Theo
Dấu Chân Phật - Eight Mindful Steps to Happiness Walking the Buddha’s
Path - Tác Giả: Thiền Sư Bhante Henepola Gunaratana
Việt
Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh - Vu Lan 2007 @ 2001 Henepola
Gunaratana
ISBN
o-86171-176-9 Sách được dịch với sự cho phép của Thiền
Sư H. Gunaratana và NXB Wisdoms Publications
Về Tác
Giả
Thiền
Sư Henepola Gunaratana xuất gia năm mười hai tuổi ở Malandeniya,
Tích Lan. Năm 1947, ở tuổi hai mươi, ngài thọ giới trọng
ở Kandy. Ngài đã theo học tại trường Đại học Cộng Đồng
Vidyasekhara (Vidyasekhara Junior College) ở Gumpaha, đại học
Vidyalankara ở Kelaniya và trường đại học Truyền Giáo Phật
giáo (Buddhist Missionary College) ở Colombo.
Sau
đó Sư chuyển đến Ấn Độ để làm nhiệm vụ truyền giáo
trong thời gian năm năm cho hội Mahabodhi, phục vụ người Harijana
(thuộc giai cấp hạ tiện) ở Sanchi, Delhi, và Bombay. Sau đó
Sư trải qua 10 năm truyền giáo ở Malaysia, làm nhiệm vụ của
người cố vấn tôn giáo cho Hội Sasana Abhivurdhiwardhana, Hội
Truyền Giáo Phật giáo, và Liên Đoàn Thanh Niên Phật Giáo
(Buddhist Youth Federation) ở Malaysia. Sư là giảng sư ở trường
Kishon Dial và trường Temple Road Girls’ và là viện trưởng
của viện Phật Học ở Kuala Lumpur.
Theo
lời mời của Hội Sasana Sevaka, Sư sang Mỹ năm 1968 để làm
tổng thư ký cho Hội Chùa Phật giáo (Buddhist Vihara Society)
ở Washington, D.C. Vào năm 1980, Sư được bầu làm chủ tịch
của Hội. Trong những năm ở Vihara, từ 1968 đến năm 1988,
Sư đã dạy nhiều khóa giáo lý, tổ chức các khóa an cư tu
thiền và đi thuyết pháp khắp nơi trong nước Mỹ, Canada,
Âu Châu, Úc, Tân Tây Lan, Phi Châu, và Á Châu. Ngoài ra, từ
năm 1973 tới năm 1988 thiền sư Gunaratana đã giữ chức vụ
là tuyên úy Phật giáo ở đại học American.
Sư
cũng đã hoàn tất việc học vấn của mình với bằng tiến
sĩ về triết học ở đại học American. Sư đã dạy nhiều
khóa về Phật giáo ở đại học American, đại học Georgetown,
và đại học Maryland. Nhiều sách và bài viết của Sư đã
được xuất bản ở Malaysia, Ấn Độ, Tích Lan, và Mỹ.
Quyển sách Căn Bản Chánh Niệm (Mindfulness in Plain English) đã
được dịch ra nhiều thứ tiếng và phát hành trên toàn thế
giới. Một bản dịch tiếng Thái đã được chọn để sử
dụng trong chương trình học bậc trung học ở khắp Thái Lan.
Từ
năm 1982 thiền sư Gunaratana đã giữ chức vụ Chủ Tịch của
Hội Bhavana, một tu viện và cũng là trung tâm tu thiền ở
một khu rừng của miền Tây Virginia (gần thung lũng Shenandoah),
mà Sư đã cùng với Matthew Flickstein thành lập. Thiền sư Gunaratana
hiện trú xứ ở Hội Bhavana, nơi Sư thường tổ chức các
lễ thọ giới xuất gia, dạy dỗ tăng ni, và tổ chức các
khóa tu thiền cho cư sĩ. Sư thường đi hoằng pháp và
hướng dẫn tu thiền khắp nơi trên thế giới.
Vào
năm 2000, thiền sư Gunaratana đã được đại học Vidyalankara
tặng thưởng huân chương vì những thành tựu vượt bực
trong cuộc đời của Sư.
Lời Cảm
Tạ Của Tác Giả
Quyển
sách này sẽ không thành hình nếu không có sự tác động
cuả bạn tôi, Douglas Durham, người đã ghi lại các bài giảng
của tôi, để tạo ra bản thảo đầu tiên. Tôi cảm tạ ông
về những công sức đã đóng góp.
Tôi
cũng hàm ơn đệ tử Samaneri Sudhamma (có nghĩa là “Pháp Lành”
) đã duyệt lại bản thảo để làm rõ hơn Pháp chân thật
của quyển sách.
Tôi
cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến các nhà biên tập, Brenda
Rosen và John LeRoy, và người sắp mục lục, Carol Roehr.
Cuối
cùng tôi xin cảm ơn tất cả những thiền sinh có mặt tại
Hội Bhavana, những người đã kiên nhẫn chịu đựng sự vắng
mặt lâu ngày của tôi khi tôi bận viết quyển sách này.
Nguyện cho tất cả đều được phần công đức của quyển
sách nhỏ khi nó đến được với bao người đang đi tìm hạnh
phúc.
Bhante
Gunaratana
Lời Người
Dịch
Năm
2006, khi tôi viết thư xin phép Thiền sư Bhante H. Gunaratana để
dịch quyển tự truyện cuộc đời ngài, Hành
Trình Đến Chánh Niệm (Journey To Mindfulness), Thiền sư
không những đã từ bi hoan hỷ cho phép, mà còn giới thiệu
về quyển sách mới của ngài, Eight Mindful Steps To Happiness.
Do duyên lành đó hôm nay bản dịch của quyển sách trên được
đến tay độc giả với tựa Bát Chánh Đạo: Con Đường Đến
Hạnh Phúc.
Bát
Chánh Đạo, một phần giáo lý cơ bản của Đức Phật mà
gần như Phật tử nào dầu vừa bước chân đến với Đạo
cũng phải biết qua. Vậy thì Bát Chánh Đạo dưới cái
nhìn của một thiền sư tu chứng như Sư Bhante H. Gunaratana,
sẽ thế nào? Ta có thể học được gì thêm? Đó
có lẽ cũng là ý nghĩ mạo muội của tôi khi bắt tay dịch
quyển Eight Mindful Steps to Happiness.
Nhưng
từng trang, từng trang, từng bước, từng ngành của Bát Chánh
Đạo đã được Thiền sư giảng giải cặn kẻ đến từng
chi tiết, thấu đáo với bao thí dụ, mà lại giản đơn gần
gủi biết bao. Ngồi đọc mà tôi như hình dung thấy khuôn
mặt hiền từ của Thiền sư đang ở trước mặt, nhẹ nhàng
hỏi: “Con đã hiểu chưa? Con đã hiểu chưa?”. Thiền
sư như không hề mệt mỏi khi phải nhắc đi nhắc lại cho
độc giả giáo lý phải nắm, những việc phải làm để đạt
được giải thoát. Phải thực hành! Phải áp dụng
những giáo lý đã học! Phải đến để mà thấy!
Những lời nhắc nhở không bao giờ thừa đối với tôi, một
Phật tử còn nhiều giải đãi. Quyển sách đã đem lại
nhiều ích lợi cho tôi. Mong rằng nó cũng giúp ích
cho bạn.
Con
xin đảnh lễ để tạ ơn Thiền sư Bhante H. Gunaratana đã viết
quyển sách công phu này. Xin cảm ơn Tim McNeill và Deje
Zhoga ở nhà xuất bản Wisdom Publications luôn tạo cơ hội để
chúng tôi được phép dịch các sách về Phật giáo. Cảm
ơn em Trần Kim Mẫn đã chăm chỉ đánh máy bản dịch nháp.
Và xin cảm ơn tất cả những người tử tế trong gia đình,
cũng như ngoài xã hội đã giúp tôi một cách trực tiếp hay
gián tiếp để hoàn thành bản dịch. Bản dịch này vẫn
còn nhiều sai sót, dĩ nhiên là từ sự yếu kém của bản
thân người dịch, mong các bậc tôn sư, quý thầy cô, đạo
hữu, độc giả chỉ bày thêm.
Nhân
mùa Vu Lan, nguyện đem công đức này hồi hướng cho Ngoại,
cho cha mẹ, cho chị Từ An Lý Thu Cúc, những thân quyến, bằng
hữu đã mất, đệ tử và tất cả chúng sanh. Nguyện
đời đời, kiếp kiếp được đi theo dấu chân Phật.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
Ltl3107@yahoo.com
8/2007
Lời Nói
Đầu
Ngay
sau khi quyển Mindfulness In Plain English (Căn Bản Chánh Niệm)
(1) được phát hành, một số bạn bè và đệ tử của tôi
đã yêu cầu tôi viết thêm một quyển sách nữa về con đường
đi đến hạnh phúc của Đức Phật một cách thật đơn giản.
Quyển sách này là kết quả của lời yêu cầu đó.
Quyển
Căn Bản Chánh Niệm (Mindfulness In Plain English) là một quyển
sách hướng dẫn thiền, một cẩm nang cho những ai thực hành
thiền chánh niệm. Tuy nhiên chánh niệm chỉ là một phần
trong giáo lý của Đức Phật. Chánh niệm có thể làm
cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn, nhưng Đức Phật
còn ban cho ta nhiều hơn thế nữa. Ngài trao cho chúng ta
một cẩm nang, mà Ngài đã tóm tắt trong Bát Chánh Đạo, để
ta được hạnh phúc trọn vẹn. Chỉ cần những cố gắng
nhỏ để áp dụng tám bước này vào đời sống cũng sẽ
mang đến cho ta hạnh phúc. Những cố gắng quyết liệt
hơn sẽ chuyển hóa được ta và đưa ta đến những trạng
thái hạnh phúc nhất, sảng khoái nhất mà ta có thể đạt
được. Bát Chánh Đạo rất dễ nhớ, nhưng ý nghĩa của
chúng thâm sâu và đòi hỏi một sự hiểu biết về nhiều
lãnh vực liên quan trong giáo lý của Đức Phật. Ngay
chính với những người đã biết qua Bát Chánh Đạo cũng
có thể không nhận ra nó quan trọng như thế nào đối với
tổng thể những lời dạy của Đức Phật, hay họ có
thể ứng dụng chúng như thế nào trong việc tu tập.
Giống như trong quyển Căn Bản Chánh Niệm (Mindfulness In Plain
English), tôi đã cố gắng để trình bày giáo lý này một
cách đơn giản để bất cứ ai cũng có thể thực hành tám
bước này trong đời sống hằng ngày của họ.
Tôi
khuyên là bạn không nên đọc quyển sách này như một quyển
tiểu thuyết hay như một tờ báo. Tốt hơn hết là trong lúc
đọc, bạn hãy luôn tự hỏi mình, “Tôi có hạnh phúc không?”
và tìm hiểu về những gì bạn đã khám phá được.
Đức Phật khuyên chúng ta hãy đến để thấy. Ngài khuyên
tất cả chúng ta hãy quán sát bản thân, hãy trở về nhà,
hãy làm quen, hãy đến gần hơn với thân và tâm, và quán
sát chúng. Đừng để mình lạc vào trong các quan điểm,
giả định về cuộc đời, hãy cố gắng khám phá xem điều
gì đang thực sự xảy ra.
Chúng
ta rất thích thu thập tài liệu, cất giữ thông tin. Có
lẽ bạn đã chọn quyển sách này để có thêm thông tin.
Nếu bạn đã đọc qua các quyển sách Phật giáo phổ thông,
hãy dừng lại và tự hỏi bạn mong đạt được điều gì
từ quyển sách này. Có phải bạn chỉ muốn chứng tỏ
với người khác về sự thông thái của mình trong lãnh vực
Phật giáo? Hay bạn hy vọng có thể đạt được hạnh
phúc qua tri thức về giáo lý của Đức Phật? Chỉ có
tri thức sẽ không giúp bạn tìm được hạnh phúc.
Nếu
bạn đọc những gì tiếp theo đây với lòng mong muốn đem
những lời dạy của Đức Phật về con đường đưa đến
hạnh phúc vào thực hành -để thực sự thể nghiệm những
lời dạy của Ngài, hơn là một sự hiểu biết tri thức-
thì lúc đó những lời dạy rất đơn giản nhưng thâm sâu
của Đức Phật sẽ trở nên rõ ràng. Dần dần, sự
thật tuyệt đối về tất cả các pháp sẽ hiển bày ra cho
bạn. Và dần dần bạn sẽ khám phá ra hạnh phúc lâu
dài mà sự hiểu biết toàn vẹn về chân lý có thể mang đến
cho bạn.
Nếu
bạn cảm thấy khó chịu hay khổ đau về những gì bạn đọc
trong quyển sách này thì phải tìm hiểu tại sao. Hãy
nhìn vào bên trong. Hãy tự hỏi điều gì đang xảy ra
trong tâm bạn. Hãy tự hỏi tại sao. Đôi khi chúng
ta cảm thấy khó chịu khi ai đó cho ta biết rằng chúng ta
vụng về như thế nào. Bạn có thể có rất nhiều thói
quen xấu và những chướng ngại khác khiến bạn không được
hạnh phúc. Bạn có muốn tìm hiểu về chúng và thay đổi
chúng không?
Thông
thường chúng ta có thể bực bội về những điều rất nhỏ
mọn rồi đổ thừa cho một việc gì đó hay ai đó -một người
bạn, thư ký, ông xếp, hàng xóm, con cái, anh chị em, cha mẹ
hay chính phủ. Ta thất vọng khi không có được điều
mình muốn hay đánh mất cái mà ta trân quý. Chúng ta mang
trong tâm một loại “tâm lý bực dọc” -nguồn gốc của
phiền não- dễ bị hoàn cảnh hay suy nghĩ của ta kích động.
Rồi ta khổ đau, và tìm cách ngăn chặn khổ đau bằng cách
cố gắng đổi thay cả thế giới. Có một câu chuyện
cổ xưa về người đàn ông muốn phủ cả thế giới với
thuộc da để ông có thể đi trên mặt đất một cách êm
ái. Ông ta không biết rằng làm một đôi giày da để
mang, sẽ dễ hơn biết bao. Tương tự, thay vì tìm cách
chế ngự cả thế giới để được hạnh phúc, thì hãy cố
gắng tu sửa để giảm bớt các tâm lý bực dọc của chúng
ta.
Nhưng
bạn phải thật sự tu sửa mình, không chỉ đọc hay suy tư
về điều đó. Ngay cả việc hành thiền cũng không ích lợi
chi nhiều nếu bạn không hành trì suốt trọn con đường -nhất
là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển chánh kiến,
tạo ra những cố gắng mạnh mẽ, sáng suốt và thực hành
chánh niệm liên tục. Nhiều người ngồi trên gối thiền
hàng giờ với tâm trí đầy đau khổ, sân hận, lo âu hay vọng
tưởng. Rồi họ lại nói, “Tôi không thể thiền, tôi
không thể chú tâm”. Đó là vì bạn vẫn mang cả thế giới
trên vai khi tọa thiền, và bạn không muốn đặt nó xuống.
Tôi
nghe rằng một đệ tử của tôi đang vừa đi vừa đọc quyển
Căn Bản Chánh Niệm (Mindfulness in Plain English). Anh ta không
chánh niệm mình đang ở đâu và đã bị xe tông! Lời
gọi mời của Đức Phật rằng chúng ta hãy đến để thấy,
đòi hỏi ta phải thực hiện những gì ta đã đọc ở đây.
Hãy thực hành Bát Chánh Đạo của Đức Phật ngay cả khi
bạn đang đọc chúng. Đừng để những khổ đau làm bạn
tăm tối.
Nếu
như bạn có đọc quyển sách này hàng trăm lần, nó cũng không
giúp được gì cho bạn trừ khi bạn ứng dụng những điều
được viết ra đây. Chắc chắn rằng quyển sách này sẽ
thật hữu ích nếu bạn hết lòng thực hành, quán sát thấu
đáo những khổ đau và tự nguyện làm bất cứ điều gì
để đạt đến được hạnh phúc lâu dài.
Sự Khám
Phá của Đức Phật
Những
tiến bộ kỹ thuật ào ạt. Vật chất tăng trưởng. Sự căng
thẳng. Cuộc sống và công việc chịu nhiều áp lực vì những
đổi thay chóng mặt. Có phải đó là ở thế kỷ hai
mươi mốt? Không, đó là thế kỷ thứ sáu trước công
nguyên -khoảng thời gian của những cuộc chiến tranh tàn sát,
kinh tế hỗn loạn và sự xáo trộn những nếp sống đã được
hình thành, giống như ngày nay. Trong những điều kiện
tương tự như của chúng ta, Đức Phật đã khám phá ra con
đường đưa đến hạnh phúc dài lâu. Khám phá này của Ngài
-một phương pháp rèn luyện tâm từng bước từng bước để
đạt được sự tự tại – là điều quan trọng hôm nay cũng
như ở bất cứ lúc nào.
Nhưng
đem ứng dụng những khám phá của Đức Phật không phải
là điều dễ dàng. Nó có thể kéo dài hàng năm. Yếu tố
quan trọng nhất lúc bắt đầu là một ý chí mãnh liệt muốn
thay đổi cuộc đời của bạn bằng cách chấp nhận những
thói quen mới và tập nhìn thế giới một cách khác.
Mỗi
bước trên con đường đến hạnh phúc của Đức Phật đòi
hỏi ta phải thực hành chánh niệm cho đến khi nó trở thành
một phần trong cuộc sống hàng ngày của ta. Chánh niệm
là cách bạn tập cho mình trở nên ý thức về sự việc như
chúng thực sự là. Với tâm luôn chánh niệm, bạn tiến
lên qua tám bước đã được Đức Phật đặt ra hơn hai ngàn
năm trăm năm trước -một sự rèn luyện nhẹ nhàng, từng
bước để tận diệt khổ đau.
Ai
là người muốn rèn luyện như thế? Câu trả lời là
bất cứ ai đã quá mỏi mệt với những khổ đau trong đời.
“Cuộc sống của tôi như thế này là tốt rồi. Tôi
thấy đủ hạnh phúc rồi,” bạn có thể nghĩ như thế”.
Bất cứ cuộc đời nào cũng có những phút giây tự tại,
những phút giây của hỷ lạc. Nhưng về mặt khác thì
sao, phần mà bạn không muốn nghĩ đến khi mọi thứ không
diễn ra một cách tốt đẹp? Những thảm hoạ, sự nuối
tiếc, thất vọng, những đau đớn thể xác, sự buồn chán,
cô đơn, hối hận, những cảm giác ray rức khi nghĩ rằng
có thể có một cái gì đó tốt hơn thế. Những điều
này cũng xảy ra, có phải không? Hạnh phúc mong manh của
chúng ta tùy thuộc vào sự việc xảy ra theo một cách nào
đó. Nhưng cũng có một điều khác nữa: một thứ hạnh phúc
không tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện. Đức Phật
đã chỉ cho chúng ta con đường đi đến sự hạnh phúc toàn
vẹn đó.
Nếu
bạn sẵn lòng làm bất cứ điều gì để tìm được con đường
thoát khỏi khổ đau -và điều đó có nghĩa là phải đối
mặt với những cội rễ của tham, sân ngay tại đây, ngay
giây phút này- thì bạn có thể đạt được ý nguyện.
Ngay nếu như bạn chỉ là một người đọc tình cờ, thì
những lời dạy này cũng có thể hữu ích cho bạn, nếu như
bạn sẵn lòng thực hành những gì bạn thấy có ý nghĩa.
Nếu bạn nhận thấy điều gì đó đúng, thì đừng bỏ qua.
Hãy hành động!
Điều
này nói thì dễ, nhưng thật ra không có gì khó hơn. Khi bạn
tự nhủ rằng, “Tôi phải chuyển hóa để được hạnh phúc
hơn” –không phải vì Đức Phật đã nói thế, mà vì trái
tim bạn nhận ra được một chân lý thâm sâu- thì bạn phải
dốc hết sức lực để chuyển đổi. Bạn cần có quyết
tâm mạnh mẽ để chế ngự những thói quen xấu.
Và
phần thưởng dành cho bạn là hạnh phúc –không chỉ cho hôm
nay mà còn là mãi mãi.
Hãy
bắt đầu. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xét xem hạnh
phúc là gì, tại sao nó quá khó nắm bắt, và ta phải làm
thế nào để bắt đầu cuộc hành trình trên con đường tiến
đến hạnh phúc của Đức Phật.
Ý
Nghĩa Của Hạnh Phúc
Ước
muốn được hạnh phúc không xa lạ với chúng ta, nhưng nó
vẫn luôn xa rời chúng ta. Được hạnh phúc có nghĩa
là gì? Chúng ta thường tìm cách hưởng thụ dục lạc như
ăn ngon hay giải trí, vì chúng đem lại hạnh phúc cho chúng
ta. Nhưng có thứ hạnh phúc nào vượt lên trên những
giây phút khóai lạc chóng qua đó không?
Nhiều
người cố gắng xâu chuỗi lại thật nhiều những phút giây
sung sướng, dễ chịu để họ có thể gọi đó là một cuộc
sống hạnh phúc. Lại có người cảm nhận được sự giới
hạn của dục lạc tầm thường, đã đi tìm một thứ hạnh
phúc lâu dài hơn với những tiện nghi vật chất, đời sống
gia đình yên ổn. Tuy nhiên các nguồn hạnh phúc đó cũng có
những giới hạn của chúng. Khắp thế giới nhiều người
sống trong sự đau khổ vì đói; những nhu cầu căn bản như
được mặc, được ở của họ không được đáp ứng; họ
phải chịu đựng mối đe dọa thường xuyên của bạo lực.
Cũng dễ hiểu thôi khi những người này tin rằng sự thoải
mái vật chất sẽ mang đến cho họ hạnh phúc. Ở Mỹ,
sự phân chia của cải vật chất không đồng đều có thể
khiến nhiều người sống trong nghèo khó, nhưng sự đói khổ
hay thiếu thốn như ở các quốc gia khác trên thế giới thì
ít thấy. Mức sống của phần lớn công dân Mỹ rất
cao. Vì thế người dân ở các quốc gia khác thường nghĩ
rằng người Mỹ phải là những người hạnh phúc nhất trên
thế gian.
Nhưng
nếu đến được Mỹ, họ sẽ nhìn thấy gì? Họ sẽ
nhận thấy rằng người Mỹ luôn bận rộn -vội vã đến
điểm hẹn, luôn nói chuyện trên di động, bận rộn mua sắm
thực phẩm, áo quần, làm việc rất nhiều giờ trong văn phòng
hay các xưởng thợ. Tại sao họ phải vội vã điên cuồng
như thế?
Câu
trả lời rất đơn giản. Đó là dầu người Mỹ dường như
có tất cả, họ vẫn rất khổ đau. Và chính họ cũng
cảm thấy hoang mang vì điều này. Tại sao khi đã có
cuộc sống gia đình ấm êm, công việc đảm bảo, nhà cửa
khang trang, đời sống nhiều chọn lựa, tiền bạc đầy đủ-
mà họ vẫn không cảm thấy hạnh phúc? Họ nghĩ rằng
chỉ có thiếu thốn những thứ trên mới khiến người ta
đau khổ. Trái lại, được sở hữu, được xã hội
công nhận, có tình thương của bạn bè, gia đình, và những
sự thoải mái, thì ắt phải được hạnh phúc. Vậy
thì tại sao, người Mỹ cũng như bao người khác ở khắp
mọi nơi, thường cảm thấy đau khổ?
Hình
như ngay chính những điều mà ta nghĩ sẽ mang hạnh phúc đến
cho ta, thực ra lại là nguồn gốc của khổ đau. Tại
sao? Vì chúng không trường tồn. Các mối liên hệ rồi
sẽ tan vỡ, đầu tư có thể thất bại, người ta mất việc,
con cái lớn lên rồi rời xa gia đình, và các cảm giác bằng
lòng, thỏa mãn có được từ việc sở hữu những thứ vật
chất xa hoa cũng như những giây phút khóai lạc, sung sướng,
tốt lắm thì cũng chỉ là thoáng chốc. Vô thường có
mặt ở khắp nơi quanh ta, đe doạ ngay chính những thứ mà
ta nghĩ rằng ta cần để có được hạnh phúc.
Một
điều nghịch lý là chúng ta càng có nhiều, thì ta càng có
thể đau khổ nhiều hơn.
Ngày
nay con người càng có nhiều đòi hỏi tinh tế hơn, điều
đó đúng, nhưng dầu họ có bao nhiêu thứ vật chất của
cải đẹp đẽ, đắt tiền, họ vẫn muốn hơn thế nữa.
Và nền văn hóa tân tiến càng củng cố thêm lòng tham muốn
này. Những gì bạn thật sự cần để được hạnh phúc,
theo như các quảng cáo trên truyền hình hay trên những tấm
biển quảng cáo nói, là phải có chiếc xe hơi mới sáng chói
này, phải có chiếc máy vi tính siêu nhanh này, một chuyến
nghĩ hè ở Hawaii đầy nắng. Và những thứ đó cũng
có vẻ được như thế thật, nhưng một cách ngắn ngủi.
Người ta thường lầm tưởng cảm giác phấn chấn, hào hứng,
có được từ việc sở hữu một món đồ mới này hay những
giây phút khóai lạc, là hạnh phúc. Nhưng sau đó những ham
muốn khác lại trỗi dậy. Khi màu da rám nắng đã phai, khi
chiếc xe mới đã bị trầy thì họ lại nghĩ đến những
cuộc mua sắm khác. Việc họ không ngừng kéo nhau đến
các khu thương xá mua sắm khiến họ không thể khám phá ra
suối nguồn của hạnh phúc thật sự.
Nguồn Hạnh
Phúc.
Đức
Phật đã miêu tả một số loại hạnh phúc, xếp chúng theo
thứ tự từ cái tầm thường nhất cho đến cái cao thượng
nhất.
Hạnh Phúc
Thấp Kém Của Sự Bám Víu
Đức
Phật xếp gần như tất cả những gì mà phần đông chúng
ta gọi là hạnh phúc vào loại thấp nhất. Ngài gọi
đó là “ hạnh phúc của dục lạc.” Chúng ta cũng có
thể gọi nó là “hạnh phúc của những điều kiện dễ chịu”
hay “hạnh phúc của sự bám víu.” Nó bao gồm tất
cả những thứ hạnh phúc thế tục chóng qua có được từ
sự đắm chìm trong dục lạc, những sự thỏa mãn thân xác
và vật chất: hạnh phúc được sở hữu của cải, áo quần
thời trang, xe mới, nhà sang; sự hưởng thụ từ việc được
nhìn cảnh đẹp, thưởng thức âm nhạc, món ăn đồ ngon,
và những cuộc chuyện trò thú vị; sự thỏa mãn vì có tài
hội hoạ, chơi đàn, hay những thứ đại loại như thế; và
hạnh phúc đến từ việc chia sẻ một cuộc sống gia đình
đầm ấm.
Chúng
ta hãy nhìn thấu đáo hơn về hạnh phúc của dục lạc.
Trạng thái thấp kém nhất của nó là sự hoàn toàn đắm
chìm trong ngũ dục. Tệ nhất là khi quá đắm chìm trong
trạng thái này có thể đưa đến sự trụy lạc, đồi bại
và lệ thuộc. Có thể dễ dàng nhận ra rằng sự đắm
chìm trong ngũ dục không phải là hạnh phúc, vì trạng thái
khóai lạc nhanh chóng qua đi, và còn có thể để lại cho người
ta một cảm giác chán chường, hối tiếc.
Đức
Phật đã dạy rằng khi con người trưởng thành về mặt tâm
linh, họ sẽ hiểu rằng trên đời có nhiều thứ cao quý hơn
là ngũ dục. Ngài dùng hình ảnh của một đứa bé yếu
đuối bị trói buộc bởi những sợi dây mong manh ở năm điểm:
hai cùm tay, hai cẳng chân, và cổ họng. Cũng giống như
năm sợi dây này –ngũ dục- có thể trói buộc một đứa
bé nhưng không thể làm gì đối với người trưởng thành,
vì họ có thể dễ dàng bức thoát ra, vì thế một người
có chánh niệm sẽ không bị dính mắc vào ý nghĩ muốn chìm
đắm trong ngũ dục, để họ có thể sống một cuộc đời
có ý nghĩa và hạnh phúc. (TBK 80)
Tuy
nhiên, có những hạnh phúc thế tục vượt trên các dục lạc
tầm thường. Như là thú đọc sách, xem phim, hay những
hình thức giải trí khác nhằm làm phấn chấn tinh thần.
Hay những niềm vui thế tục cao cả như là giúp đỡ người,
duy trì một gia đình hạnh phúc, nuôi dưỡng con cái, cũng
như kiếm sống một cách lương thiện.
Đức
Phật cũng nhắc đến một vài loại hạnh phúc được chấp
nhận hơn. Đó là cảm giác hạnh phúc, tự tại bạn
có được khi sở hữu những vật chất, của cải đã được
tạo ra bằng chính sức lao động lương thiện, khó nhọc của
mình. Bạn sẽ tận hưởng tài sản của mình với một
lương tâm trong sáng, không sợ bị trả thù hay xâm hại.
Tốt hơn thế nữa là hạnh phúc của việc vừa hưởng thụ
của cải bạn đã kiếm được một cách lương thiện, đồng
thời chia sẻ nó với người khác. Một loại hạnh phúc
tự tại đặc biệt khác nữa đến từ việc nhận ra rằng
ta hoàn toàn không nợ bất cứ gì, đối với bất cứ ai.
(A II (4) VII.2)
Phần
đông chúng ta, ngay cả những người có ý thức nhất cũng
coi những điều này như là cốt lõi của một cuộc sống
đạo đức. Thế thì tại sao Đức Phật coi chúng như
thuộc về loại hạnh phúc thấp kém nhất? Vì chúng phụ
thuộc vào những điều kiện lý tưởng. Mặc dầu không
thoáng qua như những khóai lạc nhất thời của ngũ dục, và
ít tổn hại nặng nề đến hạnh phúc dài lâu, chúng không
bền vững. Chúng ta càng dựa vào chúng, càng chạy đuổi
theo chúng, và cố gắng bám víu vào chúng thì chúng ta càng
thêm khổ đau. Nỗ lực của chúng ta sẽ tạo nên tâm
lý bực dọc đau khổ và cuối cùng chứng tỏ rằng chúng
vô ích; không thể tránh được sự thay đổi của hoàn cảnh.
Dầu ta có làm gì đi nữa, ta cũng bị tổn thương. Còn
có những nguồn hạnh phúc cao cả hơn, vững bền hơn.
Nguồn Hạnh
Phúc Cao Thượng
Một
trong những nguồn hạnh phúc này là “hạnh phúc của sự
xả ly,” một loại hạnh phúc tâm linh đến từ việc theo
đuổi một điều gì đó vượt lên trên những niềm vui thế
tục. Một thí dụ quen thuộc là niềm vui đến từ việc
buông bỏ tất cả mọi lo lắng trong đời sống thế tục
và theo đuổi đời sống độc cư ở những nơi thanh tịnh
để theo đuổi việc phát triển tâm linh. Nguồn hạnh
phúc đến từ sự nguyện cầu, các nghi lễ tôn giáo và sự
phát sinh tín tâm trong tôn giáo cũng thuộc về loại hạnh
phúc này.
Tâm
rộng rãi là một hình thức xả ly mạnh mẽ. Chia sẻ
một cách rộng rãi những gì ta có, và nhiều hình thức khác
của xả ly, đem lại cho chúng ta hạnh phúc. Mỗi khi biết
buông bỏ, ta cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu. Từ đó
suy ra nếu ta có thể buông bỏ hoàn toàn sự bám víu vào bất
cứ điều gì trên thế gian, thì sự buông bỏ rộng lớn này
sẽ mang đến nhiều hạnh phúc hơn là những hành động xả
ly không thường xuyên.
Cao
thượng hơn sự buông bỏ vật chất là “hạnh phúc của
việc buông bỏ các tâm lý bực bội.” Loại hạnh phúc
này phát sinh một cách tự nhiên khi ta rèn tâm buông bỏ một
cách nhanh chóng những sân hận, ham muốn, bám víu, ghen tỵ,
kiêu hãnh, nghi hoặc và các tâm lý bực bội khác mỗi khi
chúng phát sinh. Dập tắt ngay khi chúng vừa phát sinh giúp
tâm không vướng mắc, đầy hỷ lạc, trong sáng. Tuy nhiên
không có gì bảo đảm rằng các uế nhiễm này sẽ không xuất
hiện trở lại và không quấy nhiễu tâm ta.
Tốt
hơn nữa là những niềm vui và hạnh phúc vi tế trong các trạng
thái thiền định sâu lắng. Trong những trạng thái này
sầu não không thể phát sinh. Tuy những trạng thái định này
có thể siêu việt và mạnh mẽ, chúng vẫn có một yếu điểm
lớn: cuối cùng thì hành giả cũng phải xả thiền. Vì
vạn pháp là vô thường, nên ngay chính các trạng thái thiền
định sâu lắng cũng phải chấm dứt.
Nguồn Hạnh
Phúc Cao Thượng Nhất
Hạnh
phúc cao thượng nhất là niềm hỷ lạc đạt được qua các
mức độ giác ngộ. Ở mỗi mức độ, gánh nặng cuộc
đời được giảm nhẹ đi, và chúng ta sẽ cảm nhận được
sự giải thoát, hạnh phúc to lớn hơn. Giai đoạn cuối cùng
của giác ngộ, sự giải thoát hoàn toàn khỏi tất cả các
trạng thái tâm tiêu cực, mang đến cho ta nguồn hạnh phúc
tuyệt vời, không gián đoạn. Đức Phật khuyên chúng
ta phải tập buông bỏ những bám víu vào các loại hạnh
phúc thấp kém và tập trung tất cả nỗ lực của chúng ta
vào việc tìm ra chính cái hạnh phúc cao nhất, đó là sự
giác ngộ.
Nhưng
Đức Phật cũng khuyến khích chúng sanh hãy phát huy đến cao
độ hạnh phúc của họ ở bất cứ mức độ giác ngộ nào
mà họ có thể đạt đến. Đối với những ai không
thể nhìn thấy gì hơn là hạnh phúc dựa trên dục lạc, ngài
đưa ra những khuyên nghiêm chỉnh để họ tránh xa các phiền
não thế tục và để họ tìm được nguồn hạnh phúc thế
tục tối ưu nhất, thí dụ, bằng cách vun trồng những đức
tính đưa đến sự thành công vật chất hay đời sống gia
đình yên ấm. Đối với người có ý hướng cao hơn
muốn được tái sinh vào những cõi thanh tịnh, ngài chỉ cho
họ phương cách để đạt được mục đích đó. Đối với
những vị muốn đạt được mục đích cao nhất của sự
giác ngộ viên mãn, ngài dạy họ làm thế nào để thành tựu
điều đó. Nhưng dầu theo đuổi bất cứ loại hạnh
phúc nào, chúng ta cũng phải thực hành theo con đường của
bát chánh đạo.
Cái Bẫy
Của Khổ Đau
Đức
Phật biết rằng sự chạy đuổi không mỏi mệt theo hạnh
phúc trong dục lạc thế gian khiến chúng ta bị trói buộc
vào cái vòng không cùng tận của nhân và quả, của yêu và
ghét. Mỗi ý nghĩ, lời nói hay hành động là nhân đưa đến
quả, rồi quả ấy lại trở thành một nhân khác. Để
chỉ cho chúng ta thấy cái vòng khổ đau đó vận hành như
thế nào, Đức Phật đã giải thích:
Do
duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, tìm cầu sanh; do duyên tìm
cầu, lợi sanh; do duyên lợi, quyết định sanh; do duyên quyết
định, tham dục sanh; do duyên tham dục, đam trước sanh; do
duyên đam trước, chấp thủ sanh; do duyên chấp thủ, hà tiện
sanh; do duyên hà tiện, thủ hộ sanh; do duyên thủ hộ, phát
sanh một số ác, bất thiện pháp như tranh đấu, tranh luận,
đầu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ. (Kinh Trường
Bộ, Hòa Thượng Thích Minh Châu NXB Tôn Giáo-2005, trang 517)
Mỗi
chúng ta đều trải qua những giai đoạn của vòng luân chuyển
này trong đời sống hàng ngày. Thí dụ đang ở trong siêu thị,
bạn nhìn thấy một chiếc bánh trông rất ngon với nhân màu
đỏ, kem trắng điểm lên trên. Đó là chiếc bánh duy
nhất còn lại. Dầu chỉ ít phút trước đó, tâm
bạn thanh tịnh, tự tại, thì khi nhìn thấy cảnh này, mà
Đức Phật gọi là “sự tiếp xúc giữa các căn và các trần,”
tâm khởi lên những suy tưởng và cảm thọ khóai lạc.
Rồi
tham muốn phát sinh từ lạc thọ. “Hừm. . . bánh dâu,”
bạn tự nhủ, “với kem trứng đánh nổi phía trên.”
Tâm sẽ chạy đuổi theo và khai triển những ý nghĩ khóai
lạc. Bánh dâu ngon lắm! Thơm biết chừng nào! Kem trứng
kia tan trong miệng hẳn là rất tuyệt vời! Một quyết
định tiếp theo sau: “Tôi muốn ăn chiếc bánh đó.” Rồi
sự bám víu (tham đắm) phát sinh: “Chiếc bánh đó là của
tôi.” Có thể bạn sẽ nhận ra một sự bất ổn khi tâm
bạn do dự trong chốc lát, khi nó nghĩ đến những hậu quả
tiêu cực của cái bánh đối với túi tiền hay vòng eo của
bạn.
Bỗng
nhiên bạn nhận ra có ai đó cũng ngưng lại ở quầy bánh
và đang ngắm nghía chiếc bánh. Cái bánh của bạn! Bị
chế ngự bởi lòng hẹp hòi, bạn chộp ngay chiếc bánh, tiến
ra quầy thanh toán trong khi người khách kia trừng mắt phản
đối. Một diễn tiến tiếp theo, dầu thông thường khó
xảy ra, là vị khách hàng kia đuổi theo bạn đến tận chỗ
đậu xe, cố gắng giật cái bánh lại, hãy tưởng tượng
biết bao hành vi bất thiện có thể xảy ra -có thể là chửi
rủa nhau hay đánh nhau. Nhưng ngay cả khi không có một sự
đối đầu trực tiếp nào, hành động của bạn cũng khiến
người kia phát sinh tâm bất thiện và đánh giá bạn là một
người tham ăn. Như thế là tâm bình an của bạn đã
bị hủy diệt.
Một
khi tham ái đã phát khởi trong tâm, thì không thể tránh khỏi
có những hành động ích kỷ, hẹp hòi theo sau. Trong khi
chạy đuổi theo bất cứ hạnh phúc nhỏ mọn nào -một miếng
bánh dâu- chúng ta cũng có thể hành động thô bạo và xém
nữa tạo ra kẻ thù. Khi lòng tham ái là đối với một điều
gì đó quan trọng hơn, như của cải, tài sản của người
hay hành động tà dâm thì hậu quả còn tai hại hơn, bạo
lực càng nghiêm trọng hơn và những đau khổ triền miên có
thể xảy ra.
Nếu
có thể đảo ngược lại vòng quay, bắt đầu từ những hành
động tiêu cực của chúng ta, rồi đi ngược trở lại từng
bước từng bước đến các nguyên nhân tâm và sinh lý, thì
ta có thể đoạn trừ khổ đau tận gốc ngọn của nó.
Khi lòng ham muốn, sự bám víu đã được đoạn trừ -hoàn
toàn bị xoá bỏ- thì hạnh phúc mới được đảm bảo.
Có thể chúng ta chưa biết phương cách để đạt được một
điều như thế, nhưng khi đã nhận ra việc phải làm, là chúng
ta đã bắt đầu cuộc hành trình của mình.
Từng Bước
Tu Tập
Giờ
thì bạn có thể hiểu tại sao chúng tôi nói rằng hạnh phúc
thật sự chỉ đến khi tham ái đã được đoạn diệt.
Ngay nếu như ta có nghĩ rằng việc đạt được hạnh phúc
cao thượng nhất là không thực tế, thì việc giảm thiểu
tham ái cũng đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta. Càng
có thể buông bỏ được lòng tham ái, thì ta càng dễ dàng
cảm nhận được hạnh phúc hơn. Nhưng làm thế nào để
giảm bớt lòng tham ái? Chỉ ý nghĩ làm giảm thiểu lòng ham
muốn -nói chi đến việc đoạn diệt nó- cũng đã có thể
khiến bạn thối chí. Nếu bạn biết rằng chỉ dùng
ý chí để đẩy lùi ham muốn là hoài công, thì bạn rất
đúng. Đức Phật đã đưa ra một giải pháp tốt đẹp
hơn: đó là từng bước tu tập theo Bát Chánh Đạo.
Phương
cách phát triển từng bước theo con đường của Đức Phật
ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống. Tiến
trình này có thể bắt đầu bất cứ lúc nào, ở bất cứ
nơi đâu. Bạn có thể bắt đầu từ chỗ của bạn và
tiến tới, từng bước một. Mỗi sự thay đổi mới
tốt đẹp hơn trong hành vi hay hiểu biết đều dựa trên các
bước đã qua.
Trong
số những người đã được nghe Đức Phật thuyết pháp,
có những vị với tâm dễ dàng tiếp thu đến nỗi họ có
thể đạt được hạnh phúc viên mãn ngay sau khi nghe những
lời hướng dẫn tu theo từng bước của Đức Phật lần đầu
tiên. Một số ít đã quá sẵn sàng đến nỗi tuy vừa
nghe qua giáo lý siêu việt -Tứ Thánh đế- thì tâm họ đã
hoàn toàn được giải thoát. Nhưng phần đông các đệ tử
Phật phải cố gắng thực hành các lời dạy, thấu triệt
từng bước trước khi chuyển sang bước tiếp theo. Nhiều
vị phải mất hàng năm để vượt qua những chướng ngại
trong sự hiểu biết trước khi họ có thể tiến lên một
bậc cao hơn của sự hiểu biết.
Phần
đông chúng ta phải mất rất nhiều công sức để tự tháo
gỡ mình ra khỏi những hành vi hay thái độ tự hại mình
và hại người đã được hình thành qua bao năm tháng. Chúng
ta phải chậm rãi bước theo con đường tu tập từng bước
của Đức Phật với rất nhiều kiên nhẫn và khích lệ. Không
phải ai cũng có thể thấu triệt mọi thứ ngay lập tức.
Đến với sự phát triển tâm linh, tất cả chúng ta đều
mang theo những kinh nghiệm quá khứ riêng và mức độ dốc
tâm khác nhau.
Đức
Phật là một vị thầy tinh tế tuyệt vời. Ngài biết
rằng chúng ta cần có những hiểu biết căn bản rõ ràng trước
khi có thể tiếp thu những giáo lý cao siêu hơn. Thuyết
Bát Chánh Đạo đưa đến hạnh phúc của Đức Phật gồm
có ba giai đoạn được xây dựng dựa lên nhau: giới, định
và tuệ.
Giai
đoạn đầu tiên, giới luật, bao gồm việc chấp nhận một
số giá trị cơ bản và sống dựa theo chúng. Đức Phật hiểu
rằng sự suy nghĩ, nói năng và hành động đúng theo giới
luật là những bước căn bản cần phải có trước khi tiến
đến sự phát triển tâm linh cao hơn. Nhưng dĩ nhiên là chúng
ta phải có một ít trí tuệ để biết rõ đạo đức là gì.
Vì thế Đức Phật bắt đầu bằng cách giúp chúng ta vun trồng
cấp bậc cơ bản của chánh kiến (bước thứ nhất) và chánh
tư duy (bước thứ hai). Những khả năng tâm linh này giúp
chúng ta phân biệt giữa ý nghĩ và hành động đạo đức
hay vô đạo đức, giữa những hành động thiện với những
hành động làm hại mình và hại người chung quanh.
Khi
chánh kiến đã phát triển, chúng ta có thể bắt đầu đem
sự hiểu biết mới mẻ của mình ra áp dụng bằng cách thực
hành chánh ngữ (bước thứ ba), chánh nghiệp (bước thứ tư),
và chánh mạng (bước thứ năm). Những giai đoạn thực hành
các hành động đạo đức tốt đẹp giúp tâm ta cởi mở,
giải thoát khỏi các chướng ngại, hoan hỷ và tự tin. Khi
các chướng ngại từ những hành động tiêu cực bắt đầu
phai mờ đi thì định mới có thể phát sinh.
Định
có ba giai đoạn. Đầu tiên là chánh tinh tấn (bước
thứ sáu), giúp tâm tập trung vào từng bước trên con đường
đạo. Những sự cố gắng như thế đặc biệt cần thiết
khi nhiều tư tưởng bất thiện khởi lên trong tâm khi chúng
ta ngồi thiền. Tiếp theo là chánh niệm (bước thứ bảy).
Muốn có tâm chánh niệm đòi hỏi ta phải có sự chú tâm
toàn vẹn từng phút, để ta có thể kiểm soát được sự
biến đổi của tâm pháp. Chánh định (bước thứ tám)
cho phép chúng ta trụ tâm không gián đoạn trên một đối
tượng hay một ý nghĩ nào đó. Vì đó là một trạng
thái tâm tích cực, không sân hận hay tham luyến, định mang
đến cho ta một sức mạnh tâm linh mà ta cần để có thể
nhìn thấu đáo hoàn cảnh thật sự của mình.
Với
giới luật làm nền tảng, định sẽ phát sinh. Do có định,
giai đoạn thứ ba trên con đường của Đức Phật -trí tuệ-
sẽ phát triển. Điều này mang chúng ta trở lại với hai bước
đầu tiên trên con đường: chánh kiến và chánh tư duy. Chúng
ta bắt đầu cảm nghiệm trí tuệ bùng vỡ trong các hành
động của mình. Chúng ta nhận ra mình đã tự tạo đau khổ
cho bản thân như thế nào. Chúng ta nhận ra bằng ý nghĩ,
lời nói, và hành động của mình, ta có thể tự làm tổn
thương bản thân và người khác như thế nào. Chúng ta
nhận ra những sự giả dối của mình và đối diện với
cuộc đời như nó thực sự là. Trí tuệ là ngọn đèn sáng
soi cho chúng ta con đường thoát khỏi vòng trói buộc của
khổ đau.
Dầu
tôi đã trình bày con đường của Đức Phật như là một
chuỗi của những giai đoạn liên tục nhau, thực ra nó vận
hành theo một vòng tròn. Giới, định, và tuệ hỗ trợ,
phát triển lẫn nhau. Mỗi bước trong bát chánh đạo cũng
củng cố, phát huy các bước còn lại. Khi bạn bắt đầu
thực hành cả quá trình, mỗi bước sẽ lần lượt mở ra
và mỗi hành động thiện hay tuệ giác sẽ là động lực
đưa ta đến bước kế tiếp. Trên bước đường tu tập đó,
bạn sẽ có nhiều chuyển đổi, nhất là khuynh hướng đổ
lỗi cho người khác về sự bất hạnh của mình. Với
từng bước rẽ, bạn sẵn sàng để chấp nhận trách nhiệm
đối với ý nghĩ, lời nói và hành động có chú ý của mình
nhiều hơn.
Thí
dụ, khi bạn áp dụng trí tuệ ngày càng phát triển của mình
để thấu hiểu các hành động đạo đức, bạn sẽ nhận
thấy giá trị của tư tưởng và các hành động đạo đức
này một cách sâu sắc, dẫn đến những sự thay đổi trong
cung cách hành động của bạn càng nhanh chóng hơn. Tương
tự, khi bạn có thể nhìn thấy rõ ràng hơn trạng thái tâm
nào là hữu ích và trạng thái tâm nào bạn cần buông bỏ,
thì bạn sẽ đem sự tinh tấn của mình áp dụng đúng chỗ
hơn, và kết quả là tâm định của bạn trở nên sâu lắng
hơn và tuệ giác được phát triển.
Hỗ Trợ
Cho Sự Thực Tập
Khi
bắt đầu đi theo con đường Phật dạy, dĩ nhiên là chúng
ta sẽ muốn thay đổi cách sống, cách ứng xử để hỗ trợ
cho việc tu tập của mình. Đây là một số những chuyển
đổi mà chúng ta sẽ thấy rất lợi ích khi tiến bước
trên con đường đạo; chúng sẽ giúp ta chế ngự được những
trở ngại trong công phu tu tập mà ta phải thực hiện theo
các chương tiếp theo. Đừng nản chí; một số những
lời khuyên này có thể là những thử thách lớn mà chúng
ta phải vượt qua trong một thời gian dài.
ĐƠN
GIẢN HÓA CUỘC SỐNG
Tốt
nhất là chúng ta hãy bắt đầu bằng cách đánh giá một cách
trung thực về những hoạt động quen thuộc hàng ngày. Xét
xem chúng ta sử dụng thời gian của mình như thế nào.
Hãy tạo ra thói quen thường tự hỏi mình, “Công việc hay
hoạt động này có thực sự cần thiết không hay nó chỉ
là một cách để chúng ta tỏ ra bận rộn?” Nếu ta
có thể giảm bớt hay loại bỏ một số hoạt động, ta sẽ
được thanh tịnh, yên tĩnh, là những yếu tố cơ bản để
tiến lên trên đường tu tập.
Hiện
tại có thể bạn đang có rất nhiều trách nhiệm đối với
gia đình hay những người đang cần đến bạn. Thế cũng
tốt, nhưng hãy cẩn thận đừng để phải hy sinh những cơ
hội thanh tịnh tâm và phát triển tuệ giác. Giúp người khác
là điều quan trọng, nhưng như Đức Phật đã dạy rất rõ
ràng, chăm lo cho sự phát triển của chính mình là ưu tiên
hơn cả.
Hãy
tập thói quen mỗi ngày dành ít thời gian cho riêng mình trong
tĩnh lặng, hơn là lúc nào cũng có mặt bên người khác. Nếu
tất cả thời gian của bạn đều ở bên người khác, bạn
dễ bị vướng vào các hoạt động và những câu chuyện phù
phiếm. Điều đó khiến ta khó duy trì sự hành thiền chánh
niệm. Dù đang sống trong môi trường nào, nếu bạn muốn
phát triển sâu xa hơn sự hiểu biết và trí tuệ của mình,
thỉnh thỏang bạn phải tạm dừng các bổn phận để có
thời gian cho riêng mình.
Dĩ
nhiên, sự yên tĩnh bên ngoài không phải lúc nào cũng đủ.
Ngay khi ở nơi yên tĩnh, chỉ có một mình, đôi khi chúng ta
cũng tự thấy mình bị chế ngự bởi lòng sân hận, ganh ghét,
sợ hãi, lo âu, căng thẳng, tham đắm và hoài nghi. Và
cũng có những lúc tâm ta hoàn toàn tự tại, thanh tịnh dầu
quanh ta náo nhiệt, ồn ào.
Đức
Phật đã giải thích nghịch lý này như sau. Ngài dạy
rằng nếu ít có lòng chấp thủ hay tham đắm, ta có thể
sống yên tĩnh giữa đám đông. Ta có thể buông bỏ các ý
niệm về sở hữu hay chiếm hữu. Những người ta yêu thương,
của cải, công việc, các mối liên hệ ràng buộc, quan điểm
và ý kiến –ta bám víu vào tất cả những thứ này. Khi giảm
thiểu được sự bám víu này, ta tiến gần hơn đến sự
giải thoát nội tại, là bản chất của thanh tịnh. Thanh tịnh
thật sự chỉ có trong tâm ta. Một người với tâm giải thoát
khỏi những ràng buộc của bám víu và sở hữu, theo Đức
Phật, là người “độc cư”. Và người mà tâm luôn
chứa đầy ham muốn, sân hận và si mê là người “sống
có bầu bạn” –ngay cả khi họ sống một mình. Như
thế, sự hỗ trợ tốt nhất cho việc tu tập của chúng ta,
là một tâm đã được rèn luyện.
Có
người tin rằng các nghi lễ truyền thống giúp tâm họ được
thanh tịnh, đồng thời nhắc nhở họ đến điều gì thật
sự là quan trọng. Bạn và gia đình có thể cùng cầu nguyện,
đốt hương, trầm, đèn cầy, hay dâng hoa lên hình tượng
Đức Phật mỗi ngày. Dầu những nghi thức đơn giản,
trân trọng này sẽ không đem lại giác ngộ cho bạn, nhưng
chúng có thể là những dụng cụ hữu ích để chuẩn bị
tâm cho sự thực hành chánh niệm hằng ngày.
RÈN
LUYỆN SỰ TỰ KIỀM CHẾ
Một
cuộc sống nề nếp, kỷ luật cũng có thể là một nguồn
hạnh phúc. Hãy quan sát kỹ môi trường quanh bạn. Nếu phòng
ngủ của bạn đầy quần áo dơ, nếu trên bàn làm việc của
bạn ngổn ngang sách vở, giấy tờ, đĩa vi tính, báo cũ, và
nếu chén dĩa từ tuần trước vẫn còn đầy trong bếp, thì
làm sao tâm bạn có ngăn nắp? Sự tu tập phát triển từ ngoài
vào trong. Hãy dọn dẹp nhà cửa cho sạch trước, rồi
mới hướng vào trong để quét sạch bụi bặm của tham, sân
và si.
Có
được một cơ thể khỏe mạnh cũng đem lại lợi ích cho
sự tu tập. Yoga hay các hình thức thể dục khác cũng góp
phần làm cho tâm khỏe mạnh. Mỗi ngày hãy đi bộ ít
nhất một lần. Đi bộ vừa là một môn thể thao tốt,
vừa là một cơ hội để thực tập chánh niệm một mình
trong im lặng.
Một
nguồn dinh dưỡng đầy đủ và điều độ cũng hỗ trợ cho
sự tu tập tâm linh. Hãy ăn sáng thật đầy đủ, bữa trưa
vừa đủ, và bữa tối nhẹ sẽ khiến bạn dễ chịu hơn
sáng hôm sau. Có câu cổ ngữ rằng, “Hãy ăn sáng như một
hoàng đế, chia sẻ bữa trưa với bạn bè, và tặng bữa tối
cho kẻ thù.” (Tuy nhiên tôi phải nói thêm rằng, bạn không
nên làm gì để có hại cho kẻ thù của bạn.) Các loại
thức ăn nhanh, rượu, cà phê và những chất kích thích khác
sẽ khiến ta khó chú tâm. Hãy ăn để sống, đừng sống để
ăn. Đừng biến việc ăn uống thành một thói quen không chánh
niệm. Nhiều hành giả tham gia thực hành việc thỉnh thỏang
bỏ bữa không ăn, đã nhanh chóng chứng minh được rằng khi
ta nghĩ là mình đói, thật ra chỉ là thói quen.
Cuối
cùng, hãy tự rèn luyện để hành thiền mỗi ngày. Hành
thiền mỗi buổi sáng ngay sau khi bạn vừa thức dậy hoặc
buổi tối trước khi bạn đi ngủ sẽ giúp bạn tiến bộ.
Nếu không thể duy trì sự hành thiền đều đặn, hãy tự
hỏi mình tại sao. Có thể vì bạn còn nghi ngờ tầm quan trọng
của thiền, hay sợ rằng nó sẽ không giúp bạn giải quyết
được các vấn đề của mình. Hãy quán sát sự sợ
hãi và hoài nghi của bạn một cách thấu triệt. Hãy
đọc những câu chuyện đời của Đức Phật và những người
đã tu thiền để đạt được hạnh phúc vĩnh hằng. Hãy nhớ
rằng duy chỉ có bạn là người có thể thay đổi cuộc đời
mình tốt đẹp hơn và thiền đã chứng tỏ sự hiệu nghiệm
của nó đối với không biết bao nhiêu người. Sau đó
hãy tập tự kiềm chế một ít, nhất là lúc ban đầu, để
duy trì kỷ luật của việc mỗi ngày thường xuyên hành thiền.
VUN
TRỒNG TÂM THIỆN
Vun
trồng tâm thiện -bố thí, kiên nhẫn, tín tâm và các đức
tính khác- là bước khởi đầu trong sự đánh thức tâm linh.
Bố
thí được tất cả mọi truyến thống tôn giáo truyền dạy,
nhưng đó là một trạng thái tâm mà tất cả mọi chúng sanh
đều sẵn có từ vô thủy. Ngay cả thú vật cũng chia
sẻ đồ ăn cho nhau. Khi biết chia sẻ, bạn cảm thấy
vui sướng, và rất hoan hỷ mỗi khi nhớ lại niềm vui của
người nhận.
Ngoài
ra cần rèn luyện tánh nhẫn nại. Nhẫn nại chịu đựng
không có nghĩa là để cho người khác được tự do lạm dụng
bạn. Nó có nghĩa là hãy bình tĩnh để diễn đạt mình một
cách hữu hiệu đúng thời, đúng nơi, đúng lời, và đúng
việc. Nếu bạn vội vã tuôn ra điều gì đó, bạn có
thể sẽ phải hối hận về những gì bạn đã nói, hoặc
làm thương tổn cho người khác.
Nhẫn
nại cũng có nghĩa là cố gắng để hiểu người khác với
tất cả khả năng của mình. Hiểu lầm, nghĩ sai và hoài nghi
gây tổn thương và bất mãn. Hãy nhớ rằng người khác cũng
có nhiều vấn đề như bạn –có thể còn hơn nữa.
Người tốt đôi khi ở trongíu hoàn cảnh bất lợi, cũng có
thể nói hay làm những điều thiếu chánh niệm. Nếu bạn
có thể giữ bình tĩnh mặc dù bị khiêu khích, bạn có thể
tránh được sự bực tức, và bạn sẽ thông cảm sâu sắc
hơn với những hoàn cảnh của đồng loại.
Cố
gắng đừng đổ lỗi cho người khác về sự bất hạnh của
mình, hay hy vọng người khác sẽ mang đến cho bạn hạnh phúc.
Hãy nhìn vào bên trong, khám phá ra tại sao bạn đau khổ, và
tìm cách để khắc phục. Người bất hạnh thường khiến
người khác cũng đau khổ. Nhưng nếu quanh bạn là những
người không hạnh phúc, bạn vẫn có thể duy trì tâm bình
an bằng cách giữ tâm càng trong sáng càng tốt – và sự nhẫn
nại cũng như sự hiểu biết của bạn có thể làm họ được
vui hơn.
Cuối
cùng hãy tin tưởng vào khả năng tìm được hạnh phúc lâu
dài của bạn. Điều này bao gồm lòng tin vào giáo lý của
tôn giáo của bạn, vào bản thân, vào công việc, vào bạn
bè, và vào tương lai. Tín tâm giúp ta có một thái độ sống
lạc quan. Bạn có thể phát triển tín tâm qua việc quán sát
những kinh nghiệm của bản thân. Bạn đã có tự tin
về nhiều khả năng của mình. Hãy tin vào những khả năng
bạn chưa có được.
TÌM
MINH SƯ VÀ HỌC HỎI GIÁO LÝ
Một
trung tâm dạy thiền uy tín và một vị thiền sư thật lòng
muốn giúp bạn là những sự hỗ trợ rất quan trọng.
Bạn không cần một vị thầy đòi hỏi sự phục tùng hay
hứa hẹn các quyền lực thần thánh. Bạn nên tìm người
có hiểu biết hơn bạn, người mà cuộc đời họ là một
tấm gương cho bạn và bạn có thể phát triển một mối liên
hệ lâu dài tốt đẹp với người đó. Có thể bạn phải
trải qua nhiều năm để đi theo con đường đạo của Đức
Phật –trong một số trường hợp, vài kiếp sống. Hãy chọn
người dẫn đường cho bạn một cách khôn ngoan.
Đức
Phật đã mô tả một vị thầy lý tưởng như là “một người
bạn tốt.” Một người như thế sẽ ăn nói nhỏ nhẹ, dịu
dàng, từ bi, thật sự quan tâm và mến trọng bạn. Một
người bạn tốt không bao giờ yêu cầu bạn phải làm điều
gì sai trái, mà lúc nào cũng khuyến khích bạn làm việc phải
và sẵn sàng giúp đỡ bạn khi cần. Một người bạn tốt
là người có học và hiểu biết, sẵn sàng chia sẻ sự hiểu
biết với bạn không chút ngại ngùng.
Hãy
quan sát một vị có thể là thầy của bạn một cách cẩn
thận. Hành động quan trọng hơn lời nói. Tiếp xúc thường
xuyên với người đã đi theo con đường của Phật ít nhất
là hơn mười năm, là một cách tốt để bạn tự đánh giá
xem giáo lý đó có hữu hiệu.
Giống
như một nghệ nhân truyền nghề cho đệ tử, không chỉ các
kỹ thuật về nghề, mà cả những đức tính cần có để
hành nghề; một vị thầy tốt cũng thế, vừa hướng dẫn
bạn tu tập, vừa giúp bạn những sự thay đổi cần thiết
trong cách sống để hỗ trợ cho sự tu tập của bạn.
Nếu bạn thực sự muốn tìm hạnh phúc, hãy kiên nhẫn và
tinh tấn để theo học một vị thầy như thế.
Sau
đó, hãy tuân theo phương cách tu tập từng bước mà Đức
Phật đã mô tả. Căn bản sự tu tập từng bước gồm
có việc rèn luyện thế nào để lắng dịu tâm, quan sát tư
tưởng và hành động của mình, rồi biến chúng thành công
cụ giúp ta thiền quán và chánh niệm. Đó là một quá trình
cần có thời gian, không thể hấp tấp. Một lý do tại sao
nhiều người bỏ dở việc tu thiền, đó là vì họ không
dành thời gian để tạo dựng nền móng cho sự tu tập hữu
hiệu.
Cuối
cùng, hãy dành thời gian để đọc và thảo luận về giáo
lý của Đức Phật. Sách vở rất nhiều, cũng như là
các nhóm thảo luận hay các lớp giáo lý. Bạn cũng có thể
trao đổi về giáo lý của Đức Phật trực tuyến hay qua thư
điện tử. Đọc về hay thảo luận về giáo lý của
Đức Phật không bao giờ là sự lãng phí thời gian.
Có
thể những điều kiện để tiến bộ này có vẻ quá tầm
thường, nhưng rất ít người trong chúng ta biết sống một
cách bình lặng, ăn uống độ lượng, thể dục thường xuyên
và sống một cách đơn giản. Càng ít hơn nữa những người
biết tìm đến học hỏi với một vị thầy có khả năng,
thường xuyên tìm hiểu, trao đổi về những điều Phật dạy
và hành thiền mỗi ngày. Dầu ở đây, việc sống đơn giản,
biết đủ được đề cao, nhưng không có nghĩa là bạn không
thể bắt đầu đi theo con đường của Phật ngay bây giờ,
bất kể phong cách sống của bạn như thế nào. Chúng
chỉ đơn giản cảnh báo cho bạn những gì bạn cần phải
thực hiện qua năm tháng -hay đôi khi cả những kiếp người-
để tiến lên hạnh phúc cao cả nhất.
Khởi Đầu
Của Sự Thực Hành Chánh Niệm
Những
sự thay đổi trong cách sống được bàn đến trong những
trang trước đây chỉ nhằm một mục đích: giúp bạn biến
chánh niệm thành một phần trong đời sống. Chánh niệm là
phương pháp duy nhất để vun trồng sự tĩnh thức trong từng
giây phút về bản chất thật sự của vạn pháp, qua sự tiếp
xúc với thân tâm. Có thể bạn đã biết đó là “thiền
minh sát.” Là một kỹ năng bạn cần phát triển và
sử dụng xuyên suốt mọi giai đoạn trên con đường đưa
đến hạnh phúc của Đức Phật. Sau đây là một số
lời khuyên để bắt đầu sự tu tập thiền minh sát.
TỌA
THIỀN
Thời
điểm tốt nhất để hành thiền là vào sáng sớm, trước
khi bạn bắt đầu công việc trong ngày. Một nơi yên
tĩnh là lý tưởng nhất, nhưng trên thế giới này khó có
nơi đâu không có tiếng ồn, vì thế chỉ cần một nơi thích
hợp cho việc hành thiền và một chiếc gối thiền êm ái.
Tiếp
đến, chọn một thế ngồi hành thiền. Tốt nhất nhưng
khó nhất là thế ngồi hoa sen (kiết già). Tréo hai chân,
đặt bàn chân phải lên trên đùi trái và ngược lại, lòng
bàn chân hướng lên trên. Hai bàn tay chồng lên nhau, đặt
dưới rốn, tựa trên đùi, nâng đỡ thân trên. Sống
lưng thẳng, đốt sống này chồng lên đốt kia như những
xâu đồng xu. Cằm ngẩng lên.
Nếu
không thể ngồi theo thế hoa sen, thì ngồi bán già. Đặt
bàn chân phải qua đùi trái (hay ngược lại), đầu gối
chạm sàn. Rồi cúi người về phía trước, đẩy gối
vào phía sau. Nếu đầu gối khó chạm sàn thì đặt một
đùi lên chỗ gập đầu gối của chân kia.
Bạn
cũng có thể ngồi đặt chân này trước chân kia. Hay,
ngồi trên một ghế đẩu nhỏ, giống như những cái ghế
bạn thường thấy trong các thiền đường. Nếu tất
cả đều quá khó, bạn có thể ngồi trên ghế bình thường.
Sau
khi đã chọn một trong những thế ngồi này, hãy thẳng lưng
lên, để giúp ngực căng dễ dàng khi bạn hít thở. Tư
thế của bạn phải tự nhiên, mềm dẻo, không gồng cứng.
Hãy
chọn vị thế cẩn thận, vì quan trọng là bạn không được
sửa thế ngồi cho đến cuối buổi tọa thiền. Tại
sao quan trọng vậy? Giả thử bạn chuyển đổi thế ngồi
vì không được thoải mái. Sau một lúc, thế ngồi mới
cũng trở nên khó chịu. Thế là bạn cứ chuyển đi,
đổi lại từ vị thế này sang vị thế khác suốt buổi tọa
thiền, thay vì cố gắng đạt được một mức định sâu
xa hơn. Hãy rèn luyện sự tự kiềm chế và giữ nguyên
thế ngồi ban đầu.
Hãy
quyết định từ lúc đầu là bạn sẽ ngồi thiền trong bao
lâu. Nếu bạn chưa bao giờ hành thiền thì hãy bắt đầu
với khoảng hai mươi phút. Khi bạn đã tiếp tục thực
hành thêm, dần dần bạn có thể tăng thêm thời lượng ngồi
thiền. Điều đó tùy thuộc vào việc bạn có bao nhiêu
thời gian và bạn có thể ngồi trong bao lâu mà không thấy
đau đớn.
Khi
ngồi, bạn nên nhắm mắt lại; như thế sẽ giúp bạn chú
tâm hơn. Tâm trước lúc hành thiền giống như một ly
nước bùn. Nếu bạn giữ cho cái ly đứng yên, bùn sẽ
lắng xuống và nước trở nên trong. Tương tự, nếu
bạn có thể yên lặng, giữ thân không chuyển động và chú
tâm vào đề mục thiền quán, thì tâm bạn sẽ lắng đọng
và bạn sẽ bắt đầu chứng nghiệm được niềm vui của
việc hành thiền.
ĐỐI
PHÓ VỚI CÁI ĐAU
Giả
thử rằng bạn đã tuân theo những lời hướng dẫn về các
tư thế và đang ngồi tọa thiền trong một tư thế dễ chịu
nhất. Nhưng không lâu sau, bạn sẽ nhận ra rằng sự
thoải mái đã biến mất. Rồi cái đau kéo đến, và bạn
đánh mất quyết tâm ban đầu, sự kiên nhẫn, và lòng nhiệt
thành để ngồi thiền.
Điều
này có thể làm bạn nản chí. Nhưng hãy an tâm rằng sự đau
đớn khó chịu phần lớn là do ta thiếu thực hành. Nó
sẽ giảm bớt theo thời gian thực hành, và bạn sẽ thấy
là bạn có thể chịu đựng nó dễ dàng hơn. Vì thế hãy
để sự đau đớn khó chịu trở thành một dấu hiệu để
bạn hâm nóng lòng quyết tâm thực hành của mình.
Nếu
sự đau đớn xảy ra do bệnh nơi thân giống như lệch đĩa
đệm hay một thương tật cũ; thì bạn nên thay đổi thế
ngồi –có thể chuyển đến ngồi ghế. Tuy nhiên, nếu bạn
cảm thấy đau đớn tại một nơi thân thể bình thường,
khỏe mạnh, thì tôi khuyên bạn hãy làm như sau.
Cách
hữu hiệu nhất mà cũng khó khăn nhất để đối phó với
sự đau đớn là quán sát nó. Hãy hòa mình với cơn đau, hãy
có mặt với cơn đau. Cảm nhận nó mà không nghĩ đến nó
như là cái đau của tôi, cái đầu gối của tôi, cổ của
tôi. Chỉ quán sát cái đau thật sát sao để xem điều
gì xảy ra cho nó.
Lúc
đầu sự đau đớn có thể gia tăng, khiến chúng ta sợ hãi.
Thí dụ, đầu gối của bạn có thể bắt đầu đau đến
nỗi bạn sợ rằng chân bạn sẽ bị hoại tử, phải cắt
bỏ đi, khiến bạn tự hỏi làm sao bạn có thể sinh sống
với chỉ một chân. Đừng lo sợ. Tôi chưa bao giờ thấy
ai phải bị cưa chân vì hành thiền! Khi sự đau đớn mà bạn
quán sát đạt đến tột đỉnh, nếu bạn kiên nhẫn chịu
đựng thêm, thí dụ năm phút nữa, bạn sẽ thấy sự đau
đớn khủng khiếp, có thể nguy hiểm tới tánh mạng này bắt
đầu tan biến. Cảm giác đau đớn sẽ chuyển thành trung
tính, và bạn sẽ khám phá rằng ngay cảm giác đau đớn cũng
là vô thường.
Bạn
có thể dùng một phương pháp tương tự như thế với những
nỗi đau tâm lý, có thể là mặc cảm tội lỗi hay một ký
ức kinh hoàng nào đó. Đừng cố gắng đẩy lùi nỗi
đau đi. Hãy đón nhận nó. Có mặt với nó, với ngay cả những
cảnh tượng hãi hùng tái diễn trong tâm bạn. Đừng để
bị cuốn hút theo vọng tưởng, chỉ tiếp tục quán sát nỗi
đau tinh thần đó, để nhìn thấy nó dần dần vỡ ra, giống
như nỗi đau thể xác.
Khi
sự vỡ oà xảy ra, nỗi đau biến mất, bạn có thể cảm
thấy nhẹ nhõm rất nhiều, một sự bình an và thư giãn xuất
hiện. Dĩ nhiên, nỗi đau thể xác hay những ký ức đau đớn
có thể lại phát khởi. Nhưng một khi bạn đã phá vỡ được
cái đau vật lý hay tâm lý đó, thì nó sẽ không bao giờ trở
lại với cùng mức độ như trước. Và lần sau khi bạn tọa
thiền, bạn sẽ có thể ngồi lâu hơn trước khi cái đau xuất
hiện.
Phương
pháp thứ hai đối phó với cái đau là so sánh nó với những
nỗi đau mà bạn đã trải qua trong cuộc đời. Cái đau hiện
tại, mặc dầu ngay bây giờ nó có vẻ quá to lớn, nhưng nó
chỉ là một phần nhỏ của những cái đau mà bạn đã trải
qua, và bạn đã chịu đựng nhiều cái còn tệ hại hơn. Và
cũng đừng quên cảm giác khổ đau vi tế ẩn sâu luôn ám
ảnh bạn ngày và đêm. Khi so sánh với những nỗi đau khác,
cái đau nhỏ trong chân bạn không lớn lao gì. Cũng đáng công
chịu đựng, vì nó sẽ giúp ta chế ngự những nỗi đau to
lớn hơn trong cuộc đời. Cái đau này khác chi một cái gai
nhỏ găm vào tay. Khi lấy cái gai ra, nó làm ta đau nhiều hơn,
tuy nhiên bạn phải chấp nhận để tránh cái đau lớn hơn
sau đó. Cũng thế, bạn có thể chịu đựng cái đau ngồi
thiền để giúp bạn thoát khỏi những phiền não lớn lao
hơn trong tương lai.
Một
phương pháp khác nữa là nghĩ đến nỗi đau mà người khác
đang phải hứng chịu. Hiện tại, rất nhiều người đang
đau khổ với những nỗi đau thể xác hay tinh thần do bệnh
hoạn, đói khát, dãi dầu, chia ly với người thân yêu và
những vấn đề nghiêm trọng khác. Hãy tự nhắc nhở rằng
so sánh với những khổ đau đó thì cái đau của bạn không
đến nỗi nào.
Cách
thứ tư là không để ý đến cái đau. Bạn chủ tâm hướng
đến hơi thở. Để giúp bạn trú trong hơi thở, bạn có thể
thở nhanh vài cái.
Đề
nghị cuối cùng của tôi, khi tất cả mọi thứ khác đều
thất bại, là chuyển động -một cách rất chánh niệm. Từ
từ di chuyển những bắp thịt để xem cái đau có được
giảm bớt với sự chuyển đổi tư thế nhỏ nhất. Nếu bạn
đau ở phía sau, hãy nhớ rằng lưng sẽ bị đau nếu bạn
chồm về phía trước. Nếu bạn thấy căng thẳng ở lưng,
trước hết hãy dùng tâm quán sát về tư thế của bạn, hãy
thư giãn, rồi nhẹ nhàng thẳng lưng lên.
Đau
ở đầu gối hay mắt cá cần một phương cách đặc biệt,
vì bạn không muốn làm tổn hại đến các dây chằng.
Nếu bạn nghĩ đau là do dây chằng, thì trước hết hãy cố
gắng co duỗi một cách có chánh niệm những cơ ở trên và
dưới của khớp mà không di chuyển hay thay đổi thế ngồi.
Nếu làm thế cũng không thấy đở, thì hãy cử động chân
một cách nhẹ nhàng chỉ vừa đủ để giảm căng thẳng trên
các dây chằng.
Có
thể bạn tự hỏi không biết chịu đựng đau đớn như thế
để được gì. “Tôi hành thiền để đoạn diệt khổ
đau. Tại sao tôi phải chịu khổ nhiều hơn khi tọa thiền?”
Hãy nhớ rằng đây là loại đau khổ có thể dẫn đến sự
đoạn diệt của tất cả mọi khổ đau khác. Khi bạn quán
sát một cách chánh niệm cái đau khi nó phát sinh, rồi qua
đi, và cảm nhận được cảm giác sung sướng tiếp theo sau
khi nó biến mất, thì bạn đạt được sự tự tin về khả
năng chịu đựng đau đớn của mình. Quan trọng hơn nữa,
vì sự trải nghiệm đau đớn này là tự nguyện và chủ tâm,
nó là một phương cách hữu hiệu để tự rèn luyện. Bạn
sẽ đủ sức chịu đựng những nỗi đau lớn hơn trong cuộc
đời.
Hãy
kiên nhẫn. Có thể trước đây bạn chưa bao giờ ngồi thiền,
hay chỉ thỉnh thoảng thực hành. Có thể bạn đã quen ngồi
trên ghế hay sofa. Dĩ nhiên bạn sẽ cảm thấy đau khi lần
đầu ngồi thiền trên sàn nhà. Bạn đã từng leo núi hay cưỡi
ngựa chưa? Bạn có nhớ cơ thể mình cảm thấy thế nào trong
lần đầu tiên, và ngày hôm sau, thân thể đau đớn thế nào
không? Tuy nhiên, nếu bạn leo núi hay cưỡi ngựa mỗi ngày,
không lâu sau bạn sẽ thành thục và không còn đau đớn nữa.
Hành thiền cũng thế: bạn chỉ phải thực hành liên tục
mỗi ngày và không thay đổi thế ngồi.
HÃY
CHÚ TÂM
Một
phương cách tốt để an tịnh tâm là chú tâm vào hơi thở.
Hơi thở lúc nào cũng có mặt. Bạn không cần phải khó khăn
tìm kiếm hơi thở, vì nó luôn vào ra nơi mũi. Hơi thở cũng
không phụ thuộc vào cảm xúc, suy nghĩ hay sự chọn lựa nào.
Trú tâm vào hơi thở là một phương cách hữu hiệu để vun
trồng trạng thái tâm trung tính.
Bạn
nên bắt đầu mỗi thời khóa tọa thiền với tâm từ bi.
Một số người có thể dễ dàng phát khởi tâm từ bi đến
tất cả mọi chúng sanh. Nhưng thông thường, bạn cần một
phương pháp để làm được như thế. Hãy bắt đầu với
chính bản thân rồi sau đó dần phát triển tâm từ bi lớn
rộng lớn để bao gồm tất cả chúng sanh. Tôi khuyên các
bạn hãy đọc lời nguyện sau đây (một cách thầm lặng trong
tâm hay ra tiếng):
Nguyện
cho tôi được mạnh khoẻ, hạnh phúc và bình an. Nguyện cho
tôi không gặp chướng ngại; không bị tổn hại; không gặp
khó khăn gì; luôn được thành công. Nguyện cho tôi có lòng
nhẫn nại, can đảm, hiểu biết, và quyết tâm để đối
đầu và chế ngự những khó khăn, trở ngại, và thất bại
không thể tránh trong cuộc đời.
Sau
đó, hãy lặp lại, và thay những chữ “tôi” với những
từ khác, bắt đầu với cha mẹ của bạn: “Nguyện cho cha
mẹ tôi được sức khoẻ, hạnh phúc, và bình an. Nguyện cho
họ không bị tổn hại …” vân vân. Sau đó lặp lại
đoạn kinh trên cho các sư trưởng của mình: “ Nguyện cho
các vị thầy của tôi được khỏe mạnh …” Rồi đến
thân quyến, bạn bè của bạn; đến “những người không
liên hệ” (những người mà bạn không thương hay ghét); đến
kẻ thù của bạn; và cuối cùng là đến tất cả mọi chúng
sanh. Cách thực hành đơn giản này sẽ giúp bạn dễ dàng
chú tâm khi hành thiền và cũng giúp bạn chế ngự bất cứ
sân hận nào có thể phát khởi khi bạn đang ngồi thiền.
Sau
đó hãy hít ba hơi thở sâu. Khi bạn hít vào và thở ra, hãy
ghi nhận sự căng lên và xẹp xuống nơi bụng (trên, dưới)
và ngực. Hãy hít vào thật sâu để căng phồng cả ba vị
trí này trên cơ thể. Sau đó, thở bình thường, để hơi
thở vào ra một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không gắng sức,
chú tâm vào cảm giác nơi mũi khi hơi thở vào ra. Phần
đông ghi nhận hơi thở ở mũi dễ hơn; tuy nhiên, có người
lại thích chú tâm vào cảm giác khi hơi thở phả ra trên môi
hay trong mũi, hay trong hốc mũi, tùy thuộc vào cấu trúc của
mặt. Sau khi đã chọn một nơi để chú tâm, thì chỉ ghi nhận
cảm giác hơi thở vào ra ở nơi đó.
Khi
chú tâm vào hơi thở, bạn sẽ cảm nhận được sự bắt
đầu, ở giữa và đoạn cuối của mỗi hơi thở vào và mỗi
hơi thở ra. Bạn không cần phải cố gắng nhiều để nhận
ra ba giai đoạn của hơi thở. Khi một hơi thở vào đã hoàn
tất và trước khi thở ra, có một điểm dừng ngắn. Hãy
ghi nhận nó, và ghi nhận sự bắt đầu của hơi thở ra. Khi
hơi thở ra hoàn tất, cũng có một sự nghỉ ngắn trước
khi hơi thở vào bắt đầu. Hãy ghi nhận điều này. Hai khoảng
ngưng này xảy ra rất nhanh chóng đến nỗi có thể bạn không
để ý đến chúng. Nhưng khi bạn chánh niệm, bạn sẽ nhận
ra được.
Lúc
bắt đầu, có thể cả hơi thở vào và hơi thở ra đều dài.
Hãy ghi nhận điều đó, mà đừng suy nghĩ hay nói “hơi thở
vào dài, hơi thở ra dài.” Khi bạn ghi nhận được cảm giác
của hơi thở vào ra dài, thân bạn trở nên khá an tĩnh. Rồi
có thể hơi thở của bạn trở nên ngắn. Hãy ghi nhận hơi
thở ngắn cảm giác thế nào, lần nữa không nói “hơi thở
ngắn”. Rồi ghi nhận cả quá trình của hơi thở từ lúc
bắt đầu cho đến khi chấm dứt. Có thể, giờ hơi thở đã
trở nên nhuần nhuyễn. Thân và tâm trở nên tĩnh lặng hơn
trước đó. Hãy ghi nhận cảm giác tĩnh lặng và bình an này.
Mặc
dầu cố gắng chú tâm vào hơi thở, tâm bạn vẫn có thể
đi lang thang. Bạn có thể nhận ra mình đang nhớ lại những
nơi mình đã đến, những người mình đã gặp, bạn bè lâu
không gặp, một cuốn sách đã đọc lâu rồi, vị của một
món ăn bạn đã dùng hôm qua. Ngay khi bạn vừa nhận ra tâm
mình không còn trụ nơi hơi thở, hãy đem nó trở lại và
buộc chặt nó ở đó một cách chánh nhiệm.
Có
người dùng phương pháp đặt tên cho những sự kiện xảy
ra trong đầu khi đang thiền quán. Thí dụ, thiền sinh có thể
ghi nhận việc suy tưởng và nói trong đầu, “Suy nghĩ, suy
nghĩ, suy nghĩ.” Khi nghe một tiếng động, thiền sinh
nghĩ, “Nghe, nghe, nghe.”
Tôi
không khuyên bạn dùng phương pháp này. Những sự việc mà
bạn muốn đặt tên có thể xảy ra quá nhanh chóng đến nỗi
bạn không có thì giờ để đặt tên chúng. Việc đặt tên
phải mất thì giờ -thì giờ để tư tưởng phát sinh hay cảm
giác xảy ra, thì giờ để nghĩ ra từ để diễn tả những
gì bạn nhận biết. Bạn không thể đặt tên một điều gì
đó khi nó đang xảy ra. Bạn chỉ có thể đặt tên sau khi
nó đã xảy ra. Chỉ nhìn chúng khi chúng xảy ra và ghi nhận
chúng, vậy cũng đủ rồi.
Chánh
niệm rèn luyện cho bạn sự ý thức trực tiếp. Nó giúp bạn
loại trừ các trung gian như từ ngữ hay khái niệm. Khái
niệm và từ ngữ xuất hiện sau sự ý thức để giúp bạn
diễn đạt ý nghĩ và cảm giác. Tuy nhiên, trong thiền, bạn
không cần phải diễn tả bất cứ điều gì cho bất cứ ai.
Bạn chỉ cần biết rằng khi thấy chỉ là thấy, khi nghe chỉ
là nghe, xúc chạm chỉ là xúc chạm, biết chỉ là biết.
Như thế cũng đủ rồi.
MỘT
PHÚT CHÁNH NIỆM
Khi
rời khỏi chiếu thiền, hãy quyết tâm suốt ngày sẽ để
dành một phút trong mỗi giờ hành thiền. Bạn có thể tự
hỏi mình có thể làm gì trong một phút –không đủ để
tìm tọa cụ ngồi thiền. Đừng lo lắng về việc đi
tìm tọa cụ. Cứ ở ngay nơi đó, dầu bạn đang ngồi, đứng,
hay nằm -điều đó không quan trọng. Hãy dành năm mươi chín
phút của mỗi giờ để làm bất cứ điều gì bạn làm trong
ngày. Nhưng trong một phút của mỗi giờ đó, hãy ngưng bất
cứ gì bạn đang làm và thiền quán. Bạn có thể vặn đồng
hồ đeo tay hay cài vi tính để nó kêu mỗi giờ như là một
cách nhắc nhở.
Khi
bạn nghe tiếng báo hiệu, hãy dừng công việc đang làm lại,
gạt bỏ bất cứ gì bạn đang suy nghĩ trong tâm và nhắm mắt
lại. Chú tâm vào hơi thở của bạn. Nếu bạn không biết
một phút dài bao lâu, thì hít vào và thở ra mười lăm lần
và dành tất cả sự chú tâm vào hơi thở. Nếu phải lâu
hơn một phút, cũng đừng quan tâm về điều đó. Bạn đâu
mất mát gì.
Khi
một phút đã qua, trước khi mở mắt, hãy quyết tâm trong
một giờ tới sẽ hành thiền trong một phút nữa và cứ thế
cho đến hết ngày. Hãy hướng về giây phút đó và tạo
ra sự nôn nóng cho nó. Và nên tự hỏi mình, “Khi nào
tôi mới lại được ngồi thiền nữa?”
Nếu
bạn duy trì được phương pháp đơn giản này, thì cuối ngày
bạn đã có thêm mười hay mười lăm phút hành thiền. Hơn
nữa lúc cuối ngày, ước muốn được ngồi thiền –đã
tăng trưởng vì được bạn nghĩ đến nó mỗi giờ- sẽ giúp
bạn tìm được nguồn cảm hứng để hành thiền trước khi
ngủ.
Hãy
kết thúc một ngày với khoảng nửa giờ ngồi thiền. Khi
bạn lên giường, hãy trú tâm vào hơi thở cho đến khi bạn
thiếp đi. Nếu bạn thức giấc giữa đêm, hãy đem tâm trở
lại với hơi thở. Khi bạn thức dậy sáng hôm sau, tâm bạn
vẫn còn trụ nơi hơi thở, hãy nhắc nhở mình bắt đầu
một ngày bằng việc ngồi thiền.
09-10-2007
04:45:56