TẬP 04
CHƯƠNG
XVIII
BÀ
NĂM CÂY THỊ TRỞ THÀNH MỘT ÐẠI THƯƠNG GIA
Tại
phố chợ Kinh đô nước Nhục chi, không ai là không biết gian
hàng tạp hóa to lớn của bà Năm cây thị. Không rõ bà tên
thật là gì, nhưng người ta thường gọi bà là bà Năm cây
thị vì trước nhà bà có cây thị sum suê đồ sộ. Bà goá
chồng từ khi mới 30 tuổi, nhưng bà không tái giá, ở vậy
nuôi đứa con gái độc nhất cho đến bây giờ được ngoài
năm mươi. Bà đến lập nghiệp ở cái phố này chưa đầy
mười năm, mà bà đã giàu lớn. Khi mới đến bà chỉ là
một cô hàng xén, làm chủ một gian hàng nhỏ tại hiên chợ.
Không ai hiểu bà đã làm cách nào mà chỉ trong khoảng mười
năm, từ hai bàn tay trắng, bà đã trở thành một đại thương
gia như vậy. Có người bảo rằng bà hưởng được gia tài
của một người qua đường nàm ngủ trọ trong quán bà và
chết ở đấy. Có người bảo rằng bà được một viên ngọc
rít và nhờ viên ngọc ấy mà bà phát tài lớn. Có người
bảo rằng nhà bà có thờ vị thổ công rất linh thiêng, thường
mách bảo cho bà món hàng nào nên nên mua trữ và món hàng
nào không nên mua.
Thực
ra đó là những lời đồn đãi để giải thích sự bộc phát
của bà. Lý do chính sự giàu có của bà là những mánh khóe
gian lận mà bà đã dùng trong sự mua bán. Phải công nhận
là bà có tài ngoại giao ăn nói mềm mỏng dịu dàng, tiếp
đón vồn vã khách hàng, nên ai cũng thích đến hàng bà. Nhưng
sự khôn khéo miệng lưỡi ấy chưa đủ để tạo cho bà một
sự nghiệp đồ sộ trong khoảng chưa đầy mười năm, nếu
bà không áp dụng những mánh khóe gian lận như dùng trái cân
già khi mua và trái cân non khi bán, trao đổi hàng hóa, phải
tính phẩm vật, đầu cơ tích trữ, tóm lại không có một
phương cách gì có lợi cho bà mà bà từ chối. Bà tự bảo
làm nghề buôn bán mà thật thà, chất phác thì có nước bán
nhà đi ở đợ. Cho nên bà đinh ninh rằng đã đi buôn thì
phải biết dối trá và có nhiều mánh khóe. Và càng thu lợi
nhiều, bà lại càng vững tâm tin rằng quan niệm trên của
bà là đúng. Lúc mới đầu, mỗi lần giở thủ đoạn gian
dối, bà còn e dè, sợ hãi, nhưng càng lâu, bà càng chai sạn,
không thấy ăn năn hối hận nữa. Bà thản nhiên nấu lá chuối
khô pha thêm vào nước mắm, đổ nước lạnh vào dấm, trộn
mạt cưa vào cám, trận cám vào gạo, trộn gạo xấu vào gạo
tốt, dán nhãn hiệu thượng hạng vào phẩm vật hạng trung,
nhãn hiệu hạng trung vào phẩm vật xấu ...
Nhưng
không phải với ai bà cũng áp dụng những mánh khóe như vậy.
Bà xem mặt mà bắt hình dung: đối với người sành sỏi thì
bà tỏ ra rất chân thật, nhưng với người khờ khạo thì
bà bóc lột không tiếc thương. Bà thường bảo cô con gái:
" Ở đời, khôn sống, bống chết", đứa nào dại thì đứa
ấy thiệt ...
Sỡ
dĩ bà thường dạy khôn dạy khéo cho cô con gái của bà vì
trong sự mua bán, cô này chưa được thành thạo như bà, nghĩa
là còn nhiều sơ hở đối với khách hàng, chưa áp dụng đúng
nguyên tắc " khôn sống, bống chết" mà bà đề ra.
Thí
dụ, thấy một đứa nhỏ đến mua hàng, theo nguyên tắc của
bà thì cô phải lợi dụng sự khờ khạo của nó để bán
thứ hàng đã "pha trộn" nhưng đôi khi cô lại bán thứ "nguyên
chất" vì thấy đứa bé mặt mũi sáng sủa dễ thương.
Hay
khi gặp một khách hàng nhà nghèo năn nỉ bán cho thứ hàng
tốt, cô động lòng thương, lấy "thứ thiệt" đưa ra. Trong
những trường hợp này, nếu bà Năm biết được thì thế
nào cô cũng bị một trận mắng chửi vì bà cho là cô đã
"vi phạm luật lệ mua bán" của bà. Bà bảo rằng làm như
vậy là "gây xáo trộn" là "tạo khó khăn" về sau, vì lần
này họ mua được thứ tốt với giá tiền phải chăng, thì
lần sau họ lại đòi cho được thứ hàng ấy và "tuyên truyền"
ra cho người khác biết. Thế là bà sẽ bị "chất vấn" và
phải "giải thích" rất mệt, mà đôi khi còn "mất tín nhiệm"
với khách hàng nữa.
Công
việc buôn bán của bà đang thịnh vượng như vậy thì một
việc xảy ra, đem lại cho bà nhiều khó khăn suy nghĩ.
Số
là vua Ðột Quyết nước Nhục chi sau khi đem "Bài học ngàn
vàng" áp dụng trong cung điện và trong triều đình thấy có
được nhiều kết quả tốt, nên truyền lệnh đem bài học
ấy phổ biến ra ngoài dân chúng.
Từ
Kinh dô cho đến tỉnh quận, các quan sở tại có bổn phận
phải làm thế nào cho dân chúng hiểu và áp dụng được bài
học nói trên.
Sáng
sớm hôm ấy, tại phố chợ Kinh dô, người hai bên phố rần
rần đổ xô ra đứng hai bên đường xem một đám rước đi
qua. Ðám rước gồm độ một trăm người lính phòng thành
mặc áo dấu xanh, đỏ, mang trống, thanh la, ống loa và rất
nhiều biểu ngữ có viết bài học ngàn vàng: "Phàm làm việc
gì, trước phải nghĩ đến hậu quả của nó".
Ði
một dặm, đám rước lại dừng lại, phóng loa nói cho mọi
người biết tôn ý của vua, giải thích nguyên do và ý nghĩa
của "Bài học ngàn vàng", và trước khi đi, họ lại phát
cho mỗi người đứng xem một mảnh giấy hồng điều có chép
bài học và bảo dân chúng đem về chép hay khắc lại để
treo ở trong nhà. Ai không tuân, sẽ bị phạt vạ, và tái phạm
sẽ bị phạt tù.
Cô
con gái của bà Năm cũng nhận được một mảnh giấy có bài
học đem về nhà. Như mọi nhà khác, bà Năm thuê người chạm
bài học vào gỗ sơn son thếp vàng rồi treo lên trần nhà,
như là một bức hoành phi.
Từ
ngày "Bài học ngàn vàng" được treo trước mắt, bà Năm cảm
thấy lúng túng khó chịu trong sự buôn bán của mình. Bà cảm
thấy như có ai nhìn ngó cử chỉ, hành động của mình, mỗi
khi mình bỏ quả cân già, lấy quả cân non, hay mỗi khi pha
nước lá chuối vào nước mắm , trộn tấm vào gạo ...
Nhưng
vốn tính gian tham bướng bỉnh, bà chắc lưỡi, tự bảo:
"Hơi đâu bà thắc mắc cho mệt xác, hậu quả mình muốn là
trở thành đại phú gia, thì mình phải trù nghĩ, tính toán
làm sao thu lợi vào cho nhiều, cho nhanh. Muốn mau giàu to mà
lại làm việc lương thiện thì thật là phi lý! Vả lại "có
tiền mua tiên cũng được", miễn sao cho thật giàu có rồi
mọi sự đều êm xuôi cả ...
Nghĩ
vậy, bà thấy vững tâm đi theo con đường cũ. Nhưng để
được bảo đảm hơn, bà đi thỉnh một tượng Phật Quan
Âm về thờ ở trên gác. Mỗi đêm, sau khi cửa tiệm đã đóng,
bà tắm rửa sạch sẽ lên gác thắp hương khấn vái với
Phật Bà phù hộ cho bà được mua may bán đắt. Theo lệ thường
ngày rằm, mồng một nào bà cũng làm một con gà để cúng
Thổ công. Từ ngày có thờ thêm Phật bà, bà bảo con gái
nấu thêm xôi chè để cúng Phật. Bà đứng trước pho tượng
Phật Bà, khấn vái:
- Lạy
Phật Bà! Xin Ngài phù hộ con mua may bán đắt một vốn mười
lời, không có việc gì trắc trở xảy ra, thì ngày rằm, mồng
một nào con cũng xin nguyện dâng cúng hương hoa quả phẩm
và xôi chè.
Lạy
xong, bà thiết tha niệm Phật lia lịa tỏ vẻ thành kính lắm
rồi lê dép xuống nhà dưới, đánh một giấc ngon lành cho
đến sáng.
CHƯƠNG
XIX
BÀ NĂM CÂY THỊ BỊ TÙ VÌ TỘI GIAN THƯƠNG
Sáu
tháng sau khi "Bài học ngàn vàng" được phổ biến trong dân
chúng, một hôm bà Năm đang ngồi bán hàng thì có hai bà nhà
quê, khoảng 40 tuổi vào tiệm hỏi mua hàng. Bà Năm vồn vã
chào hỏi:
- Các
bà muốn mua gì ạ?
Một
trong hai bà trả lời:
- Bà
bán cho tôi hai tạ gạo thứ thượng hạng và hai tĩn nước
mắm thứ thật ngon.
- Vâng,
mời hai bà vào trong này ngồi nghĩ cho mát đã. Hai bà ở từ
quê lên từ lúc nào mà đến sớm thế?
Bà
xoay vào trong gọi con gái:
- Hai
ơi, con đem nước chè nóng mời hai bà uống con!
Rồi
bà lại xoay lại nói với hai bà khách hàng:
- Các
bà ở xa mới đến, không biết, chứ hàng của chúng tôi ở
đây đều được mọi người tín nhiệm, muốn mua thứ hàng
nào là đúng y thứ hàng ấy, không sợ lầm, không sợ hớ.
Các bà mua làm quen một vài lần, lần sau sẽ thấy chúng tôi
buôn bán thật thà chất phác lắm. Không tin, bà đi hỏi các
nhà lân cận quanh khu phố này thì biết ...
Bà
nói huyên thuyên bất tận làm hai bà nhà quê đứng đờ người
ra đó mà ừ ừ, dạ dạ, không biết đối đáp ra sao. Sau
khi đợi cho hai bà khách uống xong hai bát nước chè nóng và
trả xong giá cả, bà Năm sai người nhà ra cân gạo và lấy
hai tĩn nước mắm thượng hạng ra. Hai bà nhà quê hỏi đi
hỏi lại cho thật chắc về giá cả và cân lượng rồi mở
ruột tượng ra lấy tiền trả. Tiền nong đã trả xong, một
trong hai bà mới cất tiếng nói một cách đanh thép:
- Bà
bảo rằng bà chân thật, hàng của bà là thứ thượng hạng,
vậy xin để cho chúng tôi thử xem lại có đúng hay không.
Nói
xong bà đi ra phía cửa hàng, ngoắc gọi ba người đàn ông
lực lưỡng đi vào. Ba người này mang theo một bao tời đựng
nhiều quả cân đủ loại. Họ lấy ra một quả móc vào cân
và xách hai bao gạo để lên cân. Hai bao gạo đều thiếu mỗi
bao là 4 cân. Họ lại mở cả hai bao lấy gạo ra xem thì thấy
gạo có trộn nhiều tấm và cám. Họ lại mở hai tĩn nước
mắm ra xem thì mỗi tĩn chỉ chứa có nửa nước mắm và nếm
xem thì đây cũng không phải là thứ nước mắm thượng hạng,
mà là thứ hạng ba, hạng tư. Sau đó họ bảo bà Năm đem
các quả cân cho họ xem, thì quả nào cũng không đủ cân lượng.
Họ lại khám xét các loại hàng khác thì thấy thứ nào cũng
không phải là thứ nguyên chất, mà có pha trộn rất nhiều.
Ba
người đàn ông lấy giấy tờ ra làm biên bản, bắt bà Năm
và hai bà nhà quê lăn tay vào tờ vi bằng. Làm xong thủ tục
đâu vào đấy, họ liền lấy còng ra còng tay bà Năm dẫn
đi.
Bà
Năm mặt tái mét, cắt không ra máu, van lạy ba người đàn
ông, nhưng ba người mặt lạnh như tiền, bảo rằng họ có
phận sự do cấp trên truyền phải thi hành chứ không thể
châm chước cho ai được. Bấy giờ bà Năm mới vỡ lẽ ra
rằng hai người đàn bà nhà quê và ba người đàn ông vạm
vỡ là những người do quan Ðề đốc tổ chức để đi kiểm
soát dân chúng có làm theo đúng "Bài học ngàn vàng" mà họ
đã treo trong nhà hay không.
Bà
Năm cây thị bị ghép vào tội gian lận đầu cơ tích trữ,
cửa tiệm của bà bị niêm phong và bà bị tống giam vào lao
để chờ ngày lãnh án.
Trong
những ngày đầu bị giam giữ trong ngục thất, bà Năm vô
cùng khổ sở. Bà không ngờ trong giây phút sự nghiệp tiêu
tan, hình hài bị đọa đày trong lao lý. Mỗi ngày bà chỉ
được cấp cho hai vắt cơm và một chai nước lã. Ðêm đến
bà nằm co rút trên một mảnh chiếu rách muỗi mòng vây quanh
hút máu. Phần tiếc của, phần nhớ con, bà sụt sùi than thở
một mình hết ngày này sang ngày khác.
Nhưng
một hôm, sau khi bị giam giữ được 10 ngày, cửa phòng giam
của bà hé mở và bà vô cùng ngạc nhiên và mừng rỡ khi
nhận thấy Xuân, người con gái thân yêu của bà, xách một
giỏ áo quần và vật thực vào thăm bà! Hai mẹ con ôm nhau
mừng mừng tủi tủi một hồi, rồi Xuân thuật lại cho bà
rõ nguyên do vì sao nàng xin được phép vào thăm bà.
Nguyên
là từ khi bà Năm bị giam, ngày nào Xuân cũng đem cơm nước
chờ đợi ở trước cổng công đường để hòng xin vào nuôi
mẹ. Nhưng ngày nào nàng cũng thất vọng trở về, vì không
quen biết ai nên không làm sao xin được giấy phép vào thăm.
Một hôm có con bé độ 8, 9 tuổi bới cơm đến cho cha nó,
hiện là lính gác tại lao xá, con nhỏ này ở gần nhà bà
Năm cây thị, thường đến mua hàng hóa tại tiệm bà. Nó
nhận ra Xuân mà nó rất mến vì mỗi lần nó đến mua hàng,
bao giờ nàng cũng lén mẹ, cân đủ phân lượng và lựa thứ
tốt cho nó, vì thấy nó nghèo và ngoan ngoãn dễ thương. Thấy
nàng ngồi sụt sùi khóc trước cửa công đường nó đến
hỏi thăm nàng và hứa sẽ xin với cha nó tìm cách để nàng
vào thăm mẹ. Cha nó đã chiều ý nó lén mở cửa phòng giam
lúc công đường bãi chầu, để cho Xuân vào thăm mẹ.
Từ
đó cứ hai ngày, Xuân lại được người lính gác lén mở
cửa phòng giam cho vào thăm mẹ và bới xách cơm nước cho
bà.
Nhưng
một hôm, trong khi hai mẹ con đang thì thầm trò chuyện thì
cánh cửa phòng giam mở toang và một người đàn ông cao lớn
trạc độ 30 tuổi đứng ngang giữa cửa. Người này chính
là quan đề lao. hai mẹ con run rẩy đứng phắt dậy, nép vào
tường, chờ đợi sự thịnh nộ của quan đề lao.
Quả
thật, quan đề lao sau khi nhận thấy có kẻ lạ mặt đã lén
lút vào phòng giam để thăm tù nhân, liền quát tháo rầm lên.
Quan quở trách người lính gác đã để cho Xuân vào thăm mẹ
và sai lính căng nọc ra đánh 10 hèo. Sau đó quan truyền tống
giam người lính bất tuân kỷ luật ấy vào lao.
Xuân,
mặc dù sợ hãi, nhưng thấy vì mình mà anh lính ấy bị vạ
lây, liền quỳ xuống trước mặt quan đề lao xin tha cho người
ấy. Nàng nói:
- Bẩm
lạy quan lớn! Xin quan lớn rộng lòng dung tha cho bác lính ấy.
Mọi sự lỗi lầm đều tại tôi mà ra. Tôi vì nóng lòng muốn
được vào thăm mẹ tôi nên tôi đã năn nỉ với bác ấy
cho được vào thăm. Bác ấy thấy thương cảnh mẹ con tôi
côi cút, tứ cố vô thân, nên lén vi phạm lệnh quan lớn cho
tôi được toại nguyện. Vậy xin quan lớn hãy bắt tội tôi
và tha cho bác ấy!
Quan
đề lao không khỏi ngạc ngiên trước một cử chỉ quả cảm
như vậy, nhưng quan vẫn làm mặt nghiêm, nói:
- Người
bất tất phải xin chịu tội thay cho lão kia. Lão ấy có tội
của lão, và ngươi cũng có tội của ngươi. Ngươi đã kén
lút vào đây, bất chấp cả luật lệ, ngươi tưởng ngươi
không bị tội sao, lại đi nhận tội cho người khác?
- Dạ
bẩm tôi xin nhận tất cả tội lỗi của tôi và của bác
ấy.
Quan
đề lao cười mỉa:
- Ngươi
can đảm thật! Ngươi có biết hai tội ghép lại sẽ nặng
như thế nào không?
Bẩm
quan lớn, dù nặng thế nào đi nữa thì tôi cũng được một
sự an ủi và may mắn là được giam giữ ở đây cùng mẹ
tôi, để sớm hôm săn sóc cho mẹ tôi.
- À
ra thế! Ngươi muốn bị giam giữ để được gần gũi với
mẹ ngươi, săn sóc cho mẹ ngươi! Con có hiếu dữ! Nhưng ngươi
sẽ thất vọng!
Nói
xong quan xoay lui truyền lịnh cho mấy người lính gác:
- Các
ngươi hãy đem con nhỏ này giam vào phòng riêng cho ta, và nhất
thiết không được cho hai mẹ con liên lạc với nhau.
CHƯƠNG
XX
CÔ
XUÂN HÀNG TUẦN ÐƯỢC ÐEM CƠM NUÔI MẸ
Quan
đề lao là một thanh niên cương trực, hoạt động, làm việc
rất có kỷ luật, nhưng không phải là một người ác. Quan
tên thực là Lê Minh, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ đến nay
chưa có vợ con, được quan đề đốc đem về làm con nuôi
và nâng đỡ cho làm đề lao. Khi Lê Minh truyền bắt giữ Xuân,
con gái bà Năm cây thị và bảo giam riêng hai mẹ con hai nơi,
không phải vì chàng có ác tâm muốn chia rẽ mẹ con họ để
thỏa lòng tức giận. Chàng muốn xem sức chịu đựng, lòng
can đảm của nàng đến đâu, chứ không phải vì ác ý.
Sau
hai ngày giam giữ Xuân, chàng truyền lịnh dẫn nàng đến văn
phòng để chàng hỏi cung.
Xuân
thấy chàng đang ngồi ở sau chiếc bàn rộng, liền chắp tay
vái chào, nét mặt hơi buồn, nhưng không có vẻ oán giận
gì chàng. Và Lê Minh hôm nay cũng không có vẻ nghiêm khắc
như lần đầu. Chàng chỉ một chiếc ghế ở trước mặt,
bảo nàng ngồi xuống. Xuân ngập ngừng hai ba lần mới ngồi
ghé xuống.
Minh
cất giọng hỏi:
- Ngươi
hối lộ cho tên lính gác ngục bao nhiêu để vào thăm mẹ
ngươi?
- Thưa
ngài, tôi xin ngài đừng nghi oan cho bác ấy mà tội nghiệp.
Bác chỉ vì lòng thương mẹ con tôi mà cho tôi được vào
thăm mẹ tôi.
- Vì
tình thương mà thôi? Vậy thì cả nhà lao này, sao lão ta không
thương hết cả tù nhân cho bà con thân thích vào thăm?
Xuân
liền thuật lại đầu đuôi chi tiết:
- Do
nguyên do là bác ta ở gần tiệm tạp hóa của mẹ con tôi.
Con gái nhỏ của bác ta thường đến mua hàng ở nhà tôi nên
nó quen tôi. Một hôm nó thấy tôi đợi ngoài cửa công đường
đang ngồi khóc vì không làm sao để được phép vào thăm
mẹ tôi. Nó động lòng thương mách với cha, tức là bác ấy,
để cho tôi được vào gặp mẹ tôi. Bác nghe con nói động
lòng thương nên chờ lúc bãi sở, lén mở cửa lao cho tôi
vào.
Lê
Minh nghe câu chuyện, cười mai mỉa:
- Hàng
của mẹ con nhà ngươi có tiếng là mua rẻ bán đắt, thế
mà cũng gây được cảm tình của một đứa con gái nhỏ,
thì thật là lạ!
Xuân
ngập ngừng một lúc rồi đáp:
- Thưa,
có lẽ nó có cảm tình đối với tôi thì đúng hơn là với
cửa hàng của mẹ con tôi.
- Ngươi
nói sao ta không được hiểu.
- Thưa
nghĩa là mẹ tôi đối với khách hàng thì rất là khe khắt,
nhưng tôi thì không có như vậy. Mỗi khi con bé của bác ấy
đến mua hàng, tôi thấy nó nhỏ dại tôi nghiệp nên bao giờ
cũng lén mẹ tôi đưa cho nó thứ hàng tốt với giá rẻ.
- Ngươi
làm như ậy không sợ mẹ ngươi la mắng sao?
- Thưa,
mẹ tôi thường la mắng tôi về chuyện ấy, nhưng tôi nghe
luôn cũng thành quen. Vả lại mẹ tôi thương tôi nên không
la mắng nhiều.
Lê
Minh nghe nàng trả lời một cách đàng hoàng chân thật, nên
cũng có thiện cảm với nàng. Chàng bảo:
- Ngươi
đã phạm luật lệ của nhà lao, lén vào thăm tù nhân mà không
có giấy phép của ta, đáng lẽ thì bị phạt giam một tháng.
Nhưng ta nghĩ thương hại cho mẹ con ngươi, nên thả cho ngươi
về. Từ nay về sau không được bén mảng đến đây nữa.
Cô
gái nghe quan đề lao nói, không lộ vẻ vui mừng mà lại ra
chiều hốt hoảng:
Nàng
thưa:
- Thưa
quan lớn, quan lớn tha tội mà không cho tôi từ nay được
đến thăm viếng mẹ tôi, thì thà rằng quan lớn cứ bắt
giam như cũ, để tôi được gần mẹ tôi còn hơn.
- Vậy
nghĩa là ngươi không muốn được thả ra?
- Dạ
muốn được thả, nhưng mong ước làm sao được vào thăm
mẹ tôi, nếu không được như vậy thì thà ...
- ...
thà là bị giam lại đây, phải không?
- Dạ
thưa phải!
- Nhưng
ngươi cũng đã biết dù ở đây ngươi cũng không được gặp
mẹ ngươi kia mà.
- Thưa,
dù bị giam giữ riêng, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng là được
ở gần cạnh mẹ tôi, cùng chia sẻ với mẹ tôi những điều
đau khổ.
Lê
Minh lại nói nửa đùa nửa thực:
- Con
có hiếu dữ a!
Chàng
trầm ngâm một lát rồi nói:
- Thôi
ta để cho ngươi về, và cho phép cứ hai hôm đến thăm mẹ
ngươi một lần.
Mắt
Xuân sáng lên, lộ vẻ hân hoan nhưng rồi nàng lại tỏ ra
tư lự. Lê Minh nhận thấy vẻ tư lự của nàng, hỏi:
- Sao
ngươi đã bằng lòng chưa?
- Da
thưa, tôi xin đội ơn quan lớn đã thương mẹ con tôi mà cho
tôi được toại nguyện. Nhưng tôi vẫn chưa thấy được
yên lòng, vì nghĩ đến bác gác vẫn còn bị giam giữ.
Quan
đề lao ôn tồn nói:
- Tên
ấy phạm kỷ luật, ta không thể tha thứ được.
- Thưa
tôi cũng biết như vậy. Nhưng chỉ thương cho bác ta vì rủi
ro mà phải bị tù tội, để vợ con không ai nuôi.
- Sao
ngươi lại bảo là rủi ro? Tên ấy không tuân luật lệ nhà
lao, chứ có phải vì rủi ro đâu?
- Dạ
thưa, tôi muốn nói rủi ro là đã gặp tình cảnh đáng thương
của tôi không cầm lòng được, nên mới phạm kỷ luật của
nhà lao. Nếu không gặp, thì đâu có phạm kỷ luật được?
Cũng như quan lớn, nếu thi hành đúng kỷ luật thì phải giam
giữ tôi một tháng, nhưng quan lớn đã thông cảm, tội nghiệp
cho hoàn cảnh của tôi thì chỉ giam giữ có hai ngày. Nếu
cấp trên mà biết được thì quan lớn cũng bị quở trách
là đã vi phạm kỷ luật, bị nghi ngờ là đã ăn hối lộ
nên mới thả tôi ra sớm, và cho tôi vào thăm mẹ tôi. Như
vậy là quan lớn cũng ... rủi ro gặp một trường
hợp khó xử phải lựa chọn giữa lòng nhân đạo và luật
pháp: Thi hành đúng luật pháp thì trái với lòng nhân đạo,
mà theo lòng nhân đạo thì phạm pháp! Nhưng một khi quan lớn
đã chọn nhân đạo, tha tội cho tôi, thì tại sao lại còn
giam giữ bác ấy làm gì, tội nghiệp bác!
Lê
Minh ngầm thán phục trí thông minh và sự ăn nói lưu loát
của cô gái mà lúc đầu chàng tưởng là ngây thơ khờ khạo.
Chàng chăm chú nhìn Xuân một lát, nói pha trò:
- Ngươi
có thể làm thầy kiện được lắm. Thôi ta cũng chiều theo
ý ngươi mà tha tội cho tên lính ấy.
Nói
xong, quan truyền lịnh mở phòng giam thả người lính gác ra
và cho phép Xuân trở về nhà, sau khi đã cấp cho nàng một
giấy phép được vào thăm bà Năm hai ngày một lần.
CHƯƠNG
XXI
CÔ
XUÂN LO CHO MẸ ÐƯỢC KHỎI TÙ TỘI
Từ
hôm đối thoại với Xuân tại văn phòng, Lê Minh thấy cảm
tình đối với nàng mỗi ngày mỗi tăng. Mỗi lần thấy nàng
vào thăm mẹ, hai mẹ con ôm nhau sụt sùi, chàng không khỏi
thấy mủi lòng, nhưng không biết làm cách nào để giúp đỡ
nàng hơn nữa, vì chàng chỉ có bổn phận canh gác tù nhân,
còn việc bắt hay tha, xử hay phạt là quyền của cấp trên.
Theo lẽ công bằng chàng thấy là bà Năm có tội gian lận
đáng bị phạt. Với tội ấy, theo luật triều đình, bà có
thể bị phạt tù từ năm đến mưòi năm và tịch biên từ
một nửa đến toàn cả gia sản. Nhưng nếu biết cách chạy
chọt thì cũng có thể được giảm bớt cả tù lẫn tiền.
Nhưng trong trường hợp tứ cố vô thân của bà Năm, chắc
chắn là bà sẽ không biết đường nào mà chạy ngã sau.
Trong
triều đình vua Ðột Quyết lúc bấy giờ có nạn tham nhũng.
Tể tướng Hoàng Cái được lệnh của vua phải gấp rút bài
trừ tận gốc cái quốc nhục này. Nhưng đây là một tệ
đoan đã ăn sâu gốc rễ khắp nơi, nên khó mà bài trừ một
cách có hiệu quả. Mặc dù Tể tướng Hoàng Cái là người
thanh liêm trong sạch, nhưng với một nhúm nhỏ người có thiện
chí, ông làm sao có thể thành công?
Ðiều
ngây thơ là ông tưởng có thể làm được. Ông đặt nó lên
hàng đầu, làm một quốc sách, vạch chương trình kế hoạch,
thay người này, đổi người khác, lập tòa án riêng, lập
ban điều tra mật ... Nhưng mọi việc chỉ là hình thức, một
sự thay bậc đổi ngôi, chứ bên trong vẫn không có gì thay
đổi. Ðàn mối tham nhũng đang hoành hành gậm nhấm đục
khoét cả tòa nhà, đáng lẽ quan Tể tướng phải triệt hạ
tất cả, nhưng quan không làm được như vậy, mà chỉ tô
trét lại nước sơn.
Lê
Minh biết rõ nội tình của triều đình như vậy, cho nên muốn
cứu bà Năm cây thị thì cũng không còn cách nào khác hơn
là cách hối lộ các quan lo việc án tiết.
Một
hôm, chàng gọi Xuân đến văn phòng riêng của chàng, cho nàng
biết rằng vụ án của mẹ nàng sắp đem ra xử và bà có
thể bị án nặng. Nàng nghe nói ôm mặt khóc ròng. Lê Minh
ngồi yên lặng để cho nàng khóc một hồi rồi mới cất
tiếng hỏi nàng:
- Cô
cho rằng mẹ cô oan chăng?
- Thưa
tôi biết là mẹ tôi có tội, nhưng dù sao đi nữa thì vì
tình mẹ con, tôi không thể không đau xót được. Xin quan rũ
lòng thương mẹ con tôi, có cách gì chỉ bảo cho mẹ tôi được
nhẹ tội.
- Thực
ra tôi thấy cô có lòng hiếu thảo, lo lắng nhiều cho mẹ
cô, tôi cũng không thể dửng dưng được. Nhưng tội trạng
mẹ cô có đủ bằng chứng hiển nhiên như vậy làm sao cứu
được. Vả lại, có oan ức thì mới tìm cách giải oan, chứ
mình có tội rành rành thì ... khó quá.
- Thưa,
tôi không mong mẹ tôi hoàn toàn được trắng án. Nhưng chỉ
mong làm sao được nhẹ tội chừng nào quí chừng ấy.
Lê
Minh ngồi trầm ngâm một hồi rồi ngập ngừng trước khi
nói:
- Thật
là khó! Tôi nghĩ chỉ còn một cách, nhưng không biết cô có
chịu không ...!
- Dạ,
xin ông cứ nói. Ông đã thương mẹ tôi mà nghĩ cách giúp
đỡ thì xin đừng có ngại gì hết. Ông dạy bảo điều
gì, tôi xin nghe theo điều ấy.
- Theo
tôi biết thì mẹ cô có thể bị ngồi tù dài hạn, hoặc
bị ngồi tù và tịch biên một nửa gia sản. trong ba hình
phạt ấy, theo cô, cô muốn hình phạt nào?
Nàng
suy nghĩ một chốc rồi đáp:
- Dạ,
tịch biên gia sản nhưng khỏi ngồi tù.
- Vì
sao cô lại nghĩ như vậy?
- Dạ,
tôi thấy gia sản của mẹ tôi là do gian lận mà có. Ðó là
đồng tiền phi nghĩa. Chính vì vậy mà mẹ tôi mang họa vào
thân. Ðã là phi nghĩa thì cũng không nên nắm giữ cái gia
sản ấy làm gì.
Lê
Minh nghe Xuân nói có vẻ hài lòng.Chàng vội nói:
- Nếu
vậy thì hay! Tôi có thể giúp cô được. Nhưng cô nên biết
là trong vụ này, tôi không dính líu gì, tôi vì thấy cô có
lòng hiếu thảo với mẹ mà đứng ra giúp đỡ chứ tuyệt
nhiên không vì một chút lợi lộc gì.
- Thưa,
tôi đã rõ như vậy từ khi được biết ông. Ông là người
nghĩa khí, ai cũng biết. Xin ông cứ nói, đừng ngại gì. Tôi
không bao giờ dám nghi ngờ lòng thành thật của ông.
Lê
Minh ngồi xích tới, nói thấp giọng:
- Cô
cũng biét hiện nay, cái nạn hối lộ, tham nhũng đang hoành
hành trong nước. Không có việc gì có thể thành công nếu
không có tiền. Quan Tể tướng đang ra sức bài trừ mà chưa
có kết quả. Nếu thật tình cô cho rằng gia sản của cô
là của phi nghĩa, không cần gìn giữ làm gì, thì nên trút
ra cho bọn quan trường tham lam chúng nó hốt đi. Chúng nó hốt
cái vạ của cải ấy cũng là hốt luôn cả tai vạ.
- Còn
mẹ tôi thì sao?
- Thì
khi bọn ấy hốt gia sản của cô tức phải làm sao cho mẹ
cô trắng án. Như cách là mẹ cô trút cái gánh nặng tài sản
phi nghĩa để được nhẹ cái thân mạng. Còn ai tham lam muốn
kề vai gánh cái gánh nặng ấy thì mặc họ. Họ sẽ chịu
cái hậu quả nặng nề của nó.
Xuân
tỏ vẻ nghi ngờ:
- Liệu
họ có chịu cái hậu quả nặng nề không, hay là vẫn cứ
phây phây sống cuộc đời an nhàn sung sướng trên mồ hôi
nước mắt của người khác?
- Cô
đừng lo, thế nào rồi họ cũng không thoát khỏi cái luật
nhân quả. Bây giờ, điều cốt yếu là cô hãy nói lời hơn
lẽ thiệt cho mẹ cô bằng lòng trút bỏ cái gia sản ấy ra.
Rồi tôi sẽ bắn tiếng cho bọn hạm nào muốn ăn to thì nhào
vô lo việc này cho cô. Thế nào mẹ cô cũng được trắng
án yên ổn trở về nhà. Còn công việc về sau ra thế nào
nữa là phần của tôi. Thôi cô hãy về bàn tính lại với
mẹ cô đi, rồi cho tôi biết kết quả. Nếu mẹ cô bằng
lòng thì chỉ nội trong 10 hôm là bà có thể ra khỏi nhà lao.
Khi ấy cô không còn đến đây khóc lóc nữa, và tôi cũng
đỡ xót xa trong lòng. Nói xong Lê Minh nhìn nàng có vẻ trìu
mến. Nàng nhìn lại, đôi mắt chứa đầy lòng biết ơn. Nàng
cáo từ Lê Minh trở về phòng giam, lòng tràn đầy hy vọng:
trong một ngày gần đây, mẹ nàng sẽ thoát khỏi cảnh lao
tù, và mẹ con sẽ được đoàn tụ với nhau.
Nhưng
mọi sự đã không xảy ra dễ dàng như ý của nàng. Khi về
phòng giam, Xuân đem câu chuyện ấy ra nói với mẹ, thì bà
nhất quyết một hai không chịu. Bà không thể tưởng tượng
được rằng cái gia sản lớn lao của bà bỗng chốc trở
thành mây khói, gia sản mà bà đã dày công gây dựng với
bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và mánh khóe gian ngoan. Bà bảo
thà bà phải ở tù 5, 10 hay 15 năm đi nữa cũng được, chứ
còn gia sản bà không thể mất đi được. Xuân phải mất
công giảng đi giảng lại cho bà hiểu rằng nếu không lo liệu
bằng cách hối lộ, thì gia sản của bà cũng sẽ bị tịch
biên, mặc dù bà chịu ngồi tù 5 hay 10, năm đi nữa. Huống
chi, bà mà còn giữa cái gia sản ấy ngày nào thì tai vạ sẽ
còn đeo theo bà ngày ấy.
Bà
Năm biết rằng con mình nói có lý, nhưng lòng tiếc của đã
thâm nhập trong tâm hồn bà không thể một sớm một chiều
xoá bỏ đi được.Bà Năm rầu rỉ, bỏ ăn, bỏ ngủ luôn
mấy hôm, ngồi thở vắn than dài không ngớt. Xuân phải khuyên
dỗ bà hết ngày này sang ngày khác trong gần mươi ngày bà
mới ưng chịu để cho Lê Minh lo liệu mọi việc như chàng
đã đề nghị.
CHƯƠNG
XXII
BÀ
NĂM OÁN TRÁCH PHẬT TRỜI
Bà
Năm cây thị đã được trả tự do, nhưng gia sản bà đã
khánh tận. Bà chỉ còn một ít tư trang cất giấu để sinh
nhai. Khi tở về nhà, thấy cửa hàng trống trơn, bà khóc rống
lên rất thảm thiết. Cô Xuân con gái bà cũng không cầm được
nước mắt. Cô khóc vì thấy mẹ quá đau khổ, chứ không
phải vì tiếc của như bà, cô cho rằng người làm ra của
chứ của không làm ra người. Hễ còn người là còn của.
Cô lấy lời ngay lẽ thiệt khuyên dỗ bà, dần dần bà cũng
khuây khỏa đôi chút.
Nhưng
bà vẫn tấm tức oán trời trách đất. Bà vẫn chưa nhận
rõ ý nghĩa của "Bài học ngàn vàng" treo ở trên trần nhà.
Từ khi trở về nhà bà không thèm đoái hoài đến bàn thờ
Phật Bà ở trên gác. Bà có vẻ oán trách đức Phật Bà Quan
Âm, vì đã không phù hộ cho bà, không che chở cho bà trong
công việc làm ăn, đến nỗi bà phải tan gia bại sản.
Càng
nghĩ càng thấm giận, nên một buổi sáng kia, sau khi điểm
tâm xong, bà leo lên gác, dẹp bàn thờ lấy pho tượng Phật
Bà bằng sành xuống, bà gói trong giấy, bỏ vào giỏ xách
lên chùa trả lại cho vị sư trụ trì ở đây.
Vị
sư trụ trì đang ngồi uống trà trong liêu, thấy bà đi vào,
vô cùng mừng rỡ, vồn vã đón chào:
- Mô
Phật, bà Năm được thả ra hồi nào vậy? Thật phúc đức!
Tôi cứ nhắn hỏi thăm tin tức của bà mãi. Trông bà vẫn
không có gì thay đổi cả. Cầu mong chư Phật gia hộ cho bà
từ nay về sau không gặp tai nạn nữa ...
Vị
sư trụ trì nói một hồi mà bà Năm vẫn xách giỏ đứng
yên một chỗ. Trông bà có vẻ không vui như mọi ngày. Nhà
sư cho rằng vì bà mới gặp nạn lớn nên thay đổi tánh nết,
không miệng lưỡi như trước. Nhà sư mời bà ngồi xuống
một chiếc ghế đẩu kê sát tường. Bà Năm lặng lẽ ngồi
xuống, mở chiếc giỏ ra, lấy gói tượng Phật đặt lên
bàn bên cạnh khay trà. Bà Năm chua chát nói:
- Thưa
Thầy, tôi tưởng rằng thờ Phật sẽ được Phật phò hộ
che chở tai qua nạn khỏi, làm ăn tấn phát, cái này Phật
không phò hộ che chở chi hết, vừa rồi tôi bị tù tội,
gia tài sự sản tiêu hết. Bây giờ tôi xin đem tượng Phật
trả lại chùa, vì tôi không đủ quyền để thờ Ngài nữa
...!
Nhà
sư dịu dàng nói:
- Mô
Phật, bà Năm đừng phỉ báng Trời Phật mà mang tội, chẳng
qua sông có khúc, người có lúc.
Bà
Năm trướng cổ cái, càng cãi càng hăng:
- Thưa
Thầy, tôi nói có sách, mách có chứng, chứ không phải phỉ
báng ai cả. Thầy nghĩ coi, từ ngày tôi thỉnh đức Phật
Bà về thờ cho đến nay, đêm nào tôi cũng hương hoa quả
phẩm cúng bái hết sức tâm thành, cầu nguyện ngài phò hộ
cho tôi mua may bán đắt, tai qua nạn khỏi, thế mà tôi vẫn
bị tù tội, tài sản vẫn tiêu tan, chỉ còn hai bàn tay trắng.
- Mô
Phật!
- Thầy
thường bảo rằng đức Phật Bà thường phò hộ cho mọi
người được tai qua nạn khỏi, thế mà Ngài đâu có phò
hộ cho tôi. Tôi thấy thờ Ngài cũng ... không có ích gì. Cho
nên hôm nay tôi đến đây ...
Thầy
trụ trì vô cùng xúc động, vì không ngờ sự thể lại xảy
ra như vậy. Ngài niệm luôn mấy tiếng: "Mô Phật, Mô Phật,
Mô Phật!"
Bà
Năm định vái chào quay gót trở ra, nhưng nhà sư đã trấn
tỉnh cất giọng ôn tồn nói:
- Mô
Phật! Bà Năm hãy ngồi nán lại cho tôi phân trần một đôi
lời.
Thực
ra, tôi phải tự trách tôi trước vì đã không dẫn giải
rõ ràng cho bà Năm biết trước khi bà thỉnh tượng Phật
Bà này về thờ. Ðức Phật Bà Quan Âm linh thiêng lắm, Ngài
thường cứu khổ cứu nạn cho những ai cầu cứu đến ngài.
Nhưng đừng xem Ngài như một vị thần, ban phước cho ai thờ
cúng mình, hối lộ cho mình bằng hương hoa quả phẩm, và
gieo họa cho ai không thờ cúng mình. Ðức Quan Âm không phải
hạng thánh thần ấy. Ngài không thể cứu vớt những kẻ
gian tham ác độc, vì cứu vớt hạng này thì chẳng khác gì
khuyến khích họ làm ác, gây thêm họa cho thế gian. Ngài chỉ
cứu vớt những người ăn ở hiền lành, tu nhơn tích đức
mỗi khi gặp tai nạn thành tâm kêu cứu đến Ngài. Khi bà
Năm thỉnh pho tượng này về thờ, tôi mừng thầm rằng bà
đang hướng về con đường tu nhơn tích đức, chứ tôi đâu
có ngờ bà thỉnh Ngài về thờ chỉ để cầu Ngài bảo hộ
cho sự buôn bán thiếu ngay thật của bà. Ðức Quan Âm đâu
có phò hộ cho những việc làm như vậy được. Tôi rất buồn
là đáng lẽ sau vụ giam giữ vừa rồi, bà đã nhận ra được
một bài học đích đáng về lẽ nhân quả, không ngờ bà
vẫn giữ cái ý niệm sai lầm oán Trời trách Phật về những
hành động của chính bà. Bà treo ngay giữa nhà một bảng
sơn son thếp vàng nói về bài học ngàn vàng: "Phàm làm việc
gì, trước phải nghĩ đến hậu quả của nó". Hậu quả ngày
nay là sự tan gia bại sản mà trước kia, trong hành động
của bà, bà không hề nghĩ đến. Ðó là lỗi tại bà, chứ
đâu phải tại Phật Thánh?
Nhà
sư hạ thấp giọng nói như an ủi:
- Sự
thật mất lòng, tôi biết vậy. Nhưng nếu không nói ra thì
bà lại còn hiểu lầm như lần trước. Thánh nhân có dạy:
Biết mà không nói ra là bất nhân, nói mà không hết lời
là bất nghĩa. Tôi khuyên bà từ đây về sau nếu bà không
thờ Phật thì thôi, còn muốn thờ Ngài thì phải thay đổi
quan niệm sai lầm của bà, đừng xem Ngài như một vị thần
tham nhũng, luôn luôn hối lộ Ngài để được bảo hộ. Thôi
bà đã không muốn thờ đức Phật Bà Quan Âm nữa, thì để
lại đó mà về. Nhưng tôi chỉ sợ rằng nếu bà chưa nhận
rõ được cái lẽ: "nhân nào quả ấy" nếu bà chưa chịu
nghe theo lời khuyên của "BÀI HỌC NGÀN VÀNG", thì đời bà
chắc còn phải nhiều phen vất vả nữa.
Bà
Năm cây thị ngồi cúi mặt nghe lời vị sư dạy bảo, không
đáp lại một lời nào. Vị sư tưởng bà giận. Nhưng không,
bà Năm càng nghe càng thấm. Từ trước đến giờ, chưa bao
giờ bà được nghe ai nói với bà như vậy. Mười mấy năm
trời, suốt ngày đầu tắt mặt tối lo việc bán buôn với
những mánh khóe gian lận, bà đâu có thì giờ nghe chuyện
đạo lý. Bà tưởng rằng mình khôn, ngờ đâu đó chỉ là
những cái khôn vặt. Nhưng cái khôn ấy, rốt cuộc, đã làm
cho bà tiêu tan sự nghiệp. Khôn quá hóa dại, là vậy. Từ
đây, bà nguyện chuyển hướng cuộc đời, hướng về nẻo
thiện, để phước về sau.
Bà
đứng dậy chấp tay nói với nhà sư:
- Con
xin lãnh giáo những lời vàng ngọc của Thầy. Từ đây con
xin nguyện làm theo lời Thầy chỉ dạy.
Nói
xong bà cúi xuống lạy nhà sư ba lạy và xin thỉnh pho tượng
Phật Bà về thờ lại.
CHƯƠNG
XXIII
BÀ
NĂM CÂY THỊ BẮT ÐẦU XÂY DỰNG LẠI CƠ NGHIỆP LẦN THỨ
HAI
Sau
khi được trả tự do, với một số vốn nhỏ nhoi do sự bán
hết tư trang của hai mẹ con, bà Năm trở lại nghề buôn bán
cũ trong một gian hàng nhỏ ở phố chợ. Nhưng lần này bà
tự nguyện sẽ cố gắng hết sức lương thiện trong việc
buôn bán. Mỗi buổi tối, sau một ngày làm việc nhọc mệt,
bà vẫn không quên lên gác thắp nhang đèn, khấn vái đức
Phật Quan Âm phù hộ cho bà giữ vững được lòng ngay thật,
không còn bị lòng tham lam lôi cuốn vào đường tà vạy như
trước. Và mỗi buổi sáng, trước khi mở cửa hàng, bà ngước
lên nhìn tấm bảng sơn son thếp vàng, thầm đọc Bài học
ngàn vàng: "Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến hậu
quả của nó". Ðôi khi bà vẫn còn bị ám ảnh bởi sự gian
lận, muốn cân non, muốn pha trộn, nhưng bà lại thầm đọc
lên "Bài học ngàn vàng" và giữ vững được lòng mình không
bị sự cám dỗ của lòng tham. Ðiều khuyến khích bà rất
nhiều là càng ngày bà thấy khách hàng càng đông và tỏ vẻ
tin cậy mình. Tuy mỗi món hàng bán ra bà không lời được
nhiều như trước, nhưng vì bà bán được nhiều món nên số
lời vẫn không sút giảm hơn trước.
Ðiều
đáng mừng thứ hai là Xuân, cô con gái cưng của bà mỗi ngày
mỗi tỏ ra rất đảm đang và được toàn thể khách hàng
mến chuộng. Thỉnh thoảng bà giao cả cửa hàng cho Xuân, để
lên chùa lễ Phật, nghe Kinh, và khi trở về, bà cảm thấy
trong tâm hồn được nhẹ nhàng, thư thới. Bà không thấy
cái thú đếm tiền và cất giữ tiền như trước, bà tự
bảo: "Mình cũng đã từng cất giữ bạc muôn, bạc ức rồi
mà rốt cuộc, tay trắng cũng hoàn trắng tay, thì lo làm giàu
làm có gì cho mệt xác!"
Bà
thấy bà đã già rồi, nếu không lo tu nhân tích đức, mà
cứ làm nô lệ đồng tiền, đếm đếm, cất cất, thu thu,
phát phát, hết ngày này sang ngày khác cho đến lúc nhắm mắt
lìa đời, thì cũng thật là vô vị. Vì thế bà cố ý trút
dần công việc bán buôn cho con gái, để rãnh thời giờ đọc
sách xem kinh, nghe giảng. Thỉnh thoảng bà lên chùa phóng sinh,
phóng đăng hay nhờ thầy trụ trì tổ chức các cuộc phát
chẩn cho kẻ nghèo khó. Dần dần bà trở thành một đại
thí chủ, và cái tên "bà Năm Cây thị" được người tật
nguyền và nghèo khó mến trọng như là tên một vị ân nhân.
Một
hôm bà đang ngồi xem sách trên gác thì cô Xuân, con gái bà
lên báo tin có một bà khách lạ đến muốn nói chuyện với
bà. Bà lật đật xếp sách đi xuống nhà. Bà không khỏi ngạc
nhiên khi nhìn thấy một bà già trạc độ 60, ăn mặc chỉnh
tề ra vẻ một bà quan lễ phép đứng dậy chào bà. Bà lại
ngạc nhiên hơn nữa khi nhìn thấy hai người lính bưng đặt
trên bàn một cái khay có 4 lon tra và mấy gói mứt. Bà Năm
chào lại, vẻ ngỡ ngàng lộ hẳn trên mặt. Bà chưa kịp
hỏi chào thì bà khách, có lẽ đoán biết sự ngạc nhiên
của bà, lên tiếng tự giới thiệu:
- Tôi
là vợ quan Ðề đốc, hôm nay đường đột đến đây thăm
bà Năm mà không kịp báo trước, thật có điều thất lễ.
- Nghe
bà khách tự giới thiệu là vợ quan Ðề đốc, bà Năm không
khỏi giật mình lo sợ, nhưng thấy bà khách có vẻ rất nhã
nhặn và lại đem theo mấy lon trà bánh, bà đoán biết chắc
không có gì đáng e ngại. Bà Năm mời bà Ðề đốc ngồi
và đứng khép nép ở sau chiếc ghế ngồi. Bà khách nói vẻ
thân mật:
- Xin
bà cứ tự nhiên cho! Mặc dù chưa quen biết, chúng ta cứ xem
nhau như chị em trong nhà. Bà ngồi, để tôi còn thưa chuyện
nhiều.
Bà
Năm rụt rè, xin đứng hầu chuyện nhưng bà khách đứng dậy
kéo tay bà bảo ngồi xuống. Bà năm biết chắc không phải
điềm dữ, nhưng trong bụng vẫn không làm sao đoán được
lý do sự đến thăm viếng đột ngột của bà Ðề đốc.
Bà này không để cho bà Năm phải sốt ruột chờ đợi, đi
ngay vào câu chuyện.
- Có
lẽ bà còn nhớ cháu Lê Minh chứ? Nó là con nuôi của chúng
tôi đấy. Chẳng nói giấu gì bà, từ ngày nó được biết
cháu Xuân con bà, nó đem lòng tưởng nhớ đến nỗi sanh bệnh,
nhưng nó giữ kín tâm sự không cho ai hay. Và vì càng giữ
kín tâm sự, nên bịnh nó mỗi ngày mỗi trầm trọng. Lương
y mặc dù hết lòng chữa trị nhưng vì không biết rõ căn
bịnh nên thuốc thang đều vô hiệu. Cuối cùng đoán chắc
cháu có mắc tâm bịnh, nên hôm qua tôi dỗ dành nó, nó mới
chịu nói ra là nó muốn được kết tóc se tơ với cháu Xuân.
Nghe nó nói tôi phải lật đật sắm chút lễ mọn sang xin
bà gã cháu Xuân cho nó. Nếu trái lại thì chắc bịnh trạng
nó khó lòng qua khỏi.
Thực
ra, sự việc xảy ra không phải đơn giản như vậy. Bà Ðề
đốc vì sợ mất lòng bà Năm, nên không tiện nói ra một
vài chi tiết quan trọng. Lê Minh quả thật ban đầu đã giấu
nỗi lòng thương nhớ của mình. Nhưng sau một thời gian biết
không thể giấu đưọc chàng đã đem tâm sự mình thố lộ
cho bà rõ. Bà nghe con nói, không khỏi kinh ngạc vì nhiều lý
do:
Thứ
nhất, mặc dù Lê Minh là con nuôi, nhưng dù sao cũng là con
nuôi một quan Ðề đốc, vả lại chàng là người có chức
tước, không thể lấy một đứa con gái thường dân.
Thứ
hai, cô Xuân mặc dù thông minh và đức hạnh, nhưng lại là
con một kẻ đã bị tù tội vì gian tham, do đó không thể
về làm dâu con nhà ông bà Ðề đốc được.
Vì
những lý do đó, ông bà Ðề đốc đã nhất thiết không tán
thành một cuộc hôn nhân như vậy.
Lê
Minh không thể không tuân theo sự quyết định của cha mẹ
nuôi, nhưng trong lòng vẫn không làm sao xao lãng được
hình ảnh yêu kiều và giọng nói thanh tao nhã nhặn của người
yêu, nên sinh ốm nặng. Thấy con mỗi ngày mỗi tiều tụy
đến độ nguy đến tánh mạng, bà Ðề đốc vội vã nhượng
bộ và đi hỏi Xuân cho chàng.
Bà
Năm cây thị nghe nói vô cùng sung sướng và hãnh diện, nhưng
không lẽ bà nhận lời ngay. Bà phải làm bộ lo lắng, nhún
nhường, nào là con bà còn nhỏ dại, là con một kẻ thường
dân quê kịch, không xứng đáng cới một người có chức
phận như Lê Minh. Vả lại bà là người có can án, không dám
ngạo mạn làm thông gia với ông bà Ðề đốc.
Thấy
bà Năm tìm nhiều lý do để chối từ, bà Ðề đốc tưởng
rằng bà Năm còn hận về vụ bắt bớ năm xưa, nghi ngờ con
bà có nhúng tay vào vụ hối lộ làm cho gia sản của bà bị
tiêu tan nhưng trong vụ hối lộ ấy, chính con bà có công,
chứ không có tội. Lê Minh đã sắp đặt vụ hối lộ ấy
để gài bẫy bọn tham nhũng, chàng đã tố cáo vụ ấy với
quan Tể tướng, giúp quan một tay đắc lực để bài trừ
một số bọn tham nhũng trong triều.
Lê
Minh hành động như vậy nhưng trừ ông bà Ðề đốc ra, chàng
không nói cho một ai hay biết, vì sợ lộ bí mật có thể
làm cho chàng bị bọn tham nhũng hãm hại.
Hôm
nay, sợ bà Năm hiểu lầm hành động trước của Lê Minh mà
từ chối gả Xuân cho chàng, bà Ðề đốc phải thuật rõ
đầu đuôi vụ ấy cho bà Năm nghe và báo tin cho bà biết là
bọn tham nhũng chia nhau gia sản của bà đều bị vào tù đền
tội cả rồi.
Nghe
xong câu chuyện bà Năm tỏ vẻ mừng rỡ kết luận:
- Thưa
rõ ràng không sai! Trời Phật có mắt, nhân nào quả nấy.
Và
để thưởng công lao diệt trừ tham nhũng của Lê Minh, bà
Năm cây thị bằng lòng gả con gái cưng của bà cho chàng.