TẬP 01
CHƯƠNG
I
ÔNG
GIÀ BÁN BÀI HỌC NGÀN VÀNG
Ngày
xưa, xưa lắm, ở vùng Tân Cương thuộc Trung Á, có một nước
nằm giữa biên giớì Trung và Ấn Ðộ, gọi là Nhục Chi.
Tuy là một tiểu quốc, nằm giữa hai đại cường quốc, nhưng
Nhục Chi là một nước có một nền văn hóa tiến bộ và
một nền kinh tế phồn thịnh. Kinh đô Nhục Chi nằm trên
sườn núi lớn, cảnh trí rất đẹp, kiến trúc tân kỳ. Hoàng
cung và đền đài nằm trên một vị trí cao nhất, rồi đến
bộ viện, dinh thự của các công hầu khanh tướng, phía dưới
chân núi là nhà dân chúng và phố phường buôn bán tấp nập
quanh năm. Chính ở đây có một cái chợ lớn nhất. Cứ năm
ngày lại có một phiên chợ, dân chúng từ các vùng lân cận
đem hàng hóa vật thực thổ sản đến đây đổi lấy những
vật dụng cần thiết. Hàng hóa không thiếu một thứ gì,
từ ngũ cốc heo gà trâu bò đến hàng lụa, vải bô, quần
áo; từ cày bừa, cuốc xuổng cho đến vàng bạc phấn son;
từ trà rượu thuốc men cho đến hương hoa bánh trái ... người
nào muốn cần thứ gì thì có thứ ấy. Ngoài ra còn có những
khu dành riêng cho các cuộc giải trí: ca hát, ăn chơi, cờ
bạc, ruợu chè. Chính ở đây là nơi phức tạp nhất, tụ
tập đủ hạng người: nào Kinh, nào Thượng; nào giàu sang,
nào nghèo đói, nào hảo hán giang hồ, nào lưu manh trộm cướp;
nào văn chương nho nhã, nào vũ phu côn đồ ...
Hôm
nay cũng như mọi ngày phiên chợ khác, người mua kẻ bán đông
đảo tấp nập chen chúc khắp nơi. Nhưng đặc biệt là ở
khu giải trí, thiên hạ vây quanh một ông già rao bán một
bài học ngàn vàng với giá là một ngàn lượng vàng.
Ông
già vào khoảng 70 tuổi, đầu tóc bạc phơ, chít một cái
khăn điều, râu trắng như cước, chảy dài xuống quá ngực,
da nhăn nhưng mắt trong xanh như con nít. Ông mặc một cái áo
dài xanh lam, có thêu chữ thọ lớn và một cái quần điều.
Chân Ông mang giày thêu và tay chống một chiếc gậy có chạm
một đầu rồng. Trên đầu rồng có treo lủng lẳng một cái
đãy bằng gấm màu tía, bề dài độ một gang tay có thêu
một con phượng ngậm hạt châu.
Ông
lão đưa chiếc gậy lên cao cho mọi người thấy, vừa đi
qua đi lại, vừa rao với giọng rất trong trẻo:
- Ai
muốn giàu, ai muốn sang, ai muốn mua may bán đắt, hãy mua bài
học vô giá này! Ai muốn văn hay chữ tốt, ai muốn đỗ đạt
làm quan, ai muốn trở thành công hầu khanh tướng, hãy mua
bài học vô giá này! Ai muốn chồng hòa vợ thuận, ai muốn
gia đình êm ấm, ai muốn xóm làng kính yêu, hãy mua bài học
vô giá này! Ai muốn tu nhơn tích đức, ai muốn hưởng phước
về sau, hãy mua bài học vô giá này! Hãy mua mau đi! Mua mau
đi kẻo tiếc về sau!
Một
bà tò mò chen vào hỏi thử:
- Cụ
bảo bài học vô giá thì còn biết bao nhiêu mà mua?
Ông
lão trả lời:
- Bà
thử trả xem, được giá thì tôi bán.
- Năm
tiền nhé!
Ông
lão cười phì:
- Năm
tiền thì bà để mua kẹo, mua bánh cho con cháu bà ăn!
Bà
lão vẫn cố nài:
- Thì
Ông muốn bao nhiêu?
- Ðắt
lắm, chắc bà không mua nổi đâu.
Ông
lão vừa nói vừa quay đi chỗ khác, nhưng vẫn nghe được
bà già rủa mình ở sau lưng:
- Ông
lão khinh người quá xá! Bà mà không mua nổi, thì có quỷ
sứ mới mua cho ông!
Một
chàng thanh niên, ăn mặc xốc xếch, sặc mùi rưọu, chếnh
choáng rẽ đám đông tiến vào vòng trong. Anh ta gọi giật
ngược Ông lão:
- Ê,
Ông già! Ông bán gì đó?
- Bài
học vô giá, muốn làm gì thì được nấy!
- Chà,
bài học hay quá ta! Sao Ông không dùng cho Ông đi?
- Lão
đã dùng cho lão rồi, và dùng rất có hiệu quả.
Anh
chàng say rượu cười sặc sụa trước khi nói:
- Ông
đã dùng cho Ông rồi à? Sao Ông vẫn nghèo?
- Vì
lão không muốn giàu!
- Sao
Ông không thi đỗ làm quan?
- Vì
lão không muốn thi đỗ làm quan!
- Sao
Ông không có gia đình con cái hòa thuận để Ông nhờ?
- Vì
lão không muốn lập gia đình!
Anh
chàng say rượu cáu tiết, chồm tới hỏi:
- Cái
gì Ông cũng không muốn! Ông không muốn cái gì cả thật sao?
- Lão
chỉ muốn một chuyện.
- Muốn
gì?
Ông
già nhìn quanh, chậm rãi trả lời:
- Lão
muốn bán bài học vô giá này cho người đời dùng. Lão sanh
ra đời chỉ để làm công việc này thôi.
Anh
chàng thanh niên bực tức trả lời:
- Thế
thì Ông già điên rồi! Ai mà thèm mua bài học của Ông làm
gì. Người ta mua lúa, mua gạo, mua ruộng, mua vườn, mua nhà,
mua cửa, chứ ai mua bài học vô giá của Ông làm gì? Không
bài học của Ông thì thiên hạ cũng ăn uống no say, vui chơi
phè phỡn, tạo nhà tạo cửa, giàu sang sung sướng cả đó
kìa, Ông già thấy không?
Ông
già vừa xoay qua phía khác vừa trả lời:
- Nhưng
nếu có bài học của lão thì thiên hạ càng giàu sang hạnh
phúc hơn! Mua đi, mua đi kẻo tiếc!
Bỗng
có tiếng oang oang từ ngoài vọng vào:
- Có
ta đây! Ðể đó ta mua cho!
Một
anh chàng lực sĩ, vai u thịt bắp, xô đẩy đám đông tiến
vào. Anh ta mặc một cái áo cụt đen, không gài nút, để hở
ngực hở bụng, một cái quần đen, hai ống bó túm ở phía
dưới. Ngay hông có mang một đoản đao, giắt vào thắt lưng
màu đỏ. Anh ta đứng chống nạnh hai tay vào hai bên hông,
hất hàm hỏi Ông lão:
- Biết
ta là ai không?
- Biết
làm gì?
Anh
chàng lực sĩ cười gằn:
- Nhu
vậy thì lão ngu thật! Lão vào buôn bán ở chợ này mà không
cần biết đến ta, vậy thì đời lão tàn rồi. Chợ này là
giang sơn của ta. Ta muốn cho ai buôn bán ở đây thì cho, bằng
không thì phải lo mà chuồn đi; nếu lôi thôi thì ta sẽ đánh
bỏ mạng.
Ông
lão vẫn điềm nhiên hỏi:
- Anh
là Quản thị hả? Hay là chàng thâu thuế?
Chàng
lực sĩ cười mũi:
- Các
thứ đó mà kể làm gì? Ta ... Ta là ... đệ nhất anh chị
ở cái chợ phiên này.
Ông
lão phì cười, tỏ vẻ khinh bỉ:
- Tưởng
là gì! Ông Thiền Thừ mười tám mắt lão còn chưa sợ, nữa
là ... đệ nhất anh chị ở đây!
Anh
chàng lực sĩ mặt đỏ hầm hầm, nạt:
- Lão
già đừng hổn mà ăn năn không kịp!
Nói
vừa dứt lời, anh ta nhảy song phi đá vào mặt Ông lão. Nhưng
Ông lão đưa gậy ra đỡ nghe một tiếng "rắc", và anh chàng
lực sĩ té nhào vào đám đông. Ðám khán giả reo hò tán thưởng,
vì không ngờ Ông lão võ nghệ lại cao cường đến đỗi
hạ một cách dễ dàng anh chàng lực sĩ quán quân ở cái chợ
Kinh đô này như vậy! Chàng lực sĩ bị hạ bất ngờ, vừa
xấu hổ vừa đau đớn, hùm hổ đứng đậy rút đoản đao
ỏ lưng quần ra, sấn tới phía ông lão, hăm dọa:
- Thằng
già này to gan thật, dám chọc giận ta nhé! Ta cho một đao
mà đi đầu thai kiếp khác đây!
Chàng
ta lia một nhát dao như một làn chớp ngang đầu Ông lão. Ông
lão lách đầu né kịp và thuận đà tống một đạp vào bụng
anh chàng lực sĩ nghe một tiếng "ực". Anh chàng té ngửa,
chổng hai chân lên trời. Ông lão lẹ làng nhảy tới, chống
chiếc gây lên bụng anh ta. Tiếng reo hò tán thưởng reo dậy
chung quanh. Nhiều thanh niên, ông lão, bà lão, con nít định
xông vào đấm đá anh chàng lực sĩ kia để trả thù sự áp
bức từ lâu của anh ta trong chợ này. Nhưng Ông lão bảo mọi
người dang cả ra và cúi xuống nói với anh chàng lực sĩ
đang nằm thẳng cẳng dưới chiếc gậy của Ông lão:
- Con
ạ! Ðừng thấy lão già mà quen thói hiếp đáp nữa nhé! Trước
khi đem "Bài học ngàn vàng" đi bán, lão cũng đã tập dượt
võ bị để phòng thân chứ! Lão đâu có khờ khạo dẫn xác
đến đây để cho con hiếp đáp. Thôi xin lỗi đi, lão tha
cho.
Anh
chàng lực sĩ miệng không ngớt chửi bới Ông lão, và cố
vùng vẫy để đứng dậy được. Ông già bảo:
- Lão
đếm ba tiếng mà không chịu xin lỗi thì lão ấn cái gậy
này xuống, người con sẽ dẹp lép như con thằn lẳn bị kẹt
trong cánh cửa con ạ! Này, Một ...
Anh
chàng lực sĩ cảm nghe trên bụng mình như có một quả tạ
trăm cân đè xuống, đè xuống ...
Ông
lão đếm tiếp: - Hai.
Chàng
lực sĩ lại cảm thấy nặng thêm như cả một phiến đá
to tướng, nặng ngàn cân đè lên người mình. Chàng kinh hoàng
kêu lên:
- Lạy
ngài, tha cho con! Con xin chịu lỗi với ngài, từ nay con không
dám hổn nữa.
Ông
lão nâng chiếc gậy lên. Chàng lực sĩ bỗng nghe cả thân
mình nhẹ nhõm, lâng lâng. Anh ta đứng dậy lạy tạ Ông lão
hai lạy, rồi xấu hổ chuồn mất.
Bỗng
từ xa có tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn, tiếng quyển
dìu dặt khoan thai vọng lại. Mọi người ngước nhìn rồi
bảo nhau: "Hoàng thượng đi săn trở về! Lui ra, lui ra cho đoàn
ngự giá đi qua".
Mọi
người kính cẩn đứng nép ra hai bên. Ðoàn ngự giá từ từ
tiến đến. Ði đầu là một vị Tướng oai phong lẫm liệt,
ngồi trên mình ngựa bạch, tay cầm một cái bảng vàng có
4 chữ: "Ðột Quyết đại vương". Theo sau vị tướng có hai
hàng vệ sĩ mang giáo mác, cung tên. Tiếp theo là một đoàn
nữ nhạc sĩ ca nhi, vừa đi vừa múa hát, hòa nhạc, rất vui
tai đẹp mắt. Rồi đến xa giá của vua, chạm trổ long phụng,
bốn phía rèm buông trướng rũ. Sau xa giá là một đoàn lực
sĩ, cứ hai người khiêng một con thú rừng vừa săn được
... Dân chúng vừa kính cẩn, vừa sợ sệt, ngây ngất đứng
nhìn ở hai bên đường. Nhưng Ông lão vẫn thản nhiên đứng
nguyên chỗ cũ, vừa đưa cao chiếc gậy có treo chiếc đãy
gấm, vừa rao:
- Bài
học ngàn vàng! Bài học ngàn vàng! Mua mau kẻo hết!
Ðoàn
vệ sĩ ra hiệu bảo Ông lão tránh ra bên đường để đoàn
ngựa giá vua đi qua. Nhưng Ông lão có vẻ không lưu ý, càng
rao to:
- Bài
học ngàn vàng! Bài học ngàn vàng! Dịp may hiếm có, dịp
may hiếm có!
Vị
tướng đi đầu đưa cao tấm bảng, ra hiệu lịnh cho đoàn
vệ sĩ vây bắt Ông lão, dẫn tới trước ngựa mình. Vị
tướng dõng dạc hỏi:
- Lão
là người ở đâu? Có biết luật lệ quốc gia không?
- Lão
sống vô gia cư, chết vô địa táng. Lão đi đây đó để
bán bài học vô giá mà chưa gặp kẻ thức giả biết giá
trị của nó, nên chưa toại nguyện. Lão mỗi ngày mỗi già,
đâm ra sốt ruột, sợ mình chết đi mà bài học vẫn chưa
bán được. Hôm nay xa giá đi qua, lão nghĩ rằng đây là một
dịp quý, may ra có người mua được, nên lão quên cả lễ
nghi, xin thượng quan miễn chấp.
Vị
tưóng tò mò hỏi:
- Ðâu,
bài học gì đưa xem!
Ông
lão đưa cao chiếc gậy trước đầu ngựa, chỉ vào chiếc
đãy:
- Nó
nằm ở trong chiếc đãy gấm này!
Vị
tướng với tay định lấy chiếc đãy, nhưng Ông lão lanh lẹ
rút chiếc gậy về, cười nói:
- Ðâu
có được dễ dàng như vậy! Ngài muốn mua thì phải trả
giá cả xong xuôi đã chứ!
- Bao
nhiêu?
- Thưa,
một ngàn lượng vàng!
Vị
tướng bỗng phát lên cười:
- Lão
có điên không? Suốt đời ta làm tướng, đánh Ðông dẹp
Bắc, thí mạng sống để phò vua giúp nước, mà chưa bao giờ
có được một trăm lượng vàng. Nay lão bán chiếc đãy to
bằng bàn tay, không biết đựng gì ở trong mà đòi đến một
ngàn lượng vàng, thì thật là điên khùng. Thôi lão hãy xê
ra cho đoàn ngự giá đi. Ta không đùa nữa đâu!
Vua
Ðột Quytế đang ngồi trong long xa không hiểu vì sao đoàn
ngự giá dừng lại hơi lâu, vén rèm nhìn hỏi quan cận vệ:
- Có
chuyện gì mà phải dừng lâu vậy?
- Tâu
Hoàng Thượng, có một Ông lão đang rao bán một bài học mà
Ông bảo là quý giá lắm.
Vua
mỉm cười, truyền lịnh gọi Ông lão đến trước long xa
của mình. Vua tự bảo đây là một cơ hội để mình giải
trí. Cuộc đời bằng phẳng, ngày nào cũng yến ẩm tiệc
tùng, ca hát, săn bắn, xử kiện đã làm cho Ngài chán ngấy
lắm rồi. Cuộc đời đối với Ngài không còn có gì là mới
lạ để mà nhìn ngắm, không còn có gì là cao siêu, kỳ bí
để mà tìm tòi, học hỏi nữa cả. Thế mà nay lại có một
Ông lão bảo rằng mình có một bài học quý giá đem đi rao
bán cả cho vua nữa. Ngài có một cảm giác thích thú như khi
đi săn gặp một con mồi hung hăng, quyết liệt đương đầu
với mình.
Ông
lão đến trước long xa, rạp mình vái lạy vua, rồi cúi đầu
đợi lịnh. Vua Ðột Quyết lặng lẽ ngắm nhìn Ông lão, cảm
thấy có một vẻ gì tiên phong đạo cốt tỏa ra từ người
Ông lão. Hồi lâu vua cất tiếng hỏi:
- Trẫm
nghe nói Ông lão có bài học gì hay lắm phải không?
- Tâu
Hoàng Thượng, bảo rằng hay thì chưa đúng lắm; phải nói
đây là bài học quý báu nhất đời.
Vua
mỉm cười, có vẻ mỉa mai:
- Ông
lão có chủ quan không? Nhưng trẩm cũng miễn chấp cho lão,
vì thường tình ai bán món hàng gì cũng cho rằng món hàng
của mình là nhất.
- Tâu
Hoàng Thượng! Suốt đời lão chưa hề biết nói ngoa. Lão
chỉ tiếc là không có một ngôn ngữ nào có thể diễn tả
cho đúng cái giá trị cao cả của bài học này, nên tạm dùng
danh từ là bài học vô giá.
Vua
cười dễ dãi:
- Thôi
thì ta cũng chấp nhận là vô giá đi! Nhưng đã là vô giá
thì ta biết trả cho lão bao nhiêu?
- Tâu
Hoàng Thượng, lão chỉ lấy giá tượng trưng là một ngàn
lượng vàng thôi.
Có
nhiều tiếng cười bật lên trong đám cận thần, tướng tá
vây quanh Ông lão. Vua cố làm vẻ nghiêm trang, nhưng cũng không
thể nhịn cười. Vạt áo cẩm bào trước bụng ngài rung chuyển
một hồi, trước khi ngài cất tiếng phán bảo:
- Giá
tượng trưng mà đến 1000 lượng vàng, còn nếu thật giá
thì chắc trẫm phải bán cả giang sơn của trẫm cũng chưa
đủ để trả cho lão.
Ông
lão trả lời nhà vua một cách tỉnh khô:
- Tâu
Hoàng Thượng! Thật quả đúng như vậy. Và lão tưởng như
thế vẫn không phải là đắt; vì vói bài học này, Hoàng
Thượng có thể gây dựng thêm mười giang sơn như thế này
cũng được.
Bây
giờ không còn ai cười nữa. Câu nói của Ông lão làm cho
mọi người, từ vua đến quan chú ý, vì họ cảm thấy có
một vẻ gì nghiêm trang chân thật trong lời nói của Ông lão.
Vua
bỗng xoay câu chuyện qua một hướng khác:
- Lão
có gia đình, vợ con gì không?
- Tâu
Hoàng Thượng, lão tứ cố vô thân từ ngày sanh ra đời cho
đến giờ.
Vẻ
mặt vua trở nên rạng rỡ. Ngài nói mau:
- Vậy
thì lão lấy 1000 lượng vàng dùng vào việc gì, để lại
cho ai, nhất là những ngày cuối cùng của lão cũng không còn
bao nhiêu nữa? Trẫm sợ lão lấy vàng mà không giữ được,
lại còn mang họa vào thân nữa.
Ông
lão cười một cách lém lỉnh:
- Lão
xin đội ơn Hoàng Thượng đã lo nghĩ giùm cho lão. Nhưng lão
đã có cách sử dụng số vàng bán được, xin Hoàng Thượng
đừng lo.
Vua
lại hỏi sang một vấn đề khác:
- Lão
đối với trẫm như thế nào? Có đặc biệt hơn đối với
những người khác không?
- Tâu,
lão đặt Hoàng Thượng lên ngôi cao quý nhất, và bởi thế
cho nên hôm nay lão mới đến chợ này, đợi Hoàng Thượng
đi săn về để bán bài học, vì lão nghĩ, ngoài Hoàng Thượng
ra chắc không ai mua nổi; vả lại không ai sử dụng bài học
này một cách lợi ích lớn lao bằng Hoàng Thượng, nếu thật
tình Hoàng Thượng muốn dùng đến nó.
- Lão
đã biết nghĩ như vậy, sao lão còn muốn đòi cho được 1000
lượng vàng của trẫm?
- Tâu
Hoàng Thượng, lão có thể dâng không, hay lấy vài lượng
vàng của Hoàng Thượng cũng được, bởi thật tình lão cũng
không cần đến số vàng nhiều như vậy, nhưng lão nghĩ rằng:
những vật đem tặng hay bán rẻ thường bị xem thường xem
khinh. Tục ngữ có câu "của rẻ, của hôi" Cho nên lão nhất
quyết phải bán đúng giá 1000 lượng vàng, thì Hoàng Thượng
mới quý bài học của lão.
Vua
công nhận lời Ông lão nói là chí lý, nhưng vẫn tiếc số
vàng phải bỏ ra. Vả lại Ngài cũng sợ đình thần cho mình
quá giàu, và tiêu pha một cách quá xa xí. Ngài nói:
- Trẫm
bằng lòng trả bài học 1000 lượng vàng, nhưng bây giờ trẫm
trả trước 500 lượng, còn 500 lượng nếu trẫm thấy bài
học hay và đem áp dụng có hiệu quả, thì trẫm sẽ trả
nốt.
Ông
lão có vẻ bực mình nói:
- Như
vậy là Hoàng Thượng không dốc lòng mua. Thôi xin cho lão đi
nơi khác để bán kẻo trưa lắm rồi.
Ông
lão vái chào rồi rẽ đám quan quân, chống gậy rảo bước
đi. Tánh háo kỳ của vua Ðột Quyết bị kích thích tột độ,
nhất là trước cái hành tung và cốt cách lạ lùng của Ông
lão. Vua truyền gọi Ông lão trở lại. Ngài nói có vẻ quở
trách:
- Người
thật ngạo mạn. Người đối với trẫm không có chút kính
trọng nào cả. Giá cả chưa xong sao người lại bỏ đi như
thế?
- Tâu
Hoàng Thượng, xin Hoàng Thượng thứ cho lão. Nhưng lão thiết
nghĩ, nếu ở địa vị của Hoàng Thượng, Hoàng Thượng xem
1000 vàng là trọng hơn bài học của lão, thì ở địa vị
của lão, lão cũng thấy tiếc bài học của lão.
Vua
nói hòa giải:
- Thôi
thì ta bằng lòng trả cho Ông lão 1000 lượng vàng đó. Hãy
đưa bài học ta xem.
Ông
lão mỉm cười, như để xin lỗi:
- Tâu
Hoàng Thượng lượng thứ cho! Tục ngữ có câu: "Tiền trao
cháo múc". Lão sẽ dâng bài học cho Hoàng Thượng, sau khi nhận
đủ 1000 lượng vàng.
- Ông
lão thật khó chịu! Người không tin trẫm sao?
- Trước
khi trả lời, xin Hoàng Thượng cho lão hỏi lại: Hoàng Thượng
có tin lão không?
Vua
do dự trước khi trả lời:
- Thật
tình ta hơi nghi ngờ về giá trị của bài học mà người
ca tụng.
- Hoàng
Thượng không tin được lão, thì lão xin lỗi, làm sao lão
tin được Hoàng Thượng? Thường thường dân tin lời nói
của vua, nhưng vua lại không làm theo lời nói của mình, nên
việc quốc gia thường đỗ vỡ. Lão nghĩ rằng: giữa vua và
dân phải có sự công bằng, hoặc hai bên đều tin cậy nhau.
Nếu bên này không tin bên kia, thì đừng bắt bên kia phải
tin lại. Và nếu hai bên không tin nhau thì tốt hơn hết là
làm theo khẩu hiệu "Tiền trao cháo múc".
Vua
gượng cười, phán bảo:
- Thôi
thì ta cũng làm theo ý của người.
Ngài
xoay qua phía quan giữ kho bảo phải đem đến gấp 1000 lượng
vàng. Quan giữ kho phi ngựa về cung, rồi chẳng mấy chốc
trở lại với một tiểu đội binh mã gồm mười người,
mỗi người mang một cái đãy đựng 100 lượng vàng y. Vua
truyền đếm vàng giao cả cho Ông lão.
Ông
ta trút hết tất cả 10 bao vàng vào một cái bao lớn. Mọi
người tò mò chờ xem Ông lão làm thế nào để mang số vàng
về nhà. Vua nghĩ thầm thế nào Ông lão cũng khó toàn tánh
mạng với số vàng lớn lao kia. Ngài tỏ vẻ thương hại,
hỏi Ông:
- Người
có cần ta cho mượn mười lính thị vệ mang vàng về nhà
cho người không?
- Xin
đội ơn Hoàng Thượng, lão chẳng cần ai giúp đỡ! Lão đã
có học được đôi chút võ nghệ từ hồi còn nhỏ, nên có
thể mang nặng hàng trăm cân. Bây giờ xin kính dâng bài học
lên Hoàng Thượng ngự lãm. Lão chỉ xin thưa một lời cuối
cùng trước khi ra về và xin Hoàng Thượng nhớ cho là: "Bài
học nào cũng vậy, có áp dụng mới biết hay hoặc dở".
Ông
lão nói xong, lấy cái đãy ở đầu chiếc gậy dâng lên vua
Ðột Quyết, rồi cúi xuống quảy bao vàng lên vai, chống gậy
đi thoăn thoắt. Toàn thể đoàn xa giá vô cùng ngạc nhiên
về sức mạnh phi thường của Ông lão. Họ bảo nhau có lẽ
Ông già này là một dị nhân, có người cho ông ta có tà thuật.
Vua nắm cái đãy trong tay nhưng mãi nhìn theo hành tung của
Ông lão, nên chưa kịp lấy bài học ra xem. Bấy giờ sực
nhớ lại, ngài mới vội vã ngắm nghía, quan sát cái đãy
gấm. Tất cả quan quân đều quay lại hướng nhìn nhà vua,
hồi hộp chờ đợi cái phút vua mở bài học trong đãy gấm
ra xem. Nhà vua cũng đâm lo lắng, và hồi hộp hơn tất cả
mọi người. Ba lần ngài định mở sợi dây thắt miệng đãy,
rồi lại dừng tay. Cuối cùng ngài giở tráp vàng để bên
cạnh mình, bỏ cái đãy gấm vào, đậy lại cẩn thận và
phán bảo:
- "Một
bài học ngàn vàng" không thể mở ra đọc ở dọc đường
dọc xá được.
Và
ngài truyền lịnh cho đoàn ngự giá tiếp tục lên đường
về cung. Mọi người đều tiu nghỉu thất vọng vì không được
chứng kiến đoạn kết thúc của một câu chuyện mở đầu
rất hào hứng, tân kỳ. Thực ra thì vua cũng rất sốt ruột
muốn xem ngay bài học nói gì, nhưng càng bình tâm nghĩ lại,
ngài cũng sợ mắc lừa Ông lão. Ngài không muốn giở ra xem
trước mặt đình thần, vì nếu bị lừa thì thật là xấu
hổ, còn gì là thể thống của một đấng quân vương ngồi
trên thiên hạ? Cho nên ngài định về cung, đợi đến đêm
khuya mở ra xem một mình, nếu có bị lừa cũng không ai hay
biết. Trên đường về cung, ngài cứ băn khoăn, tự trách
mình sao quá dễ dãi, mua một bài học đắt giá như vậy mà
quên hỏi tung tích Ông già, quên cho người đi theo dò la hành
động của Ông, và nhất là không truyền lịnh đem Ông già
về cung để đợi xem xong bài học ra thế nào, rồi sẽ thả
ra sau.
Vua
tự bảo lần sau mình phải thận trọng hơn nữa mới được.
Và ngài tự an ủi:
- Dù
sao thì lão già ấy cũng không thể thoát khỏi tay ta. Nếu
lão dám lừa phỉnh cả ta, thì lão sẽ mất đầu.
CHƯƠNG
II
PHẢN
ỨNG CỦA VUA KHI MỞ BÀI HỌC RA XEM
Hôm
nay trong cung điện vua Ðột Quyết không có yếm ẩm, ca nhạc
như các đêm khác. Sau mấy ngày đi săn bắn mệt nhọc, vua
truyền lệnh cho các quan thị vệ, cận thần và cung nữ được
nghĩ ngơi cho lại sức. Riêng ngài cũng cần được yên tĩnh
để xem "Bài học ngàn vàng" vừa mua được. Thâm ý của ngài
là không muốn cho ai khác được xem bài học, lý do thứ nhất
là một vật qúy báu như vậy không nên để cho một ai hay
biết; lý do thứ hai, là nếu bị lừa phỉnh, thì lại càng
không nên để tiết lộ ra ngoài.
Cho
nên hôm nay, ngài đi nghỉ sớm. Ðến 3 giờ sáng, ngài lặng
lẽ thức dậy, đóng kín các cửa phòng, mở tráp vàng lấy
cái đãy đựng bài học ra. Ngài mở dây gút trên miệng đãy,
hồi hộp rút bài học đựng trong một cái phong bì dán kín.
Ngài rất cẩn thận xé phong bì, rút ra một tờ giấy màu
vàng tươi. Trên trang giấy chỉ vỏn vẹn có một câu, viết
với một nét chữ rất đẹp như rồng bay phượng múa: "Phàm
làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó".
Vua
bật ngửa người, ném mạnh trang giấy xuống bàn. Sự tức
giận của ngài lên cực độ, làm cho người nghẹt thở. Nếu
không sợ quan thái giám và cung phi mỹ nữ biết được, thì
ngài đã đập đổ tất cả bình vàng chén ngọc để trước
mặt ngài trên chiếc án chân quỳ nạm ngọc. Ngài càng nghĩ
càng căm giận lão già. Không ngờ hắn lại đám phỉnh gạt
cả vua. Bài học như vậy mà nó dám bảo là vô giá, đòi
cho được 1000 lượng vàng, mà lại còn làm ra vẻ không cần.
Nó thật quá ngạo mạn, dám cho đó là một bài học, trong
khi chỉ là một câu nói tầm thường, chỉ để khuyên bọn
trẻ con. Ta là một ông vua, trị vì thiên hạ, quyền uy cái
thế, đâu có cần một bài học như vậy. Ta muốn làm gì
thì ta làm, ta ban sự sống, ta truyền lệnh chết. Ta là thiên
tử, ta muốn là trời muốn. Ta hô một tiếng là có thể dời
sông, lấp biển. Ta đâu cần nghĩ đến hậu quả làm gì?
Ta muốn hậu quả như thế nào, thì hậu quả phải như thế
ấy!
Nhà
vua định xé tờ giấy của Ông già viết ra làm muôn mảnh
và vứt vào ống phóng cho mất tang tích. Nhưng ngài dừng tay
lại vì chợt nghĩ rằng: nên để nó lại chờ ngày bắt được
lão già sẽ trả lại cho lão, đòi 1000 lượng vàng lại trước
khi hành quyết. Cần có đủ bằng cớ, tang tích để lão già
mồm mép kia không thể chối cãi được. Vua dằn sự tức
giận, xếp tờ giấy bỏ vào chiếc đãy gấm và buộc giây
lại như cũ. Ngài bỏ vào tráp vàng để ở trên án thư. Nhưng
một lát sau, nghĩ thế nào không biết, ngài lấy chiếc tráp,
đem bỏ vào tủ bằng cẩm thạch dùng để đựng các thứ
thất bảo quý nhất và khóa lại cẩn thận. Không phải ngài
liệt cái bài học của Ông già vào hàng quốc bảo, nhưng
chỉ vì ngài sợ để ra ngoài, có người xem trộm được,
sẽ chê ngài khờ dại, đã để cho một ông già phỉnh gạt,
và tin ấy sẽ đồn đãi ra, sẽ làm ngài mất uy tín, khó
trị vì thiên hạ.
Công
việc đầu tiên ngài phải làm là truyền lệnh tìm bắt cho
được Ông già. Nhưng đây là một việc mật, cần phải giao
phó cho người thân tín thi hành. Vua định kế hoạch xong xuôi
đâu đó, thì trống canh trên hoàng thành đã thúc tan canh.
Ngài đánh một giấc cho đến chiều tối. Không ai dám thức
ngài dậy, vì ai cũng nghĩ rằng bài học chắc phải cao siêu
lắm nên làm cho ngài mỏi mệt, không thể dậy sớm được.
Sau
khi thức dậy, Ngài truyền lệnh cho quan thái giám mở tiệc
khoảng đãi đình thần vào tối hôm ấy, lấy lý do là để
mừng Hoàng Thượng vừa có hồng phúc mua được bài học
quý giá.
Vì
đã quen tổ chức tiệc tùng yến ẩm, cho nên trong vài giờ
sau, quan Thái Giám đã bày biện xong một đại tiệc trên năm
trăm thượng khác tại ngự uyển. Văn võ bá quan trong triều
không ai thiếu mặt, vì được vua ban đại yến là một vinh
dự không thể bỏ qua; hơn nữa mọi người đều nóng lòng
muốn biết bài học vô giá mà vua vừa mua được, nó quý
giá cao siêu như thế nào.
Diện
mạo của vua hôm nay không khác mọi ngày. Ngài vẫn vui vẻ
nói cười, nhưng nếu ai để ý nhìn kỹ thì thấy ngài uống
rượu nhiều hơn mọi hôm trước. Cuối bữa yến, ngài tuyên
bố rất hài lòng về bài học của Ông già, và có thể xem
như là một quốc bảo. Có quan Ðại thần đánh bạo đứng
dậy tâu vua có thể nói cho biết nội dung và tánh cách bài
học như thế nào không. Vua cười gượng gạo bảo rằng bài
học có tánh cách cơ mật, không thể nói ra cho tất cả triều
thần biết được. Tuy thế, ngài hứa sẽ tùy theo địa vị
của các đình thần và tùy theo hoàn cảnh mà tiết lộ cho
một số các thượng quan biết.
Câu
chuyện bài học không còn ai buồn nhắc nhở nữa, khi đoàn
vũ nữ đẹp tuyệt trần với những xiêm y rực rỡ kéo nhau
ra sân khấu. Nhưng chính trong lúc mọi người đang say mê xem
múa nhảy thì vua cho gọi quan Ðề Ðốc vào hậu cung để
ngài dạy bảo.
Quan
Ðề Ðốc Thanh Phong là một vị võ tướng thân tín của ngài,
thường thường những việc mật vua đều giao phó cho vị
quan này thi hành. Vua tỏ thật ra cho vị Ðề Ðốc biết chuyện
mình bị gạt và truyền cho vị này phải tìm bắt cho được
Ông già đã bán bài học. Quan Ðề Ðốc xin hứa trong một
tuần sẽ đem nạp Ông già trước bệ rồng. Là một con người
nhiều mưu chước, quan Ðề Ðốc đề nghị với nhà vua là
tuyên bố cho mọi người biết rằng bài học rất quý báu,
nên vua muốn trọng thưởng thêm vàng bạc cho Ông già, nhưng
không biết Ông ở đâu. Vậy nếu ai tìm được chỗ ở của
Ông già và báo tin cho ông biết cũng sẽ được trọng thưởng.
Và
sau khi cuộc yến ẩm, ca vũ, chấm dứt, mọi người ai ai cũng
hy vọng đi tìm kiếm Ông già để lãnh thưởng.
Từ
hôm ấy, ngày nào vua Ðột Quyết cũng trông ngóng tin tức
về Ông già; nhưng biệt vô âm tín. Gần đến kỳ hạn một
tuần vua càng sốt ruột. Vua sợ để lâu, Ông già sẽ trốn
ra khỏi nước, sang nước Quý Lâm, là một lân bang thù nghịch
và phao tin đồn vua bị gạt, thì thật là làm trò cười cho
thiên hạ.
Nhưng
nếu vua sốt ruột một phần, thì quan Ðề Ðốc Thanh Phong
lại sốt ruột mười phần. Quan sẽ mất uy tín biết bao đối
với sự tin cậy của vua, khi không tìm ra được Ông già.
Một ông già lọm khọm, tứ cố vô thân, mang theo một bao
vàng nặng trĩu như vậy, mà có thể trốn thoát ra khỏi nước
một cách dễ dàng, thì làm sao nói chuyện giữ an ninh trật
tự cho trăm họ và giữ yên bờ cõi chống xâm lăng? Quan huy
động tất cả lính tráng dưới quyền mình đi lục soát từng
nhà một trong đêm khuya, và ban ngày chận đón tất cả các
ông già để khám xét. Ngoài ra quan còn sai bọn mât thám rất
đông đảo dưới tay mình giả làm người đi mua heo, đi bán
chiếu, người lỡ đường đi ăn xin, ngủ trọ để dò xét.
Tất cả quán xá ở các ngã tư, ngã bài học đường cái
đều có người của quan Ðề Ðốc dòm ngó. Nhưng Ông già
vẫn biệt vô âm tín!
Kỳ
hạn một tuần đã hết, quan Ðề Ðốc với vẻ người tiều
tụy, trông già đi đến 10 tuổi, vì sự lo nghĩ và mất ăn
bỏ ngủ, khúm núm vào quỳ trước long sàng để chịu tội
về sự bất lực của mình.
Bao
nhiêu sự giận dữ của vua đối với Ông già đều trút lên
đầu lên cổ quan Ðề Ðốc. Người ta có cảm tưởng lưng
quan Ðề Ðốc mỗi lúc mỗi còng thêm xuống vì những danh
từ nặng nề mà quan phải gánh chịu thay cho Ông già. Ông
già khi vác bao vàng 1000 lượng đâu có vẻ nhạc nhằn như
vậy.
Nhưng
có một lúc, như con ngựa chở quá nặng, bất kham đâm liều,
đã trút đổ tất cả đồ vật mang trên lưng, quan Ðề Ðốc
dứng thẳng dậy, nói thẳng ý mình:
- Tâu
Hoàng Thượng, thần không xứng đáng nhận lãnh tất cả các
lời quở trách nặng nề của Hoàng Thượng. Từ trước đến
nay Hoàng Thượng đã tin dùng thần, thì chắc Hoàng Thượng
cũng đã xét đến lòng tận trung của thần như thế nào rồi.
Nhưng trong vụ Ông già này, thần xin thú thật, thần chịu
bất lực. Ông già đã phỉnh gạt cả Hoàng Thượng thì chắc
cũng không phải tay vừa ...
Vua
nghe câu nói cuối cùng của quan Ðề Ðốc giận đến xám
mặt. Ngài hất đổ tất cả đồ đạc để trên án thư,
vùng đứng đậy, nạt:
- Ngươi
nói gì? Trẫm bị phỉnh gạt hả? Ngươi đã nhục mạ trẫm.
Tội khi quân của ngươi đáng chém đầu!
Nói
xong, vua truyền quan Thái Giám đem bỏ quan Ðề Ðốc vào ngục
thất để chờ ngày ra pháp trường vì tội khi quân.
Thật
ra câu nói của quan Ðề Ðốc không đến nỗi phải bị kết
vào trọng tội như vậy. Nhưng nhà vua muốn trừ quan Ðề
Ðốc để dập tắt luôn vụ mình bị lừa phỉnh, không cho
nó lan ra ngoài; vì ngoài quan Ðề Ðốc, ra chưa có một ai
rõ biết về sự thật của bài học ngàn vàng kia.
Khuya
hôm ấy, quan Ðề Ðốc bị xử uống thuộc độc chết ở
trong ngục thất.
Ba
ngày sau, tin đồn ra cho biết rằng quan Ðề Ðốc đã bị
xử tử vì tội âm mưu giết vua để chiếm ngôi.
CHƯƠNG
III
SỰ
TRẢ THÙ CỦA THẠNH BẢO, CON QUAN ÐỀ ÐỐC
Tin
đồn quan Ðề Ðốc bị xử tử mấy hôm sau lan đến biên
thùy giữa hai nước Nhục Chi và Quý Lâm. Tướng giữ biên
cương là Thạnh Bảo, con trai đầu của quan Ðề Ðốc, một
viên tướng trẻ tuổi nhưng tài cao, được vua tin cậy cho
ra trấn đóng ở biên thùy với binh hùng tướng mạnh để
hầu ngăn cản ngoại xâm tứ nước Quý Lâm tràn sang.
Ðược
tin dữ, Thạnh Bảo đau đớn và kinh hoàng đến ngất xỉu.
Người nhà phải kêu gọi hồi lâu chàng mới tỉnh lại. Theo
như tin cho biết thì ông thân Thạnh Bảo bị xử tử vì tội
mưu đoạt ngôi vua, một tội rất nặng có thể bị tru di
tam tộc. Chàng nghĩ thật là vô lý! Cha chàng mà lại phản
vua, muốn chiếm đoạt ngai vàng! Một vị cận thần, được
vua tin cậy từ trước đến nay, mà sao lại dám làm như vậy?
Chắc ở bên trong còn có nhiều bí ẩn khác nữa. Nhưng điều
không ai còn nghi ngờ là cha chàng đã chết thật, và đã chết
về tội phế vua. Với một tội trạng như vậy, chắc chắn
chàng cũng sẽ bị liên lụy, có thể bị mất chức, tù tội
hay xử tử cũng nên.
Do
đó, chàng phải tìm cách đối phó trước. Sự việc đã đẩy
chàng vào chân tường, chàng không thể bó tay chịu chết một
cách vô lý như vậy. Một mặt chàng viết mật thư cho người
tín cẩn sang nước Qúy Lâm xin viện binh một mặt chàng kiểm
điểm binh mã kéo rốc về Kinh đô, để hạch tội vua về
việc đã giết cha chàng.
Binh
hùng tướng mạnh của Thạnh Bảo rầm rộ kéo về Kinh đô,
trước sự ngơ ngác của dân chúng. Phản ứng của Thạnh
Bảo rất nhanh khiến vua cũng không ngờ và không kịp đối
phó. Ba ngày sau, Kinh đô đã bị vây kín. Vua không còn biết
làm gì hơn là đóng cửa thành, tìm kế hoãn binh để đợi
cứu viện. Trong khi nóng giận, vua ra lịnh giết quan Ðề Ðốc
mà quên "xét kỹ đến cái hậu quả" sẽ đến cho mình là
sự trả thù của Thạnh Bảo. Ba lần vua sai sứ giả ra cầu
hòa và hứa sẽ đền đáp xứng đáng việc xử tử oan quan
Ðề Ðốc, nhưng Thạnh Bảo không chịu.
Ban
đầu, khi mới kéo quân trở về Kinh đô, Thạnh Bảo chỉ
vì nóng lòng muốn biết vì sao cha mình bị giết và nhất
là để tự vệ, để phòng sự việc bất trắc có thể xảy
đến cho mình. Nhưng giờ đây, sau khi thấy rõ lực lượng
của mình quá mạnh, và sự cô thế của vua, cũng như sự
bất lực hèn nhát của đình thần, Thạnh Bảo muốn nhân
cơ hội này phế bỏ vua và chiếm luôn ngai vàng, điều mà
trước kia, không bao giờ chàng dám nghĩ đến.
Trong
khi chờ đợi giờ phút đầu hàng của vua quan trong thành.
Thạnh Bảo ra một tờ hịch kể tội của vua: nào là thiếu
sáng suốt, ăn chơi quá độ, không lo việc nước; nào là
nhu nhược để cho bọn nịnh thần thao túng triều đình, nào
là phung phí của cải nhà nước, làm cho dân đã nghèo lại
càng nghèo thêm. Dân chúng ở kinh thành ban đầu còn dè dặt,
chưa dám hưởng ứng, nhưng sau thấy lực lượng của Thạnh
Bảo quá mạnh, mà đình thần lại không có ai đủ tài sức
đương đầu với Thạnh Bảo nên đã theo về rất đông. Nhất
là trong hoàng thành mỗi ngày mỗi thiếu thực phẩm, nước
không đủ uống, gạo không đủ ăn. Bệnh dịch tả bắt đầu
xuất hiện. Và tin đồn quân của nước Quý Lâm đã tràn
vào biên thùy.
Tình
hình thật là nguy ngập, đen tối. Vua vấn kế đình thần,
nhưng đình thần quen ăn chơi và xem múa hát, không ai còn đủ
minh mẫn và sáng kiến để hiến kế cho vua. Ðôi khi vua cũng
đâm ra hối hận vì đã giết quan Ðề Ðốc. Nếu có quan
Ðề Ðốc, chắc ngài không đến đỗi cô độc, nhục nhã
và bất lực như thế này. Nhưng sự việc đã lỡ, hối cũng
muộn rồi! Ðìều quan trọng hiện nay là làm sao tìm được
một người tài trí đủ sức đẩy lui bọn giặc Thạnh Bảo.
Nếu không tìm ra được thì chỉ có cách là bỏ thành trốn
thoát để bảo toàn tính mạng. Ngài chỉ còn trông mong sự
cứu trợ của tướng Hoàng Cái, một viên tướng có mưu lược
và uy quyền đang trấn đóng ở biên thừy phía nam. Nhưng đã
trên mười lăm ngày qua mà không nghe tin tức gì của Hoàng
Cái cả, vua quá lo sợ. Phen này Thạnh Bảo phá được thành
thì cả Hoàng tộc sẽ bị giết sạch. Dân chúng và binh lính
vừa chết vì đói và vừa chết vì dịch tả. Triệu chứng
rối loạn đã bắt đầu xuất hiện trong hoàng thành. Từng
đoàn binh lính đã cởi bỏ quân phục để trốn lánh trong
dân chúng. Ban đêm chỗ này kêu cướp, chỗ kia kêu cháy nhà.
Thấy tình thế mỗi ngày mỗi nguy ngập, một đêm tối trời
cua cùng hoàng gia đã theo đường hầm bí mật lén trốn ra
khỏi kinh thành, đi về phí Nam là nơi đạo quân của Ðại
tướng Hoàng Cái đang đóng.
Hai
hôm sau, dân chúng trong thành mới hay nhà vua đã trốn thoát.
Ðể tự cứu, họ đã đồng thanh mở cửa thành cho đạo
quân của Thạnh Bảo kéo vào. Dân chúng hoan hô chàng và tôn
chàng lên làm vua.
Ðể
mua chuộc lòng dân chúng. Thạnh Bảo truyền mở các kho gạo
thóc gạo còn lại của nhà vua ra phân phát cho dân; và đối
với triều thần cũ, chàng ra mật chỉ dụ cho phép vị nào
muốn nghỉ việc thì cứ tự do trở về quê cũ, còn vị nào
muốn ở lại phục vụ quốc gia thì sẽ được thăng cấp.
Hầu hết đều lục tục xin ở lại phò vua mới.
Nhưng
công việc đầu tiên của Thạnh Bảo sau khi được tấn phong
là tự mình kiểm điểm lại các kho ngọc vàng châu báu của
tiên vương để lại. Chàng cho phá cái tủ bằng cẩm thạch
để trong phòng ngủ của vua vua Ðột Quyết. Chàng thất vọng
không thấy một báu vật nào ở trong hết, ngoài trừ cái
đãy có đựng bài học của Ông già. Chàng tò mò mở ra xem
và khinh bỉ xé trang giấy ra nhiều mảnh nhỏ. Chàng lẩm bẩm:
"Xét kỹ đến hậu quả trước khi làm việc!" Sao nó lại
để câu này vào đây làm gì? Nó muốn dạy ta chắc! Nếu
thật nó tin vào giá trị của câu này, thì nó phải dạy nó
trước đã chứ. Nó muốn dạy đạo lý nhân quả cho ta, trong
khi chính nó lại không áp dụng cái đạo lý ấy. Vả lại,
bài học này đâu có đúng, chính ta đây, trong khi cất binh
về hỏi tội nó, thì ta chỉ nghĩ đến tự vệ, chứ ta đâu
có nghĩ đến hậu quả là được ngai vàng. Ta nhắm một tiêu
này, mà công việc lại đưa ta đến một mục tiêu khác! Vậy
thì làm sao có thể đoán trúng được hậu quả mà phải suy
nghĩ về hậu quả cho mệt trí.
Trong
lúc say sưa với men chiến thắng và địa vị mới như vậy
thì Thạnh Bảo được tin phi báo từ biên cương là đại
quân của nước Quý Lâm đang tiến về Kinh đô. lấy danh nghĩa
là giúp Thạnh Bảo diệt bạo chúa vua Ðột Quyết.
Tin
báo ấy không sai. Ðạo quân của nước Quý Lâm. do một lão
tướng có kinh nghiệm là Tùng Sơn đang ngày đêm tiến về
Kinh đô. Ði đến đâu Tùng Sơn cũng loan báo cho dân chúng
biết rằng: mình được Thạnh Bảo mời sang giúp sức. Bức
thơ cầu cứu của Thạnh Bảo gởi vua Quý Lâm được viết
phóng đại ra thành nhiều bản, nêu trên những tấm gỗ lớn
và dựng lên ở các phố phường, chợ búa mà quân của Tùng
Sơn đi qua. Và với chiêu bài ấy, đi đến đâu quân của
Tùng Sơn cũng bắt dân chúng phải đón rước, thết đãi,
nộp thóc gạo, thực phẩm để nuôi quân. Có nhiều nơi quân
giặc ngoại bang bắt cả đàn bà, con gái, vợ con của dân
chúng ra phục dịch mua vui cho chúng.
Nhân
dân bắt đầu oán ghét Thạnh Bảo đã vì thù hận riêng tư,
rước voi về giày mã tổ, cõng rắng cắn gà nhà. Không còn
tin cậy ở cả vua cũ lẫn vua mới, họ tự động đứng lên
chống quân xâm lăng, để bảo vệ xóm làng mồ mã. Quân của
Tùng Sơn đần dần cảm thấy dân chúng địa phương tránh
xa mình, không còn tiếp rước phục dịch nữa, mà trái lại
còn tổ chức khuấy phá hậu phương mình.
Tùng
Sơn, một con cáo già, mượn cớ để bảo vệ quân lính mình,
đi đến đâu đều đóng đồn bót, đặt quan cai trị địa
phương, truất bỏ nhóm hương lý cũ, đặt bọn hương lý
mới là những tay sai ngoan ngoãn của mình. Thực ra đường
từ biên thùy về Kinh đô, đi chậm lắm cũng chỉ khoảng
10 ngày là đến. Nhưng Tùng Sơn đâu có ý định đến Kinh
đô gấp. Lão ta cố chần chờ để đặt cơ sở khắp nơi,
và đáng lẽ thẳng đường về Kinh đô thì hắn lại đi vòng
quang về phía Nam, như cố bọc hậu Kinh thành Nhục Chi.
Những
tin tức ấy dồn dập được báo về cung. Thạnh Bảo vô cùng
lo ngại bối rối, không biết phải đối phó ra làm sao: đêm
quân ra cản không cho quân Tùng Sơn tiến vào thì không đủ
sức, mà để cho quân Tùng Sơn xâm nhập mãi thì mất uy tín
của mình, và cả ngai vàng nữa
CHƯƠNG
IV
TƯỚNG
HOÀNG CÁI GIẢI PHÓNG ÐẤT NƯỚC VÀ KHÔI PHỤC NGÔI VUA
Vì
đã cầu cứu ngoại bang đem quân chiếm nước nhà, nên Thạnh
Bảo mất hết chánh nghĩa.
Trái
lại, Hoàng Cái dựa trên danh nghĩa chống ngoại xâm, bảo
tồn xứ sở, khôi phục ngôi vua, đã tạo cho mình mỗi ngày
mỗi thêm uy thế trong nhân dân. Sau khi đã chiêu mộ thêm binh
mã một mách mau lẹ, vì sự nhiệt liệt hưởng ứng của
toàn dân, Tướng Hoàng Cái làm lễ xuất phát về giải phóng
Kinh đô. Lợi dụng sự khinh suất của Tùng Sơn đem quân tiến
sâu về phía Nam, Tướng Hoàng Cái đã bất thần thúc
quân ngang hàng hông đạo trung quân của địch, cắt đạo
quân này làm đôi, tiền quân và hậu quân không liên lạc
được với nhau. Phần không thông thuộc đường sá, phần
bị dân chúng nổi dậy khuấy phá ở hậu phương, quân của
Tùng Sơn mỗi ngày mỗi hao mòn. Lúc mới đầu, còn được
dân chúng tiếp tế, nhưng càng đi sâu vào đất địch, dân
chúng địa phương càng xa lánh, sự tiếp tế càng khó khăn,
quân của Tùng Sơn dần dần mỏi mệt, thiếu thốn, và
không còn giữ được kỷ luật như trước nữa. Do đó, càng
đánh càng thua, càng thua càng mất tinh thần, và càng mất
tinh thần càng thua nặng. Mười vạn tinh binh của Tùng Sơn
bây giờ chỉ còn là một đạo quân ô hợp chưa đầy một
vạn, tiến thoái lưỡng nan.
Ðáng
lẽ lợi dụng tình trạng suy yếu của quân Tùng Sơn, Thạnh
Bảo có thể mua chuộc tội phản nghịch của mình bằng cách
tấn công vào quân của Tùng Sơn, giành lại chủ quyền của
đất nước, nêu cao danh nghĩa giải phóng dân tộc khỏi ách
ngoại bang. Nhưng bị danh vọng, địa vị và quyền lợi nhãn
tiền làm mù quáng lương tri, Thạnh Bảo vẫn nuôi hy vọng:
vua nước Quý Lâm với tài nguyên dồi dào, tiềm lực chiến
đấu hùng hậu, có thể đem thêm viện binh giúp mình đánh
bại Hoàng Cái. Thái độ hướng ngoại và thần phục ngoại
bang ấy, làm cho dân chúng ghét bỏ Thạnh Bảo. Ngay tại Kinh
đô là nơi dân chúng tương được hưởng đôi chút ân huệ
của nhà vua, Thạnh Bảo cũng không tìm được sự ủng hộ,
mà trái lại còn bị ngấm ngầm phản đối khi quân của Hoàng
Cái còn ở xa, và cứ mỗi ngày nghe tin của vị tướng này
càng tiến về Kinh đô, thì dân chúng tại đây càng tỏ ra
chống đối công khai với chính quyền do Thạnh Bảo nắm giữ
một cách độc tài.
Sau
khi được tin Hoàng Cái đã giết được tướng Tùng Sơn và
tiêu diệt hoàn toàn tàn quân của địch, thì dân chúng ở
Kinh đô nhất tề nổi dậy, bao vây hoàng cung, tước khí giới
của lính phòng vệ hoàng thành và giam lỏng Thạnh Bảo trong
cung, mở cửa thành chờ đón Hoàng Cái phò vua Ðột Quyết
trở lại ngai vàng.
Như
thế là sau 3 tháng xáo trộn trầm trọng vì sự dấy binh và
cướp ngôi của Thạnh Bảo, trật tự lại được vãn hồi
trên toàn quốc và tại Kinh đô nước Nhục Chi.
Vua
Ðột Quyết được Ðại tướng Hoàng Cái phò về hoàng cung.
Dân chúng tại Kinh đô treo đèn kết hoa và lập khải hoàn
môn đón mừng sự trở về của vua. Ngài truyền mở hội
khao mừng quân lính trong suốt bảy ngày đêm. Hoàng Cái và
những tướng tá có công đều được thăng hai cấp bực và
trọng thưởng ngọc ngà châu báu. Những người phản bội
và theo ngoại bang, trong số đó có Thạnh Bảo đều bị bắt
giam để chờ ngày đền tội.
Hoàng
Cái trở thành đệ nhất công thần và cột trụ chính của
triều đình, được vua hoàn toàn tin cậy và trọng nể. Ngài
cho phép Hoàng Cái được đặc biệt ra vào hoàng cung lúc nào
cũng được và có thể trình bày ý kiến của mình trong mọi
vấn đề.
Căn
cứ trên đặc ân ấy, ngay sau ngày đăng quang của vua Ðột
Quyết, Hoàng Cái đã vào hoàng cung xin yết kiến vua để trình
bày một việc mà Hoàng Cái cho là rất quan trọng đối với
vận mệnh của quốc gia.
Sau
khi được vua chấp thuận, Hoàng Cái đã dâng một bức thư
điều trần lên vua Ðột Quyết, trong ấy vị Ðại thần này
trách cứ vua đã để mất ngôi vì chỉ nghĩ đến chuyện
săn bắn, ăn chơi, múa hát mà không lo đến việc quốc kế
dân sinh. Nếu từ đây về sau vua vẫn không thay đổi nếp
sống cũ thì quốc gia sẽ bị nguy khốn một lần nữa, và
cái họa ngoại xâm chắc là không thể tránh khỏi.
Vua
đã nén lòng tự ái và công nhận lời khuyên của Hoàng Cái
là đúng. Ngài tự hứa từ nay về sau sẽ chăm lo việc nước
và dẹp tất cả những cuộc yến ẩm ca múa trong cung.
Sau
khi triều đình đã được chỉnh đốn, vua mới truyền đem
Thạnh Bảo ra xử. Thạnh Bảo bị ghép vào tội phản loạn,
thông đồng với ngoại bang để cướp ngai vàng và sẽ bị
xử trảm tại pháp trường cát dựng lên ở giữa Kinh đô.
Vào
một buổi sáng sớm mùa thu, nhằm vào một phiên chợ tại
Kinh đô, người ta được mục kích một đám quan quân áp
giải một tên tử tù ra pháp trường. Tên tử tù này không
ai khác hơn là Thạnh Bảo. Ðám rước đi từ trong hoàng thành
ra, dẫn đầu là hai con voi trắng lớn, ở giữa là một vị
võ quan mang một tấm biểu lớn liệt kê sanh tánh và tội
trạng của tử tội. Kế đó là hai hàng lính tráng mang trống
lớn và chiêng to, cùng các loại nhạc khí. Tiếp theo sau là
chiếc cũi nhốt Thạnh Bảo, hai bên có hai hàng lính, gươmg
giáo sáng ngời đi hai bên.
Ðình
thần và vua Ðột Quyết cũng được nghinh giá theo đám
rước với đầy đủ cung cách và nghi vệ của một vị Ðại
vương.
Ðến
pháp trưòng, Thạnh Bảo bị dẫn ra khỏi chiếc cũi và trói
vào một cột trụ. Sau khi vua và đình thần an vị xong trước
pháp trường, dân chúng đã được sắp xếp có trật tự
ở chung quanh. Ba hồi chiêng trống nổi lên dõng dạc và oai
nghiêm … Quan hình bộ thượng thư ra tuyên đọc tội trạng
của tử tội. Tất cả đình thần và dân chúng đều im lặng,
lắng nghe những lời buộc tội nghiêm khắc của quan thượng
thư, và hồi hộp chờ phút giây vua ra lịnh hành quyết …
Ba
hồi chuông trống đã chấm dứt từ lâu. Mọi người đều
im lặng nhìn về phía vua Ðột Quyết. Gã đao phủ mình trần
trùng trục đưa cao ngọn đao sáng chói mặt trời, chờ lịnh
hạ xuống đầu Thạnh Bảo.
Vua
từ từ đứng lên, tiến tới trước mặt Thạnh Bảo, nhìn
chàng một hồi rồi cất tiếng nói:
- Thạnh
Bảo! Người có nhận tội phản nghịch của ngươi không?
Ngươi có ân hận về những điều ngươi đã làm không?
- Thạnh
Bảo bình thản ngước nhìn vua trả lời:
- Thần
đã thất bại trong mưu đồ của thần và thần cam chịu chết.
Ðược là vua thua là giặc, đó là lẽ thường. Thần không
có gì phải ân hận. Nếu ngài thất bại, thì hôm nay, chỗ
đứng của ngài là trước cột trụ của pháp trường này,
và chỗ ngồi của thần là cái ngai vàng, chính giữa đám
triều thần kia.
Vua
mỉm cười mai mỉa:
- Ta
khen cho ngươi sắp chết mà vẫn còn cương trực. Trước khi
lìa cõi đời, ngươi còn lời nói cuối cùng gì nữa không?
Thạnh
Bảongập ngừng một phút rồi nói:
- Thần
chỉ ân hận có một điều ... và điều ấy có thể thay đổi
cả cuộc diện hôm nay ...
- Ðiều
gì?
Thạnh
Bảongập ngừng nhìn quanh quan quân đứng chung quanh. Vua đoán
biết ý định của Thạnh Bảo, hỏi:
- Ngươi
muốn nói riêng với trẫm chăng?
Thạnh
Bảo gật đầu. Vua truyền cho quan quân lùi xa ra khỏi pháp
trường và tiến sát đến gần Thạnh Bảo:
- Bây
giờ ngươi hãy nói cho ta nghe đi.
Thạnh
Bảo thì thầm nói với vua ...
Vua
như sực nhớ điều gì, đứng thẳng người dậy, vẻ mặt
đăm chiêu, rồi gật đầu mấy cái, như vừa khám phá ra một
điều gì quan trọng.
Vua
xoay lại, nhìn đình thần một phút, rồi truyền cho người
đao phủ hạ đại đao xuống, và tạm thời đình hoãn cuộc
hành quyết.
Tất
cả mọi người đều vô cùng kinh ngạc.
Ðại
Tướng Hoàng Cái bực tức tiến tới trước vua Ðột Quyết,
định chất vấn và ngăn cản lịnh của vua. Nhưng vua đưa
tay ra hiệu hãy im lặng và truyền quan quân ngự giá hồi cung.
Ðoàn người chậm rãi quay về trong một bầu không khí ngột
ngạt và bực tức ...
CHƯƠNG
V
BÀI
HỌC NGÀN VÀNG ÐƯỢC GỢI LẠI
Ðại
tướng Hoàng Cái vẻ mặt giận dữ tiến thẳng vào hậu cung,
sau khi ở pháp trường trở về. Vị Ðại thần này muốn
biết lý do vì sao vua đã truyền lịnh hoãn việc xử trảm
Thạnh Bảo.
Vua
biết Hoàng Cái đang bực tức mình nên cố làm ra vẻ vồn
vã:
- Ðại
thần hãy vào đây uống với trẫm một ly rượu, rồi trẫm
sẽ giải thích vì sao trẫm đã truyền tha tội chết cho Thạnh
Bảo.
Quan
Ðại thần bất chấp cả nghi lễ tấn công ngay:
- Thần
không thể ngồi uống rượu được, trong khi thằng giặc nguy
hiểm nhất của triều đình đang còn sống. Tại sao Hoàng
Thượng lại muốn "nuôi ong tay áo" một lần nữa. Hoàng Thượng
đã tin cậy cha nó, để đến nỗi suýt bị nguy đến tánh
mạng. Thời may vận nước chưa đến nỗi suy tàn, nên âm
mưu lật đổ ngai vàng của cha nó bị khám phá kịp thời.
Nhưng Hoàng Thượng đã nhổ cỏ mà không trừ tận gốc, nên
đã để cho thằng con là Thạnh Bảo đem quân về làm loạn,
ngai vàng bị lật đổ, thần dân bị điêu linh khổ sở. Nay
tội trạng của nó đã đành rành, Hoàng Thượng lại vẫn
tỏ ra khoan dung độ lượng với nó, làm cho tất cả triều
đình, từ trên xuống dưới đều vô cùng phẫn uất, buồn
tủi và nhất là lo sợ cho hậu hoạn còn đó.
Vua
ngồi lắng nghe, không tỏ vẻ bực tức vì những câu trách
móc ấy. Ngài ngập ngừng hồi lâu, trước khi cất tiếng
với một vẻ mặt buồn buồn.
- Trẫm
xin chịu lỗi với khanh về những việc làm của trẫm. Những
lời của khanh nói, trẫm không chối cãi vào đâu được.
Tuy thế khanh chưa hiểu rõ nguồn cơn sự việc đã xảy ra
trong cung cấm này, nên khanh đã trách trẫm; nếu khanh hiểu
rõ mọi việc từ đầu, chắc khanh sẽ có một nhận định
khác. Từ lâu, trẫm chôn sâu câu chuyện này trong đáy lòng,
nhưng không ngờ sáng hôm nay nghe Thạnh Bảo nhắc lại, làm
trẫm vô cùng hối hận và tỉnh ngộ.
Câu
chuyện này, khanh là người đầu tiên được biết đến,
và trẫm nói ra đây cho khanh rõ, là vì trẫm xem khanh là người
thân tín bậc nhất của trẫm ...
Hoàng
Cái dần dần bị lôi kéo vì những lời nói có vẻ bí mật
của vua, đã đổi sắc mặt, không còn bực tức như lúc đầu.
Ðại tướng chăm chú lắng nghe vua mở đầu câu chuyện:
- Chắc
khanh chưa quên câu chuyện Ông già bán bài học mà trẫm đã
mua với giá môt ngàn lượng vàng. Sau khi mở bài học ra xem,
trẫm nghĩ rằng trẫm đã bị lừa, nên trẫm vô cùng tức
giận ...
Hoàng
Cái tò mò hỏi:
- Thần
có thể biết nội dung bài học nói gì không?
- Không
có gì lạ, chỉ vỏn vẹn có một câu: "Phàm làm việc gì,
trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó". Trẫm tức giận
ông già quá, nhưng không dám bộc lộ sự thật cho mọi người
biết, vì sợ chê cười. Trẫm đã phao đồn ra là bài học
rất qúy giá, và mọi người đều tin là thật. Nhưng một
mặt khác, trẫm mật truyền cho quan Ðề Ðốc Thanh Phong phải
đi bắt cho được Ông già về cho trẫm. Nhưng quan Ðề Ðốc
không làm sao bắt cho được Ông già. Trẫm một phần vì tức
giận, một phần vì sợ để quan Ðề Ðốc sống thì sự
thật về bài học sẽ bại lộ, nên loan tin rằng quan Ðề
Ðốc đã âm mưu lật đổ ngai vàng. Quan Ðề Ðốc bị xử
tử bằng độc dược và chết trong ngục thất.
Thạnh
Bảo không thể tin được rằng: cha mình đã âm mưu giết
vua, vì hơn ai cả Thạnh Bảo biết rằng quan Ðề Ðốc là
một trung thần được trẫm vô cùng tin cậy. Nóng lòng vì
cha bị giết mà không rõ nguyên nhân và cũng để tự vệ,
nó đã đem quân về triều làm loạn. Sự việc diễn tiến
sau đó như thế nào, khanh cũng đã rõ. Có một điều quan
trọng nhất mà hôm nay nó mới tiết lộ cho trẫm biết là:
sau khi nó vào hoàng cung, nó mở cái tủ cẩm thạch mà trẫm
đựng châu báu ngọc vàng, nó không thấy gì cả (vì trẫm
đã đem đi hết) ngoài cái đãy có bài học của Ông lão.
Nó đọc xong rồi bực tức xé mảnh giấy đi. Nó nghĩ rằng
đó là một câu nói nhảm. Nhưng chính hôm nay, tại pháp trường,
trước khi bị xử trảm, lời nói cuối cùng của nó nói với
trẫm là nó đã ân hận: không nghe theo bài học. Nếu từ
khi vào cung mà nó làm theo bài học, thì nó vẫn có thể hướng
đến một hậu quả tốt đẹp, chứ không phải là cái hậu
quả bị xử trảm tại pháp trường. Trẫm có hỏi nó: " Nếu
khanh nghe theo bài học thì khanh sẽ làm gì?". Nó trả lời:
Thần sẽ chống lại quân của nước Quý Lâm do Tùng Sơn chỉ
huy và trả lại ngai vàng cho Hoàng Thượng". Trẫm lại hỏi:
"Vậy tại sao khanh không làm như vậy?". Nó bảo: "Vì thần
thấy khó mà đoán trúng hậu quả; vả lại trong khi đang có
quyền lực trong tay, thần nghĩ rằng mình có thể thay đổi
hậu quả theo mình muốn". Nghe Thạnh Bảo trả lời trẫm giựt
mình, vì trẫm cũng đã nghĩ như vậy, khi mở bài học ra xem
lần đầu tiên, trẫm đã ruồng bỏ bài học của Ông già
nên trẫm đã mất ngôi và suýt mất luôn cả tánh mạng. Và
chính trẫm là người đã gây nên tội đối với cha con Ðề
Ðốc Thanh Phong. Vì nghĩ như vậy, nên trẫm đã truyền tha
tội chết cho Thạnh Bảo.
Quan
Ðại thần Hoàng Cái nghe xong ngồi trầm ngâm suy nghĩ, và
nỗi bực tức lúc đầu tan biến dần mất.
Hoàng
Cái và vua Ðột Quyết ngồi nhìn nhau, không ai nói với ai
một lời, nhưng đây là một sự im lặng đầy suy tư, rất
cần thiết cho mọi hành động. Hồi lâu vua cất tiếng hỏi:
- Theo
ý Ðại thần, thì đại thần có nghĩ rằng nên tha tội chết
cho Thạnh Bảo chăng?
- Tâu
Hoàng Thượng, nếu quả thực ssụ việc đã xảy ra như vậy
thi không những nên tha chết cho Thạnh Bảo mà còn nên tạo
cho nó nhiều cơ hội đoái công chuộc tội nữa. Nhưng dù
sao đó cũng là công việc nhỏ. Thần nghĩ đến một vấn
đề quan trọng hơn, là bài học này hay lắm! Nếu Hoàng Thượng
và Thạnh Bảo biết áp dụng bài học này thì chẳng những
không có những tai hại lớn lao vừa xảy ra, mà còn đem lại
sự ích lợi cho quốc gia dân tộc và cá nhân của Hoàng Thượng,
của Thạnh Bảo vô cùng vô tận. Vậy thì bây giờ phải làm
thế nào đem bài học quý báu của ông già ra áp dụng ...
Vua
Ðột Quyết bỗng như sực nhớ điều gì, vội cắt ngang câu
nói của Hoàng Cái:
- Câu
nói của Ðại thần nhắc lại làm cho trẫm nhớ lời dặn
của ông lão là "phải áp dụng bài học mới rõ giá trị
chơn thật của nó". Nhưng làm thế nào để áp dụng bài học
này một cách triệt để trong mọi công việc?
- Tâu,
nếu thật tình Hoàng Thượng muốn áp dụng một cách triệt
để, thì trước tiên phải làm sao luôn luôn nhớ đến bài
học ấy.
- Một
câu ngắn ngủi như vậy, có khó gì đâu mà không nhớ?
- Tâu,
vì ngắn ngủi, vắn tắt và đơn giản quá, cho nên chúng ta
khinh thường, không chú ý đến. Thần nghĩ có cách hay nhất
để bài học luôn luôn hiện diện trước mắt mọi người
là nên ghi khắc nó khắp nơi trên mọi vật dụng.
Mắt
vua Ðột Quyết bỗng sáng lên và ngài nhận thấy sáng kiến
của Hoàng Cái rất hay. Ngài nói có vẻ mùng rỡ:
- Ðó
là một ý kiến rất quý báu, Trẫm phải truyền lịnh thực
hành ngay tại trong hoàng cung này.
Thế
là vua truyền lịnh cho quan nội giám tìm các nhà giáo viết
chữ thật đẹp, để viết bằng đủ các lọai chữ từ lớn
đến nhỏ, và tuyển mộ các nhà điêu khắc, các thợ mộc,
thợ nề, thợ vẽ, thợ sơn, thợ chạm để tùy theo vị trí,
địa điểm, nhà cửa, phòng the, vật dụng mà ghi khắc, chạm
trổ bài học của Ông già vào ...
Thợ
thầy, lính tráng trong cung nổ lực làm việc sau một tháng
mới xong.
Ðể
đánh dấu ngày phát động phong trào áp dụng bài học và
gây một xúc động tâm lý trong triều đình và cung điện,
vua truyền tổ chức đại lễ để tạ ơn trời đất thánh
thần đã xui khiến cho Ông già đem bán bài học cho vua rồi
biến mất.
Trong
buổi lễ có sự tham dự của toàn thể bá quan văn võ. Vua
Ðột Quyết, trong bộ lễ phục đại trào, đã quỳ lạy một
cách vô cùng thành kính trước hương án, để ăn năn sám
hối tội lỗi của mình từ trước đã suýt làm cho nước
mất nhà tan, cơ đồ sụp đổ. Sau đó, vua quay mặt xuống
phía bá quan văn võ, tường thuật tất cả sự thật về bài
học của Ông già mà từ trước đến nay vua đã che đậy.
Cũng trong dịp này, vua tuyên bố ân xá tội trạng của Thạnh
Bảo và cho trở về làm dân dã. Cuối cùng vua long trọng phát
nguyện tuân theo bài học của Ông già và khuyên bá quan văn
võ nên bắt chước theo ngài mà áp dụng bài học ấy. Buổi
lễ chấm dứt sau sự trình bày các loại vật dụng trong hoàng
cung có ghi khắc bài học ngàn vàng.
CHƯƠNG
VI
QUAN
NGỰ Y VÀ BÀI HỌC NGÀN VÀNG
Quan
ngự y Thái Hòa len lén đóng kín cửa phòng lại. Mặc dù các
của phòng đều đóng kín cả rồi. Quan vẫn nhìn quanh nhìn
quẩn xem có ai rình ngó mình ở đâu đó không. Bốn bề đều
im lặng. Từ ngày vua Ðột Quyết đau nặng đã hơn hai tháng
nay, trong cung điện không có tiếng đàn tiếng hát đã đành,
mà tiếng cười tiếng nói cũng vắng bặt. Sự vắng lặng
làm cho quan ngự y rờn rợn! ... Ba lần quan lần tay vào chéo
áo, ba lần quan để chéo áo xuống. Thực ra viên độc dược
chỉ nhỏ bằng hạt tiêu, khó cho ai có thể nhận ra được,
nhưng khi người ta có gian ý thì một cử chỉ nhỏ nhặt,
người ta cũng e ngại, giữ gìn. Nồi thuốc nấu từ sáng
đến giờ đã sắp được. Chỉ cần lấy viên độc dược
trong chén áo bỏ vào nồi nữa là xong. Nhưng cử chỉ nhỏ
nhặt ấy mà khó khăn quá chừng! Có lẽ vì khó khăn như vậy
nên vua Quý Lâm mới thuận trả giá cho quan ngự y bằng một
nàng Công chúa đẹp và một nữa giang sơn nước Nhục Chi!
Nguyên
là vua nước Quý Lâm, sau khi cho tướng Tùng Sơn đêm một
trăm ngàn quân sang xâm chiếm nước Nhục Chi, bị hoàn toàn
thất bại, nên nuôi chí phục thù, nhưng chưa có cơ hội.
Nhân được tin thám báo cho biết vua Ðột Quyết đau nặng,
vua Quý Lâm vô cùng mừng rỡ, hội tướng lãnh để bàn mưu
đem quân sang đánh. Nhưng các tướng cẫn còn kỷ niệm đau
thương của cuộc thất bại trước, nên tỏ vẻ e dè. Do đó,
quan Tể tướng mới kiếm kế mua chuộc quan ngự y Thái Hòa
bỏ thuốc độc cho vua Ðột Quyết chết rồi sẽ đem quân
xâm chiếm sau. Quan Tể tướng cho người thân tín giả làm
nhà buôn đem quế sang bán cho quan ngự y và đưa thư thuyết
phục vị lương y được vua tín cẩn ấy. Thái Hòa ban đầu
còn do dự, nhưng khi được sứ giả của quan Tể tướng đưa
bức tranh vẽ chân dung của Công chúa nước Quý Lâm cho xem,
thì không còn đủ nghị lực để từ chối. Cuối cùng quan
ngự y đã nhận viên độc dược vô cùng mãnh liệt của sứ
giả và hứa sẽ thi hành kế hoạch của quan Tể tướng nước
Quý Lâm. Một tờ cam kết đã được thảo ra giữa hai người
và mỗi người cất giử một bản để làm tin.
Sứ
giả đã trở về, và quan ngự y vào cung chế thuốc như mọi
ngày, chỉ khác là hôm nay có mang theo viên thuốc độc trong
chén áo.
Có
một lúc quan ngự y đã định ném viên thuốc qua cửa sổ
cho mất tang tích, nhưng sực nhớ tờ cam kết đang còn trong
tay viên sứ giả, nếu mình không thi hành, thì thế nào quan
Tể tướng cũng trả thù bằng cách tiết lộ tờ cam kết
ấy cho triều đình nước Nhục Chi hay. Khi ấy đã mất
vợ đẹp, mất nửa giang sơn gấm vóc, mà còn lại bị tru
di cả ba họ vì tội mưu giết vua.
Nghĩ
như vậy, quan ngự y cương quyết lần viên độc dược ở
trong chén áo ra, lanh lẹ dỡ nắp nồi thuốc bỏ vào. Chỉ
một cử chỉ nhỏ nhặt như vậy thôi mà nãy giờ cứ do dự
chần chừ mãi!
Quan
thấy nhẹ nhõm trong người, đứng dậy ra mở cửa, và đi
qua đi lại trước hành lang đợi giờ đem thuốc vào cho vua
uống. Quan nhìn ra ngoài vườn thượng uyển. Cảnh trí thật
là đẹp dưới ánh sáng mờ ảo của hoàng hôn. Quan nghĩ thầm:
cung điện này vài hôm nữa sẽ về tay ta. Bây giờ ta là một
ngự y không quyền thế, nhưng một này kia tất cả cung phi
mỹ nữ sẽ ở dưới quyền sử dụng của ta; bọn đình thần
mấy lâu nay khinh bạc ta, sẽ quỳ lạy dưới tay ta. Thật
không ngờ vận mệnh con người thay đổi mau lẹ như vậy
...
Vào
7 giờ tối, như mọi ngày một viên thị vệ đến mời quan
ngự y đem thuốc vào cho vua uống! Quan ngự y bảo viên thị
vệ lấy nồi thuốc đổ vào bát sành, đặt khay vàng và bưng
vào phòng vua, còn mình thì theo sau.
Viên
thị vệ quỳ đặt khay thuốc trên chiếc án, chân quy trước
long sàng và lui ra. Quan ngự y vái chào vua và đứng dưới
chân giường đợi lệnh. Vua chỉ một chiếc ghế và bảo
quan ngự y ngồi xuống.
Vua
đưa tay bảo:
- Khanh
xem mạch cho trẫm hôm nay có khá hơn mọi hôm không? Có thể
cho trẫm biết độ bao giờ thì bệnh khỏi hẳn. Và nếu có
mệnh hệ gì cũng đừng giấu trẫm làm gì. Hãy để cho trẫm
có thì giờ chuẩn bị ...
Viên
ngự y đặt tay nhà vua lên một tấm khăn rồi quỳ xuống
bắt mạch. Vua cảm thấy mấy ngón tay của quan ngự y rung
nhè nhẹ trên cổ tay mình. Ngài chăm chú nhìn vào mặt quan
ngự y và quan ngự y có vẻ như muốn tránh nhìn mình. Vua gợi
chuyện hỏi han về thân thế và gia đình vị lương y:
- Khanh
năm nay bao nhiêu tuổi?
- Tâu
, năm mươi hai ...
- Vậy
là thua trẫm hai tuổi. Chẳng mấy chốc mà đã qua nửa đời
người rồi! Nhiều khi trẫm ân hận là chưa làm gì được
cho dân cho nước mà đã sắp lìa trần rồi!
Tay
quan ngự y rung mạnh trên cổ tay của nhà vua. Vua lại tiếp:
- Khanh
ạ! Trẫm chưa muốn chết quá vội. Khanh hãy làm sao chữa
cho trẫm lành bệnh nhé!
Quan
ngự y "dạ" một tiếng nhỏ trong cổ họng và cúi mặt nhìn
xuống chén thuốc để trên chiếc khay vàng. Bỗng mắt vị
lương y như bị thôi miên vì mấy chữ chạm trên chiếc khay
và trên thành bát thuốc: "Phàm làm việc gì, trước phải
xét kỹ đến hậu quả của nó". Vị lương y có cảm tưởng
choáng voáng như đầu của mình vừa bị húc vào tường. Mấy
chữ vẫn nằm im lặng ở đấy, mà quan ngự y nghe như tiếng
quở trách đang vang dội khắp nơi và cả trong đầu óc của
mình. Quan ngự y tự hỏi:
"Ta
đang làm gì đây? Ta bỏ thuốc độc cho vua. Vua sẽ uống chén
thuốc và chết trong vài giờ sau. Âm mưu giết vua thế nào
cũng bại lộ. Ta sẽ bị quan đại thần Hoàng Cái bắt và
chém đầu. Cả gia đình dòng họ ta chắc cũng không thoát
khỏi án tử hình. Họ Thái sẽ tuyệt diệt, nhưng tiếng xấu
vẫn lưu lại muôn đời. Ta làm một việc ác lớn lao, chắc
chắn ta sẽ thâu nhận một hậu quả vô cùng tai hại!"
Trong
khi suy nghĩ như vậy, mấy ngón tay quan ngự y vẫn nằm im trên
cổ tay nhà vua, và vua vẫn để yên tay mình dưới tay quan
ngự y, nhưng đôi mắt vẫn theo dõi, quan sát từng cử chỉ,
từng sự biến chuyển trên nét mặt suy tư của quan ngự y.
Hồi
lâu, vua cất giọng yếu ớt hỏi:
- Khanh
xem mạch trẫm thế nào? Sắp nguy chưa?
Quan
ngự y nhu sực tỉnh, tâu vẻ bối rối:
- Tâu,
tâu Hoàng Thượng ... mạch rất tốt, rất tốt ...
Vua
mỉm cười héo hắt:
- Thế
ạ! Trẫm cảm ơn khanh. Bây giờ trẫm uống thuốc nhé!
Vua
vừa nói vừa ngồi dậy với bưng bát thuốc. Quan ngự y hốt
hoảng cản tay vua lại, nói:
- Xin
Hoàng Thượng hãy khoan ...
Vua
ngạc nhiên hỏi:
- Sao
vậy? Sao khanh lại không cho ta uống?
Quan
ngự y quỳ xuống, van lạy:
- Tâu
Hoàng Thượng, thần xin Hoàng Thượng rộng lượng tha tội
cho thần! Bát thuốc có độc dược!
- Sao
vậy?
Nhà
vua vô cùng kinh ngạc, hỏi lại:
- Khanh
định giết trẫm thật sao?
- Muôn
tâu Hoàng Thượng, hạ thần đã bị vô minh dục vọng làm
mờ ám lương tâm, nhưng nay sực nhìn thấy bài học ngàn vàng
khắc trên khay và trên bát thuốc mà thần tỉnh ngộ. Tội
thần đáng chết, xin Hoàng Thượng hãy truyền lịnh hạ ngục
đi.
Vua
trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi từ tốn phán:
- Thật
quả tội khanh đáng chết. Nhưng khanh đã hối hận kịp thời
trước khi tội ác xảy ra, nên trẫm tha tội cho khanh. Từ
nay về sau hãy hết lòng tận trung với trẫm.
Quan
ngự y dập đầu vái lạy và quỳ bên chân nhà vua, vô cùng
xúc cảm không cầm được nước mắt! ...
Bệnh
của nhà vua tự nhiên thuyên giảm rất nhiều, mồ hôi ngài
toát ra ướt dầm áo bào,và cảm nghe trong người nhẹ nhõm.
Nhà vua mừng quá, tự bảo: Bài học này quý lắm! Một ngàn
lượng vàng còn rẻ! Nhờ bài học này mà quan ngự y được
hối ngộ khỏi bị tội tử hình và tru di tam tộc; nhờ bài
học này mà nước nhà khỏi mất, dân ta không làm nô lệ
cho ngoại bang và cũng nhờ bài học này mà tánh mạng ta khỏi
chết. Thật là "Bài học vô giá!"
Nhờ
sự vui mừng đó nên trong người vua phấn khởi, khoan khoái
mà bịnh ngài dần dần thuyên giảm.