TẬP 03
CHƯƠNG
XII
BÀ
HUYỆN ÐEM BIẾU BÀ ÁN BỐN HỘP TRÀ
Bà
Án Quý đang ngồi gọt bí làm mứt thì một tên lính lệ vào
báo tin có bà huyện Minh đến thăm. Bà Án lật đật rửa
tay rồi đi lên nhà trên. Bà huyện Minh khép nép vái chào,
rồi quay lùi bảo tên lính đặt khay trà lên án. Bà huyện
bảo tên lính lui ra rồi trịnh trọng nói với bà Án:
- Bẩm
bà lớn, hôm nay nhân ra tỉnh có việc cần, con xin đến hầu
thăm ông bà lớn. Nhà con vì bận công việc không ra hầu thăm
ông bà được, có bảo con hỏi thăm xem vụ án chánh tổng
Hàm đã được quan lớn xét xử ra sao chưa?
Bà
Án chậm rãi bảo bà huyện ngồi xuống chiếc xập gỗ bên
cạnh mình, gọi bảo con bé hầu pha trà, nhưng không đả động
gì về vụ của chánh tổng Hàm cả. Bà Án nhìn chiếc khay
có 4 lon trà tàu mới nguyên, nói như trách:
- Bà
huyện có lòng đến thăm vợ chồng tôi là quý rồi, đem theo
quà cáp làm gì; ông nhà tôi đã dặn nhiều lần là không
được nhận quà cáp của một ai.
Bà
huyện xoa hai bàn tay vào nhau, rụt rè định nói gì rồi lại
ngồi yên. Không khí bỗng trở thành ngột ngạt. Thương hại
cho sự lúng túng ngượng ngịu của bà huyện, Bà Án đẩy
khay trầu đến gần gần bà huyện, mời:
- Bà
dùng một miếng trầu cho ấm bụng ... Chắc bà cũng biết
tính ông nhà tôi nghiêm lắm, không bao giờ chịu nhận lễ
vật của ai đem cho.
Bà
huyện chống chế:
- Bà
lớn thương cho vợ chồng chúng con mà xem như con cháu trong
nhà. Chúng con cũng biết tánh liêm của quan lớn, nêm không
dám đem gì nhiều, chỉ có 4 lon trà tàu thôi. Vật mọn, xin
bà lớn nhận cho để vợ chồng con mừng.
Bà
Án nhượng bộ:
- Thôi
thì đường sá xa xôi, bà đã có lòng đem đến cho vợ chồng
tôi, thì tôi cũng xin giữ lại đó. Nhưng lần sau bà có đến
chơi, xin bà đừng bày vẽ như thế này nữa; nếu không, chúng
tôi sẽ buộc lòng từ chối.
Bà
huyện thấy bà Án đã hoan hỷ nhận lễ vật, vui vẻ hẳn
lên.
- Dạ,
vợ chồng chúng con xin đa tạ quan lớn, bà lớn đã rũ lòng
thương chúng con, không nỡ từ chối món quà mọn ...
Câu
chuyện quà cáp chấm dứt ở đó. Hai bà vui vẻ hàn huyên
về chuyên gia đình, hỏi thăm nhau về sức khỏe của chồng
con, trao đổi ý kiến về thời tiết ấm lạnh. Nhưng rồi
bà huyện lại quay trở lại câu chuyện vụ án chánh tổng
Hàm:
- Thưa
bà lớn, không biết bà lớn có nghe quan lớn dạy như thế
nào về vụ án lão tổng Hàm chưa? Vụ án nhà con đã trình
lên với quan lớn hơn một tháng rồi, chắc cũng đã đến
ngày đem ra xử. Nhà con thường bảo con là lão chánh Hàm ấy
mắc hàm oan, thật đáng thương. Nếu quan lớn lấy đèn trời
soi xét mà tha bỗng cho lão ta, thì thật là phúc đức vô cùng.
Bà
Án phân trần:
- Việc
xử kiện là việc của ông nhà tôi, tôi là phận đàn bà,
coi việc bếp nước, cũng ít khi được biết đến.
- Bẩm
con cũng biết vậy. Nhưng đây là trường hợp đặc biệt;
bà lớn là người phúc đức thấy việc oan ức không thể
dửng dưng được. Dạ, tục ngữ có câu: "dù xây chín đợt
phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người". Nếu bà
lớn thương tình gia cảnh của lão ta, nói giúp vào một tiếng,
thì chắc quan lớn cũng nể bà lớn mà châm chước cho lão
ta được nhờ. Lão chánh Hàm mà thoát khỏi nạn lao tù, thì
chắc chắn muôn đời lão không quên ơn ông bà lớn.
Không
biết chối từ làm sao được, bà Án đành hứa qua loa:
- Tôi
được, bà cứ yên tâm, tôi chẳng biết vụ án tiết ấy
ra làm sao, nhưng tôi cứ thử thưa lại với ông tôi một tiếng,
còn được hay không thì tôi chưa dám hứa.
Bà
huyện vội vã đỡ lời:
- Dạ
dạ, bà lớn đoái thương lão ta mà cho một tiếng là qúy
lắm rồi, vợ chồng con không dám mong gì hơn.
Nói
xong, bà huyện đứng dậy cáo từ. Bà nhìn mấy lon trà tàu
để trên án, định nói gì, rồi lại thôi. Nhưng cử chỉ
ấy không qua mắt bà Án được. Cho nên khi đưa tiễn bà huyện
ra cửa, bà liền quay vào, đến nắm mấy lon trà ngắm nghía.
Bà lấy làm lạ khi nhắc bốn lon trà thấy nằng nặng. Bà
vội vã nhìn sau nhìn trước, rồi mở nắp lon trà ra xem. Bà
thọc ngón tay sâu xuống dưới, cảm thấy có vật gì cưng
cứng. Bà đổ hết trà trong lon ra và thấy một thoi vàng.
Bà mở ba lon trà còn lại và thấy lon nào cũng có một thoi
vàng ở phía dưới. Bà đứng tần ngần một lúc, rồi vội
vã ôm hết cả 4 lon trà vào trong phòng riêng của mình. Cảm
tưởng của bà thực là phức tạp khó phân tách. Bà vừa
choáng ngợp, vừa kinh hãi, vừa mừng rỡ, vừa lo lắng vì
số vàng quá nhiều mà suốt đời làm vợ của một ông quan
lớn chưa bao giờ bà được thấy. Có lẽ đối với một
bà quan khác, thì số vàng ấy không đáng kể vào đâu. Nhưng
đối với bà, thì đó là cả gia tài lớn lao mà chưa bao giờ
bà dám mơ tưởng đến.
Quan
Án Qúy, chồng bà là một quan thanh liêm nổi tiếng. Từ ngày
thi đỗ ra làm quan, và lần hồi lên đến chức Án sát ở
một tỉnh thuộc miền sơn cước nước Nhục Chi cho đến
nay, đã hơn hai mươi năm, quan Án vẫn giữ đạo thanh bần,
Những bạn đồng song của quan Án hết thảy đều là những
bực giàu sang chức trọng, có nhà cao cửa lớn, tiền kho,
thóc đụn, trong khi ấy thì quan Án vẫn nghèo xác, nghèo xơ,
quanh năm suốt tháng chỉ nhờ vào đồng lương để sanh sống.
Nhiều lúc bà Án không khỏi thở vắn than dài, vì cái tánh
thanh liêm của chồng đã làm cho bà thua sút bạn bè, bà con
xa lánh. Người ta thì " một người làm quan, cả họ được
nhờ", còn quan Án thì mặc dù làm đến chức Án sát, vợ
con vẫn thiếu trước hụt sau, như một kẻ hàn nho! Nhiều
khi bà nghĩ đến tương lai mà không khỏi sốt ruột: con cái
mỗi ngày mỗi lớn, lấy gì để dựng vợ gã chồng cho chúng?
Và ông Án cũng sắp hồi hưu, lấy gì để đắp đổi tuổi
già? Hơn nữa, tiếng là có con lấy chồng quan, mà song thân
bà chưa một lần nào nếm được của ngon vật lạ, hưởng
được cái cảnh sung túc, nhàn hạ như những người khác.
Nghĩ đến đó, nhiều khi bà ứa nước mắt, thấy tủi hổ
vì trên thì chưa báo đáp được ơn sinh thành, dưới thì
chưa tròn bổn phận đối với con cái. Có chăng, bà chỉ an
ủi được khi cảm thấy cái vẻ kính cẩn mến phục của
dân chúng khắp nơi, mỗi khi bà có dịp tiếp xúc với họ.
Thế
rồi hôm nay, bà bị đặt trước một việc vô cùng bất ngờ,
chưa bao giờ bà nghĩ tới. Bà phải xử trí làm sao đây? Trả
số vàng lại cho bà huyện chăng? - Thật quá uổng! Cả một
đời làm quan của chồng, vẫn không làm sao có được một
số vàng như thế! – Nhưng giữ lấy được chăng? – Làm
sao để thuyết phục cho chồng bà chấp thuận? Và lấy của
phi nghĩa chắc phải trả bằng việc làm phi nghĩa! Bà chưa
rõ vụ án của chánh Hàm ra làm sao, nhưng khi bà huyện đem
đến cho bà chừng ấy thoi vàng, chắc chắn trong ấy có điều
ám muội! Không lẽ viên chánh tổng ấy vô tội, mà lại phải
đem nạp cho bà đến chừng ấy thoi vàng. Bà nắm 4 thoi vàng
trong tay, ngắm nghía lật qua trở lại, nâng lên để xuống
ra chiều quyến luyến. Khi chưa có số vàng ấy ở trong tay,
thì bà không bao giờ tưởng đến nó. Nhưng bây giờ nắm
được nó trong tay, thì bà bỗng quý chuộng nó nâng niu nó.
Bà nghĩ đến bao nhiêu chuyện đáng làm phải làm khi có nó:
Nào may thêm một ít áo quần cho con cái; sắm cho đứa con
gái đầu lòng một ít tư trang để nó đi về nhà chồng,
để dành cho hai thằng con trai một ít lộ phí cho chúng về
kinh dự thi; nào mua một vài mẫu ruộng, một sở vườn để
dưỡng già, đem một ít tiền về quê xây lăng cho song thân
quan
Án; cúng một số tiền để xây nhà thờ họ ngoại của bà
... nào và nào ... toàn là những việc đáng làm, phải làm
cả ...
Cuối
cùng, không biết quyết định ra sao, bà tạm giấu thoi vàng
trong bao gối của bà, rồi sẽ liệu sau.
CHƯƠNG
XIII
BÀ
ÁN THUYẾT PHỤC ÔNG ÁN
Như
thường lệ, bữa cơm chiều hôm nay đã dọn ra trên bộ phản
ở căn nhà lớn. Quan Án một mình ngồi đối diện với mâm
cơm, bà Án ngồi bên cạnh để tiếp chồng. Không phải vì
kiểu cách mà bà dọn cho quan Án dùng cơm riêng một mình,
nhưng là vì bà muốn hạn chế sự ăn uống cho đỡ tốn kém:
bà và các con có thể ăn thế nào cũng được, nhưng quan Án
thì phải được tẩm bổ để đủ sức làm việc. Chiều
hôm nay, mâm cơm có vẻ thịnh soạn hơn mọi ngày, có rượu
và đồ nhấm. Bà Án vui vẻ ngồi bên cạnh chồng kể lể
hết chuyện này đến chuyện khác, trong ấy có chuyện viếng
thăm của bà huyện Minh, nhưng tất nhiên là bà giấu chuyện
bốn lon trà. Ðột nhiên bà đề cập đến vụ án chánh tổng
Hàm:
- À,
bà huyện có hỏi thăm vụ án chánh Hàm đã đi đến đâu.
Tôi cũng không biết sao mà trả lời.
- Vụ
ấy còn nhiều bí ẩn lắm. tôi đang cho người điều tra lại.
Theo tờ trình của quan huyện Minh thì đứa tớ gái của lão
chánh Hàm vì buồn chuyện gia đình nên đêm khuya trốn đi
mất. Nhưng theo tôi thì thấy có nhiều điểm mập mờ, phi
lý.
Quan
Án dừng lại một lúc, rồi nói như tự hỏi:
- Nhưng
vụ này đã đệ trình lên tỉnh rồi, không dính dấp gì đến
quan huyện Minh nữa, thì bà ta hỏi thăm làm gì?
Bà
Án thấy cần binh vực cho bà huyện Minh:
- Có
lẽ đây là vụ án quan trọng xảy ra trong hạt bà, và do ông
huyện Minh xét xử sơ thẩm, nên bà cũng muốn biết ra sao
...
Bà
thêm:
- ...
Và nghe nói hình như ông chánh Hàm là bà con bên ngoại của
bà huyên. Nếu ông chánh Hàm mà có chuyện gì, thì cũng xấu
lây cho họ hàng nhà bà huyện, cho nên, bà ta có vẻ lo ngại
... Ông xem nếu có thể được, thì cũng nên châm chước cho
lão chánh Hàm nhờ.
Quan
Án nể vợ trả lời nước đôi:
- Vụ
này cũng chưa biết thiệt hư ra làm sao, tôi còn phải xem lại
rồi mới quyết định được.
Câu
chuyện giữa ông bà Án chấm dứt ngang đó. Nhưng ngay tối
hôm đó quan Án lật hồ sơ vụ án chánh tổng Hàm ra xem lại,
cho đến một giờ khuya mới đi nghỉ.
Theo
tờ trình của quan huyện Minh thì nội vụ xảy ra như sau:
Chánh
Tổng Hàm là một đại điền chủ ở tổng Hàm Long. Nhà lão
ta có nuôi rất nhiều tôi tớ, cả trai lẫn gái. Trong số
tôi tớ này có một đứa tớ gái là Thị Nguyệt, con một
nông phu nghèo ở làng bên cạnh. Thị Nguyệt được cha mẹ
cầm cho tổng Hàm một thời hạn là 5 năm, lấy một số tiền
200 quan. Nhưng mới ở được ba năm thì cha mẹ Thị Nguyệt
muốn chuộc con gái về để gã làm thiếp cho một phú nông
già trong làng. Thị Nguyệt là một cô gái có chút ít nhan
sắc, được trai tráng trong làng ngấp nghé, trong số ấy,
hình như Thị Nguyệt cũng đã nặng lời thề ước, trao thân
gởi phận cho một lực điền mồ côi cha mẹ, hiện đang ở
làm tại nhà chánh Hàm. Khi được biết cha mẹ muuốn bán
mình làm thiếp cho một lão già, Thị Nguyệt buồn phiền,
bỏ ăn bỏ ngủ, rồi một đêm khuya, đã lẻn trốn khỏi
nhà tổng Hàm đi mất. Nhưng trong khi ấy thì gia đình Thị
Nguyệt cũng đầu đơn lên tỉnh, kêu oan là con mình dã bị
mất tích một cách ám muội.
Theo
đơn kiện của gia đình Thị Nguyệt thì thấy có nhiều điều
khác hẳn với lời khai của chánh Hàm:
Nguyên
gia đình Thị Nguyệt làm ăn lỗ lã, nên đến cầm mấy thửa
ruộng cho tổng Hàm là đại địa chủ gian ác. Hắn ta đã
làm giàu trên xương máu của đám nông dân nghèo khó trong
tổng. Hắn đã cho vay nặng lãi, cầm lúa non, làm nhiều điều
thất nhân ác đức nên bao nhiêu ruộng đất của cải của
đám dân chúng trong vùng đều lần hồi vào trong tay hắn hết.
Hắn có cả thảy năm bà vợ chính và hầu. Nhưng hễ thấy
ở đâu có con gái mặt mày dễ coi thì hắn tìm cách này cách
khác gạt gẫm đem về làm thê, thiếp. Thị Nguyệt cũng ở
trong trường hợp như vậy. Tổng Hàm âm mưu cho cha mẹ Thị
Nguyệt vay, chồng chất mỗi khi một ít và gia tăng tiền lãi
mỗi ngày mỗi nhiều. Thế rồi một ngày, biết cha mẹ Thị
Nguyệt không trả nổi món mợ, hắn cho người đòi ráo riết
và hăm dọa đi kiện nếu cha mẹ Thị Nguyệt không trả. Cuối
cùng không còn cách nào hơn, cha mẹ Thị Nguyệt đành phải
nuốt nước mắt cho Thị Nguyệt đi ở đợ cho gia đình tổng
Hàm. Thị Nguyệt một ngày một lớn và trở thành một cô
gái duyên dáng mặn mà. Trong nhà tổng Hàm có nhiều trai tráng
nông phu đến giúp việc. Nhưng hễ anh chàng nào có tình ý
muốn làm thân với Thị Nguyệt thì đều bị tổng Hàm tìm
cớ hăm doạ và đuổi đi. Trong số trai tráng ấy có một
anh lực điền được lọt vào mắt xanh của Thị Nguyệt.
Hai người cùng lén tính chuyện se tơ kết tóc trăm năm. Nhưng
rồi tổng Hàm cũng khám phá ra được dự tính thầm lén của
họ. Hắn âm mưu xúi dục bọn tôi tớ tay chân của hắn gây
sự đánh cho anh lực điền ấy một trận và hăm nếu còn
lai vãng đến trò chuyện với Thị Nguyệt thì sẽ bị chúng
đánh chết bỏ mạng. Nhưng anh lực điền kia đã lỡ thề
nguyền gắn bó vói Thị Nguyệt, đến thú thật với cha mẹ
thị nổi lòng của mình và xin hỏi Nguyệt về làm vợ. Tất
nhiên là hắn hứa sẽ đem đủ số tiền dành dụm bấy lâu
để chuộc Thị Nguyệt về. Cha mẹ Thị Nguyệt vô cùng mừng
rỡ ưng thuận ngay lời đề nghị của anh chàng kia. Nhưng
khi cha mẹ Thị Nguyệt đem tiền chuộc con về thì tổng Hàm
làm khó dễ, bảo số tiền chưa đủ, giấy tờ chưa xong,
và hẹn một ngày khác. Nhưng mấy hôm sau, cha mẹ Thị Nguyệt
trở lại nhất định đem con về thì được tổng Hàm cho
biết rằng Thị Nguyệt đêm khuya đã lẻn trốn đi đâu mất.
Cha mẹ Thị Nguyệt không tin được lời giải thích ấy mà
đinh ninh con mình đang bị tổng Hàm giam giữ đâu đó, hay
có thể đã bị thủ tiêu rồi cũng nên. Sau mấy lần đòi
con không có hiệu quả, họ bèn làm đơn lên huyện kiện tổng
Hàm. Nhưng quan Huyện lại bênh tổng Hàm không xét xử. Cha
mẹ Thị Nguyệt lại đầu đớn lên tỉnh, hy vọng quan Án
Qúy, ông quan thanh liêm nổi tiếng trong vùng, sẽ đem vụ này
ra ánh sáng công lý.
Qua
Án Quý, đọc đi đọc lại nhiều lần tập hồ sơ, thấy
vụ án có nhiều điều bí ẩn, biết chắc cha mẹ Thị Nguyệt
có điều oan ức và đoán chắc quan huyện Minh đã được
chánh tổng hàm hối lộ nên ém nhẹm vụ án. Nhưng vì chưa
tìm ra được bằng chứng xác thực, nên quan tạm gác vụ
án, chờ đợi cuộc điều tra mật hoàn thành.
CHƯƠNG
XIV
BÀ
HUYỆN THĂM DÒ VỤ ÁN TỔNG HÀM
Ðộ
nửa tháng sau bà huyện Minh lại đến thăm bà Án Qúy. Nhưng
lần này bà không đem quà cáp gì. Có lẽ bà nghĩ bốn thoi
vàng lần trước cũng đã quá đủ. Bà Án tiếp bà Huyện
không được tự nhiên như lần trước, bà thấy lúng túng
khó ăn khó nói, trong khi ấy thì bà huyện có vẻ hoạt bát
tự tin hơn.
Thấy
bà Án không đã động gì đến món quà hôm trước, bà huyện
nhắc khéo:
- Bẩm
bà lớn, hôm nay vợ chồng chúng tôi cũng định đem đến
biếu bà lớn ít lon trà, thứ hảo hạng như lần trước,
nhưng sợ bà lớn quở trách nên không dám. Dạ, thứ trà ấy
chúng tôi gởi mua từ kinh đô, chứ ở đây không có bán.
Không biết quan lớn, bà lớn, dùng có thấy ... mùi vị đặc
biệt không?
Bà
Án hơi đỏ mặt, ngượng ngịu khó trả lời cho xuôi. Bà
thấy xấu hổ, tủi nhục để cho con mẹ dưới tay mình khinh
rẻ. Nếu trong trường hợp khác thì bà đem bốn lon trà và
số vàng còn nguyên vẹn trả lại cho hắn, mắng cho một trận
và còn dọa bỏ tù cả vợ chồng hắn vì tội hối lộ nữa.
Bà bực tức cho hoàn cảnh oái ăm của mình: số vàng ấy
bà đã lỡ tiêu mất một thoi. Nguyên mấy ngày trước đây,
bà được tin quê nhà mình bị trận bão lớn. Ðứa cháu trai
gọi bà bằng cô từ quê ra cho hay nhà cửa của cha mẹ bà
bị sập cả, tình cảnh thực là nguy ngập; nếu bà không
giúp đỡ được thì chắc song thân cũng như bà con họ hàng
khó tránh được nạn đói khó. Bà suy tới tính lui không biết
tìm đâu ra tiền để giúp đỡ mẹ cha trong cơn túng thiếu.
Cuối cùng bà buộc lòng mượn đỡ một trong bốn thoi vàng
mà bà huyện đem biếu, gởi về cho song thân. Bà tự bảo
gặp biến thì phải tòng quyền, mượn để rồi rồi sẽ
tính sau. Bà hoàn toàn giấu kín việc làm của mình, không
cho quan Án biết. Bà hy vọng, nếu vụ án không có gì gay cấn,
khó khăn, có thể châm chước một đôi chút thì bà sẽ dùng
ba tấc lưỡi để thuyết phục chồng và giữ luôn mấy thoi
vàng làm của. Nếu sự việc quá khó khăn , thì bà sẽ đi
vay mượn chỗ khác trả lại đủ số vàng cho bà huyện. Nhưng
ở đời, sự việc xảy đến không phải như ý mình muốn.
Có những điều khi nhúng tay vào, mới thấy phức tạp khó
khăn. Như trường hợp hôm nay chẳng hạn: Bà có ngờ đâu
rằng khi thấy mình có những triệu chứng đồng lõa trong
vụ hối lộ này, thì con mẹ huyện lại tỏ ra vẻ ngang bạc,
khinh dể, xấc xược với mình. Nếu mình trả ngay vàng lại
cho nó, thì bây giờ nó đã như chó cụp tai, đau dám bô bô
ăn nói ra vẻ trịch thượng như vậy? Nhất là bà vẫn phải
làm sao trả lời cho xuôi câu hỏi bóng gió của bà huyện:
"Quan lớn, bà lớn dùng trà có thấy mùi vị đặc biệt không"?
Bà nghĩ mà thương cho chồng mình, vì quan Án đâu có biết
ất giáp gì trong vụ này mà cũng bị mụ huyện lôi vào? Bà
trả lời nửa úp nửa mở:
- Vâng,
trà có mùi vị đặc biệt lắm, nhưng chỉ chỉ có mình tôi
thưởng thức, còn ông nhà tôi chỉ dùng thứ trà quen thuộc
thường ngày thôi.
Câu
trả lời làm cho bà huyện giật mình, tư lự, chứ không có
vẻ tự đắc như trước nữa. Bà Án đoán được tâm lý
lo lắng của bà huyện, bồi thêm:
- Vì
ông nhà tôi không quen dùng thứ trà ấy, nên tôi định khi
bà trở lại đây sẽ gởi trả lại bà. Còn tôi thì dùng
trà gì cũng được, có thì dùng, không thì thôi.
Bà
nói rồi, làm ra vẻ như sắp đứng dậy đi lấy trà trả
lại cho bà huyện. Tuy làm ra vẻ cứng nhưng bà Án vẫn nơm
nớp lo sợ, nếu bà huyện không có phản ứng, cứ để cho
mình đi lấy bốn lon trà ra trả, thì thật là nguy, vì làm
gì còn đủ cả 4 thoi vàng mà trả? May cho bà, là bà huyện
tỏ vẻ hốt hoảng khi thấy bà đứng lên. Bà huyện nắm
tay bà Án, như van nài bà ngồi xuống và nói:
- Xin
bà lớn cứ để đó mà dùng. Bà lớn làm như vậy phụ lòng
vợ chồng chúng con lắm. Bà lớn đừng ngại gì cả. Xin bà
lớn cứ xem vợ chồng chúng con như người nhà. Vợ chồng
chúng con còn nhờ ơn quan bà lớn nhiều.
Bà
Án thở ra, nghe nhẹ nhõm trong người và ngồi xuống. Nhưng
rồi bà vẫn thấy lấn cấn khó nói năng. Một lát sau bà
mới nói được một câu:
- Vụ
án chánh tổng Hàm, tôi đã có hỏi ông nhà tôi, ông dạy
đang điều tra lại, vì còn nhiều điều ám muội ở trong.
- Dạ
thưa, vợ chồng chúng tôi vẫn biết thế, nên mới ... cầu
cứu đến quan lớn. Nếu bà lớn thương tình vợ chồng con
mà nói vào một tiếng với quan lớn, chắc quan lớn cũng không
nỡ hành động một cách ... nghiêm khắc.
Nghĩ
một lát, bà huyện lại tiếp:
- Nhà
con bảo trong vụ án này chỉ là nghi vấn, chứ không có bằng
cớ gì xác thực là chánh Hàm đã bắt giữ hay thủ tiêu Thị
Nguyệt. Nếu quan lớn phê cho một câu: "Xếp vụ án lại,
vì không đủ bằng cớ buộc tôi bị can, là yên". Con nghĩ
quan lớn, bà lớn không có gì đáng e ngại, vì vụ này nhà
con cũng đã trình với cụ Tổng Trấn và cụ cũng đã thông
cảm rồi. Nhà con với cụ Tổng Trấn cũng là người nhà,
đã từng quen biết nhau từ thuở nhỏ.
Bà
huyện cố ngầm cho bà Án biết là vợ chồng hắn có thế
lực, được quan tổng Trấn bảo bọc và cũng đã vận động
lo lót về vụ án này rồi.
Bà
Án nghe bà huyện nói trong lòng đỡ được nhiều phần lo
lắng. Bà thấy công việc bà huyện nhờ mình làm không đến
nổi khó khăn như bà tưởng lúc đầu. Nói một tiếng với
chồng mà được bốn thoi vàng, đáng giá bằng cả một gia
tài, thì là một việc không nên bỏ qua. Thời vận đến mà
không nắm lấy thì thật là khờ dại. Những ý nghĩ lạc
quan ấy làm bà Án vui vẻ tự nhiên trở lại. Bà mời bà
huyện ăn trầu, uống nước và trước khi đưa khách ra cửa,
bà còn hứa sẽ cố gắng thuyết phục chồng để cho vụ
án được trót lọt.
CHƯƠNG
XV
BÀ
ÁN THUYẾT PHỤC ÔNG ÁN LẦN THỨ HAI
Mấy
hôm nay bà Án có vẻ lo lắng không yên. Bà đã hứa với bà
huyện là sẽ nói với chồng bỏ qua vụ án chánh Hàm, nhưng
bà chưa tìm được dịp thuận tiện để nói. Trong khi ấy
thì quan Án có vẻ gấp rút xúc tiến việc điều tra tìm bằng
chứng cho vụ án nói trên. Bà sợ, nếu không kịp cản trở,
quan Án sẽ đi quá trớn và mọi việc sẽ vỡ lỡ thì bà
sẽ không biết xử trí làm sao đối với bà huyện và bốn
thoi vàng của bà. Lúc đầu mới nhận được số vàng ấy,
bà còn phân vân lưỡng lự, nửa muốn lấy nửa muốn trả
lại, chưa nhứt quyết. Nhưng số vàng càng ở lâu thêm trong
nhà bà, bà lại thấy thân cận, quý mến nó và muốn giữ
lấy luôn. Bây giờ, bà không nghĩ đến chuyện trả lại chủ
nó, mà chỉ suy nghĩ làm cách nào để giữ được nó một
cách êm thắm, không bị phiền hà lôi thôi về sau.
Bà
nhứt quyết chiều nay, trong bữa cơm, bà sẽ gợi câu chuyện
ấy với chồng, Bà biết tánh ông rất thanh liêm, nhưng
cũng rất nể vợ, thương con. Nếu bà khéo nói thì chắc quan
Án cũng không nỡ để ngoài tai. Nhưng điều bà suy nghĩ là
không biết có nên nói thật với ông về vụ bốn thoi vàng
hay không? Sau một hồi suy nghĩ, bà tự bảo là chưa nên nói
ra, vì lỡ nếu ông không bằng lòng, thì chắc chắn là mọi
sự sẽ đổ vỡ hết.
Trong
khi chờ quan Án bãi chầu trở về, bà đi lui đi tới ở trước
hiên nhà, sắp đặt trong trí những điều cần nói. Bỗng
bà nhìn lên, và mấy chữ sơn son thếp vàng trong bức hoành
phi treo trên trần nhà đập vào mắt bà: "Phàm làm việc gì,
trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó". Ðây là "Bài
học ngàn vàng" mà vua Ðột Quyết đã truyền lịnh cho bá
quan văn võ trong nước phải treo lên ở trước mắt.
Bà
Án đã thuộc làu câu ấy, chỉ nhìn lên là bà nhớ chứ không
cần phải đọc. Nhưng chỉ cái nhìn thoáng qua ấy cũng đủ
làm cho bà suy nghĩ và mất hết sự tự tin lúc đầu. Bà có
mặc cảm là mình sắp làm một điều bất chính. Nhưng rồi
bà tự bảo rằng cũng chưa hẳn là như vậy. Bà biện bạch:
Thứ nhất vụ án ấy chỉ mới là nghi vấn. lão chánh Hàm
ấy có thể làm bậy, nhưng cũng có thể bị vu oan. Nếu lão
ta bị oan, mình cứu được lão ta, thì đó là một điều
đáng làm. Thứ hai, số vàng ấy đối với gia đình bà là
cả một gia tài nhưng đối với lão chánh Hàm, thì đâu có
giá trị gì? Thứ ba, nếu mình không giúp đỡ lão ta, thì
rồi cũng có người khác giúp đỡ lão, cuối cùng chỉ thiệt
cho mình mà thôi. Vả lại, đã có quan Tổng Trấn bảo bọc
rồi, thì còn sợ gì nữa. Thứ tư số vàng mình lấy được,
đâu phải để phụng dưỡng riêng cho mình, mà là để lo
cho chồng cho con, phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ bà con, làm
vẻ vang cho làng cho họ ... và cuối cùng, bà kết luận: Nếu
xét về hậu quả của việc làm này, thì thấy lợi nhiều
mà hại không đáng kể.
Bà
nghĩ đến đó thì quan Án cũng vừa về đến nhà. Bà đon
đã chào hỏi chồng rồi lanh lẹ xuống nhà dưới bảo người
nhà soạn đồ nhấm bưng lên.
Rửa
ráy xong, quan Án ngồi vào mâm cơm. Nhưng hôm nay quan Án có
vẻ không vui vẻ như mọi ngày. Bà Án nhìn chồng lo ngại,
nếu ông không vui, thì bà chưa tiện nói ra câu chuyện chánh
Hàm. Nhưng bà cần biết vì sao chồng mình có vẻ bực tức.
Bà hỏi:
- Hình
như hôm nay ông có điều gì không vui thì phải?
Quan
Án thở ra rồi nói:
- Bọn
thư lại mỗi ngày mỗi bê bối, chỉ có một việc sai đi
điều tra vụ án chánh Hàm, mà gần tháng nay, bây giờ trở
về trình rằng chẳng tìm được bằng cớ gì về vụ mất
tích con ở gái hết! Tôi chắc là chúng được chánh Hàm hối
lộ, nên ém nhẹm vụ này.
Bà
Án nghe chồng nói, chột dạ, nhưng thấy cần phải binh vực
bọn nha lại:
- Ông
cũng nên nghĩ lại cho họ. Họ đã đi điều tra mà không có
gì khả nghi thì bảo làm sao họ có bằng cớ để buộc tội
cho lão chánh Hàm ấy được? Có thì họ nói có, không thì
họ bảo không, chứ không lẽ, không mà dựng đứng là có.
Biết đâu nguyên cáo không vu cáo cho lão chánh Hàm vì tư oán
tư thù?
Quan
Án càng bực tức, cắt ngang:
- Bà
là đàn bà chỉ giỏi việc bếp nước; bà đâu biết được
những bí ẩn trong các vụ án tiết mà cũng xăm lo vào? Tôi
coi việc xử kiện đã gần ba mươi năm nay, tôi đã có nhiều
kinh nghiệm, nên khó mà ai qua mắt tôi được. Bà thử suy
nghĩ xem, một đứa con gái yếu đuối, nghèo khổ, không có
ai che chở mà trốn đi đâu được trong khi chung quanh nó, bọn
tay chân của chánh Hàm ngày đêm bủa vây canh gác? Tôi chắc
dù nó có cánh cũng không thể thoát khỏi nhà chánh Hàm được,
mà dù có thoát được, thì vài ngày hôm sau cũng bị bắt
lại. thế mà đã hơn một tháng nay, không ai tìm ra được
manh mối của nó là tại sao?
- Thế
theo ông thì sao?
- Thì
vì chánh Hàm đã giam giữ nó một nơi kín đáo, hay đã thủ
tiêu nó rồi, chứ còn tại sao nữa?
- Nếu
chánh Hàm làm như vậy, làm sao giấu được thiên hạ, tai
mắt chung quanh?
- Thì
vì nó giàu, nhà to cửa lớn tay chân đông đảo, nó bỏ tiền
của ra bịt mắt bịt miệng thiên hạ, nên có mắt cũng như
mù, có miệng cũng như câm.
Quan
Án chậm rãi hớp một ly rượu rồi tiếp:
- Tôi
chắc trong vụ này, lão huyện Minh cũng được chánh Hàm nhét
vào túi một số tiền to.
- Mình
không biết chắc, đừng nghi oan cho người ta mà nang tội.
Tôi thấy vợ chồng ông huyện Minh cũng chất phác, phúc hậu.
- Bà
cứ tin bề ngoài, mà chết! Họ ăn hối lộ, không lẽ họ
nói với bà sao? Không ăn hối lộ thì làm sao có cửa cao nhà
lớn như vậy? Mà trong vụ này tôi chắc cụ Tổng Trấn cũng
không khỏi chấm mút ...
Bà
Án có vẻ lo ngại:
- Ông
đừng nói bậy, lỡ đến tai cụ Tổng Trấn thì nguy to.
Quan
Án cãi:
- Mình
thanh liêm trong sạch thì ai làm gì mình được? Chính họ không
sợ mình thì thôi, chứ sao mình lại sợ họ? Tôi biết chắc
cụ Tổng có nhúng tay vào, nên đã hai ba lần giục tôi làm
gấp vụ án, trình lên ngài xem. Cụ còn bảo nếu thấy không
có gì nghi ngại thì xếp, chứ đừng kéo dài mất thì giờ.
Cái cách nói như vậy là đủ rõ cụ thiếu vô tư.
Bà
Án như mở cờ trong bụng nói ngay:
- Nếu
cụ Tổng đã dạy như vậy thì ông cứ làm theo, trách nhiệm
gì đâu mà ông ngại. Dẹp được thì dẹp cho yên, chứ moi
ra làm gì cho mệt xác, mà sanh thù sanh oán với kẻ dưới
người trên?
Quan
Án ngồi trầm ngâm, không muốn trả lời vợ, để khỏi mất
hòa khí trong gia đình. Nhưng ông không khỏi buồn khi nhận
thấy vợ mình đến nay vẫn không hiểu mình. Nhưng bà Án
thấy chồng không trả lời, lại tưởng ông đã xiêu lòng
nghe theo mình. Bà tấn công thêm:
- Ông
thấy không, Suốt đời mình liêm khiết mà có đi đến đâu
đâu? Lương tháng không đủ ăn. Con cái đã lớn mà chưa thành
gia thất, mẹ cha đã già mà chưa chút đền đáp ơn sanh thành
dưỡng dục. Mỗi khi tôi nghĩ đến tình cảnh của gia đình
mình mà ứa nước mắt. Mình thủ phận không dám đua đòi
với ai, nhưng người ta đâu có để cho mình yên, mà còn khinh
rẻ mỉa mai! Không những kẻ đồng liêu với mình cao ngạo
với mình, mà người dưới, ỷ có tiền của cũng lên mặt
với mình. Thật chán! Thời buổi này ai cũng chạy theo danh
theo lợi, chẳng ai thèm đếm xỉa đến cái cần kiệm liêm
khiết của mình. Một đời làm quan, cuối cùng khi về hưu,
tay trắng lại hoàn tay trắng!
Bà
Án vừa nói vừa lấy khăn chậm nước mắt. Quan Án không
nói gì, nhưng vẻ buồn bã hiện rõ trên nét mặt; không phải
quan buồn vì hoàn cảnh đen tối mà bà Án vừa phác họa,
nhưng buồn vì vợ mình vẫn không hiểu mình, không nâng đỡ
mình trong nhiệm vụ nặng nề của một nhà xử kiện thanh
liêm giữa một xã hội lấy tiền bạc để mua chuộc chân
lý, công bình.
CHƯƠNG
XVI
HỒN
MA THỊ NGUYỆT VỀ KÊU OAN
Mấy
hôm sau, bà Án để ý thấy vẻ mặt chồng thường đăm chiêu
suy nghĩ, ít ăn ít nói. Bà đoán rằng có lẽ lời nói của
mình hôm trước bắt đầu có tác dụng trong tâm trạng chồng.
Bà hy vọng thời gian sẽ làm cho ông biến đổi dần, và sẽ
nghe theo lời đề nghị của bà. Bà đợi khi ông đã xiêu
lòng, sẽ tấn công mạnh một lần nữa, thì thế nào cũng
thành công. Bà bắt đầu lạc quan, tin chắc rằng thế nào
bốn thoi vàng cũng không còn phải trao trả lại cho bà huyện
Minh nữa. Có mấy thoi vàng làm vốn, bà cảm thấy vững dạ,
tự tin hơn.
Ðêm
nay trước khi đi nghỉ, bà thắp mấy cây hương ra đứng giữa
sân khấn vái tứ phương, cầu trời khấn Phật cho công việc
dự tính của bà được trôi tròn. Bà khấn vái trời Phật
nếu linh thiêng thì sẽ phò hộ cho gia đình bà thoát khỏi
cơn túng thiếu bằng cách xui khiến cho bà thuyết phục được
chồng bà thay đổi tánh thanh liêm vô bổ, lòng cương trực
gàn dở của ông.
Bà
khấn vái xong, định quay lưng bước vào nhà, thì nghe tiếng
rên nho nhỏ ở ngoài ngõ. Bà vùa sợ hãi vừa ngạc nhiên
đứng dừng lại lắng tai nghe: rõ ràng có tiếng rên và kêu
cửa của một người đàn ông. Bà gọi lính lệ ra xem.
Hồi
lâu, người lính đi vào dẫn theo một người đàn ông máu
me đầy mình, chống gậy, lê một chân vào sân nhà. Bà Án
chưa hịp hỏi thì quan Án ở trong nhà đã bước ra sân. Người
đàn ông sụp quỳ xuống lạy quan Án và sụt sùi khóc. Quan
Án hỏi tự sự và được biết: Anh chàng này chính là chồng
chưa cưới của Thị Nguyệt. Anh ta sau khi bị đánh đuổi
ra khỏi nhà chánh Hàm đã tìm đến nhà cha mẹ Thị Nguyệt,
xin bỏ tiền chuộc Thị Nguyệt về làm vợ. Cha mẹ Thị Nguyệt
bằng lòng nhận tiền đến nhà chánh Hàm chuộc con gái về,
nhưng chánh Hàm làm khó dễ không cho chuộc và sau đó ít hôm
phao tin là Thị Nguyệt đã bỏ nhà lão lẫn trốn. Cha mẹ
Thị Nguyệt đầu đơn kiện chánh Hàm với quan huyện Minh,
nhưng bị quan huyện tuyên bố vô bàng cớ và miễn tố chánh
Hàm. Vụ án được đưa lên tỉnh, và trong khi cha mẹ Thị
Nguyệt ngày đêm vẫn đi lùng kiếm tung tích của con gái.
Nhưng sự tìm kiếm này luôn luôn bị tay chân của chánh Hàm
tìm cách cản trở và hăm dọa.
Nhân
gần đây, nghe tin triều đình có cử một phái đoàn giám
sát về các miền quê hẻo lánh dể điều tra dân tình và
thâu nhận những điều thỉnh nguyện cùng những khiếu nại
của dân chúng, anh chàng lực điền, hôn phu của Thị Nguyệt
này, đã ngầm đệ đơn tố cáo vụ án trên với phái đoàn
giám sát. Nhưng sau khi trở về nhà, anh ta bị một nhóm người
thừa cơ đêm tối núp ở trong bụi, nhảy ra chận đánh đập
anh đến bất tỉnh. Bọn chúng tưởng anh đã chết, bỏ đi.
Khi anh tỉnh dậy, biết chắc là bọn tay chân chánh Hàm đã
âm mưu sát hại anh, anh không dám trở về nhà mà lê lết
đến đây để nhờ quan Án rũ lòng thương xót bảo vệ cho
anh thoát khỏi tay chân bọn chánh Hàm sát hại.
Quan
Án nghe xong, tỏ ra phẫn nộ bọn chánh Hàm ỷ mạnh hiếp
cô đã coi thường luật pháp. Ngài dạy viên lính lệ đem
anh lực điền xuống nhà dưới rửa ráy băng bó các vết
thương và cho anh ta ngủ trọ lại một đêm, đợi sáng mai
sẽ liệu.
Bà
Án không khỏi bực mình vì sự việc mới xảy ra. Bà đinh
ninh mọi sự sắp trôi tròn, thì bất ngờ vụ án lại thêm
rắc rối. Bà đi vào phòng, đặt mình lên giưòng, cố ngủ
nhưng không sao nhắm mắt được. Bà trằn trọc đến canh
ba mới thiu thiu nhắm mắt.
Bốn
bề im lặng, thỉnh thoảng một làn gió nhẹ thoảng qua. Vài
ngọn lá vàng rơi rụng ở sau hè nhà. Những tàn lá chuối
xào xạc chạm vào nhau như thì thầm tâm sự. Có tiếng chó
sủa ở đàng xa, rồi nghe mỗi lúc mỗi gần. Hình như có
tiếng chân bước rất khẽ trên những chiếc lá khô ở ngoài
vườn, rồi có tiếng thở dài não nuột. Bà Án choàng thức
dậy, lo lắng nghe ngóng, rồi lại nằm xuống, mỏi mệt trăn
qua trở lại, ngủ thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn
...
Tiếng
thở dài não nuột lại bắt đầu. Hình như có cả tiếng
gõ rất khẽ vào cửa sổ, hay đó chỉ là tiếng cành cây
chạm vào cửa? Mọi bề lại im lặng, một thứ im lặng chờ
đợi một biến cố sắp xảy ra trong phút chốc ...
Bỗng
một luồng gió lạnh thổi tạt vào phòng. Chiếc màn treo ở
cửa ra vào bay cao lên như có người vén lên để bước vào.
Một cô gái xõa tóc, che hết cả mặt mày, áo quần trắng,
nhuộm đầy máu khô, đứng sừng sững ở một góc phòng.
Cô gái rụt rè nhìn quanh phòng, rồi bước từng bước một
rất nhẹ, khẽ như không đụng đất, đi lần về phía dưới
chân giường bà Án. Cô gái từ từ quỳ xuống bên chân giường,
nhẹ nhàng như một cái bóng, rụt rè, từ từ đưa tay nắm
chéo áo bà Án, như để lay gọi bà thức dậy. Bà Án sợ
quá, cố sức thét lên, nhưng không thành tiếng. Cô gái cũng
có vẻ sợ bà kêu cứu, nên giơ tay lên khoát qua khoát lại
trước mặt bà Án như có ý bảo bà đừng sợ. Rồi cô gái
sụp xuống lạy bà hai lạy, mỗi lần cô ta cúi rạp xuống,
bà thấy thấp thoáng ở cổ cô ta có một sợi dây buộc
quanh dính đầy máu. Lạy xong cô gái ngồi xếp bằng phía
dưới chân bà, đưa tay lên vén những sợi tóc phủ trước
trán. Bà thoáng thấy nét mặt cô gái trắng trẻo hiền từ
nhưng đầy vẻ khổ đau. Một bên mép, một tia máu ứa ra,
chảy từ từ xuống cổ áo. Cô gái nói lí nhí ở trong miệng
những gì bà Án không nghe rõ. hồi lâu, bà cố gắng đánh
bạo, cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Ngươi
muốn gì? Tại sao đương đêm lẻn vào nhà người ta làm gì?
- Bẩm
lạy bà lớn, bà lớn tha lỗi cho con. Con bị oan ức quá, nên
tìm đến đây để nhờ quan lớn, rũ lòng thương xót, xét
xử công minh cho con nhờ. Con định tìm đến đến phòng quan
lớn nghỉ, nhưng không biết chỗ, nên đi lạc vào phòng bà
lớn, xin bà lớn tha tội cho.
- Ngươi
ở đâu, tên họ là gì, oan ức ra làm sao?
Cô
gái nghe hỏi, sụt sùi vừa khóc vừa kể:
- Bẩm
bà lớn, con tên là Thị Nguyệt ở thôn Xuân Ðài, cha tên
Sơn, mẹ tên là Tí. Gia đình con nghèo khó, làm ruộng mất
mùa luôn mấy năm, vay nợ chánh Hàm, vốn lời chồng chất
không có tiền trả, nên phải cho con đến ở đợ tại nhà
chánh Hàm để trừ nợ. Con ở được hai năm, thì được
một trai tráng trong làng tên là Thiệp để ý, muốn cưới
con về làm vợ. Con đã ưng thuận nhưng chánh Hàm biết được,
tìm cách ngăn cản. Nó sai tôi tới trong nhà tìm các gây sự
với anh Thiệp, đánh anh có thương tích rồi bảo anh phải
bỏ làng đi nơi khác làm ăn, nếu không sẽ bị giết. Anh
Thiệp sức yếu thế cô, đành phải bỏ làng ra đi làm ăn
xa. Nhưng vì đã nặng lời thề ước với con, anh dành dụm
được một số tiền đến xin cha mẹ con cưới con và đem
tiền trả nợ chánh Hàm, chuộc con về. Chánh Hàm làm khó
dễ, không chịu cho con về, một mặt nó cấm tuyệt cha mẹ
con đến nhà nó, một mặt nó đem giam con lại trong phòng riêng
của nó. Ban đầu nó dùng lời ngon ngọt ép con phải làm vợ
lẽ nó, con từ chối; nó trở mặt, dọa nạt đánh đập con,
con cũng một mực đòi trở về với cha mẹ.
Khuya
hôm sau, trong khi mọi người trong nhà ngủ hết, nó lại trở
vào phòng, đem theo một hộp gỗ đựng đầy vòng vàng chuỗi
ngọc và một con dao. Nó bảo con phải chọn lựa một trong
hai thứ ấy. Con nhất quyết im lặng, không lựa chọn thứ
nào hết. Nó bảo nếu lấy nó thì sẽ có nhà cao cửa đẹp;
nếu từ chối nó, thì nó sẽ cho đi đầu thai kiếp khác.
Con chỉ một mực đòi về nhà.
Thấy
không lay chuyển được lòng con, nó liền giở trò cưỡng
hiếp con. Sau đó, vì xấu hổ và uất ức, con đã treo cổ
tự tử trong phòng hắn.
Bà
Án nghe đến đây giựt mình kinh hãi, hỏi lại:
- Vậy
ra ngươi đã chết rồi sao?
Cô
gái gật đầu, và khóc nức nở. Một hồi nàng kể tiếp:
- Con
bây giờ là một oan hồn vất vưởng trên dương thế. Nếu
vụ án này mà không được xử công minh thì con không làm
sao rửa hận mà về âm cảnh được. Con biết chồng chưa
cưới của con hôm nay có ở đây, vì con luôn luôn ở bên
chàng, để phò hộ cho chàng. Con sợ nếu vụ án này mà chưa
ra manh mối, tên chánh Hàm chưa đền tội, thì rồi đây chồng
con, cha mẹ con thế nào cũng bị nó hãm hại. Con đến đây
van lạy quan lớn, bà lớn, vì lòng nhân đạo, đem vụ án
này ra ánh sáng để rửa oan con và cứu cha mẹ và chồng con
ra khỏi sự hãm hại của bọn chánh Hàm.
- Quan
Án đang điều tra, nhưng chưa ra manh mối, chưa tìm ra được
bằng có rõ ràng nên chưa thể xét xử được.
- Bởi
vậy cho nên hôm nay con hiện về đây, mách cho bà lớn biết
đầu đuôi câu chuyện và nếu muốn có bằng cớ thì xin quan
lớn cho người về đào bên cây gốc dừa ở sau nhà tên tổng
Hàm thì sẽ thấy xác con.
Cô
gái nói xong, cúi xuống lạy bà Án hai lạy, rồi đứng dậy,
đi ra phía cửa phòng, biến mất.
Bà
Án hốt hoảng giựt mình thức dậy. thì ra bà vừa nằm mộng.
Nhưng giấc mộng đầy đủ chi tiết, rõ ràng như thật, làm
bà hoang mang không hiểu là chuyện thật hay mơ. Bà ngồi dậy,
lắng nghe động tịnh. Trong nhà vẫn vắng vẻ im lặng; ngoài
vườn lá cây xào xạc như thì thầm, và xa xa có tiếng chó
sủa. Bà đứng dậy thắp đèn lên, đi ra phòng ngoài. Phòng
ngoài vẫn yên lặng. Bà nhìn lên trần nhà, bức hoành phi
sơn son thếp vàng phản chiếu vào mắt bà bài học ngàn vàng:
"Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của
nó".
CHƯƠNG
XVII
BÀ
ÁN NHỚ LẠI BÀI HỌC NGÀN VÀNG
Sáng
hôm sau, quan Án dậy sớm khăn áo chỉnh tề rồi đi sang tòa
hình làm việc. Quan cho đòi tên nông phu bị đánh hôm qua ra
lấy khẩu cung. Quan giận lắm, cả đêm không ngủ được,
quyết tìm cho ra manh mối để trị bọn chánh Hàm. Nhưng tên
nông phu chỉ khai mình bị đánh, chứ không nhận ra được
mặt mày bọn hành hung. Do đó, vụ án vẫn bế tắc ngang đấy.
Trong
khi ấy, ở tư dinh, bà Án vẫn còn nằm nghỉ trong phòng chưa
dậy. Sau một đêm mất ngủ, mộng mị và lo sợ, bà Án nghe
trong mình mệt nhọc lạ thường. Nhưng điều bà phân vân
nhất là không biết mình đã nằm mộng hay thấy cô gái thật
trong đêm qua. Nhưng dù mộng hay thực, câu chuyện hôm qua đã
làm cho bà lo phiền nhiều. Bà không ngờ vụ án tưởng đã
êm xuôi, lại trở thành phức tạp. Bốn thoi vàng của bà
huyện Minh không dễ nuốt như bà tưởng. Nếu câu chuyện
hồi hôm mà thật có như vậy, thì bà cần phải suy xét lại
dự mưu của mình. Nhưng bà nghĩ: có lẽ vì mình suy nghĩ nhiều
đến vụ án và nhất là vụ tên nông phu bị đánh hồi hôm
đến kêu cứu làm cho mình mộng mị như vậy, chứ không chắc
có thật. Nhưng dù sao đi nữa, thì bà cũng cần xét lại việc
làm của mình. Nhất là khuya hôm qua, khi bà thắp đèn nhìn
ra ngoài, bà đã giựt mình khi nhìn lên bức hoành phi ghi khắc
"bài học ngàn vàng".
Mặc
dù chưa biết thực hư ra sao, ba vẫn đoán biết là chắc chắn
có sự mờ ám trong vụ án. Không mờ ám thì ai dại gì đem
hối lộ đến bốn thoi vàng? Mà đã bỏ ra một số vàng nhiều
như vậy, chắc chắn là tội ác của lão chánh Hàm không phải
nhỏ. Chừng ấy mà suy ra, vụ án chắc còn nhiều điều ám
muội khác. Nếu không kịp khám phá, thì chắc chắn tên chánh
Hàm sẽ còn làm tới để che giấu tội ác. Nó bắt đầu
mưu sát tên nông phu, chồng chưa cưới của thị Nguyệt rồi
đây nó sẽ tiếp tục mưu sát cha mẹ Thị Nguyệt để không
còn ai dám tố cáo nó nữa. Án mạng sẽ chồng chất thêm
án mạng, oan báo sẽ chồng chất thêm oan báo. Tên chánh Hàm
mà không sớm bị trừng tri, thì làng nước sẽ không thể
sống yên ổn với hắn được.
Về
phần gia đình ông bà Án, nếu nhận bốn thoi vàng hối lộ
thì từ đây thanh danh gia đình bà hơn hai mươi năm được
tiếng tốt sẽ bị mai một. Và nếu vụ án vỡ lỡ ra, triều
đình biết được thì sự nghiệp của quan Án sẽ tiêu tan,
chưa chắc còn bị tù tội nữa. Mà dù vụ án có ém nhẹm
được, thì oan hồn Thị Nguyệt cũng không thể cho ông bà
sống yên ổn. Bà thường nghe âm báo, làm cho cả dòng họ
bị điêu đứng, cất đầu lên không nổi, con cái bị tàn
mạt, chắc là do những vụ án như thế này. Bà lo sợ nhất
là cứ mỗi đêm những cảnh tượng oan hồn trở về khuấy
rầy bà như hồi hôm, thì chắc là bà không thể sống lâu
được, và nếu có sống thì cũng trở thành khùng điên mất.
Trong
khi bà đang suy tính như vậy thì bà huyện Minh đến thăm,
đang đợi ở nhà ngoài. Lần này bà huyện đem theo một khay
trà 6 lon, có lẽ mỗi lon đều có một thoi vàng.
Sỡ
dĩ bà huyện gấp rút đến thăm bà Án và đem 6 hộp trà nữa
là vì được tin đoàn giám sát đang đi điều tra ở huyện
bà. Và có lẽ vì vụ tên nông phu, chồng chưa cưới của
Thị Nguyệt bị ám hại hồi hôm.
Bà
Án bối rối không biết phải xử trí như thế nào. Bà muốn
trả lại 4 lon trà thì không có đủ 4 thoi vàng để trả;
mà nín luôn thì phải làm thỏa mãn lời yêu cầu của bà
huyện, nhưng lời yêu cầu ấy, bây giờ bà chắc chắn không
làm thỏa mãn được. Thực là tấn thối lưỡng nan. Cuối
cùng bà tìm kế hoãn binh bằng cách cho người ra nói với
bà huyện là bà đi vắng.
Bà
huyện buồn bã ra về, có chiều thất vọng. Bà đoán biết
là bà Án có ở trong phòng, nhưng không muốn tiếp mình. Sự
kiện ấy làm bà huyện càng lo sợ công việc không thành.
Bà huyện sang thăm bà Tổng trấn để cầu cứu bà này giúp
sức.
Khoảng
một giờ sau, bà Tổng trấn sang thăm bà Án. Bà Án không thể
lẫn tránh được, buộc lòng phải ra tiếp. Sau một hồi hàn
huyên, bà Tổng trấn đột ngột khen:
-
Trà ngon quá! Trà này bà mua ở đâu chứ ở đây làm gì có
bán? Chắc là bà mua ở Kinh về.
Bà
Án bình tĩnh trả lời:
- Dạ
trà này ở đây vẫn có bán. Ông tôi chỉ quen uống thứ trà
này đã mấy năm.
Bà
Tổng trấn châm chọc:
- Thế
mà tôi cứ tưởng là của bà huyện mua ở Kinh về biếu.
Bà
Án không phải tay vừa, trả lời ngay:
- Dạ,
trà của bà huyện cho; ông tôi uống không quen, nên tôi vẫn
còn để đó, đợi bà huyện đến sẽ trả lại.
Bà
Tổng trrấn thấy bà Án có vẻ găng, sợ lỡ việc, nên đấu
dịu:
- Quan
Án không quen dùng thì để đó, bà dùng, chứ trả đi trả
lại làm gì cho mất lòng.
- Dạ
thưa, trước tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng suy đi tính lại
thấy trà quý quá, uống sợ lỡ quen, sau này thành nghiện
không có đủ tiền mua.
Bà
tổng trấn giả lả:
- Bà
Án mà không đủ tiền mua trà thì hãng trà bán cho ai?
- Dạ
thưa quả thật như vậy đó.
Bà
Tổng trấn nửa đùa nửa thật:
- Thật
không? Nếu thật, thì để tôi biếu cho.
- Dạ
không dám!
- Có
gì mà không dám! Chị em mình giúp nhau chút đỉnh, chứ ai
vào đó mà ngại?
Bà
Án nói bóng gió:
- Dạ
tôi không dám phụ lòng tốt cụ bà, nhưng chỉ sợ chúng ta
uống trà ngon quá, thì dân nghèo thêm khổ.
Bà
Tổng trấn giận đỏ mặt, rũ áo đứng dậy ra về. Ra đến
cửa, bà đãi giọng mỉa mai bà Án:
- Thôi
xin kiếu về. Bà Án đức hạnh, trong trắng quá, chúng tôi
không theo kịp.
- Cụ
lớn khen tặng quá lời, làm tôi xấu hổ quá.
Hai
người chia tay ở đó. Bà Tổng trấn ra về, có vẻ hậm hực.
Bà Án trở vào lòng dạ rối bời. Bà thấy câu chuyện này
không nên kéo dài thêm nữa. Từ khi bà nhận 4 lon trà hối
lộ, hết bà huyện đến bà Tổng trấn đâm ra khinh dể mình,
chứ không còn kính nể như trước. Và cũng từ khi bà nhận
4 lon trà, tâm trí bà không phút nào được yên tĩnh. Nếu
không kịp dừng lại thì bà sẽ rơi xuống dốc mất, và lôi
cuốn theo cả ông Án, cả gia đình, thanh danh nhà bà xuống
bùn đen. Bà phải gấp rút cho ông Án biết giấc mộng hồi
hôm, giúp chồng một tray, khám phá vụ án, đưa nó ra ánh
sáng sự thật. Còn thoi vàng bà đã tiêu lỡ, thì bà sẽ đi
vay mượn thế nào cho đủ số 4 thoi, đem trả cho bà huyện.
Bà Án vào phòng, mặc áo chỉnh tề, tất tả đi vào sang Tòa
hình nơi quan Án đang làm việc. Quan Án đang bận hỏi cung
anh chàng nông phu, chồng Thị Nguyệt. Quan Án không khỏi ngạc
nhiên khi thấy bà đến. Bà thấy anh nông phu đang còn ngồi
đó, vội vã hỏi một câu mà không ai ngờ đến.
- Anh
thường vô ra làm công tại nhà Tổng Hàm, có biết sau hè
ông ta có một cây dừa không?
- Dạ
thưa có!
Bà
Án vô cùng mừng rỡ! Bà xây lại phía quan Án nói:
- Như
vậy là có đủ bằng chứng để buộc tội bọn chánh Hàm
rồi. Ông cứ cho người về nhà lão ta đào đám đất ở
gốc cây dừa sau hè, tất sẽ ra manh mối.
Quan
Án ngạc nhiên hỏi lại:
- Tìm
ra cái gì? Sao bà biết?
Bà
trả lời, vẻ bí mật:
- Ông
cứ cho lính về đào đi, sẽ rõ, câu chuyện còn dài, chưa
tiện nói ra. Nếu chậm trễ, bọn chúng sẽ phi tang.
Ông
Án chưa rõ là chuyện gì, nhưng nhìn thấy vẻ cả quyết của
vợ, ông đoán biết có điều quan trọng nên truyền lính đi
theo mình, đến nhà chánh Hàm. Khi đào đám đất cạnh gốc
dừa, quả nhiên tìm được thây Thị Nguyệt. Vụ án nhờ
đó, đã ra ánh sáng. Tên Tổng Hàm và đồng lõa đều bị
bắt giam để chờ ngày đền tội.
Quan
Án Qúy được triều đình tưởng thưởng một số vàng bạc
lớn và thăng chức. Bà Án có đủ số vàng để bỏ vào 4
lon trà, trả lại cho bà huyện Minh.
Từ
đấy, gia đình ông bà Án sống trong giàu sang và được mọi
người càng thêm kính mến.