Quyển
thứ Ba
(Phần
4)
74.
Lời tựa sách Nho Thích Nhất Quán
Nho - Thích đạo không hai, chúng sanh và Phật tâm không hai.
Do con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này, nên
hết thảy hữu tình đều nhờ vào Chân Như Phật Tánh mà
được kiến lập. Nhưng chúng sanh và Phật thật khác biệt,
phàm - thánh khác hẳn nhau là vì nhân địa mê - ngộ bất
đồng, Tu Đức thuận - nghịch sai khác. Do vậy, thánh nhân
Nho - Thích đều xuất hiện trong đời làm bậc hướng dẫn,
ngõ hầu hết thảy chúng sanh bỏ mê theo ngộ, thấu dòng tột
nguồn, khôi phục lại bản tánh sẵn có mà thôi! Sự phát
huy tuy có Quyền - Thật, sâu - cạn, phương tiện - cứu cánh
bất đồng, nhưng xét về đại thể thì lý thể được đề
cao và công phu tu tập không hai.
Phật
lấy Giác làm Thể, Giác có Bổn Giác, Thỉ Giác, Bất Giác.
Bổn Giác chính là thiên chân Phật Tánh chúng sanh và Phật
đều sẵn có, tức là Tánh Đức vậy. Còn Thỉ Giác là diệu
trí do dựa theo lý Bổn Giác, phát khởi tu tập chân thật,
đối trị phiền não tập khí khiến cho chúng bị tiêu diệt
không còn sót. Đó chính là Tu Đức. Bất Giác là mê trái
Bổn Giác, sanh khởi chấp trước vào cảnh, khởi tham - sân
- si, tạo giết - trộm - dâm, coi khổ là vui, lấy mê làm đức,
dùng sức Phật tánh để tạo nghiệp sanh tử. Hết thảy chúng
sanh đang mê không nương theo Chánh Giác, lầm lạc tu tập đều
là Bất Giác vậy. Bổn Giác thì phàm - thánh bình đẳng, không
có cao - thấp. Thỉ Giác thì do công phu sâu hay cạn khác biệt
mà địa vị ngộ chứng sai khác. Do nơi danh tự nên có Phần
Chứng, từ địa vị Ngoại Phàm[1] cho đến Đẳng Giác đều
thuộc trong phạm vi Thỉ Giác. Từ Đẳng Giác lại phá một
phần vô minh thì công Tu Đức đã đến cùng cực, Tánh Đức
hiển lộ trọn vẹn, phước huệ trọn đủ, phiền hoặc hết
sạch, viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không thể đạt, mới
thành bậc Đại Giác Thế Tôn, mới chứng Thỉ - Bổn hợp
nhất tối thượng thừa tối cực, mới hoàn thành sự nghiệp
tu nhân chứng quả của bậc đại trượng phu. Vì thế, kinh
Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ trí
huệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp
trước nên chẳng chứng đắc. Nếu lìa hết thảy vọng tưởng,
chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Vô Ngại Trí đều được
hiện tiền”.
Nói
“hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ của Như Lai”
là nói về lý tánh Bổn Giác vậy. “Do vọng tưởng, chấp
trước nên chẳng chứng đắc” chính là trái nghịch Bổn
Giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi trong sáu đường.
“Lìa vọng tưởng thì trí huệ bèn hiện tiền” chính là
thuận theo Bổn Giác để tu dần dần cho đến khi viên thành
Phật quả. Hiểu rõ chỗ đạt đến của lý “Tánh - Tu”
này ắt chẳng cam chịu phận phàm ngu, cũng chẳng dám đem
phàm lạm thánh, ắt sẽ thật tu, thật ngộ, mong sao thật
chứng mới thôi!
Nho
thì lấy Thành - Minh làm gốc, Thành là minh đức, Minh nghĩa
là “minh” (làm sáng tỏ) trong “minh minh đức”. Thật ra
Thành - Minh là “minh minh đức”. Minh đức chính là chân
tri (sự hiểu biết chân thật) sẵn có trong tâm chúng ta. Do
có “vật” là nhân dục (lòng ham muốn của con người),
nên minh đức bị ngăn lấp chẳng thể hiển hiện được.
Như mây che mặt trời, trọn chẳng thấy được tướng sáng.
Muốn làm sáng tỏ minh đức ấy thì phải trọng lòng kính,
giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ thì cái vật “nhân dục”
tự chẳng có đất dung thân, chân tri sẵn có sẽ hiển lộ
toàn thể, như phù vân (mây nổi) trôi đi, vầng mặt trời
sáng rỡ. Chân tri đã hiển lộ thì đạt được quyền làm
chủ, kẻ hầu hạ phải nghe theo. Vì thế những gì ý nghĩ
đến, tâm suy nghĩ đến đều quy về chân thành, không huyễn
vọng, trung chánh, chẳng thiên lệch vậy. Đấy chính là đại
pháp “tu thân, trị người” của Khổng Tử thừa kế từ
nhị đế tam vương[2] được trình bày tóm lược như vậy,
là khuôn phép lớn lao cho thiên hạ hậu thế mong thành thánh
thành hiền vậy.
Nếu
đem so với Phật pháp để giải thích thì Thành và Minh Đức
chính là Tánh Đức của Bổn Giác, còn Minh và Minh Minh Đức
(làm sáng tỏ minh đức) chính là Tánh Đức của Thỉ Giác
vậy. “Vật” là vọng tưởng, chấp trước. “Cách vật”
là lìa vọng tưởng, chấp trước. Lìa vọng tưởng, chấp
trước liền đắc trí huệ của Như Lai. Trừ khử vật dục
của con người thì lương tri và Chân Như cố hữu của chúng
ta sẽ hiển lộ triệt để. Do vậy, nói: “Phát huy sâu -
cạn tuy khác nhau, nhưng công phu nơi lý thể cố nhiên chẳng
hai”. Vì thế, những bậc thông minh duệ trí xưa nay đa số
đều học Phật. Do đạt được tâm pháp của Phật nên mới
hiểu thấu đáo tâm pháp của thánh nhân tiên hiền bên Nho.
Bởi lẽ, nhà Nho đa phần coi trọng sự tướng, chẳng dốc
sức ngộ hiểu tâm tánh. Nếu chẳng được Phật pháp hướng
dẫn thì chính tâm mình còn chưa thể hiểu biết được, huống
gì tâm pháp của thánh nhân ư? Do vậy, các nhà Nho câu
nệ vào hình tích, đa số chê trách Phật giáo là do chẳng
biết Phật pháp tuy là pháp xuất thế nhưng vẫn đầy đủ
hết thảy những thiện pháp thế gian. Đối với mọi sự
thuộc đạo luân thường, tu thân, tề gia cố nhiên cực lực
hoằng dương, chẳng sót mảy may điều thiện nào, gặp cha
nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng,
vợ theo, tùy theo chức phận ai nấy đều tận nghĩa, chẳng
khác với những gì thánh nhân thế gian đã nói. Nhưng thánh
nhân thế gian chỉ dạy con người tận nghĩa, tận phận, chứ
đức Phật còn chỉ dạy cặn kẽ nhân quả báo ứng của
việc tận và không tận. Tận nghĩa, tận phận chỉ có thể
dạy bậc thượng trí, chứ chẳng thể thâu nhiếp hết kẻ
hạ ngu. Nếu biết nhân quả báo ứng của việc tận và chẳng
tận thì dù là phàm ngu cũng vẫn hâm mộ thiện báo, sợ ác
quả; tuy chẳng muốn tận nghĩa, tận phận cũng phải gắng
sức tận nghĩa, tận phận! Đấy là pháp để Như Lai phổ
độ thượng trung hạ căn.
Đời
thường có kẻ cậy vào sự hiểu biết, chẳng trọng thật
tu, bảo xằng nhân quả là pháp Tiểu Thừa, chẳng biết: Như
Lai viên thành Phật đạo, chúng sanh thường đắm chìm trong
sanh tử đều chẳng ra ngoài nhân quả! Chỉ có mỗi một niệm
tâm tánh của chúng sanh tuy chẳng thuộc nhân quả, nhưng chẳng
lìa nhân quả. Muốn vượt ra ngoài nhân quả nhưng chưa viên
thành Phật đạo sẽ trọn chẳng thể được. Chưa thành Phật
mà đã vội vàng bác bỏ nhân quả sẽ vĩnh viễn đánh mất
thiện nhân thiện quả, thường tạo nhân ác, thường bị
quả ác đến tột cùng vị lai chẳng thể ngưng dứt. Chẳng
đáng buồn ư? Đời thường có kẻ chẳng biết Phật pháp,
cứ xằng bậy chê bai Phật giáo, cũng có kẻ hơi biết Phật
pháp tuy ngấm ngầm tuân theo, nhưng bề ngoài chê trách. Những
thứ hành vi ấy đều do tri kiến môn đình quá nặng, chẳng
thể thực sự cách vật trí tri, đến nỗi ý có chỗ chẳng
thành, tâm có chỗ chẳng chánh vậy. Những lời lẽ ấy đều
đủ sức làm mù lòa con mắt trí của chúng sanh, đoạn huệ
mạng của Như Lai. Bậc cổ đức thường lo cho điều ấy
nên thuận theo căn cơ đả phá, khiến cho những kẻ thốt
ra lời ấy và những kẻ lậm chất độc đó đều hiểu sâu
xa duyên do “đức Phật ta giáo hóa chúng sanh chẳng những
không trái nghịch với Nho Giáo mà trái lại còn phát minh lớn
lao Nho giáo, phụ trợ Nho Giáo đến tột lý, tột bậc!”
Gần
đây, thế đạo nhân tâm suy hãm, yếu kém đến cùng cực,
vứt bỏ pháp của tiên thánh gần như hết thuốc chữa. Phàm
là những bậc lo cho đời không ai chẳng lấy việc đề xướng
Phật học làm nhiệm vụ cấp bách, bởi lẽ Phật học chú
trọng minh tâm và nhân quả báo ứng. Nếu có thể hiểu được
bổn tâm của chính mình, chắc chắn chẳng đến nỗi hiểu
lầm nhân quả. Nếu thật sự không hiểu lầm nhân quả, chắc
chắn sẽ hiểu rõ bản tâm của chính mình. Đã hiểu rõ được
bản tâm của chính mình thì cũng sẽ nhờ đó thấu hiểu
được tâm của bậc tiên thánh Nho gia lẫn tâm của Như Lai.
Đấy chính là ý chỉ lớn lao Nho -Thích nhất quán vậy.
Cư
sĩ Hoằng Đạo xưa đã trồng cội đức, dốc lòng tin tưởng
Phật thừa, xót thương những kẻ câu nệ, hẹp hòi, thấy
biết lầm lạc, bèn thâu thập những lời cổ nhân đả phá,
quở trách những kiến giải lầm lạc, kết hợp mọi ngôn
luận của Nho - Thích, soạn thành một cuốn sách, đặt tên
là Nho Thích Nhất Quán, muốn đem ấn loát lưu thông. Do Quang
lúc ban đầu từng lậm chất độc của họ Hàn, họ Âu, làm
một gã Nhất Xiển Đề, nên bảo Quang viết lời tựa, một
là để thương mình, thương người, tự xót mình, xót người,
hai là nhờ vào nhân duyên này tiêu diệt tội lỗi báng pháp
hòng chuyên chí vãng sanh. Do vậy, chẳng nề hà kém cỏi, gắng
gượng nêu ra những gì mình biết; tuy văn từ chẳng đáng
để xem, nhưng xét về ý nghĩa lại có căn cứ. Nguyện người
thấy nghe đều cách vật trí tri hòng tự sáng tỏ minh đức,
bỏ lìa vọng tưởng, chấp trước, cùng chứng trí huệ của
Như Lai thì ý thiết tha lưu lại giáo huấn của cổ nhân,
tâm Hoằng Đạo soạn sách sâu xa nhằm diễn bày được bản
hoài rộng lớn chẳng đến nỗi uổng công. Và nhờ vào đây,
thế đạo nhân tâm được chuyển hồi cũng là điều đoán
trước được, còn may mắn gì hơn!
75.
Lời tựa sách Cận Đại Vãng Sanh Truyện
Đức
Như Lai điều ngự chúng sanh, tùy cơ thuyết pháp, tuy Quyền
- Thật - Đốn - Tiệm bất đồng, Đại - Tiểu - Thiên - Viên
khác biệt, nhưng yếu chỉ đều là làm cho chúng sanh tự chứng
Chân Như Phật Tánh sẵn có nơi bổn tâm mà thôi. Nhưng Phật
tánh ấy sẵn có ngay trong tâm này, chẳng từ ngoài đến,
chẳng do gì khác mà được, như lấy của báu sẵn có trong
nhà tùy ý sử dụng. Vì thế, chứng điều ấy là chuyện
hết sức dễ dàng! Hiềm rằng chúng sanh ở trong sanh tử đã
lâu, mê hoặc quá sâu, ví như gương báu bị bụi phủ cả
kiếp, muốn cho nó khôi phục bản thể, hiện tột cùng ánh
sáng chiếu trời soi đất, cố nhiên chẳng thể lau chùi, mài
giũa một hai ngày là có thể thành công được ngay. Như Lai
bi tâm chân thật thiết tha, biết sự khó khăn của chúng sanh
dùng tự lực để tự chứng, dù có tu trì nhưng vì phiền
hoặc chưa đoạn, hễ phải thọ sanh một lần nữa khó khỏi
lại bị mê. Từ đó, đọa lạc thì nhiều, siêu thăng ít
ỏi.
Do
vậy, đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật ngõ
hầu dù thánh hay phàm đều cùng trong đời này cậy vào Phật
từ lực vãng sanh Tây Phương. Người đã chứng thánh sẽ
mau thăng lên địa vị bậc thượng; kẻ chưa đoạn Hoặc
sẽ vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. So với những ai chỉ
cậy vào tự lực tu Giới - Định - Huệ cho đến khi liễu
sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh thì khó - dễ khác biệt
một trời một vực. Vì thế, kể từ hội Hoa Nghiêm dẫn
về, từ thuở tại Kỳ Viên diễn thuyết đến nay, ngàn kinh
vạn luận chốn chốn chỉ quy, vãng thánh tiền hiền ai nấy
đều hướng về. Đến khi pháp truyền sang Đông Chấn, Viễn
Công đại sư xướng xuất tại Lô Sơn, quần hiền đương
thời đều nhóm cả về, những người thông suốt đời sau
đều kính trọng. Từ đấy, Tăng - tục bốn chúng hoặc là
tu trọn vạn hạnh để hồi hướng, hoặc chuyên trì Phật
hiệu để cầu vãng sanh. Đến khi lâm chung, chánh niệm rỡ
ràng, hiện các tướng lành để vãng sanh, làm sao thấy hết,
biết trọn cho được? Những gì Vãng Sanh Tập, Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục ghi chép chỉ là một hai phần trong ngàn vạn
phần đó thôi.
Mấy
trăm năm qua, người tu pháp này há có hạn lượng? Huống
chi gần đây tầm mắt của bậc nhân sĩ rộng mở, hạng ngầm
tu hiển hóa thật đông đảo. Trong số ấy, những người
dùng tâm Phiền Hoặc khế hợp Như Lai trí, thoát khổ Sa Bà,
dự vào Liên Trì hải hội càng đông hơn trước, há chẳng
nên ghi chép thêm để rồi những chuyện ấy bị quên lãng
hay sao? Cư sĩ Dương Huệ Kính ở Dư Diêu riêng sưu tập những
truyện đó, đặt tên là Cận Đại Vãng Sanh Truyện. Ý ông
muốn chép lại đầy đủ những chuyện vãng sanh cho đời
sau nên những danh từ xưng hô cứ giữ nguyên văn, không sửa
chữa gì thêm, giữ nguyên vẻ mộc mạc hầu tạo sự khả
tín cho câu chuyện, chứ không bỏ công gọt giũa. Đã thâu
thập được bấy nhiêu chuyện ấy xong, muốn in khắc, lưu
truyền, xin tôi viết lời tựa.
Trộm
nghĩ: Pháp môn tu trì có hai thứ bất đồng. Nếu cậy vào
tự lực tu Giới - Định - Huệ để đoạn Hoặc chứng Chân
liễu sanh thoát tử thì gọi là “pháp môn theo đường lối
thông thường”. Nếu đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện
thiết tha, trì danh hiệu Phật để cậy vào Phật từ lực
vãng sanh Tây Phương thì gọi là “pháp môn đặc biệt”.
Đường lối thông thường thì hoàn toàn cậy tự lực, còn
đường lối đặc biệt thì tự lực lẫn Phật lực đều
có. Nếu có công tu Định - Huệ đoạn Hoặc sâu xa nhưng không
chân tín, nguyện thiết, niệm Phật cầu vãng sanh thì vẫn
thuộc về tự lực. Nay dùng thí dụ để giải thích: Đường
lối thông thường giống như vẽ núi sông, ắt phải từng
nét, từng nét một mới dần dần vẽ thành. Còn pháp môn
đặc biệt như chụp cảnh sông núi, dẫu cho mấy mươi tầng
núi non um tùm, chụp một cái liền đầy đủ. Lại nữa, đường
lối thông thường như đi đường bộ, người mạnh một ngày
bất quá đi được một trăm mười dặm; còn pháp môn đặc
biệt như cưỡi Luân Bảo của Chuyển Luân Thánh Vương trong
một ngày liền có thể đến khắp bốn đại bộ châu. Chúng
ta không có tư cách thành Phật ngay lập tức, lại không có
thật chứng đoạn được Kiến Hoặc, tùy ý chẳng tạo ác
nghiệp, mà nếu chẳng chuyên tu Tịnh nghiệp để hòng cậy
vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh thì chỉ e đến tột
cùng đời vị lai vẫn cứ phải sống chết trong tam đồ lục
đạo không cách gì thoát ra được! Chẳng đáng buồn ư? Nguyện
những người cùng hàng với tôi đều sanh chánh tín.
76.
Lời tựa cho sách Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp Tùy Văn Lục
(tục
gọi là Lương Hoàng Sám)
Tâm của chúng ta thể vốn sáng sạch. Do vô minh nên phiền
hoặc bèn sanh, trở thành tối tăm, dơ bẩn, khiến cho bản
thể sáng sạch bị ngăn lấp, chứ thật ra nó chưa hề bị
tổn giảm một mảy may nào. Muốn khôi phục cội nguồn mà
không cạn hết lòng thành, dốc hết lòng kính, cung kính đối
trước Tam Bảo sám hối nghiệp chướng thì sẽ không thể
nào đạt được! Các kinh Đại Thừa đều có những đoạn
văn dạy sám hối, tùy theo tôn trọng pháp nào sẽ soạn sám
pháp [cho kinh ấy] như Pháp Hoa, Kim Quang Minh, Tịnh Độ, Đại
Bi v.v…
Bộ
sám pháp này phô bày tường tận tội tướng (những hình
tướng của tội lỗi) là vì Lương Vũ Đế muốn cứu độ
người nguyên phối là phu nhân Hy Thị đã mắc nỗi khổ đọa
làm thân mãng xà, cũng như muốn khiến cho hết thảy đồng
nhân cùng được pháp lợi thấm nhuần, bèn đặc biệt thỉnh
ngài Chí Công và các cao tăng, tra đọc các kinh văn, soạn
thành sám pháp. Nhà vua lúc ấy cũng nâng ngọn bút sắc sảo
phát huy ý chỉ đến tột bậc. Tiếc là nhà vua chưa thông
hiểu pháp môn Tịnh Độ, nên khi sám văn soạn xong, bà Hy
Thị mang thân một vị trời trang nghiêm đẹp đẽ đến cảm
tạ. Nếu như nhà vua hiểu rõ Tịnh tông, ắt sẽ làm cho phu
nhân cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, cao dự hải
hội, lên địa vị Bất Thoái, há lẽ nào nhờ vào đại pháp
này rốt cuộc lại chỉ sanh thiên mà thôi! Những người lễ
sám đời sau đều phải nên chú ý hồi hướng vãng sanh thì
mới đạt được lợi ích rốt ráo thật sự.
Sám
pháp này lấy đại Bồ Đề tâm làm gốc, từ đấy cạn lòng
thành, tận lòng kính, ngoài thì kính mộ chư thánh, phơi bày
tội lỗi, trong thì trọng tánh linh của chính mình, cho nên
tâm chúng sanh và tâm Phật dung thông, cảm ứng đạo giao,
tiêu trừ tội cấu bao kiếp, khai phát tâm quang sẵn có. Lợi
ích ấy chẳng thể nào nói trọn! Lời văn tuy rõ ràng, giản
dị, so với những sám pháp của tông Thiên Thai chỉ chú trọng
đến Lý Quán, chẳng nêu rõ các tội tướng, thì sám pháp
này thích hợp khắp cả ba căn. Từ xưa đến nay, sám pháp
này chưa từng được giảng giải hay chú giải là vì văn
lẫn nghĩa đều rõ ràng, rộng mở, không cần phải giảng
nói hay chú giải.
Phải
biết pháp không có cạn hay sâu, chỉ cốt sao lợi người;
luật không có nghĩa lý u huyền, thế mà Đạo Tuyên luật
sư là bậc thượng căn lợi trí còn phải nghe giảng mười
lần cũng như đã soạn chú sớ vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn
tường tận, há có nên đối với riêng một pháp này lại
coi thường ư? Ngài Đế Công (pháp sư Đế Nhàn) của Quán
Tông, do thấy thời này đang nhằm thời Mạt Pháp, con người
đa số chẳng tự biết tỉnh ngộ khiến cho hành vi lẫn sở
học trái nghịch nhau, nên Ngài bèn phát tâm diễn giảng, hy
vọng con người ai nấy trọng lòng kính, giữ lòng thành, rửa
tâm gột ý, cẩn thận dè chừng nơi những gì mình chưa thấy,
kiêng sợ đối với những gì mình chưa nghe, học đi đôi
với hành, ngõ hầu đứng vững nơi không lầm lỗi mới thôi!
Ông
Phương Viễn Phàm xưa có linh căn, tuy xuất thân từ nhà giàu
có, lại khá thích thanh tu, mỗi phen được nghe diệu nghĩa
đều bèn lãnh hội được. Lần này nghe giảng bèn ghi chép
lại, lại được ba vị sư là Bảo Tịnh, Thành Nhất, Thường
Tịnh giúp đỡ biên tập thành sách. Cha mẹ ông cùng nghe giảng,
đều tận lực ghi chép cẩn thận. Có thể nói là “thấy
con liền biết được cha mẹ, chẳng phải là hạng cha mẹ
như thế sẽ không sanh được người con như thế!” Ông Phương
muốn đem in, xin tôi viết lời tựa. Tôi nghĩ trong những điều
quan trọng của việc tu hành thì Kính là bậc nhất. Ai trọng
lòng kính, giữ lòng thành thì hết thảy phàm tình không cách
nào khởi lên được, thánh trí sẵn có tự nhiên phát hiện.
Phàm hết thảy nhân - ngã, thị - phi, kiêu căng, phách lối
cũng như những tập khí lười nhác, biếng trễ, chần chừ,
uể oải đều bị tiêu trừ. Huống chi cung kính đối trước
Tam Bảo phơi bày tội lỗi ắt cái tâm hổ thẹn, kinh sợ,
ý niệm mong thành thánh thành hiền như đang đói, đang khát
[mong được ăn, được uống] sẽ nẩy sanh tràn trề. Trên
ngưỡng mộ chư thánh, dưới trọng tánh linh của chính mình,
đau đáu nghĩ mình và chư Phật có cùng tâm tánh, cớ sao các
Ngài đã viên chứng tam giác[3], ta vẫn cứ luân hồi mãi trong
lục đạo? Từ đấy, sửa đổi lỗi cũ, tu tập, bỏ mê quy
ngộ. Ví như Ma Ni bảo châu rớt trong nhà xí, liền nhặt đem
ra, gột rửa nhiều phen mong sao khôi phục sự thanh tịnh vốn
có. Đến khi đã trong sạch đến cùng cực thì treo trên tràng
cao, ắt sẽ tùy ý tuôn ra các báu. Đại sự nhân duyên ấy
nếu chẳng phát huy ý chỉ của văn hay nghĩa đến cùng cực
thì rất có thể sẽ có người chẳng được lợi ích thật
sự. Cuốn Tùy Văn Lục (sách ghi chép những lời được nghe
giảng) này đáng được lưu truyền rộng khắp.
77.
Lời tựa sách Nhân Quả Lục
Nhân quả báo ứng chính là ảnh hưởng thuận hay nghịch giữa
nhân sự và thiên lý. Vì thế, kinh Thư chép: “Dẫn đến
điều lành, hay đưa đến điều xấu đều chỉ vì ảnh hưởng”.
Người dẫu chí ngu chắc chắn cũng không vui mừng vì bị
tai họa, tránh điều lành ham điều xui, mong hết thảy những
người chung quanh gọi đích danh mình thóa mạ, bị thiên địa
quỷ thần đoạt hồn giết hại, cũng như sau khi chết đi
linh hồn bị đọa vĩnh viễn trong ba đường ác, chịu đựng
khổ sở cùng cực trải trăm ngàn kiếp không thể thoát ra!
Nhưng những gì người ta làm đa phần đều trái nghịch với
những gì họ mong mỏi là vì lẽ nào vậy? Là do cõi đời
thiếu người thông hiểu, chẳng đề xướng đạo nhân quả
báo ứng, sẵn quen thói tệ hại, chỉ biết truyền cho nhau
thói tự tư tự lợi mà nên nỗi!
Nếu
như có ai hành động thuận theo thiên lý, trong gia đình thì
trọn hết bổn phận, giao tế bên ngoài thì chú trọng làm
lợi cho người, cũng như những cử chỉ tốt lành đều phụng
hành hết, chẳng hạn như giúp người bị tai họa, cứu đói,
giúp người hoạn nạn, cứu người đang gặp nguy, kiêng giết,
phóng sanh, che chở, thương tiếc sanh mạng loài vật, ăn chay,
tụng kinh, niệm Phật ngõ hầu mình lẫn người đều được
lợi, u lẫn hiển cùng được ích thì không một ai chẳng
được gia đình tốt lành, yên tịnh, con cháu thạnh vượng,
phú quý sang cả, khiến cho người khác kính ngưỡng. Xem khắp
các truyện ký, phàm những bậc hiền triết xuất hiện, công
nghiệp tột bậc, hoặc là tâm đắc đạo được truyền bởi
chư thánh, hoặc là đức khiến cho vạn dân trọng vọng thì
đều là do đời trước có âm đức, hạnh đẹp lợi người,
lợi vật, giúp cho cả người âm, kẻ dương vậy. Nhưng đấy
chỉ là những gì mắt phàm thấy được mà thôi, chứ còn
thần thức người ấy hoặc sanh lên cung trời hoặc cao siêu
Phật quốc, phàm phu thế gian làm sao thấy hết, biết hết
cho được?
Phát
minh lý nhân quả lớn lao thật ra chỉ có mỗi kinh Phật, nhưng
kinh sách Nho giáo cũng nhiều lần nói đến. Như kinh Thư ghi
“làm thiện trăm điều lành giáng xuống, làm điều bất
thiện, trăm tai ương giáng xuống” cũng như thuyết “ngũ
phước lục cực” được nói đến trong sách Hồng Phạm,
và câu kinh Dịch “nhà tích thiện ắt điều vui có thừa,
nhà tích điều bất thiện ắt tai ương có thừa”, không
gì chẳng phải là dạy người về lý nhân quả báo ứng đó
sao! Nhưng vì nói quá giản lược, chỉ nói đến đời này
và con cháu, chưa nói tường tận chuyện luân hồi lục đạo
tam đồ trong quá khứ, hiện tại, vị lai; nếu chẳng nghiên
cứu suy nghĩ sâu xa, tường tận, ắt sẽ ngay trước mặt
lại bỏ lỡ! Thêm nữa, kẻ tục Nho thường muốn đề cao
môn đình bèn tranh đua cho khác với nhà Phật, dù có biết
đi nữa cũng chẳng chịu đề xướng, khiến cho người hiền
không có cách tận lực làm cho đời yên dân lành, mà kẻ
ngu cũng luôn ôm ấp ý niệm “mạnh ăn thịt yếu”. Do vậy,
tấn công lẫn nhau trở thành cuộc sát kiếp xưa nay chưa hề
nghe nói đến.
Người
bị giết cố nhiên biết là đáng thảm, nhưng nỗi thảm của
kẻ giết hại còn khốc liệt gấp vạn lần. Tiếc rằng người
đời chẳng biết tỏ, thấy suốt! Cái họ thấy được là
“bị người khác giết, hoặc diệt môn tuyệt tộc” chỉ
là một hai phần trong ngàn vạn phần, còn những kẻ
đang chịu khổ trong tam đồ dù có hết sạch trúc cũng khó
ghi được, chẳng đáng buồn ư? Tôi thường nói: “Nhân quả
chính là phương tiện lớn lao thánh nhân thế gian lẫn xuất
thế gian dùng để bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh”.
Dù nhằm lúc thánh giáo xương minh, nếu không đề xướng
nhân quả thì còn chẳng thể làm cho mọi kẻ ngu dân ngấm
ngầm đoạn dứt, giấu ác, người trí đều tích chứa âm
công lớn lao; huống chi đang lúc thế đạo nhân tâm suy hoại
đến cùng cực, kinh sách của thánh hiền bị vứt bỏ, luân
lý đổi thay, tà thuyết hoành hành, chìm đắm cùng cực này
ư? Những người có tâm lo cho thế đạo nghĩ muốn kéo lui
cơn sóng cuồng loạn mà chẳng dùng nhân quả báo ứng làm
phương tiện chấn động kẻ điếc, soi sáng kẻ đui thì dẫu
cho Phật, Bồ Tát, thánh hiền đều cùng xuất thế cũng không
làm gì được, huống gì những kẻ thấp kém hơn các Ngài!
Cư
sĩ Kim Xương ở Vô Tích thấy được điều này bèn chép lại
những chuyện nhân quả trong những đời gần đây và trong
đời này, ấn loát lưu truyền, mong cho ai nấy đều ôm lòng
tự lợi lợi tha, mang hạnh tự lập, lập người thì thói
quen càng chánh trực, phong tục tốt đẹp, dứt bặt nhân họa
mà quyến thuộc trời cũng thường ngự xuống. Những loài
cạnh tranh với nhau đều cùng trở thành người trong thời
Hy - Hoàng. Do vậy bèn lược thuật đại ý để cống hiến
cùng người đọc.
78.
Lời tựa cho sách Sanh Tây Kim Giám
(sau
này đổi tên thành sách Tịnh Độ Thanh Chung)
Thế giới Sa Bà dùng âm thanh làm Phật sự. Biển khổ sanh
tử, không niệm Phật chẳng thể thoát lìa! Bao nhiêu chúng
sanh mê chân đuổi theo vọng, trái giác hiệp trần, nhiều
kiếp lâu xa luân hồi sanh tử. Do vậy, động đến lòng Bi
đồng thể của đức Thích Ca Thế Tôn ta, Ngài bèn đặc biệt
mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương
để thượng trung hạ căn dù thánh hay phàm đều cùng trong
một đời này vãng sanh Tây Phương, thành tựu cho bậc đại
căn cơ mau chứng Pháp Thân, nâng đỡ kẻ căn cơ kém cỏi
mau thoát sanh tử. Những giáo pháp khác trong suốt một đời
đức Phật đều chẳng sánh bằng được! Do vậy, những bậc
cao nhân lỗi lạc ở Tây Thiên, Đông Độ không ai chẳng dùng
pháp này để tự hành, dạy người, bởi pháp này chính là
diệu môn để nhập đạo, là đường tắt để thành Phật
vậy.
Cư
sĩ Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) thâu thập những nhân duyên lập
pháp độ sanh của Phật, Bồ Tát và những sự tích niệm
Phật vãng sanh của cổ đức, tăng, ni, vua, quan, dân dã cho
đến loài vật trong các đời, lại còn sao lục những câu
nói hoằng dương Tịnh Độ thiết yếu soạn thành một cuốn
sách, đặt tên là Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Cư sĩ Liên
Quy lại soạn tiếp cuốn [Tịnh Độ Thánh Hiền] Tục Lục,
đều nhằm làm kim chỉ nam cho những kẻ mê mất quê nhà,
làm gương báu cho những ai chẳng nhận biết chính mình. Nhưng
do số quyển quá nhiều chẳng thuận tiện cho hàng sơ cơ,
nên cư sĩ Đối Phù muốn làm cho kẻ sơ cơ dễ nẩy sanh lòng
tin, do vậy bèn đối với hai bộ Chánh Lục, Tục Lục ấy,
trích yếu những sự tích rõ ràng nhất gồm hơn hai trăm chuyện,
lại viết thêm lời tán, đặt tên là Sanh Tây Kim Giám (gương
vàng sanh Tây) ngõ hầu người đọc nhìn vào gương cổ nhân
nẩy sanh lòng kính ngưỡng, ca ngợi. Ý ấy thật sâu xa.
Xưa
kia, Tử Phòng (Trương Lương) muốn phá quân Sở liền truyền
quân mình cùng hát những bài ca nước Sở, quân Sở nghe hát
đều muốn quay về. Huống chi đương lúc thiên tai nhân họa
liên tiếp xảy ra, vận nước nguy ngập dân không lẽ sống
này, lại thêm tà thuyết tung hoành, bè lũ ma lừng lẫy, tà
chánh chẳng phân, không có gì thích đáng để theo, vừa được
nghe quang cảnh thế giới Cực Lạc vượt ra ngoài kiếp, trang
nghiêm sẵn có, há chẳng muốn quay về để vui với thiên
chân của chính mình ư? Nếu người đọc hiểu thấu suốt
sự lợi - hại giữa Sa Bà và Cực Lạc, lại còn [được
nghe] ca ngợi nhiều lần thì tôi biết cái tâm cầu sanh Tây
Phương của họ sẽ như sông ngòi lúc vỡ đê, thế khôn ngăn
được vậy!
79.
Lời tựa cho đạo tràng niệm Phật quanh năm tại chùa Thê
Chân
Pháp môn Niệm Phật cao cả thay! Do một niệm tâm tánh của
chúng ta giống như hư không thường hằng bất biến. Tuy thường
chẳng biến nhưng niệm niệm tùy duyên, chẳng duyên theo Phật
giới sẽ duyên theo cửu giới, chẳng duyên theo tam thừa sẽ
duyên theo lục đạo, chẳng duyên theo nhân thiên sẽ duyên
theo tam đồ. Do duyên nhiễm - tịnh bất đồng cho nên quả
báo khổ - vui rất khác. Tuy bản thể trọn chẳng biến đổi
gì, nhưng Tướng - Dụng cố nhiên khác nhau một trời một
vực! Ví như hư không mặt trời chiếu thì sáng, mây đùn
bèn tối. Tuy bản thể của hư không chẳng do mây hay mặt
trời mà tăng - giảm, nhưng tướng hiển hiện hay ngăn lấp
cố nhiên có nói trọn năm cũng chẳng hết.
Do
vì nghĩa này, Như Lai dạy khắp các chúng sanh duyên niệm nơi
Phật. Vì thế nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm
Phật thì hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật, cách
Phật chẳng xa”. Lại nói: “Chư Phật Như Lai là thân pháp
giới vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. Do vậy,
lúc tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ, tâm này làm Phật, tâm
này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng
sanh”. Hễ duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm
này là Phật. Nếu duyên theo các giới chúng sanh thì tâm này
làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh. Hiểu điều này rồi
mà chẳng niệm Phật thì chưa bao giờ có chuyện ấy! Một
pháp Niệm Phật chính là lấy hồng danh vạn đức của Như
Lai làm duyên, mà hồng danh vạn đức ấy lại chính là vô
thượng giác đạo Như Lai đã chứng nơi quả địa! Do dùng
Quả Địa Giác ấy làm Nhân Địa Tâm nên nhân bao trùm biển
quả, quả thấu tột nguồn nhân. Như người nhiễm hương,
thân có mùi thơm; như tò vò chúc loài sâu[4], lâu ngày sẽ
thành. Thành Phật ngay trong đời này, chuyển phàm thành thánh,
công năng lực dụng ấy vượt trội hết thảy những pháp
môn khác trong cả một đời giáo hóa. Bởi lẽ hết thảy
các pháp môn khác đều cậy vào tự lực đoạn Hoặc chứng
Chân để liễu thoát sanh tử; còn pháp môn Niệm Phật thì
tự lực lẫn Phật lực hai thứ đều đầy đủ. Vì thế,
người đã đoạn được Hoặc nghiệp bèn mau chứng Pháp Thân,
người còn đầy đủ Hoặc nghiệp sẽ đới nghiệp vãng sanh.
Pháp
này cực kỳ bình thường, dẫu là ngu phu ngu phụ cũng đạt
được lợi ích, nhưng lại cực huyền diệu, dẫu là Đẳng
Giác Bồ Tát cũng chẳng vượt khỏi phạm vi pháp này. Bởi
vậy, không một ai chẳng nên tu, mà cũng không một ai chẳng
thể tu được. Hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít được
hiệu quả nhanh chóng, thật là một pháp môn đặc biệt trong
giáo pháp cả một đời của đức Như Lai, cố nhiên chẳng
thể dùng giáo lý thông thường để biện luận được. Chúng
sanh đời Mạt Pháp phước mỏng huệ cạn, chướng dầy, nghiệp
sâu nếu chẳng tu pháp này, cứ muốn cậy vào tự lực để
đoạn Hoặc chứng chân hòng liễu sanh tử thì khó khăn muôn
phần! Trụ Trì chùa Thê Chân là hòa thượng Liên Nhân thấy
được điều này nên đặc biệt lập đạo tràng niệm Phật
suốt năm tại điện Tam Thánh, nhờ tôi giãi bày ý ấy ngõ
hầu người đọc thấy nghe phát tâm. Do vậy, tôi bèn viết
đại lược như thế này.
80.
Lời tựa cho đồng tu tịnh nghiệp của Quy Tông tinh xá
Hết thảy các pháp môn được nói trong giáo pháp cả một
đời của đức Như Lai tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền
- Thật đều khác, nhưng không pháp nào chẳng nhằm làm cho
chúng sanh đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử, phô
bày trọn vẹn cái họ sẵn có, thành ngay vào Phật đạo đó
thôi! Nhưng vì chúng sanh căn cơ bất nhất, khiến cho đức
Như Lai phải tùy thuận căn cơ, lập ra đủ mọi cách thuyết
pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm. Nhưng chúng sanh luân chuyển
sanh tử bao kiếp dài lâu, Hoặc nghiệp sâu dầy ngăn lấp
diệu minh, nếu không phải là người túc căn thành thục lại
muốn ngay trong một đời này hoàn thành thì thật là hiếm
có mấy ai. Đã chẳng thể hoàn thành ngay trong một đời này
thì phải thọ sanh lần nữa, những kẻ vừa mê vừa thoái
thất trong vạn người có đến mười ngàn, những người
vừa ngộ vừa tiến trong ức người chỉ được ba bốn.
Cậy
vào tự lực tu Giới - Định - Huệ để đoạn phiền hoặc
chứng Niết Bàn khó khăn như thế đó, khiến cho bản hoài
phổ độ chúng sanh của Như Lai bị ngăn trở chẳng thể thông
suốt được, đạo làm cho chúng sanh mau thoát sanh tử bị
bế tắc không thông. Nhưng đức Như Lai đại từ ắt muốn
làm cho hết thảy chúng sanh cùng trong một đời này được
liễu thoát sanh tử siêu phàm nhập thánh nên bèn mở ra pháp
môn Tịnh Độ tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương,
bất luận thượng trung hạ căn đều được độ thoát ngay
trong đời này, dùng chính tín nguyện của mình để niệm
Phật cảm Phật từ bi nhiếp thọ, do cảm ứng đạo giao nên
đạt được lợi ích ấy. Những người đã đoạn được
phiền hoặc sẽ có thể chóng chứng được Pháp Thân, mau
thành Phật đạo. Dẫu là kẻ Hoặc nghiệp sâu dầy cũng có
thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Do vậy,
trong hội Hoa Nghiêm các bậc Đẳng Giác Bồ Tát chứng bằng
với chư Phật còn phải dùng mười đại nguyện vương dẫn
về Cực Lạc, trong Quán Kinh những tội nhân nghịch ác sắp
đọa A Tỳ địa ngục do xưng niệm hồng danh mười lượt
mà được dự vào các phẩm cuối. Độ khắp ba căn, lợi
- độn gồm thâu, hết thảy chúng sanh trong tận pháp giới
cứ hễ có tín nguyện thì không một ai chẳng được thấm
nhuần, viên đốn thẳng chóng, vượt trỗi hết thảy các
pháp môn. Chúng sanh đời Mạt muốn liễu sanh tử mà chẳng
tu pháp này, cứ tu tràn lan các pháp môn cậy vào tự lực
khác thì chỉ đạt được cái nhân đắc độ trong tương
lai, quyết khó thể đắc quả liễu thoát ngay trong đời này!
Cư
sĩ Vương Chửng Bang ở Hạ Môn túc căn sâu dầy, hạnh trong
đời này tinh thuần, tin chắc nhân quả, chuyên dốc tu Tịnh
nghiệp, muốn cho khắp mọi người đều sanh Tịnh Độ bèn
dựng tinh xá tại bên trái Thái Bình Nham ở Bổn Phụ, ngõ
hầu những người cùng chí hướng tùy theo thân phận đến
đấy niệm Phật, gieo nhân vãng sanh. Vào ngày Chủ Nhật, đặc
biệt thỉnh những người thông hiểu đến giảng diễn duyên
do pháp môn Tịnh Độ và pháp tắc tu trì cũng như mọi lợi
ích trong hiện đời và sau khi chết đi, có thể nói ông ta
là người đầy đủ tâm đại bi, có con mắt chọn lựa pháp
vậy! Ông lại gởi thư xin tôi đề biển tên [tinh xá] và
trình bày đại ý. Tôi nghĩ một pháp Tịnh Độ chính là pháp
môn thù thắng để tam thế chư Phật dưới độ chúng sanh,
để chín giới chúng sanh trên thành Phật đạo, là pháp thành
thủy thành chung[5], cao vượt hết thảy Thiền - Giáo - Luật,
thống nhiếp hết thảy Thiền - Giáo - Luật. Bởi lẽ, hết
thảy các pháp truy đến nguồn gốc ban đầu thì không pháp
nào chẳng lưu xuất từ pháp giới này, xét đến chung cục
thì không pháp nào chẳng quy hoàn pháp giới này. Do vậy, bèn
đặt tên là Quy Tông, ngụ ý: Hết thảy các pháp môn rốt
cuộc đều quy về pháp này, giống như ý nghĩa sông ngòi đều
chầu về biển cả vậy. Nghĩa này được phát minh từ chỗ
“quy tông” ở cuối kinh Hoa Nghiêm, những ai không tin được
thì xin hãy chất vấn Phổ Hiền Bồ Tát.
Lại nữa, phàm hết thảy những thiện tín tu Tịnh nghiệp
đều phải tận lực giữ vẹn luân thường, ai nấy tận sức
vâng giữ bổn phận, kiêng giết, ăn chay, thanh tâm, ít ham
muốn, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, dùng
việc làm của chính mình để hóa độ, hướng dẫn hết thảy,
trong là cha mẹ quyến thuộc, ngoài là bầu bạn xóm làng,
khiến cho hết thảy những người xung quanh đều biết “tâm
này là Phật”, cố nhiên thường học theo Phật hạnh, cùng
tu Phật từ, cùng niệm Phật danh để mong sao hết một báo
thân này vãng sanh Tây Phương, thoát luân hồi huyễn vọng,
chứng Phật tánh sẵn có mới thôi!
81.
Lời tựa trình bày duyên khởi của hội Phật Giáo Đài Loan
Phật giáo chính là cái gốc lớn lao của hết thảy các pháp,
hết thảy các giáo. Vì sao nói thế? Hết thảy các pháp do
tâm kiến lập, hết thảy phàm - thánh do tâm xuất sanh. Hết
thảy các giáo trong thế gian tuy đều nói đến tâm, nhưng
những gì được các giáo ấy nói chỉ là luận về tác dụng
của tâm, chứ cội nguồn cùng tột của bản thể “bất
biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, tâm này làm Phật, tâm
này là Phật, tâm làm tam thừa, tâm là tam thừa, tâm làm lục
đạo, tâm là lục đạo ” thì các giáo đều chưa phát huy
được! Chỉ có mình đức Thích Ca Thế Tôn ta triệt ngộ
tự tâm, biết tâm của hết thảy chúng sanh và tâm của Như
Lai không hai không khác, nhưng do mê nên chưa ngộ, oan uổng
làm chúng sanh, cho nên nói: “Hết thảy chúng sanh đều đầy
đủ trí huệ của Như Lai nhưng do vọng tưởng, chấp trước
nên chẳng chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước
thì Nhất Thiết Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”.
Lại nói: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, ta là
Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành”. Đấy đều
là những điều đức Phật nói ra khi mới vừa thành Phật
trong các hội Hoa Nghiêm, Phạm Võng. Do vì đại căn chúng sanh
mau chóng ngộ tự tâm, nhập Phật tri kiến, còn hàng tiểu
căn chưa thể nhập được ngay nên Phật thuận theo căn cơ
để thành thục cho họ. Lại muốn cho hết thảy dù thánh
hay phàm cùng trong một đời này thoát lìa sanh tử nên đặc
biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật vãng sanh Tây Phương,
khiến cho hết thảy những ai không có sức đoạn Hoặc, chẳng
thể vượt thoát ra ngoài luân hồi đều cậy vào Phật từ
lực đới nghiệp vãng sanh, cao dự chín phẩm trong hội tốt
lành, thân cận ánh sáng yên vui của Phật Di Đà, để rồi
rốt ráo chứng triệt để tự tâm mới thôi! Lòng chân từ
đại bi vỗ về, nuôi nấng kẻ căn cơ nhỏ nhoi của đức
Như Lai có thể nói là tột bậc không còn gì hơn được nữa!
Phật
pháp tuy gọi là pháp xuất thế gian, nhưng thật ra đạo luân
thường hiếu đễ thế gian và pháp “cách vật trí tri, chánh
tâm thành ý, tu - tề - trị - bình” đều được Phật pháp
phát huy đến cùng tận, chẳng bỏ sót mảy may điều thiện
nào. Vì thế, xưa nay những vị lập đại công, dựng đại
nghiệp, hạo khí ngời trời đất, tinh thành lòa nhật nguyệt,
lời lẽ, hành vi trở thành pháp tắc cho cõi đời đa phần
là do học Phật đắc lực mà ra; những người thông minh duệ
trí vượt trỗi muôn người không ai chẳng cung kính sùng phụng
Phật pháp, hộ trì, lưu thông, để về mặt ngầm là giúp
cho thế đạo, về mặt lộ là giữ yên dân tình, hòng đạt
được hiệu quả thật sự là làm cho dân chúng ngày càng
hướng thiện mà chẳng biết. Những nhà Nho câu nệ, hẹp
hòi, không có được con mắt trí như vậy thường chỉ trích
bừa bãi, bảo Phật pháp khinh miệt luân lý, vô ích cho quốc
gia. Bọn họ chấp nhặt chuyện bỏ tục xuất gia, chẳng biết
Phật giáo dạy người tận lực giữ vẹn luân thường, tận
hết bổn phận, trọng lòng kính, giữ lòng thành, khắc kỷ,
giữ lễ, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành,
kiêng giết, che chở sanh vật, tín nguyện niệm Phật ngõ hầu
lúc sống dự vào dòng thánh, khi chết về cõi Cực Lạc. Khắp
trọn thế gian hết thảy kẻ phú quý, bần tiện, trí, ngu,
hiền, tệ, già, trẻ, trai, gái, không ai chẳng thể nương
theo pháp này tu tập, há phải đâu chỉ có mình người xuất
gia mới làm được ư?
Nếu
như hết thảy mọi người thật sự nương theo pháp này tu
tập thì gần là hưởng niềm vui thoát khỏi tam giới, xa là
chứng quả phước huệ nhị nghiêm. Phải biết do Như Lai phát
minh lý “tâm sẵn có Phật tánh” và sự “nhân quả ba đời”
nên đã khiến cho không biết bao nhiêu kẻ ngu phu ngu phụ trở
thành thánh hiền, khiến cho không biết bao nhiêu kẻ đại
ác ngoan bướng, hung hãn dứt bỏ lòng ác ngầm. Do vậy, thực
hành Phật pháp thì thiên địa quỷ thần thảy đều hiện
điềm lành, huống chi là con người? Nhưng một pháp xuất
gia cũng chẳng phải là khinh miệt luân thường! Bởi lẽ những
người ấy được cha mẹ cho xuất gia, tu tinh ròng phạm hạnh,
dùng công đức tu trì của chính mình để hồi hướng cho
cha mẹ, mong sao thần thức cha mẹ thoát khỏi tam giới ngự
lên chín phẩm, ngộ Vô Sanh, chứng bản tánh. So với những
kẻ hiếu dưỡng, nhưng để cha mẹ luân hồi trong tam đồ
lục đạo bao kiếp dài lâu không nơi nương tựa, chẳng tốt
hơn lắm hay sao?
Huống
chi Phật dạy đệ tử coi hết thảy chúng sanh đều là cha
mẹ thân thuộc trong quá khứ, dùng tâm từ bi hành hạnh phóng
sanh. Chẳng những đối với cha mẹ trong đời này không nỡ
lòng coi thường gạt qua một bên, mà còn đối với hết thảy
những sanh vật sống trên đất, dưới nước, bay trên không
cũng chẳng nỡ coi thường bỏ qua. Dù cho sức chẳng thể
lo hết, vẫn dùng bi tâm thiện niệm để vì họ niệm Phật,
mong cho họ mau thoát khỏi ác đạo, mau sanh về Tây Phương
mới thôi! Do vậy nói rằng: “Nếu con người hành theo Phật
pháp sẽ thắng tàn bạo, bỏ giết chóc, thế đạo thái bình
vậy!” Hơn mấy mươi năm gần đây, sát kiếp trọn khắp
trong ngoài nước, do khí ác ấy chiêu cảm thiên tai, lụt lội,
hạn hán, bão tố, động đất liên tiếp giáng xuống, vận
đời nguy ngập, dân không lẽ sống. Những vị lo cho đời
nghĩ cách cứu vãn, bèn lấy việc đề xướng Phật học làm
nhiệm vụ cấp bách. Nếu con người biết được nhân quả
ba đời, sự thật luân hồi lục đạo và diệu đạo “nhất
niệm tâm tánh của chúng ta chẳng khác với chư Phật” thì
có ai chịu dùng cái vốn “tâm này làm Phật, tâm này là
Phật” để tạo nghiệp sanh tử, vĩnh viễn đọa trong ác
đạo hay chăng?
Đại
sư Thắng Chiếu ở Đài Loan thương cho đời nhiều kẻ không
biết, thề muốn lợi khắp đồng nhân nên tính lập hội
Phật giáo để đề xướng, giảng thuyết khiến cho đại
chúng đều biết. Thoạt đầu, nhờ vào sự tu trì của hội
làm gương mẫu để mong sao phong thái ấy được lưu hành
khắp cõi, khiến cho nhà nhà Quán Thế Âm, chốn chốn Di Đà
Phật. Lại còn lưu thông những kinh điển được in khắc
từ các nơi, khiến cho những ai có tín tâm hiểu được văn
nghĩa đều thọ trì, đọc tụng, hòng tận lực thực hành
luân thường, trọn hết bổn phận, trọng lòng kính, giữ
lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ, không làm các điều ác, vâng
làm các điều thiện, kiêng giết, che chở loài vật, tín nguyện
niệm Phật để mong sao sống dự vào dòng thánh, mất về
cõi Cực Lạc. Lợi ích ấy chẳng thể diễn tả được. Sư
biết Quang là người có cùng chí hướng, bèn gởi thư nhờ
viết lời tựa, nên tôi bèn diễn giải Phật giáo là đại
pháp lợi khắp hết thảy hữu tình vậy!
82.
Lời tựa Phát Ẩn[6] cho Ngô Tùng Phật Giáo Cư Sĩ Lâm
Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không,
không gì lớn lao chẳng bao gồm, không gì nhỏ nhặt chẳng
nêu lên, vốn tạo dựng từ nơi nhất tâm, tùy cơ nghi mà
thuyết pháp. Tuy gọi là pháp thế gian nhưng thật ra trọn
đủ hết thảy thiện pháp thế gian. Tuy chẳng bỏ sót mảy
may điều thiện nào, nhưng lại chẳng chấp vào một pháp
(“Chẳng chấp” là chẳng cho đó là đức, chẳng tự mãn.
Nếu hiểu lầm chẳng thật hành là “chẳng chấp” thì lầm
to mất rồi!) Chỉ vì không chấp trước nên hành đến rốt
ráo. Xưa nay, những ai hạnh tốt đẹp hơn người đa phần
đều là do học Phật đắc lực mà ra. Do vậy, từ ngay nơi
cái tâm phàm phu bèn khế hợp Như Lai Tạng, đối với mỗi
một pháp thảy đều thông đạt đến cùng tột cội nguồn,
tuy là lý u huyền sâu thẳm đến tột cùng, nhưng tùy theo
căn cơ lớn nhỏ đều có thể nhập được, trọn khắp thế
gian không một ai chẳng đáng tu, mà cũng không một ai chẳng
thể tu được! Bởi lẽ con người có cùng một tâm này, tâm
cùng một lý này vậy! Phải biết vô lượng pháp môn đều
phải dùng tự lực đoạn Hoặc chứng chân mới thoát sanh
tử được; tìm lấy một pháp nhiếp thọ chúng sanh phổ biến
nhất, cứu vớt nhanh chóng không ngằn mé, ba căn thượng trung
hạ đều cùng tu, chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối, Thỉ
Giác, Bổn Giác chẳng hai, chẳng đoạn phiền hoặc, chẳng
phải qua đời khác mà liễu sanh thoát tử ngay trong đời này
siêu phàm nhập thánh thì chỉ có mình pháp môn Tịnh Độ
là được như vậy.
Do
vậy, bậc thượng căn như Văn Thù, Phổ Hiền, hạ căn như
phường Ngũ Nghịch, Thập Ác đều là những căn cơ được
nhiếp thọ bởi pháp môn Tịnh Độ. Do pháp này thật giản
dị, thật dễ dàng, thật nhanh chóng, thật viên mãn, nên nó
giống như đại địa chở khắp muôn vật, như biển cả dung
nạp các dòng nước. Phàm những ai học Phật tu Tịnh nghiệp
đều phải tận lực giữ vẹn luân thường, tận hết bổn
phận, cha từ con hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng
vợ theo, chủ nhân từ, tớ trung thành, chỉ cốt sao chẳng
thẹn với thiên chức thì mới tạo lập được cơ sở để
học Phật. Tiến hơn bước nữa thì cung kính thọ Tam Quy,
kính cẩn tu Thập Thiện, đừng làm các điều ác, vâng làm
các điều thiện (Chuyện “đừng làm” và “vâng làm”
phải căn cứ nơi khởi tâm động niệm mà luận, nếu chỉ
luận trên mặt sự tướng thì là tự dối mình, lừa người
vậy), kiêng giết, che chở loài vật, thương tiếc mạng sống
loài vật, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Người
như thế là của báu trong thế gian, sống được nổi tiếng,
chết về cõi Phật.
Lại
phải biết dùng những chuyện ấy cảm hóa từ thân đến
sơ, từ gần đến xa, khiến cho hết thảy cùng thành thiện
nhân, tu chân ngay trong cõi tục, sống trong cõi trần đảm
nhận việc nước, cảm hóa những mối tàn bạo đã phát sanh,
tiêu trừ họa loạn khi còn chưa chớm. Do vậy, phong tục thuần
mỹ, nhân tâm chẳng biến đổi, tai tiêu phước thạnh, quyến
thuộc trời thường đến, công đức ấy chẳng thể diễn
tả được! Nếu chỉ lăm lăm trộm lấy cái danh học Phật,
chẳng chuyên chú học Phật thật sự, sẽ trở thành tội
nhân đối với Phật pháp, chẳng những cái hư danh chẳng
thể đạt được mà còn sẽ bị tai họa thật sự xảy đến
về sau. Ví như trẻ nhỏ vô tri, đem Ma Ni Bảo Châu trị giá
tam thiên đại thiên thế giới đổi lấy một miếng đường
để ăn. Đường chẳng thể no bụng, lại còn bị mất chỗ
nương cậy cho cả một đời, muốn chẳng chết vì đói lạnh
há có được ư? Các cư sĩ ở Ngô Tùng mở ra Phật Giáo Cư
Sĩ Lâm muốn cho hết thảy đồng nhân dốc chí tu trì, ngõ
hầu ai nấy đạt được lợi ích thật sự, xin Quang viết
mấy lời cảnh sách. Nhân đấy bèn trình bày đại ý. Xem
đó thì biết Phật pháp là gốc của các pháp thế gian. Những
kẻ câu nệ hẹp hòi kia do không có con mắt trí nên chẳng
thể thấy thấu suốt, bèn nói Phật pháp diệt luân lý, vô
ích cho con người, quốc gia, có khác gì kẻ mù từ lúc lọt
lòng được hưởng ân che chở, chiếu soi của bầu trời và
mặt trời nên được thành người, nhưng vì chẳng thấy bèn
bảo là không có, chẳng đáng buồn ư?
83.
Lời tựa cho Phật Hóa Tùy San
Phật pháp là cội nguồn của hết thảy các pháp thế gian
và xuất thế gian. Vì thế đạo ấy không gì lớn lao chẳng
bao gồm, không gì nhỏ nhặt chẳng nêu. Lời lẽ rộng lớn
dẫu cạn hết biển mực cũng chẳng thể viết hết được.
Lời lẽ nhà Phật tinh vi, dẫu kiếm lấy một chữ cũng không
thể được. Phàm là đạo “hiếu - đễ - trung - tín - lễ
- nghĩa - liêm - sỉ”, pháp “cách vật trí tri, chánh tâm
thành ý, tu - tề - trị - bình”, không gì chẳng chỉ dạy
tường tận không sót, chứ không phải chỉ nói về nhân quả
ba đời, nêu rõ thiện ác báo ứng, xiển phát Phật tánh sẵn
có nơi tâm, sự lý đoạn Hoặc chứng chân mà thôi! Ấy là
vì hết thảy các pháp đều vốn ở nơi tâm, chỉ cần thấy
thấu suốt tự tâm bèn có thể kiến lập các pháp. Hễ biết
được chỗ chỉ quy thì dẫu là phàm phu cũng đều có thể
làm được, đạt được. Xét đến cái đạo cùng cực thì
dẫu là thánh nhân vẫn có điều không biết. Do vậy, những
bậc thông minh duệ trí, những bậc cao nhân vượt trỗi mọi
người thời cổ, không ai chẳng hộ trì, lưu thông, ngầm
tu hiển hóa còn e chưa xuể nữa là!
Xét
từ thời Đông Hán, Phật pháp được truyền sang Chấn Đán,
tìm lấy bậc cao nhân kiệt xuất, đại hưng pháp đạo thì
xứ Tần (Thiểm Tây) chúng ta là nhất. Do Phật pháp đại
hưng khởi đầu từ đời Tấn, đương thời Phù Tần, Diêu
Tần[7] đều đóng đô tại Trường An[8], và ngài Đạo An
đến đất Tần, ngài La Thập vào trong ải[9], phàm những
vị kiến giải siêu việt trong hàng Tăng - tục, kiến thức
xuất chúng đều quay về thờ hai vị ấy làm thầy. Đến
thời Tùy - Đường vẫn đóng đô tại đây. Do vậy, hoằng
tuyên pháp đạo vượt trội cổ kim. Vào thời Đường, các
tông đều có đủ bởi quốc gia hết sức tôn sùng; do vậy,
thủ lãnh các tông đa phần ngụ tại kinh đô, để sở học,
sở đắc của mình về mặt ngầm giúp cho việc bình trị,
về mặt nổi là giữ yên dân tình, sự thạnh hành của pháp
đạo [tại Trường An] xứ khác làm sao sánh bằng cho được!
Về
sau, tuy kinh đô được dời sang xứ khác, nhưng những vị
hoằng Tông diễn Giáo, ngầm tu thầm chứng vẫn đời đời
chẳng thiếu người. Đến cuối đời Thanh, sau cơn loạn giặc
tóc dài, giặc Hồi, nhân dân khốn khó, đạo này bị gác
lại không ai hỏi đến, nhưng mạch dây vẫn chưa đứt. Mười
mấy năm gần đây, thế đạo nhân tâm đã hoại loạn đến
cùng cực, nhưng loạn đến cùng cực ắt phải nghĩ đến
bình trị, vận bỉ đến cùng cực ắt phải nghĩ đến lúc
thái, phàm những người thấy biết thông suốt không ai chẳng
dùng việc phô rõ nhân quả, chỉ bày báo ứng, chỉ thẳng
nguồn tâm, phát minh tánh thể của Phật pháp làm đạo trọng
yếu để vãn hồi thế đạo nhân tâm. Do vậy, dù Tăng hay
tục đều đua nhau đề xướng tu trì ngõ hầu mình lẫn người
cùng thoát mê đồ, sanh lên bờ Giác. Do vậy, đôn đốc luân
thường, tinh tu Tịnh nghiệp, sống dự vào dòng thánh, thác
về cõi Cực Lạc.
Do
vậy, hội Phật Giáo ở Trường An tưng bừng thành lập, những
người cùng tỉnh đã sống nơi xứ khác, nếu chẳng viết
thư báo ắt chẳng thể diễn đạt hết ý được. Vì thế,
những chuyện được thấy được nghe, những lý được thấu
hiểu, được lãnh hội, những phương pháp ngầm tu thầm chứng,
những giáo huấn cách ngôn, lời luận bàn hay đẹp, những
nghiên cứu bàn luận giữa bạn bè, những gì phát huy được
soi sáng bởi trí huệ, đều chia môn phân loại, chép thành
Tùy San. Đây - kia xem xét, bổ trợ lẫn nhau, cốt sao chánh
trí được khai phát bởi các lời bàn luận, do giúp lẫn nhau
lệ trạch[10] sẽ cùng được tươi tốt rộng khắp. Sẽ thấy
do biết nhân quả nên vĩnh viễn dứt được ác tâm “mạnh
ăn thịt yếu”, tận tâm giữ vẹn luân thường, cùng ôm
ấp thiện niệm thương dân yêu vật, trừ giết chóc, thắng
hung tàn, trở về thời đại đồng, phong tục thuần mỹ,
cùng làm người trong thời Hy - Hoàng. Lợi ích ấy há thể
diễn tả được ư?
Do
vậy, bèn chúc rằng: “Như Lai đại pháp là nguồn các pháp,
hết thảy các pháp không gì chẳng bao hàm. Giữ vẹn luân
thường đến tột bực, phát huy không sót; sự lý nhân quả
thích hợp cơ nghi. Tần Xuyên xưa kia hiệu là Pháp Quật (hang
pháp), Hiền, Từ[11], Mật, Luật đều bắt nguồn từ đây.
Thiện Đạo, Pháp Chiếu xiển dương Liên Tông, khiến cho khắp
phàm phu cùng thoát lồng rọ. Chúng sanh đời Mạt đoạn Hoặc
không dễ, chỉ mình pháp này thật đáng nương tựa. Từ Tấn
đến Đường, hơn năm trăm năm, pháp đạo Chấn Đán không
đâu hơn được! Từ đấy về sau, đời nào cũng có những
bậc cao nhân ngầm tu mật chứng, phần nhiều ẩn mình. Bầu
trời chân tánh lý đã già dặn, nhiếp thọ liên trì, trung
hưng Tịnh Độ, quả thật bắt nguồn từ đây. Nếu đức
không cùng tột, ai chịu khuất phục? Tiếc cho dấu thơm cổ
đức đã bị mất nhiều! Đến cuối đời Thanh, chiến tranh
liên miên, nhân dân tan tác, truyền hoằng gần tiêu. Gần đây
bậc thông nhân tầm mắt rộng mở, biết nếu không dùng Phật
pháp sẽ không cách gì vãn hồi tai kiếp. Do vậy, Tăng - tục
tụ tập những người đồng chí tùy cơ đề xướng, dựng
lập cờ pháp muốn cho khắp tất cả được hưởng pháp lợi,
đề xuất Tùy San, lệ trạch tạo ích lợi lẫn nhau, mong ngộ
được tánh thiên (bầu trời chân tánh). Phật do tâm tác,
đạo do người hoằng, nếu cạn lòng thành đến mức cùng
cực, gió thổi cỏ rạp. Quang tuy tầm thường, kém cỏi cũng
biểu lộ đồng tình, chẳng nề ngu tối làm người rao đường.
Nguyện những người đồng hành với tôi đều tu tịnh hạnh,
ngõ hầu siêu phàm nhập thánh ngay trong đời này”.
84.
Lời tựa duyên khởi cho Đôn Bản Học Hiệu ở Phật Xuyên
Nho - Thích hai giáo về mặt hình tướng tợ hồ khác nhau,
nhưng vốn cùng một gốc. Có kẻ chấp vào hình tướng mê
mất cái gốc thường bài xích Phật pháp, cho là diệt luân
lý, gây rối chánh trị nước nhà, vô ích cho xã hội, có
hại cho dân sanh. Đức Như Lai gọi những kẻ thế trí biện
thông biện luận mù quáng như thế là “kẻ đáng thương
xót”, chẳng biết Phật pháp có đủ pháp thế gian lẫn xuất
thế gian. Nếu luận trên pháp thế gian thì đạo “hiếu -
đễ - trung - tín - lễ - nghĩa - liêm - sỉ”, pháp “cách
vật trí tri, chánh tâm thành ý, tu - tề - trị - bình” của
Nho Giáo trong các kinh Đại Tiểu Thừa không gì Như Lai chẳng
nói trọn! Nhưng thánh nhân thế gian chỉ căn cứ trên đời
này, chỉ dạy con người tận nghĩa, tận phận, còn Phật
nói đủ quá khứ - hiện tại - vị lai ba đời, và dạy rõ
thiện báo của việc tận phận, ác báo của việc chẳng tận
phận. Người thượng căn chỉ nghe được chuyện tận nghĩa,
tận phận bèn dốc trọn thân gánh vác, còn hạng trung hạ
căn ngoài mặt kính phụng nhưng trong lòng ngầm trái nghịch
nên không cách gì đối trị được. Nếu nghe đến nhân quả
ba đời sẽ biết tận phận thì được thiện báo, chẳng
tận phận mắc ác báo, dẫu là kẻ ngu độn chắc chắn cũng
chẳng vui mừng vì bị tai họa, mang ý niệm tìm chuyện xui,
tránh chuyện hên. Do biết tam thế thiện ác báo ứng, dù chẳng
muốn tận nghĩa, tận phận, nhưng vì mong mỏi thiện báo,
sợ ác báo nên cũng sẽ gắng sức tận nghĩa, tận phận.
Đấy
chỉ là luận trên sự việc nông cạn, gần gũi nhất thì
đã có thể biến kẻ ngu độn thành người lương thiện,
chuyển thói tục ác nghiệt thành thuần phong, huống hồ những
lợi ích sâu xa thì bọn phàm phu thế gian kia làm sao có thể
thấy hết, biết trọn cho được! Chỉ luận về Hiếu thì
đã trọn khắp lục đạo cho đến tột cùng đời vị lai.
Do vậy, các kinh Phạm Võng, Lăng Nghiêm… đều dạy phát sanh
tâm hiếu thuận, tâm từ bi, kiêng giết, phóng sanh, bởi lẽ
hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham thành Phật,
đều trong vô lượng kiếp đến nay luân hồi sáu nẻo, ai
nấy lần lượt làm cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè của nhau.
Nói nghĩ đến đây, lẽ ra phải giúp cho họ được yên vui,
nỡ nào nhằm thỏa ham muốn của bụng miệng mà tàn hại
cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai ư? Huống chi đã tạo sát
nghiệp ắt mắc phải sát báo, ai chịu thỏa nỗi ham muốn
tạm thời của miệng bụng để rồi trong vị lai thường
bị mỗi một chúng sanh từng bị ta giết hại ăn thịt sẽ
giết ăn thịt trở lại chính mình ư? Huống chi binh đao đại
kiếp trong thời gần đây thảm thương chẳng nỡ nói, nguyên
nhân đều là do sát sanh ăn thịt mà ra. Nếu ai nấy đều
y theo Phật pháp, kiêng giết, giữ gìn sanh mạng loài vật,
ăn chay, niệm Phật, chẳng gây nhân giết chóc thì tự mình
không có quả giết chóc, khó gì chẳng thắng được bạo
tàn, trừ khử giết chóc, trở thành yên ổn rất mực ư?
Xét ra, thế đạo có thái bình thì cha mẹ, anh em, vợ con,
bạn bè ai nấy mới được vui sướng, ai nấy tận nghĩa tận
phận không hối tiếc gì thì mới là hợp với tâm hiếu thuận
đức Phật đã nói, ý chỉ cốt lõi từ bi. Do vậy, nói: “Đức
Phật dạy đạo hiếu vừa lớn lao vừa sâu xa!”
Chân
Đạt đại sư sanh trong nhà họ Hồ ở Phật Xuyên, tuổi nhược
quan (20 tuổi) liền ngộ cõi đời chẳng thường, bèn xuất
gia nơi Tam Thánh Đường ở Phổ Đà, tinh tu Tịnh nghiệp,
mong sanh về Liên Bang. Mấy mươi năm qua, cha mẹ, anh em đều
tạ thế cả, không người cúng giỗ. Do lòng hiếu thuận,
lại nghĩ đến con em những nhà đói rét, nghèo hèn ở nơi
ấy không đủ sức đi học, bèn đem tiền y bát hơn bảy ngàn
đồng giao cho người nhiệt tâm công ích trong họ, lập ra
một trường học nhỏ mang tên Đôn Bản để con em nơi ấy
đều được đi học. Chương trình học chú trọng những chuyện
như tận lực thực hành hiếu đễ v.v… Những sách dùng để
học chú trọng vào Ngũ Kinh, Tứ Thư v.v… kèm thêm vài phần
của cách học mới, ngõ hầu giữ vẹn cái gốc trọng đạo
mà chẳng vướng khuyết điểm không hợp thời, chẳng thích
ứng vậy. Người trong họ cảm nghĩa ấy, đem các thần chủ[12]
cha mẹ, anh em… của Sư thờ cúng trong nhà trường. Nếu trường
ấy chẳng bị phế bỏ thì sẽ thờ phụng mãi. So với những
người có con cháu nhưng là hạng bất tiếu, khiến cha mẹ
nhục lây, hoặc giữa chừng bỏ lửng không cúng giỗ thì
cha mẹ, anh em v.v… của Sư vinh diệu hơn nhiều lắm.
Lại
do đất Phật Xuyên vốn nằm trên trục lộ giao thông, thường
có người đi đường bị chết không có quan tài khâm liệm,
Sư bèn bỏ ra riêng một ngàn đồng giao cho người quản trị
nhà trường đầu tư kiếm lời, dùng tiền lời ấy làm chi
phí mua gỗ đóng hòm, chôn cất. Người trong địa phương
nghèo không mua nổi quan tài cũng thí cho. Ôi! Tốt lành thay!
Cao quý thay! Tâm của sư Chân Đạt có thể nói là bình đẳng
công bình hết mực, trọn không có ý tự tư tự lợi, khiến
người trong họ cảm kích, thờ phụng cha mẹ Sư dài lâu,
những người chỉ mưu toan cho con cháu có được lợi ích
như vậy hay chăng?
Quang
muốn cho người trong họ Sư đều được lợi ích thật sự
nên chẳng ngại trình bày đại lược nỗi lòng ngu muội,
trộm cho rằng sư Chân Đạt xuất gia học Phật đem tiền
y bát dư ra để làm chuyện công ích cho người quê mình thì
người cùng quê cũng phải ngửa noi theo dấu thơm ấy, ai nấy
tu Tịnh nghiệp. Gian chính giữa nhà trường nên thờ tượng
Tây Phương Tam Thánh. Mọi người quản trị, giáo viên, học
sinh trong trường đều nên sáng chiều lễ kính để cầu nghiệp
tiêu trí rạng, chướng tận, phước cao thì mới là lợi ích
rốt ráo. Trong trường cố nhiên nên đoạn dứt vĩnh viễn
những thứ tanh tưởi mới chẳng phụ ân nghĩa của vị Tăng
dùng tiền thập phương tín thí để lập học hiệu. Nếu
không, chẳng những không hợp với bổn tâm của sư Chân Đạt
mà cũng chẳng phải là giữ vẹn cái gốc, tự yêu lấy mình,
khiến cho chính mình cùng các học trò hằng ngày được un
đúc trong Phật pháp mà hoàn toàn chẳng được lợi ích thật
sự gì! Chẳng tiếc lắm ư?
Phải
biết Phật pháp chính là gốc của hết thảy các pháp, mà
trong Phật pháp một pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ lại
là pháp môn vô thượng chí viên chí đốn, đơn giản nhất,
dễ dàng nhất, độ khắp ba căn, lợi - độn đều thâu, thành
thủy, thành chung, là pháp hết thảy mọi người đều nên
tu tập, huống gì nhà trường này ư? Chớ nói Tăng bỏ tiền
lập trường nên ép người ta học Phật. Đấy chính là tâm
hiếu thuận, tâm từ bi muốn cho hết thảy mọi người trong
trường này đều liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh,
làm đệ tử Phật Di Đà, chứng Phật tánh sẵn có mà thôi!
Chẳng thấy hiện thời những người bác học đa văn tri kiến
sâu xa quá nửa đều nghiên cứu tu trì pháp môn Niệm Phật
đó ư? Nếu sống trong nhà trường này mà chẳng tu trì thì
thành ra là gánh gai bỏ vàng, đến núi báu trở về tay không,
chẳng đáng tiếc ư?
85.
Lời tụng và lời tựa bức tranh ngàn vị Phật
Tâm như thợ vẽ khéo, vẽ được các thế gian. Phật là chánh
giác thế gian, còn Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người,
Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục là hữu tình thế gian,
còn gọi là “mười pháp giới”. Mười pháp giới này tuy
là thánh - phàm khác biệt, khổ - vui sai khác vời vợi, nhưng
Chân Như Phật Tánh sẵn có đều hệt như nhau, chỉ do dụng
tâm khác biệt nên mới có mười thứ tướng biến hiện ấy.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật dạy: “Tâm này làm Phật, tâm
này là Phật”. “Làm Phật” là quán tưởng tượng Phật,
ức niệm Phật đức cũng như Phật hiệu, “là Phật” nghĩa
là lúc quán tưởng, ức niệm, tướng hảo trang nghiêm, phước
đức, trí huệ, thần thông, đạo lực của Phật đều hiện
trong cái tâm quán tưởng, ức niệm ấy như gương soi hình,
giống hệt nhau không hai.
Như
vậy, nếu tâm chẳng làm Phật thì tâm chẳng phải là Phật;
tâm làm tam thừa thì tâm là tam thừa; tâm làm lục đạo thì
tâm là lục đạo. Bản thể của tâm giống như một tờ giấy
trắng, tác dụng thiện ác nhân quả của tâm giống như vẽ
Phật hay vẽ địa ngục, đều do tâm hiện. Bản thể tuy đồng,
nhưng tạo tác thật khác. Vì thế nói: “Chỉ là thánh mất
niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được ý niệm bèn thành
thánh”, chúng ta chẳng thận trọng nơi những gì mình nghĩ,
mình làm ư? Cư sĩ Châu Hiểu Nhai xưa có linh căn, sanh ra liền
ăn chay, khéo vẽ người vẽ vật, bút pháp xuất thần, muốn
khiến cho diệu tướng vạn đức trang nghiêm của Như Lai in
vào tám thức điền của hết thảy chúng sanh để nhờ đó
thiện căn được tăng trưởng, mở rộng dần cho đến khi
thật sự chứng, hòng khỏi phụ Chân Như Phật tánh ai nấy
sẵn có và tâm Như Lai đại từ bi nhiều cách dẫn dắt. Vì
thế, ông ta kính cẩn vẽ một ngàn vị Phật cho in thạch
bản lưu thông, xin Quang viết lời tựa để nêu bày nguyên
do. Do vậy, tôi bèn phát huy đại lược ý nghĩa “tâm làm,
tâm là” mong những ai thấy nghe đều biết được những
gì nên lấy nên bỏ để dốc sức. Tụng rằng:
Phật
do tâm làm,
Ngục
do tâm tạo,
Lực
dụng của tâm,
Thắng
diệu bậc nhất.
Đã
làm được Phật,
Sao
tạo địa ngục?
Do
mê hướng về,
Chứa
nhân ác họa!
Cư
sĩ Hiểu Nhai,
Kính
vẽ ngàn Phật,
Để
chỉ pháp yếu.
Khiến
người thấy nghe,
Đều
sanh kính ngưỡng,
Kiệt
thành tận kính,
Lễ
cúng quán tưởng,
Đã
thấy thánh tượng,
In
vào thức điền,
Do
thiện căn này,
Ắt
chứng nguồn tâm,
Đem
in thạch ấn,
Để
rộng lưu truyền,
Giãi
bày nguyên do
Biểu
thị chút lòng
86.
Lời tựa sách Phật Pháp Yếu Luận
Chúng sanh hôn mê điên đảo, phiền hoặc quá đỗi, chẳng
thể tự ngộ! Trái nghịch trí huệ Như Lai sẵn có, đuổi
theo căn trần huyễn hiện. Đối với họa sắc thanh, của
cải, lợi lộc giống như hoa đốm trên không[13], huyễn ảnh,
khởi tâm tham - sân - si, yêu - ghét, chấp trước. Tâm đã
khởi tham - sân - si thì thân bèn tạo giết - trộm - dâm, từ
đấy trải kiếp dài lâu báo phục lẫn nhau, từ khổ vào
khổ, không hề ngừng nghỉ. Nếu như tự tu giới thiện thiền
định, được sanh trong đường lành trời - người, nhưng
Hoặc nghiệp chưa đoạn, phước hết lại bị đọa lạc,
luân hồi sáu nẻo trọn chẳng có lúc nào hết! Được thân
người như ở trọ, đọa trong tam đồ như ở quê nhà. Như
vậy thì chẳng những tam đồ đáng sợ, mà nhân thiên cũng
đáng sợ!
Do
vậy, đức Đại Giác Thế Tôn riêng rủ lòng xót thương,
thị hiện sanh trong thế gian thành Đẳng Chánh Giác, tùy thuận
chúng sanh nói đủ mọi pháp. Với hàng đại căn bèn nói thẳng
lý “nhất tâm tạo đủ” khiến họ đích thân chứng ngộ,
với tiểu căn bèn dạy rõ chuyện tam thế nhân quả khiến
họ tu trì dần dần. Đã biết lý này, sự này, ai chịu ôm
châu làm kẻ ăn mày, cầu vui lại bị khổ; mà sẽ trái trần,
hiệp giác, bỏ mê theo ngộ để mong khôi phục thiên chân
Phật tánh sẵn có mới thôi! Tuy nhiên, phiền não sâu dầy
chẳng dễ tiêu trừ, nếu không phải là thiện căn nhiều
kiếp chín muồi, thật khó thể siêu thoát ra ngoài luân hồi
ngay trong đời này!
Vì
vậy, đức Thế Tôn ta do lòng đại từ bi, đặc biệt mở
ra pháp môn Tịnh Độ cậy vào Phật từ lực đới nghiệp
vãng sanh, để thượng thánh hạ phàm cùng được vãng sanh
Tây Phương ngay trong đời này, quả là đạo trọng yếu vỗ
về, nuôi nấng, chở che, mà cũng là diệu pháp để mau chứng
Bồ Đề vậy! Bởi lẽ, hết thảy chư Phật không có pháp
này sẽ chẳng thể viên mãn Bồ Đề, hết thảy chúng sanh
nếu không có pháp này sẽ chẳng thể thoát ngay được sanh
tử. Hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít hiệu quả nhanh.
Do dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm nên nhân trùm biển
quả, quả thấu nguồn nhân. Gần đây thế đạo nhân tâm
suy hoại đến cùng cực, phế kinh, phế luận, đua nhau lập
tân pháp, lầm nhân mê quả, mặc sức làm xằng. Do vậy, thiên
tai nhân họa liên tiếp giáng xuống, giặc cướp tung hoành,
dân không lẽ sống, người lo cho đời đau buồn hết mực.
Cư
sĩ Đạt Am Phùng Bảo Anh xưa đã trồng cội đức, dốc sức
tin tưởng Phật thừa, triệt ngộ tự tâm, thâm nhập Kinh
Tạng, thương xót những kẻ ấy mê muội bổn tâm, bèn soạn
Phật Pháp Yếu Luận cứu đời, phát huy mọi lẽ khế lý,
khế cơ, khiến cho họ biết được tâm ta sẵn có Phật tánh,
nhưng bị Hoặc nghiệp huyễn vọng khởi lên ngăn lấp. Do
vậy, chịu sống chịu chết trong tam đồ lục đạo đến
nỗi thân hình xấu hèn, thần thức tối tăm, thọ dụng khốn
khổ gian nan, bị nguy hiểm bức bách. Ví như đặt hình tướng
xấu hèn trước tấm gương sáng, quyết chẳng thể có được
hình ảnh vi diệu trang nghiêm đẹp đẽ. Từ đấy, gột lòng
tẩy ý, chuyên tu giới thiện và thiền định để làm nhân
xuất thế. Lại còn phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện và Đại Bồ
Đề tâm, tự hành, dạy người cùng tu Tịnh nghiệp để mong
khi báo hết nhanh chóng vãng sanh Tây Phương, thân cận Di Đà,
theo gót hải chúng mau chứng Phật tánh tâm ta sẵn có, phổ
độ vô biên chúng sanh trong pháp giới. Như thế thì trên chẳng
cô phụ Phật giáo hóa, dưới chẳng cô phụ tánh linh của
chính mình, mà thâm tâm soạn luận của Đạt Am, ý thiết
tha lưu thông của các vị cũng được thông suốt, vui thỏa
không tiếc nuối vậy!
87.
Lời tựa trình bày duyên khởi cho hội
Thí
Quan Tài Thể Nhân ở Phổ Đà
Câu “vùi xương chôn xác” xuất phát từ thiên sách Nguyệt
Lệnh[14]. “Ân trạch thấm đến xương khô” là câu văn
nói về việc thi ân của vua Châu, huống chi Phật pháp là
đạo cứu giúp cả thân lẫn tâm, kẻ còn người mất đều
giúp đỡ [lại chẳng như vậy] ư? Phổ Đà là đạo tràng
của Quán Âm đại sĩ, bao triều đại đều khâm kính, khắp
thế gian tôn sùng. Do vậy, có được ba ngôi chùa như thế
chân vạc, các am cùng khắp; trong nước, ngoài nước triều
yết thật là đông đảo! Phàm là thợ cả, người sai vặt,
người bán rong, kẻ bán sức thường quá ngàn người. Nếu
đến kỳ dâng hương, con số ấy còn gấp bội. Vì thế, các
vị trưởng lão trong núi thể theo lòng Phật, mở ra y viện
để chữa trị cho hết thảy những người mắc bệnh, hoặc
là những người bán rong, bán sức bị chết bất thình lình,
không có quan tài thật khó thể an ủi vong linh, mở rộng sự
hóa độ từ bi. Huống chi thường có những tử thi từ biển
giạt vào, cũng như những người khổ hạnh từ phương xa
đến dâng hương bị chết bất ngờ, cần phải tẩm liệm
ngay. Nếu không sẽ bị rữa nát, đối với chuyện giúp đỡ
người chết lẫn vấn đề vệ sinh đều đáng phàn nàn.
Chân
Đạt đại sư liền phát tâm thí quan tài. Lại nghĩ: Nếu
chẳng lập cách, về sau sẽ khó thể duy trì lâu dài được!
Năm Dân Quốc thứ năm (1916), các ông Dương Thúc Anh, Chúc
Lan Phường, Viên Tổ Hoài, Tào Chấn Thanh v.v… lên núi, nhân
đó bàn về chuyện này. Mỗi ông đều bỏ ra hai ngàn đồng,
Chân Đạt đại sư tự bỏ ra bốn ngàn đồng. Năm ngoái lại
cùng các thầy Liễu Tín chùa Phổ Tế, Đạt Viên chùa Pháp
Vũ, Liên Hy chùa Hải Ngạn, Quảng Đức chùa Tử Trúc, Nguyện
Lai chùa Hồng Phiệt, Giới Như chùa Hồng Phiệt, Oánh Chiếu
chùa Báo Bổn, Thanh Phước chùa Hạc Minh, Khôn Sơn chùa Phổ
Tuệ, Cực Đắc chùa Bách Tử và hai vị cư sĩ Lưu Ký Đình,
Trương Tông Phú thương lượng bàn bạc biện pháp. Do đấy,
lập ra một hội, đặt tên là Thể Nhân, nhằm kính cẩn thể
theo lòng Từ của Phật, nhân từ cứu giúp vong linh, khiến
cho người mất chẳng bị nỗi thảm phơi bày thi thể, Tăng
chúng trong núi không bị cười chê là thiếu lòng Từ. Mỗi
vị đều bỏ ra một trăm đồng, cùng với món tiền đã quyên
được bên trên, tổng cộng là bảy ngàn hai trăm đồng dùng
mua hằng sản, mời hỏi đặt cột mốc đá[15]. Riêng thỉnh
các vị sư trong hội tại núi này luân lưu trông nom, dùng
tô lợi thâu thập hằng năm chi dụng vào việc thí quan tài,
ngõ hầu được truyền mãi không bị bỏ phế. Như thế thì
sau này những người bần cùng mất đi đều được phước
mà viên thông đạo tràng cũng được vinh lây. Phàm những
người bỏ vốn và trông nom chăm sóc đều được tiêu trừ
túc nghiệp, tăng trưởng thiện căn. Hiện đời phước lẫn
thọ cùng vượng, làm gương mẫu cho đời, lâm chung thì thân
lẫn tâm đều diệu, dự vào cõi nước Phật. Muốn cho hậu
nhân biết rõ nên thuật lại duyên khởi, ngõ hầu ức vạn
năm sau, bố thí mãi mãi đền đáp tâm cứu độ chúng sanh
của Đại Sĩ, mà cũng chẳng phụ một phen tận tâm hộ giáo,
giúp đỡ người mất của các vị đại sư, các vị cư sĩ
vậy.
88.
Lời tựa cho Vạn Niên Bạ của Tam Thánh Đường
Pháp chẳng khởi một mình, đạo do người hoằng. Thắng địa
danh lam phải do có người. Có được người thì rừng gai
góc biến thành rừng chiên-đàn; không có người thì hang sư
tử biến thành ổ chồn hoang. Tam Thánh Đường được sáng
lập vào năm Vạn Lịch thứ 30 (1602), khi ấy vị Tăng tên
Đại Phương kết am tranh ở đây. Rồi hai thái giám Trương
Tùy, Đảng Lễ phụng chỉ đứng trông coi xây Tàng Kinh Các,
đi đến đây, uống nước suối thấy ngọt bèn tìm nguyên
do. Biết suối này nhằm lúc khô hạn hết sức cũng không
cạn, trong chùa nhằm lúc hạn hán cầu mưa, ắt dùng nước
lấy từ con suối này sẽ mau được mưa xuống; do vậy bèn
đặt tên là Bát Công Đức Tuyền (suối tám công đức). Vì
vậy, hai ông bèn bỏ tiền sai dựng điện Tây Phương Tam Thánh,
bởi nước tám công đức vốn có trong ao bảy báu của Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Đến thời Khang Hy, vị tăng Hải
An trùng tu. Về sau, lâu năm, hư nát. Đầu đời Hàm Phong,
do Ân Đường Hiển Pháp Công tiềm tu tại đây, chùa đổi
tên là Như Ý Am, vẫn chỉ là mấy gian nhà nhỏ mà thôi! Đầu
đời Quang Tự, [Tổ] đời thứ tư là Hoa Đức Công quyên
mộ những vị trong ấp như các ông Hồng X… dựng điện
Tam Thánh, đổi lại tên cũ.
Từ
đấy về sau, thế đạo thái bình, lại thêm đường thuyền,
đường sắt đều thông, hương hỏa của Bồ Tát này càng
thạnh vượng. Chuyện trong am đã gần như đâu vào đấy,
Hoa Đức Công muốn lắng lòng chuyên tu Tịnh nghiệp, đem việc
am giao cho đồ đệ là sư Trưởng Đính, lại sai cháu là sư
Chân Đạt phụ giúp, chùa bèn được xây dựng rộng lớn.
Đến khi thầy Trưởng Đính qua đời, thầy Chân Đạt lại
càng chẳng tiếc tâm lực, những gì cần sửa bèn sửa, những
gì nên dựng bèn dựng, chùa trở thành một ngôi già-lam đẹp
đẽ. Về sau, nhọc nhằn đã lâu, muốn tịnh dưỡng, bèn
giao cho thầy Minh Giáo trông coi mấy năm.
Năm
nay, thầy Minh Giáo lại xin thôi, thầy Chân Đạt nhân đó
nghĩ đời người được mấy, am này đã qua mấy đời Trụ
Trì, do tâm lực mấy mươi năm mới được điện vũ nguy nga,
liêu xá rộng rãi, tăng chúng trong am được thanh tu, khách
đến dâng hương có chỗ ở nhờ. Đương trong lúc này, chẳng
đem quy củ khóa trình trong am cũng như kinh tượng trang nghiêm,
pháp khí, đồ đạc, viết hết vào sách để lại cho mai sau
thì e rằng năm lâu tháng chầy, người đời sau chẳng biết,
rất có thể phế bỏ quy củ, đồ vật thất lạc, khiến
cho một phen khổ tâm tạo lập đạo tràng của tiền nhân
đổ ra biển hết, toàn là khiến cho hậu nhân ở yên nơi
đây ăn luống của tín thí, chẳng tu đạo nghiệp, há chẳng
gây hận cho tiền nhân ư? Vì đó, viên thông đạo tràng nhân
đó bị tước mất sắc vẻ, Phổ Môn đại sĩ đành phải
ngậm buồn nơi cõi Thường Tịch Quang! Do vậy, sai Quang lược
thuật duyên khởi của am này, phàm mọi thứ quy củ, đồ
đạc v.v… đều nhất nhất ghi cặn kẽ ngõ hầu người đời
sau có cái để tuân thủ vậy.
89.
Lời tựa cho sách Anh Minh Tập của cư sĩ Sái Bá Luân
Con người sống trong thế gian ai nấy phải tận hết luân
thường. Nếu không, tuy mang danh là người, nhưng quả thật
có khác biệt gì với loài thú đi ngang đâu? Mạnh Tử nói:
“Ai cũng có thể là Nghiêu - Thuấn”. Kinh Phật dạy: “Hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật”.
Điều cốt yếu để làm Nghiêu - Thuấn, để làm Phật nằm
ở chỗ tận lực thực hành hiếu đễ cũng như bỏ vọng
theo chân mà thôi! Cái giúp cho chuyện này được thành tựu
từ lúc ban đầu cho đến cuối cùng chính là khắc kỷ, giữ
lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác,
vâng làm các điều thiện mà thôi! Những học phái mới trong
thế gian gần đây tranh nhau học theo phong cách Âu Tây, phế
bỏ kinh điển, trái nghịch luân thường, đến nỗi công khai
đề xướng chống đối đạo hiếu, chung vợ, lõa thể v.v…
muốn cho con người chẳng khác gì cầm thú! Điên cuồng mất
trí quá sức vậy!
Cư
sĩ Bá Luân sống gởi ở Đài Loan đã ba đời. Đến tuổi
nhược quan muốn trở về tổ quốc, do bà mẹ chẳng muốn
đi xa, nên miễn cưỡng lưu lại chốn xa xôi, làm việc nhiều
năm. Đến khi mẹ mất bèn ung dung trở về. Có thể nói là
bậc đứng riêng, đi một mình, giữ vẹn luân thường, trọn
hết bổn phận vậy. Ông sống tạm nơi đất Hỗ (Thượng
Hải), sống bằng nghề xem tướng. Phàm những ai đến xem,
bất luận tướng mạo thiện hay ác đều khuyên nên tu đức
tích thiện, ngõ hầu thiện càng thêm thiện, bất thiện cũng
trở thành thiện, phù hợp sâu xa ý chỉ “mạng do ta lập,
phước do ta cầu” cũng như “có tâm không tướng, tướng
tùy tâm sanh; có tướng không tâm, tướng theo tâm diệt”!
Nhưng trong lúc bàn luận luôn ra rả nhắc đến tam thế nhân
quả báo ứng và pháp môn Tịnh Độ hoành siêu khiến cho hết
thảy mọi người do đến xem tướng đều được dự vào
cõi hiền thánh cũng như vãng sanh nước Cực Lạc, vãn hồi
thế đạo nhân tâm rất lớn! Do đây biết người có tâm
cứu đời giúp người dẫu chẳng có địa vị thực hành
việc cai trị [theo đúng đạo nghĩa], cũng vẫn có thể thi
hành vậy. Nhân đấy bèn đổi tên là Bá Luân, chẳng biết
ý của cư sĩ Bắc Luân[16] có phải là như vậy hay không?
90.
Lời tựa sách Giáo Hối Thiển Thuyết
Giáo dục trong gia đình, nhân quả báo ứng là nhiệm vụ trọng
yếu nhất để vãn hồi thế đạo nhân tâm trong hiện tại.
Nếu chẳng bắt đầu từ đây thì dù có làm gì cũng chỉ
thuộc về cành nhánh, đều có thể trá ngụy. Chỉ khi nào
từ nhỏ đã dạy giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận,
lý nhân quả báo ứng tập quen thành tánh, đến khi lớn lên
lẽ đâu chẳng trở thành người hiền! Sách Luận Ngữ chép:
“Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách” (Thiên hạ hưng
vong, kẻ thất phu có trách nhiệm). Kẻ thất phu thân hèn,
danh kém, làm sao có trách nhiệm này cho được? Phải biết:
Quốc gia thiên hạ do từng người, từng gia đình gộp thành.
Những ai có quyền lực thì cả nhà gây chiến, những kẻ
không quyền lực lập bè đảng cướp đoạt, cùng những kẻ
phóng đãng trộm cướp, gian trá, phạm pháp, chỉ cầu may
tạm thời, chẳng đoái hoài họa phước về sau, đều là
do từ nhỏ chẳng được cha mẹ hiền khéo dạy, chẳng biết
lợi người chính là lợi mình, hại người còn tệ hơn hại
mình quá mức, làm lành ắt nhà mình thịnh vượng, chết đi
thần thức siêu thăng thiện đạo, làm ác nhà mình sẽ suy
vong, đến nỗi chết đi thần thức đọa trong ác đạo.
Nếu
như biết âm thanh êm ái thì tiếng vang dễ nghe, hình thẳng
ắt bóng ngay, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu,
đã tạo nhân như thế phải cảm lấy quả như thế, quyết
sẽ chẳng đến nỗi vì cầu yên vui, giàu có, sang cả cho
chính mình mà giết người ngập thành, ngập đồng, khiến
cho vận nước nguy ngập, dân không lẽ sống. Vì thế, những
bậc lập đại công, dựng đại nghiệp, hạo khí ngút trời
đất, tiết tháo trong sáng lòa nhật nguyệt, đều ôm tấm
lòng lập mình, lập người, mang ý nguyện tự lợi, lợi người.
Do vậy, trăm ngàn năm sau vẫn được người ta kính ngưỡng!
Hiềm
rằng, người đời kiến thức hẹp hòi, nông cạn, thường
theo đuổi chuyện trái đạo, từ bé đã không có cha mẹ hiền
khéo dạy, lớn lên lại không có thầy tốt bạn hiền dắt
dìu. Do đó, vượt lý, trái phận đến nỗi bị giam cầm,
tuy do họ tự chuốc lấy nhưng cũng rất đáng thương! Do vậy,
các nhà ngục đều cử ra một vị thầy giáo huấn, hằng
ngày giảng cho những tù nhân đạo lý “con người phải tận
sức, lý nhân quả không lầm lạc”, hòng khiến cho những
người ấy gột lòng tẩy ý, đổi ác hướng lành, gắng trở
thành lương dân, lần lượt khuyến hóa lẫn nhau, sao cho dù
mình hay người đều thuộc vào bậc hiền thánh, ngõ hầu
quốc gia thiên hạ mãi hưởng phước thái bình.
Ông
Thiệu Huệ Viên đảm nhận chức thầy giáo huấn ở nhà tù
Tào Hà Kính. Bản thảo giảng dạy cho phạm nhân của ông
có mười mấy thiên, ước chừng hơn mười vạn chữ đều
là những lời khuyên họ nên giữ phận an vui với số mạng,
giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận. Lại còn dẫn
kinh trích sử, dựa vào đời cổ để chứng minh cho hiện
tại. Văn tuy đơn giản nhưng ý chỉ rất sâu. Tuy là để
nói với những tù nhân, nhưng hết thảy mọi người đều
nên đọc để hành theo. Những người cùng chí hướng cho
là sách ấy có ích, bèn đem in, xin Quang viết lời tựa để
tạo ảnh hưởng.
Nhân
đấy, Quang bèn nêu đại lược những điều trọng yếu để
vãn hồi thế đạo nhân tâm, ngõ hầu người khắp cõi đời
đều chú trọng vào giáo dục gia đình và nhân quả báo ứng,
nhưng trong chuyện giáo dục gia đình thì sự dạy dỗ của
người mẹ quan trọng nhất. Nếu như bà mẹ hiền, từ khi
con cái còn bé đã chú trọng nêu gương giữ vẹn luân thường,
tận hết bổn phận, lại hằng ngày nhắc nhở lý nhân quả
báo ứng thì con cái bà ta quyết định đều thành hiền nhân,
há lẽ nào có những hành vi vượt lẽ,