|
c
So
sánh tóm tắt các bộ Luật Tỳ-kheo
Bình Anson
Dưới đây là bảng
tóm tắt so sánh các bộ Luật Tỳ-kheo hiện đang lưu hành:
|
Phân loại
|
Luật
Pali
(1) |
Luật
Tứ Phần
(2) |
Luật
Thập Tụng
(3) |
Luật
Ngũ Phần
(4) |
Luật
Tăng Kỳ
(5) |
Luật
Hữu Bộ
(6) |
Cực ác pháp
Parajika
Ba-la-di |
4 |
4 |
4 |
4 |
4 |
4 |
Tăng tàn pháp
Sanghadisesa
Tăng-già-bà-thi-sa |
13 |
13 |
13 |
13 |
13 |
13 |
Bất định
pháp
Aniyata |
2 |
2 |
2 |
2 |
2 |
2 |
Xả đọa
pháp
Nissaggiya Pacittiya
Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề |
30 |
30 |
30 |
30 |
30 |
30 |
Ðơn đọa
pháp
Pacittiya
Ba-dật-đề |
92 |
90 |
90 |
91 |
92 |
90 |
Hối quá pháp
Patidesaniya
Ba-la-đề Ðề-xá-ni |
4 |
4 |
4 |
4 |
4 |
4 |
Chúng
học pháp
Sekhiya
Thức-xoa Ca-la-ni |
75 |
100 |
113 |
100 |
66 |
42 |
Diệt tránh
pháp
Adhikaranasamatha |
7 |
7 |
7 |
7 |
7 |
7 |
| Tổng
cộng |
227 |
250 |
263 |
251 |
218 |
192 |
Ghi
chú:
a) Bảng trên được dựa theo
quyển (ngoại trừ cột số 6):
- Thích Minh Thành, "Tỳ Kheo
Giới Yếu Giải", Giáo trình Luật học Cơ bản - Tập IV, Sài
gòn, 1993.
b) Về các bộ Luật:
(1) Luật Pali: Bộ Luật của
Phật giáo Nguyên thủy Theravada. Xin xem thêm:
- Bhikkhu Dhammavuddho, "The Buddhist
Monk's Precepts", Penang, Malaysia, 1988.
- Bhikkhu Ariyesako, "The Bhikkhus' Rules
- A Guide for Laypeople", Melbourne, Australia, 1999.
- Bhikkhu Thanissaro, "The Buddhist Monastic
Code - The Patimokkha Training Rules", California, USA, 1999.
(2) Luật Tứ Phần của Pháp tạng
bộ (Ðàm-vô-đức, Dharmaguptaka), do ngài Phật-Ðà-Da-Xá (Buddhayasas)
dịch . Ðây là bộ Luật phổ thông nhất trong các quốc gia
Phật giáo Ðại thừa.
(3) Luật Thập Tụng của Hữu bộ
(Tát-bà-đa, Sarvastivada), do ngài Phất-Nhã-Ða-La (Punyatara) dịch
.
(4) Luật Ngũ Phần của Hóa địa
bộ (Di-sa-tắc, Mahisasaka) , do ngài Phật-Ðà-Thập (Buddhajiva)
dịch .
(5) Luật Tăng Kỳ của Ðại chúng
bộ (Ma-ha Tăng-kỳ, Mahasanghika), do ngài Phật Ðà-Bạt-Ðà-La
(Buddhabhadra, Giác Hiền) dịch .
(6) Luật Hữu Bộ của Da-Du-La (Căn
Bản) Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Mula-Sarvastivada).
c) So sánh 5 bộ Luật đang lưu
hành trong Phật Giáo Bắc Tông - từ (2) đến (6), Hòa thượng
Thích Trí Quang viết:
- ... "Muốn biết giữa 5
bộ luật như thế nào thì sơ khởi hãy đem giới bản của
5 bộ ra mà so sánh chút ít. Tỷ-kheo giới có 8 loại: 1 là
khí, 2 là tăng tàn, 3 là bất định, 4 là xả đọa, 5 là đọa,
6 là hối quá, 7 là học pháp, 8 là diệt tránh. Trong 8 loại
này, chỉ có 2 loại 5 và 7 là 5 bộ khác nhau: loại 5 thì Tứ
phần, Thập tụng và Hữu bộ đều có 90, Ngũ phần có 91,
Tăng kỳ có 92; còn loại 7 thì Ngũ phần và Tứ phần có 100,
Tăng-kỳ (Ma-ha-tăng-kỳ, Mahasaghika) có 66, Thập tụng có 113,
Hữu bộ có 42. Nhìn đại khái, giới điều quan trọng thì
5 bộ như nhau, giới điều linh tinh mới khác nhau. Nhìn thêm
chút nữa, giới bản của Tăng-kỳ, Ngũ phần và Thập tụng
thì lời kệ mở đầu và kết thúc đều như nhau, chỉ Tứ
phần với Hữu bộ mới khác nhau. Xét văn tự thì Tứ phần
có chậm nhất, xét bộ phái thì Tăng-kỳ có sớm nhất. Theo
ngài Pháp hiển ghi thì "luật Tăng-kỳ này khi Phật tại
thế được đại chúng đầu tiên tuân hành, được lưu truyền
tại tinh xá Kỳ-hoàn"."
So sánh với Luật Pali, phần lớn sự
khác biệt là ở Chúng học pháp (Sekhiya), trong đó, Luật Pali
không đề cập đến 26 giới điều ứng xử về tháp Phật
và tượng Phật (Luật Tứ Phần, Chúng học pháp: điều giới
số 60 đến 85). Có thể tham khảo quyển sách của Bhikkhu Dhammavuddho
nêu trên.
Xin xem thêm:
- Thích Trí Thủ, "Luật Tỳ
Kheo", Sài gòn, 1991.
- Thích Trí Quang, "Tỷ Kheo Giới",
Sài gòn, 1993.
- Thích Hành Trụ, "Luật Tứ Phần
Giới Bổn Như Thích", Sài gòn, 1995.
- Thích Thiện Siêu, "Cương Yếu
Giới Luật", Sài gòn, 1996.
d) Sau đây là phần giải thích
sơ lược các học giới - dựa theo Tứ phần luật, trích từ
quyển "Cương Yếu Giới Luật" của Hòa thượng Thích Thiện
Siêu:
* 4 pháp Cực
ác (Ba-la-di):
Bốn Ba-la-di: Ba-la-di, Phạn tự là
Pàràjjka, Tàu dịch là "Khí" - bỏ vứt ra ngoài Tăng chúng.
Tội Ba-la-di có bốn, là bốn tội phạm vào thì bị bỏ đi,
vứt đi. Mắc bốn tội này coi như bỏ ra ngoài Tăng chúng,
vì vậy gọi là Khí (vứt bỏ). Phạm tội này gọi là bất
cọng trụ, tức không được phép tham dự tất cả công việc
của Tăng. Luận Du-dà-sư-địa cho rằng khi phạm bốn tội
này gọi là Tha thắng - tức khi phạm tội nầy thì bị Ma
thắng. Vì sao? vì người tu sĩ ví như một chiến sĩ chiến
đấu với bốn thứ ma: Ma phiền não, ma ngũ ấm, tử ma, thiên
ma. Họ đánh bằng khí giới gì? Họ chiến đấu bằng cách
hành trì giới luật. Khi người tu sĩ không trì giới, không
giữ giới thì thua bốn thứ ma đó, như vậy là Ma thắng.
Do đó phạm bốn Ba-la-di cũng gọi là phạm Tha thắng. Tha là
kẻ khác, thắng là hơn. Phạm tội để kẻ khác hơn gọi
là Tha thắng. Nếu phạm tội này thì Ma hơn. Còn phạm tội
dưới tội đây thì còn dằn co, chưa phần thắng bại.
* 13 pháp Tăng
tàn (Tăng-già-bà-thi-sa):
Mười ba Tăng tàn: Phạn tự là
Samghà-vasena. Phiên âm là Tăng-già-bà-thi-sa. Tàu dịch là "Tăng
tàn". Tăng tàn có hai nghĩa:
-
Nghĩa thứ nhất: Giới luật là tính
mạng của Tăng. Khi phạm Ba-la-di coi như chết hẳn. Còn nếu
phạm Tăng tàn thì như một người chết mà chưa chết hẳn,
mới hấp hối thôi, nếu cấp cứu kịp thời, gặp thầy hay
thuốc tốt thì có thể cứu được.
-
Nghĩa thứ hai: Phạm giới này nếu
đủ hai mươi Tỷ-kheo hợp lại Kiết-ma đúng pháp, cho họ
sám hối thì có thể tiêu diệt được tội này, nên gọi
là Tăng tàn. Trong Căn bản nhất hữu bộ gọi là Chúng giáo.
Chúng là chúng Tăng, giáo là giáo dục. Chúng giáo có nghĩa
phải có hai mươi vị Tăng giáo dục cho, cho sám hối thì mới
hết tội.
* 2 pháp Bất định:
Hai bất định: Vì sao gọi là Bất
định (Aniyata)? Vì không dứt khoát tội đó là Ba-la-di hay
Tăng tàn hay Ba-dật-đề. Nó có thể thành tội Ba-la-di hay
tội Tăng tàn hoặc Ba-dật-đề theo lời trú tín Ưu-bà-di,
là vị nữ cư sĩ có lòng tin thanh tịnh kiên cố, không nhất
định nên gọi là Bất định. Hai tội này chỉ liên hệ giới
bất dâm, chứ không liên hệ các giới khác.
* 30 pháp Xả
đọa (Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề):
Ba mươi tội Xả đọa: Phạn tự
là Nissagiya-pàcittiya. Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề là phiên âm. Tàu
dịch là "Xả đọa".
Tội xả và tội đọa. Loại tội
này là chỉ các Tỷ-kheo, đồ dùng đó khi phạm vào mà trái
phép thì phải đọa. Muốn sám hối tội đó thì phải ở
giữa chúng hoặc đối một người mà xả đồ vật lấy dùng
trái phép trước rồi sám tội sau.
Nói cách khác, khi đề cập đến
tội xả đọa là các vật sở hữu của Tỷ-kheo, như y, bát,
tọa cụ... lại không làm thủ tục tác pháp thì phải làm
phép xả vật, xả tội, chừa bỏ tâm lý chứa chấp, tàng
trữ tài vật để khỏi đọa lạc, nó gồm ba mươi giới.
Ai phạm nên đưa các phẩm vật ấy ra giữa Tăng, từ bốn
vị trở lên để xả và đối trước một vị Tỷ-kheo để
nói tội và xin sám hối.
* 90 pháp Ðơn
đoạ (Ba-dật-đề):
Ba-dật-đề (Pàcittiya). Tàu dịch
là "Ðơn đọa". Nó liên quan đến các tội tiểu vọng ngữ,
cố ý sát hại côn trùng, cùng với nữ nhơn đi chung đường
v.v... gồm có chín mươi đơn đọa là tội không dính dáng
gì đến vật dụng hết. Phạm thì bị đọa thôi, không cần
xả, nên gọi là đơn đọa.
* 4 pháp Hối
quá (Ba-la-đề Ðề-xá-ni):
Bốn hối quá pháp. Ba-la-đề Ðề-xá-ni
(Pàtidesanniya), Tàu dịch là "Hướng bỉ hối". Phạm tội này
chỉ hướng tới một Tỷ-kheo khác, nói rõ lỗi lầm đã phạm
và xin sám hối. Tóm lại là tội nhỏ, có thể hối cải,
người phạm có thể nói tội với một Tỷ-kheo khác mà xin
sám hối.
* 100 pháp Chúng
học (Thức-xoa-ca-la-ni):
Một trăm Học pháp phiên âm Phạn
tự là Thức-xoa-ca-la-ni (Sikkhà Karaniya). Tàu dịch là "Chúng
học". Chúng học pháp là những pháp cần nên học. Như các
sinh hoạt hằng ngày, các oai nghi nhỏ nhặt.... Pháp này chủ
yếu là tự trách lấy mình. Ðây là tội nhỏ nhặt, tội
khó giữ nhưng hết sức dễ phạm. Khi biết phạm thì tự
trách lấy mình để ăn năn, tự hứa lần sau không tái phạm
là đủ.
* 7 pháp Diệt
tránh:
Bảy Diệt tránh pháp, tiếng Phạn
là Adhikaramà-samathà. Tàu dịch là "Diệt tránh pháp". Tức
bảy phương pháp trị tội hay bảy cách thức để chấm dứt
sự tranh cãi giữa chúng Tăng.
Bình Anson,
tháng 10-2000
(hiệu đính
tháng 11-2001)
|