CHƯƠNG
VII
THỨ
PHI HOÀNG HOA TƯ THÔNG VỚI ÐẠI THẦN LÝ BÁ
Trống
trên vọng gác hoàng thành đã sang canh ba. Vạn vật chìm dần
trong yên tĩnh. Ðèn đuốc trong các cung điện đã tắt bớt.
Tiếng đàn địch im dần, nhường lại tiếng dế, tiếng côn
trùng dưới nội cỏ, lùm cây.
Cung
điện của Thứ phi Hoàng Hoa cũng được ấp ủ trong bóng
đêm mờ ảo và giấc ngủ êm lành. Nhưng đó nhìn ở bên
ngoài. Chứ bên trong, sau những cánh cửa lim đen bóng, sau những
lớp màn gấm, rèm châu, ánh đèn bạch lạp vẫn còn rực
sáng, các vò rượu cúc vẫn còn đầy nguyên, và các dĩa cao
lương mỹ bị vẫn còn chưa ai động đũa đến.
Thứ
phi Hoàng Hoa trong phục sức lộng lẫy, đi lui đi tới trong
phòng, có vẻ sốt ruột trông chờ! ... Nàng gõ chiếc quạt
the vào miệng bình thủy tinh mấy cái, liền có một cung nữ
vòng tay hiện ra sau bức màn. Nàng cất tiếng hỏi:
- Sao
đến giờ này, mà quan đại thần Lý Bá vẫn chưa đến? Ngươi
có thưa rõ với đại thần là ta cần gặp ngài gấp lắm
không?
- Thưa
lệnh bà, con đã thưa rõ, nhưng quan đại thần bảo thế nào
cũng phải đầu canh ba mới đến được.
- Ngươi
có nghe trống đã sang canh ba lâu rồi chăng?
Thứ
phi Hoàng Hoa dịu giọng bảo:
- Thôi
cho ngươi lui ra.
Cung
nữ lặng lẽ cúi mình lùi lại sau màn gấm.
Liền
khi ấy, có ba tiếng gõ nhẹ nhưng rất rõ sau bức đố. Thứ
phi Hoàng Hoa vội vã đến nhận một cái chốt gỗ trong góc
phòng, và giữa tấm đố, một cánh cửa từ từ mở ra. Hoàng
Hoa bước ra ngóng trông ...Thấy quan đại thần Lý Bá vừa
đến. Hai ngươi bước vào và khép cửa lại. Thứ phi ngước
mắt nhìn Lý Bá và nói:
- Sao
bắt thiếp phải chờ sốt cả ruột thế?
Lý
Bá nói:
- Phải
đợi sang canh ba mới dám ra đi.
- Vì
sao?
- Vì
sợ có người rình ngó.
Hoàng
Hoa vội vã hỏi có vẻ lo sợ:
- Sao,
ai rình ngó? Có gì bại lộ chăng?
Lý
Bá ngồi xuống ghế, trước bàn đầy rượu và thức ăn,
chậm rãi trả lời:
- Chưa
có gì rõ ràng, nhưng phải đề phòng lão Hoàng Cái, hình như
lão đang cho người rình mò đấy.
Hoàng
Hoa có vẻ hốt hoảng, mấp máy đôi môi:
- Sao,
Hoàng Cái biết à!
Lý
Bá nói để trấn an Hoàng Hoa:
- Chưa
có gì rõ ràng. Có lẽ nó chỉ nghi ngờ mà thôi.
- Nghi
cũng đủ nguy rồi! làm sao bây giờ?
Lý
Bá trấn an:
- Chúng
ta phải đề phòng thôi, nhưng không có gì phải sợ cuống
lên như thế!
Nàng
ngước mắt nhìn Lý Bá và nói:
- Chàng
làm thế nào để bảo vệ thiếp?
Thiếp
bị giam hãm trong cung cấm này. Và một ngày tánh mạng thiếp
như bị treo trên đầu sợi chỉ. Thiếp như đang ngồi trên
đống lửa, ăn không ngon, ngủ không yên. Mỗi khi nghe dộng
tĩnh là thiếp phát hoảng lên ...
Nàng
ngập ngừng, rồi yên lặng, và nước mắt chảy dài trên
gò má nhợt nhạt.
Lý
Bá giục:
- Nói
tiếp đi! Nàng muốn cho ta biết chuyện gì nữa?
Nàng
mấp máy đôi môi, nói qua tiếng thở:
- Thiếp
... thiếp đã có thai!
Thực
là một tiếng sét ngang tai! Lý Bá thấy đầu mình choáng váng.
Chàng tự nói thầm:
Thật
là đại nguy biến!
Chàng
đã dự tính, nhưng không ngờ các dự tính đều bị thực
tế vượt quá xa. Chàng tưởng mình có thể sắp đặt được
mọi việc, không ngờ mọi việc cứ theo cái đà tiến triển
tự nhiên của nó với tốc độ gia tăng và chàng cứ phải
chạy theo mà vẫn không kịp. Chàng bắt đầu nhận rõ cái
nguy hiểm của sự liều lĩnh của mình. Chàng cứ tưởng rằng
việc của chàng làm sẽ không có thể bị bại lộ được,
vì chàng đã sắp đặt và che giấu một cách vô cùng kín
đáo. Trước tiên, chàng đã vận động để vua Ðột Quyết
tin cậy mình và bổ nhiệm chàng vào chức Tổng quản đại
thần là chức vụ giám sát tất cả cung điện và được
quyền tự do ra vào các nơi cung cấm. Nhưng để hoàn toàn
bí mật sự tiếp xúc thường xuyên giữa mình và Thứ phi
Hoàng Hoa, chàng đã truyền lệnh cho người thân tín làm một
đường hầm riêng để đi thẳng vào Tây cung là nơi Hoàng
Hoa đang ở, mà quan quân canh gác không thể thấy được.
Thấy
Lý Bá trầm ngâm suy nghĩ, Hoàng Hoa lại càng thêm sốt ruột.
Nàng gịuc:
- Sao
chàng lại ngồi thừ ngưòi ra thế? Không lẽ đành bó tay
ngồi chờ chết hay sao?
- Tất
nhiên là phải tìm cách đối phó và phải gấp rút thoát ra
khỏi ngõ bí này.
- Làm
sao thoát được? Chàng thì may ra có thể thoát được, chứ
còn thiếp thì một khi đã vào đây, là chẳng khác gì đi
vào nhà mồ, một nhà mồ cao sang, lộng lẫy hơn những nhà
mồ khác, nhưng dù sao cũng vẫn là nhà mồ, không trông gì
thoát ra được.
Hoàng
Hoa nói xong, gục đầu xuống ghé sụt sùi rơi lệ ... Lý Bá
ngồi nhìn Hoàng Hoa khóc, ruột rối như tơ vò, nhưng không
biết phải làm gì, nói gì để an ủi Hoàng Hoa. Bỗng có tiếng
gõ cửa ở ngoài hiên.
Hoàng
Hoa vụt đứng dậy. Lý Bá cũng đứng dậy theo. Hai người
hốt hoảng nhìn nhau. Nàng vội chỉ tay về phía cửa sau, bảo
Lý Bá thoát ra ngã ấy, và tắt bớt những ngọn bạch lạp
ở trên bàn ăn. Sau khi chờ Lý Bá đã biến dạng qua cửa
sau, nàng mới gõ chiết quạt vào miệng bình thủy tinh. Một
cung nử hiện ra trước màn gấm, cúi đầu đợi lệnh. Hoàng
Hoa hỏi:
- Ngươi
có nghe tiếng ai gõ ngoài cửa không?
- Thưa
lệnh bà có, nhưng con còn đợi lệnh bà có cho phép mở cửa
hay không.
- Ngươi
ra hỏi xem ai, và tại sao đang đêm khuya lại dám đến gõ
cửa làm huyên náo như vậy?
Nàng
cung nữ lui ra, một chốc trở vào, mặt biến sắc, tay chân
luống cuống. Hoàng Hoa mất bình tĩnh, hỏi gấp:
- Ai
vậy?
- Thưa
... thưa quan Thái giám và một đội lính tuần phòng gươm
giáo sáng ngời. Ngài bảo mở cửa cho ngài vào và đang đợi
lệnh bà ở ngoài phòng.
Hoàng
Hoa ra dấu cho cung nữ dẹp gấp chén bát trên bàn và tiến
ra phòng ngoài.
Quan
Thái giám đứng dậy vái chào Thứ phi và nói ngay lý do sự
viếng thăm khuya khoắc của mình:
- Thưa
lệnh bà, xin lệnh bà thứ lỗi, hạ thần đã đến khuấy
phá sự yên nghỉ của lệnh bà trong đêm hôm. Nhưng thần
vừa được mật tin cho biết ...
Hoàng
Hoa giật mình, vội hỏi:
- Mật
tin gì?
- Thưa,
mật tin cho biết một kẻ gian phi đêm đêm thường lãng vãng
ở Hoàng cung. Bởi vậy, Thừa tướng Hoàng Cái truyền lệnh
canh phòng cẩn mật và cho phép chúng tôi được quyền lục
soát nơi nào khả nghi có quân gian ẩn núp.
Thứ
phi cười gượng gạo:
- Vi
thế đêm nay quan Thái giám đến lục soát Tây cung chăng?
- Thưa
lệnh bà không hẳn như vậy. Nhưng thần nhơn đi ngang qua đây,
lắng nghe như có tiếng thì thầm từ trong cung đưa ra, nên
dừng lại và muốn biết xem tiếng thì thầm ấy do đâu mà
có.
- Nếu
thật có tiếng thì thầm, thì chắc đó là của bọn cung phi,
chứ còn của ai nữa.
Quan
Thái giám tỏ vẻ do dự, định giải thích thêm, nhưng rồi
chỉ trả lời:
- Lệnh
bà dạy đúng: có lẽ đó là tiếng thì thầm của bọn cung
phi!
Nói
xong quan Thái giám vái chào và quay ra.
Thứ
phi Hoàng Hoa truyền cung nữ đóng cửa và vào phòng trong.
Nàng
thay xiêm y và đặt mình xuống giường loan, nhưng trằn trọc
suốt đêm không sao nhắm mắt được.
Mặc
dù nằm trên nệm gấm, thứ phi có cảm tưởng như nằm trên
chông gai và đầu óc nàng quay cuồng với trăm ngàn ý nghĩ
ngổn ngang. Nàng không ngờ sự thế xoay chiều nhanh chóng đến
thế. Mới ngày nào! ... Ừ, mới ngày nào là một thiếu nữ
tuyệt thế giai nhân, được tuyển vào cung làm thứ phi và
được vua sủng ái. Chao ôi, những ngày vàng và đêm ngọc,
những cuộc vui suốt sáng, những trận cười thâu đêm, những
yến ẩm ca xang, những tiền hô hậu ủng ... Thế rồi chẳng
mấy chốc vua theo duyên mới, bỏ quên nàng trong cung lạnh
một mình.
Những
ngày dài trơ trọi, cô đơn và chờ đợi nối tiếp theo nhau
... Năm này sang năm khác, nàng sống vò võ một mình giữa
đám cung nữ thờ ơ, lặng lẽ. Vua như quên lãng sự hiện
diện của nàng trong Tây cung. Một đôi khi, để làm cho quân
vương nhớ lại, nàng truyền cho bọn cung nữ tổ chức linh
đình một hội hoa đăng, và rước vua đến dự. Vua nể lòng
nàng ngự đến, nhưng buổi yến chưa mãn, vua đã viện cớ
mỏi mệt đứng dậy ra về. Sau những cuộc yến ẩm thất
bại như vậy, Hoàng Hoa lại càng chán ngán, buồn tủi hơn
bao giờ hết, từ đó, nàng biếng nói, biếng cười, biếng
trang điểm, và thêm oán tức quân vương.
Nhưng
một biến cố quan trọng xảy đến. Ðó là sự nổi loạn
của Thạnh Bảo. vua Ðột Quyết phải bỏ cung điện ra đi.
Hoàng Hoa tháp tùng theo và sống qua những ngày trôi nổi, lưu
vong. Nhưng chính trong biến cố nguy nan ấy, nàng lại thấy
cuộc đời bớt lạnh lẽo, cô quạnh. Cũng chính trong tai biến
ấy mà nàng để ý đến một viên tướng tài, diện mạo
khôi ngô, đó là Lý Bá.
Lý
Bá lúc bấy giờ được vua giao phó nhiệm vụ phò giá hoàng
gia. Do đó, chàng có nhiều cơ hội được tiếp xúc với Hoàng
Hoa ... và mối tình vụng trộm nguy hiểm giũa hai người nẩy
sanh từ đó.
Thế
rồi Hoàng Cái khôi phục được ngôi vua, đuổi quân ngoại
xâm ra khỏi nước, sắp đặt lại triều đình, nêu cao "Bài
học ngàn vàng " làm kim chỉ nam cho mọi hành động trong cung
điện.
Từ
ngày bài học ngàn vàng được ghi khắc trên các đồ đạc
ở Tây cung, thứ phi Hoàng Hoa không khỏi thấy thắc mắc,
do dự trong lòng. Nhưng vì lửa dục vọng quá mãnh liệt, nàng
bất chấp tất cả, và lờ đi như không tháy mấy chữ: "Phàm
làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó".
Nàng
muốn nhắm mắt để khỏi thấy mấy chữ ấy; nhưng hậu
quả việc làm bất chính của nàng mỗi ngày mỗi hiển hiện
rõ ràng và lớn dần với cái bào thai trong bụng nàng.
CHƯƠNG
VIII
THỨ
PHI HOÀNG HOA NỔI ÐIÊN ÐẬP PHÁ TẤT CẢ NHỮNG ÐỒ ÐẠC
CÓ GHI KHẮC BÀI HỌC NGÀN VÀNG
Thứ
phi Hoàng Hoa nhuốm bịnh vì đã quá lo lắng, sợ hãi. Sau hôm
quan Thái giám đến gõ cửa ở Tây cung, nàng đã thao thức
suốt đêm và lên cơn sốt nặng. Nàng mê sảng, nhìn đâu
cũng thấy mấy chữ "hậu quả, hậu quả" nhảy múa, reo hò
trước mặt mình, chung quanh mình. Những tiếng reo hò ấy làm
cho vua Ðột Quyết nghe đưọc, khám phá ra tội lỗi của nàng
và thiết trào ngay tại Tây cung để xử tội nàng. Nàng bị
xử treo cổ trong chợ Kinh đô và Lý Bá bị xử trảm trước
võ trường. Khi sợi dây thòng lọng bắt đầu siết cổ nàng,
nàng kinh hoàng thét lên và tỉnh dậy.
Từ
hôm đó, nàng sốt liên miên và nói mê sảng: "Xin đừng giết
tôi! Xin đừng giết tôi!".
Cung
nữ tín cẩn không dám tâu cho vua Ðột Quyết biết, nhưng
mật báo cho Lý Bá hay. Hai hôm sau Lý Bá theo đường hầm đến
thăm nàng trong đêm khuya. Nhìn thấy Lý Bá, nàng tỉnh lại,
sùi sụt khóc và van xin người cứu thoát mình ra khỏi đường
cùng.
Lý
Bá an ủi nàng và hứa sẽ tìm phương cứu nàng. Chàng nghĩ
nếu không còn cách nào, thì sẽ đem nàng cùng tẩu thoát qua
ngã hầm bí mật. Nhưng giải pháp ấy là một giải pháp hạ
sách, bất đắc dĩ mới phải dùng đến.
Là
một người nhiều tham vọng, đầu óc chàng đang dự tính
một kế hoạch lớn lao thâm độc hơn. Chàng tự bảo: "Có
nhiều khi rủi mà thành may. Chuyện đời không biết đâu mà
lường trước được. Miễn là khôn khéo và dám làm". Sau
hôm được Hoàng Hoa cho biết nàng đã thụ thai hai tháng, Lý
Bá ban đầu không khỏi giựt mình kinh hãi, nhưng sau đó, khi
về tư thất, chàng nghĩ đến một âm mưu rất táo bạo. Nguyên
là biết vua Ðột Quyết đang sủng ái một bà phi, mới được
tuyển vào cung và nàng này cũng đang có thai vài tháng. Lý
Bá dự tính sẽ mượn người thân tín trong cung chờ lúc này
sinh nở thì sẽ đem con của Hoàng Hoa sang tráo và thủ tiêu
hài nhi của nàng phi kia. Như thế vừa phi tang sự gian dối
giữa chàng và Hoàng Hoa, vừa gây dựng cơ nghiệp cho con của
chính mình sau này. Chàng mong ước nếu đó là một đứa con
trai, thì chàng sẽ vận động cho nó kế nghiệp đế vương
sau này. Chàng lại tự bảo: "Miễn là khôn khéo và dám làm
thì mọi việc rồi sẽ chiều theo ý muốn của mình".
Nhưng
mặc dù khôn khéo và thông minh, chàng không nghĩ đến sự
lâm bệnh của Hoàng Hoa. Bệnh mê sảng của nàng có thể làm
hỏng âm mưu của chàng. Cho nên chàng lại phải trù nghĩ thế
nào để cho các quan ngự y đừng đến chữa bệnh cho nàng,
vì nếu họ đến khám bệnh, thì sẽ biết ngay là nàng có
thai, và mọi sự sẽ bại lộ.
Cũng
may là lúc Lý Bá đến thăm thì Hoàng Hoa lại hết mê sảng.
Có lẽ bệnh của nàng là một thứ bệnh thần kinh, vì lo
sợ quá mà phát ra. Và nếu đã là một bệnh tinh thần, thì
phải dùng tinh thần mà chữa. Nghĩ vậy, nên chàng dùng lời
lẽ hết sức cả quyết để trấn an nàng, cam đoan với nàng
thế nào nàng cũng sẽ được chàng bảo vệ, và đưa nàng
ra khỏi ngõ bí hiện tại. Hoàng Hoa không rõ Lý Bá sẽ làm
thế nào để cứu mình, nhưng nghe những lời khẳng khái của
Lý Bá, nàng cũng đỡ lo một đôi phần.
Nhưng
sau khi Lý Bá ra về, bệnh mê sảng của nàng lại trở lại.
Những chữ "hậu quả, hậu quả" lại nhảy múa, reo hò chạy
tung tăng khắp nhà. Rồi không phải những chữ ấy, mà chính
đồ đạc, chén bát ly tách có ghi khắc bài học ngàn vàng
đều động đậy, lắc lư, nhảy múa. Chúng như một bầy
con nít mặc áo đỏ, áo xanh, áo vàng, áo trắng ... mang trước
ngực một tấm bảng có ghi khắc bài học ngàn vàng, và nắm
tay nhau làm thành nhiều vòng tròn chạy quanh nàng, vòng chạy
ngược, vòng chạy xuôi làm nàng chóng mặt. Nàng tức giận
đứng dậy thét bảo chúng đứng lại, nhưng chúng không để
ý đến sự giận dữ của nàng, vẫn cứ vừa chạy nhảy
reo hò. Nàng tức giận quá, trở đầu chiếc quạt đập mạnh
vào đầu chúng, mỗi đứa mỗi cái. Thế là chén bát, ly tách
vỡ tan tành, rơi loảng choảng xuống nền đá hoa. Tiếng ly
tách chén bát vỡ làm nàng hồi tỉnh, giương đôi mắt kinh
hãi nhìn! ... Bọn cung nữ cũng chạy vào, và rất đỗi lo
sợ trước quang cảnh đổ nát của đồ đạc, chén bát trong
phòng. Chúng tự bảo, nếu Hoàng Thượng biết được, thứ
phi đã dám cả gan đập vỡ tất cả đồ đạc có ghi khắc
bài học, thì chắc chắn ngài sẽ không tha thứ được tội
phạm thượng của thứ phi, đã dám chống lại quyết nghị
của vua, được xem như là một quốc sách. Cung nữ đang lúng
túng chưa biết phải làm gì, thì quan Thái giám đã đứng
sừng sững trước mặt. Ông nhìn quanh, quan sát một hồi rồi
lặng lẽ đi ra. Thứ phi và cung nữ nhìn theo, rồi nhìn nhau
lo lắng ...
Sáng
hôm sau, vua Ðột Quyết và một số đình thần, trong đó có
thừa tướng Hoàng Cái và đại thần Lý Bá, đi vào Tây cung.
Mọi người đều im lặng, mỗi người theo đuổi một ý ghĩ
riêng và không ai buồn nhìn đến bọn cung nữ đang phủ phục
hai bên lối vào phòng thứ phi Hoàng Hoa.
Khi
vua và đình thần vào phòng, Hoàng Hoa vẫn ngồi yên trên ghế
tràng kỷ và phe phẩy chiếc quạt hoa. Nàng cười mai mỉa:
- Các
ngươi hôm nay đến thăm ta đó chăng? Ta cám ơn nhé! Hãy kiếm
ghế mà ngồi chơi.
Thừa
tướng Hoàng Cái nói giọng gay gắt:
- Tội
khi quân đến thế là cùng tột!
Lý
bá chống chế:
- Ai
lại chấp trách một người loạn trí?
Vua
Ðột Quyết xoay lại hỏi Lý Bá:
- Có
loạn trí thật không?
- Tâu,
cứ nhìn cử chỉ và nhất là đôi mắt thất thần là biết
ngay.
Trong
khi vua quan đang bàn tán, thì Hoàng Hoa lại cất tiếng dõng
dạc như phán bảo:
- Ta
đã đập bể tất cả đồ đạc, chén bát có ghi khắc bài
học tồi tệ kia hết rồi. Các ngươi hãy bảo đem các thứ
đồ đạc khác cho ta dùng, nhưng nhớ đừng ghi khắc bài học
kia vào nữa, ta không thích đâu nhé!
Vài
ba tiếng cười khúc khích không kiềm chế nổi phía sau vua.
Hoàng Cái lại gay gắt phê bình:
- Ðiên
mà ăn nói không ngoan bằng mười tỉnh táo.
Lý
Bá lại nói, nửa đùa nửa thực:
- Người
điên có thể là rất khờ dại, mà cũng có thể rất khôn
ngoan.
Vua
phán:
- Ðiên
mà khờ khạo thì đáng tha thứ, nhưng điên mà khôn ngoan hơn
người thường thật nguy hiểm, phải trị ...
Lý
Bá vội vã tiếp lời vua:
- Tâu,
phải chữa trị thì đúng hơn.
Vua
Ðột Quyết xoay lại hỏi Lý Bá:
- Khanh
bảo chữa trị như thế nào?
Lý
Bá như mở cờ trong bụng, tâu:
- Tâu,
thần nghe đồn ở núi Bảo Trúc có đạo sĩ chữa bệnh điên
hay lắm. Nếu bệ hạ muốn thử tài đạo sĩ ấy thì thần
xin phụng mạng đi rước về.
Vua
Ðột Quyết quay lại hỏi các triều thần:
- Các
khanh nghĩ thế nào? Có nên mời đạo sĩ ấy không?
Hoàng
Cái ngăn:
- Tâu
Hoàng Thượng, nếu quả thật mắc bệnh dù là bệnh điên,
thì nên chữa bằng y dược, và triều đình ta không thiếu
gì lương y có tài. Còn đạo sĩ hay phù thủy thì chỉ chữa
tà ma, thần tưởng không nên rước về đây làm gì.
Nhưng
các đại thần khác, có khuynh hướng mê tín dị đoan, khi
nghe có một đạo sĩ có tài xuất hiện thì rất mong muốn
được biết tài năng ra sao, nên đều phụ họa theo với Lý
Bá. Họ tâu:
- Bệnh
điên có thể do nhiều nguyên nhân, có thứ điên do hỏa bốc
trong tạng phủ lên đầu óc; nhưng cũng có thứ điên do ma
qủy nhập vào. Lệnh bà là người bình thường khỏea mạnh,
nay bỗng nhiên mất trí, thì đó có lẽ do ma quỷ khuấy rầy.
Nếu có đạo sĩ có tài chữa trị, thì cũng không nên câu
nệ.
Thế
là vua đồng ý giao phó cho Lý Bá đi mời đạo sĩ ở núi
Bảo Trúc về trào.
CHƯƠNG
IX
ÐẠO
SĨ LÝ MẬU CHỮA BỆNH ÐIÊN CHO THỨ PHI HOÀNG HOA
Trong
khi Lý Bá đi triệu thỉnh vị đạo sĩ ở núi Trúc Bảo chưa
về, thì kinh đô dân chúng đều nhôn nhao bàn tán về tin đồn
một vị thánh nhân vừa xuất thế. Nhiều điềm lạ làm cho
mọi người đều chú ý: trên vỏ nhiều trái cây như ổi,
xoài, bầu bí, đều hiện rõ mấy chữ: "Mừng thánh nhân ra
đời". Ngay đầu những con cá lóc người ta mua ở chợ mang
về làm thịt, cũng có thấy hiện mấy chữ ấy. Trong triều,
từ vua đến quan lớn quan nhỏ, đều chăm chú theo dõi những
hiện tượng trên với một tâm trạng khắc khoải chờ mong.
Trong
khi ấy bà thứ phi Hoàng Hoa trong Tây cung càng điên thêm và
đập phá thêm đồ đạc.
Một
tuần sau, có tin Lý Bá đã triệu thỉnh được đạo sĩ ấy
về đến triều đình. Từ sáng sớm hôm ấy, chợ không nhóm,
dân chúng nghỉ việc để đứng hai bên đường đợi xem đám
rước đạo sĩ mà ai cũng nghĩ rằng đó là thánh nhân. Trong
triều vua quan cũng sốt ruột ngồi chờ đón đạo sĩ.
Ðến
gần trưa, đám rước mới xuất hiện ở cửa Tây cung hoàng
thành. Thực là một quang cảnh kỳ lạ mà dân chúng kinh đô
chưa từng thấy trong các đám rước.
Ði
đầu là một đàn khỉ mặc áo xanh quần đỏ, bịt khăn chữ
nhất, mỗi con dẫn một người, hai tay bị trói và cổ bị
xiềng trong một cái gông lớn; một sợi dây xích một đầu
buộc vào gông và đầu kia bọn khỉ nắm, dẫn đi.
Tiếp
theo là một bọn đàn bà mặc đồ võ, nai nịt gọn ghẽ,
gươm giáo sáng ngời, lông mày vẽ lưỡi mác xếch ngược
lên thấu đỉnh trán và có râu mép. Mỗi người cỡi một
con thú dữ, như cọp, beo, sư tử, gấu, nhiều nhất là gấu,
và tuyệt nhiên không có một con hươu nai, trâu ngựa ... Nhưng
con thú dữ nào cũng trông vẻ mặt hiền lành, ngoan ngoãn hơn
ngựa trâu.
Rồi
đến những chàng thư sinh gầy ốm, đầu chít khăn vành, mặc
yếm trên ngực mỗi người đều mang nhiều huy chương và
một cái bảng lớn với hai chữ "võ tướng" mạ vàng.
Sau
cùng là kiệu của đạo sĩ Lý Mậu do tám bà gánh; những
người theo hầu hai bên kiệu, người đội khay trầu, kẻ
đội tráp thuốc, kẻ phất quạt lông, kẻ che lọng, đều
là phái nữ. Lẫn trong đám nữ tỳ ấy, chỉ có độc một
mình đại thần Lý Bá là đàn ông. Ngài đi thụt lùi trước
kiệu, cứ mỗi bước lại vái một cái. Ðạo sĩ ngồi trên
kiệu hoa, dáng điệu rất uy nghi, đầu chít khăn điều, mặc
áo trắng sọc xanh, mang một chiếc hia vàng, một chiếc hia
đen, một chân đạp lên hình mặt trăng, một chân đạo
lên hình mặt trời, ở giữa hai bàn chân là hình âm dương.
Ngài nhắm lim dim đôi mắt, miệng lâm râm niệm chú, một
tay bắt ấn, một tay nắm một vòng tròn mà người ta thì
thầm bảo nhau đó là "tấm kính chiếu nguyên hình", mặc dù
không trông thấy kính gì cả. Ngài đang lim dim bỗng mở to
đôi mắt nhìn hai bên đường, thấy dân chúng há miệng ngơ
ngác nhìn mình, liền tỏ vẻ khó chịu, vẫy tay gọi một
bà đến thì thầm mấy tiếng. Bà này hốt hoảng chạy đến
bên Lý Bá, cũng thì thầm mấy tiếng. Lý Bá như sực nhớ
điều gì, nhìn dân chúng hai bên đường, nói có vẻ gắt:
- Thánh
nhân xuất hiện, sao không hoan hô mà đứng ngây ra nhìn thế?
Thế
là những tiếng hoan hô "Chào mừng thánh nhân ra đời" vang
dội hai bên đường và dân chúng sắp thành hàng ngũ đi hộ
tống theo sau kiệu.
Ðám
rước đi thẳng vào hoàng cung, dừng lại trước sân rồng
và sắp thành hai hàng trước đền vua. Ðạo sĩ xuống kiệu,
bước lên điện và cúi mình vái chào vua Ðột Quyết. Ngài
ra hiệu cho đạo sĩ ngồi xuống ghế bên phía hữu mình. Sau
những lời chào hỏi thường lệ, vua chỉ vào đám người
tháp tùng, hỏi đạo sĩ:
- Trẫm
cũng đã chứng kiến nhiều đám rước, nhưng chưa thấy đám
rước nào lạ lùng như đám rước của đạo sĩ. Chẳng hay
những hình thức và phục sức của những người trong đám
rước có một ý nghĩa gì chăng?
Ðạo
sĩ trả lời rất tinh:
- Tâu
Hoàng Thượng, bần đạo chẳng thấy gì là lạ lùng cả.
Có lẽ Hoàng Thượng chỉ quen nhìn bề ngoài của cuộc đời,
của sự vật, nên thấy cái lối sắp đặt và trang phục
đoàn tùy tùng của bần đạo có vẻ khác thường. Nhưng nếu
Hoàng Thượng có dịp nhìn được bản chất bên trong của
cuộc đời, của sự sống hiện tại thì Hoàng Thượng sẽ
thấy hiện tượng của đoàn tùy tùng là phản ảnh trung thực
bề trong của sự vật, và khi ấy Hoàng Thượng sẽ không
cho là lạ lùng lỳ dị nữa.
Vua
Ðột Quyết tò mò hỏi tiếp:
- Làm
sao có thể thấy được bề trong của cuộc đời và sự vật.
- Tâu,
đó là kết quả của công phu tu luyện của bần đạo trên
ba mươi năm trời tại núi Bảo Trúc.
Vua
tỏ vẻ nghi ngờ:
- Nhưng
thấy như vậy có đúng không?
Chỉ
một mình khanh thấy thì làm sao có thể bảo đảm được
đó là sự thật?
Ðạo
sĩ Lý Mậu nhìn vua, mỉm cười có vẻ bí mật và nói:
- Tâu,
nếu Hoàng Thượng muốn thì bần đạo sẽ làm cho Hoàng Thượng
thấy rõ sự thật ấy.
Vua
vội vã hỏi:
- Làm
sao thấy được? Khanh làm thế nào cho trẫm thấy đi.
- Hoàng
Thượng sẽ được toại nguyện.
- Nói
xong, đạo sĩ bắt ấn, niệm chú, rồi nâng tấm "kính chiếu
nguyên hình" lên. Ðạo sĩ đưa trước mặt vua Ðột Quyết
rồi nói nhỏ bên tai vua:
Hoàng
Thượng hãy nhìn một lượt tất cả bá quan văn võ trong triều
qua tấm kính này rồi sẽ hiểu ngay ý nghĩa của đoàn khỉ
dẫn người trong đám rước của bần đạo.
Vua
nhìn vào tấm kính và đạo sĩ Lý Mậu từ từ đưa tấm kính
từ phía hữu sang phía tả, trước mặt triều thần. Vua nhìn
xong, ngẩn ngơ một lúc rồi hỏi đạo sĩ:
- Thế
ra họ có ít nhân tánh đến thế sao?
- Tâu,
họ có xu hướng trở về với thủy tổ loài người.
Vua
lại hỏi:
- Còn
đàn bà lại có râu và cỡi thú dữ thế là nghĩa làm sao?
- Tâu,
Hoàng Thượng hãy soi tấm kính này vào các cung phi mỹ nữ
đứng hầu sau lưng Hoàng Thượng thì sẽ hiểu ngay.
Vua
lại xây lưng nhìn ra phía sau, qua tấm kính. Nhìn xong, ngài
thất sắc, hỏi đạo sĩ:
- Âm
thịnh đến thế sao?
Ðạo
sĩ trả lời, có vẻ hóm hỉnh:
- Bần
đạo tưởng rằng Hoàng Thượng cũng đã nhận thấy điều
ấy từ lâu ...
Vua
có vẻ áy náy khó chịu về câu trả lời có vẻ phạm thượng
của đạo sĩ. Ngài trả tấm kính lại cho Lý Mậu. Ðạo sĩ
hỏi:
- Hoàng
Thượng không muốn nhìn thêm sự thật nữa chăng?
- Không!
Nhìn thêm trẫm sẽ không còn thấy hứng thú làm vua, trị
vì thiên hạ nữa.
Ðạo
sĩ lấy tấm kính bỏ vào đãy rồi tâu:
- Tâu
Hoàng Thượng, chẳng hay Hoàng Thượng cho vời bần đạo đến
đây có dụng ý gì, xin cho bần đạo được tường.
- Trẫm
muốn đạo sĩ dùng phép thuật của mình để chữa trị cho
thứ phi đang mắc bịnh loạn trí, có lẽ thứ phi bị ma quỷ
hành.
Lý
Bá nãy giờ đứng im lặng bên cạnh đạo sĩ, tiến ra tâu:
- Tâu
Hoàng Thượng, đạo sĩ từ núi Bảo Trúc về đây, đường
sá xa xôi cách trở, đã đi liên tiếp trong mấy ngày, thật
là vất vả. Nay về đến triều, xin để đạo sĩ được
ngơi nghỉ vài hôm cho khỏe khoắn trong người, rồi hãy chữa
trị. Thần sẽ xin cán đáng mọi việc ăn ở, nghỉ ngơi của
đạo sĩ và đoàn tùy tùng cho được chu đáo.
Vua
bằng lòng giao phó mọi việc tiếp đãi đạo sĩ cho Lý Bá
đảm trách và truyền cho đạo sĩ được nghỉ ngơi vài hôm
trước khi vào cung chữa bịnh cho thứ phi Hoàng Hoa.
Không
hiểu nhờ pháp thuật cao cường như thế nào, mà hai hôm sau,
khi đạo sĩ và nhà vua đi đến Tây cung, thì thứ phi Hoàng
Hoa tỏ ra vô cùng ngoan ngoãn và lễ độ. Nàng đã cúi xuống
lạy vua và đạo sĩ, và xin ăn năn hối cải lỗi lầm đã
xúc phạm đến mình rồng.
Nhất
là nàng tỏ ra vô cùng sợ hãi trước những lời phán bảo
của đạo sĩ. Ðạo sĩ nói với thứ phi, nhưng nghe như nói
với một người nào khác:
- Từ
nay ngươi không đưọc làm loạn ở trong Tây cung, cũng như
ở các cung điện khác nữa, nghe chưa!
Thứ
phi ngoan ngoãn vâng dạ.Ðạo sĩ lại tiếp:
- Ta
biết ngươi oan ức; nộ khí xung thiên, ngươi có thể đốt
cháy tất cả hoàng thành cung điện này được. Nhưng từ
nay đã có ta. Ta cấm ngươi hoành hành như vậy. Ngươi hãy
bỏ ngay ý định ám hại Hoàng Thượng, khuấy phá các cung
phi, nghe chưa?
Thứ
phi vái lạy xin chừa.
- Ta
sẽ tâu với Hoàng Thượng làm cho ngươi môt cái miếu ở
sau hoàng cung, đêm ngày sẽ có người hương khói. Nhưng ngươi
không được rời khỏi nơi ấy đi khuấy phá hoàng cung nữa,
nghe chưa?
Thứ
phi lại ngoan ngoãn vâng vâng dạ dạ.
Vua
Ðột Quyết ngạc nhiên hỏi đạo sĩ:
- Khanh
nói chuyện với ai vậy? Sao lại bảo là sẽ làm miếu thờ
Thứ phi? Thứ phi còn sống sờ sờ đấy mà.
Ðại
sĩ nói có vẻ bí mật:
- Hoàng
Thượng hãy nhìn vào tấm kính chiếu nguyên hình này, tức
sẽ biết bần đạo đang nói chuyện với ai. Người này chắc
không xa lạ đối với Hoàng Thượng.
Vua
nhìn vào tấm kính, bỗng giựt mình kinh hãi, sắc mặt tái
xanh. Cũng trong lúc ấy, Thứ phi quằn quại than khóc. Vua nói
giọng xúc động:
- Trẫm
xin lỗi khanh. Trẫm ăn năn hối hận từ ngày ấy đến nay.
Nhưng trẫm không biết làm thế nào để chuộc lại lỗi lầm.
Người một khi đã chết rồi thì biết làm sao cho sống lại
được? Nhưng chắc khanh cũng đã hiểu cho lòng trẫm, khi trẫm
đã ra lệnh tha tội chết cho con khanh là Thạnh Bảo, và cho
trở về làm dân dã. Một ngày kia, sau khi tội dấy loạn của
Thạnh Bảo được nguôi quên trong lòng người, trẫm sẽ phục
hồi chức tước cho nó. Từ nay, trẫm sẽ theo lời đạo sĩ
truyền dựng cho ngươi một ngôi miếu thật lớn tại hoàng
cung, và khắc một tấm bia, với những chữ vàng: "Thanh Phong
Ðề Ðốc Ðại Thần".
Thứ
phi Hoàng Hoa gục đầu lạy tạ vua.
Ðạo
sĩ rút giải lụa đỏ trong đãy ra bắt ấn, niệm chú, rồi
vừa rũ giải luạ nghe một tiếng "đét", vừa giậm chân nạt
lớn: xuất"! Thứ phi bỗng té xuống, bất tỉnh và được
bọn cung nữa dìu đặt lên giường. Trong khi ấy các bà đệ
tử của đạo sĩ đốt đuốc chạy ra cửa, như đang đuổi
theo một bóng ma qủy, vừa chạy vừa hò reo inh ỏi ... Họ
đuổi bóng ma qủy ra đến tận bờ thành hoàng cung, và đóng
xuống đấy một cái đinh sắt lớn.
Vua
và đạo sĩ rời Tây cung trở về chánh điện. Trong khi đi
giữa đường, vua đột ngột hỏi đạo sĩ:
- Ðạo
sĩ có biết vì sao thứ phi Hoàng Hoa lại đập phá tất cả
những đồ đạc, chén bát có khắc bài học ngàn vàng chăng?
- Tâu,
Thứ phi đâu có đập phá? Ðó là quan Ðề Ðốc Thanh Phong
đấy chứ!
- Tại
sao Ðề Ðốc lại làm như vậy!
- Tâu,
quan Ðề Ðốc oán bài học ngàn vàng. Chính vì bài học ấy
mà ông ta chết.
Ðạo
sĩ yên lặng một phút, rồi lại cất tiếng nói tiếp:
- ...
Vả lại, bài học đâu có đáng giá gì mà trọng vọng quá
thế?
Vua
ngạc nhiên nhìn đạo sĩ, hỏi lại như không tin hai lỗ tai
mình:
- Ðạo
sĩ nói gì? Bài học không đáng giá gì cả à?
- Tâu,
Hoàng Thượng tha tội cho tánh thẳng thắn của bần đạo,
bần đạo mới dám nói hết ý nghĩ của bần đạo.
- Ðạo
sĩ cứ nói đi!
Ðạo
sĩ Lý Mậu do dự một chốc rồi chậm rãi nói:
- Tâu
Hoàng Thượng, bài học mà Hoàng Thượng đã mua của Ông già
với một giá quá đắt như vậy, thực ra chỉ để răn dạy
kẻ thường dân vô học, bọn con nít thì được, chứ không
xứng đáng để cho một vị đại vương như Hoàng Thượng
dùng làm khuôn vàng thước ngọc, lại càng không xứng đáng
được đem ra làm một quốc sách, được ghi khắc trên các
đồ đạc vật dụng trong triều.
Vua
Ðột Quyết bị chạm tự ái, hỏi gắt:
- Ðạo
sĩ tu luyện theo môn phái nào? Ðạo sĩ có tin ở "luật nhân
quả không?
- Tâu,
bần đạo tu luyện theo phép tắc riêng của bần đạo, chứ
không theo một môn phái sẵn có nào. Ðối với sức tu luyện
của bần đạo, thì "luật nhân quả không có tác dụng gì
nữa. Bần đạo có thể gieo giống này mà gặt quả khác.
Bần đạo có thể biến nước thành lửa, hóa đá thành cơm,
hô phong hoán vũ theo ý muốn.
- Trẫm
có thể tin lời đạo sĩ được chăng?
- Tâu,
Hoàng Thượng sẽ có dịp được thấy tận mắt những điều
ấy.
Nói
xong, Lý Mậu vái chào vua và trở về công quán cùng đoàn
tùy tùng.
CHƯƠNG
X
VUA
ÐỘT QUYẾT BỊ LÝ MẬU MÊ HOẶC
Lý
Mậu ở lại Kinh đô đã hơn sáu tháng nay rồi, và mỗi ngày
thêm được vua Ðột Quyết tin dùng. Nghe theo lời xúi dục
của Lý Mậu, vua quyết định sẽ truyền lịnh đập phá,
chùi rửa tất cả những vật dụng có ghi khắc bài học ngàn
vàng trong các cung điện. Quyết định ấy đã làm cho triều
đình chia làm hai phía chống đối nhau rõ rệt: một phái đứng
về phía đại thần Lý Bá, và đạo sĩ Lý Mậu, và một phái
đứng sau lưng Thừa tướng Hoàng Cái. Thừa tướng đã cực
lực phản đối quyết định thủ tiêu bài học ngàn vàng
của vua. Nhưng vua đã nổi giận đòi cất chức Thừa tướng,
nếu Hoàng Cái cứ một mực chống đối lịnh của Ngài. Hoàng
Cái buồn rầu,mất ăn bỏ ngủ và không thiết vào triều
nữa. Nhưng vua có vẻ không thiết đến sự hiện diện của
quan Thừa tướng ở trong các buổi chầu. Bên cạnh ngài đã
có Lý Bá và Lý Mậu làm quân sư. Tất cả những việc lớn
nhỏ trong hoàng cung, vua đều làm theo ý kiến của hai người
họ Lý ấy cả. Vua hoàn toàn bị Lý Mậu thu hút, sai sử không
còn tự chủ được nữa. Phe Hoàng Cái cho rằng vua bị Lý
Mậu mê hoặc vì bùa phép; trái lại phe Lý Mậu thì lại bảo
rằng Hoàng Cái vì bất lực không được vua tin dùng nữa,
nên bất mãn, ganh ghét, gièm pha bọn Lý Mậu.
Từ
ngày bị Lý Mậu mê hoặc, vua không còn nghĩ nhớ đến "Bài
học ngàn vàng" nữa. Tất cả mọi việc đều ỷ lại có
Lý Mậu giải quyết, sắp xếp dùm, khỏi phải mệt trí suy
nghĩ đến hậu quả của mọi việc mình làm. Mỗi ngày vua
cứ say mê theo bùa phép, phù chú của Lý Mậu, không thiết
gì đến việc nước việc dân.
Vua
hy vọng một ngày kia, khi sự tu luyên của mình thành công,
mình có thể trị vì đất nước mình bằng phép thuật, thần
thông biến hóa, lấy đậu xanh đậu đỏ làm âm binh, sai sử
loài ác thú như cọp beo, rắn rít đi đánh giặc; nếu trời
làm đại hạn, thì mình làm mưa cho dân cày bừa, nếu trời
làm lụt thì mình gọi rồng đến hút nước; mình có thể
xử kiện bằng cách dùng "kính chiếu nguyên hình" để xem
ai gian ai ngay, ai phải ai trái ...
Ðó
là những hy vọng, những ước nguyện mà Lý Mậu mớm cho
vua trong những cuộc đàm đạo; chàng ta thường khoe khoang
rằng mình có thể làm được những điều đó, nhưng vua chưa
bao giờ được thấy tận mắt những phép thuật ấy. Một
đôi khi vua giục Lý Mậu thực hiện cho ngài xem một vài phép
thuật. Lý Mậu chối từ, bảo rằng phép mầu chỉ nên dùng
khi cần thiết, chứ không thể đem ra để khoe khoang hay để
xem cho vui mắt được. Tuy thế, chiều lòng vua, thỉnh thoảng
Lý Mậu cũng trổ tài tu luyện của mình bằng cách sai sử
các con thú dữ trong đoàn thú của mình. Một hôm vua đi dạo
sớm một mình ngang qua chuồng thú của Lý Mậu, bỗng hai con
sư tử lớn nhảy xổ ra, vua hoảng hốt vừa chạy vừa kêu
cầu cứu, hai con sư tử hầm hừ đuổi theo, Lý Mậu nghe thấy
tiếng kêu, chạy đến, rút cái giải lụa điều trong đãy
ra, đánh "đét" một cái, hai con sư tử bỗng dừng lại, đứng
ngoe nguẩy đuôi rồi quỳ xuống trước mặt Lý Mậu. Chàng
ta bảo hai con sư tử đến xin lỗi vua. Chúng đến bên vua,
nằm ngửa ra, chắp hai chân trước vái vái mấy cái. Vua được
thoát hiểm, lại thấy oai lực của Lý Mậu đối với con
thú dữ, càng thêm khâm phục tài năng tu luyện của chàng.
Ðiều mà Lý Mậu ít khi chối từ mỗi khi vua yêu cầu là
cho soi "kính hiện nguyên hình". Vua thiết tha mong muốn có được
một tấm kính như vậy, nhưng Lý Mậu bảo rằng cần phải
tu luyện, dày công mới có thể tạo được cái loại kính
ấy. Trong khi vua chưa có thể tự mình chế ra được vì sự
tu luyện còn non, thì tạm thời Lý Mậu cho ngài mượn cái
kính của mình; nhưng mỗi khi vua muốn soi vào người nào,
vật gì thì phải có Lý Mậu đứng ở bên cạnh, bắt ấn
và niệm chú trước; nếu không thi vua không thấy gì khác
lạ cả. Các quan triều thần, nhất là các quan thuộc phe của
Thừa tướng Hoàng Cái đều bị vua soi cả; và mỗi lần soi
như thế, vua ngao ngán thấy hiện lên trong kính hình một con
khỉ, một con heo, một con dê hay môt con ngựa ...
Có
một hôm vua không thể giữ được bí mật, nói thật sự
trần truồng ấy cho Thừa tướng Hoàng Cái rõ. Hoàng Cái giận
lắm, nhất định không tin, đòi cho mình được xem tận mắt
sự thật ấy. Vua nài nỉ mãi, Lý Mậu mới chịu để cho
Hoàng Cái nhìn vào kính. Hoàng Cái chăm chú nhìn qua cái vòng
tròn bằng sắt có những cái giải lụa ngũ sắc vấn ở chung
quanh nhưng không thấy gì khác hơn là bộ mặt quen thuộc hằng
ngày của các đình thần, mặc dù bên tai mình tiếng Lý Mậu
niệm chú mỗi lúc mỗi nghe rõ. Hoàng Cái bỗng phát cười,
cười ngất, cười rũ rượi. Vua và Lý Mậu ngạc nhiên nhìn
sững Thừa tướng, e ngại ... Vua hỏi:
- Thừa
tướng nhìn thấy gì mà khoái trá dữ vậy?
- Tâu
Hoàng Thượng, thần không thể nói ra được.
- Vì
sao?
- Tâu,
vì sợ lậu thiên cơ.
Vua
xây lại phía Lý Mậu, hỏi:
- Có
thể nói ra mà không lậu thiên cơ không?
Lý
Mậu suy nghĩ một hồi, rồi trả lời:
- Nếu
nói cho thần nghe một mình thì không lậu thiên cơ.
Hoàng
Cái cãi:
- Nói
cho đạo sĩ, thì tưởng không cần thiết, vì đạo sĩ có
thiên nhãn thông, chắc đã thấy rồi. Nếu có cần nói thì
nói cho Hoàng Thượng biết mà thôi. Thần tưởng nếu Hoàng
Thượng không nói lại cho ai biết thì chắc cũng không lậu
thiên cơ.
Vua
Ðột Quyết hứa sẽ hoàn toàn giữ bí mật, và nghiêng tai
về phía Hoàng Cái. Hoàng Cái nói nhỏ vào tai vua, nhưng Lý
Mậu cũng lắng nghe được:
- Tâu
Hoàng Thượng, thần nhìn qua tấm kính, soi tất cả đình thần
nhưng nhìn ở đâu cũng chỉ thấy một con khỉ đột, mà mặt
mày lại giống in hệt đạo sĩ.
Lý
Mậu tức giận xám mặt, bỏ cái kính hiện nguyên hình vào
đãy, xô ghế đứng dậy. Vua vừa tức giận Hoàng Cái, vừa
lo sợ Lý Mậu giận bỏ về núi, truyền lịnh bãi chầu.
Quả
nhiên Lý Mậu truyền đệ tử sắp đặt trở về núi Bảo
Trúc thật! Vua được tin vô cùng bối rối, sang tư dinh Lý
Mậu, năn nỉ đạo sĩ ở lại. Lý Mậu bảo rằng: trước
một sự nhục mạ như vậy, mình không thể hành đạo được
nữa. Vua hứa sẽ cất chức Thừa tướng Hoàng Cái và giao
phó chức ấy cho Lý Bá, đạo sĩ Lý Mậu mới chịu ở lại.
Vua
thực hành theo đúng lời hứa của mình. Từ đấy Hoàng Cái
chỉ giữ chức Binh Bộ đại thần, còn chức Thừa tướng
thì Lý Bá đảm nhiệm. Và cũng từ ngày ấy, sự hiềm khích
giữa hai nhóm Lý Mậu và Hoàng Cái lại càng quyết liệt và
chờ ngày bùng nổ.
CHƯƠNG
XI
LỘ
NGUYÊN HÌNH
Từ
ngày thứ phi Hoàng Hoa được Lý Mậu chữa khỏi bệnh điên,
Tây cung vẫn sống trong cảnh im lìm, không người lai vãng.
Lý Mậu dã tâu với vua để cho thứ phi được tịnh dưỡng,
không một ai, kể cả vua, được lui tới khuấy phá sự yên
tĩnh của nàng, sợ bệnh điên lại tái phát.
Thứ
phi nhờ thế, được sống một mình thư thả trong cung, và
không sợ một ai bên ngoài dòm ngó. Tuy thế, Tây cung chỉ
yên tĩnh ở bên ngoài, chứ bên trong, qua đường hầm bí mật,
Lý Bá và Lý Mậu vẫn lui tới thăm viếng, yến ẩm vui vầy.
Chính Tây cung là nơi hội hợp, bàn mưu sắp kế của họ.
Cứ năm bảy hôm, họ lại họp mặt nhau ở đây một lần.
Mỗi người đều theo đuổi một mục đích riêng, một tham
vọng riêng, nhưng họ đã hợp lực với nhau trong một công
tác chung: thứ phi Hoàng Hoa thì mong sao cho việc của mình được
giữ kín và sự sanh nở của mình được vuông tròn mà không
ai hay; Lý Bá thì hy vọng sẽ nắm hết quyền hành trong tay,
hất Hoàng Cái khỏi chức Thừa tướng để chờ cơ hội thuận
tiện chiếm đoạt ngôi vua; còn Lý Mậu thì đêm ngày nuôi
mộng bành trướng cái đạo phù thủy của mình thành một
quốc giáo và mình trở thành quốc sư. Ba người ba chí hướng,
nhưng họ rất hợp ý với nhau, và vui mừng nhận thấy âm
mưu của họ dần dần được thực hiện đúng theo kế hoạch
và đã thành công gần chín phần mười.
Hôm
nay, sau khi Hoàng Cái bị giáng chức và Lý Bá được vua giao
phó chức Thừa tướng, bộ ba ấy lại họp mặt nhau tại
Tây cung vào lúc đầu canh ba.
Hoàng
Hoa, mẵc dù đã gần ngày sanh nở nhưng cũng đứng ra tự
tay mình chúc rượu mừng đạo sĩ và quan Thừa tướng mới.
Họ mừng rỡ vì không ngờ đoạt được chức Thừa tướng
của Hoàng Cái một cách dễ dàng giản dị như vậy. Theo họ,
từ đấy, địa vị cũng như thế lực của Hoàng Cái sẽ
lu mờ dần trước khi vào bóng tối, và giai đoạn chót của
âm mưu của họ sẽ được thực hiện dễ dàng hơn.
Nhưng
Hoàng Hoa không khỏi thắc mắc lo ngại về sự sắp sanh nở
của mình. Nàng nói:
- Xin
đạo sĩ và tân Thừa tướng hãy trù nghĩ gấp kế hoạch
bảo toàn sự sinh nở cho thiếp. Thiếp không khỏi lo ngại
mỗi khi nghĩ đến vấn đề này.
Lý
Bá để chén rượu xuống bàn, cười ha hả, nói vẻ trêu
cợt:
- Lo
làm gì cho mệt xác! Một vị Thừa tướng nắm trọn quyền
sinh sát trong tay mà không bảo đảm được cho một đứa hài
nhi sắp ra đời hay sao?
Lý
Mậu tiếp lời:
- Hãy
gác chuyện ấy lại! Chúng ta hãy say sưa một đêm cho thỏa
thích để mừng quan Thừa tướng mới. Chuyện sinh nở sẽ
bàn sau.
Hoàng
Hoa, mặc dù trong lòng không yên, nhất là từ chiều hôm nay,
đứa nữ tỳ thân tín bỗng nhiên biệt tích, nhưng thấy vẻ
tự tin của hai người đàn ông, nên nàng cũng không buồn
khẩn khoản thêm nữa để khỏi mất vui trong bữa dạ yến.
Nàng định bụng để đến cuối buổi tiệc sẽ gợi lại
chuyện ấy.
Trong
khi ba người đang yến ẩm vui vầy như vậy, thì tại tư thất
quan Binh Bộ đại thần Hoàng Cái, các võ quan thân tín đang
hỏi cung con nữ tỳ của thứ phi Hoàng Hoa. Nó bị bọn tình
báo của Hoàng Cái bắt cóc từ chiều trong khi đi ra chợ mua
một ít thức ăn cho buổi dạ tiệc. Nó bịt bịt mắt và
đem vào tư dinh quan đại thần Hoàng Cái. Khi được mở mắt
ra, nó kinh hãi nhận thấy hai hàng lính hộ vệ gươmg giáo
sáng ngời, đứng hai bên và phía trong cùng, đại thần Hoàng
Cái và các võ quan cao cấp đang ngồi nghiêm chỉnh trên những
chiếc ghế tràng kỷ và đang nghiêm khắc nhìn nó. Ở chính
giữa, các dụng cụ tra tấn như roi sắt, kềm kẹp, đinh ba,
hỏa lò, chảo dầu ... được bày quanh nó.
Hoàng
Cái dõng dạc hỏi:
- Nữ
tỳ kia! Mi biết vì sao? Vì mi bị bắt dẫn đến đây không?
Nữ
tỳ run cầm cập trả lời:
- Bẩm
... bẩm đại thần, con không hiểu gì cả. Con đang mua thức
ăn bỗng bị bốn người đến bịt mắt, bắt dẫn đi.
- Mi
mua thức ăn để làm gì?
Nữ
tỳ ấp úng không trả lời được.
Hoàng
Cái nạt:
- Ta
hỏi mi mua thức ăn để làm gì, sao mi không trả lời? Quân
bay, căng nọc nó ra đánh một trăm hèo!
Có
tiếng dạ rân tứ phía. Nữ tỳ hốt hoảng thưa:
- Dạ,
dạ, dạ, con xin trả lời. Con mua thức ăn vì hôm nay
thứ phi có thiết tiệc đãi ...
- Ðãi
ai?
- Dạ,
dạ! Ðãi Thừa tướng Lý Bá và đạo sĩ Lý Mậu.
Hoàng
Cái làm ra vẻ không tin:
- Con
này to gan thật! Mi dám đặt điều nói dối cho thứ phi và
quan Thừa tướng mới. Quân bay! căng nọc nó ra ...
- Da
... dạ, con đâu dám đặt điều nói dối. Chính đại
thần Lý Bá và đạo sĩ Lý Mậu thường đến họp mặt nhiều
làn tại Tây cung, chứ không phải một lần này.
- Tây
cung là nơi Hoàng Thượng đã truyền lịnh không ai được
lui tới, đêm ngày cửa đóng then gài, sao ngươi lại bảo
các người ấy thường họp mặt tại đấy? Họ đi ngã nào
vào đấy được?
- Da,
họ đi theo một đường hầm từ ngoài thành vào thẳng Tây
cung.
Quan
đại thần Hoàng Cái bỗng truyền lệnh dẫn một tên tù vào.
Tên này tay chân đều bị xiềng xích, mình mẩy đầy những
vết phỏng. Ðại thần Hoàng Cái chỉ vào tên tù nói với
con nữ tỳ :
- Mi
có biết tên tù này vì sao mà bị phỏng cả mình mẩy như
vậy chăng? Nó bị tra bằng kềm nóng, nghĩa là kềm đốt
nóng và kẹp vào thịt. Nó bị như vậy vì đã khai gian dối.
Mi là tay chân thân tín của thứ phi, mi biết tất cả công
việc bí mật trong Tây cung. Vậy nếu mi biết ăn năn hối
cải, cứ sự thật mà khai ra thì ta tha tội mà còn trọng
thưởng. Nếu mi khai gian dối thì sẽ bị tra tấn như thế
đó, mà tánh mạng cũng không thể nào bảo toàn được.
Nữ
tỳ giương đôi mắt kinh hãi nhìn tên tù, mình mẩy lở lói
và cháy nám từng đám lớn, nó run cầm cập xin cam đoan khai
tất cả sự thật tại Tây cung.
Do
lời khai ấy, đại thần Hoàng Cái biết được thứ phi Hoàng
Hoa tư thông với Lý Bá đã có thai gần ngày sanh; để đánh
lừa vua và triều đình, nàng đã giả điên, đập phá đồ
đạc trong Tây cung. Lý Bá bàn mưu với nàng mời tên phù thủy
Lý Mậu là bà con chú bác với Lý Bá về chữa cho nàng. Trước
khi ra đi mời, Lý Bá đã cho người thân tín đi phao đồn
có thánh nhân ra đời, bằng cách bắt cá lóc khắc chữ trên
đầu rồi đem ra chợ bán, lấy mật viết lên trái cây và
lá cây để kiến gặm thành chữ ... Lý Bá lại còn gây uy
tín cho Lý Mậu bằng cách đi bộ theo đám rước và mỗi bước
là mỗi lạy, và bày đặt ra vụ hồn ma của quan đề đốc
Thanh Phong nhập vào thứ phi Hoàng Hoa để chữa trị cho nàng
khỏi bệnh điên ... Tất cả mọi chi tiết nhỏ nhặt, tên
nữ tỳ đều rành mạch khai ra không sót.
Ðại
thần Hoàng Cái lại bảo:
- Ngươi
đã thành thật khai ra nhiều sự việc quan trọng, ta sẽ tâu
với hoàng thượng tha tội cho ngươi. Nhưng còn một điều
ta muốn biết là "tấm kính hiện nguyên hình" của tên phù
thủy Lý Mậu. Ngươi có nghe thứ phi nói gì về tấm kính
ấy không?
Tên
nữ tỳ im lặng một lúc, như để nhớ lại chuyện gì, rồi
thưa:
- Thưa
Ðại thần, một hôm Lý Bá và Lý Mậu đăng ăn uống say sưa
trong cung, thì thứ phi lén lấy tấm kính ấy ra chiếu vào
hai người. Lý Bá nhìn thấy, hốt hoảng đứng dậy, định
giựt tấm kính trên tay thứ phi. Nhưng Lý Mậu trong cơn say,
không kiểm soát được lời nói và cử chỉ của mình, đã
điềm nhiên ngồi cười "ha hả", như không quan tâm đến việc
bửu bối của mình đã bị người lấy. Lý Mậu để cho thứ
phi soi một hồi rồi hỏi:
- Có
thấy gì không?
Thứ
phi lắc đầu. Lý Mậu cười ngất rồi đưa cái đãy cho thứ
phi và bảo:
- Muốn
thấy ma quỷ, thú vật thì hãy lắp thêm những tấm kính có
vẽ sẵn hình ảnh này vào. Nhưng phải tập làm cho lẹ tay
để đừng bị bắt quả tang đấy.
Sau
khi tỉnh rượu, Lý Mậu tỏ vẻ hối tiếc vì đã cho thứ
phi biết trò lừa bịp của mình, nhưng đã muộn.
Ðại
thần Hoàng Cái lại hỏi:
- Buổi
họp mặt hôm nay tại Tây cung sẽ bắt đầu vào lúc mấy
giờ?
- Thưa
đại thần, thường thường các buổi họp đều bắt đầu
vào lúc canh ba.
Hoàng
Cái vội vàng truyền lệnh cho các võ tướng sẵn sàng chuẩn
bị đi vào Hoàng cung, bố trí mai phục tại các ngã đường
và bảo con nữ tỳ cùng ba vệ sĩ đợi sẵn mình tại đầu
miệng hầm. Hoàng Cái nai nịt gọn gàng và mang theo thanh bảo
kiếm đi vào điện vua Ðột Quyết.
Vua
đang ngồi học niệm phù chú nghe quan ngự lâm tâu có
quan đại thần Hoàng Cái xin vào yết kiến, ngài rất ngạc
nhiên và truyền cho vào. Hoàng Cái vái chào vua và tâu ngay:
- Tâu
Hoàng Thượng, thần được mật báo có âm mưu cướp đoạt
ngai vàng. Xin Hoàng Thượng hãy mau mau đi theo đại thần để
chứng kiến tậm mắt những hành động bội phản của một
nhóm đình thần.
Vua
hỏi vẻ lo lắng:
- Mật
báo có chắc đúng không?
- Xin
Hoàng Thượng hãy kíp theo hạ thần để thấy đúng hay sai.
Vua
vội vã choàng áo bào vào, rồi đi theo Hoàng Cái. Hoàng Cái
dẫn vua đến miệng hầm là nơi đang có nữ tỳ và ba vệ
sĩ đợi sẵn. Nữ tỳ hướng dẫn đoàn người đi xuống
hầm. Ðường hầm tối om, dài độ năm trăm thước, nhưng
để giữ bí mật. Hoàng Cái không cho thắp đèn đuốc và
truyền lệnh tuyệt đối giữ im lặng, ai bất tuân sẽ chém
đầu ngay. Khi đi gần đến cuối hầm, thấy lờ mờ có ánh
sáng từ bên kia cửa hầm lọt vào và nghe có tiếng cười
nói. Hoàng Cái ra hiệu cho mọi người dừng lại, đứng nghe
ngóng.
Tiếng
ba người ở trong phòng nghe rõ mồn một. Hình như buổi tiệc
đã gần tàn và họ sắp sửa giải tán. Có tiếng xô ghế
đứng dậy và tiếng chào từ giã. Nhưng thứ phi Hoàng Hoa
cầm Lý Bá ở lại để bàn vấn đề giữ bí mật cho sự
sinh nở của nàng, và kế hoạch tráo đổi hài nhi như Lý
Bá đã có nói cho nàng biết trước kia. Lý Bá bỗng cười
chế riễu thứ phi, chàng nói:
- Kế
hoạch tráo đổi hài nhi xưa rồi! Trưóc kia, khi ta chưa nắm
được thế lực trong tay thì còn phải che giấu, tráo đổi
hài nhi, chứ bây giờ tất cả quyền hành đã vào trong tay
ta rồi, thì cần gì phải làm như vậy? Trong một ngày không
xa nữa, ta sẽ buộc lão Ðột Quyết nhường ngôi lại cho
ta, khi ấy nàng sẽ là chánh hậu, con nàng sẽ là Ðông cung
thái từ, còn ai vào đó nữa mà phải bày trò tráo đổi hài
nhi cho mệt xác?
Câu
nói của Lý Bá vừa dứt, thì Hoàng Cái và bọn vệ sĩ cũng
vừa phá cửa hàm nhảy vào phòng. Ba người bất ngờ không
kịp đề phòng đã bị bắt quả tang trước sự chứng kiến
của vua Ðột Quyết. Họ bị ba vệ sĩ bắt trói lại dẫn
vào ngục thất để chờ ngày ra pháp trường đền tội.
Ngồi
trong ngục thất, ca ba người đều rất hối hận: vì không
tin "Bài học ngàn vàng" (hay luật nhơn quả" nên mới đưa
đến "hậu quả rất tai hại" thế này!! ...