hay vật chất mà ta muốn sở hữu, hay dục vọng.
Những tư tưởng đó làm mất rất nhiều thời gian hành thiền
của ta, và nếu ta để bị lôi cuốn theo chúng, thì điều
đó có thể trở thành một thói quen khó bỏ.
Cái
bẫy của lòng tham này thì không khác lắm với phương cách
bẫy khỉ ở một số nước. Người đặt bẫy sẽ vạt một
khoảng nhỏ ngang đầu trái dừa và đổ nước dừa ra. Sau
đó anh ta cắt một ít thịt dừa và đặt chúng dưới đáy
trái dừa, rồi cột chặt trái dừa vào cây. Con mồi,
ở đây là các chú khỉ, sẽ thò tay vào trong cái lỗ nhỏ
trên đầu trái dừa để lấy mấy miếng dừa. Nhưng bàn tay
nắm đầy dừa sẽ không thể đi lọt qua được cái lỗ nhỏ
này. Khi người đặt bẫy trở lại, anh ta sẽ dễ dàng bắt
được chú khỉ tham ăn, quá bám víu vào mấy miếng dừa trong
tay đến nỗi không thể buông chúng ra để thoát thân.
Chúng ta cảm thấy thương hại cho chú khỉ. Nhưng tất
cả chúng ta đều đã từng bị mắc bẫy của lòng tham như
thế.
Sân
Sân
chướng ngại, bao gồm cả sự hằn thù, giận dữ, và hờn
trách, đều bắt nguồn từ lòng muốn trốn tránh những gì
mà ta không ưa thích. Sân được so sánh với nước sôi. Khi
nước đang sôi, chúng ta không thể nhìn thấy đáy nồi, và
nếu chạm tay vào thì không khỏi bị phỏng. Nói cách
khác, sân sẽ đốt cháy bản thân chúng ta chứ không phải
người khiến ta sân, và ta cũng sẽ khó tìm được nguyên
nhân đích thực (‘thấy được đáy nồi’) của cảm giác
nóng nảy khi sân hận đang sôi sục bên trong ta. Do sân, nhận
định của ta cũng méo mó và tâm an lạc bị hủy diệt.
Nó giống như một loại bệnh khiến cho các món ăn ngon cũng
trở thành vô vị để ta không thể hưởng thụ được. Tương
tự, khi tâm tràn đầy lòng thù hằn, ta không thể cảm nhận
được các đức tính cao đẹp của những người ở quanh
ta.
Hôn
Trầm Thụy Miên
Trong lúc tọa thiền, hành giả thường phải tranh đấu với
tâm tham, sân. Khi các chướng ngại này đã được chế
ngự, hành giả vừa được có đôi giây phút bình an, thì
sau đó lại cảm thấy uể oải, buồn ngủ (thụy miên, hôn
trầm). Chướng ngại này phát sinh từ kiết sử vô minh.
Thụy miên là trạng thái tâm ù lì, đờ đẫn, trong khi hôn
trầm là một trạng thái thân vật lý uể oải, buồn ngủ.
Khi cảm thấy uể oải, buồn ngủ, ta không thể chú tâm hay
làm được công việc gì. Cũng không thể thực hành chánh
niệm hay tham thiền. Chướng ngại hôn trầm thụy miên được
so sánh với tình trạng bị tù tội. Khi bị giam giữ, ta không
thể biết việc gì đang xảy ra ở thế giới bên ngoài. Cũng
thế, khi ta để thân tâm uể oải, muốn ngủ, ta không biết
điều gì đang xảy ra chung quanh hay bên trong ta.
Trạo
Hối
Lo
lắng khiến ta không thể yên ổn (trạo cử), vì thế hai trạng
thái tâm này đi chung với nhau. Cả hai (lo lắng và trạo cử)
đều khiến tâm không có sự suy nghĩ sáng suốt hay sự hiểu
biết, trí tuệ sáng suốt. Chướng ngại này được so
sánh với sự bị nô lệ. Kẻ nô lệ làm việc vất vả để
phục vụ người chủ độc ác của mình, luôn phải lo lắng,
căng thẳng vì sợ bị hành phạt. Càng căng thẳng, bức
rứt, thì họ càng khổ sở. Họ chẳng bao giờ được hưởng
tâm an lạc.
Nghi
Hoặc
Chướng
ngại nghi hoặc khiến hành giả bấn loạn, không biết phương
hướng hay ngã rẽ nào để theo. Tâm nghi phát sinh do suy
nghĩ về những điều khác hơn là những gì mà ta có thể
quan sát xảy ra ngay trong giây phút hiện tại. Nghi được so
sánh với người đi trong sa mạc mà không có bản đồ hay
phương hướng gì. Khi đi qua sa mạc, ta dễ bị lúng túng vì
rất khó phân biệt các cảnh quang. Bất cứ phương hướng
nào cũng có thể là sai hay đúng. Cũng thế, khi khởi tâm nghi
ngờ về chân lý trong những điều Phật dạy, hành giả sẽ
trở nên hoang mang, khó thể quyết định phải làm gì.
Người
đó sẽ suy nghĩ, “Người ta có thực sự được giác ngộ?
Không biết phương cách tu này có thực sự hữu ích? Ta tu
hành có đúng không? Người khác hình như tu tốt hơn. Có thể
ta phải làm cái gì đó khác đi, hay thử tìm một vị thầy
khác, hay khám phá điều gì đó hoàn toàn khác hẳn.” Những
mối nghi này làm tàn lụi nhiệt tâm, khiến ta hoang mang, không
thể phán xét điều gì rõ ràng.
TỨ
CHÁNH CẦN
Giờ
chúng ta có thể xét xem phải đối phó với những thứ cỏ
dại triền cái và kiết sử trong tâm như thế nào, để vun
trồng các trạng thái tâm tích cực hơn. Đức Phật chỉ dạy
cho chúng ta một phương cách để rèn luyện tâm được như
thế. Ta cần áp dụng Chánh Tinh Tấn để:
•
ngăn chặn các trạng thái tâm tiêu cực
•
chế ngự các trạng thái tâm tiêu cực
•
vun trồng các trạng thái tâm tích cực
•
duy trì các trạng thái tâm tích cực
Ngăn
Chặn Các Trạng Thái Tâm Tiêu Cực
Cách
đề phòng đầu tiên là ngăn chặn các trạng thái tâm tiêu
cực hay các bất thiện pháp không để chúng phát sinh. Bằng
cách nào? Bằng cách duy trì tâm chánh niệm không ngừng nghỉ.
Chỉ có vậy.
Chánh
niệm đòi hỏi sự thực hành, và sự thực hành đòi hỏi
nỗ lực. Có năm điểm trong việc rèn luyện tâm chánh niệm:
giới, chánh niệm, trí tuệ, lòng kiên nhẫn, và tinh tấn.
Tinh tấn được áp dụng với từng điểm nêu trên. Ta bắt
đầu với giới luật (đạo đức tốt), và việc này đòi
hỏi phải có sự nỗ lực, như ta đã biết trong các chương
trước về các bước trong Bát Chánh Đạo. Với giới luật
làm nền tảng vững chắc, ta phải nỗ lực để thực hành
bất cứ chánh niệm nào mà ta có thể nhớ. Một khía cạnh
của chánh niệm là “nhớ,” và điều này cần phải được
duy trì luôn luôn. Lần này đến lần khác, ta cần luôn nhớ
hướng tâm đến giờ phút hiện tại. Dần dần ta sẽ
tích lũy được nhiều giây phút chánh niệm. Không có
giây phút chánh niệm nào là giây phút bị lãng phí.
Sau
đó ta sử dụng tri kiến của mình, đem sự hiểu biết ngày
càng sâu sắc vào các nỗ lực của mình. Ta dừng lại và
suy nghĩ, “Vấn đề này lần trước đã xảy ra như thế
nào?” Cảm nhận được hậu quả của những sai lầm
trong quá khứ khiến ta có nhiều động lực hơn để tránh
chúng xảy ra trong tương lai. Quán tưởng đến những trải
nghiệm của mình để không lặp lại các sai lầm đó. Bằng
cách đó, ta nhanh chóng sửa đổi được cách cư xử của
mình. Khi đã có thể nhìn thực tại sâu sắc hơn, ta sẽ luôn
tự nhắc nhở mình về những gì là mục đích trước mắt
và không để một giây phút nào qua đi một cách không chánh
niệm, sáng suốt. Nếu thất bại, ta sử dụng lòng kiên nhẫn:
chấp nhận hậu quả và rồi kiên trì nỗ lực lập lại tâm
chánh niệm.
Phát
triển tâm chánh niệm vững chãi có thể là một quá trình
lâu dài, vì thế Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta các phương
cách để bảo vệ tâm. Đức Phật khuyên chúng ta thực hành
“như lý tác ý” (‘wise attention’) và để tránh “phi lý
tác ý” (‘unwise attention’) (M 2). Ngài dạy rằng ta
cần phải trụ vào những gì ta biết là đúng, qua năm uẩn,
ngay hiện tại. Đó là lãnh địa của riêng ta, ngôi nhà
thực sự của ta. Tư duy có thể dẫn dắt ta xa rời nơi an
toàn đó. Thí dụ, trong lúc đang tọa thiền, nếu nghe một
tiếng động, chỉ cần biết đó là “tiếng động,” thay
vì thắc mắc ai gây ra tiếng động và tiếng động đó có
ý nghĩa gì. Khi đang làm việc, cảm thấy lạnh, chỉ cần
quán sát cảm giác này, không suy nghĩ, có ý kiến về hệ
thống máy điều hòa trong tòa nhà. Hãy xem dòng suy tưởng
của ta giống như những chuyến xe buýt đi qua trạm đỗ, không
dừng lại, đừng leo lên xe đi theo chúng.
Đức
Phật khuyên các đệ tử của Ngài chịu đựng những điều
bất như ý nhỏ mọn trong cuộc sống mà không lập tức cố
gắng sửa đổi chúng. Nếu ta luôn muốn thay đổi mọi
thứ theo ý mình, thì tâm luôn bực bội, khiến cho các bất
thiện pháp có thể dễ dàng phát sinh. Thí dụ bạn nhận
thấy thiền đường quá nóng, nhưng thay vì đứng dậy để
điều chỉnh nhiệt kế hay mở cửa sổ, chỉ ý thức cảm
giác nóng. Quán sát sự thay đổi vật lý bên ngoài và
các phản ứng thay đổi của tâm. Rèn luyện chịu đựng
những việc nhỏ mọn. Tuy nhiên, có một số người tuân
theo lời khuyên này một cách cứng nhắc. Dĩ nhiên, trong
trường hợp khẩn cấp, ta phải lập tức lo giải quyết chúng
một cách có chánh niệm!
Đức
Phật cũng khuyên chúng ta tránh xa những kẻ ngu khờ, không
có chánh niệm, dại dột, vì tất cả chúng ta thường có
thói bắt chước theo người khác. Hãy giao tiếp với những
người có các đức tính mà bạn muốn học tập. Hãy tìm
một thiện hữu tri thức, có tánh thẳng thắn, kỷ luật biết
kiềm chế, có chánh niệm, và cư xử điều độ. Hãy gần
gũi và nghe theo lời khuyên của người này khi cần thiết.
Đức
Phật cũng nhắc nhở thêm cho các đệ tử của Ngài là đừng
để ý đến “dấu hiệu và đặc điểm” của bất cứ
các tác động ngoại tại nào mà có thể khiến các bất thiện
pháp phát sinh. “Dấu hiệu” ám chỉ đến cạm bẫy,
những thứ bắt mắt chúng ta khiến chúng ta muốn quán sát
chúng kỹ càng hơn để khơi dậy bất thiện pháp. “Đặc
điểm” ám chỉ những tính chất cá biệt của đối tượng
chú ý của ta mà chúng có thể khuấy động tâm bất thiện.
Thí dụ, một người đàn ông đã có gia đình có thể được
khuyên đừng để ý hay vấn vương hành động quyến rũ hay
nét đặc biệt hấp dẫn nào đó của người đàn bà mà anh
ta có thể say đắm. Tương tự, người phụ nữ đã có
gia đình cũng được khuyên là không nên để ý xem người
đàn ông đẹp trai trước mắt mình có đeo nhẫn không hay
dừng lại ngắm nụ cười của anh ta. Một câu chuyện từ
thời Đức Phật có thể minh họa rõ hơn điều này.
Có
một vị tu sĩ mà lời nguyền sống độc thân của ông bị
đe dọa bởi những ám ảnh về tình dục. Vị tu sĩ này quán
chiếu thân như là một bộ xương để tự giải thoát mình
khỏi những ý nghĩ xấu xa. Một ngày kia ông đi trên một
con đường qua cánh rừng. Một phụ nữ đẹp cũng đi cùng
đường, ngược hướng về nhà cha mẹ cô sau khi gây gổ với
chồng. Khi thấy vị tu sĩ, bà mỉm cười chào ông.
Sau
đó, người chồng trên đường đi tìm vợ mình, gặp vị
tu sĩ. Anh ta bèn hỏi, “Thưa sư, sư có thấy một người
phụ nữ trẻ đẹp đi ngang đường này không?”
“Tôi
không biết đó là đàn ông hay đàn bà,” vị tu sĩ trả lời,
“nhưng tôi có thấy một bộ xương đi ngang qua.” (Vsm
1[55])
Vị
tu sĩ đã ngăn chặn dục vọng của mình phát sinh bằng cách
áp dụng Chánh Tinh Tấn trong việc hành thiền của mình. Do
đó ông đã bảo vệ được tâm khỏi các uế nhiễm.
Nếu
ta có thể duy trì tâm chánh niệm liên tục, không có gì có
thể kích động ta. Ta sẽ không giận dữ hay bực tức.
Ta có thể kiên nhẫn dầu ai đó nói gì hay làm gì. Ta có thể
vẫn giữ được sự bình tĩnh và hạnh phúc. Một trạng thái
tâm bất thiện, uế nhiễm không thể phát sinh cùng lúc với
giây phút của chánh niệm.
Có
thể bạn cũng thấy rằng việc kiềm chế các trạng thái
tâm tiêu cực khá dễ dàng khi bạn không gặp phải người
khó chịu hay hoàn cảnh khó xử. Khi mọi thứ đều xuôi buồm
thuận gió, thì rất dễ giữ tâm chánh niệm không bị lung
lay. Bạn còn có thể tự khen mình đã giữ được bình tĩnh
và đón nhận lời khen về sự tự kiềm chế, kiên nhẫn của
bạn, từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Nhưng khi sự việc
xảy ra không như ý muốn, thì lòng kiên nhẫn và chánh niệm
của ta có thể bắt đầu đổ vở. Một câu chuyện được
Đức Phật kể lại để minh chứng điều này có thể xảy
ra một cách dễ dàng như thế nào.
Xưa
có một phụ nữ rất giàu, có một người đầy tớ rất
giỏi giang và biết vâng lời. Người đầy tớ luôn dậy sớm
và bắt đầu công việc trước khi bất cứ ai trong nhà thức
dậy. Cô ta làm việc cả ngày cho đến tận khuya. Mỗi đêm
cô chỉ ngủ một vài tiếng.
Cô
thường nghe hàng xóm ca tụng về người chủ của mình. Họ
nói, “Vị mệnh phụ kia rất tử tế với người giúp việc.
Bà rất kiên nhẫn. Chúng tôi chưa bao giờ thấy bà giận dữ.
Chúng tôi không biết làm thế nào mà bà có thể trở nên
là một người tuyệt vời như thế.”
Người
đầy tớ nghĩ ngợi, “Những người này ca tụng chủ ta hết
lời. Họ không biết ta đã làm việc cực nhọc thế nào để
gìn giữ ngôi nhà này. Ta phải tự kiểm chứng xem chủ ta
tử tế và kiên nhẫn đến đâu.”
Hôm
sau, người đầy tớ thức giấc trễ hơn mọi khi. Khi người
chủ thức dậy thấy người giúp việc cho mình vẫn còn ngủ.
Bà la rầy cô, “Đồ hư! Mày ngủ cho tới khi mặt trời lên
sao? Thức dậy đi làm việc ngay!” Người đầy tớ thức
dậy. Cô không có ngủ. Cô chỉ giả bộ ngủ. Cô ngồi dậy,
xin lỗi bà chủ và bắt đầu làm việc.
Hôm
sau nữa, người đầy tớ cố tình thức dậy trễ hơn ngày
hôm trước. Bà chủ giận dữ. Bà rầy la người đầy tớ,
dùng những lời thô tục, và đe dọa rằng nếu người đầy
tớ dậy trễ lần nữa bà sẽ đánh cô.
Ngày
thứ ba, người đầy tớ vẫn còn ngủ dậy trễ. Bà chủ
quá giận đến nỗi bà lấy cây chổi và đánh người đầy
tớ cho đến khi đầu cô ta chảy máu ra. Người đầy tớ
chạy ra khỏi nhà với cái đầu đầy máu và la khóc lớn
lên, “Ôi, bà con hãy nhìn đi! Bà chủ đánh tôi vì hôm
nay tôi ngủ dậy hơi trễ. Đêm hôm qua tôi phải làm việc
tới tận nửa đêm, nên tôi bị nhức đầu. Vì thế, bữa
nay tôi dậy hơi trễ.”
Những
người hàng xóm đã khen tặng bà chủ có lòng kiên nhẫn và
thương người, nhanh chóng thay đổi ý kiến. (M 21)
Có
thể bạn cũng đã trải qua một sự thay đổi nhanh chóng như
thế sau một kỳ nghỉ dường dài hay khi bạn vừa trở về
từ một khóa an cư. Trong thời gian đó, sân hận, bực dọc,
ganh tỵ hay sợ hãi dường như đang ngủ yên, nên bạn cảm
thấy rất bình an và hạnh phúc. Nhưng ngay khi về đến nhà,
bạn nhận được một tin nhắn trên điện thoại với lời
lẽ cộc lốc, hay một hóa đơn phạt tiền vì bạn quên trả
bảo hiểm, hay ai đó dẫm lên chân bạn; thì ngay lập tức
tâm sân hận lại trổi lên, tâm bình an biến mất. Lúc đó
bạn tự hỏi, “Làm sao để tôi có thể duy trì cảm giác
như đang nghỉ hè hay cảm giác như đang tu thiền trong đời
sống hằng ngày?”
Câu
trả lời là phải luôn chánh niệm. Ta cần nhớ rằng không
phải là tha nhân hay hoàn cảnh bên ngoài đem lại phiền não
cho ta, mà chính là những duyên nghiệp trong quá khứ.
Ngoài việc cố gắng để luôn duy trì chánh niệm, việc rèn
luyện để nhận ra các khuyết điểm của thói quen tâm lý
cũng có thể giúp ta ngăn chặn những phản ứng tiêu cực
phát sinh.
Thí
dụ, bạn đi mua một đôi bao tay trong một cửa hàng sang trọng,
và người bán hàng rất cộc cằn. Dựa trên kinh nghiệm trong
quá khứ, bạn biết rằng mình sẽ nỗi giận khi người bán
hàng thiếu lịch sự. Vì thế bạn cố gắng giữ chánh
niệm thật kỹ, xua đuổi bất cứ ý nghĩ sân hận nào nỗi
lên. Bạn tự lý giải với mình bằng cách suy nghĩ: “Thì
người bán hàng này cũng là con người. Có lẽ đêm qua anh
ta không ngủ được. Hay anh ta có những lo lắng về tiền
bạc hay vấn đề gì đó trong gia đình. Có thể anh ta cảm
thấy bất an đối với những người khác màu da hay quốc
tịch. Hay hôm nay anh không được khỏe. Đó có thể là lý
do khiến anh ta thiếu kiên nhẫn đối với khách hàng.”
Phương
cách này nghe có vẻ dễ, nhưng không dễ thực hành. Tâm chúng
ta chưa được rèn luyện để ngăn chặn các thói quen suy nghĩ
tiêu cực. Nổi giận thì rất dễ, phê bình người khác cũng
rất dễ, lo lắng về tương lai cũng dễ, ham muốn vật chất
cũng rất dễ. Những thói quen này của tâm cũng giống như
là các loại thức ăn vặt. Một khi ta đã bắt đầu mở một
gói khoai tây sấy để ăn, thì ta rất khó dừng lại nửa
chừng. Kiềm chế không cho các tư tưởng tiêu cực khởi lên
cũng rất khó. Một khi ta đã dính vào đó, thì rất khó buông
bỏ. Như Đức Phật đã dạy:
Người tốt dễ làm tốt,
Người xấu khó làm tốt,
Người xấu dễ làm xấu,
Người tốt khó làm việc xấu.
(Ud V.8)
Rất dễ làm những việc tự hại (cho) mình.
Rất khó làm những việc lợi cho mình.
(Dh 163)
Tuy
nhiên, ta cần ý thức rõ ràng rằng phòng bệnh luôn tốt hơn
chữa bệnh. Chánh niệm đi đôi với chánh tinh tấn có thể
ngăn chặn những suy nghĩ và hành động tiêu cực phát khởi
trong tương lai. Việc phòng hộ các thói quen xấu nơi thân,
khẩu và ý không phải là khó, nếu ta có thể tự rèn bản
thân luôn chánh niệm. Tuy nhiên, nếu bạn đã cố gắng hết
sức mà vẫn không ngăn chặn được các tư tưởng và hành
động bất thiện thì cũng không nên thất vọng hay nản lòng.
Không có nghĩa rằng bạn là người xấu, chỉ có nghĩa là
bạn cần phải tu tập thêm. Hãy vui mừng trong ý thức rằng
ta luôn có người phụ tá bên mình: sự nỗ lực để chế
ngự các trạng thái tâm tiêu cực.
Chế
Ngự Các Trạng Thái TâmTiêu Cực
Trước
khi đạt được giác ngộ viên mãn, chúng ta không thể chọn
lựa tư tưởng nào sẽ phát khởi, vì thế không cần phải
xấu hổ hay phản ứng chống lại những gì đã xảy ra. Tuy
nhiên, chúng ta có thể chọn lựa để tư tưởng nào được
phép phát triển. Các tư tưởng tích cực và thiện hỗ
trợ tâm. Chúng cần được vun trồng. Các tư tưởng tiêu
cực và bất thiện, như là năm chướng ngại (triền cái)
và mười kiết sử, chỉ làm hại tâm. Chúng cần phải được
tấn công và chế ngự ngay bằng Chánh Tinh Tấn. Đó là lời
khuyên của Đức Phật.
Chế
Ngự Các Chướng Ngại
Chúng
ta phản ứng như thế nào đối với một chướng ngại tùy
thuộc vào mức độ chấp thủ của ta. Khi vừa phát khởi,
chướng ngại còn yếu ớt. Chúng bắt đầu bằng một
sát na tâm tiêu cực lẻ loi, rồi dần tăng trưởng. Ta càng
ý thức được dòng chảy này càng sớm, thì càng dễ ngăn
chặn nó. Bất cứ khi nào chướng ngại có mặt, ta không thể
có tiến bộ trong chánh niệm hay thiền định.
Bước
đầu rất đơn giản. Khi một chướng ngại phát sinh, ta chỉ
cần ý thức được sự có mặt của nó. Thí dụ ta ý thức
rằng tâm tham, sân, hay nghi đang khởi lên; hoặc tâm ta đang
bị rơi vào trạng thái bất an, trạo cữ, hay trầm cảm, chán
chường. Ở giai đoạn khởi đầu, các chướng ngại này rất
yếu, vì thế phương pháp để chế ngự chúng cũng nhẹ nhàng
thôi. Ta chỉ cần nhận biết sự có mặt của chúng.
Chỉ ý thức không thôi, triền cái vừa phát khởi, sẽ tàn
lụi, khiến ta ý thức được sự vắng mặt của nó và sự
vắng mặt này cho phép các thiện pháp như từ bi, lòng thương
yêu, và tri kiến có thể phát khởi như thế nào.
Nếu
một chướng ngại đã phát triển vượt khỏi giai đoạn khởi
đầu, ta cần sử dụng những biện pháp mạnh hơn. Trước
tiên, hãy quán sát chướng ngại đó với tâm hoàn toàn chánh
niệm. Dồn tất cả chú tâm vào đó. Nhận biết ảnh hưởng
của triền cái đó trên thân và tâm, biết rằng nó cản trở
sự phát triển tâm linh của ta như thế nào. Nhận biết tính
chất vô thường của nó. Sự vô thường của hoàn cảnh,
hình tướng, mùi vị, cảm giác và nhiều những điều kiện
khác nữa đã khiến cho chướng ngại này phát sinh. Quán chiếu
về những tai hại mà ta có thể mang đến cho bản thân nếu
ta dung dưỡng bất thiện pháp này, và nguy hiểm hơn nữa nếu
ta hành động, phản ứng theo sự điều khiển của triền
cái đó.
Bây
giờ, hãy lý giải với bản thân. Hãy tự nhắc nhở rằng
tất cả mọi thứ đều vô thường và hoàn cảnh làm phát
sinh chướng ngại này hay trạng thái tâm phát sinh chắc chắn
sẽ không kéo dài. Thí dụ, nếu ai đó đã nói điều gì khiến
ta nổi giận, hãy nghĩ đến những vấn đề mà ta phải đối
mặt trong cuộc sống –lo lắng về tiền bạc, sức khỏe,
ưu tư về công việc hay gia đình. Có thể người đó cũng
đang phải đối phó với những vấn đề giống như ta. Ta
thực sự không thể biết điều gì đang diễn biến trong tâm
người khác. Đúng hơn, ta còn chưa biết điều gì đang xảy
ra trong tâm mình vào bất cứ lúc nào. Trạng thái tâm của
ta tùy thuộc vào rất nhiều điều kiện. Thật ra, bất cứ
điều gì xảy ra cũng tùy thuộc vào nhiều nhân duyên.
Quán chiếu theo cách đó có thể khiến cho trạng thái tâm
tiêu cực của ta qua đi.
Thí
dụ, một buổi sáng kia bạn thức dậy với tâm trạng không
vui. Bạn không biết lý do tại sao bạn cảm thấy buồn
bực, trầm cảm, căng thẳng, hay quạu quọ. Nhưng nếu suy
nghĩ kỹ lại, bạn có thể nhớ rằng buổi tối hôm trước
bạn đã ăn nhiều chất cay hay xem truyền hình hàng giờ trước
khi đi ngủ. Nhưng chúng không phải là lý do khiến bạn bực
bội như thế sáng nay. Chính chúng là kết quả của những
nguyên do khác. Có thể ngày hôm trước đó bạn đã cãi vã
với chồng, không vừa lòng với con cái, hay lo lắng điều
gì đó, khiến bạn xem truyền hình lâu hơn hay ăn nhiều hơn.
Rồi bạn lại nhớ bạn cãi vã với chồng là do bạn bực
mình với người bạn đồng nghiệp ở sở làm, mà chuyện
bực mình này, tự nó lại là kết quả của những nguyên
nhân và điều kiện khác. Tóm lại, tất cả mọi thứ mà
chúng ta trải nghiệm đều có nguyên nhân, hoàn cảnh đằng
sau đó –nhiều hơn những điều mà ta có thể suy đoán hay
biết đến. Tất cả các nhân duyên liên hệ chồng chéo lên
nhau. Không có một lý do duy nhất nào có thể khiến bất
cứ điều gì xảy ra. Do đó không cần phải làm cho tâm thêm
não phiền bằng cách tự trách mình –hay đổ lỗi cho người
khác!
Hơn
nữa, chúng ta nên nhớ rằng, may mắn thay, tất cả mọi hoàn
cảnh, mọi tâm trạng đều thay đổi. Không có gì mãi mãi
trường tồn. Khi đang ở trong một hoàn cảnh tuyệt vọng
hay hạnh phúc quá sức, ta có thể nghĩ rằng sẽ không có
gì thay đổi. Tuy nhiên, nếu suy nghĩ thấu đáo, ta có thể
thấy rằng niềm tin này là sai lệch. Con người thay đổi.
Hoàn cảnh thay đổi. Bản thân ta thay đổi. Không có gì là
không thay đổi. Do đó, với thời gian, trạng thái trầm cảm
hay tâm sân hận gì cũng không còn. Cảm nhận về một người
hay một hoàn cảnh bất như ý cũng thay đổi. Thái độ của
ta, của người cũng thay đổi. Khi đã nhận thức được
như thế, ta sẽ cảm thấy thư giãn hơn, và các tư tưởng
tiêu cực của ta bắt đầu qua đi.
Loại
tư tưởng tiêu cực khó chế ngự nhất là loại mà ta không
ý thức được cho đến khi gốc rễ của nó đã ăn sâu trong
tâm. Các vọng tưởng này che mờ tâm trí và ngăn cản nó
phát triển. Bạn có thể nhận biết sự có mặt của chúng
khi bạn ngồi thiền, rèn luyện tâm chánh niệm hay thiền định.
Khi vọng tưởng luôn khởi lên trong tâm, ta không thể chú
tâm vào hơi thở. Trong những trường hợp như thế, ta cần
phải nỗ lực mạnh mẽ hơn.
Đây
có thể là cơ hội để ta phát triển tri giác bằng cách quán
sát các vọng tưởng đó. Nếu thế, tạm thời ta sẽ để
qua một bên dự định chú tâm hành thiền hay quán sát sự
phát khởi, tăng trưởng và hoại diệt của các trạng thái,
cảm giác nơi thân và tâm, mà để tâm quán sát thật thấu
đáo những gì đang xảy ra. Phương pháp cần sử dụng cho
sự quán sát này được nêu ra ở bước thứ hai trong phần
về chánh niệm của Chánh Tư Duy. Tuy nhiên, nếu ta thích
tiếp tục với sự thực hành như đã định, có vài phương
cách ta có thể sử dụng. Chúng được liệt kê dưới đây
theo thứ tự của cường độ nỗ lực. Nếu một phương cách
thất bại, hãy thử cái kế tiếp.
- Đừng
chấp theo vọng tưởng.
-
Hãy hướng tâm đến điều gì khác.
-
Hãy thay thế chướng ngại đó bằng đối lực của nó.
-
Hãy quán chiếu về sự thật rằng tất cả mọi chướng ngại
phát sinh từ rất nhiều nguyên nhân, điều kiện và chúng
luôn thay đổi.
-
Cắn răng lại và ép sát lưỡi vào vòm trên, dùng tất cả
sức lực để chế ngự chướng ngại đó.
Thí
dụ, bạn cứ tức giận không nguôi sau khi tranh cãi với một
người bạn. Bạn quán chiếu về sân triền cái không kết
quả. Tự lý giải cũng thất bại. Bạn cũng đã cố
gắng không chấp theo chướng ngại đó. (Như Đức Phật
đã dạy: “Tất cả mọi thứ chỉ phát khởi trong tâm khi
bạn chú tâm đến nó.” (A IV (Tám) IX.3) Khi bạn không để
ý đến bất cứ tư tưởng nào, thì nó sẽ qua đi.) Tuy nhiên,
nếu phương cách này cũng không thể giúp bạn chế ngự tâm
sân của mình. Lúc hành thiền, cuộc tranh cãi lại lởn vởn
trong đầu, khiến bạn thêm tức giận và tâm bạn không thể
nào an.
Ta
có thể làm gì trong trường hợp đó? Ta có thể
cố gắng hướng tâm đến một điều gì hoàn toàn khác. Thí
dụ về những công việc hữu ích mà ta sắp thực hiện ngày
mai. Nếu thất bại, hãy hướng tâm đến tình cảm đối nghịch
với sân hận là tình thương yêu. Hãy nghĩ đến những tình
cảm thân thiết mà ta và bạn đã chia sẻ. Hãy để những
kỷ niệm tốt đẹp này tràn đầy tâm ta. Sau đó cố gắng
hướng những tư tưởng thương yêu đến người bạn đó.
Nếu điều này có vẻ quá khó, hãy hướng tình cảm thương
yêu đến con của ta hay một vị thầy nào mà ta kính ngưỡng.
Khi trái tim tràn đầy những tình cảm thương yêu, thì không
còn có chỗ cho sân hận.
Tuy
nhiên, nếu sân hận vẫn chưa qua đi, thì hãy quán sát nó
thật thấu đáo. Nhận biết những chuyển biến của
nó: phát khởi, tăng trưởng hoại diệt, có mặt, rồi biến
mất như thế nào. Hãy nghĩ đến những tổn hại ta tự gây
cho tâm và sự tiến bộ tâm linh, khi ta tiếp tục dung dưỡng
trạng thái tâm tiêu cực này.
Nếu
tất cả đều thất bại, ta phải dồn hết sức lực của
mình để hủy diệt chướng ngại đó –nói theo lời Đức
Phật, “như là một kẻ mạnh có thể đàn áp người yếu
hơn.” Tóm lại, ta không bao giờ để các chướng ngại (triền
cái) có thể thắng. Bạn có thể nghĩ rằng phương pháp cắn
răng lại, gồng mình lên, để diệt sát một trạng thái tâm
tiêu cực có vẻ quá thô bạo, quá khác với những lời dạy
mà bạn đã được nghe qua. Bạn cũng có thể nghĩ rằng
phương cách này có vẻ không thích hợp với bản chất hiền
hòa của Phật giáo.
Nhưng
sự nỗ lực mạnh mẽ này hoàn toàn phù hợp với giáo lý
của Đức Phật. Ngài luôn dạy chúng ta phải tinh tấn.
Chánh Tinh Tấn chính là nguồn năng lượng dung nạp để giúp
ta hoàn tất các bước trên con đường đến hạnh phúc.
Với Chánh Tinh Tấn chúng ta cẩn trọng, tránh các ý nghĩ,
lời nói, và hành động bất thiện. Với Chánh Tinh Tấn
chúng ta chế ngự lo âu, căng thẳng, sợ hãi, và oán hận.
Với Chánh Tinh Tấn chúng ta thực hành chánh niệm để vun
trồng những đặc tính tuyệt vời bên trong ta mà ta có thể
chưa từng biết đến.
Hãy
đánh thức các đặc tính tuyệt vời đó và làm chúng hiển
lộ trong tâm. Với Chánh Tinh Tấn, duy trì và không xao
lãng chúng, luôn thực hành chúng. Như Đức Phật đã tuyên
thuyết: “Dầu cho máu ta có khô đi! Dầu cho da thịt ta có
tan rã! Dầu cho thân ta có trở thành một bộ xương khô!
Ta cũng không đứng lên khỏi chỗ ngồi thiền nếu không đạt
được giác ngộ.” (M 70) Kể từ lúc chứng đắc cho đến
khi nhập diệt, Đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta cũng phải
tinh tấn như thế trong nỗ lực tâm linh.
Trái
với những lời dạy này, đôi khi người ta nói sự phát triển
tâm linh chỉ cần “sự tinh tấn không gắng sức” (effortless
effort). Tôi rất tiếc phải làm các bạn thất vọng,
nhưng không có sự tinh tấn nào mà không cần nỗ lực. Sự
tinh tấn cần phải cân bằng, điều độ. Quá nhiều nỗ lực
hay nỗ lực không đúng chỗ có thể khiến tâm căng thẳng
hơn và dẫn đến sự thôi chuyển vào các bất thiện pháp.
Tuy nhiên nếu lơ là tinh tấn, ta sẽ trở nên chán nản, mệt
mỏi hay mất hứng thú. Lúc đó ta phải có những nỗ lực
mạnh mẽ để cân bằng tinh tấn trở lại với các thiện
pháp khác.
Sự
thật là ta không bao giờ có thể đạt được bất cứ điều
gì đáng kể mà không cần có sự nỗ lực. Tất cả mọi
phát minh vĩ đại đều cần đến sự nỗ lực. Bóng đèn
điện, xe hơi, và máy vi tính không thể có nếu người ta
chỉ lo nghỉ ngơi, thư giãn. Các nhà phát minh đã phải nỗ
lực mạnh mẽ trong công trình nghiên cứu, tìm tòi của họ.
Nếu bạn muốn thọ lãnh một đại nguyện như là tu thiền,
thì bạn phải có ý muốn nỗ lực mạnh mẽ để đạt được
mục đích của mình, cũng như một sự tự kỷ luật cao, nếu
cần. Có câu chuyện kể về Đức Phật có thể làm rõ hơn
điểm này.
Một
người nài ngựa thưa hỏi Đức Phật, “Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn huấn luyện các đệ tử của Ngài như thế nào?”
Đức
Phật hỏi lại anh ta, “Thế người huấn luyện ngựa như
thế nào?”
Người
nài ngựa trả lời, “Con áp dụng những phương cách nhẹ
nhàng. Nếu không kết quả, con sử dụng bie pháp cứng
rắn. Nếu cũng không kết quả, con sẽ giết lấy thịt mấy
con ngựa đó.”
Đức
Phật đáp, “Ta cũng làm như thế. Ta dùng một phương pháp
nhẹ nhàng. Nếu không kết quả, ta cũng sẽ dùng biện
pháp cứng rắn. Nếu ta không thể rèn luyện họ bằng các
phương pháp cứng rắn, ta giết họ.”
Lúc
đó người nài ngựa nói, “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thường
dạy những sự bất bạo động! Sao Ngài có thể giết
hại?”
Lúc
đó Đức Phật giải thích phương cách “giết” của Ngài.
Ngài “giết” một người có lỗi bằng cách tảng lờ hay
hoàn toàn không để ý đến người đó, sau cùng thì người
đó sẽ bị loại khỏi cộng đồng tăng già. (A II (Bốn) XII.1)
Các
kinh kể về một sự kiện rất nổi tiếng trong đó Đức
Phật đã sử dụng phương pháp này:
Đức
Phật có một người hầu tên là Channa. Ông là người
đánh xe trong cung và từng chơi đùa với Đức Phật khi họ
còn là những đứa trẻ. Ông chính là người đánh xe
đưa thái tử Siddhattha rời khỏi kinh thành để sống cuộc
đời của một vị sa môn. Khi luống tuổi, ông cũng trở
thành một sa môn. Vì vai trò của ông trong cuộc đời
Đức Phật, Channa coi tất cả những sự thành tựu của Đức
Phật như là do công sức của ông và trở nên rất cao ngạo.
Sau khi xuất gia, ông thường tỏ thái độ bất kính đối
với tăng đoàn. Thí dụ, khi các vị trưởng lão tăng thăm
viếng, ông không tuân thủ các nghi lễ như là đứng dậy
chào hỏi, mời họ ngồi hay đem nước rửa mặt, rửa chân
cho họ.
Đức
Phật quở rằng thái độ của Channa rất ngạo mạn.
Ngài đã khuyên, “Ông phải kính trọng các vị tỳ kheo này.”
Nhưng Channa chẳng bao giờ tuân lời Đức Phật.
Cuối
cùng, khi Đức Phật sắp nhập diệt, đại đức Ananda hỏi
Đức Phật ông phải đối xử thế nào với Channa. Đức
Phật bảo tăng đoàn hãy đừng để ý đến Channa nữa, và
đạo đức Ananda được giao nhiệm vụ tuyên bố điều này
với tăng đoàn.
Khi
Đức Phật nhập diệt, Channa quá đỗi sốc và đau đớn đến
nỗi ông bắt đầu suy nghĩ, “Tất cả tiếng tăm, quyền
lực, và can đảm của ta đều dựa vào Đức Phật. Giờ Ngài
đã ra đi, ta không còn ai che chở nữa. Giờ cả thế
giới đều trống vắng. Ta đã xúc phạm bao vị sa môn, và
họ không còn là bạn ta nữa.”
Khi
đại đức Ananda thông báo việc Channa bị tẩy chay, Channa
lại bị sốc lần thứ hai và ông ngất xỉu. Khi tĩnh lại,
ông trở nên rất khiêm tốn. Đức Phật biết rằng Channa
sẽ phản ứng như thế. Channa đã hành thiền miên mật
và rất vâng lời tăng đoàn. Dần dần, ông được giác
ngộ. Đôi khi phương pháp cứng rắn cũng cần thiết. Đôi
khi sự cứng rắn đem lại kết quả. (D 16; V ii 292)
Ta
cũng có thể dùng phương pháp này để đối trị với các
triền cái (chướng ngại). Bắt đầu bằng một phương pháp
nhẹ nhàng, nhưng cũng phải biết sử dụng phương pháp cứng
rắn hơn, nếu cần.
Thí
dụ, khi ta bị cám dỗ muốn mua một cái áo ấm đẹp, mặc
dầu trong tủ còn đầy áo ấm, hãy chế ngự tâm theo các
phương cách mà chúng ta đã học được. Không theo đuổi
ý muốn đó; hướng tâm đến điều gì khác; thay thế tâm
tham bằng tâm xả; quán chiếu với chánh niệm về tính vô
thường của cái áo, cũng như của tất cả các vật chất
khác. Nếu tâm vẫn kiên trì kêu gào đòi chiếc áo đó, ta
cần phải cứng rắn với bản thân hơn. Hãy nhắc nhở tâm
phải dừng lại ngay, nếu không, mùa đông này, hay cả năm
này, sẽ không được có chiếc áo mới nào. Giải pháp cuối
cùng là đe dọa trong năm năm tới sẽ chỉ mua áo sida để
mặc. Sau đó phải thực sự thực hiện lời đe dọa
đó. Tâm dần dần sẽ được rèn luyện để biết buông bỏ.
Trong
trường hợp đặc biệt cần phải áp dụng biện pháp thực
sự cứng rắn. Thỉnh thỏang khi ta ngồi thiền, tâm hoàn
toàn điên đảo. Có thể do một việc gì đó đã xảy ra trước
thời khóa thiền, như là trong ngày đó ta quá phấn khích hay
có việc gì khiến ta quá lo lắng. Tâm bị kích động dữ
dội với những hình ảnh và xúc cảm dồn dập phát khởi,
đến nỗi ta khó lòng ứng phó với tư tưởng tiêu cực này
thì tư tưởng khác đã tiếp nối. Có thể lúc đó bạn đang
trải nghiệm một hiện tượng mà tôi nghe các thiền sinh gọi
là “cuộc tấn công của đa triền cái”. Đó là khi
một số chướng ngại cùng phát khởi, cái này tiếp nối
cái kia, để chế ngự tâm. Nếu ta chấp nhận để tâm chạy
rong như thế đó, thì nó sẽ trở nên một thói quen khó bỏ.
Tốt hơn hết là dồn tất cả nội lực để kiềm chế tâm.
Trong
trường hợp này nếu tất cả các phương pháp thông thường
đều thất bại, thì có một phương pháp khác: đếm hơi thở.
Đây là một cách để giữ tâm trụ trên một đối tượng.
Trước hết đếm hơi thở từ một đến mười rồi từ đếm
ngược lại mười đến một. Kế tiếp, đếm từ một
đến chín, rồi từ chín đến một. Tiếp tục đếm đến
số tám, số bảy, và cứ thế, cho đến khi ta đạt đến
từ một tới hai và từ hai tới một. Cái khó là nếu
tâm thất niệm đếm sai dầu chỉ một lần trong lúc đang
đếm, ta cũng phải bắt đầu trở lại. Cứ tiếp tục cách
đếm này cho tới khi ta có thể hoàn tất trọn vẹn quy trình
đếm mà không một phút lơ là; sau đó ta có thể trở về
phương cách hành thiền bình thường. Đây là một thử thách
cho tâm. Phải bắt đầu trở lại với mỗi sự lo ra
khiến tâm trở nên mỏi mệt với việc phóng tâm, trở nên
biết kiềm chế.
Dầu
phương pháp này khá khắt khe, đối với một số người,
tâm họ quá điên đảo đến độ không thể nào tập trung
để đếm. Trong trường hợp đó, hãy lấy ngay sự điên đảo,
lăng xăng làm đối tượng thiền quán. Quán sát các trạng
thái tâm lăng xăng đó.
CHẾ
NGỰ CÁC KIẾT SỬ
Sử
dụng các phương pháp trên, chúng ta có thể tự rèn luyện
để nhận diện các kiết sử khi chúng phát sinh và có biện
pháp để chế ngự chúng. Với sự chú tâm đầy chánh niệm
và các biện pháp tích cực, các kiết sử đang quấy nhiễu
tâm bạn –tham, sân, nghi, trạo hối- sẽ dần dần yếu đi
và phai mờ khỏi tâm trí. Một kiết sử nào đó khi đã
qua đi, có thể không phát sinh trở lại trong một thời gian.
Tâm đã được giải thoát khỏi kiết sử đó. Nhưng
rồi, tùy thuộc vào tính chất và điều kiện sống của bạn,
một kiết sử khác lại có thể xuất hiện.
Khi
ta quán sát chu trình của các kiết sử: phát sinh, hoại diệt,
rồi xuất hiện trở lại dưới trạng thái khác, ta bắt đầu
nhận ra các kiết sử này mạnh mẽ đến thế nào, chúng trói
buộc ta vào khốn khổ, đau thương chặt chẽ đến thế nào.
Không kể rằng bạn đã thường xuyên chế ngự các kiết
sử này một cách tạm thời bao nhiêu lần, chúng vẫn tiếp
tục hiện hữu trong bạn, để luôn trói buộc, bẫy rập bạn.
Như thể bạn đang mang một nhà tù bên trong bạn. Khi chánh
niệm đã được phát triển, ta sẽ nhận thấy rằng các trạng
thái tâm tiêu cực này –như là tham, sân, si– không chỉ
bóp méo cái nhìn của ta mà chúng còn khiến cho mọi khía cạnh
của cuộc sống trở nên khổ sở hơn, đau đớn hơn. Tâm
luôn quay về với những tiêu cực đã được huân tập.
Ta cảm thấy như mình bị bẫy rập –trói buộc– vào vòng
sinh tử luân hồi chẳng dừng dứt.
Sự
thật là chánh niệm chỉ có thể giúp ta chế ngự các kiết
sử này một cách tạm thời. Chỉ khi ta đạt đến mức độ
cao hơn trên đạo lộ, ta mới có thể hủy diệt được chúng,
qua bốn giai đoạn. Bằng cách nào? Bạn buông bỏ chúng
qua năm ứng dụng của tinh tấn, được biết đến như là
đè nén, thay thế, hủy diệt, tàn lụi, và giải thoát.
“Đè
nén” nghĩa là đẩy lùi tất cả các trạng thái tâm bất
thiện lại phía sau, giữ chúng nằm yên bằng chánh niệm hay
định. Bất cứ khi nào ta có thể giữ chánh niệm, hay đi
sâu vào thiền định, thì các kiết sử ngủ yên. Khi ta đã
tạo được thói quen đẩy lùi các kiết sử này xuống, thì
chúng sẽ yếu đi. Chúng không còn tạo ra nhiều vấn
đề, và bớt ảnh hưởng đến quá trình tư duy của ta. Các
chướng ngại cũng sẽ trầm lắng xuống chút ít, do đó tạo
ra nhiều cơ hội cho tri kiến có thể nảy sinh, mà khi đã
có tri kiến thì ta có cơ hội để hủy diệt một số kiết
sử.
“Thay
thế” là nỗ lực chống lại một bất thiện pháp nào đó
bằng cách vun trồng điều ngược lại. Ta thay thế lòng sân
hận bằng cách vun trồng lòng thương yêu. Niềm tin rằng vạn
vật bất biến được thay thế bằng cách quán chiếu về
vô thường. Bạn đối nghịch lại với niềm tin bản năng
vào một cái ngã bằng cách quán sát những yếu tố luôn biến
chuyển, tạo thành thân và tâm của bạn.
Khi
sự đè nén và thay thế đã phát triển tốt đẹp, thì ta
có thể chế ngự một số kiết sử đã bị suy yếu. “Hủy
diệt” là giây phút khi bất cứ kiết sử nào cũng phải
chào thua, giống như một thân cây đã bị sét đánh tét cành.
“Tàn lụi” ý chỉ sự biến mất của các kiết sử ngay
sau khi chúng bị hủy diệt. “Giải thoát” ý chỉ đến sự
nhẹ nhõm của tâm tiếp theo sau sự hủy diệt của bất kỳ
nhóm kiết sử nào. Sự giải thoát ấn tượng nhất xảy ra
ở giai đoạn đầu trong bốn giai đoạn giác ngộ khi ta chuyển
hóa từ cuộc sống bình thường và trở nên phần nào giác
ngộ.
Giả
sử bạn đã nhắm đến ba kiết sử đầu tiên –thân kiến,
nghi và giới cấm thủ- và đã quán tưởng sâu sắc về các
pháp đối nghịch. Khi ngồi thiền, bạn theo dõi hơi thở
với sự chú tâm mạnh mẽ thì tuệ giác có thể phát sinh.
Sự quán sát của bạn về tính chất vô thường, khổ, và
vô ngã của hơi thở cho phép bạn, trong một giây phút đại
ngộ, thấm thía thêm sự thật rằng tất cả vạn pháp đều
mang ba tính chất này. Nhìn thấy được tính vô thường
một cách rõ ràng nơi vạn vật, bạn sẽ với trực giác nhận
biết rằng không thể có một thứ thường hằng, bất biến
gọi là “ngã” hay “linh hồn”. Do đó bạn phá vỡ
được kiết sử thứ nhất. Bạn cũng nhận thức rằng
phải có bậc Giác Ngộ nào đó đã chứng giác được tất
cả những điều này khi tu tập trên con đường đạo, do đó
đạo lộ này nhất định sẽ giúp bạn bứng rễ được tất
cả các tâm cấu uế. Như thế là bạn đã trừ được
kiết sử thứ hai, tâm nghi. Giờ thì bạn biết rằng
không có gì có thể giải thoát tâm bạn trừ việc vun trồng
tuệ giác qua con đường của giới, định và tuệ. Biết thế
thì bạn không còn tin rằng chỉ có các nghi lễ cúng bái (giới
cấm thủ) mới có quyền lực cứu bạn, có nghĩa là bạn
đã rũ bỏ được kiết sử thứ ba.
Một
khi đã chế ngự được ba kiết sử này, là bạn đã đạt
đến giai đoạn đầu tiên của giác ngộ. Giờ không có chuyện
bạn sẽ thôi chuyển trở lại trạng thái cũ. Bạn không
còn nghi ngờ khả năng đạt được giác ngộ của mình nữa
hoặc lo lắng không biết làm sao để đạt được giải thoát.
Đảm bảo là bạn sẽ đạt được mục đích của mình.
Bạn sẽ trở thành một “dự lưu,” vì sức hút của dòng
chảy tâm linh sẽ đưa bạn đến giác ngộ, giống như một
nhánh cây được cuốn chảy theo dòng nước.
Từ
lúc này trở đi, tâm trở nên phấn khởi lạ, ta có cảm giác
rằng, dầu bề ngoài cuộc sống có khó khăn thế nào, bên
trong nó tất cả mọi thứ đều bình an. Ta biết, một cách
chắc chắn rằng, tất cả vạn pháp đều vô thường, và
điều đó mang lại niềm an ủi trong lòng ta. Ta không
còn có thể phạm vào bất cứ hành động bất thiện nghiêm
trọng nào, vì ta hiểu rõ luật nhân quả. Với thái độ đạo
đức như thế, ta không có gì phải ăn năn hối hận; do đó
ta được giải thoát khỏi gánh nặng đó. Thí dụ nếu ta
phạm một lỗi nhỏ, như là nói dối, ta sẽ không thể
nào an lòng cho đến khi ta nhận lỗi. Ta vẫn còn có thể
rơi vào những cơn bùng nổ của giận dữ, khổ đau, hay tham
đắm, nhưng tất cả những tình huống đó không thể khiến
ta gục ngã như trước đây, và chúng sẽ qua đi nhanh chóng.
Ta biết rõ ràng con đường phải đi và ta tràn đầy tin tưởng
vào sự tu tập của mình. Nói chung ta trở nên tự tin hơn,
bớt ngã chấp, và tử tế rộng lượng hơn, có thể hành
thiền tốt hơn, và có nhiều khả năng hơn đối với bất
cứ điều gì ta làm. Các đồng nghiệp và thân hữu của ta
sẽ nhận ra được những sự thay đổi nơi ta, họ sẽ thấy
ta trở nên dịu dàng hơn, cởi mở hơn, và thư giãn hơn. Ánh
mắt lấp lánh của ta sẽ mở cửa trái tim của tha nhân, và
họ bắt đầu hỏi về suối nguồn của sự tự tại của
ta.
Để
diễn tả mức quan trọng của việc đạt được tầng dự
lưu, Đức Phật đã nhúm ít đất cát lên tay và nói, “Này
các tỷ kheo, nhúm đất cát này hay tất cả đất cát trên
thế gian, cái nào nhiều hơn?” Dĩ nhiên các vị tỷ kheo trả
lời rằng đất cát trên thế gian thì nhiều, rất nhiều lần
hơn một nhúm cát đất trên tay Phật. Sau đó Đức Phật tuyên
thuyết, “Cũng thế, này các vị tỷ kheo, số lượng cấu
uế, nhiễm ô mà một người đã đạt đến quả dự lưu
có thể hủy diệt thì cũng nhiều như cát đất trên thế
gian. Và những cấu uế còn lại mà người đã đạt được
quả dự lưu phải hủy diệt thì cũng ít như đất cát trên
tay ta.” (S V.56.6 [1]) Vì lý do đó, Đức Phật nói, đạt được
quả dự lưu thì còn vĩ đại hơn trở thành “vị chúa tể”
thống lãnh mọi vương quốc khác. Điều đó còn vĩ đại
hơn là được lên cõi trời làm một chư thiên; vĩ đại hơn
cả việc trở thành một vị trời.
Sau
khi đã vượt qua được chặng đường này, ta bắt đầu đối
phó với chướng ngại kế tiếp: kiết sử của tham và sân.
Khi đã vượt qua được ba kiết sử đầu tiên, ta cũng đã
làm nhẹ đi sức nặng của các kiết sử còn lại. Do
đó, tham và sân mà giờ ta phải đối mặt đã bớt nặng
nề hơn nhiều so với những gì ta đã trải qua khi là một
chúng sanh bình thường.
Ta
phòng hộ tham sân và sử dụng Chánh Tinh Tấn để tiếp
tục đối trị lại với hai kẻ thù này. Ta phát triển tâm
độ lượng và tình thương yêu. Ta trở nên hoàn toàn nhàm
chán với sự bám víu, đòi hỏi, than vãn của tâm. Khi ta phát
triển chánh niệm về vô thường một cách sâu sắc, nhìn
thấy rõ ràng hơn bản chất đổi thay của tất cả những
điều dễ chịu, khó chịu, và trung tính, ta sẽ thấy
sự vô ích của việc cố gắng khiến mọi việc phải theo
ý mình. Ta sẽ buông xả ngày càng nhiều hơn.
Cuối
cùng sẽ có một ngày khi tâm tham sân thô lậu được giảm
đi một cách đáng kể. Một số tâm tham sân vi tế, khó nhận
biết hơn vẫn còn, khiến cho cá tính của ta dường như không
thay đổi, nhưng thực ra ta đã thành tựu được rất nhiều.
Khi bạn trở thành một “nhất lai,” có nghĩa là bạn có
thể phải tái sanh trở lại thế tục này một lần nữa trước
khi đạt được hoàn toàn giác ngộ.
Khó
thể diễn tả được sự thanh tịnh mà tâm có được lúc
ấy. Tất cả những âu lo, bổn phận, phiền muộn đều
được buông bỏ, mãi mãi. Không có sự sỉ nhục hay bất
hạnh nào có thể làm bạn xao động. Bạn đã vượt
lên trên mọi phiền não. Những người quanh bạn có thể
nhận thấy được sự thanh thoát, lòng từ ái bao la của bạn
và bắt đầu nghĩ đến bạn như là một vị thánh. Vậy mà
lúc khởi đầu bạn cũng không tốt hơn ai. Đó là một quá
trình không dành cho riêng ai, một sự chuyển hóa tự nhiên
trong tâm, mà ta có thể đạt được khi miệt mài đi theo con
đường Đức Phật đã hướng dẫn. Dầu ta không còn
nuối tiếc hay khổ đau đối với những mất mát của bản
thân, nhưng vì trái tim ta đầy từ ái và vẫn chưa hoàn toàn
dứt sạch mọi bám víu, ta vẫn còn có thể quan tâm một cách
thái quá và đau buồn vì những bất hạnh của người khác.
Vẫn còn phải tu tập, rèn luyện thêm nữa. Những gì
còn lại của sân tham cần phải được quét sạch.
Khi
kiết sử của tham và sân thô lậu cuối cùng bị hủy diệt,
là ta đạt được bước thứ ba của giác ngộ. Vị hành
giả đạt đến giai đoạn này được gọi là “bất lai,”
chẳng bao giờ phải sanh trở lại trong thế giới này, nhưng
có thể tái sinh trong cõi vô sắc.
Một
khi công việc tháo gỡ tâm tham và sân thô lậu đã hoàn tất,
thì nhóm kiết sử cuối cùng, những kích thích tâm lý vi tế
nhất –năm kiết sử cuối cùng- phải được đối phó. Các
tâm uế nhiễm này quá vi tế đến nỗi không có chúng sanh
bình thường nào có thể nhận ra chúng, nói gì đến việc
cảm thấy muốn hủy diệt chúng. Bậc nhất lai tiếp tục
cảm nhận, thí dụ, tâm trạo cử bởi lòng lo lắng về một
sự tái sinh trong tương lai. Tuy nhiên đối với một vị đã
đạt được đến mức độ vi tế này, các kiết sử còn
lại giống như những mẫu đồ ăn lấm tấm trên một chiếc
áo hoàn toàn trắng sạch.
Tiếp
tục tu tập, vị bất lai tháo gỡ mọi ham muốn vi tế còn
lại đối với bất cứ loại hiện hữu nào. Vị ấy
diệt trừ được “mạn,” đặc tính cố hữu của niềm
tin dường như có một cái ngã. Trạo cử được tháo gỡ,
như là một mảng cuối cùng còn lại của vô minh. Trong một
sát na đại ngộ, tất cả các kiết sử cuối cùng này
bị diệt trừ, và tại đó xuất hiện một vị hoàn toàn
giác ngộ -một vị A La Hán. Vị này không bao giờ có
thể thực hiện bất cứ hành động nào dựa trên tham, sân,
hay si, vì tất cả những uế nhiễm này đã mãi mãi bị bứng
khỏi tâm. Như Đức Phật đã nói nhiều lần, một bậc A
La Hán là người đã “bỏ xuống gánh nặng.”
Ta
có thể nghĩ rằng một bậc A La Hán cũng có thể rơi xuống
một tầng thấp hơn và bị cám dỗ bởi tà dâm, trộm
cắp, hay một vài hành vi thế tục nào khác. Nhưng nếu ta
nhớ lại bản chất của các kiết sử -chúng dẫn dắt hành
động của chúng ta sai lạc như thế nào và chúng đã bị
đánh bại như thế nào– thì ta sẽ không có những suy nghĩ
như thế về các bậc đã hoàn toàn giác ngộ. Bậc A La Hán
biết rằng ngay việc thụ hưởng các dục lạc đã là điều
không thể nghĩ đến –nói gì đến những hành động vô
đạo đức. Bậc A La Hán không bao giờ có thể làm điều
gì sai trái nữa. Họ tiếp tục thụ hưởng niềm hạnh phúc
tối thượng, và giữ được tâm họ luôn thanh tịnh.
Khi
đã giác ngộ, hành giả sẽ thấy rõ ràng rằng tất cả những
gì họ cần liễu tri đã được chứa đựng trong Tứ Diệu