c
BÀI
KỆ DUY NHẤT
CỦA
THIỀN SƯ QUẢNG NGHIÊM
Hà Thúc
Minh
Thiền sư Quảng Nghiêm (1121
- 1191) người huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Tây. Ông tu ở chùa
Thánh Ân thuộc huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, Bắc
Ninh). Ông đã để lại cho đời một bài kệ duy nhất. Thế
nhưng cho đến nay, nhiều người đã hiểu và dịch khác nhau.
Từ chỗ hiểu đến suy diễn, khoảng cách ngày càng xa. Vậy
nên cố gắng trả lại đúng ý cho tác giả bài kệ cũng là
điều cần thiết. Tác phẩm Văn học đời Lý (Mai Lĩnh xuất
bản 1943) trích dẫn trong Thiền uyển tập anh bài kệ của
Thiền sư Quảng Nghiêm, phiên âm và dịch như sau:
Thị tật
Li tịch phương ngôn tịch
diệt
Khứ sinh hậu thuyết vô
sinh
Nam nhi tự hữu xung thiên
chí
Hưu hướng Như Lai hành
xứ hành.
Dịch nghĩa :
Cáo bệnh với mọi người
Thoát kiếp rồi bàn câu
tịch diệt
Không sinh hãy nói chuyện
siêu sinh
Tài trai có chí xông trời
thẳm
Giẫm vết Như Lai luống
nhọc mình
(Ngô Tất Tố dịch)
Trong Tiểu truyện Thiền sư Việt
Nam, phái Vô ngôn thông, Khánh Vân Nguyễn Thụy Hoà lại phiên
âm và dịch khác:
Phiên âm :
Li tịch phương ngôn tịch
diệt khứ
Sinh vô sinh hậu thuyết
vô sinh
(Hai câu sau vẫn giữ nguyên)
Dịch :
Lìa vắng lặng mới nên
vắng lặng
Sống vô sinh hiểu lẽ vô
sinh
Nam nhi nung chí mau tinh tiến
Noi Phật cùng nhau gắng
thực hành.
Ý của hai bản dịch khác hẳn
nhau, một bên không theo Như Lai, một bên theo Như Lai.
Vân Thanh trong Lược khảo Phật
giáo sử Việt Nam, phiên âm giống như Khánh Vân nhưng lại
dịch khác:
Lìa tịch, mới nói
tịch diệt đi
Sanh, vô sanh, rồi mới nói
"vô sanh"
Nam nhi tự có chí xung thiên
Ðừng đến “Như Lai làm
chỗ làm”
Trong Thơ văn Lý - Trần, tập
1, Nguyễn Ðức Vân, Ðào Phương Bình phiên âm tuy khác nhưng
dịch nghĩa chẳng khác Ngô Tất Tố là mấy.
Thanh Từ trong Thiền sư Việt
Nam dịch cũng tương tự như Ngô Tất Tố.
Cũng có người phiên âm chữ
“hưu” ( ) trong câu cuối thành chữ “hựu” ( ). Ðọc là
“Hựu hướng Như Lai hành xứ hành”. Có nghĩa là “Lại
hướng theo Như Lai...”
Vậy nên hiểu như thế nào
mới đúng ý tác giả?
Theo tôi, bài kệ có lẽ nên
phiên âm và ngắt câu như sau:
Li tịch phương ngôn
tịch diệt
Sinh sinh hậu thuyết vô
sinh.
(Hai câu sau giữ nguyên)
Thiền sư Quảng Nghiêm thuộc
đời thứ 12 (Vân Thanh cho là đời thứ 11) Thiền phái Vô
ngôn thông. Tư tưởng của ông chịu ảnh hưởng của Ðại
thừa Vô ngôn thông là lẽ đương nhiên. Quan niệm về tịch
diệt của ông không giống như quan niệm tịch diệt pháp (Santa
dharma) của Tiểu thừa. Tiểu thừa đã đối lập giữa tịch
diệt và vô tịch diệt, giữa sinh tử và vô sinh tử. Quan
niệm sinh tử của Quảng Nghiêm cũng là quan niệm của Thiện
Hội. Qua đối đáp giữa thiền sư Vân Phong, đời thứ tư
và Thiện Hội, đời thứ ba Thiền phái Vô ngôn thông cũng
có thể hiểu rõ hơn về quan niệm tịch diệt, sinh tử của
Quảng Nghiêm:
“Vân Phong hỏi Thiện Hội
làm sao tránh được sinh tử?
Thiện Hội: Ði vào chỗ sinh
tử.
Vân Phong : Chỗ sinh tử là
chỗ nào?
Thiện Hội : Nó nằm ngay trong
chỗ sinh tử.
Vân Phong : Làm sao hiểu được
điều đó ?
Vân Phong chưa hiểu được
ý Thiện Hội và Thiện Hội cũng chưa thể làm cho Vân Phong
hiểu được.”
Có thể nói Quảng Nghiêm đã
làm rõ thêm quan niệm của Thiện Hội:
Li tịch phương ngôn tịch
diệt
Nghĩa là bất sinh - bất diệt
nằm ngay trong sinh - diệt. Tam luận tông cho rằng “sinh tức
vô sinh”. Có nghĩa là tục đế gọi là sinh, thực ra là “giả
sinh”, co nghĩa là do nhân duyên hoà hợp mà thành. Cho nên
cái mà tục đế gọi là sinh, chân đế gọi là vô sinh.
Bát bất duyên khởi (không
chi duyên khởi) của Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung luận cũng
cùng ý đó: “Bất sinh diệc bất diệt, bất thường diệc
bất đoạn, bất nhất diệc bất dị, bất lai diệc bất khứ”.
Câu thứ hai của bài kệ, Ngô
Tất Tố phiên âm như trên e rằng không phù hợp với ý của
tác giả bài kệ:
Khứ sinh hậu thuyết vô
sinh
Chữ khứ ( ), có lẽ do
chữ sinh ( ) bị đọc nhầm. Vậy nên đọc là:
Sinh sinh hậu thuyết vô
sinh
“Sinh-sinh” (jati-jati), có
nghĩa là sống trong cuộc sống bình thường, cuộc sống sinh,
tử. Có sống trong cuộc sống sinh tử rồi mới có quyền
nói về vô sinh vô tử. Sinh (jati) cũng tức là vô sinh (ajati).
Kinh Dịch, Hệ từ truyện cũng
có khái niệm “sinh sinh”: “Sinh sôi nảy nở đó là Dịch”
(Sinh sinh chi vị Dịch). Sách Trang Tử, thiên Ðại Tông sư
cũng có khái niệm này : “Sát sinh giả bất tử, sinh sinh
giả bất sinh”. Nguyễn Duy Cần giải thích “Sinh sinh là
sống theo cái sống của tư dục”. Có nghĩa là những ai diệt
được lòng ham sống thì sẽ không chết, còn những ai ham
sống thì không phải thực sự sống.
Câu thứ tư của bài kệ “Hưu
hướng Như Lai hành xứ hành”. Muốn hiểu đúng câu này phải
đặt nó trong lôgích của hai câu trên, đồng thời cũng cần
làm rõ khái niệm Như Lai. Theo Phật học đại từ điển (1):
Như Lai, Sanskrit là Tathàgata. Thông thường có thể tách ra
thành Tathà và àgata. Tathà có nghĩa là “như vậy”, tương
đương với từ “such” trong tiếng Anh. àgata nghĩa là “đến”
(lai). Hợp lại là Như Lai, chỉ nhân cách. Thực ra Tathàgata
có năm cách hiểu khác nhau:
1. Tathà-gata, chỉ những người
đi vào cõi Niết Bàn theo con đường của chư Phật.
2. Tathà-àgata, chỉ những
người đã đạt được chân lý.
3. Tathà-àgata, chỉ những
người đạt được chân lý giống như chư Phật trong quá
khứ.
4. Tathà-àgata, chỉ những
người đi theo con đường đức Phật đã đi nhưng hiện thân
ở thế gian.
5. Tathà-àgata, chỉ những
người theo chân lý hiện thân ở thế gian
Ba cách hiểu trước là cách
hiểu của Tiểu thừa. Hai cách hiểu sau là cách hiểu của
Ðại thừa (không xa rời thế gian). Như vậy Quảng Nghiêm
đã hiểu Như Lai (Tathàgata) theo cách hiểu của Ðại thừa
Vô ngôn thông, có nghĩa là người theo chân lý như đức Phật
nhưng lại hiện thân ở thế gian (khác với Tiểu thừa).
Bài kệ có thể phiên âm như
sau:
Li tịch phương ngôn
tịch diệt
Sinh sinh hậu thuyết vô
sinh
Nam nhi tự hữu xung thiên
chí
Hưu hướng Như Lai hành
xứ hành.
Tạm dịch :
Xa lìa cõi tịch rồi
mới nói tới tịch diệt
Sinh trong đời thường (tục
đế) rồi mới nói đến vô sinh (Chân đế)
Làm trai (hoặc người tu
hành) cần có chí lớn
Ðừng theo vết cũ lối
mòn của người đi trước.
Toàn bài kệ ý muốn khuyên người
tu hành phải tuân theo tôn chỉ cúa đạo Phật. Nhưng không
cần tìm Bồ đề ở đâu xa mà chính ngay ở cuộc sống sinh
tử của thế gian. Vậy nên người tu hành cần phải có ý
chí, tự mình “thắp đuốc lên mà đi”, chứ đừng chỉ
bắt chước theo người khác.
Vì vậy đầu đề của bài
kệ có lẽ không nên ghi “Ðừng theo bước Như Lai”
(Hưu hướng Như Lai) như trong Thơ văn Lý - Trần.
Bài kệ của Quảng Nghiêm chứng
tỏ Thiền sư Việt Nam đã lãnh hội ý chỉ của Thiền Vô
ngôn thông một cách sâu sắc.
Ghi chú:
(1) Thương vụ ấn thư quán
Quốc tế hữu hạn công ty. Bắc Kinh, 1994
|