Quyển
thứ Tư
(Phần
thứ nhất)
VI.
Ký[1]
1.
Bài ký về việc nghênh đón chân thân Xá Lợi của Thích Ca
Như Lai
(viết
giùm)
Trong trần điểm kiếp trước, đức Trung Thiên Điều Ngự
Thích Ca Thế Tôn đã sớm thành Chánh Giác, dứt sạch ba đời,
trụ trong Tịch Quang, thường hưởng Tứ Đức, vì xót thương
chín giới bèn thị hiện thọ sanh, hiện ra tám tướng[2].
Từ lúc mới ra đời cho đến khi nhập Niết Bàn, diễn giảng
các pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm, tạo lợi ích khiến cho
chúng sanh gieo nhân hay do thành thục mà bèn được giải thoát.
Lục đạo tứ sanh, tam thừa ngũ tánh nghe diệu âm liền ngộ
đạo, thấy diệu tướng bèn minh tâm, dẫu dùng hết mọi
vi trần cùng tận thế giới vẫn chẳng thể tính hết được
số lượng. Nhưng củi căn cơ đã hết thì lửa ứng hiện
cũng tắt, ẩn Tích quy chân, thị hiện diệt độ. Lại nhằm
lợi ích cho đời vị lai, Phật bèn nát thân vàng Định -
Huệ trượng sáu thành tám hộc[3] xá-lợi Kim Cang bất hoại.
Do vậy, chia đều cho tám nước, mỗi nơi đều dựng tháp
báu khiến cho khắp các hàm thức đều được rộng gieo phước
điền. Một trăm năm sau, nước Ma Kiệt Đề[4] có vua A Dục[5]
cai trị toàn cõi Diêm Phù, oai đức tự tại, hết thảy quỷ
thần đều thành bầy tôi, bèn đem xá-lợi được cất giữ
bởi ông tổ là vua A Xà Thế, sai quỷ thần dùng bảy báu,
các thứ bột hương, tạo thành tám vạn bốn ngàn tháp báu
để cúng dường xá-lợi khắp cả Nam châu (tức Nam Thiệm
Bộ Châu). Phàm những nơi nào Phật pháp chưa truyền đến
đều lập tháp ở dưới đất [nơi ấy], ở nước Đông Chấn
Đán có mười chín chỗ. Khi đại giáo từ phương Tây truyền
sang, [những tháp ấy] bèn lần lượt xuất hiện, tức là
như Ngũ Đài Sơn, A Dục Vương v.v… Kinh Niết Bàn dạy: “Nếu
dùng lòng thâm tín cúng dường toàn thân xá-lợi của Như
Lai hoặc cúng nửa thân, hoặc cúng một phần tư, hoặc một
phần vạn thậm chí [một phần] nhỏ bằng hạt cải thì phước
đức của người ấy so với công đức cúng dường Phật,
không hai không khác!” Bởi lẽ xá-lợi Phật chính là sắc
thân Phật, đều do thệ nguyện vô tác, do lòng từ bi đồng
thể thị hiện ra. Do vậy, nhân thiên có được [xá-lợi]
bèn buồn vui xen lẫn, cạn hết tâm lực cung kính cúng dường.
Khi
Như Lai xuất thế, Phước tôi còn đang trầm luân, nay được
làm thân người, pháp đã suy vi. Thời xưa đường đi hiểm
trở mà còn lắm người đến cầu chánh pháp; nay đường
thủy đường bộ đều thông suốt, dám đâu chẳng đi lễ
bái thánh tích, nên vào năm Quang Tự 30 (1904) bèn ngồi thuyền
sang Tây viếng thăm Tiêm La (Thái Lan), rồi đến Diến Điện,
sau cùng đến Tích Lan (Sri Lanka). Ba nước ấy Phật pháp rất
hưng thịnh, Tăng chúng tuy đông nhưng chẳng nấu nướng lấy.
Toàn quốc thờ Phật, dâng cơm cúng Tăng. Phàm gặp đúng ngày
lễ bái, con buôn đều không họp chợ, cùng đến lễ tháp
báu, cùng gieo nhân cho mai sau, hơi giống với quy củ thơm thảo
thời đức Phật. Kế đến, viếng Trung Ấn Độ, Già Da, Vương
Xá, Hằng Hà, Song Lâm, những nơi thánh tích nổi tiếng đều
đến lễ cả. Tiếc cho đời xa, người mất, pháp suy, giáo
kém, chẳng nghe được tiếng hàng ma chế phục ngoại đạo,
chỉ thấy dấu vết cỏ lấp hoang tàn, tưởng nghĩ thuở trước
thật là đau đớn! Trở về đô thành Tích Lan, gặp đúng
dịp trùng tu bảo tháp, trong tháp chứa hơn một trăm viên
xá-lợi, khẩn khoản xin vài hạt để tạo phước cho người
phương Đông chúng ta. Họ nói: “Xá-lợi là phước điền
của chúng tôi, tháp này do quốc vương dựng, dám đâu trái
Phật phạm pháp, làm lợi cho người ngoài!” Do vậy, hằng
ngày lễ tháp, cầu Phật thầm gia bị, đau lòng khóc lóc,
buồn bã khôn cầm. Mười hai ngày như thế, cảm động tâm
họ, bẩm lên quốc vương, vua chấp thuận ban cho mười hai
viên.
Được
toại tâm nguyện, thật cảm kích ơn Phật, liền trở về
Trung Quốc để an trí cho thích hợp. Linh Thạch Am ở Phổ
Đà chính là thánh đạo tràng Thiện Tài đến tham phỏng ngài
Quán Âm, do vậy bèn lưu lại ba hạt. Giám viện Tịnh Minh
bèn dựng phù-đồ (tháp) gỗ để cúng dường, thỉnh chín
hạt cúng dường cho ba chùa Bảo Quang, Long Hưng, Quảng Đức
ở Tứ Xuyên. Theo Tây Vực Ký, nước Tăng Già La chính là
nước Sư Tử thời cổ ở trong đại hải, gần Nam Ấn Độ,
nay chính là xứ Tích Lan vậy. Phía Đông Nam nước ấy có
núi Lăng Già (Lankā), vách núi cao ngất, hang sâu thăm thẳm,
chính là chỗ đức Như Lai nói kinh Lăng Già. Xưa kia, em ruột
vua A Dục là Ma Hê Nhân Đà La (Mahendra) xuất gia chứng đạo,
du hóa nước này, tạo dựng tháp miếu, hưng khởi Phật pháp
lớn lao. Tháp này (tức tháp chứa xá-lợi ở Tích Lan) do chính
Ngài sáng lập. Xá-lợi của Như Lai thần biến khôn cùng,
tế độ u hiển, che chở trời người. Thấy, nghe, chiêm lễ
đều gieo nhân phước thọ, cúng dường, cung kính đều cảm
quả tôn quý. Mây mê hết sạch, bầu trời chân tánh rạng
ngời; sương tội tan, vầng huệ nhật tỏ rõ. Tam giác viên
mãn nơi sơ tâm, vạn đức trọn đủ trong đương niệm. Dùng
nhân như thế ắt cảm được quả như thế, phàm những ai
cùng hàng với tôi xin hãy xét cho lòng ngu thành này.
2.
Bài ký lễ rước tượng Thích Ca Như Lai bằng ngọc về điện
Tỳ Lô chùa Vạn Niên núi Nga Mi
(viết
giùm)
Trộm nghĩ chư Phật xuất thế đều có thời tiết, nhân duyên,
Tượng giáo lưu thông trọn khắp mười phương ba đời. Xét
nghĩ đức Thích Ca Thế Tôn ta từ trần điểm kiếp trước
đã sớm thành Chánh Giác, trụ trong cõi Tịch Quang thanh tịnh,
chứng thân Pháp - Báo viên dung, lại vì nghĩ thương xót chúng
sanh, bi tâm chẳng bỏ, bèn lập phương tiện ứng tích vô
cùng. Con trẻ mong ngóng sâu xa, mẹ hiền bèn đến, vốn bất
sanh mà bao lượt thị hiện giáng sanh. Củi căn cơ hết thì
lửa ứng hiện bèn tắt; vốn vô diệt mà bao lượt hiện
diệt! Thùy tích như thế, theo chiều dọc cùng khắp ba đời,
theo chiều ngang trọn khắp mười phương. Xét nghĩ Bổn cao,
Tích rộng, xem ra nguồn sâu, nhánh dài. Xét theo lần thành
đạo phen này thì nhằm năm thứ hai đời Châu Mục Vương.
Kinh
Tạo Tượng Công Đức nói: “Như Lai muốn chỉ dạy đạo
hiếu bèn lên cung trời Đao Lợi an cư ba tháng vì mẹ thuyết
pháp. Vua Ưu Đà Diên khát ngưỡng Phật bèn dùng tử chiên-đàn(gỗ
chiên-đàn tím)tạc hình tượng Phật để hầu hạ cúng dường
chẳng khác gì đức Phật. Qua khỏi chín mươi ngày, Phật
giáng hạ nhân gian, bảo với vua rằng: ‘Ông là người đầu
tiên làm gương tạo hình tượng Phật khiến cho các chúng
sanh được đại lợi ích, công đức của ông không ai sánh
bằng. Nếu ai dùng các món vàng, bạc, đồng, sắt v.v… chạm
trổ, đúc, đắp, vẽ tượng Phật dù là tượng bé bằng
ngón tay cái thì trong đời này, người ấy diệt vô lượng
tội, được vô lượng phước, đời sau tôn quý, giàu có,
tin ưa chánh pháp, lần lượt tu tập cho đến khi thành Phật
đạo”. Do vậy, vua quan các nước đều tạo tượng Phật,
nhưng vua A Dục tạo nhiều nhất.
Đến
khi đại giáo truyền sang Đông, thường có [những chuyện]
tượng Phật bằng vàng hay đá nổi trên sông, hay từ biển
giạt vào, hoặc đất rung, núi nứt lộ ra tượng Phật được
chép trong truyện ký nhiều đến nỗi khó thể thuật trọn.
Đức Thế Tôn cao quý thay! Lòng từ mạnh mẽ trong đời này
mà lòng bi thấu tận kiếp vị lai, tuyệt phan duyên (nắm níu)
mà ứng khắp lòng cảm của đại chúng; như một vầng trăng
in bóng trên ngàn con sông, trụ Chân Tế nhưng ứng khắp quần
cơ; như một trận mưa thấm ướt muôn loài cỏ cây. Những
kẻ thiện căn chưa gieo, chưa chín muồi, chưa được thoát
liền làm cho họ gieo, chín muồi, giải thoát. Nên dùng thân
tướng nào để độ bèn hiện thân tướng ấy để thuyết
pháp. Trời che, đất chở, khó sánh ví được ân ấy, nát
xương tan thân chẳng đáp được đức này.
Thanh
Phước đại sư xưa đã gieo cội đức, dốc sức tu Tịnh
nghiệp, qua Ấn Độ lễ khắp các thánh tích, trở về đi
ngang Diến Điện bèn cẩn thận chọn ngọc đẹp, chạm khắc
ba bức tượng Phật, thỉnh về Trung Quốc. Pháp thể rạng
ngời, trong sạch, diệu tướng trang nghiêm, ngờ rằng nào
phải do thợ khéo gọt giũa mà là cổ Phật tái lai. Do bổn
tự vốn là thánh địa đạo tràng của Phổ Hiền Bồ Tát,
các triều đại đều xuống chiếu kiến tạo, tứ chúng quy
ngưỡng, tôn sùng; Phật điện cao ngất như núi non, vẻ đẹp
nguy nga đua sáng cùng nhật nguyệt. Điện này lại được
thập phương thường trụ Tăng chúng vân tập, một dạ tinh
tu đạo phẩm, không lúc nào chẳng mở rộng cửa cứu độ.
Do vậy bèn thờ một tượng trong đại điện để khắp mọi
hàng Tăng - tục cung kính cúng dường. Nên biết tượng này
chính là chân thân của Phật, chẳng phải ngọc, chẳng phải
đá, vừa là sắc, vừa là không, hãy nên nhất tâm quy mạng,
trọn đời dốc lòng thành. Sáng tối như thế, niệm đâu
nghĩ đấy. Nếu như nhất niệm ngầm phù hợp ắt sẽ biết
mọi tướng lìa tướng, hoặc là lục căn giải thoát, sẽ
tự có thể tâm tâm ấn tâm. Từ đấy trở về nguồn cội,
trần tiêu, giác tịnh, Ngũ Uẩn không, Ngũ Nhãn trọn đủ,
Tam Hoặc đoạn, Tam Đức trọn vẹn. Khi ấy, sóng trào biển
Hạnh, mây bủa cửa Từ, Tứ Nhiếp cùng hành, chẳng chấp
vào một pháp, lần lượt truyền trì đến tận đời vị
lai, khiến cho huệ mạng được thường trụ bao kiếp. Đấy
gọi là đệ tử thật sự của Phật, có thể gọi là “biết
báo ân” vậy.
3.
Bài ký về duyên khởi tu Tịnh nghiệp của Đại Giác Nham
Tây Lâm thảo am tại Nam Ngũ Đài Sơn, tỉnh Thiểm Tây
Chân Như pháp tánh chúng sanh và Phật về thể vốn đồng,
do mê hay ngộ cách biệt mà khổ - vui khác biệt như trời
với đất. Vì thế, đức Thế Tôn ta rủ lòng thương xót,
tuy trong trần điểm kiếp trước đã sớm thành Phật đạo,
lại vận dụng lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên,
chẳng lìa cõi Tịch Quang, thị hiện sanh trong đời trược,
xuất gia tu hành, thành Đẳng Chánh Giác, cứu vớt những kẻ
mê muội cùng lên bờ giác, thuyết pháp bốn mươi chín năm,
giảng kinh hơn ba trăm hội. Tùy thuận cơ nghi, khuyên dụ dần
dần: Với hàng đại cơ bèn dạy Ngũ Uẩn đều không, sáu
trần chính là giác, rốt ráo chẳng lập một pháp, ngay khi
đó vạn đức đều hiển lộ trọn vẹn; với kẻ căn cơ
nhỏ nhoi thì tùy thuận tiếp dẫn, vì Thật bày Quyền, khiến
cho họ vun bồi Phật chủng dần dần để tạo thành nhân
duyên đắc độ. Các pháp môn thuận theo căn cơ nói ra như
trên tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật tuy khác nhưng
đều cậy vào Tự Lực để đoạn Hoặc chứng chân mới thoát
được sanh tử. Vì thế bản hoài phổ độ chúng sanh của
đức Như Lai chưa được thỏa mãn rốt ráo.
Do
vậy, ngoài các pháp ra, Ngài lại mở riêng pháp môn tín nguyện
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chỉ bày thế giới Cực Lạc
là quê nhà vốn có, chỉ A Di Đà Phật là vô thượng từ
phụ, khiến cho con người phát tâm Bồ Đề trì danh hiệu
Phật, dùng tín nguyện sâu cầu sanh Tây Phương. Nếu như khăng
khăng vâng giữ, niệm nơi đâu nghĩ tại đó thì do tín nguyện
của mình hợp với thệ nguyện của Phật, chúng sanh và Phật
khế hợp nhau, bèn cảm ứng đạo giao, trong đời này nghiệp
chướng tiêu diệt, phước huệ tăng cao, lâm chung được Phật
tiếp dẫn gởi thân nơi hoa sen. Những người Hoặc nghiệp
đã đoạn bèn dự ngay vào địa vị Bổ Xứ, mau chứng được
Phật Quả. Dẫu là hạng phàm phu sát đất, nghiệp lực khắp
thân, cũng vẫn có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp
vãng sanh, liền thoát khỏi dòng phàm, cao dự hải hội, chẳng
mong đoạn Hoặc mà tự đoạn, thật sự chẳng mong chứng
mà tự chứng. Pháp môn này hoàn toàn nương vào Phật lực,
ví như kẻ thọt một ngày đi được mấy dặm, nếu ngồi
luân bảo của Chuyển Luân Thánh Vương sẽ trong khoảnh khắc
đến khắp bốn châu. Đấy là sức của Luân Vương, chứ
không phải sức của chính mình; suốt đời tu hành, cố nhiên
là như vậy! Dẫu cho kẻ tội nặng Ngũ Nghịch, Thập Ác,
lúc lâm chung tướng địa ngục hiện, nếu có thể chí tâm
niệm Phật sẽ liền được Phật tiếp dẫn.
Ấy
là vì Phật xem chúng sanh hệt như con một: Với đứa hiền
ngoan tất nhiên thương yêu, nhưng với đứa ngỗ nghịch lại
càng thương xót gấp bội. Nếu con hồi tâm hướng về cha
mẹ, cha mẹ ắt rủ lòng từ nhiếp thọ. Hơn nữa, tâm tánh
của chúng sanh và Phật không hai, do vì mê trái nên khởi Hoặc
tạo nghiệp, ngăn lấp bản tâm chẳng thể hiện bày trọn
vẹn. Nếu có thể nhất niệm hồi quang thì khác nào mây tan
trăng hiện, bản tánh chẳng mất, trăng vốn sẵn có. Vì vậy
tình trần bao kiếp biến mất ngay trong một niệm. Ví như
nhà tối ngàn năm, một ngọn đèn bèn sáng. Đây chính là
pháp nhiệm mầu nhất trong giáo pháp cả một đời đức Phật,
là con đường để trên thánh, dưới phàm đều phải theo,
là cơ nghi thấu suốt chín giới, phô bày tột bậc bản hoài
của Như Lai. Cao quý thay, đẹp đẽ thay! Há thể nghĩ bàn
được ư? Đến khi đại giáo truyền sang Đông, Lô Sơn sáng
lập liên xã, một người xướng trăm người hòa, không ai
chẳng tuân theo. Hơn một ngàn năm trăm năm qua, những người
ngầm tu hoặc giáo hóa công khai khó thể kể xiết!
Nêu
tên những bậc lỗi lạc thì đời Nguyên Ngụy có ngài Đàm
Loan, đời Trần - Tùy có ngài Trí Giả, đời Đường có các
ngài Đạo Xước, Thiện Đạo, Hoài Cảm[6], Phi Tích[7], Thừa
Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Đại Hạnh. Các vị sư trên
đây đạo đều vượt lên bậc Thập Địa, đức chấn động
cửu trùng, không pháp nào chẳng thông, nhưng chỉ đề cao
pháp này. Đời Tống thì có các ngài Vĩnh Minh, Chiêu Khánh,
Tứ Minh, Trường Lô. Ngài Vĩnh Minh Thiền - Giáo - Luật một
tâm thâu tóm, soạn Tứ Liệu Giản để riêng khen ngợi Tịnh
Độ. Ngài Chiêu Khánh dùng máu chép kinh Hoa Nghiêm, lập Tịnh
Hạnh Xã, những hạng đại thần công khanh đua nhau quy y. Ngài
Tứ Minh soạn Diệu Tông Sao, phô bày lý Quán Đạo đến cùng
cực. Ngài Trường Lô vừa tính kết liên xã, bậc Đại Thánh
đã ghi danh[8]. Đời Minh có các ngài Sở Thạch, Diệu Hiệp,
Liên Trì, Ngẫu Ích, đời Thanh có các ngài Tỉnh Am, Mộng
Đông, không vị nào chẳng Tông - thuyết đều thông, giải
- hạnh tương ứng, chuyên trọng Tịnh Độ, khuyên khắp mọi
người tu trì.
Thời
xưa, những vị sư trong Thiền Tông đa số chuyên về ngầm
tu, không mấy ai công nhiên hoằng hóa [Tịnh Độ]; từ ngài
Vĩnh Minh trở về sau, phần nhiều lưu lại ngôn giáo thiết
tha khuyên bảo vãng sanh, như các vị Tử Tâm Tân, Chân Hiết
Liễu, Trung Phong Bổn, Thiên Như Tắc v.v… cho đến tể quan,
cư sĩ như các ông Lưu Di Dân, Bạch Cư Dị, Văn Ngạn Bác,
Dương Vô Vi, Vương Nhật Hưu, Viên Hoằng Đạo, Châu Mộng
Nhan, Bành Thiệu Thăng v.v… hoặc kết liên xã để tinh tu,
hoặc tạo luận để truyền bá. Những bậc dù thánh hay hiền,
dù Tăng hay tục như thế tuy khác thời nhưng đều cùng tiếng,
cực lực hoằng truyền, xiển dương. Do vậy, liên phong lừng
lẫy mạnh mẽ, phổ biến trong nước lẫn ngoài nước, cuồn
cuộn như trăm sông vạn dòng đổ vào biển cả. Vì lẽ đó,
nơi hội Hoa Nghiêm bậc Pháp Thân đại sĩ sau khi đã chứng
bằng với chư Phật còn dùng mười đại nguyện vương hồi
hướng vãng sanh, trong Quán Kinh hàng Ngũ Nghịch Thập Ác lúc
sắp đọa địa ngục, nếu xưng danh hiệu Phật mười tiếng
liền được dự vào phẩm cuối. Vì thế, không căn cơ nào
chẳng tiếp độ, không pháp nào chẳng gồm thâu. Như trời
che khắp, như đất nâng đều, sâm la vạn tượng không gì
chẳng trụ trong ấy hoặc có thể vượt ra ngoài được! Thật
có thể nói là “chín pháp giới chúng sanh lìa pháp này thì
trên chẳng thể viên thành Phật đạo, mười phương chư Phật
bỏ pháp này thì dưới chẳng thể lợi khắp quần sanh”.
Do vậy, hằng sa Như Lai hiện tướng lưỡi rộng dài để
xưng dương, tôn túc các tông phát tâm Kim Cang lưu truyền.
Nam
Ngũ Đài chính là nơi Quán Âm đại sĩ hàng phục rồng độc,
hiện thân tỳ-kheo mở mang đạo tràng. Từ đời Tùy đến
nay hơn một ngàn ba trăm năm, trong khoảng thời gian ấy do
bao lượt tang thương khiến cho những sự tích của các cao
nhân đều bị mất mát không cách gì biết được. Đến cuối
thời Minh, có lão nhân Tánh Thiên Văn Lý ẩn cư trong Vô Môn
Động (thế tục gọi sai là Tương Tử Động). Sau đấy, do
vân du đến Hàng Châu, lão nhân trụ tại Hoàng Long Am. Khi
ấy, Liên Trì đại sư chưa xuất gia, bèn cùng phu nhân là
Thang Thị quy y dưới tòa. Tiếp đó, lại xin xuống tóc với
Ngài. Chẳng lâu sau, lão nhân trở về Trường An, ngài Liên
Trì trung hưng Tịnh tông, cội nguồn quả thật xuất phát
từ đây. Cụ Văn Lý nếu chẳng phải là bậc cao nhân lỗi
lạc, há ngài Liên Trì chịu khuất thân dưới tòa, trước
sau y chỉ nơi cụ ư? Chuyện này được chép trong bài minh
nơi tháp Thái Tố của ngài Liên Trì trong bộ Vân Thê Pháp
Vựng. Quán Âm đại sĩ phò tá đức Di Đà độ thoát chúng
sanh, núi này lại là nơi bắt nguồn trung hưng Tịnh tông.
Vị chủ tể lẫn núi này đều có đại nhân duyên đối với
chúng sanh.
Cư
sĩ Hạc Niên Cao Hằng Tùng xuất thân từ Giang Tô, dốc lòng
tin tưởng Phật thừa, vừa ra làm quan đã buông bỏ trâm anh[9],
tìm học với đủ mọi bậc Tông tượng, phỏng theo Thiện
Tài tham học cùng khắp, lễ khắp các danh sơn, đi khắp các
nơi giống như ngài Tử Bách, từng đến núi này hai ba lần.
Năm Dân Quốc thứ ba (1914), nhóm họp Tăng chúng đất Tần
(Thiểm Tây) tu bổ tháp Phổ Đồng dưới chân Đại Đài để
thập phương Thiền lữ khi chết có chỗ nương về. Lại dựng
hai tịnh thất chuyên tu Tịnh nghiệp để mong sao người sống
lẫn kẻ thác đều được vãng sanh. Sau đấy, nhân khi Thiền
duyệt rảnh rỗi, bèn đến chơi hai đài Linh Ứng và Nhiếp
Thân (đài Nhiếp Thân bị thế tục gọi sai là Xả Thân),
thấy vách núi cao ngất, cuộc đất bằng phẳng, chợt ngộ
ra đời trước đã từng ở chỗ này, bèn đặt tên cho vách
đá ấy là Đại Giác. Do vậy, bèn dựng hai gian thảo am chuyên
tu Tịnh nghiệp, để xa là noi dấu Lô Sơn, gần là bắt chước
ngài Vân Thê, quyết chí quy Tây, vì thế đặt tên là Tây
Lâm. Lượng tôi xuất gia tại núi này, từng hầu hương đèn
cho Đại Sĩ. Về sau tham học với tri thức, vân du các phương.
Đến nay đã hơn ba mươi năm, đạo nghiệp chưa thành; do vậy,
cứ sống nhờ mãi ngoài biển, không mặt mũi nào quay về
quê cũ. Một ngày nọ, cư sĩ từ Trường An đến bảo hãy
soạn một bài ghi duyên khởi của pháp môn Tịnh Độ và duyên
khởi của núi này cùng thảo am này, tính trước hết in ra
chừng bao nhiêu đó bản để người thấy nghe đều nẩy sanh
lòng tin, tiếp đó là lập bia đá trong am để lưu lại vĩnh
viễn. Do vậy, tôi khôn ngăn vui mừng ghi đại lược, tuy lời
lẽ thô vụng, chất phác, không giúp gì được cho pháp đạo,
nhưng cũng chẳng thẹn lòng đoái tưởng.
4.
Bài ký tự trách lỗi trong việc chép kinh Hoa Nghiêm
(viết
thay sư Khoan Huệ)
Lớn lao thay giáo pháp kinh Hoa Nghiêm, xứng pháp giới tánh,
nói pháp thường trụ. Nương tâm Chân Như chỉ bày đầy đủ
Thể; Lý vượt ngoài hiện tượng, đạo khế hợp hoàn vũ.
Tịch lẫn Chiếu hiển lộ trọn vẹn, Năng lẫn Sở cùng mất.
Lìa cái giả danh “phàm - thánh”, dứt bặt xưng hô “chúng
sanh - Phật”. Châu trong chéo áo, kẻ mê chẳng biết, đâm
ra trong cái “chẳng thể tu” lại bàn chuyện tu, trong cái
“chẳng thể chứng” lại bàn chuyện chứng, cho nên mới
có năm mươi hai địa vị theo thứ tự, Tín - Giải - Hạnh
- Chứng sâu - cạn, đó gọi là “toàn tánh khởi tu, toàn
tu tại tánh”; còn như viên chứng Diệu Giác chẳng qua là
khôi phục bản thể! Ngoài bản thể ra, trọn chẳng tăng thêm
gì; chỉ là khi Trí Đoạn rốt ráo thì quang cảnh nơi bổn
địa được phơi bày triệt để! “Viên mãn Bồ Đề thật
ra chẳng có một pháp nào để đắc! Nhân trùm biển quả,
quả thấu nguồn nhân”, chính là nói về ý này vậy! Mười
phương chư Phật thành đạo không vị nào chẳng nói pháp
này, mười phương Bồ Tát tu hành, không vị nào chẳng nương
theo khuôn phép này.
Kinh
văn tuy gồm tám mươi mốt quyển, hơn sáu mươi vạn chữ,
nhưng đều bao quát hết sạch hằng sa pháp môn, vô biên diệu
nghĩa được hiển thị chẳng sót. Toàn bộ Sự chính là Lý,
toàn tu nơi tánh, toàn thể nhiều chính là một, toàn Tha chính
là Tự. Do vậy nói: “Mười đời xưa nay từ đầu đến
cuối chẳng lìa đương niệm; vô biên cõi nước tự - tha
chẳng cách đầu lông”. Vì thế, được thọ trì đọc tụng
kinh này thì núi tội sụp, biển phước rộng sâu; biên chép
lưu truyền thì mây mê tiêu, mặt trời huệ sáng rỡ. Huệ
tôi đời trước lắm may mắn nên được nhập pháp môn, nhưng
nghiệp cũ rất sâu nên chẳng khế hợp đạo. Nghĩ muốn chép
đại kinh rất sâu chẳng thể nghĩ bàn này để sám trừ túc
nghiệp, được hòa thượng Tịch Sơn, pháp sư Đế Nhàn và
các thiện tri thức khuyến khích, khen ngợi, tán trợ, nên
được toại nguyện. Chỉ vì ít đọc kinh giáo, chưa hiểu
rõ quy củ, tuy thường thắp hương, đốt đèn, chép đâu lễ
đấy, nhưng dạng chữ tùy tiện, chưa thật đoan nghiêm, tề
chỉnh. Cô lậu quả văn (thấy nghe kém cỏi) có lỗi chẳng
biết! Trải hai lượt lạnh - nóng chép được hơn sáu mươi
quyển. Một ngày nọ, có vị lão túc[10] trông thấy quở:
- Ông
phát tâm chép kinh, toan dùng đó để sám trừ túc nghiệp,
hiển lộ cái mình sẵn có, siêu phàm nhập thánh, liễu sanh
thoát tử, lòng mong mỏi ấy lớn lao chẳng thể nói được,
nhưng cẩu thả như thế này thì sao có thể trên cảm ứng
Tam Bảo, dưới khế hợp tự tâm, đoạn phiền hoặc chứng
chân thường, sanh về An Dưỡng hầu hạ Đạo Sư? Há chẳng
phải là cô phụ một phen khổ công của chính mình cũng như
ân đức khen ngợi, giúp đỡ không gì lớn bằng của các
Sư ư? Ông hãy lấy Hoa Nghiêm Cảm Ứng Truyện mà đọc đi,
sẽ thấy các khuôn mẫu chép kinh tốt đẹp của các vị cổ
đức như Đức Viên, Tu Đức v.v… cũng như những lợi ích
mà họ đạt được, há chẳng thẹn đến chết ư?
Huệ
tôi nghe dạy xong, lòng đau như cắt, tiếc hận lúc ban đầu
chẳng gặp được vị lão nhân này. Do vậy, bèn nhanh chóng
sửa lỗi cũ, dốc kiệt lòng thành, cạn hết lòng kính, tuy
vẫn thô vụng như cũ nhưng cung kính cẩn thận tột bực.
Nét bút của bộ kinh trước sau không giống nhau, chỉ sợ
người đọc chê trách, nên bèn thuật bày duyên khởi trách
lỗi, cũng mong hết thảy tứ chúng thọ trì đọc tụng hết
thảy kinh điển thảy đều cạn hết lòng thành, tận hết
lòng kính không coi thường chút nào, như đối trước thánh
dung đích thân nghe được diệu âm, ngõ hầu tội lỗi của
Huệ nhờ đó được tiêu diệt, mà phước huệ của người
thọ trì ấy cũng mau được viên mãn!
5.
Bi ký về việc trùng tu tháp Thái Tử và xây lan can quanh hồ
sen
(viết
thay sư Liễu Dư)
Nhất niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh và tam thế chư
Phật không hai, không khác. Nhưng do từ vô thủy đến nay chưa
hề ngộ nên mê chân khởi vọng, trái giác theo trần, ngược
ngạo biến Phật tánh thường trụ bất sanh bất diệt này
thành cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi sanh
tử. Đức Như Lai thương xót tùy cơ thuyết pháp, khiến cho
khắp ba căn tùy phần được lợi ích. Lại vì pháp âm có
lúc bị gián đoạn nhưng tháp tượng còn mãi cho nên dạy
tứ chúng tạo dựng tháp tượng, ngõ hầu [con người] chiêm
lễ, gieo lòng thành nơi ấy trồng thiện căn dần dần. Một
phen thấy được thánh dung vĩnh viễn thành hạt giống đạo,
dùng đó làm nhân duyên tối thắng để bỏ vọng về với
chân, trái trần hiệp giác, tiêu trừ Hoặc nghiệp, khôi phục
tâm tánh vốn có.
Phổ
Đà chính là chỗ thù thắng ứng tích của Đại Sĩ, là đạo
tràng chúc hạ[11] của các triều đại. Khai sơn từ thời
Trinh Minh nhà Lương nhằm đời Ngũ Đại, đến nay đã hơn
ngàn năm. Phổ Môn thường khải phát, Tông phong chẳng suy
sụp, quả thật là Phật quốc nơi Chấn Đán, là phước địa
của vùng Đông Nam. Vào cuối đời Nguyên, có Phù Trung Tín
thiền sư đạo cao ngất đời, đức cảm cửu trùng, năm lượt
ngồi đạo tràng hoằng khai Tông thừa, vương công, đại thần
phần nhiều theo Ngài học đạo. Vào thời Thiên Lịch (1328-1329),
Sư trụ trì Phổ Đà. Đến niên hiệu Nguyên Thống (1333-1334),
Sư mua đá Thái Hồ[12], tìm thợ khéo nhất tạo một tòa tháp
Đa Bảo Phật[13] ở góc Đông Nam chùa. Tháp năm tầng, cao
chừng chín trượng sáu thước. Bốn mặt của ba tầng trên
cùng đều chạm trổ thánh tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, từ
dung đẹp đẽ tuyệt vời, nghiễm nhiên như người sống.
Tài nghệ khéo léo sướng mắt đẹp lòng người nhìn. Tuyên
Nhượng Vương theo Sư học đạo, phát tâm bỏ ra tiền của,
vì thế người đời thường gọi tháp này là Thái Tử Tháp.
Đến
nay đã hơn 580 năm, năm tháng đã lâu; hơn nữa, do ở giữa
biển cả, gió cuốn theo sương muối, mặt trời chói chang,
sương giá xói mòn các vật, thật dễ bị hư hoại. Do vậy,
đỉnh tháp đã sứt, thánh tượng bị tàn khuyết, đá ghép
bị rã rời, sắp bị sụp đổ. Trộm nghĩ tiền nhân tạo
dựng vốn nhằm gieo phước cho quốc dân, nỡ nào để bị
hư nát sụp đổ, dấu xưa cũng như ruộng phước của chúng
sanh bị biến mất ư? Nhưng do Tăng chúng tiền của lẫn pháp
đều nghèo cùng, không cách gì lo liệu được! Tháng Sáu năm
Mậu Ngọ (1918), đúng dịp cư sĩ Tích Châu Trần Tánh Lương
lên núi, tính lập bi phường (nhà để bia) bên đường, bạn
tôi là Ấn Quang cùng với Dư và Trụ Trì Pháp Vũ là thầy
Liễu Thanh đều bảo ông ta: “Ông vốn xưa đã vâng lời
Phật phó chúc hoằng hộ Tam Bảo, nay tháp Thái Tử liệu chừng
sắp đổ nát, Tăng chúng thẹn không có đức hạnh, khả năng,
không cách gì lo liệu, xin đừng tiếc sức lực sửa sang cho.
Có lẽ nên gác lại chuyện kia, lấy chuyện sửa chữa tháp
này làm việc cấp bách trước”. Ông ta bèn ứng tiếng: “Con
đã phát nguyện, tình thế khó thể ngừng giữa chừng được.
Nhưng đã được ủy thác, con sẽ nỗ lực thay các thầy quyên
mộ hóa duyên mướn thợ, gắng sức lãnh trách nhiệm”.
Do
vậy, bèn giãi bày cặn kẽ tấm lòng ngu thành, nhờ vào phước
lực ấy được các vị cựu Đại Tổng Thống là ông Lê
[Nguyên Hồng], ông Phùng [Ngọc Tường], và Đại Tổng Thống
đương nhiệm là ông Từ [Khiêm] đều bỏ ra tịnh tài để
tu bổ Phổ Đà, xướng xuất tứ chúng. Khi ấy, những vị
tai to mặt lớn đều phát tín tâm, hiệp lực giúp đỡ. Do
vậy, vào tháng Ba mùa Xuân năm nay liền khởi công để tháp
Đa Bảo Phật lại được từ đất vọt lên, trước chùa
Phổ Tế thường thấy lan can vây quanh ao báu. Lại vỡ đất
dựng tháp viện, cất năm gian nhà chánh, bốn gian chái phụ.
Phàm những thứ cần dùng thảy đều đầy đủ, cử một
vị Đầu Đà tịnh hạnh hầu hạ hương đèn dài lâu. Tri
Sự huyện Định Hải là ông Phùng Bỉnh Càn nghe vậy, vui
mừng khôn xiết, liền ra sức bảo vệ, có thể nói là xưa
có linh căn, chẳng quên lời phó chúc vậy! Từ đây những
người vào cửa Phổ Môn trông thấy Đa Bảo, những người
tu Tịnh nghiệp thường dạo nơi ao báu. Công đức lợi ích
ấy sẽ có cùng thọ lượng với hư không, không ngọn bút
nào có thể hình dung cho được! Xây dựng đã xong, bèn thuật
duyên khởi, khắc vào đá quý kiên cố để lưu truyền mãi
mãi không hư nát.
6.
Bi ký sáng lập Bi Phường bằng xi-măng bên đường ven biển
và trùng tu Hồi Lan Đình (đình ngăn sóng)
(viết
thay sư Liễu Dư)
Quán Âm Đại Sĩ thệ nguyện hoằng thâm, từ bi rộng lớn.
Trong mười phương vô tận thế giới hiện khắp các sắc
thân, tùy cơ thuyết pháp, các kinh Đại Thừa đều chép sự
này. Nhưng ứng theo căn cơ phàm phu thị hiện các thân ở
cõi này càng chẳng thể kể xiết, mầu nhiệm chẳng thể
lường. Huống chi là ứng khắp trong sáu đường và ứng hiện
cho những bậc căn cơ lớn lao vượt ngoài Tam Thừa ư? Nếu
chẳng đã viên chứng Pháp Thân sao có được đại dụng như
vậy? Cư sĩ Tích Châu Trần Tánh Lương được gội ân Bồ
Tát sâu xa, tâm báo ân tha thiết, muốn cho đồng nhân đều
cảm niệm sâu xa bèn dựng một tòa Bi Phường bằng chất
“thủy nê”[14] bên bờ biển. Đó là vì muốn cho con người
thấy biển khổ vô biên, quay đầu lại chính là bờ, trong
biển sanh tử, chỉ có Đại Sĩ đáng để nương cậy. Do vậy,
bèn lược thuật chuyện thấm gội ân đức của ông ta, cho
khắc vào đá quý kiên cố, mong sao những người thông hiểu
đời sau đều cùng sanh tín tâm, cùng được che chở, ngõ
hầu từ ngay nơi vọng hiểu rõ chân, tiêu trừ huyễn chấp
ta - người, hiểu tâm thấu gốc, chứng Phật Tánh tịch chiếu.
Cư
sĩ Tích Châu bẩm tánh trung hậu, thoạt đầu chỉ học hỏi
tông chỉ đạo Nho, đối với đại pháp của Như Lai và lý
tam thế nhân quả còn chưa tin tưởng sâu xa. Phu nhân là bà
họ Hồ xưa đã có tín tâm, lễ Phật, tụng kinh, dẫu lạnh
nóng, bệnh tật vẫn tu trì chẳng lười nhác. Năm bà ngoài
ba mươi tuổi, đứa con đầu không nuôi được, càng nỗ lực
hành thiện, chẳng lâu sau lại có mang, sắp đến kỳ sanh
nở, mắc bệnh nặng, suốt hai mươi chín ngày chẳng ăn uống
gì, chẳng nói năng được, chẳng thể trở mình. Vóc gầy
như que củi, thân nóng như lửa, danh y bó tay, không còn cơ
hội sống sót nữa! Một đêm, phu nhân mộng thấy một bà
lão tay cầm mấy cành hoa sen, bảo: “Ngươi do túc nghiệp
vướng phải bệnh ngặt này, may đã gieo thiện căn sâu dầy
nên ta từ Nam Hải đến an ủi ngươi”, rồi dùng hoa sen phất
quanh thân phu nhân, bảo: “Phủi đi nghiệp chướng của ngươi,
khéo sanh con ngoan!” Bà liền thấy thân tâm thanh lương, sảng
khoái không gì sánh ví được! Do vậy, bèn tỉnh ra, toàn thân
mướt mồ hôi, hết sốt, thân yên ổn, vẻ mặt ôn hòa, thật
chẳng khác gì người khỏe mạnh. Ngày hôm sau liền sanh được
một con đúng vào ngày tốt là ngày mồng Ba tháng Ba. Tuy phải
trải qua hai mươi chín ngày sốt nóng, đói khát nhưng thân
thể đứa bé đầy đặn, mập mạp, chẳng khác gì do người
không bệnh tật gì sanh ra. Đến năm nay, đứa bé ấy đã
lên mười. Ôi! Lạ lùng thay!
Cư
sĩ được nhận đại ân, khác gì chết đi sống lại, xương
khô mọc thịt, mới biết những chuyện lợi sanh chẳng thể
nghĩ bàn của Bồ Tát đã được nói trong kinh Phật đều
chân thật chẳng hư dối. Tiếc cho những kẻ câu nệ, hẹp
hòi, dùng tri kiến phàm phu múa mồm báng bổ, khinh nhờn, khác
gì kẻ vô tri vô thức ngồi đáy giếng nhìn trời, uổng cho
đức Đại Bi Chủ phải xót thương buồn bã, nhưng không cách
gì cứu độ được! Buồn thay! Do vậy, tâm tin tưởng mười
phần thiết tha cực độ. Năm ngoái, ông lên núi muốn lập
bi phường, bạn tôi là Ấn Quang đem chuyện tháp Thái Tử
sắp đổ khuyên ông gác lại chuyện này lo chuyện đó; nhưng
tâm ông ta đã phát nguyện, khó thể ngưng giữa chừng. Do
vậy, mùa Xuân năm nay cùng khởi công cả hai chuyện cũng như
lập tháp viện và dựng lan can quanh bờ ao trước chùa, trùng
tu đình hóng mát, phí tổn hơn năm vạn. Tuy cũng xin khắp
những vị có tiếng tăm bỏ ra tịnh tài giúp cho việc lớn
này, nhưng tháp được cao đẹp, ao được trang nghiêm, nhà
bia, đình hóng mát khang trang, rộng rãi, không tính công chọn
thợ, chọn vật liệu, đốc thúc thợ thì [ngoài ra] không
việc gì cư sĩ chẳng phải bỏ ra một khoản tiền lớn một
mình lo liệu hòng thành tựu công đức trang nghiêm. Tín tâm
hoằng nguyện quả thật đáng kính!
[Danh
tánh] các vị thiện sĩ bỏ tiền giúp đỡ đều được chép
trên bia trong tháp viện. Nơi đây còn đặc biệt ghi chép tướng
một giọt nước trong vô lượng trăm ngàn đại hải ứng
hóa của Bồ Tát khiến cho các đồng nhân sanh tâm chánh tín,
ai nấy cung kính cúng dường xưng niệm danh hiệu, há nào phải
chỉ được Ngài gia bị, gặp hung biến thành cát, gặp nạn
biến thành chuyện tốt lành mà thôi ư? Nếu có thể dốc
cạn lòng thành đến cùng cực thì đoạn Hoặc chứng chân
siêu phàm nhập thánh nào có khó gì, tương lai cũng được
như Bồ Tát theo chiều dọc suốt cả ba đời, theo chiều ngang
trọn khắp mười phương, hiện đủ mọi sắc thân độ thoát
chúng sanh vậy! Hơn nữa, Quán Âm đại sĩ chính là vị Cổ
Phật trong quá khứ, do tâm đại bi hiện thân trong chín giới,
nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy để
thuyết pháp. Chỉ vì chúng sanh căn cơ kém cỏi, không cách
gì thấy được bản tướng. Phàm những người được Ngài
ban phước che chở, phần nhiều đều thấy là một bà lão.
Ấy là vì thuận theo căn cơ kém cỏi bèn hiển thị tâm tha
thiết. Nếu cho rằng Ngài vốn thuộc thân nữ thì đối với
đạo thượng đồng hạ hợp của Bồ Tát dẫu có mơ cũng
chưa từng thấy được mảy may!
7.
Bi ký thuật duyên khởi Vô Trước Lão Nhân sáng lập Thường
Minh Am
(viết
thay thầy Hóa Hoằng)
Chân tông tịch diệt duy tâm sẵn đủ, nhưng diệu đạo viên
thông không có người sẽ chẳng thể hoằng truyền được.
Hưng khởi phạm sát, mở mang Phổ Môn, bủa mây từ, xối
mưa pháp. Nhằm lúc pháp vận đi vào mùa Thu[15], người chấn
hưng đạo Thiền sắp bị tuyệt diệt, chỉ có mình tiên sư
Vô Trước Lão Nhân của tôi là người như vậy mà thôi! Thầy
húy là Lập Sơn, pháp danh Mãn Viên, biệt hiệu Vô Trước.
Năm Đạo Quang thứ năm (1825) tức năm Ất Dậu, ngày hai mươi
lăm tháng Hạ, thị hiện giáng sanh vào nhà họ Cố ở Kim
Sơn, Tùng Giang, cha Ngài chính là Phước Bổn Ngộ Công. Năm
Sư mười bốn tuổi, thân phụ bèn xuất gia, tâm muốn đi
theo, nhưng mẹ còn tại thế nên chẳng được thỏa nguyện.
Đến tuổi nhược quan, xin xuống tóc với cha, đến chùa Đại
Sùng Phước thọ Cụ Túc Giới. Do giặc đang chiếm đóng Nam
Kinh nên chẳng tiện tham học các nơi, bèn trụ tại Phổ Đà
hoặc sống ở Tùng Giang, ẩn mình giấu tiếng, không có lòng
góp mặt với đời.
Đến
năm Canh Ngọ (1870) đời Đồng Trị, bế quan tại Bán Sơn
Am, hằng ngày lễ kinh Hoa Nghiêm, tham học khắp hải chúng.
Khi ấy, chùa Pháp Vũ điêu tàn đến cùng cực, thiếu người
Trụ Trì. Vị tôn túc trong núi là hòa thượng Tín Chân suất
lãnh pháp quyến gõ cửa thỉnh Sư [làm Trụ Trì]. Từ tạ
không được, phải chấp thuận. Mùa Xuân năm Nhâm Thân (1872)
bèn tấn viện[16], tài sản nhà chùa đơn bạc, chi dụng không
đủ, nhà nát, tường xiêu hoang tàn nhức mắt. Sư cảm thương,
tự đặt trách nhiệm trùng hưng nhà chùa, tận sức lo liệu,
sửa sang, tu bổ, bốn phương đàn tín trải vàng[17] chỉ lo
chậm chân. Trong vòng mấy năm, trăm chỗ bỏ phế đều được
phục hưng. Tuy chưa hoàn toàn khôi phục được quy mô như
cũ, nhưng xét về đại cuộc đã khả quan lắm. Lâu ngày,
ý muốn nghỉ ngơi để chuyên tu Tịnh nghiệp, do vậy bèn
dựng am tại phía Tây sườn núi Thanh Lương, đề biển là
Thường Minh. Ấy chính là dùng ý nghĩa “tâm tánh tịch chiếu
viên dung, theo chiều ngang trọn khắp, theo chiều dọc thông
suốt” hòng làm cho người khác nhờ đó đắc quả.
Mùa
Xuân năm Giáp Thân (1884) đời Quang Tự, Sư thoái ẩn tại
am này, quyết chí quy Tây, niệm Phật không để sót. Lại
lấy hai thời khóa tụng trong am làm hai thời niệm Phật, dùng
đó làm quy định thường hằng vĩnh viễn, nóng - lạnh không
gián đoạn, tậu ba trăm hai mươi hai mẫu ruộng, để ra một
trăm mẫu [chi phí cúng tế trong] Vô Trước Từ Đường, những
khoảnh ruộng còn lại dùng để nuôi chúng thường trụ niệm
Phật. Ngoài ra, các vị như Hóa Khai v.v… dành ra bốn mươi
bốn mẫu ruộng để giúp tiền chi dụng cho những vị sư
niệm Phật, đều ghi chép tường tận ở phần sau.
Lão
nhân thường nói: “Chúng sanh đời Mạt chướng sâu căn độn,
chẳng dễ gì thấu đạt lẽ hướng thượng, đại ngộ còn
khó huống chi thật chứng! Chỉ có mỗi một pháp Tịnh Độ
thích hợp khắp ba căn, lợi - độn gồm thâu, thượng thánh
hạ phàm đều nên tu trì. Bởi lẽ pháp này hoàn toàn lấy
Quả Giác làm cái tâm trong khi tu nhân, nhân bao trùm biển quả,
quả thấu tột nguồn nhân, dùng chính ngay tướng thế gian
để thông đạt Thật Tướng, lấy phàm tâm khế hợp Phật
tâm. Pháp có thể nhờ cậy để duy trì Phật pháp, giúp cho
sự cai trị đất nước, cảm động tâm người chỉ có mình
pháp này mà thôi! Các ông hãy nên tận lực tuân hành, chớ
nên phế bỏ mới chẳng phụ tứ ân, giúp trọn tam hữu. Nếu
sau này hàng đương gia (người cai quản am này) phế bỏ quy
củ đã thành lập này thì kẻ ấy chẳng phải là đệ tử
của ta, hãy nhóm họp pháp quyến lập tức tẫn xuất[18],
chớ cho ẩn náu kẻo phụ lòng ta”.
Đến
ngày mồng Một tháng Chạp năm Kỷ Sửu (1889), Sư an nhiên
thâu thần qua đời, Tăng lạp[19] bốn mươi sáu năm, thọ
sáu mươi lăm tuổi. Đệ tử thế độ mấy mươi người,
nhưng người nối tiếp được công hạnh của Sư chỉ có
mình Hóa Văn. Bọn Hoằng tuy được liệt vào hàng đồ đệ
nhưng chưa vào được cửa trong[20], chẳng biết được sở
ngộ của Sư, chẳng dám đề cao thầy kẻo đem phàm lạm thánh,
cũng chẳng dám hạ thấp kẻo khuất lấp người hiền, đành
nêu đại cương ngôn hạnh của thầy để nêu rõ duyên khởi
am này (Xét ra Pháp Vũ Tự khai sơn vào năm Vạn Lịch thứ
tám đời Minh, đời Thanh trước kia hai lần được sắc kiến,
sau loạn Hồng Dương suy bại đến cùng cực, ngài Vô Trước
trùng hưng chùa).
8.
Bi ký ghi công đức xây giếng Tiên Nhân ở Phổ Đà
(viết
thay thầy Giới Như)
Viên
Thông đại sĩ bao kiếp thường trụ núi này, bậc tiên nhân
vượt ngoài trần gian không lúc nào chẳng sống tại nơi đây.
Tuy chưa đến thời Tượng Giáo, phàm tục không thấy được
từ dung, nhưng từ chỗ ở của bậc ứng thân, các tiên thật
sự luôn được chiêm ngưỡng Phật nhật. Do vậy, An Kỳ Sanh
đời Tần, Mai Tử Chân đời Hán, Cát Trĩ Xuyên đời Tấn
v.v… đều sống nhờ núi này để tu chân dưỡng đạo. Dòng
suối ngọt họ uống được gọi là Tiên Nhân Tỉnh (giếng
Tiên Nhân), đến niên hiệu Trinh Minh đời Lương mới bắt
đầu lập đạo tràng, ấy chính là lòng từ rộng lớn của
Đại Sĩ, vận lòng trời độ rộng khắp. Dấu cổ của tiên
nhân cũng nhờ Phật pháp mà được lưu truyền. Mặt trước
giếng ấy là biển cả, có cái hang đất che bên trên, hang
sâu xuống hơn cả trượng, [nước suối] từ dưới vọt lên.
Lúc khô hạn nhất suối chẳng giảm, lúc nước ngập úng
nhất cũng chẳng tăng thêm, lúc nóng gắt thì nước lại mát
rượi, lúc rét buốt thì nước lại ấm, suối chảy chậm
rãi, lừ đừ, nhưng trong lắng, vị ngon ngọt, mướt dịu.
Ai tin tưởng uống nước ấy phần nhiều khỏi bệnh trầm
kha. Vì thế những người đến chiêm bái núi này từ Mân,
Việt, Ngô, Sở[21] đều dùng bình múc nước suối mang về
để làm pháp dược.
Nếu
không phải là đại bi pháp thủy từ tâm đại từ bi của
Bồ Tát chảy ra, khiến cho người uống vào gần là khỏi
tật bệnh, xa là chứng Bồ Đề, sao có thể linh nghiệm hết
sức như vậy được? Can cư sĩ ở Hạnh Thôn, Tứ Minh, lên
núi dâng hương, uống nước thấy ngọt, hỏi đến ý nghĩa
tên gọi, khen ngợi khôn cùng, liền khẳng khái bỏ ra tiền
của, nhờ Nạp Tăng lo liệu dùng đá xây thành giếng và đắp
đường quanh giếng. Phía trên dựng một cái khám thờ Đại
Sĩ trong ấy, bên trái thờ Long Vương, bên phải thờ tiên
nhân, muốn cho những người lấy nước sau này hành đạo
thanh tịnh, thấu triệt nguồn đáy pháp. Thấy Quán Âm ngay
nơi ấy, vun bồi hạt giống Phật cho tương lai. Đề Hồ vào
miệng, bệnh tật lìa thân, tâm địa thanh lương, vĩnh viễn
không bị nhiệt não bức bách, tiền trình xa rộng, thường
được mạnh khỏe, nhân từ, sống lâu. Nạp Tăng tôi quý
lòng thành khẩn của ông ta, lược thuật đầu đuôi, tạc
vào đá quý kiên cố để bảo cùng những người thông sáng
trong tương lai.
9.
Bi ký của Trinh Tiết Tịnh Độ Viện thuộc Lưu Trang Trường
tại Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô
Phật pháp là pháp chung cho cả chín pháp giới, không một
ai chẳng kham tu mà cũng không một ai chẳng thể tu được.
Bởi phàm ai có tâm thì không một ai chẳng cùng sẵn có Phật
tánh, nhưng do mê chưa ngộ nên đâm ra dùng sức công đức
của Phật tánh để khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi sáu
nẻo trải trần điểm kiếp, không thể thoát lìa, há chẳng
đáng buồn quá sức ư? Nhưng vì chúng sanh và Phật thể vốn
đồng bèn cảm Như Lai xuất thế, soi sáng cho chúng sanh. Do
đây, người bỏ tục xuất gia, tận lực tu Định - Huệ,
đoạn Hoặc chứng chân, liễu thoát sanh tử không thể kể
xiết! Cũng có người cư trần học đạo, tu chân ngay trong
cõi tục, tự chứng Pháp Thân, sanh lên bờ giác như cư sĩ
Duy Ma, Phó Đại Sĩ, Bàng Cư Sĩ v.v… cả nhà tu trì, đều
chứng thánh quả. Các vị đại sĩ ấy làm gương cho chúng
sanh, đủ biết ai nấy đều có thể tu, hễ tu ắt đều được
lợi ích. Do vậy, từ khi pháp được truyền sang Đông Độ,
vua quan, dân chúng, khuê các anh hiền chẳng lìa trần lao tu
ròng Tịnh nghiệp, đều đích thân thấy được Phật Tánh,
đoạn Hoặc chứng chân, cũng như người được cảm ứng
đạo giao được Phật tiếp dẫn, đới nghiệp vãng sanh lại
không biết bao nhiêu mà kể.
Cư sĩ Hạc Niên Cao Hằng Tùng là người Hưng Hóa, tỉnh Giang
Tô, xưa đã trồng cội đức, dốc lòng tin tưởng Phật thừa.
Tuổi vừa nhược quan liền hâm mộ chân tu, vứt bỏ trói
buộc thế tục, chăm chú nơi sự nghiệp tuyển Phật rộng
lớn. Do vậy, bèn đến khắp các tùng lâm, tham học với những
bậc tông tượng, hòng nhanh chóng thấu rõ tự tánh, triệt
ngộ duy tâm, báo đáp tứ ân, tế độ mọi phẩm. Việc phụng
dưỡng cha mẹ giao cho vợ, mấy tháng mới quay về để thăm
hỏi. Bà phu nhân tên X… bẩm tánh hiền thục, tận lòng hiếu
đạo. Dẫu quay về nhưng chí hâm mộ thanh tu, vì thế, cư
sĩ không lo thiếu sót tình phụng dưỡng, mà cha mẹ cũng hưởng
niềm vui được quấn quít. Nếu không phải do nguyện xưa
đã kết, làm sao được như vậy! Đến khi cha mẹ đều khuất,
không còn phải lo lắng gì nữa, khác nào hạc nội mây ngàn
mặc sức bay nhảy. Do vậy, Ngũ Đài, Nga Mi, Thiên Thai, Kê
Túc[22], tất cả mọi chỗ danh sơn thánh đạo tràng, thường
đến lễ bái một loạt nữa. Riêng đối với đạo tràng
của Quán Âm Đại Sĩ ở Chung Nam lại càng quyến luyến, chợt
nhận biết đời trước từng trụ tại núi này, đủ thấy
nhiều đời nhiều kiếp đã tu Phật đạo từ lâu, chẳng
phải chỉ gieo thiện căn tại một đức Phật, hai đức Phật,
ba bốn năm đức Phật mà thôi.
Năm
Dân Quốc thứ 10 (1921), từ núi Kê Túc trở về nhà trông
nom, thấy vợ đã già, cô đơn không nơi nương tựa. Nghĩ
đến công vợ phụng dưỡng cha mẹ nhọc nhằn, thương vợ
giữ chí thủ tiết thanh tu, do vậy bèn biến nhà mình thành
Trinh Tiết Tịnh Độ Viện. Vì để cho trinh nữ, phụ nữ
tiết hạnh sống ở đó chuyên tu Tịnh nghiệp, cầu sanh Tịnh
Độ mà đặt tên như vậy. Những bậc hương thân chuộng
nghĩa bèn bẩm lên huyện ra cáo thị: Phàm là con cháu họ
Cao và nhân sĩ các giới chẳng được can dự, bởi lẽ viện
này được tạo dựng bởi tài sản riêng để làm phước,
tánh chất khác biệt với những am miếu [thông thường]. Tài
sản ban đầu là bao nhiêu đó mẫu, tậu thêm bao nhiêu đó
mẫu, tô lợi thu được hằng năm dùng chi tiêu cho cơm áo
của người trong viện, căn cứ theo thâu nhập mà thâu nhận
người để khỏi bị thiếu hụt. Chi phí sửa chữa, xây dựng
đều do bạn bè thân thiết của cư sĩ giúp đỡ. Ba gian nhà
chánh dùng làm điện Phật, bên trong thờ tượng ngồi của
Tây Phương Tam Thánh để những người sống trong ấy sớm
tối lễ tụng hòng tạo tư lương vãng sanh. Hai gian chái hai
bên làm chỗ ăn ở của các bà. Những trinh nữ tiết phụ
lui tới đều không phân biệt chọn lựa, chỉ cần trường
trai niệm Phật, quyết chí vãng sanh, tánh tình nhu hòa, không
có các thói ngang ngược, tai ác, chẳng coi trọng trang điểm,
chẳng ăn mặn, uống rượu, đoạn tuyệt tình thân thế tục,
chẳng du hành bừa bãi thì đều được chấp nhận. Nếu không,
nhất loạt chẳng chấp nhận cho ở lại.
Lại
vào mùa Đông, mùa Hạ mỗi năm, nhằm hai dịp Phật Đản[23],
liền mời bậc nữ sĩ thông hiểu pháp đến giảng thuyết
suốt tuần ngõ hầu đường lối tu tập, tông chỉ thảy đều
hiểu rõ, chẳng đến nỗi dùng pháp liễu sanh tử để đạt
được phước trời người. Đấy chính là thượng hoằng
hạ hóa, trọn vẹn đôi bề, do bi thành kính, hai thứ ruộng
(bi điền và kính điền) đều đầy đủ. Dùng một nghĩa
này để thành lập, những bạn bè chuộng nghĩa đều vui thích
hỗ trợ, như ông Giản Chiếu Nam, Giản Ngọc Giai, Phan Đạt
Vi, Lý Bách Nông, Lê Ất Chân ở Quảng Đông và các vị cư
sĩ ở đất Hỗ (Thượng Hải), đều tùy tâm lực, bỏ tiền
của giúp đỡ. So với việc giúp đỡ những bà góa thì gần
như giống nhau, nhưng về mặt lợi ích cách biệt như trời
với đất. Viện nuôi bà góa bất quá chỉ nhằm làm cho họ
có chỗ gởi thân, chẳng đến nỗi đói rét, nhưng chỉ suốt
ngày ăn no chẳng chịu dụng tâm, chẳng tụng kinh chú, chẳng
kiêng rượu thịt, chỉ nhằm giúp đỡ họ trong đời này,
chẳng tính đến sau này thần thức sẽ đi về đâu! Sống
trong viện này suốt ngày trì danh hiệu Phật, sớm tối khẩn
thiết sám hối, chẳng những lúc sống có chỗ nương gởi,
chẳng uổng sống qua ngày, mà còn khiến cho những người
không có chỗ nương về vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. Ý
đẹp, pháp lành thật hay đẹp, thật cao quý! Pháp này đã
hưng khởi, sau này ắt có bậc thông hiểu pháp nghĩa hành
theo ngõ hầu bậc trinh tiết anh hiền cùng dự vào Liên Trì
hải hội, công đức ấy chẳng thể diễn tả được!
10.
Bài ký về tịnh nghiệp trinh hiếu của trinh nữ Trần Thánh
Tánh
Chân Như pháp tánh chúng sanh và Phật đồng thể. Do mê - ngộ
sai khác mà thánh - phàm khác biệt. Muốn khôi phục tâm tánh
sẵn có thì phải đoạn Hoặc nghiệp huyễn vọng. Muốn đoạn
Hoặc nghiệp mà không nghiêm trì tịnh giới, tận lực tu Định
- Huệ sẽ không thể được! Tận lực tu ba món Giới - Định
- Huệ đến khi công thuần thì Vọng Hoặc triệt để tiêu
diệt, bổn tâm hiển hiện toàn thể. Ví như mài gương, hết
chất bẩn, tánh sáng còn lại. Gương vốn sẵn có tánh sáng,
chẳng do bên ngoài mà có, chỉ nhờ vào duyên lau mài mà hiển
hiện vậy.
Tuy
nhiên, cậy vào tự lực tu hành để đoạn Hoặc chứng chân
thật chẳng dễ dàng! Đoạn Kiến Hoặc giống như cắt đứt
dòng nước rộng bốn mươi dặm, huống gì là Tư Hoặc! Vừa
đoạn Kiến Hoặc bèn chứng Sơ Quả, dự vào dòng Thánh, vẫn
còn phải bảy lần sanh lên trời, bảy lần sanh xuống nhân
gian mới đoạn sạch được Tư Hoặc. Tuy nói là mười bốn
lần sanh tử, nhưng trên trời tuổi thọ rất dài, nên chẳng
dễ gì luận bàn năm tháng cho được! Thánh nhân Sơ Quả muốn
liễu sanh tử còn khó khăn như thế đó, huống chi phàm phu
có đủ Hoặc nghiệp ư? Nếu chứng Tứ Quả thì vĩnh viễn
cắt đứt căn bản sanh tử, vượt thoát ra ngoài lục đạo
luân hồi. Nếu phát tâm đại bi thì vào đời độ sanh, thừa
nguyện thị hiện hạ sanh, chẳng giống như kẻ Hoặc nghiệp
đầy dẫy bị nghiệp lực thiện - ác lôi kéo, thăng - trầm
trong sáu đường, không tự làm chủ được mảy may nào! Nếu
không phải là người túc căn sâu dầy sẽ không thể tự
lực liễu sanh tử được; chúng sanh đời Mạt sao có thể
mong cầu!
Do
vậy, đức Như Lai đặc biệt mở ra một pháp môn Tịnh Độ,
để hết thảy dù thánh hay phàm, thượng trung hạ căn cùng
liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Tâm từ bi cứu giúp
ấy tột bậc không còn gì hơn được nữa! Pháp tu trì này
cũng phải nghiêm trì tịnh giới, tận lực tu Định - Huệ,
nhưng phải kèm thêm sanh lòng tin phát nguyện, trì danh hiệu
Phật cầu sanh Tây Phương. Tín nguyện chân thật, thiết tha,
niệm lực tinh thuần, ngay trong hiện đời cũng có thể chứng
thánh, lâm chung lên thẳng Thượng Phẩm, dự vào địa vị
Bồ Tát, chứng địa vị Bất Thoái. Nếu như căn cơ kém hèn,
chưa được như thế, chỉ cần chí tâm niệm Phật thì tâm
và Phật khế hợp, cảm ứng đạo giao, lúc lâm chung ắt được
Phật từ tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh. Thậm chí kẻ Ngũ
Nghịch Thập Ác khi lâm chung tướng địa ngục hiện nếu
tâm thức chẳng mê, có thiện tri thức dạy niệm Phật, người
ấy sanh lòng sợ hãi lớn lao, sanh lòng thẹn hối lớn lao,
dẫu chỉ niệm được mấy tiếng rồi liền mạng chung cũng
vẫn được Phật từ lực tiếp dẫn vãng sanh. Được vãng
sanh rồi thì vĩnh viễn thoát luân hồi, cao dự hải hội,
tấn tu dần dần ắt chứng Phật Quả. Cậy vào tự lực để
liễu sanh tử khó khăn như thế đó; cậy vào Phật từ lực
để liễu sanh tử dễ dàng như thế này! Phàm những ai có
tâm đều có thể niệm Phật, đều có thể vãng sanh. Là trang
nam tử có huyết tánh, quyết chẳng chịu để Chân Như Phật
Tánh sẵn có trái nghịch tịnh duyên, theo duyên mê nhiễm luân
hồi bao kiếp trong lục đạo, không thể thoát ra!
Trinh
nữ Trần Thánh Tánh vốn là người quê ở huyện Hoài Ninh
tỉnh An Huy, cha cô vào độ tuổi trung niên theo đuổi nghề
buôn bán ở Cam Tuyền, Dương Châu, bèn dời nhà sang đó. Bà
mẹ họ Cao, trinh nữ sanh nhằm năm thứ chín đời Hàm Phong
(1859), có ba chị em gái, người chị cả chính là mẹ ông
Trương Thiệu Xuân, trinh nữ là con giữa, cùng với cô em đều
tự ăn chay từ nhỏ, không ăn mặn. Ấy là sẵn có linh căn.
Ba người em trai, lớn nhất là Thọ Thanh, từng được hậu
bổ làm tri huyện Giang Tây đời Thanh trước kia. Kế đến
là ông Mậu Chi, người em thứ ba là ông Mậu Như, đều theo
nghề buôn bán muối. Trinh nữ đến tuổi cài trâm, cha mất,
mẹ muốn chọn chỗ giạm hỏi cho, trinh nữ bèn đau đớn
khóc lóc, thệ nguyện làm con gái nhà họ Bắc Cung[24], vứt
bỏ trang sức để nuôi mẹ, ở đến già không lấy chồng,
cô em quyết chí xuất gia tu hành, còn trinh nữ thì lập chí
ở tại gia hầu hạ mẹ. Mẹ biết chẳng thể thay đổi được
chí hướng của con, liền để mặc. Mẹ cô có tật sạch
sẽ quá đáng, phàm thức ăn, quần áo, giầy dép, mền gối,
giường màn, không thứ nào không thay mới mỗi ngày, dẫu
là sàn nhà cũng phải mỗi ngày lau chùi một lần, ba ngày
rửa một lần, vì thế chuyện gì giao cho con hầu, vú già
làm đều chẳng vừa ý, chỉ có trinh nữ nấu nướng, khâu
vá, giặt giũ mới vừa lòng mẹ mà thôi. Tận lực hầu hạ
chăm sóc, chẳng để thiếu sót, hễ rảnh thì tụng kinh lễ
Phật, không bỏ uổng ngày tháng. Dẫu nhằm dịp lễ tết
cũng chẳng ra khỏi cửa đi chơi, tận tâm hiếu dưỡng, dốc
sức tu Tịnh nghiệp đến mức như thế đó, không những đã
trọn hết phận gái mà còn thật sự phụng trì Phật pháp.
Về sau, cô lại quy y Tam Bảo, thọ Bồ Tát Ưu Bà Di giới,
Thánh Tánh chính là pháp danh của cô vậy.
Đến
khi mẹ mất, cô đau đớn cùng cực, sau đấy ở nhà người
em trai, càng siêng năng tu trì. Mấy năm gần đây, Thiệu Xuân
tin Phật ngày càng sốt sắng, cô từng đến thăm cháu mấy
lần, mừng vì chí hợp đạo đồng, bèn không trở về nữa,
các em phải ép đón về. Không lâu sau, tự biết mình còn
ở đời không lâu, do các em trai và em dâu chỉ biết lễ nghi
thế gian, đều chẳng hiểu Phật pháp, sợ lúc lâm chung bị
họ vì thương cảm lưu luyến sẽ làm loạn chánh niệm đến
nỗi bị mất lợi ích, bèn đến ở ni am của cô em gái để
cầu chánh niệm vãng sanh. Không lâu sau, cô thị hiện bệnh
nhẹ, gọi Thiệu Xuân và ba người em trai đến, nhờ thỉnh
vị Tăng đầy đủ đức hạnh làm lễ thế phát cho cô làm
ni cũng như thuyết giới cho, lại dặn sau khi mất nên hỏa
táng để không còn sót lại vật gì, xả thân rồi không còn
gì để nương náu nữa mới là tốt. Thiệu Xuân chấp thuận,
cô liền tắm gội, mặc pháp phục, ngồi ngay ngắn niệm Phật.
Thiệu Xuân bảo các vị ni và các ông em trai cùng niệm Phật
trợ giúp. Các ông em trai buồn thương không cầm được, Thiệu
Xuân tận lực răn nhắc họ đừng làm loạn chánh niệm của
cô, các ông em trai đều nén lòng bi thương niệm Phật. Một
chập lâu sau, dứt hơi, Thiệu Xuân bảo đại chúng nhất tâm
niệm Phật hai tiếng đồng hồ, mặt cô càng thêm rạng rỡ
hơn khi còn sống. Sức tu trì cả một đời được thể hiện
trong khi ấy, chắc chắn sẽ được vãng sanh Tây Phương. Nếu
không, sao có thể đạt được tướng lành như vậy ư? Lúc
ấy nhằm giờ Sửu ngày 17 tháng Chạp năm Dân Quốc thứ 10
(1921), thọ sáu mươi ba tuổi. Tuy lúc lâm chung đã xuống tóc
làm ni, nhưng chưa được mấy ngày, cũng như vì muốn hiển
thị tấm lòng trinh bạch, đức hạnh đẹp đẽ, suốt đời
thủ tiết tận hiếu của cô nên gọi là “trinh nữ”.
Mùa
Xuân năm nay, Thiệu Xuân đến Phổ Đà lễ Đại Sĩ, thuật
cặn kẽ sự việc, xin tôi soạn bài ký để khai phát đức
ẩn kín, ánh sáng ngầm của cô. Tôi dựa theo kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật, xét thấy Tịnh Nghiệp Chánh Nhân gồm ba
điều: Một là hiếu thuận phụ mẫu, phụng sự sư trưởng,
từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp; bốn điều này
thuộc điều thiện thế gian. Hai là thọ trì Tam Quy, giữ đủ
các giới, chẳng phạm oai nghi, ba điều này thuộc về Giới
Thiện. Ba là phát tâm Bồ Đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng
Đại Thừa, khuyến tấn hành giả, bốn điều này thuộc về
Huệ Thiện. Hai điều đầu tùy thuộc mỗi người mà thuộc
về Đại Thừa hay Tiểu Thừa, nhưng điều này thuộc về
Đại Thừa. Trong mười một sự ấy, dù trọn vẹn hay nửa
phần, thậm chí chỉ làm được một việc, dùng lòng tín
nguyện sâu, hồi hướng Tịnh Độ thì đều được vãng sanh.
Huống chi trinh nữ làm được nhiều phần, lại thêm bình
sinh chuyên tâm niệm Phật, lẽ đâu chẳng vãng sanh. Cô biết
trước thời khắc, sau khi tắt hơi vẻ mặt lại càng thêm
rạng rỡ, đủ chứng tỏ điều ấy vậy.
Do
đó, bèn đem nguyên do của pháp môn Tịnh Độ và hạnh đẹp
trinh hiếu, tịnh nghiệp của cô lược thuật những nét chánh,
mong sao những bậc anh hiền trong khuê các và hết thảy thiện
tín nghe đến phong cách của cô bèn hưng khởi theo, ai nấy
trọn hết bổn phận và tu Tịnh nghiệp, cha từ, con hiếu,
anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ theo, chủ nhân từ,
tôi tớ trung thành, càng tu Tịnh nghiệp càng giữ vẹn luân
thường, sống thì được thêm tiếng tăm, mất liền gởi
thân nơi Tịnh Độ. Trông ra những kẻ chỉ biết Thế Đế,
chẳng hiểu Phật pháp, nghiệp thức mênh mang, không nơi nương
tựa, uổng có Phật tánh mà mê mất toàn thể, luân hồi trong
sáu nẻo, đọa lạc trong tam đồ đến cùng tận đời vị
lai trọn chẳng có lúc thoát ra, dẫu hết cả năm cũng không
thể nói nổi. Phàm những ai thấy nghe hãy đều nên gắng
sức vậy!
11.
Bi ký lễ phóng sanh nhằm ngày sinh nhật của bà phu nhân cư
sĩ Châu Mộng Pha ở Ô Trình
Một niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh với tam thế
chư Phật hoàn toàn chẳng hai, nhưng do mê chưa ngộ nên trải
kiếp dài lâu luân hồi trong sáu nẻo mãi mãi không ngừng.
Tuy đường lành trời người đem so với tam ác đạo khổ
- vui thật khác, nhưng đều tùy thuộc nghiệp lực thiện -
ác thường bị luân chuyển. Do vậy, thiện đạo chẳng đáng
để nương cậy, ác đạo thật đáng kinh sợ! Há có nên không
vun bồi nhân lành, lầm tạo ác nghiệp, ỷ mình mạnh mẽ
lấn hiếp kẻ yếu, bắt lấy hết thảy chúng sanh sống dưới
nước, trên cạn, trên không trung đem giết hại để ăn uống
ư?
Trước
kia, khi Phật Giáo chưa truyền sang, thánh nhân Nho Giáo đều
dùng luân thường thế gian để lập giáo, đối với Phật
tánh sẵn có của chúng ta và lục đạo luân hồi thăng trầm
chuyển biến cũng như chuyện đoạn Hoặc chứng chân, siêu
phàm nhập thánh dù Lý hay Sự đều chưa phát minh. Vì thế,
chẳng ngăn cấm giết chóc, nhưng cái tâm bất nhẫn đã được
hiển hiện rõ ràng qua những giáo huấn để lại cho đời.
Như kinh Thư nói chim, thú, cá, ba ba đều vui vẻ, sách Luận
Ngữ nói “câu nhưng không bắt, kéo cung nhưng không bắn”,
Mạnh Tử nói “thấy sống liền không nỡ nhìn thấy chết,
nghe thấy tiếng bèn không nỡ ăn thịt”, kinh Lễ chép: “Chư
hầu không có lý do thì chẳng mổ trâu, đại phu không có
nguyên do bèn chẳng giết dê, kẻ sĩ không có lý do sẽ chẳng
mổ giết chó, lợn, thứ dân không có nguyên do sẽ không ăn
đồ ngon quý”. “Đồ ngon quý” chính là thịt vậy! Đủ
thấy Nho Tông cũng không phải là không răn cấm chuyện sát
sanh, nhưng do giáo hóa phải quyền biến nên chưa thể ngăn
cấm vĩnh viễn được! “Phải có lý do mới giết” nên
giết chóc ít đi, không có lý do bèn không ăn thịt, nên một
năm ăn thịt không được mấy ngày. Về sau, giáo đạo suy
sụp, quen thói tàn nhẫn, lấy thịt làm món ăn thường ngày,
chỉ mong sao sướng miệng, chẳng nghĩ đến nỗi khổ của
loài vật, chẳng đáng buồn ư?
Đến
khi Phật Giáo truyền sang Đông, rốt ráo xiển minh thật sự
thật lý thường trụ mãi mãi“hết thảy chúng sanh đều
có Phật tánh” và “hễ mê thì sanh tử luân hồi trọn không
có lúc ngơi, hễ ngộ thì triệt chứng Niết Bàn” thì mới
biết bao nhiêu dị loại đều là cha mẹ quá khứ, chư Phật
vị lai. Chẳng những không dám giết ăn, mà lại còn nghĩ
cách khiến cho chúng được sống yên vui. Do vậy, vua thánh,
tôi hiền, triết sĩ, thâm Nho đa phần tuân theo lời Phật
giáo huấn, vun bồi lòng nhân, hoặc ăn chay, dứt ăn mặn,
hoặc kiêng giết, phóng sanh. Những lời hay hạnh đẹp chép
đầy trong sử sách, cũng mong cho người đời sau cùng tu từ
tâm, thương những loài vật cùng có Phật tánh, do nhân duyên
ác nghiệp phải đọa trong loài súc sanh, ta nay may được sanh
trong loài người, nếu chẳng thương xót cứ mặc tình giết
hại, khó tránh khỏi đời vị lai sau oan oan tương báo. Kinh
Lăng Nghiêm dạy: “Giết thân mạng chúng, hoặc ăn thịt chúng,
trải vi trần kiếp ăn giết lẫn nhau, ví như bánh xe xoay tròn,
lần lượt lên cao xuống thấp không lúc nào ngưng nghỉ. Trừ
[khi đắc] Xa Ma Tha và [khi] Phật xuất thế ra, chẳng thể
ngưng nghỉ!” Nhưng đạo Xa Ma Tha[25] thật chẳng dễ đắc,
Như Lai xuất thế cũng chẳng dễ gặp, dám đâu chẳng học
theo tiên hiền, tuân lời Phật dạy. Suy cái tâm sợ chết
của chúng ta mà cứu vớt chúng nó đang đợi bị nấu nướng,
ngõ hầu tiêu túc nghiệp, vun bồi thiện căn, vĩnh viễn dứt
cái nhân sát hại, cùng chứng quả trường thọ.
Cư
sĩ Mộng Pha Châu Khánh Vân ở Ô Trình thuộc dòng vọng tộc
tại Nam Tầm, ưa thiện, thích bố thí, đời đời tiếp nối
đức hạnh, bà nội là Hứa Thái Phu Nhân bẩm tánh từ thiện,
phước thọ song toàn, từ năm sáu mươi tuổi đến nay nhằm
mỗi dịp sanh nhật đều khuyên các con đừng giết hại, mà
dùng tiền đó để lo các thiện sự như làm chay, cứu giúp
người nghèo, giúp đỡ bà góa, nuôi con côi, cho quần áo,
tặng thuốc… Đức lành lan xa, cả làng đều kính ngưỡng.
Đến năm bảy mươi chín tuổi lại dùng 500 quan tiền lập
hội Phóng Sanh, các con đều vâng hiểu lòng từ của mẹ,
kính cẩn thuật chuyện này, khắc vào bia đá đặt trong từ
đường để con cái cháu chắt trong họ và những người được
thấy nghe đều phát thiện niệm, tu cái nhân trường thọ.
Cư
sĩ cùng người hôn phối đức hạnh là bà Trương phu nhân
đều tận lực tuân thủ gia quy, dốc lòng tin tưởng Phật
thừa, chỉ mang tâm niệm lợi người cứu vật. Nay phu nhân
tuổi đã tròn hoa giáp (sáu mươi), cũng muốn vâng tiếp gương
lành, bỏ ra năm trăm đồng lập hội Phóng Sanh tại Thu Tuyết
Am ở Tây Khê, Hàng Châu để thay thế cho lễ chúc thọ, dù
con hay cháu cũng đều có thể tiếp nối chí nguyện người
trước hòng đẹp lòng mẹ. Cư sĩ lại muốn dựng một tấm
bia ngõ hầu người nghe tiếng đều khởi lòng cùng vãn hồi
kiếp vận. Do vậy, bèn đem chuyện này ủy thác cho Quang trần
thuật. Quang tự thẹn tài lẫn pháp đều nghèo, không cách
gì giúp cho thế đạo được, nhưng một niệm ngu thành chỉ
muốn cho người đời cùng phát từ tâm, cùng tu Tịnh nghiệp
vãng sanh, sống làm một người chẳng thiếu nợ trong cõi
Sa Bà, khi mất dự vào Liên Trì Hải Hội ở Cực Lạc. Do
vậy, quên mình hèn tệ, lược thuật đại khái nguyên do kiêng
giết phóng sanh và đức hạnh nhiều đời của họ Châu.
12.
Bài ký phát ẩn Tuần Cai[26] Tiểu Trúc
Hiếu là đạo không lớn lao nào vượt ra ngoài được, hết
thảy các điều thiện không gì chẳng bao trùm, nhưng có điều
thiện thế gian và xuất thế gian, đại - tiểu, bổn - tích
khác biệt. Đạo hiếu thế gian là hầu hạ, phụng dưỡng
cho [cha mẹ] được yên thân, tiếp nối ý chí của người
trên để làm đẹp dạ, cho đến lập thân hành đạo để
được lưu danh đến tận đời sau. Tuy là lớn - nhỏ bất
đồng, nhưng đều thuộc về phương diện sắc thân. Dẫu
cho đại hiếu ngút trời, rốt cuộc tâm tánh của cha mẹ
vẫn thuộc trong sanh tử, chẳng được lợi ích gì! Có thể
nói là toàn chạy theo hình tích, chẳng xét đến cái gốc,
huống chi sát sanh để phụng dưỡng, cúng tế khiến cho cha
mẹ bị oán đối cố kết, nhiều kiếp đền trả chẳng ngơi
ư?
Đạo
hiếu xuất thế về mặt hình tích thì cũng giống như thế
gian: Hầu hạ, phụng dưỡng cho đến lập thân, dương danh;
nhưng về mặt cội gốc thì khiến cho cha mẹ huân tu đại
pháp của đức Như Lai, [khi cha mẹ] còn sống thì khéo léo
khuyên dụ ngõ hầu cha mẹ ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương. Ăn chay thì chẳng tạo sát nghiệp, lại diệt được
túc ương; niệm Phật thì ngầm thông Phật trí, thầm hợp
diệu đạo. Nếu có thể tin sâu nguyện thiết cầu sanh Tây
Phương, ắt đến khi lâm chung được Phật tiếp dẫn, gởi
chất nơi chín phẩm sen. Từ đấy siêu phàm nhập thánh, liễu
sanh thoát tử, vĩnh viễn lìa các sự khổ chốn Sa Bà, thường
hưởng những sự vui nơi Cực Lạc. Cha mẹ đã mất thì thay
cha mẹ dốc lòng tu Tịnh nghiệp, chí thành hồi hướng cho
cha mẹ. Nếu tâm chân thật, tha thiết thì cha mẹ được lợi
ích, nếu chưa vãng sanh sẽ liền được vãng sanh. Nếu đã
vãng sanh ắt tăng cao phẩm sen. Đã có thể phát tâm như vậy
thì tương ứng với Tứ Hoằng Thệ Nguyện, khế hợp giác
đạo Bồ Đề, há nào phải chỉ riêng cha mẹ được lợi
ích mà công đức, thiện căn của chính mình, phẩm bậc nơi
đài sen lại càng được cao siêu thù thắng hơn, huống chi
lại còn lấy thân mình thuyết pháp khiến cho khắp đồng
luân đều phát tâm hiếu thuận ư? Đấy mới là thật nghĩa
rốt ráo của Hiếu, chẳng phải như thế gian chỉ mong làm
lợi cho sắc thân và đời này, hoàn toàn bỏ sót tâm tánh
và vị lai chẳng bàn đến!
Do
vậy biết Phật giáo lấy Hiếu làm gốc, cho nên kinh Phạm
Võng chép: “Hiếu thuận phụ mẫu, sư tăng, Tam Bảo. Hiếu
thuận là pháp chí đạo (đạo tột cùng). Hiếu gọi là Giới”.
Trong các giới Giết - Trộm - Dâm đều dạy phải sanh lòng
từ bi, sanh tâm hiếu thuận. Trong giới “bất hành phóng cứu”
(Không thực hành chuyện phóng sanh, cứu vớt), có câu: “Hết
thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta,
đời đời kiếp kiếp không lúc nào ta chẳng từ họ thọ
sanh, cho nên lục đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta. Giết
họ ăn thịt chính là giết cha mẹ ta”. Do vậy, nói: Đạo
hiếu của Phật giáo trọn khắp tứ sanh lục đạo, há chẳng
phải là đạo hiếu rốt ráo đến cùng cực không gì hơn
được nữa hay sao?
Ông
Trương Tử Ấm ở Hàng Thản hiếu thuận khôn nguôi, cha mẹ
khuất bóng đã mấy mươi năm, mỗi lần nghĩ đến vẫn còn
gạt lệ, do nghĩ đến cha mẹ bèn chuyên niệm danh hiệu Phật,
ấy là vì sắc thân của ta đây chính là thân của cha mẹ,
ta đã vì cha mẹ niệm Phật, ắt sẽ được Phật nhiếp thọ,
ấy chính là hiếu! Đó gọi là “thế gian lẫn xuất thế
gian đều vẹn toàn”. Đã có cha như thế ắt có con như thế;
con ông là Hinh Cốc khéo hiểu lòng cha, dốc sức tu Tịnh nghiệp,
rộng hành các điều thiện, thoạt đầu thỉnh khắp các danh
hiền phát huy đức hạnh thủ tiết nuôi con côi của bà nội
là bà Phí Thái Nhụ Nhân[27], đức lừng lẫy khắp nữ giới,
cho khắc vào tập Tinh Tiết Lục để an ủi tấm lòng trinh
linh của bà nội, cũng như xoa dịu lòng thương nhớ hiếu
thuận suốt đời của cha. Kế đó, do cha luôn nghĩ nhớ, bèn
dựng một cái thất nhỏ, trồng la liệt tùng, trúc, đặt
tên là Tuần Cai Tiểu Trúc, trong thất thờ hình bà nội, bốn
vách treo đầy những đề vịnh của các bậc danh hiền, để
cha thường được thờ phụng hình bóng bà, giữ lòng thành
như bà đang còn sống.
Lại
vì Tuần Cai Tiểu Trúc bèn cầu tìm đề vịnh của khắp các
bậc danh hiền để tỏ rõ lòng hiếu thuận của cha, ngõ hầu
cảm phát đồng nhân, phù hợp sâu xa đạo “hiếu thuận
cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập
Thiện Nghiệp” của Quán Kinh. Đã có Tịnh nghiệp chánh nhân,
ắt đạt được thật quả vãng sanh. Cha con ông Tử Ấm và
các quyến thuộc tuy vẫn sống trong Sa Bà, nhưng quả thật
đã là các thượng thiện nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Những ai muốn hiếu thuận với cha mẹ trong cõi đời,
chẳng thể không lấy điều này làm gương vậy!
13.
Bi ký về việc tạo lan can sắt bên đường lên Phật Đảnh
Sơn
(viết
thay cho Văn Chất hòa thượng)
Viên Thông đại sĩ thệ nguyện hoằng thâm, pháp giới hữu
tình đều được bình đẳng nhiếp thọ, Phổ Môn thị hiện
trong hết thảy xứ, chân trí không ngằn mé. Danh sơn Bổ Đát
ở Đông Nam Hải là chỗ Ngài ứng tích. Do không ngằn mé
nên bèn tùy theo hình loại, thí lòng từ bi đồng thể. Do
có nơi chỗ nên bèn vượt biển trèo núi, báo đáp ân đức
khôn ngằn. Do vậy, bao triều đại đều khâm kính, cả cõi
đời cùng tôn sùng. Không ai chẳng muốn cầu chúc mọi người
cùng được khỏe mạnh, yên vui để cõi đời thạnh trị,
tiêu tai lệ để tạo phước cho lê dân. Vì thế, ba ngôi chùa
đứng như thế chân vạc, các am la liệt; chùa nào am nấy
đều hoằng đạo Tổ, đều cùng xiển dương Phật tâm. Chỉ
riêng chùa Huệ Tế xây nền trên đảnh núi mang tên là Phật
Đảnh, quanh co mấy dặm, đường đi xếp bằng đá tảng,
vòng vèo cao ngàn nhận[28] khác nào người leo thang lên trời.
Mỗi khi đến kỳ dâng hương, người qua lại nhộn nhịp chân
đạp trên đá trơn hết sức nguy hiểm.
Vị
trụ trì đời trước là Văn Chánh, quyên mộ các đàn tín
xây dựng con đường đá khiến cho con đường hiểm trở biến
thành khang trang, dù cao vòi vọi, ngút ngàn nhưng bước nào
cũng bằng phẳng, nhưng vì bên đường không có gì ngăn chặn
nên qua lại vẫn cảm thấy rờn rợn. Vị đại hộ pháp là
ông Chúc Đại Xuân xưa đã gieo cội đức, dốc lòng tin tưởng
Phật thừa; đã thế, trong cõi tục, ông ta lại có địa vị
trong chánh quyền, hành đạo “tu chân ngay trong cõi tục”,
gặp dịp đến đây dâng hương trông thấy tình cảnh ấy,
bèn phát đại tâm, cho dựng lan can sắt khắp nơi, khiến cho
mọi người đến đây lên đạo tràng viên thông đều đi
đường yên ổn, không sợ hãi gì nữa, chẳng mất công cứ
mỗi bước lại phải nhìn xuống chân, đắc đại tổng trì,
hiểu rõ bậc thềm Phật ở tại ngay nơi ấy, nương theo đường
chăng bằng giây vàng, đâu đâu cũng gặp đạo. Từ dưới
đất vịn nắm quanh co, đi một mạch lên đến nơi sơn cùng
thủy tận, từ đấy nhập vào Phật huệ, tự thấy Quán Âm.
Công đức như thế thật giống như sức Phổ Môn Thí Vô Úy,
có cùng một Thể - Tướng - Dụng; ắt sẽ do đây nhanh chóng
vượt lên Thập Địa, viên mãn Tam Giác, không những thân
tâm được yên vui, điều tốt lành nườm nượp xảy đến
dài lâu dằng dặc, mà phước thừa còn thấu đến tận hậu
duệ nữa!
14.
Bi ký trùng hưng chùa Tịnh Cư ở Tế Nam
Nơi Thật Tế lý địa trọn chẳng có cái tên chúng sanh và
Phật, trong pháp môn tu trì mới có danh hiệu phàm và thánh.
Tâm thể vốn vắng lặng, do phiền hoặc nên hôn trược bèn
nhanh chóng hiện ra. Vọng tánh vốn không, do giác chiếu nên
chân thường riêng tồn tại. Do vậy biết: Bất biến tùy
duyên mười giới thăng trầm rất khác; tùy duyên bất biến,
Thể - Dụng của nhất tâm không khác. Tâm ấy, lý ấy mọi
chúng sanh đều có, nhưng triệt ngộ, triệt chứng chỉ có
mình đức Phật. Vì thế, đức Thế Tôn ta thị hiện sanh
trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy cơ thuyết pháp.
Với kẻ đại căn bèn chỉ ngay Nhất Chân pháp giới khiến
họ vô trụ sanh tâm, cho đến khi đoạn Hoặc chứng chân.
Với kẻ căn khí nhỏ nhoi bèn giảng cặn kẽ tam thế nhân
quả, khiến họ hướng lành tránh dữ, dùng đó làm phương
tiện nhập đạo.
Tuy
ngàn căn cơ đều được dưỡng dục, pháp không có tướng
nhất định, nhưng muôn dòng đều quy hướng, đều đổ vào
biển giác. Phàm nói đến đạo “cách vật trí tri, chánh
tâm thành ý, tu - tề - trị - bình” thì chẳng khác gì khuôn
phép của Nho Giáo, nhưng chuyện “minh tâm kiến tánh, chân
cùng, Hoặc tận” thì Nho Giáo chưa thể phát huy được. Bởi
lẽ một đằng tùy thuận tình kiến thế gian, một đằng
chỉ thẳng vào tâm thể (bản thể của tâm). Nếu xét đến
cội gốc thì Linh Sơn, Tứ Thủy ở cùng một đất, Đông
Lỗ[29], Tây Trúc thực chẳng phải hai trời. Do vậy, vua quan
đời cổ không ai chẳng hoằng dương, hộ trì, những bậc
hiền triết thời nay thảy đều nghiên cứu đến cùng tận,
bởi lẽ pháp này về mặt ngầm là giúp cho đạo bình trị,
về mặt tỏ khiến dân tình yên lành, tiêu họa loạn ngay
khi chưa chớm, chứng Phật tánh sẵn có vậy.
Tế
Nam là khu vực nổi tiếng của vùng Tề - Lỗ[30], là xứ văn
hiến. Nhằm lúc pháp đạo hưng thạnh thời Đường, thời
Tống, đã có những ngôi chùa nổi tiếng. Đến nay lâu đời
chầy tháng, người mất, giáo suy, bao nhiêu tùng lâm thảy
đều suy tàn, dẫu có chùa miếu đều trở thành [tài sản
truyền riêng cho] con cháu. Chẳng những hàng Tăng tục nơi
địa phương không có cách nào được nghe pháp, ngay cả hàng
pháp lữ qua lại cũng không có chỗ nghỉ ngơi. Cư sĩ Đối
Phù Phan Thủ Liêm xưa đã vâng lời Phật phó chúc, thừa nguyện
tái lai, đọc sách thấu hiểu lý, học đạo yêu người, những
chuyện cai trị khéo léo khi xưa của ông đều được lưu
truyền nơi bia miệng. Những chuyện tu trì như kiêng giết,
phóng sanh, ăn chay, niệm Phật của ông trong mấy năm gần
đây đều khắc vào tâm người. Lòng thành cứu nạn, giúp
nghèo, hộ pháp, giúp cho tăng chúng yên trụ của ông thật
có thể noi gót Cấp Cô Độc, tiếp nối Văn Chánh Công. Thường
nghĩ nhân dân đời mạt như người mù không ai hướng dẫn,
lại do nơi tỉnh hội hoàn toàn chẳng có thập phương tùng
lâm, nên cao tăng không có duyên đến trụ, chánh pháp không
cách gì được hoằng thông; lý nhân quả ba đời, đạo “nhất
tâm tạo đủ mọi sự” gần như bị dứt bặt, làm sao cứu
vớt thế tục đang bị chìm đắm, đưa dân chúng lên bờ
giác cho được?
Vào
năm Dân Quốc thứ bảy (1918), ông thương nghị với vị Trụ
Trì đã thoái ẩn của am Phổ Tế ở Tế Ninh là ngài Đức
Hinh, ngài Đức Hinh bèn sai phương trượng am ấy là Kiến
Huệ đến Tế Nam tìm đất, thấy mấy mươi mẫu đất thuộc
nền cũ của Tịnh Cư Tự ở Đông Quan là nơi có thể lập
đạo tràng. Chùa này được lập vào thời Bắc Tống, nay
đã thành chốn gò hoang, chỉ còn lại ba gian Phật điện nhưng
cũng sắp sụp đổ. Người trông chùa muốn tu bổ nhưng khổ
nỗi không có sức, gặp đúng lúc thầy Kiến Huệ đem chuyện
muốn quyên mộ đất để lập tùng lâm ra nói, người ấy
hoàn toàn khâm phục đức của ông Phan, thầy Kiến Huệ, thầy
Đức Hinh nên bèn vui vẻ dâng tặng, lại bẩm lên huyện lập
giấy tờ để làm bằng chứng. Ông Phan tuổi cao, đã thuộc
vào hàng thất thập, bèn lên kinh đô, xin ông phụ tá của
Quốc Vụ Tổng Lý (Thủ Tướng) là ông Cận đứng ra đề
xướng, ông Cận bèn quyên tặng hai ngàn đồng. Khi ấy, con
ông Phan là Phục, giữ chức Tổng Trưởng Tài Chánh, quyên
góp khắp trong đất Đàm[31] được tất cả năm ngàn đồng,
lại tùy duyên quyên góp được khoảng sáu ngàn đồng nữa,
bèn khởi công vào mùa Xuân năm Dân Quốc thứ chín (1920),
đến mùa Thu thì hoàn thành. Khi ấy, gặp đúng lúc đốc quân
Du Quan là ông Điền Uẩn Sơn đóng quân ở Sơn Tả, dốc lòng
tin tưởng Phật pháp, nên khẳng khái quyên ra một ngàn đồng,
cực lực đề xướng, lại còn phái người thay mặt đến
trước để phụ đôn đốc, nên mau được hoàn thành.
Trù
tính tu bổ Phật Điện, Thiên Vương Điện, mỗi nơi đều
ba gian. Vây quanh là Tổ Đường, Già Lam Điện, Phương Trượng,
Niệm Phật Đường, Thiền Đường, Trai Đường, Đại Môn
(cổng chánh), Khách Đường (nhà tiếp khách), Khách Sảnh (chỗ
nghỉ cho khách), Trù Phòng (nhà bếp) v.v… tổng cộng hơn
năm mươi gian, tuy chưa đáng gọi lầu cao giăng mắc, điện
các vòi vọi, nhưng cũng đã hành đạo tham thiền, niệm Phật,
hoằng pháp lợi sanh được rồi. Đến ngày Mười Chín tháng
Chín, làm lễ khai quang tượng Phật, thành lập đạo tràng,
treo chuông, bản lên, người đèn nhang lễ Phật chen vai, thích
cánh, khi đó có chuyện lạ đứa bé con té giếng, được
Phật cứu vớt, nằm yên ổn trong nhà. Về sau, có chuyện
tốt lành là có một người già cả mắc bệnh lâu ngày không
khỏi, nằm mộng thấy có người cho uống nước giếng này
liền được lành bệnh. Đến năm Dân Quốc thứ 10 (1921),
vùng Tế Ninh hạn hán lớn, ôn dịch tràn lan, mọi người
cùng kéo nước giếng này để uống và cầu đảo thì mưa
ngọt bèn tuôn xuống khắp nơi, ôn dịch dứt ngay. Do vậy,
mọi người đều gọi là Thánh Thủy. Vì thế bèn lập một
cái đình bát giác để che giếng, khắc bia ghi lại việc này.
Ôi chao lạ lùng thay! Lòng thành đến cùng cực thì vàng đá
cũng nứt. Đấy là do lòng thành của ông Phan, các thầy Kiến
Huệ, Đức Hinh phát khởi lòng thành của mọi người thành
lập đạo tràng này, lòng thành của mọi người tương cảm
nên Phật từ bèn rủ lòng ứng theo, cho nên mới có những
chuyện chẳng thể nghĩ bàn như vậy, đủ chứng tỏ “tâm,
Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt!” Tâm này làm Phật,
tâm này là Phật, cảm ứng đạo giao, giống như đã có hình
ắt có bóng, có tiếng ắt có tiếng vang.
Tuy
chùa đã thành lập, nhưng Tăng không được nuôi dưỡng thì
cũng không thể an cư hành đạo; do vậy, ông Phan lại quyên
mộ được một vạn hai ngàn đồng gởi vào công ty Lỗ Phong
với lãi suất một phân hai ly, mỗi tháng thu được một trăm
bốn mươi bốn đồng, dùng làm tiền ăn uống và chi phí những
thứ cần dùng, có thể nuôi được hai mươi vị Tăng thường
trụ và mười vị Tăng quải đơn[32]. Sau này nếu có bậc
đại từ thiện quyên tặng khoản tiền lớn hơn thì sẽ căn
cứ theo khả năng mà mở rộng quy mô hơn nữa. Chùa thành
lập rồi, hai vị Đức Hinh và Kiến Huệ nối nhau quy Tây;
do vậy, bèn thỉnh vị Trụ Trì đã thoái ẩn của Thiên Mục
là Năng Hòa Lão Nhân tạm thời chấp chưởng, nay thỉnh hòa
thượng Diệu Liên thuộc chùa Hoa Nghiêm ở Duyện Châu làm
Trụ Trì.
Việc
tu trì trong chùa chuyên chủ Tịnh Độ, không truyền giới,
không làm kinh sám thù tạc. Thí chủ có tín tâm đến chùa
niệm Phật hoặc đả Phật thất để hồi hướng cho tiên
linh hoặc cầu phước thọ thì không cự tuyệt. Do pháp môn
Tịnh Độ chính là pháp quy tông kết đảnh của hết thảy
các pháp, hạ thủ dễ thành công cao, dùng sức ít lại được
hiệu quả nhanh chóng, là vô thượng diệu đạo để phổ
độ chúng sanh của Như Lai, quả thật là pháp môn đặc biệt
để cả phàm lẫn thánh cùng lên bờ giác. Chúng sanh đời
Mạt căn cơ kém hèn, tu các pháp môn khác khó thể được
lợi ích thật sự, bởi lẽ hết thảy pháp môn đều cậy
vào tự lực, chỉ có pháp Tịnh Độ này hoàn toàn nương
vào Phật lực. Cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng chân
nếu không phải là bậc lợi căn cao nhất thì chẳng thể
liễu thoát ngay trong đời này! Nương vào Phật lực, có đủ
lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, dẫu là hạng độn căn
thấp nhất cũng có thể đới nghiệp vãng sanh. So sánh hai
pháp thì sự khó - dễ, nhanh - chậm khác nào trời với vực.
Do vậy, mười phương chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài
để tán dương, thánh hiền hai cõi phát tâm Kim Cang lưu truyền.
Lược
nêu tóm tắt những ý chánh để bảo cùng đồng nhân, nếu
ai tin tưởng chắc thật thì lợi ích vô tận. Phương danh
của những vị thí tiền của được ghi đầy đủ ở mặt
sau bia, nhờ vào công đức này ắt hiện đời phước huệ
tăng trưởng, lâm chung được Phật Di Đà tiếp dẫn vậy!
15.
Bi ký Vạn Niên Niệm Phật Hội ở Thường Minh Am
Từ nơi phàm tình hiển lộ Như Lai Tạng, dùng Quả Địa Giác
làm Nhân Địa Tâm, dẫn sáu nẻo lên chín phẩm sen, vượt
thoát tam giới hưởng tứ đức, trong thời Ngũ Trược lừng
lẫy, làm một tông viên mãn ngay trong một đời thì chỉ có
pháp Niệm Phật là được như vậy mà thôi! Khi xưa, Lập
Sơn Lão Nhân trùng hưng chùa Pháp Vũ suốt mười mấy năm,
muốn thoái ẩn nơi tịnh thất để chuyên tu Tịnh nghiệp,
nên mới dựng am này, hòng làm chỗ cho chính mình và các đồ
đệ gieo tấm lòng thành cho đến hết đời, trở về An Dưỡng.
Cảnh giới vắng lặng, cách tuyệt cõi trần, quy củ nghiêm
túc, không dễ dãi chút nào; chẳng phải là người không tham
thế duyên, cam chịu đạm bạc, dốc chí tu trì cầu sanh Tịnh
Độ sẽ chẳng thể ở đây được!
Vào
năm Tuyên Thống thứ hai (1910) đời Thanh trước kia, sư Liễu
Đế làm đương gia, có các cư sĩ Trần Lạc Chi, Cố Thọ
Bành v.v… lên núi dâng hương, ở nhờ am này. Trông thấy
am quy (quy củ trong am) nghiêm túc, Tăng chúng nghiêm tịnh, xa
là tiếp nối được liên xã của Khuông Lô, gần là thừa
kế Tịnh tông của ngài Vân Thê. Thầy Liễu Đế lại vì
họ giảng cặn kẽ pháp Niệm Phật, sự tuy giản dị, nhưng
lý cực viên đốn, độ khắp ba căn, lợi - độn cùng thâu,
là tông yếu tối thượng của vô lượng pháp môn trong cả
một đời giáo hóa của đức Như Lai. Hết thảy pháp môn,
hằng sa diệu nghĩa không gì chẳng lưu xuất từ pháp giới
này, không gì chẳng trở về pháp giới này. Do vậy, vị Tổ
của ta là Lập Sơn Lão Nhân dựng lập am này để tiếp độ
con cháu.
Bọn
họ vừa nghe vậy bèn phát đại tâm, chọn lựa tập hợp
mấy mươi người cùng chí hướng, ai nấy đóng góp bao nhiêu
đó tiền, lập ra Vạn Niên Niệm Phật Hội, bắt đầu từ
ngày Mười Chín tháng Hai của năm sau cho đến ngày Hai Mươi
Lăm là viên mãn, đêm hôm đó làm lễ thí thực để cứu
giúp mọi cô hồn, lấy đó làm lệ nhất định vĩnh viễn,
chẳng được sửa đổi. Am này đem số tiền thanh tịnh ấy,
ngoại trừ phần dùng để làm chi phí trong pháp hội ấy ra,
phần còn lại dùng để mua ruộng hết. Hoa lợi thâu được
liền dùng để lập pháp hội kế tiếp. Số tiền còn dư
thì dùng để giúp chi dụng cho thường trụ. Sợ rằng lâu
năm không chứng cớ, bèn khắc vào đá quý kiên cố, ngõ hầu
ức vạn năm sau không bị phế bỏ. Sẽ thấy đạo tràng Thường
Minh hương đèn ngày càng thạnh, mười phương đàn việt tín
tâm càng nồng, cùng dự Phật hội, cùng niệm danh hiệu Phật,
cùng sanh cõi Phật, cùng thành Phật đạo, công đức lợi
ích làm sao diễn tả cho được? Những quy củ được ghi tường
tận ở phần sau.
16.
Bài ký nơi tháp hóa thân của chùa Phổ Tế tại Phổ Đà
Cổ nhân nói: “Tử sanh cũng lớn lắm, há chẳng đau đớn
ư?” Trộm nghĩ: Chẳng biết nguyên do, dù có đau lòng nào
có ích gì đâu? Phải biết hết thảy chúng sanh theo nghiệp
lưu chuyển, thọ sanh trong sáu đường. Sống chẳng biết từ
đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu. Do tội phước,
nhân duyên bèn thăng - giáng, xoay vần luân hồi trọn không
lúc nào ngơi. Như Lai thương xót, dạy cho nhân duyên “do Hoặc
khởi nghiệp, do nghiệp cảm khổ” và bản thể “thường
- lạc - ngã - tịnh, tịch chiếu viên dung”, khiến cho họ
biết rõ: Vì vô minh nên mới có thân này, tức là sắc thân
này hoàn toàn là huyễn vọng, chẳng những Tứ Đại không
có mà ngay cả Ngũ Ấm cũng đều là Không. Đã biết các Uẩn
là Không thì diệu lý Chân Như Pháp Tánh Thật Tướng sẽ
triệt để phô bày trọn vẹn. Lại sợ có kẻ tình chấp
kết chặt chưa thể giải thoát, nên sau khi xả báo bèn dùng
lửa thiêu hóa, ngõ hầu người chưa lìa chấp trước sẽ
mau lìa được, người đã lìa được bèn mau chứng Pháp Thân,
lại còn khiến cho hiện tiền đại chúng ngộ biết thân này
chẳng chân thật, dùng ngay cái thân ấy để làm chứng cớ.
Ấy gọi là “nên dùng thân hóa thành tro, diệt mất dấu
tích để độ, bèn hiện thân cháy thành tro, diệt mất dấu
tích để thuyết pháp”. Do đây bèn lập ra quy chế hỏa táng,
phàm những ai thuộc vào Tăng đồ đều tuân hành.
Nhằm
lúc pháp đạo thạnh hành vào đời Đường, đời Tống, những
người tại gia thông hiểu đa phần cũng tuân theo, chứ không
chỉ riêng Tăng chúng mới vậy. Phổ Đà chính là đạo tràng
của Quán Âm đại sĩ. Phổ Tế, Pháp Vũ là tùng lâm thập
phương cộng trụ, Tăng chúng đến - đi quả thật rất đông.
Phàm những vị mất đi đều dùng lửa thiêu hóa, nhưng lò
thiêu rất thô sơ, chẳng những tốn nhiều củi đố