TẬP 05
CHƯƠNG
XXIV
BA
ANH EM NHÀ HỌ ÐOÀN
Dưới
triều vua Ðột Quyết nước Nhục chi, có quan Tham tri bộ Hộ
là người thanh liêm trung chính, rất được dân chúng và bạn
đồng triều kính nể. Quan sanh được bốn người con, ba
trai, một gái. Cô con gái đầu lòng đã có gia thất, theo chồng
đi làm quan ở một tỉnh xa. Ba cậu con trai kế tiếp theo thứ
tự là: Ðoàn Tín, Ðoàn Danh, và Ðoàn Hiệp.
Ba
anh em suýt soát tuổi nhau, cùng học một trường, cùng sống
với nhau dưới một mái nhà, nhưng tánh tình không giống nhau.
Ðoàn
Tín, người anh đầu ỷ cha mẹ giàu có, thích chơi hơn ham
học. Anh ta tin ở số phận đã an bài sẵn, cái gì cũng do
tiền định cả, dù mình có nhọc công hao sức cần cù chăm
chỉ mà số nghèo vẫn cứ nghèo. Trái lại, nếu mình có số
giàu sang thì dù có hốt của đem đổ đi, của cũng cứ đến.
Ðoàn
Danh, người con trai thứ hai, trái lại, cần cù, chăm chỉ
học hành, nhưng hay đau ốm. Anh tin ở mồ mả họ hàng mình
là dòng khoa bảng nên sau này thế nào anh cũng trở thành một
người khoa bảng, làm rạng rỡ tông môn.
Ðoàn
Hiệp, người con trai út, đúng như cái tên gọi, là một trang
thanh niên hào hiệp. Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng anh đã có chí
lớn, hằng mong mỏi đem cái sở học để sau này phò vua giúp
nước, chứ không muốn trở thành một con mọt sách, hay một
cái đãy đựng chữ thánh hiền.
Do
tánh tình khác nhau đó, mà ba anh em thường hay khích bác nhau,
mỗi khi ngồi lại với nhau là thế nào cũng sanh sự cãi vã,
không ai chịu cho ai là phải.
Quan
Tham tri họ Ðoàn thực khổ tâm vì sự bất hòa của ba đứa
con trai, và luôn luôn phải làm trọng tài để hòa giải sự
xung đột của họ. Tuy vậy, quan cũng không hẳn vô tư, vì
trong ba người con trai, quan có vẻ dành nhiều thiện cảm,
nhiều quí mến đối với Ðoàn Hiệp, đứa con út mà tánh
tình có nhiều điểm giống mình. Trái lại, bà vợ quan thì
lại thường tỏ ra thiên vị người con đầu là Ðoàn Tín,
vì quan niệm về cuộc đời lại có nhiều điểm giống bà.
Do
đó, sự bất hòa giữa các con nhiều lúc trở thành nguyên
nhân cho sự bất hòa giữa hai cha mẹ, vì ai cũng muốn binh
vực cho đứa con “hạp tuổi” của mình.
Thế
rồi một hôm Triều đình vua Ðột Quyết phát động chiến
dịch phổ biến “BÀI HỌC NGÀN VÀNG” cho các quan trong triều
và người ngoài dân chúng áp dụng.
Hôm
ấy, sau khi bãi chầu, quan Tham Tri họ Ðoàn cũng như các vị
triều thần khác đdều được vua ban cho một tấm biển có
khắc “Bài học ngàn vàng” với mấy chữ: “Phàm làm việc
gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó”.
Quan
đem về đặt lên án thư và gọi ba con đến để giảng về
ý nghĩa của bài học. Sau khi tường thuật sự xuất xứ và
những lợi ích lớn lao thiết thực mà “Bài học ngàn vàng”
đã đem đến cho nhà vua, quan cất cao giọng hỏi:
- Các
con nghĩ thế nào về “Bài học ngàn vàng” này?
Ba
anh em theo thứ tự lớn nhỏ, lần lượt trả lời. Ðoàn Tín
nói:
- Theo
con thì phàm mọi việc xảy ra trong đời đều do tiền định
cả. Muốn làm giàu, mà số mình nghèo, thì dù có làm ra tiền
vàng bạc bể, rồi tay trắng cũng hoàn tay trắng. Cho nên dù
suy nghĩ cho chín chắn mọi việc mình làm, kết quả chưa chắc
đã đúng như ý mình suy nghĩ.
Ðoàn
Danh, người con thứ hai, cãi lại:
- Anh
nói như vậy không đúng. Mọi việc không phải do trời sắp
đặt, mà do phúc ấm của dòng họ, mồ mả của tổ tiên
mà ra. Dòng họ mình có mồ mả đỗ đạt, làm quan thì dù
có vất sách vào bụi, cũng cứ đỗ đạt làm quan. Trái lại,
nếu không có mả, thì dù có văn chương chữ nghĩa hơn đời,
cũng cứ phải nằm co trong xó bếp, chẳng làm nên được
danh phận gì. Cho nên cũng không cần suy nghĩ về hậu quả
của việc mình làm, làm gì cho mệt trí. Cứ lo tu bổ mồ
mả, cúng vái ông bà cho thành kính, là được.
Ðoàn
Hiệp, người em út, nghe hai anh nói, không dằn được sự
bực tức, lớn tiếng cãi lại:
- Sai,
sai bét tất cả! Nhà ta có thờ Phật, tin Phật mà hai anh nói
nghe như là những kẻ mê tín dị đoan gì đâu! Ðức Phật
dạy chúng ta tin thuyết nhân quả, gieo nhân nào, gặt quả
ấy, chứ đâu có dạy chúng ta tin trời, tin đất, tin mả,
tin mồ, tin, tin dòng, tin họ? Chúng ta có bổn phận cúng bái
ông bà, săn sóc mồ mả là vì lòng tri ân đối với những
vị đã sinh thành chúng ta , là vì lòng thương yêu tôn kính
đối với các bậc trưởng thượng, chứ đâu phải để nhờ
vả, cầu xin các ngài làm nên cửa, nên nhà, nên chức, nên
tước cho chúng ta?
Quan
Tham Tri nghe Ðoàn Hiệp nói tỏ vẻ tán thành, gật đầu luôn
mấy cái. Ðoàn Hiệp càng thêm phấn khởi, định nói thêm
nữa, nhưng vừa lúc ấy, mẹ chàng ở sau màn the bước ra,
nghiêm nét mặt, mắng chàng:
- Mày
ăn nói ngạo mạn, không biết giữ gìn, thật quá phạm thượng
đối với trời đất, thánh thần, tiên tổ. Mày làm như trên
đầu trên cổ không có ai hết. Mày phải chừa cái tánh tự
tin, tự phụ của mày đi, thì may ra mới khá được.
Mắng
con xong, bà quay sang quan Tham Tri, nói có vẻ trách:
- Ông
cứ để cho thằng Hiệp ăn nói hỗn xược, không kể trời
đất gì cả, có ngày mang họa cả gia đình. Ông cũng biết
dòng họ mình là dòng họ mấy đời làm quan nhờ phúc ấm
của Tổ tiên. Nay ông nghe nó nói như vậy mà không rầy la,
còn tỏ vẻ tán thành, thì chẳng khác gì bắc thang cho nó
leo; rồi tai họa xảy đến, không biết đâu mà lường.
Ðoàn
Tín và Ðoàn Danh nghe mẹ mắng em, rất lấy làm hả dạ, nhưng
vì có cha ngồi đó nên không dám tỏ vẻ hài lòng ra mặt.
Quan Tham Tri nghe vợ trách, vẫn không đổi sắc mặt, ôn tồn
nói:
- Bà
đừng nên cả vú lấp miệng em như vậy. Mỗi người đều
có những ý nghĩ và tư tưởng riêng của họ. Mình nên để
cho con cái tự do phát biểu ý kiến, để mình hiểu rõ chúng
nó hơn, chứ cứ bắt chúng nghĩ và nói theo khuôn rập của
mình thì thật là hẹp lượng và rồi cũng chẳng biết được
chúng nghĩ gì, mặc dù chúng vẫn ở sát nách bên cạnh chúng
ta.
- Ông
thì lúc nào cũng cứ cái kiểu tự do quá trớn ấy! Con cái
mà không ngăn cản bớt bớt thì có ngày chúng leo lên đầu
lên cổ mà ngồi.
- Bà
có biết vì sao tôi để cho chúng tự do phát biểu ý kiến
không? – Vì tôi muốn xem chúng nó có phản ứng như thế
nào về “Bài học ngàn vàng”. Tôi muốn để cho chúng nó
suy nghĩ tự do, rồi đứa nào suy nghĩ như thế nào, cứ làm
như thế ấy. Ðứa nào nghĩ thế nào thì kinh nghiệm thực
tế sẽ cho nó thấy là đúng hay sai. Như vậy hay hơn là cứ
nhứt cử nhứt động bắt nó phải theo ý của mình, mà có
nhiều khi ý của mình cũng chưa chắc là đúng. Quan Tham muốn
ám chỉ đến cái lòng tin tưởng về mồ mả dòng họ của
vợ, nhưng không muốn nói rõ hơn, sợ bà nổi giận, thêm
ồn nhà ồn cửa.
Bà
Tham, là người tinh ý, nhận thấy chồng muốn chỉ trích khéo
mình, nói một cách bực tức:
- Ông
có muốn thí nghiệm xem ý kiến của ông có đúng hay sai thì
mặc ông, chứ còn ý kiến của tôi, thì không cần thí nghiệm
cũng biết là đúng.
Nói
xong bà ngoe ngẩy đi nhanh vào phòng. Quan Tham nhìn theo, mỉm
cười mai mỉa ...
Quan
xoay lại, nói với ba cậu con:
- Thôi
cho các con về phòng. Còn “Bài học ngàn vàng”, các con muốn
theo hay không tùy ý.
CHƯƠNG
XXV
ÐOÀN
TÍN NGHE LỜI THẦY TƯỚNG SỐ
Mấy
hôm sau khi được cha cho tự ý áp dụng hay không “Bài học
ngàn vàng” của vua, Ðoàn Tín vẫn sống theo nếp cũ của
mình, nghĩa là bất luận sắp làm một việc gì quan trọng
cũng đi hỏi trước mấy ông thầy bói khoa tướng số. Hể
nghe ở đâu có ông Thầy bói hay, tướng số giỏi, thì dù
khó khăn mấy, anh chàng thư sinh ấy cũng tìm đến xem cho được.
Cho nên tất cả các ông thấy tướng số đều biết danh cậu
Ðoàn Tín, không những biết cậu bao nhiêu tuổi, con ai, cháu
ai, tánh tình ra sao, mà còn biết cả đến những chi tiết
trong nhà cậu: tánh quan Tham thế nào, bà Tham ra sao, nhà xây
về phía nào, có mấy cây cau, bao nhiêu con chó, con mèo ...
Tiền cậu bỏ ra để xem khoa tướng số, dồn lại, có thể
thành một cái gia tài nho nhỏ. Thầy bói ăn tiền của cậu
nhiều, nên thường tâng bốc cậu để giữa mối. Cho nên
đi đâu, cậu cũng nghe nói số cậu sang giàu, tánh mạng
vững, con đông, vợ giỏi. Cậu tin lời họ nói, tin ở số
mạng của mình, và đi đâu cũng khoe mình tốt số.
Thời
ấy ở triều đình vua Ðột Quyết vì cần nhiều nhân tài
nên năm nào cũng có mở khoa thi. Ðoàn Tín đã 22 tuổi, Ðoàn
Danh 20 tuổi, và Ðoàn Hiệp 18 tuổi đều có đủ điều kiện
để dự thi cả.
Ðoàn
Tín đã hai lần ứng thí, nhưng đều trợt vỏ chuối. Chàng
không lấy thế làm buồn, vì chàng tin chắc thế nào chàng
cũng sẽ vinh hiển, chỉ vì thời chưa đến, nên phải ẩn
nhẫn đợi chờ đó thôi.
Lần
này, trước kỳ thi 5, 6 tháng. Chàng lại đi bói để xem kết
quả ra làm sao. Ông thầy bói này tiếng đồn hay nhất kinh
đô, nói đâu trúng đó. Tại nhà ông, khác hàng vô ra nườm
nượp, nếu không hẹn trước, thì phải đợi chờ suốt buổi
chưa chắc đã đến phiên mình. Có cái kinh nghiệm như vậy,
nên Ðoàn Tín đã cho gia nhân đến nhà ông Thầy Mạnh –
vâng tên ông là Mạnh - để hẹn trước ngày mai đến bói.
Nhờ đó thầy Mạnh có thì giờ điều tra thêm những sự
việc vừa xảy ra trong nhà quan Tham họ Ðoàn, và biết trước
Ðoàn Tín sẽ đến bói về chuyện gì.
Hôm
ấy, Ðoàn Tín mời cả bà Tham, mẹ mình, đi theo nữa. Bà
Tham cũng muốn biết trước kết quả của việc thi cử cửa
con nên không từ chối lời mời của con. Vả lại, bà cũng
là một “con sâu mê bói toán”.
Thầy
Mạnh sau khi chào hỏi hai mẹ con Ðoàn Tín, ngồi trầm ngâm
có vẻ buồn. Hai mẹ con tôn trọng sự im lặng của thầy
Mạnh, nhưng không khỏi bồn chồn trong bụng vì đoán biết
chắc sẽ có việc chẳng lành xảy ra. Hồi lâu, thầy Mạnh
mới cất tiếng nói, vẻ buồn bã:
- Thật
là bất hạnh! Gia đạo của bà mấy hôm nay không được yên.
Và điều đó có ảnh hưởng không tốt đến việc thi cử
của cậu tín. Ðáng lẽ năm nay cậu thi đỗ mà đỗ cao nữa
là khác nhưng chỉ vì một câu nói phạm thượng của cậu
em út, xúc phạm đến các đấng trên đầu trên cổ mà cậu
phải hiển đạt trễ đi một năm.
Hai
mẹ con nghe nói tái người, không ngờ quẻ bói linh thiêng,
nói trúng phong phóc đến thế. Ðoàn Tín vừa buồn vừa giận:
Buồn vì sẽ hỏng thi, giận vì có thằng em ngỗ nghịch không
tin trời tin đất, ăn nói ngạo mạn để di họa cho chàng.
Bà
Tham ngồi xích lại bên thầy Mạnh, phân trần:
- Tôi
đã có la mắng thằng Út rồi. Tôi biết nó nói bậy, nhưng
không bịt miệng nó kịp. Tôi bực ông nhà tôi hết sức,
cứ nuông chiều, khuyến khích nó, nên nó được trớn, nói
càn nói dở. Thiệt khổ cho thằng Tín. Nhưng lỗi ai nấy chịu,
chứ sao lại bắt họa lây? Nhờ thầy có cách gì, chỉ bảo
để cho nó khỏi phải thiệt thòi, tội nghiệp.
Thầy
Mạnh trầm ngâm đếm đi đếm lại mấy đốt ngón tay, rồi
tuyên bố:
- May
ra thì cũng có còn có thể cứu vãn được.
- Thưa
Thầy, còn cứu vãn được à? May quá. Nam Mô A Di Ðà Phật!
Nam Mô A Di Ðà Phật! Xin ngài cứu độ cho con tôi được nhờ!
Thầy
Mạnh nghe bà cầu cứu lộn cửa, tỏ vẻ không bằng lòng.
Thầy dạy:
- Ðức
Phật cũng chẳng làm được gì trong vụ này. Cậu Út đã
lỡ lời phạm thượng vị nào thì phải cầu xin với vị
ấy.
Bà
tham vội vã đính chính:
- Dạ
vâng, dạ vâng, tôi nói lộn. Ðáng lẽ phải cầu khẩn với
Ngọc hoàng Thượng đế, với Nam Tào Bắc Ðẩu, với mười
hai mụ bà, mười ba mụ bóng, với với ...
Thầy
Mạnh cản lại:
-
Thôi thôi, chừng ấy cũng đủ rồi. Bà về, cứ đêm đêm
thắp hương giữa trời mà khấn vái vói các vị ấy, may ra
câu Tín có thể đỗ được kỳ này. Nhưng nếu không đỗ
kỳ này, thì còn kỳ sau. Không đỗ kỳ sau nữa, chứ số
cậu Tín là số khoa bảng, ít ra cũng giựt được cái Tiến
sĩ, Phó bảng về cho bà.
Lời
an ủi của thầy Mạnh làm hai mẹ con hài lòng. Họ trả thầy
một số tiền lớn hơn mọi lần bói trước, rồi ra về.
Từ
đó, đêm nào bà Tham cũng thắp hương lâm râm ra giữa sân
nhà, khấn vái trời đất qủy thần cho đứa con đầu lòng
của mình sớm dỗ đạt. Và cậu Tín thì trái lại, cứ phây
phây ngủ sớm dậy trưa, không thiết gì học hành, vì cậu
nghĩ có siêng năng học hành thì số hỏng kỳ này cũng không
làm sao cải số được “Nhứt ẩm nhứt trát, giai do tiền
định”.
Nhưng
một hôm, cậu đi ra phố chơi với một người bạn, hai người
rủ nhau vào giải khát ở một tửu lầu bên đường. Hai người
đang chén tạc chén thù, ngà ngà say thì có một ông già đầu
bạc phơ, mặc áo lụa trắng, chân đi hài nhung, chống gậy
bước vào. Sau lưng ông già, có một đứa tiểu đồng bưng
một cái tráp sơn đen. Ông già đứng dừng lại ngắm hai chàng
thanh niên rồi gật gù cái đầu, tỏ vẻ đắc ý. Ðoàn Tín
và bạn thấy bộ điệu ông già khả kính nên đứng dậy
,mời ông ngồi vào bàn mình. Ông già không từ chối, ngồi
xuống một cái ghế ở trước mặt Ðoàn Tín, và chăm chú
nhìn chàng. Một hồi lâu, ông cất tiếng nói với chàng:
- Cậu
đang có chuyện buồn, phải không?
Ðoàn
Tín ngạc nhiên hỏi lại:
- Sao
ông già biết được, giỏi thế?
- Lão
xem tướng. Nhưng cậu buồn về chuyện gì, có thể cho lão
biết chăng?
Ðoàn
Tín ngập ngừng một lúc rồi trả lời:
- Quả
thật tôi đang có chuyện buồn, vì kỳ thi này tôi sẽ hỏng.
Ông
già phát lên cười, nắm chén rượu mà Ðoàn Tín đã rót
sẵn để trước mặt mình lên uống một hơi, rồi gật gù
cái đầu, nhìn chàng một hồi nữa. Ông nói:
- Tướng
cậu như thế mà hỏng thi? Ai đoán vậy, đem ra căng nọc đánh
một trăm roi.
- Một
ông thầy bói có tiếng hay nhất ở Kinh đô. Nhưng ông già
không cần biết làm gì cho mệt.
- Lão
cần biết để đập mu rùa hắn cho rồi. Thầy bói thấy khoa
gì mà ngu thế! Tướng cậu mà năm nay hỏng thi thì tướng
nào mới đậu? Lão nói cho cậu biết, tướng cậu hưng vượng
lắm. Tướng này mà không đỗ ít nhất là Tiến sĩ, Phó bảng
trong năm nay, thì cậu hãy chặt cái đầu của lão đi. Lão
làm thầy tướng đã 50 năm nay chưa gặp một người
nào có được cái tướng phát hiện về khoa bảng như cậu.
Lão cam đoan với cậu, cậu cứ về đắp chăn ngủ, đừng
cần học hành gì cả, đến kỳ thi, vẽ rồng vẽ rắn trong
giấy, rồi cũng cứ đậu cho mà xem.
Ðoàn
Tín nghe ông già nói, mừng như mở cờ trong bụng, nhưng cũng
cứ tỏ vẻ nghi ngờ:
- Người
ta bảo số tôi phát đạt chậm mới tốt. Nên tôi không tin
năm này có thể đỗ được.
Ông
già tỏ vẻ bất bình, lúc lắc cái đầu rồi đứng dậy:
- Tôi
nói vậy đó mà cậu không tin tôi thì thôi. Nhưng nếu năm
nay cậu đỗ thì xin đến cái địa chỉ này cho tôi biết
nhé.
Ông
già vừa nói vừa mở tráp ra đưa cho Ðoàn Tín và bạn chàng
mỗi người mỗi cái thiếp màu hồng có ghi địa chỉ và
mấy chữ: “Ðại chiêm tinh gia, đại tướng số gia Huỳnh
Sổ”
Ðoàn
Tín nắm tấm thiếp cất kỹ vào túi áo và trao cho ông già
một nén bạc. Ông già thối thác một hồi, nhưng cuối cùng
cũng bỏ nén bạc vào tráp và lễ phép cáo từ.
Từ
hôm đó, Ðoàn Tín trở thành vui vẻ, không đắp chăn nằm
ngủ li bì như trước nữa. Chàng ăn nói hoạt bát, tự tin
hơn, đi chỗ này, chỗ khác, khoe khoang với bạn bè thế nào
kỳ thi này mình cũng đỗ, mà đỗ cao.
Mẹ
chàng cũng vui lây vì nghe tin con mình sẽ đỗ. Tuy bà không
nói ra, nhưng bà đinh ninh rằng sỡ dĩ Ðoàn Tín mà được
cải số như vậy là vì lòng thành của bà, đêm đêm khấn
vái trời đất quỷ thần, nam tào bắc đẩu, mười hai mụ
bà, mười ba mụ bóng của bà mà ra.
Thấy
lòng thành của mình đã có hiệu quả, bà càng phấn khởi,
mỗi đêm thắp hương khấn vái lâu hơn, nhiều hơn. Trong khi
ấy thì Ðoàn Tín cũng tin ở số khoa bảng của mình, không
cần phải chăm lo đèn sách làm gì cho mệt xác. Trước kia
chàng thường tự bảo: “Số hỏng thi thì dù có chăm chỉ
học hành cũng cứ hỏng”.
Bây
giờ chàng lại tự bảo: “Số thi đỗ thì dù có vất sách
vào bụi, nằm ngáy khò khò cả ngày, cũng cứ đỗ, mà đỗ
cao nữa”.
Thành
ra trong hai trường hợp, trường hợp nào chàng thấy cũng
chẳng cần học hành chăm chỉ làm gì cả.
CHƯƠNG
XXVI
ĐOÀN
DANH TIN CÓ MẢ LÀM QUAN
Ðoàn
Danh tương đối chăm chỉ học hành hơn anh nhiều. Nhưng chàng
thường hay đau ốm, vì chàng sanh thiếu tháng. Có lẽ vì lý
do đó mà bà Tham nâng nui, chiều chuộng chàng hơn cả trong
ba người con trai. Có nhiều lúc đang vui vẻ học hành, chàng
bỗng ngã bịnh đến bốn năm hôm mới khỏi. Cho nên dù có
chăm chỉ, mà sức học của chàng không có gì suất sắc.
Nhiều lúc chàng thấy mình đã cố gắng nhiều, nhưng vẫn
không thành công như ý muốn. Do đó, chàng có cảm tưởng
như có một mãnh lực gì ở ngoài đang chi phối chàng, ảnh
hưởng đến chàng, khiến chàng không thể tự chủ được.
Mẹ
chàng thường thuật lại cho chàng nghe khi bà có thai chàng
được bảy tháng, một hôm bà đang nằm ngủ ở phía chái
tây, bà nằm mơ thấy một ông già đầu tóc bạc phơ, chít
một cái khăn điều, mặc áo xanh quần đỏ, chống gậy bước
vào cửa. Bà chưa kịp ngồi dậy thì ông cụ già lấy gậy
khẽ gõ vào chân bà, bảo bà đi chỗ khác mà nằm, vì ở
đó là nơi đi về của các vị gia tiên. Bà kinh hoảng vùng
dậy đi kiếm chỗ khác nằm, và vì xúc động quá, bà sanh
chàng chỉ mới có 7 tháng. Do đó chàng không được mạnh
khỏe như những đứa trẻ khác. Sau này bà tả lại hình dáng
của ông cụ già ấy, thì bà cố của chàng bảo rằng đó
là ông sơ của chàng, một vị tiên nhân rất hiển linh, của
dòng họ Ðoàn và đã phò hộ cho con cháu trong họ đều được
giàu sang vinh hiển, đỗ đạt làm quan.
Ðoàn
Danh nghe thuật lại câu chuyện ấy, không khỏi có đôi chút
tủi buồn, vì mẹ chàng khi có thai chàng, không được vị
tiên nhân ấy hỏi han mà lại còn xua đuổi mẹ con chàng đi
chỗ khác. Chàng thấy mình xấu số hơn những người khác
trong họ vì không có diễm phúc được ông sơ săn sóc hỏi
han. Cái mặc cảm lớn dần theo với tuổi tác của chàng,
và chàng nghĩ rằng muốn được ân huệ của vị tiên nhân
ấy thì phải săn sóc mồ mả, cúng bái linh đình cho tất
cả những vị quá cố trong dòng họ. Chàng bỏ nhiều thì
giờ trong công việc ấy, cho nên lại càng được bà Tham quý
mến. Nói một cách bóng bẩy chàng đã quay về quá khứ để
xây đắp tương lai cho mình.
Theo
chàng, thì chàng muốn đổi “Bài học ngàn vàng” lại như
sau: “Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến dòng họ,
tổ tiên”. Làm mất thanh danh của dòng họ, trái với ước
nguyện của tổ tiên thì thế nào cũng thất bại, chưa nói
là sẽ bị âm báo. Trái lại, theo đúng truyền thống của
ông cha, giữ gìn danh tiết, chăm chỉ học hành thì thế nào
cũng sẽ được ông bà phò hộ, tổ tiên giúp cho được vinh
hiển sang giàu.
Trước
kỳ thi năm ấy, Ðoàn Danh vẫn chăm chỉ học hành, nhưng chàng
bị đau ốm liên miên và hay có chứng nhức đầu. Bà Tham
nghi là có ngôi mộ nào trong họ không yên. Bà cho mời các
tay địa lý có tiếng đi xem lại các ngôi mộ. Người này
nói ngôi mộ này bị rễ cây đâm vào phía đầu, người kia
bảo ngôi mộ kia bị sụp ở phía dưới, người khác bảo
ngôi mộ của vị khai canh bị mối ăn ... Bà không biết tính
sao, vì không lẽ cứ dời mãi các mộ. Vả lại quan Tham không
tin ở các ông thầy địa lý, thường bảo rằng: “Bọn ấy
kiếm chuyện để ăn tiền, chúng cứ muốn người ta dời
mộ mãi để trục lợi”. Bà Tham không bằng lòng cái lối
nói khinh bạc của chồng, nhưng trong thâm tâm bà cũng thấy
lời ông nói có phần đúng, vì tất cả các mộ ấy đã lần
lượt có dời cả rồi mà đâu có yên. Nhưng dù sao bà vẫn
tin rằng thằng con thứ của mình không được ăn chơi khỏe
mạnh như mấy đứa khác là có một ngôi mộ nào đó bị
động, nhưng vì chưa có vị địa lý nào giỏi để khám phá
ra đó thôi.
Một
hôm bà mừng rỡ nghe tin ở núi Hàm Long có một thầy địa
lý quái kiệt, tinh thông mạch đất như biết rõ lòng bàn
tay mình. Bà lặn lội tìm đến ra mắt vị địa lý ấy và
khóc lóc thảm thiết để mong cầu thầy rũ lòng thương hại,
cứu giúp cho con bà ati qua nạn khỏi để tiếp tục học hành,
kịp kỳ ứng thí.
Thầy
không nỡ từ chối một bà quan đã hạ mình cầu khẩn thầy.
Thầy dạy phải làm thịt một con gà trống để thầy xem
giò. Bà vâng lời làm gà, luộc bộ giò gà hết sức chu đáo.
Trước khi đưa cho thầy xem, bà đã nhìn qua để xem có gì
khác không, vì bà cũng đã từng xem ít nhất vài trăm cặp
giò gà, từ khi về nhà chồng trong những vụ dời mã, nên
bà cũng thuộc hạng rành xem giò gà. Bà nắm từng chiếc giò
ga, lần lượt lật qua lật lại, nhưng không thấy có hiện
tượng gì khác, cặp giò vẫn trắng trẻo, không có những
đường gân máu đen, mấy móng chân gà vẫn quặp vào một
cách đều đặn tự nhiên.
Nhưng
khi bà đem vào cho thầy xem, thì mới nhìn qua, thầy đã thấy
ngay những điều khác lạ. Thật là tài tình! Thầy chỉ cho
bà xem ở giữa hai cái móng chân bên phải, một cái chấm
đen nhỏ bằng mũi kim hiện ra, chung quanh có một đường viền
nho nhỏ bằng sợi chỉ màu tím bầm. Thầy suy nghĩ một hồi
rồi dạy:
- Ðấy
là ngôi mộ tứ đại về phía bên bà cụ, chứ không phải
bên phía cụ ông. Ngôi mộ này phía trên đầu bị một vật
kim khí ém sâu vào, nên con cháu hay đau đầu. Nên dời gấp.
Tôi sẽ tìm một huyệt khác, về sau con cháu hai họ sẽ hoạnh
phát về khoa bảng. Bà Tham mừng rỡ, rước thầy về quê
nhà mình, trình với ông Trưởng tộc về ngôi mộ động mà
thầy đã chỉ cho biết và xin đề nghị với ông dời ngay,
bao nhiêu phí tổn bà xin chịu hết.
Ngôi
mộ sau khi được đào lên, không còn gì hết, hài cốt lâu
đời đã hóa thành đất xám. Nhưng thầy cố lục lạo mãi
và cuối cùng, cũng tìm ra được một cục cứt sắt nhỏ
bằng hai ngón tay. Dù sao thì đó cũng là một loại kim khí!
Thầy được mọi người trong họ bà Tham trầm trồ khen ngợi.
Ðoàn
Danh được chứng kiến vụ dời mộ ấy, càng thêm tin tưởng
về ảnh hưởng mồ mả đối với người sống. Từ đây
chàng tin chắc thế nào chàng cũng thi đỗ trong kỳ thi sắp
tới.
CHƯƠNG
XXVII
ÐOÀN
HIỆP TIN Ở LUẬT NHÂN QUẢ
Khác
với hai anh, Ðoàn Hiệp không tin ở trời đất quỷ thần,
cũng không tin ở mồ mả dòng họ. Chàng thường tự bảo
rằng mọi sự việc ở đời đều do mình chủ động cả.
Do đó, sau khi được quan Tham đem “Bài học ngàn vàng” về
nhà, chàng xin chép ngay một bản, dán lên tường trước bàn
học của mình. Sáng nào chàng ngủ dậy cũng nhìn lên bài
học đọc ngầm trong miệng: “Phàm làm việc gì, trước phải
xét kỹ đến hậu quả của nó”.
Trong
khi hai mình, một người lo đi xem bói khoa tướng số, một
người lo đi theo các ông thầy địa, xem dời mả dời mồ,
thì Ðoàn Hiệp chăm chỉ học hành, sáng chiều không xao lãng.
Nhờ vậy, mặc dù nhỏ tuổi, học sau hai anh, văn chương chữ
nghĩa của chàng vẫn vượt trội hẳn hai anh. Quan Tham thấy
con út mình tánh tình đứng đắn, lại học hành mau tấn phát
nên rất quý mến chàng. Quan thấy chàng học được nên thường
những lúc rãnh việc, quan đem văn chương thi phú ra đàm luận
với chàng. Hai cha con rất tâm đầu ý hiệp, và tin chắc kỳ
thi này, chàng sẽ chiếm bảng khôi nguyên.
Hai
anh chàng thấy chàng được cha yêu quý, không khỏi nổi lòng
ganh tỵ, cho rằng ông thân mình ăn ở không cân, chứ không
thấy rằng chính tại họ đã tìm cách thoát ra ngoài vòng
đùm bọc, chỉ dạy của cha mình.
Quan
Tham thấy hai đứa con trai đầu của mình cứ theo mẹ đi sâu
vào con đường mê tín dị đoan, nhiều lần muốn khuyên bảo,
răn dạy chúng trở về nẻo chính. Nhưng quan vốn có tánh
tự do phóng khoáng, muốn để cho chúng tự tìm lấy những
kinh nghiệm bản thân, để rồi răn bảo sau mới có hiệu
quả chắc chắn.
Bà
Tham thấy chồng để cho mình tự do dẫn con đi bói toán, dời
mả dời mồ, tưởng rằng ông không chú ý gì đến công việc
mình làm. Bà chỉ trông mong sao cho mau đến kỳ thi, để cho
hai đứa con trai mà bà o bế sẽ đỗ đạt thành tài, hầu
chứng minh cho sự tin tưởng của mình là đúng.
Ðoàn
Hiệp ăn ngủ học hành một cách đều đặn, có giờ có giấc.
Trong những lúc rảnh rang, chàng ra vườn xem hoa ngắm cảnh
chứ không cùng bạn lân la ở các tửu quán trrà đình như
hai anh.
Ðoàn
Tín và Ðoàn Danh thấy em học hành chăm chỉ, lại có thêm
thân phụ mình hướng dẫn, thì trong lòng không khỏi e ngại
rằng nó sẽ vượt hẳn mình và chiếm giải khôi nguyên. Lòng
ganh ghét chớm nở trong hai anh, và lớn dần, lớn dần, đến
nổi lấn át cả tình huynh đệ. Ðể chận đứng cái đà
tiến
phát của em, hai chàng bàn mưu tính kế đưa thằng em mà họ
cho là ngạo mạn tự cao, vào con đường trụy lạc.
Một
hôm trời đẹp, Ðoàn Hiệp đang đứng xem hoa ngắm cảnh trong
vườn, thì hai anh chàng xuất hiện sau lưng chàng. Ðoàn Tín
vỗ vào vai em, nói trêu chọc:
- Thi
sĩ đang làm gì đó? Nói chuyện với hoa chắc. Nhưng hoa này
thì để ngắm chứ không thể trò chuyện được.
Ðoàn
Danh bồi thêm:
- Ðúng
vậy, hoa ở đây không biết nói mà cũng chẳng có gì đẹp.
Ðoàn
Hiệp ngây thơ cãi lại:
- Hoa
không biết nói thì có gì là lạ? Không lẽ hoa lại nói chuyện
được à?
Ðoàn
Tín và Ðoàn Danh cười ngất, tỏ vẻ chế nhạo:
- Mày
chỉ biết một mà không biết mười. Mày không ngờ rằng
có thứ hoa biết nói. Và đó mới là điều thú vị.
- Hoa
biết nói được à? Anh đã thấy chưa hay chỉ mới nghe nói?
- Thì
ngày nào chúng tao lại không thấy. Chỉ có mày ngu lo vùi đầu
trong sách vở mới không biết trời biết đất gì cả, chứ
bọn tao thì những thứ ấy, đâu có gì lạ.
- Ở
đâu vậy?
- Mày
muốn đi xem không? Chúng tao dẫn đi.
Ðoàn
Hiệp rất làm lạ, nhận lời ngay:
- Ði
thì đi! Mà ở tận đâu lận?
- Chỉ
ở gần đây thôi. Mày đi sẽ biết.
Ðoàn
Hiệp vội vã vào nhà thay đổi y phục, rồi cùng hai anh ra
đi, lòng mảy may không chút nghi ngờ hai anh lừa phỉnh mình.
Chàng
được hai anh dẫn đến một ngôi nhà rất sang trọng ở ngoại
ô. Quanh nhà có cây cảnh, mỗi cây có treo những ngọn đèn
xanh rất đẹp. Trong nhà bày biện rất sang trọng, có màn
che trướng phủ, người hầu kẻ hạ. Ðoàn Hiệp mới đi
lần đầu, nên không biết đây là một tửu lầu thuộc hạng
sang nhất trong kinh đô.
Chàng
ghé tai hỏi nhỏ Ðoàn Tín:
- Ðâu?
Hoa biết nói ở đâu?
- Ðể
thủng thẳng sẽ thấy! Làm gì mà gấp gáp nóng nảy vậy
mày! Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy uống rượu nhâm nhi chơi
cái đã.
Nói
xong, Ðoàn Tín gọi một người hầu bàn đem rượu và đồ
nhấm ra. Chàng nói với Ðoàn Hiệp:
- Uống
đi năm ba chén cho ấm bụng rồi thưởng thức hoa biết nói
mới thú.
Sau
khi ba anh em ngà ngà say, Ðoàn Tín bảo hai em mình ra vườn
để ngắm hoa biết nói. Ba người đứng dừng lại trước
một vườn hoa mẫu đơn, bỗng có một tiếng thiếu nữ cất
giọng chào hỏi:
- Ba
chàng đi thưởng ngoạn hoa mẫu đơn đó chăng?
Ðoàn
Hiệp giựt mình nhìn rõ, thì ra đó là một thiếu nữ ăn
mặc sang trọng, hình dáng yêu kiều đang đứng nép mình sau
một cành cây mai vàng.
Ðoàn
Tín vội nói với Ðoàn Hiệp:
- Ðó,
hoa biết nói đã hiện ra đó rồi! Mày thấy có đẹp hơn
thứ hoa vô duyên của mày ở nhà không?
Ðoàn
Hiệp bây giờ mới vỡ lẽ ra là hai anh mình muốn trêu chọc
mình, gọi người thiếu nữ đẹp là hoa biết nói. Nhưng để
che giấu sự ngờ nghệch của mình, chàng làm ra vẻ sành sỏi:
- Ðẹp
thì có đẹp thật, nhưng còn xem cách ăn nói ra sao mới phê
bình được.
Ðoàn
Hiệp nói vừa dứt câu thì thiếu nữ lại cất giọng oanh
vàng thỏ thẻ:
- Mời
ba chàng đến đây thưởng ngoạn cùng thiếp. Thiếp đã sắp
đặt tiệc rượu ở đây rồi.
Ðoàn
Tín và Ðoàn Danh mạnh dạn kéo tay em tiến tới bên cạnh
ngườì đẹp. Thiếu nữ lễ phép vái chào ba người rồi
kéo ghế mời ba người ngồi. Nàng ngồi ghé bên mép ghế,
bên cạnh Ðoàn Hiệp, rót rượu, mời chàng uống. Mùi rượu,
mùi xạ hương, mùi hoa làm cho chàng choáng váng như đang bềnh
bồng trên một chiếc thuyền hoa lạc vào tiên động. Giọng
quyến rũ của người thiếu nữ thỏ thẻ bên tai chàng làm
cho chàng thêm ngây ngất.
Ba
người ngồi uống rượu thưởng hoa cho đến gần khuya mới
trở về.
Từ
hôm gặp đóa hoa biết nói, Ðoàn Hiệp thẫn thờ, như người
mất trí, chẳng thiết gì đến học hành. Chàng nằm dài,
gác tay lên trán, mơ tưởng đến người đẹp trong vườn
hoa.
Hai
anh chàng dò xét thấy cá đã cắn câu, lập mưu đẩy em mình
đi thêm một bước nữa vào con đường sa đọa. Một hôm
Ðoàn Tín vào phòng chàng, đưa cho chàng một tấm thiếp hồng,
nói:
- Từ
khi con bé ấy gặp mày, nó đâm ra tương tư, ngày đêm tưởng
nhớ mày, mất ăn bỏ ngủ. Hôm nay nó không thể nén lòng
được, nên viết mấy chữ gởi cho mày đấy. Mày nên đến
thăm nó kẻo tội nghiệp.
Hiệp
nắm lấy tấm thiếp mở ra xem, chỉ thấy vỏn vẹn có mấy
chữ: “Nhớ chàng không nguôi”, và tên ký: Bạch Mai.
Mặc
dù chỉ có mấy chữ, tấm thiếp đã làm cho chàng cảm xúc
đến ngạt thở. Chàng vùng dậy như một cái lò xo, đi thay
đổi y phục và tìm đến tửu lầu hôm trước. Hai người
gặp nhau mừng mừng tủi tủi, xem ra rất mực trìu mến.
Từ
đó, vài ba hôm, Hiệp lại lén đến gặp nàng một lần. Tất
nhiên là việc sách đèn chàng không cần chú ý đến nữa.
Giọng nói thanh tao, thỏ thẻ của nàng đã ám ảnh chàng,
luôn luôn văng vẳng bên tai chàng, làm cho chàng quên hết những
lời hay ý đẹp của thánh hiền trong sách vở. Trước kia,
mỗi buổi sáng, khi thức dậy, là chàng nhìn lên “Bài học
ngàn vàng”; nhưng từ hôm gặp người đẹp, chàng không dám
nhìn lên bức tường có dán bài học. Mấy ngày sau, để khỏi
thắc mắc, chàng gỡ bài học xuống, xếp cất vào ngăn tủ.
Hai
anh chàng mừng thầm khi thấy thằng em tự cao, tự đại của
mình dã mất hết cả tự tin, không còn tự kiểm soát được
nữa. Họ tin chắc với cái đà xuống dốc này, thế nào Hiệp
cũng thi hỏng. Họ bảo thầm: “Ðáng kiếp! Ðể cho nó hết
cái thói phách lối, dạy đời”.
Nhưng
quan Tham Tri, thân sinh chàng, bắt đầu lo ngại, khi thấy đứa
con yêu quý của mình trở thành biếng nhác, lêu lỏng. Nhưng
quan không biết vì đâu có sự thay đổi như vậy. Quan để
ý xem, thì thấy ngay “Bài học ngàn vàng” treo trên tường
cũng đã biến mất đâu mất. Quan bèn sai người thân tín
để ý dò xét, thì được biết sự thật. Quan rất đỗi
buồn phiền khi khám phá ra sự thật ấy. Nhưng quan không muốn
làm to chuyện, sợ bại lộ ra ngoài, làm tổn thương đến
gia đạo.
Một
hôm quan giả vờ như tình cờ vào phòng Hiệp, hỏi han sự
học hành của chàng. Chàng bảo rằng bấy lâu nay trong người
mệt mỏi nên không học hành được. Quan chụp lấy cơ hội
ấy nói:
- Vậy
thì con nên tĩnh dưỡng ít lúc. Cha được nghỉ phép nửa
tháng, ngày mai cha con chúng ta lên núi Ngũ hành, viếng chùa
Thiện Hải và ở lại đó tĩnh dưỡng ít ngày. Cha chắc rằng
khí hậu trong lành ở đó sẽ giúp con lấy sức để tiếp
tục học hành, vì kỳ thi cũng không bao lâu nữa.
Hiệp
tìm cách từ chối, nhưng vì không có lý do vững chắc, nên
cuối cùng chàng phải buộc lòng nghe theo cha.
Quan
Tham đã chuẩn bị rất chu đáo nên trong cuộc đi này Hiệp
được hưởng đủ mọi tiện nghi và thoải mái. Khí hậu
lành lạnh ở đỉnh núi làm cho đầu óc chàng tỉnh táo hơn.
Khung cảnh yên tĩnh của chốn thiền môn làm cho tâm hồn chàng
lắng xuống, những tình cảm trong lành có cơ hội đưọc
vươn lên.
Ðêm
đầu tiên vì cuộc hành trình vất vả, nên chàng đánh một
giấc đến sáng. Khi chàng thức dậy thì thấy ngay ở trên
án thư trước mặt chàng ai đã để sẵn một tấm biển gỗ
nhỏ sơn đen có ghi khắc mấy chữ bằng vàng: “Phàm làm
việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó". Từ
lâu chàng quên hẳn “Bài học ngàn vàng", hôm nay bỗng nhiên
nó hiện lên đột ngột, như đập vào mắt mình, trí mình,
làm chàng bừng tỉnh. Bài học như đang khiêm khắc cảnh cáo,
lên án chàng, quở trách chàng. Từ lâu, chàng biết rằng mình
đã lầm đường lạc lối, đi sâu vào con đường sa đọa,
chắc chắn rằng kết quả sẽ tai hại, nhưng chàng không có
gan đi lùi lại, quay sang hướng khác. Chàng biết rằng mình
sẽ hỏng thi, làm đích cho miệng đời mai mỉa, chúng bạn
cười chê, nhất là hai anh chàng. Chàng biết rằng chàng sẽ
làm cho cha mẹ buồn phiền, tổn thương đến thanh danh của
dòng họ. Chàng biết ràng cuộc đời của chàng sẽ không
có lối thoát, nếu cứ đeo đuổi theo một cô gái bán phấn
buôn hương, chỉ cốt bòn rút tiền bạc của chàng, chứ chẳng
thương yêu gì mình. Nhưng chàng không đủ nghị lực để
thoát ra, nhất là trong khi chung quanh chàng, những kỷ niệm,
những màu sắc, những hình ảnh, nhữn hương vị của người
thiếu nữ vẫn cứ ẩn hiện, phảng phất quyến rũ chàng.
Nhưng
hôm nay, cha chàng dã khéo léo đưa chàng ra khỏi mê cung, đặt
chàng vào giữa một khung cảnh trong lành thanh tịnh, để chàng
có dịp gạn lọc lòng mình. Nhờ thế, chàng thấy thực rõ
tất cả những hậu quả đen tối sắp xảy đến cho chàng.
Chàng
bỗng gục đầu xuống bàn, khóc tấm tức. Cha chàng xuất
hiện giữa khung cửa lúc nào chàng cũng không hay. Quan Tham
họ Ðoàn lặng lẽ đứng nhìn con, lòng mừng thầm rằng “Bài
học ngàn vàng" đã đập vào lý trí minh mẫn của đứa con
yêu quí.
Quan
đến đặt tay lên vai chàng, nói giọng ôn tồn, chậm rãi:
- Cha
rất mừng, vì con đã nhờ “Bài học ngàn vàng" mà tỉnh
ngộ. Cha không quở trách con, cũng không bắt buộc con một
điều gì hết. Con đã đi sai đường lạc lối thì nay cũng
chỉ có con tự mình quay lại đường lối quang minh chính đại.
Ðoàn
Hiệp ngước lên nhìn cha, lòng tràn ngập mến đối với vị
cha già đã tỏ ra khoan dung độ lượng đối với mình.
Chàng
thưa:
- Thưa
cha, con mong muốn quay về con đường chánh; nhưng con sợ những
phút yếu đuối, con xin cha hãy ở bên cạnh con, để nâng
đỡ con trong những lúc yếu mềm đó. Cha hãy cho con ở lại
đây, tiếp tục đèn sách cho đến kỳ thi. Nếu con trở về
nhà, chắc khó tránh khỏi cạm bẫy một lần nữa.
- Ðiều
con yêu cầu đó rất hợp ý cha. Cha sẽ cho con ở lại đây,
mọi việc đã có cha sắp đặt. Ngày mai cha sẽ cho người
về kinh, đem sách vở của con lên đây để con tiếp tục
học hành. Vị sư trụ trì ở đây có thể hướng dẫn con
được, khi cha hết phép trở về kinh.
Hai
cha con sắp đặt mọi chuyện xong xuôi, thì ánh duơng quang
cũng vừa rạng rỡ ngoài trời, và trong chánh điện tiếng
tụng kinh trầm bỗng của vị sư già cũng vừa chấm dứt.
CHƯƠNG
XXVIII
HẬU
QUẢ HIỆN BÀY
Kỳ
thi đã đến.
Thí
sinh các nơi tụ tập về kinh đông đảo lạ thường. Các
đường phố, các quán trọ đâu dâu cũng đông đặc thí sinh,
có người dẫn theo cả cha mẹ, vợ con, người hầu kẻ hạ,
có kẻ hàn nho chỉ trơ trọi một mình, đơn phương độc
mã, một mình một xó. Nhưng tất cả mọi người đều có
một ước vọng giống nhau, là ngày mai, ngày kia cuộc đời
mình sẽ do cuộc thi này mà rẽ sang con đường giàu sang vinh
hiển.
Ba
anh em con quan Tham họ Ðoàn sáng hôm ấy cũng vác lều chõng
vào trường thi. Tối hôm trước, bà Tham đã thân hành đi
đến nhà ông thầy tướng dạo nào để hỏi cho chắc trường
hợp của Ðoàn Tín trong kỳ thi này. Thầy bảo nếu không
có việc gì bất trắc xảy ra, thì Ðoàn Tín coi như đã đậu
rồi. Bà cũng cho người về quê mình đưa tiền nhờ ông Trưởng
tộc làm heo cúng trên mộ của vị tứ đại trong họ bà.
Trong bữa cúng mộ, ông Trưởng tộc có xin một quẻ xăm về
vụ thi cử của Ðoàn Danh; xăm dạy rất tốt: “Hoạn lộ
hanh thông”. Bà Tham mừng rỡ vô cùng. Như vậy là hai đứa
con trai đầu được coi như yên phận. Còn Ðoàn Hiệp vì còn
nhỏ, có rớt cũng không can gì; vả lại thằng con cứng đầu
cứng cổ ấy cũng cần cho nó trợt vỏ chuối một keo cho
nó chừa cái tánh tự tác tự thọ của nó.
Rất
tiếc là kết quả cuộc thi lại không xảy ra như ý bà Tham
nghĩ! Khi kết quả được nêu lên, thì danh tánh hai cậu con
đầu của bà được ghi vào bảng cót! Trái lại Ðoàn Hiệp,
thí sinh nhỏ tuổi nhất trong trường thi, lại được đỗ
phó bảng!
Kết
quả ấy đã làm cho cả nhà quan Tham kinh ngạc, sững sờ,
chỉ trừ quan Tham và Ðoàn Hiệp là không tỏ vẻ gì ngạc
nhiên, vì họ đã đoán biết trước những gì sẽ xảy ra.
Kết
quả cuộc thi làm cho gia đình quan Tham càng thêm gay cấn. Bà
Tham đỗ lỗi cho quan Tham thiên vị, chỉ săn sóc thằng con
Út, còn bỏ bê hai đứa con đầu. Quan Tham trách bà Tham đã
khuyến khích con cái đi sâu vào con đường mê tín dị đoan,
quên cả học hành. Ðoàn Tín bực tức ông thầy tướng đã
đoán sai, hậm hực đến nhà ông để đòi tiền lại và mắng
cho ông một trận. Nhưng đến nơi, thì ông đã chhuồn đi
đâu mất, chỉ thấy lố nhố một bọn hỏng thi như chàng
đang đứng la lối bâng quơ cho hả giận.
Ðoàn
Danh thì vì buồn phiền, thất vọng nên chứng đau đầu lại
trở lại. Nhưng bà Tham bây giờ cũng đã chán ngán, không
dám nghĩ chuyện dời mả dời mồ của ai thêm nữa.
Ðoàn
Hiệp là người sung sướng nhất trong nhà. Chàng mừng một
phần vì được đậu cao làm rạng rỡ tông môn, một phần
vì đã may sớm rời bỏ con đường trụy lạc.
Quan
Tham thấy trong gia đình, sau cuộc thi, cái mầm chia rẽ lại
càng thêm tăng trưởng, nên đã bảo gia nhân soạn một tiệc
rượu, lấy lý do là để mừng Ðoàn Hiệp thi đỗ. Tiệc
rượu đã diễn ra một cách buồn tẻ, vì mỗi người đều
có những tâm sự riêng tư, khó nói ra lời.
Cuối
bữa tiệc, bà Tham không dằn được cảm xúc, đã bật lên
tiếng khóc. Bà trách:
- Ông
thật nhẫn tâm, cố làm nhục ba mẹ con tôi. Hai đứa con đầu
nó hỏng thi, có gì vui vẻ, mà ông bày đặt làm tiệc làm
tùng, bắt chúng nó phải ngậm đắng nuốt cay mà ngồi vào
bàn tiệc.
Quan
Tham thấy rõ sự bất công vô lý của vợ, nhưng cố dằn
cơn bực tức, ôn tồn bảo vợ:
- Bà
đừng nói như vậy không nên. Con cái trong nhà, có đứa hỏng
mà cũng có đứa đậu. Ðứa hỏng thì mình buồn, nhưng đứa
đậu thì mình vui với nó. Không lẽ bắt thằng út cũng buồn
lây với hai anh nó. Nó cố gắng học hành đỗ đạt thì mình
phải khen thưởng nó chứ. Nó còn nhỏ, mới thi một lần
đã đậu ngay, mà lại đậu cao, làm danh giá cho dòng họ thì
cũng nên thưởng cho nó chứ.
Ông
quay lại phía Ðoàn Hiệp, rót một chén rượu, trao cho chàng,
nói:
- Cha
thưỏng cho con chén rượu này. Con đã làm vinh dự cho gia đình
chúng ta, làm rạng rỡ cho dòng học chúng ta, và làm được
như vậy là vì con đã biết áp dụng “Bài học ngàn vàng".
Từ đây về sau, con hãy tiếp tục áp dụng nó, xem nó như
một kim chỉ nam, thì chắc chắn đời con sẽ đi đến vinh
quang.
Ðoàn
Hiệp nói mấy lời cảm ơn cha rồi sung sướng đưa chén rượu
lên môi uống một hơi hết sạch.
Quan
Tham quay lại phía hai đứa con đầu. Quan nghiêm giọng nói:
- Hai
con đừng nghĩ rằng cha đã bỏ mặc hai con, không săn sóc
đến như mẹ con đã nói. Hai con chắc chưa quên, gần
một năm trước khi cha đem “Bài học ngàn vàng" về đây,
cha đã nói cha để cho các con tự ý áp dụng hay không, vì
cha nghĩ rằng trong việc giáo huấn, không nên ép buộc con
cái nhắm mắt theo lời dạy của người lớn mà cần cho chúng
thấy những lợi hại thiết thực trong các hành động của
chúng. Có tự mình kinh nghiệm những công việc của mình làm,
mới ý niệm sâu sắc điều phải quấy. Các con không còn
nhỏ dại để cha mẹ phải dạy bảo từng ly từng tí nữa.
Các con có đủ lý trí để suy xét những điều hay điều
dở.
Trong
quá khứ các con đã làm gì? Các con đã tin theo lời nói của
những ông thầy bói, thầy tướng thầy số, thầy địa, thầy
phù thủy, chứ không tin ở mình. Các con đã đặt tương lai
của các con vào họ, chứ không vào công việc của các con.
Và
kết quả đã xảy ra như thế nào, bây giờ các con đã biết.
Ðáng lẽ các con phải dùng lý trí để suy luận, để thấy
rằng nhân nào thì quả ấy. Các con không học, không hành,
chỉ ăn ngủ chơi bời, thì chữ nghĩa đâu để mà thi cử.
Các con đã thấy rõ cái tai hại của các ông thầy tướng
thầy số chưa? Khi họ bảo con sẽ hỏng thì con tin chắc có
học cũng học, nên không học; khi họ bảo con sẽ đậu, con
tin thế nào cũng đậu, nên cũng không học. Rốt cuộc lại,
trường hợp nào cũng khuyến khích các con lười nhác cả!
Vả lại, học hành đâu phải chỉ cốt đậu đạt? Học nhiều
thì giỏi, biết được điều hay lẽ phải, không học thì
ngu dốt, không biết suy xét phán đoán việc đời, làm trò
cười cho thiên hạ. Ðó là kết quả thiết thực của sự
học, chứ đâu phải học chỉ để thi đỗ ra làm quan.
Vả
lại, dù có gặp may mắn mà thi đỗ đi nữa, người ta cũng
khi dể, chứ chẳng có danh vọng gì. Dốt mà đỗ đạt, dốt
mà được làm quan to chức lớn lại càng làm bia cho người
dèm pha, chế diễu.
Những
điều đó, chắc chắn ngày nay các con đã thấy rõ. Và đã
thấy thì phải làm sao? Cha để cho các con tự quyết định
lấy.
Ðoàn
Tín và Ðoàn Danh cúi đầu ngồi nghe, nhận thấy lời thân
phụ mình nói rất phải. Hai chàng hối hận mình đã không
biết nghe lời phụ thân từ trước, để hôm nay phải ra nông
nổi như thế này. Ðoàn Tín đứng dậy thưa:
- Thưa
cha con rất hối hận đã không nghe theo lời cha dạy bảo từ
lâu. Con tin lời các ông thầy bói, thầy tướng hơn lời của
cha. Họ đã phỉnh con. Họ làm cho con không tin vào luật nhân
quả mà tin ở trời đất, quỷ thần đâu đâu. Nhưng từ
nay con đã hối cải, và con quyết tâm áp dụng đúng theo lời
dạy quý báu của “Bài học ngàn vàng".
Ðoàn
Danh cũng đứng lên thú nhận sai lầm của mình:
- Con
đã tin vào ảnh hưởng của dòng họ, mả mồ. Con nghĩ rằng
có họ phát về khoa hoạn, có họ phát về nông nghiệp, có
họ phát về thương nghiệp, nên con cháu không cần phải khổ
công mà vẫn thành đạt như cha ông.
Quan
Tham cắt lời của người con thứ:
- Thực
ra có thực trạng như vậy: Có truyền thống họ hàng, có
sự phát đạt riêng của dòng họ. Nhưng điều đó không phải
do một mãnh lực, một ảnh hưởng huyền bí nào, mà là một
điều có thể cắt nghĩa được.
Khi
trong cả họ có khả năng, có kinh nghiệm, có xu hướng về
một ngành sanh hoạt nào đó như sĩ, nông, công, thương, thì
chắc chắn con cháu sẽ thụ hưởng được khả năng, kinh
nghiệm, ý chí của các vị tiền bối. Do đó con cháu được
dễ thành công trong ngành đó hơn. Nhưng như vây không có nghĩa
là chỉ khoanh tay ngồi chờ, thì mọi sự tốt đẹp sẽ đến
tay mình; mà trái lại phải làm việc, phải trau dồi, phải
cố gắng nhiều mới được. Con thấy đó, dòng họ ta là
dòng họ khoa bảng, nhưng hai con không chịu học hành thì cũng
vẫn thi hỏng như những người khác.
Ðoàn
Tín đứng dậy thưa:
-
Thưa cha, nhờ kinh nghiệm bản thân, con đã thấy được điều
đó. Vì vậy, con xin sám hối, và từ nay quyết tâm học hành.
Con sẽ luôn luôn đặt “Bài học ngàn vàng" trước mặt con
để nhắc nhở con nhớ rằng: Mình phải suy nghĩ chín chắn
trước khi làm; Mình phải gieo nhân lành để hưởng quả tốt!
Quan
Tham nghe hai con nói, lòng mừng khấp khởi; quan không ngờ hai
con mình đã cải thiện mau chóng như vậy. Quan rót cho Ðoàn
Tín, Ðoàn Danh mỗi người mỗi chén rượu và nói:
- Mặc
dù hai con đã thất bại trong trường thi, nhưng cha vẫn thưởng
cho mỗi con một ly rượu, vì các con đã chiến thắng được
sự lầm lạc, biết quay lái thuyền đời về nẻo chính.