THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
Quyển thứ nhất
Quyển thứ hai
Quyển thứ ba
Quyển thứ tư
.
ẤN QUANG PHÁP SƯ VĂN SAO
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa chuyển ngữ
(Chưa giảo duyệt hoàn chỉnh)
Quyển thứ Ba
(Phần 3)

 


49. Lời tựa sách Phó Đại Sĩ Truyện Lục 

 
      Nhất niệm tâm tánh của chúng sanh và chư Phật không hai. Tuy đang mê bất giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, tạo đủ mọi tội, nhưng Phật tánh sẵn có vốn không tổn thất. Ví như Ma Ni bảo châu rớt trong nhà xí, trọn chẳng khác gì vật dơ, người ngu chẳng biết là quý báu, bèn coi như uế vật. Người trí biết là diệu bảo vô giá, chẳng hiềm ô uế, vào trong nhà xí nhặt lấy, dùng đủ mọi phương cách gột rửa cho sạch. Sau đấy, treo trên tràng[1] cao, châu liền phóng đại quang minh, tùy theo lòng mong cầu của con người mưa khắp các thứ báu. Do vậy, người ngu mới biết là quý báu. 

Đại Giác Thế Tôn xem các chúng sanh cũng giống như thế: dẫu là kẻ hôn mê, điên đảo, phiền hoặc, tạo đủ Ngũ Nghịch, Thập Ác, vĩnh viễn đọa trong ba ác đạo, tâm Phật vẫn chẳng hề có một niệm buông bỏ, luôn tìm cơ duyên, gia bị âm thầm hoặc hiển nhiên, vì họ thuyết pháp ngõ hầu họ hiểu rõ Hoặc nghiệp huyễn vọng, ngộ Phật tánh chân thường, cho đến khi viên chứng Vô Thượng Bồ Đề mới thôi! Đối với người tội ác cực nặng còn như thế, thì đối với người nghiệp nhẹ, người giữ giới thiện, có đầy đủ sức Thiền Định sâu, không một ai chẳng được đối xử như vậy. Phàm trong tam giới, có những người tuy đã thâu liễm được thân tâm, khuất phục được các phiền hoặc, nhưng tình chủng vẫn còn, phước báo một khi đã hết liền đọa xuống cõi dưới, gặp cảnh chạm duyên vẫn khởi Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp cảm khổ, luân hồi sáu nẻo, trọn chẳng có lúc nào ngưng; cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Ba cõi không yên ví như nhà cháy. Các khổ đầy dẫy, thật đáng kinh sợ”.Nếu không phải là nghiệp tận tình không, đoạn Hoặc chứng chân thì chẳng mong chi thoát khỏi tam giới. Chỉ có mỗi một mình pháp môn Tịnh Độ chỉ cần có đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật liền có thể nhờ vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Đã được vãng sanh bèn nhập cảnh giới Phật, thọ dụng như Phật, hai thứ phàm tình lẫn thánh kiến đều chẳng sanh. Chính là pháp môn đặc biệt ngàn vạn phần ổn thỏa, thích đáng, chẳng sót một ai vậy; đang thời Mạt Pháp, bỏ pháp này thì không còn cách gì khác nữa. 

Như Lai dùng tự lực - tha lực, hai thứ pháp môn thông thường và đặc biệt để lợi khắp hết thảy. Bồ Tát gánh vác gia nghiệp của Phật, chỉ chuyên chú thượng cầu hạ hóa. Do vậy, tùy loại hiện thân trong pháp giới mười phương, tùy cơ thuyết pháp, hòa quang đồng sự mới dẫn dắt được. Hoặc ẩn, hoặc hiển, trọn không có tướng nhất định! Có những vị bên trong ẩn thánh đức, bề ngoài hiện dáng vẻ lạ lùng, như: Phật Di Đà hóa làm Thiện Đạo, Phong Can[2]; Quán Âm hóa làm Bảo Chí[3], Tăng Già[4]; Văn Thù, Phổ Hiền hóa thành Hàn Sơn, Thập Đắc[5]; Di Lặc hóa thành Bố Đại hòa thượng. Ngôn hạnh của họ phàm tình chẳng thể lường được, mờ mịt chẳng biết họ là hạng người như thế nào! Đến lúc lâm chung mới phát lộ, hoặc do chết đi, khám nghiệm mới biết rõ được! Cũng có vị vừa ẩn vừa hiển, chỉ bày rõ cả Bổn lẫn Tích, như Di Lặc hóa thành Phó Đại Sĩ vậy. Có lúc Ngài dựa theo Tích, ẩn Bổn, tự bảo mình là phàm phu. Có lúc dựa theo Bổn, ẩn Tích, như tự xưng là Di Lặc. Ấy là vì tâm lượng của chúng sanh quá hẹp nhỏ, nếu chẳng phải là kẻ có chút sở đắc bèn lầm tưởng mình đã dự vào hàng thánh thì cũng là kẻ đề cao thánh cảnh, nhưng cam phận phàm ngu! Do vậy, Đại Sĩ lấy thân mình làm gương, khiến cho họ biết Ngài đã chứng Đẳng Giác nhưng vẫn tự bảo là phàm phu thì những kẻ lầm lạc tự tưởng mình cao quý cũng như kẻ cam phận phàm ngu đều được tỉnh ngộ mạnh mẽ. 

Những chuyện Đại Sĩ đã làm, những pháp Ngài nói trong suốt một đời tuy đều trực chỉ hướng thượng, nhưng vẫn chẳng bỏ sót một điều lành nào. Lục Độ đều tu, chẳng chấp một pháp. Còn như những vị đệ tử học pháp với Ngài, không ai chẳng khế nhập chân thường sâu xa, nhanh chóng hiểu Uẩn, Giới là không, bỏ thân mạng, của cải để làm đại pháp thí. Vì thế, đạo lừng lẫy cả hai triều, đức đượm đời sau. Mãi đến ngày nay, cả một ngàn mấy trăm năm, bất cứ ai thấy nghe đều gieo thiện căn. Chùa Song Lâm ở Nghĩa Ô[6] chính là nơi Đại Sĩ tiềm tu, hãy còn bản khắc ván truyện lục, tuy được sao chép, in khắc nhiều lần, nhưng chưa từng được người mắt sáng giảo đính đến nỗi sai ngoa không biết bao nhiêu mà kể! 

Cư sĩ Tôn Ngọc Tiên ở Phụng Hóa đến Song Lâm lễ yết Đại Sĩ, mang về sách ấy, liền muốn in lại để truyền rộng đạo của Đại Sĩ, xin Quang giảo đính ngõ hầu trừ hết những lỗi tệ, hiển hiện trọn vẹn thiên chân. Quang gắng dốc hết lòng ngu thành, lắng lòng giảo đính, sửa chữa. Tuy chưa thể chẳng sót lỗi nào, nhưng đã có thể hoàn lại diện mục sẵn có của sách ấy rồi. Ngọc Tiên lại cho rằng bi ký của Đại Sĩ văn sâu nghĩa thẳm, nếu không chú thích thật khó dẫn người nhập vào chỗ thù thắng, khơi gợi lòng kính ngưỡng cho người khác, bèn xin cư sĩ Hoàng Vô Ngôn chú thích cặn kẽ, ngõ hầu dù văn hay nghĩa đều [rõ ràng] như các đường chỉ trong lòng bàn tay để người đọc chẳng tốn công suy nghĩ, tìm tòi, đều biết được sự - lý, bổn - tích của Đại Sĩ, để làm hướng dẫn hầu được độ thoát trong ba hội Long Hoa[7] vậy. 

 

50. Lời tựa khắc lại cuốn Quán Hà Tập 

 

      Tâm chính là gốc của các pháp thế gian và xuất thế gian. Nếu triệt ngộ tự tâm thì thấy hết thảy pháp đều lưu lộ từ tự tâm, thấy hết thảy những cảnh giới biến diệt, đổi dời đều là Thật Tướng Chân Như tịch diệt thường trụ. Kinh Lăng Nghiêm có nói đến chuyện thấy con sông chẳng phân biệt trẻ - già[8], ngài Tăng Triệu nói “gió lốc xoáy núi nhưng núi bất động, sông rạch chen nhau rót vào nhưng [núi] chẳng bị cuốn đi”, đều nhằm chỉ bày ý chỉ nhỏ nhiệm “từ ngay nơi sanh diệt thấy được chân thường” vậy! Nếu hiểu được điều này thì có thể gọi là hạng phàm phu đã liễu sự, là người tu đạt được cái gốc. Dẫu cho cười chê, hay nóng giận, chửi bới đều có thể tháo niêm cởi trói cho người, khiến người ta khởi tử hồi sanh; cần gì phải lên tòa giảng nghĩa mới là thuyết pháp ư? Khổng Tử nói: “Hai ba người các anh cho là ta có giấu diếm gì chăng? Ta không giấu gì cả! Ta không làm chuyện gì mà chẳng chỉ dạy hai ba anh cả, đấy chính là bản tánh của Khâu này!”[9]

Đạo của thánh nhân ví như ánh dương xuân. Ánh dương xuân chiếu xuống thì cây to, cỏ nhỏ không gì chẳng sum suê, tốt tươi. Dẫu cho mầm cháy, hạt hư chẳng thể sanh thành, nhưng cũng chưa từng không được hưởng sự ấm áp để được nhuận trạch vậy! Người căn tánh thiên bẩm sâu xa thấy những điều cao dày trước sau chẳng thể mô phỏng, rộng lớn tinh vi, chẳng thể nghĩ lường, thật ra chẳng có gì lạ lùng, đặc biệt, chẳng qua chỉ là những chuyện nói năng, xử sự hằng ngày mà thôi. Tâm này mầu nhiệm, phàm - thánh giống nhau, Như Lai viên mãn Bồ Đề, chúng sanh vĩnh viễn luân hồi trong lục đạo, đều chẳng lìa khỏi tâm này. Chỉ do nhân duyên mê - ngộ, nghịch - thuận mà đến nỗi khổ - vui, thăng - trầm khác nhau như trời với vực. 

Cư sĩ Bành Tế Thanh ở Trường Châu[10] túc căn sâu dầy, học vấn uyên bác, vừa đậu Tiến Sĩ bèn ngộ khổ, không, thấy phú quý như mây nổi, chẳng thích làm quan, thấu hiểu thật tế của tâm tánh bèn tận lực tu Tịnh nghiệp, hết sức muốn phổ độ kẻ mê bèn hòa quang đồng sự, cho nên có những trước tác tự thuật bổn hoài, kỷ sự[11], xướng họa, tuy thuộc văn tự, nhưng quả thực chứa đựng nỗi lòng sâu xa. Ý niệm yên đời, làm cho dân chúng lương thiện, hướng dẫn kẻ mê, tuyên nói lẽ chân được lộ rõ trong những lúc ngâm vịnh tùy dịp, tùy cảnh. Có thể nói: “Chẳng có địa vị mà thực hiện việc cai trị, chẳng lên tòa mà thuyết pháp” vậy! Thâu thập những trước tác, chia thành bốn quyển, đặt tên là Quán Hà Tập. Ấy chính là lấy từ ý nghĩa “từ việc nhìn con sông, nghiệm ra cái Thấy chẳng thay đổi” của kinh Lăng Nghiêm vậy. Lại mong những ai xem tập sách này chớ suy lường nơi nghĩa lý văn tự, chỉ nên nhìn vào sự quán. Quán đã thấu tỏ thì sông chẳng thay đổi! Đấy chính là ý nghĩa tổng quát của cái tên ông Bành đã đặt. 

Ông Lưu Triều Thị thấy sách này có ích cho đời, bèn in khắc lưu thông, thật là nghĩa cử thù thắng tạo phương tiện dẫn dạy vậy. Ông nhờ tôi viết lời tựa. Tôi mong những ai xem đến thơ ông Bành thì trước hết sẽ học theo đạo của ông Bành, đạo ấy ra sao? Là diệu ngộ tự tâm, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương mà thôi! Nếu lãnh ngộ được điều này thì mười phương thế giới sâm la vạn tượng đều hiện thành bài thơ mới. Nếu không, dẫu cho thanh vận véo von, câu chữ đối nhau khít khao, vẫn chẳng có mảy may nguyên khí nào. Như gương vẽ trên vách, như hoa cắt từ lụa, hình tạm cho là giống, nhưng muốn cho nó hiện tướng sáng, tỏa mùi thơm thì nhất quyết chẳng thể được! 

 

51. Lời tựa lưu thông bản thạch ấn Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh 

 

      Bản thể của Pháp Thân hoàn toàn rời khỏi danh tướng, chân cảnh Tịch Quang chẳng thuộc Căn - Trần, chẳng phải có, chẳng phải không, Ngũ Nhãn[12] chẳng thể thấy được, chẳng phải tâm, chẳng phải sắc, Tứ Trí[13] lấy gì để tuyên nói. Tịch - chiếu trống rỗng, thông suốt, Chân Như tịnh diệu; vạn đức trọn đủ, không pháp gì chẳng hiển hiện. Phật thường trụ nơi thanh tịnh còn chẳng thể diễn nói, chúng sanh luân hồi trong nhơ uế há lập được ư? Đây thật sự là lý thể sẵn có của chúng sanh và Phật, là nguồn pháp của Vô Thượng Bồ Đề vậy. Lý này chúng sanh và Phật bình đẳng, không có cao - thấp. Nhưng do chúng sanh đang mê, tuy sử dụng thường ngày nhưng chẳng biết, tuy có đủ Pháp Thân lại lầm lạc chịu sanh tử, tuy ở trong Tịch Quang, lại lầm thấy là uế ác. Do vậy, Như Lai rủ lòng Từ rộng nói các kinh, khiến cho khắp hết thảy chúng sanh phản vọng quy chân, khôi phục tâm tánh vốn có. 

Nhưng tự lực đoạn Hoặc, chứng đạo trong đời này thì hàng trung hạ căn không cách gì thành tựu được. Do vậy, có bậc đại sĩ tên là A Xà Thế, vận lòng đại từ bi, muốn cho đức Phật khai thị đại pháp môn đặc biệt, lạ lùng chẳng thể nghĩ bàn là pháp “cậy vào Phật từ lực, bỏ uế lấy tịnh, khiến cho khắp những căn thượng trung hạ đều được lâm chung vãng sanh”; cho nên Ngài đặc biệt thị hiện hạnh xấu ác, làm chuyện đại ác nghịch: giam cha, nhốt mẹ để làm duyên phát khởi, ngõ hầu mẹ Ngài là bà Vi Đề Hy thỉnh Phật giáng lâm, nguyện lìa Sa Bà, nguyện sanh Tịnh Độ. Khi ấy, đức Thế Tôn phóng hào quang từ giữa chặn mày, hiện đủ mọi cõi Phật tịnh diệu. Bà mẹ chỉ nguyện sanh về cõi Cực Lạc, lại thỉnh cầu phương pháp để giúp chúng sanh được sanh về cõi ấy. Bởi thế, đức Như Lai nói ra mười sáu phép diệu quán y báo, chánh báo, những ai có thể y theo lời dạy tu hành, không một ai chẳng được mãn nguyện. Chẳng những thiện nhân được như thế, dù là kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác, lúc lâm chung tướng địa ngục hiện, được tri thức dạy niệm danh hiệu Phật hoặc đủ mười tiếng hoặc chỉ một tiếng cũng được nhờ Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Thật có thể nói là ống thổi lò lớn (ống bễ trong lò rèn) để chuyển phàm thành thánh, là đại pháp môn phô bày bổn hoài của Phật, có lực dụng vượt trội mọi giáo pháp trong cả một đời đức Phật.

Nếu Như Lai chẳng mở ra pháp này thì bao nhiêu chúng sanh trong đời Mạt Pháp ai có thể thoát lìa được biển khổ? Do vậy, biết Thích Ca, Di Đà nương đại nguyện luân, khởi lòng Từ vận tâm Bi độ thoát chúng sanh. Một vị thị hiện sống trong cõi uế, dùng uế, dùng khổ để chiết phục, đưa đi; một vị thị hiện sống trong cõi tịnh, lấy tịnh, lấy vui để nhiếp thọ, un đúc; còn vua A Xà Thế giúp sức tán trợ, riêng hiện tướng ác nghịch hòng thành tựu lòng chán lìa; cùng với đức Thế Tôn hai cõi, đe và búa thành toàn cho nhau[14]. Một nghịch, một thuận, là hóa nghi (phương thức giáo hóa) rốt ráo để chúng sanh đời Mạt rốt ráo đắc độ. Lợi ích ấy khó thể tán dương trọn hết. Làm chuyện phi đạo nhưng thông đạt Phật pháp, nếu chẳng phải là bậc đã chứng Pháp Thân từ lâu, ai có thể làm được? 

Kinh này lấy “tâm này làm Phật, tâm này là Phật, chúng sanh và Phật rốt ráo chẳng hai” làm Thể. Nếu ai có thể tin tưởng ngay nơi đây thì người ấy tuy chưa ra khỏi Sa Bà nhưng đã không còn là khách trọ lâu ngày trong Sa Bà nữa, chưa sanh về Cực Lạc mà đã là khách quý của Cực Lạc. Cư sĩ Trí Hải Lưu Triều Thị xưa có linh căn, dốc sức tu Tịnh nghiệp, nhân đọc kinh này, động lòng hiếu thuận, nghĩ mẹ mình là bà phu nhân họ Trương thủ tiết nuôi con côi, thờ bố mẹ chồng trọn hiếu, đức sáng nữ giới, làm gương cho hàng khuê các. Bà cụ dốc lòng tin nhân quả, giữ Thập Trai lâu ngày, chánh nhân Tịnh nghiệp đã khá đầy đủ, tiếc là sanh lòng tin phát nguyện chuyên trì Phật hiệu để cầu vãng sanh chưa đến mức dốc hết sức lực. Do vậy, ông Lưu bèn phát tâm lưu truyền kinh này. 

Cư sĩ Đào Ngọc Canh bút pháp siêu diệu, có thể bén gót họ Chung, họ Vương[15]; nhân đó, bèn nhờ ông ta cung kính viết kinh để in thạch ấn thí tặng, khiến cho khắp mọi người thấy nghe cùng gieo tịnh nhân. Do công đức này khiến cho thần thức của mẹ được siêu tịnh vực, nghiệp từ tạ trần lao, sen chín phẩm nở hoa, Phật thọ ký ngay trong một đời. Phải biết kinh này và hai kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ chính là pháp môn được đặc biệt lập ngoài những giáo lý thông thường trong cả một đời giáo hóa của Như Lai, như thuốc A Già Đà trị đủ vạn bệnh. Vì thế, bất luận nghiệp nặng hay nhẹ, Hoặc (phiền não) dầy hay mỏng, chỉ cần tín nguyện niệm Phật thì không một ai chẳng được vãng sanh, như châu Ma Ni tùy ý tuôn các báu. Do vậy, chỉ cần nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đợi đến khi nghiệp tận tình không, tâm lẫn Phật cùng mất thì hết thảy pháp môn, hà sa diệu nghĩa không gì chẳng dung hội, quán thông nơi tự tâm. Pháp môn Tịnh Độ mầu nhiệm như thế đó! Những ai trên muốn siêu độ những bậc trưởng thượng đã mất, dưới tế độ mọi phẩm, khiến cho hết thảy mọi người chẳng phế bổn phận, chức nghiệp, ai nấy được thoát ly sanh tử luân hồi ngay trong đời này thì sao không gấp gáp theo đuổi pháp môn này? 

 

52. Lời tựa cho Phật Quang Nguyệt Báo 

      

Phật Quang là Trí Thể sẵn có ngay trong tự tâm của phàm - thánh, chúng sanh và Phật trong mười pháp giới. Thể ấy linh minh đỗng triệt, trạm tịch thường hằng, bất sanh, bất diệt, vô thủy, vô chung, dọc thì suốt khắp ba đời nhưng ba đời do đây dứt bặt, ngang thì trọn khắp mười phương nhưng mười phương do đây tiêu mất. Được gọi là Không nhưng vạn đức trọn bày. Gọi là Có nhưng mảy trần chẳng lập. Chính là hết thảy pháp, nhưng lìa hết thảy tướng, tại phàm chẳng giảm, nơi thánh chẳng tăng. Tuy Ngũ Nhãn chẳng thể thấy được, Tứ Biện[16] chẳng thể tuyên thuyết, nhưng pháp gì cũng phải nhờ vào sức nó, đâu đâu cũng gặp gỡ. Chỉ vì chúng sanh chưa ngộ nên chẳng những không thể thọ dụng được, trái lại còn nương theo sức chẳng thể nghĩ bàn này để khởi Hoặc tạo nghiệp. Do nghiệp chuốc khổ, khiến phải sanh tử luân hồi trọn chẳng khi nào hết. Đem chân tâm thường trụ thọ lấy huyễn báo sanh diệt, ví như người say thấy nhà xoay, nhà thật sự chẳng xoay. Kẻ mê cho là phương hướng chuyển dời, phương hướng quả thật chẳng động. Hoàn toàn do vọng nghiệp biến hiện, trọn chẳng có thật pháp nào để đạt được! 

Do vậy, khi đức Thích Ca Thế Tôn ta thị hiện thành Phật đạo, triệt chứng Phật quang, bèn than: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Diệu tánh viên minh lìa các danh tướng, vốn chẳng có thế giới, chúng sanh. Do vọng nên có sanh, do sanh nên có diệt. “Sanh - diệt” gọi là Vọng. Diệt vọng gọi là Chân. Đấy gọi là Vô Thượng Bồ Đề và Đại Niết Bàn của Như Lai”. Hai thứ danh hiệu này được dùng thay cho nhau. Ngài Bàn Sơn[17] nói: “Tâm nguyệt riêng tròn, ánh sáng phủ trùm muôn hình tượng. Ánh sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn. Tâm - cảnh đều mất, nào còn có vật gì?” Ngài Quy Sơn nói: “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi Căn Trần. Thể lộ chân thường, chẳng chấp vào văn tự. Tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành. Chỉ lìa vọng niệm chính là Như Như Phật”. 

Do vậy, biết: Mọi thứ ngôn giáo của Phật, Tổ, không gì chẳng nhằm chỉ bày tâm tánh sẵn có của chúng sanh, khiến cho họ bỏ mê về ngộ, khôi phục cái nguồn, hoàn lại cái cội mà thôi! Nhưng chúng sanh căn cơ có cạn - sâu, mê có dầy - mỏng, chẳng nhờ vào đủ mọi ngôn giáo chỉ dạy, đủ mọi pháp môn đối trị thì mây mê ngăn chướng tánh không, biết nhờ vào đâu để mỗi người đều thấy thấu suốt vầng tâm nguyệt cho được? Do vậy, lúc đức Như Lai mới thành đạo diễn giảng kinh Đại Hoa Nghiêm, liền bàn thẳng vào đại pháp vượt ngoài pháp giới, chẳng phải là pháp mà hàng Quyền - Tiểu có thể dự phần được, ngõ hầu những hàng đại căn cơ túc căn đã chín muồi cùng được chứng chân thường, sanh lên ngay bờ giác. Lại vì hàng độn căn chúng sanh chưa được lợi ích, Phật bèn dần dần khéo léo khuyên dụ, tùy thuận căn cơ diễn thuyết: Hoặc dùng Ngũ Giới, Thập Thiện đưa họ vào hai thừa Nhân - Thiên khiến cho họ gieo nhân thù thắng tiến vào Phật đạo, hoặc dùng Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ vạn hạnh đưa vào ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát khiến cho họ có được cận duyên chứng Phật đạo. Bắt đầu từ thời A Hàm cho đến thời Bát Nhã, không thời nào chẳng thuận theo căn tánh để tuyên nói khiến cho chúng sanh dần dần tiến lên, theo đường về nhà, nhưng bản hoài của Phật vẫn còn ẩn kín chưa nói. Đến hội Pháp Hoa, khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn, Nhân - Thiên - Quyền - Tiểu đều là Nhất Thừa. Người khách coi mình là kẻ hèn, thật sự là con ông trưởng giả. Thọ ký cho khắp ba căn, phô bày thông suốt lớn lao bổn hoài, cùng với hội Hoa Nghiêm ban đầu, đầu và cuối soi rọi lẫn nhau. Có thể nói là “một đại sự nhân duyên đã được giao phó toàn thể, trọn chẳng còn giấu diếm điều gì!” Lại do chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, việc đoạn Hoặc chứng Chân thật hiếm có người. Do vậy, đặc biệt mở ra một môn Tịnh Độ, để thượng - trung - hạ căn dù thánh hay phàm đều cùng trong một đời này thoát khỏi Sa Bà sanh sang Cực Lạc, dần dần chứng được quang minh thọ mạng vô lượng. Lòng từ bi sâu xa lớn lao ấy thật là cùng cực không còn gì hơn được nữa! 

Đến khi đại giáo truyền sang Đông, bậc đại sĩ hoằng pháp ai nấy chuyên chú một môn, hoặc Thiền, hoặc Giảng, hoặc Luật, hoặc Mật, như bốn cửa thành gần cửa nào bèn vào cửa nấy. Như vạn món thuốc, thuốc nào trị đúng bệnh bèn uống. Như những chức vụ trong các ty thuộc các bộ, giúp đỡ nhau hoàn thành công việc hành chánh. Như sáu căn hỗ trợ nhau, phụ trợ cho một thân. Tuy mỗi người đề cao một pháp, nhưng thật ra pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn vẹn; chẳng qua từ chỗ thực hành mà nói thì mới có những tên gọi như vậy. Còn như một pháp Tịnh Độ thì giống như thuốc A Già Đà trị chung vạn bệnh, như Ma Ni bảo châu tùy ý tuôn các thứ báu. Nếu có thể thâu nhiếp sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, sẽ đắc Tam Ma Địa, tự chứng Viên Thông, hết thảy công đức, hà sa diệu nghĩa, chẳng nhọc lòng cầu bên ngoài, đều hiện nơi tự tâm. Đó là vì dùng Quả Địa Giác (sự giác ngộ nơi chứng quả) làm Nhân Địa Tâm (cái tâm khi tu nhân); đến mức cùng cực thì Nhân trùm biển Quả, Quả thấu tột nguồn Nhân. Sự mầu nhiệm của pháp môn này dù hết cả kiếp vẫn khó tuyên thuyết, ai gặp được thì còn may mắn nào hơn? 

Hòa thượng Khả Đoan chùa Trường Sanh ở Duy Dương xưa đã trồng cội đức, tham cứu Thiền - Giảng đã lâu. Năm Dân Quốc thứ tám (1919), do sư Tánh Liên thoái ẩn, giao cho hòa thượng làm Trụ Trì. Nhân đó, nghĩ kinh Hoa Nghiêm chính là căn bản pháp luân của Như Lai, bèn tận lực diễn giảng, ngõ hầu hết thảy chúng sanh dù u hay hiển[18], đều cùng phát khởi thiện căn Nhất Thừa. Phải mất cả ba năm mới giảng hết bộ kinh, nhưng hàng cư sĩ hộ pháp cảm lòng chí thành của Sư, lại xin tiếp tục giảng hòng bồi dưỡng nhân tài. Nhân đấy, Sư mở Hoa Nghiêm đại học viện, hạn định số học sinh là bốn mươi tám người. Lại nghĩ đoạn quang minh chẳng thể nghĩ bàn này chiếu khắp pháp giới, cố nhiên là do sức thần thông đạo lực, là phước huệ trang nghiêm của Như Lai, nhưng quang minh này ai nấy đều có, chẳng ai là không. Tuy vậy, [giống như] hạt châu trong chéo áo, tượng trong khuôn, người hiểu được Bổn tuy có, nhưng kẻ chấp vào Tích thật nhiều. Nỡ nào để cho những người cùng có quang minh này phần nhiều ở mãi trong nhà tối, chẳng thụ dụng được; trái lại, còn biến ánh sáng chân thường viên mãn chiếu khắp pháp giới chẳng thể nghĩ bàn này thành cội gốc để kết nghiệp sanh tử ư? 

Do vậy, Sư tính mỗi tháng ra một lần báo, đặt tên là Phật Quang. Do nhất niệm tâm tánh, Phật như, chúng sanh như, nhất như, vô nhị như[19], nên phàm là nhân duyên ban bố giáo hóa của Như Lai, thật tế của tâm tánh chân thường, nhân quả, Ngũ Giới, Thập Thiện, sự cảm ứng của việc kiêng giết, phóng sanh, thiện hạnh thế gian, Tịnh nghiệp xuất thế, nỗi khổ luân hồi sanh tử, báo ứng nhân quả nhỏ nhiệm, cũng như lời hay hạnh đẹp, trước thuật, bài giảng của bậc cao nhân triết sĩ đều được tùy duyên ghi chép để giúp cho [người đọc] quán cảm. Tuy là Chân - Tục cùng diễn nói, nhưng sâu - cạn đều đầy đủ, lời thô lẽ tế đều quy về Đệ Nhất Nghĩa. Do vậy, người nhân trông thấy cho là Nhân, người trí trông thấy cho là Trí, lấy đó làm hướng dẫn ban đầu để bước vào cảnh giới Phật, là duyên thù thắng để mở rộng tâm quang. 

Nếu người đọc biết được tự tâm vốn là Phật tâm, liền biết Phật quang chính là tâm quang. Nhưng tâm quang này tịch - chiếu viên dung, tịch nhưng thường chiếu, nên là vô lượng quang; chiếu nhưng thường tịch nên là vô lượng thọ. Lý thể của vô lượng quang thọ hết thảy mọi người đều có. Muốn thật sự chứng vô lượng quang thọ thì phải đợi đến khi vãng sanh Tây Phương gặp mặt Di Đà, được Phật thọ ký, viên mãn Bồ Đề xong rồi mới đạt được triệt để. Đây chính là ý chỉ sâu xa của chỗ quy tông kinh Hoa Nghiêm “dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. Phàm những ai cùng hàng với tôi, đã được may mắn hãy nên tin tưởng chắc thật. 

 

53. Lời tựa quyên mộ tu sửa tháp viện của Vân Cốc thiền sư 

 

      Cao Tăng đắc đạo vào thuở xa xưa, đến một ngàn mấy trăm năm sau, nếu có ai trông thấy tượng Ngài, hoặc đọc trước thuật, đi qua những nơi Ngài đã lưu ngụ, chiêm ngưỡng ngôi tháp đóng kín, đều có thể khiến cho người ấy sanh lòng hổ thẹn, sanh tâm kính ngưỡng, dũng mãnh phát khởi đại chí, tận lực tu Tịnh nghiệp để mong noi dấu gương lớn, chấn hưng pháp đạo, ngõ hầu huệ mạng của Như Lai được tiếp nối chẳng dứt, chẳng đến nỗi phụ ý nghĩa “con người sánh cùng với trời đất xưng là Tam Tài, Tăng cùng với Phật, Pháp được gọi là Tam Bảo”.

 Thiền sư Vân Cốc đời Minh chính là người như vậy. Sư nương nguyện lực xưa, vào năm Hoằng Trị thứ 13 (1500), thị hiện sanh trong nhà họ Hoài ở Tư Sơn, Gia Thiện[20], đi tu từ bé, triệt ngộ tự tánh. Bình sinh tu tập tuy chú trọng vào Thiền, nhưng đối với các tông Tánh, Tướng, tâm yếu của Nho, Đạo, không gì chẳng dung hội quán thông. Vì thế, nhằm lúc Thiền - Giáo suy đồi, Nho - Đạo tối tăm, Sư làm cho Tông phong chấn hưng, tâm pháp sáng tỏa, khiến cho thế đạo nhân tâm được lợi ích quả thật chẳng nhỏ. Những người kế thừa được pháp của Ngài, dung thông cả Nho lẫn Thích khiến cho tâm pháp Linh Sơn, Tứ Thủy được tỏ bày rõ ràng thì Tăng như Hám Sơn đại sư, tục như ông Viên Liễu Phàm là những nhân vật nổi tiếng nhất. Sư tịch diệt năm Vạn Lịch thứ ba (1575), được dựng tháp bên chùa Thê Chân. Đến năm Vạn Lịch 45 (1617), ngài Hám Sơn đến lễ tháp, thấy tháp viện vắng lặng, chỉ có một vị Tăng chăm nom hương đèn. Nhân đó, bèn giao cho cư sĩ Trầm Định Phàm tu bổ cho trang nghiêm và lập ruộng Trường Sanh để làm kế sách lâu dài. Đến nay đã hơn ba trăm năm, hiện thời tuy nền móng vẫn còn, nhưng tường vách, nhà cửa không còn, khiến cho di tích của cổ đức không ai biết đến nữa. Gần đây, thế đạo nhân tâm ngày càng đi xuống, tà kiến lẫy lừng, chánh pháp suy vi. Nếu chẳng nêu bày gương mẫu tốt lành của cổ đức, làm sao chấn hưng Tông phong, khiến cho tà ma, ngoại đạo quy hàng cho được? 

Cư sĩ Đồ Ban Âm ở Gia Hưng lo lắng, toan dựng lại tháp viện, in khắc, lưu truyền những chuyện hạnh - đức của Ngài, ngõ hầu hết thảy mọi người xuất gia, tại gia đều biết gương thơm của cổ đức. Từ đấy, vãn hồi được quyền tạo hóa: “Mạng do ta lập”, đoạn trừ phiền não chướng, “Phật từ tâm hiện”, kế thừa được chí của các vị Hám Sơn, Liễu Phàm, an ủi lòng Vân Cốc thiền sư. Nhưng do công trình rộng lớn sức một người khó thành, chẳng thể không cầu các vị đại đàn-việt giúp đỡ. Nếu như ai nấy đều có thể nương theo lời dạy “mạng do ta lập, phước do chính ta cầu” của Vân Cốc Thiền Sư, dốc sức thực hiện thì ngũ phước, tam đa đều nườm nượp trên thân, thiên tai nhân họa tuyệt chẳng nghe trong đời. Công huân khôn lường, lợi ích chẳng thể nêu được. Mong sao chẳng đến nỗi vì tiếc tài sản là của cải chung của năm nhà mà chẳng làm việc phước tam sinh hữu hạnh này. Do vậy trần thuật duyên do, mong mọi người cùng tán trợ vậy! 

 

54. Lời tựa tái bản bộ Tây Phương Công Cứ[21] 

 

      Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt để phổ độ chúng sanh của Như Lai. Đức Như Lai nghĩ thương chúng sanh nên thị hiện thành Chánh Giác, thuận theo mọi căn cơ, khéo léo khuyên dụ dần dần. Với hàng đại căn bèn dạy ngộ “nhất tâm tạo trọn mọi thứ”, đoạn Hoặc chứng chân, dùng đó để tiến thẳng vào Bồ Đề. Với hàng tiểu khí thì dạy hiểu rõ nhân quả ba đời, hướng lành, tránh dữ để làm phương tiện nhập đạo. Tuy Đại - Tiểu bất đồng, Quyền - Thật khác biệt, nhưng đều phải đoạn được hai thứ Kiến Hoặc và Tư Hoặc mới có thể thoát khỏi phần đoạn sanh tử. Nếu Hoặc nghiệp chưa hết, đạo quả chưa thành, dẫu có tu trì vẫn chẳng thể tự làm chủ được! Ở trong sanh tử đã lâu, người tấn đạo thì ít, kẻ lui sụt thì nhiều là vì đạo chẳng thắng nổi tập khí, nghiệp ràng buộc tâm. Ví như chén bát chưa nung, gặp mưa liền rã. Tuy có công từ trước vẫn hoàn toàn chẳng được lợi ích gì. Do lẽ đó, Phật bèn đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, khiến cho dù phàm hay thánh, dù trí hay ngu đều dùng lòng tin sâu, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đây chính là dùng tín nguyện của chính mình để cảm Phật từ bi, cảm ứng đạo giao ắt được nhiếp thọ. Đến khi lâm chung được theo Phật vãng sanh. Đã vãng sanh là đã đoạn Hoặc, mau chứng Vô Sanh. Người có đủ nghiệp chướng buộc ràng cũng dự vào địa vị Bất Thoái. Từ đấy thân cận Di Đà, dự vào hải chúng, được un đúc, dưỡng dục, giáo hóa, nhiễm mùi hương mầu nhiệm của Như Lai, chướng hết, trí trọn, khôi phục Phật tánh sẵn có. Nâng đỡ căn cơ kém cỏi, khéo dụ sơ tâm, chỉ có mình pháp môn này thật là bậc nhất. Ân Như Lai rộng lớn châu đáo, dẫu thiên địa, cha mẹ cũng không thể sánh ví được muôn một!

 Người xưa muốn cho đồng nhân ai nấy đều tu Tịnh nghiệp; do vậy bèn tập hợp kinh, chú, những bài văn, lời nói và những sự ứng nghiệm tạo thành một cuốn sách, đặt tên là Tây Phương Công Cứ. Công Cứ có nghĩa là cái chuôi (cốt lõi) và bằng khoán vậy. Nếu có thể thọ trì A Di Đà Kinh sẽ biết thế giới Cực Lạc chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng những điều vui, y báo, chánh báo trang nghiêm, đủ mọi công đức; A Di Đà Phật hiện đang thuyết pháp, thọ mạng, quang minh vô lượng, thệ nguyện rộng sâu; các thượng thiện nhân cùng ở chung một chỗ, đều do tu diệu hạnh “nhiều phước đức nhân duyên” tín nguyện niệm Phật mà được sanh. [Biết vậy rồi] ai mà không thật sự vì sanh tử, phát tâm Bồ Đề, dùng lòng tín nguyện sâu xa, thiết tha để mong gần là được đạt lên địa vị Bất Thoái, xa là viên thành Phật đạo? Huống chi chư Phật sáu phương lợi ích khắp các chúng sanh, Bổn Sư Thích Ca đắc vô thượng đạo, không vị nào chẳng khởi đầu từ pháp này mà rốt cuộc cũng quy về pháp này đó ư? 

Ấy là vì hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, tâm này làm Phật, tâm này là Phật, do lấy Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm, cho nên nhân bao trùm biển quả, quả tột nguồn nhân. Pháp môn mầu nhiệm, không còn gì mầu nhiệm hơn được nữa, là chỗ quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm. Quả thật pháp này đã diễn giảng trọn vẹn thông suốt bổn hoài của Như Lai. Có duyên gặp được thì chính là nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên. Nhằm ngăn ngừa nghi ngờ, lui sụt, nên còn gộp cả vào sách những đồ thuyết[22] ứng nghiệm. Ông Từ Triệu Hành xưa có linh căn, đau xót song thân mất sớm, mong họ cùng lên chín phẩm sen; do vậy, phát tâm tái bản để rộng lưu truyền. Ngõ hầu cha mẹ trong đời này cũng như kẻ oán người thân nhiều kiếp, khắp cả pháp giới chúng sanh cùng vào biển nguyện của Phật Di Đà. Tôi mến lòng hiếu thuận của ông ta, bèn thuật những nét chánh. Nếu người đọc không cho lời tôi là sai, ắt sẽ có ngày tự chứng đại sự nhân duyên rất sâu vô thượng này vậy, còn mong mỏi gì hơn! 

 

55. Lời tựa cho Hồng Kiều Tịnh Độ Đường ở Lạc Thanh[23] 

 

      Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn phổ độ chúng sanh, viên đốn, thẳng tắt, rộng lớn, giản dị nhất của Như Lai. Vì sao nói vậy? Do trong hết thảy pháp môn đều phải đoạn Kiến Hoặc và Tư Hoặc mới hòng liễu thoát sanh tử. Nhưng đoạn Kiến Hoặc giống như cắt ngang dòng nước rộng bốn mươi dặm, huống chi Tư Hoặc? Đoạn Kiến Hoặc liền chứng Sơ Quả. Nếu ước theo Viên Giáo thì là bậc Sơ Tín. Đoạn sạch Tư Hoặc liền chứng Tứ Quả, tức là Thất Tín trong Viên Giáo. Sơ Quả Sơ Tín vẫn còn sanh tử, Tứ Quả Thất Tín mới liễu thoát được. Nhưng Thiên Thai Trí Giả đại sư thị hiện thuộc vào địa vị Ngũ Phẩm. Tuy sở ngộ đã bằng với chư Phật, khuất phục trọn vẹn Ngũ Trụ phiền não[24], nhưng Kiến Hoặc vẫn chưa hề đoạn được. Thế nhưng Bổn Địa của đại sư thật sự chẳng thể suy lường, lâm chung chỉ nói mình chứng Ngũ Phẩm [là vì] Ngài lo sâu xa cho đời Mạt chẳng dốc sức đoạn Hoặc chứng chân, chỉ lấy minh tâm kiến tánh làm chuyện rốt ráo. Minh tâm kiến tánh chính là đại triệt đại ngộ. Nếu là bậc tối thượng thượng căn thì hễ ngộ bèn chứng, nên liền giải quyết xong. Nếu không, dẫu biết được chuyện vị lai như sư Viên Trạch vẫn chẳng tránh khỏi bị thọ sanh lần nữa. Như Ngũ Tổ Giới lại làm Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh lại sanh làm Lỗ Công, [tuy thế] vẫn chưa phải là quá tệ. Như sư Hải Ấn Tín trở thành con gái ông Châu Phòng Ngự, kể ra đã khó chịu đựng nổi. Ông Tăng núi Nhạn Đãng trở thành Tần Cối thì thật đáng thương xót quá sức! 

Tự lực đoạn Hoặc chứng chân liễu sanh thoát tử khó khăn quá lắm! Những giáo lý tu chứng thông thường đức Như Lai đã nói trong cả một đời tuy là nhiều thứ pháp môn khác nhau, nhưng chẳng hề có chuyện còn đầy đủ Hoặc nghiệp lại có thể liễu sanh thoát tử! Chỉ có mình pháp môn Tịnh Độ, hễ có đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, dùng tâm chí thành trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương, bất luận Hoặc nghiệp dầy - mỏng, công phu cạn - sâu, đều trong lúc lâm chung nhờ vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Đã được vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Từ đấy, dần dần tấn tu, liền tự chứng được Vô Sanh cho đến viên mãn Phật Quả. 

Đây chính là pháp môn đặc biệt do Như Lai thương xót chúng sanh căn cơ kém hèn làm cho họ đều được ngay trong đời này nhanh chóng thoát luân hồi. Phải biết pháp môn Tịnh Độ thật ra để thâu nhiếp người căn cơ thượng thượng! Vì thế, Thiện Tài đã chứng Đẳng Giác, Phổ Hiền Bồ Tát còn dạy dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh ngõ hầu viên mãn Phật quả. Lại còn đem điều ấy khuyên khắp Hoa Tạng hải chúng. Do vậy, biết rằng: “Một pháp hồi hướng vãng sanh Tịnh Độ chính là bước cuối cùng để viên mãn Phật quả!” 

Đời có kẻ cuồng chẳng xét kỹ giáo lý, thấy ngu phu ngu phụ đều có thể tu trì pháp này, bèn miệt thị là pháp Tiểu Thừa. Chẳng biết đây chính là pháp môn bậc nhất “thành thủy thành chung, một đời thành Phật” của kinh Hoa Nghiêm. Cũng có kẻ ngu tri kiến hẹp hòi, cho rằng công phu của chính mình cạn mỏng, nghiệp lực sâu dầy, làm sao vãng sanh cho được? Chẳng biết tâm tánh của chúng sanh và tâm tánh chư Phật không hai. Ngũ Nghịch, Thập Ác sắp đọa địa ngục, gặp thiện tri thức dạy cho niệm Phật hoặc đủ mười tiếng hoặc chỉ mấy tiếng rồi liền lâm chung còn được vãng sanh. Quán kinh nói thế, cớ sao không tin? Bọn họ còn vãng sanh, huống chi chúng ta dẫu có tội nghiệp, nhưng còn có chút công phu, so với phường Ngũ Nghịch, Thập Ác niệm mười tiếng hay mấy tiếng kia, đương nhiên còn cao hơn rất nhiều, cớ sao lại tự khinh, tự bỏ, đến nỗi đánh mất lợi ích vô thượng này! 

Như Lai gọi pháp môn Tịnh Độ này là “pháp khó tin” bởi lẽ pháp này hạ thủ dễ dàng nhưng thành công cao, dùng sức ít nhưng được hiệu quả nhanh chóng, viên đốn, thẳng tắt, rộng lớn, giản dị hơn hẳn những giáo lý thông thường trong cả một đời đức Phật giáo hóa. Nếu chẳng phải xưa đã có thiện căn, quyết khó thể tin nhận phụng hành. Tôi thường nói: “Chín pháp giới chúng sanh lìa môn này thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo, mười phương chư Phật bỏ pháp này thì dưới chẳng thể lợi khắp quần manh”, đấy chính là sự thật vậy! Nay đang là lúc nào? Chính là thời đao binh, đói kém, tật dịch đều nhóm họp, tuy chưa đến nỗi là ba tiểu tai[25], nhưng cũng đã là hiện tượng của ba tiểu tai vậy! Huống chi tà thuyết tung hoành, tri thức hiếm hoi, muốn nghe chánh pháp thật chẳng dễ gì! Có cư sĩ Hồ Thiên Bộc phát Bồ Đề tâm, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, lại muốn cho đồng nhân ai nấy đều được lợi ích, bèn cực lực đề xướng, khuyên dạy. Đúng là lấy chuyện “giúp cho sự sanh trưởng của trời đất, thay Phật hoằng dương, giáo hóa” làm thiên chức! Người một phương nghe ông thuyết pháp, cảm thời thế này, khôn ngăn cái tâm chán lìa, ưa thích[26] tràn trề nẩy sanh. Một người xướng, mọi người hòa, không đâu chẳng phục tùng. Do vậy, cư sĩ tự bỏ ra đất đai và quyên mộ thiện tín, lập Niệm Phật Đường, đào ao phóng sanh và lầu Tàng Kinh, Công Đức Đường, Hương Tích Trù (tức nhà bếp), Ứng Cúng Đường (trai đường), nghiễm nhiên từ mặt đất vọt lên một đại đạo tràng. 

Niệm Phật Đường thật rộng lớn, trong ấy thờ tượng đứng của Tây Phương Tam Thánh ngõ hầu hành nhân thường ngắm nhìn, lâm chung liền được tiếp dẫn. Ngay chính giữa lập tòa thuyết pháp, người nghe ngồi chung quanh. Dù đông đến ngàn người cũng chẳng chật chội, ngõ hầu người từ bốn phương đến chẳng đến nỗi than thở vì chen chúc. Lầu Tàng Kinh thỉnh đủ kinh khắc từ các nơi cho những người phát tâm thọ trì, nghiên cứu. Công Đức Đường thì ghi đủ những số mục công đức của những người đã đóng góp. Lại còn lập đầy đủ các bài vị để người còn phước tăng thọ dài, kẻ mất lên thẳng Liên Bang. Nhưng nếu đã chuyển pháp luân, không giúp thực luân (ăn uống) thì quyết khó thể ở lâu chẳng về. Do vậy, lập riêng Hương Tích Trù, Ứng Cúng Đường khiến cho người niệm Phật nghe pháp ai nấy đều được thỏa lòng vừa ý mới thôi. Ao Phóng Sanh ở trước pháp đường dành để nuôi những con vật suýt bị nấu nướng, chẳng những nuôi sống sắc thân chúng, lại còn dùng tiếng kinh, Phật hiệu giúp cho huệ mạng của chúng. Những xây dựng đều hết sức châu đáo. Ước tính tốn hơn một vạn sáu ngàn đồng, nay đã lạc thành, tính khai giảng vào ngày Rằm tháng Tám Âm lịch này, quả là chuyện hiếm thấy trong đời Mạt Pháp. 

Lại nhờ bạn ông ta là Trương Vân Lôi gởi thư cho Quang, xin viết lời tựa dẫn giải hòng khởi phát, mở rộng tín tâm. Nhân đó, tôi bèn đem nguyên do đức Như Lai nói ra hai thứ pháp môn thông thường và đặc biệt, cũng như tâm hạnh của Hồ cư sĩ và cách thức sắp đặt, trình bày đại khái, ngõ hầu người đọc đều bắt chước theo. Nếu người thấy nghe đều cùng phát tâm này thì phong tục thuần mỹ, dân mạnh, vật mạnh, chuyển ngũ trược ác thế thành Liên Bang thanh tịnh. Đấy chính là điều Quang tôi thường thơm thảo cầu đảo vậy. Nguyện các thượng thiện nhân ai nấy rủ lòng thương xót thì may mắn lắm thay! 

 

56. Lời tựa sách A Di Đà Kinh Trực Giải 

 

      Một niệm tâm tánh của chúng ta quả thật chẳng hai, chẳng khác với Phật Thích Ca, Phật Di Đà; nhưng Phật Thích Ca, Phật Di Đà đã thành Phật đạo từ trần điểm kiếp trước, lại còn bao lần thị hiện giáng sanh, bao lần thị hiện nhập diệt để thực hiện sự giáo hóa. Phật muốn làm cho chúng ta noi theo dấu thơm, nhưng chúng ta không có sức đoạn trừ phiền não Hoặc nghiệp, mãi cho đến ngày nay vẫn trong sanh tử luân hồi thoạt chìm thoạt nổi, chẳng biết làm thế nào để ngưng dứt. Dẫu bao kiếp trước từng nghe Phật pháp, y giáo tu hành, nhưng do tự lực hèn yếu chẳng thể đoạn Hoặc, nên vẫn cứ đắm chìm trong biển khổ sanh tử y như cũ không thể thoát được! Im lặng suy nghĩ, há chẳng hổ thẹn ư? 

Phật Thích Ca, Phật Di Đà xét thấu lẽ ấy, đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật, dạy nương vào Phật từ lực vượt ngang ra khỏi tam giới khiến cho thượng trung hạ căn cùng được vãng sanh Tây Phương, có thể nói thật là đại từ bi đến cùng cực không chi hơn được nữa! Nhân duyên khởi lên giáo pháp, pháp tắc tu trì được thấy trọn vẹn trong Tịnh Độ Tam Kinh, nhưng kinh A Di Đà ngôn từ giản dị, nghĩa lý trọn vẹn, dễ dàng thọ trì. Do vậy, cổ nhân xếp vào kinh nhật tụng, muốn cho nhà nhà được khuyến hóa, thấu hiểu, đều được tắm gội pháp trạch! Bởi thế, các thiện tri thức thảy đều chú thích, khác nào mặt trời, mặt trăng giữa trời nên không nghĩa nào chẳng hiển hiện, không căn cơ nào chẳng được thâu nhiếp. Nhưng hàng sơ cơ đối với văn sâu nghĩa thẳm khó thể lãnh hội, cho nên cư sĩ Vương Hiển Giang đặc biệt tạo phương tiện, đem những điều sách Yếu Giải đã chú sớ diễn giải lại bằng ngôn ngữ thông thường, dễ hiểu, đặt tên là Trực Giải, kèm thêm những nghi vấn về Tịnh Độ. Cái tâm tự lập, lập người, tự lợi, lợi tha ấy có thể nói thật là thiết tha. Hiển Ấm pháp sư viết lời tựa, muốn cho hết thảy đồng nhân ai nấy đều sanh lòng tin chân thật, chất phác niệm Phật, bèn sai Quang viết thêm lời tựa khác, nên tôi bèn trình bày chuyện này cùng người đọc. 

 

57. Lời tựa sách Thập Tam Kinh Độc Bản 

 

       Trời đất dùng hai khí Âm - Dương để hóa sanh vạn vật. Thánh nhân dùng “thành minh nhất trí” để giáo dục quần manh. Ấy là Đạo vậy! Theo chiều ngang truyền khắp muôn nước, theo chiều dọc lưu truyền muôn đời. Những người hiểu biết đều tuân hành, không ai biết suy nghĩ chẳng phục. Dẫu thánh nhân sống lại cũng chẳng thể lập pháp nào khác. Cũng chẳng qua là phát huy đạo Thành Minh cho được phô bày trọn vẹn triệt để, giãi bày hết cả ra mà thôi! Thập Tam Kinh là đại kinh, đại pháp “cách vật trí tri, thành ý chánh tâm, tu - tề - trị - bình” được nhị đế, tam vương[27], Châu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử tiếp nối ngôi trời lập ra để giáo hóa muôn đời. Nó chính là lý tột cùng thiên địa không riêng tư, là lương tri sẵn có của chúng ta. Thoạt đầu chẳng có gì đặc biệt, lạ lùng, huyền diệu, chẳng thể đạt đến được, dẫu là kẻ ngu phu ngu phụ cũng vẫn có thể thực hiện được. Bởi lẽ, con người có cùng một cái tâm này, tâm có cùng một lý này. Nghiêu - Thuấn cũng như mọi người, mà ai nấy cũng đều có thể trở thành Nghiêu - Thuấn. Nếu tuân hành theo thì ai nấy đều thành thánh, thế giới đại đồng. 

Thế đạo suy sụp, nhân tâm tệ bạc là do Nho gia chẳng biết đạo nằm ở chỗ tận tụy thực hành, một mực chạy theo cái ngọn, nhất loạt gác lại chuyện “khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành” không bàn đến nữa, chỉ lo học thuộc từ chương, hòng làm cái vốn tiến thủ, xử thế. Do vậy, biến cái đạo giúp cho quyền sanh thành, giáo hóa của thánh nhân trở thành một nghề khéo hòng thâu danh đoạt lợi. Đúng là vu hãm, khinh miệt thánh nhân, trái nghịch thiên địa đến cùng cực vậy! Do thế, người đọc sách tâm chẳng hiểu nghĩa sách, thân chẳng hành theo đạo sách đã dạy. Khi làm văn bèn phát huy đạo hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ chẳng sót mảy may nào, nhưng xét đến chỗ suy nghĩ, xử sự, hoàn toàn chẳng có những khí phận ấy! Khác gì kép hát diễn tuồng, khổ - sướng, buồn - vui diễn cho thật giống, thật ra chẳng mảy may gì liên can đến chính hắn. Mối tệ ấy một khi khởi lên dần dần ngày càng trở thành quá đáng. Do vậy, những kẻ có thiên tư quen thói cuồng vọng, xấu hổ phải noi theo dấu của Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng, cứ muốn vượt lên, rốt cuộc thành ra vứt bỏ thánh kinh, đua nhau soạn sách mới. Tà thuyết vừa dấy, [đại chúng] đua nhau phụ họa, đến nỗi những kẻ tiểu nhân xấu hèn muốn phô phang cái tâm cướp đoạt, gian dâm của chính mình, bèn vội vã đề xướng và thực hiện thuyết chung vợ, chung tài sản; chỉ sợ dân chúng chẳng giống với loài cầm thú, sợ cương thường luân lý gây trở ngại cho chính mình, đến nỗi thiên tai nhân họa liên tục giáng xuống, vận nước nguy ngập, dân không lẽ sống! Ví như đi đêm vứt đuốc, đi biển bỏ thuyền, muốn chẳng sa xẩy, chìm đắm, há có được chăng? 

Ông Thi Triệu Tăng sợ đạo này diệt mất bèn cùng với hai ba người cùng chí hướng lập ra Quốc Học Chuyên Tu Quán, tụ tập những người có chí nơi đạo này để chuyên tinh nghiên cứu, đích thân tận lực thực hành, mong lưu truyền rộng những điều sở đắc. Ông Đường Văn Trị hơn mười năm qua tinh thông đạo này, sưu tập những bản Thập Tam Kinh hay nhất, chọn lấy những bản chú giải giản dị, xác đáng, gộp thành một tập; lại đối với mỗi một kinh chọn ra mấy câu hòng nêu được ý nghĩa chính, ghép vào cuối kinh. Dụng tâm có thể nói là hết sức tha thiết. Ông Thi bèn cho khắc in để lưu truyền trong các trường học, ngõ hầu ai nấy đọc tụng, tập tành theo. Khắc xong, chính ông ta và ông Đường đều viết lời tựa, thuật rõ duyên do. Lại nhờ tôi viết lời tựa. Tôi nghĩ Thập Tam Kinh lưu truyền trong đời như mặt trời, mặt trăng sáng vằng vặc giữa trời, ai có mắt đều thấy; cần gì đợi ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo này chỉ bày nữa ư? Tuy đạo cố nhiên không hai, nhưng người nhân kẻ trí thấy khác, nên chẳng ngại đem sở kiến của mình thuật cùng người nhân, kẻ trí, chưa chắc chẳng giúp gì được cho việc thấu hiểu kinh, mong thành thánh vậy. 

Trộm nghĩ: Đạo được phát minh bởi Thập Tam Kinh chính là đạo “cách vật trí tri, thành ý, chánh tâm, tu - tề - trị - bình”, nhưng xiển phát yếu chỉ “cách vật trí tri, thành ý chánh tâm, tu - tề - trị - bình” chỉ có sách Đại Học là nói lớp lang, trình bày tột cùng. Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử đều phát huy nghĩa này, nhưng chẳng nói tuần tự theo thứ lớp. Do vậy, biết Tứ Thư chính là chú sớ của kinh Dịch, kinh Thư, kinh Thi, Châu Lễ, Lễ Nghi, Lễ Ký để đạo ấy được sáng tỏ lớn lao. Hiếu Kinh thúc đẩy cho việc thực hành đạo ấy được hữu hiệu. Ba truyện Xuân Thu[28] chính là những chứng nghiệm của chuyện tuân thủ, trái nghịch, được - mất vậy. Do đó, bổn tâm của chúng ta, đạo tân truyền của chư thánh đều được sáng tỏ. Dùng đó để kế tục cổ thánh, mở lối cho hậu học. Công ấy bằng với công trời che đất chở. Những kẻ bỏ kinh khác gì muốn vứt bỏ trời che đất chở để tự lập ư? Những kẻ ấy chẳng biết sự vụ quá đáng! Hướng theo đó mà cầu thì mọi chuyện mong thành thánh thành hiền, đạo trị quốc tân dân không gì chẳng rõ ràng từng điều như từng đường chỉ trong bàn tay. Không mong thành thánh thành hiền thì thôi, chứ nếu muốn thành thánh thành hiền thì đạo thánh hiền tự sẵn đủ nơi thân và tâm chúng ta. Những giải thích từ sách Nhĩ Nhã[29] chính là chú thích chung cho các kinh, ngõ hầu dù văn hay nghĩa đều được hiểu rõ. Như vậy, Nhĩ Nhã là giải nghĩa ở mức độ ban đầu, còn Tứ Thư là pháp môn tổng trì thành thủy thành chung. 

Bàn đến ý nghĩa trọng yếu ở một mức độ cao hơn thì Minh Đức là gốc, còn làm sáng tỏ Minh Đức lại chính là mấu chốt để từ phàm tiến lên thánh, để con người hợp với trời. “Làm sáng tỏ được Minh Đức” (minh Minh Đức) thì trong là thánh đạo, ngoài là vương đạo đều được trọn vẹn vậy. Nhưng muốn làm sáng tỏ Minh Đức thì phải trừ khử “món vật” nhân dục cho hết sạch không còn sót gì khiến cho Chân Tri sẵn có ngay trong tâm được triệt để phơi bày trọn vẹn. Bổn phận của người đọc sách chỉ nằm trong mấy điều ít ỏi này mà thôi. Còn gì thẳng tắt, còn gì dễ dàng hơn? Mới biết ai cũng có thể là Nghiêu - Thuấn, ngu phu ngu phụ cũng có thể biết được, làm được. Đấy chính là chân ngữ, thật ngữ; do con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này. Muốn cho thế đạo nhân tâm chuyển từ loạn thành yên, biến ác nghiệt thành thuần hòa, mà bỏ điều này thì không còn cách gì nữa! Không biết ông Thi, ông Đường có cho lời tôi luận là đúng hay không? Nhưng những điều này là luận trên pháp thế gian, chớ lầm tưởng là luận về pháp xuất thế gian. Tha thiết dặn dò vậy! 

 

58. Lời tựa dùng phẩm Đoạn Thực Nhục (dứt ăn thịt) của kinh Lăng Già để răn thần đừng hưởng đồ cúng mặn 

(viết thay cho cư sĩ Lư Trí Duệ ở huyện Y tỉnh An Huy) 

 

      Kính cẩn dựa theo lời Phật: Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, do nhân duyên tội phước mà luân hồi sáu nẻo. Nếu chẳng tận lực tu Giới - Định - Huệ để mong đoạn sạch tham - sân - si và sanh tín phát nguyện niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì không cách nào thoát ly được. Đây chính là vì ta cùng hết thảy chúng sanh sống trên không, dưới nước, trong sáu nẻo từ vô thỉ đến nay không ai chẳng xoay vần làm cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái, bạn bè, thân thích, không một ai trong vị lai chẳng được nghe Phật pháp tu Giới - Định - Huệ, đoạn sạch phiền hoặc, viên thành Phật đạo. Do vậy, Như Lai truyền dạy các đệ tử kiêng giết, phóng sanh, chớ ăn các loại thịt. Nhưng tình ý mê muội của thế tục thường cho rằng cúng đồ mặn mới là cung kính, chẳng biết cả mình lẫn người đều gieo nhân ác đến nỗi tương lai phải chịu ác báo. 

Nay ta đã biết tội lỗi của việc ăn thịt há nỡ để người trong cùng một làng vẫn chấp vào tình kiến mê muội ấy, để nhân duyên tội nghiệp ăn thịt làm lụy đến vị tôn thần ư? Lại sợ tôn thần chưa hiểu thấu duyên do mà sanh sân nộ, giáng xuống tai họa khiến người trong làng mê muội càng nặng, khiến cho ác báo trong tương lai của người trong làng và tôn thần càng thêm sâu, thêm lớn, chẳng dễ gì tiêu diệt được! Do vậy, riêng lấy phẩm Đoạn Thực Nhục từ kinh Nhập Lăng Già[30] của đức Phật đã nói cung kính thiêu trước lò hương của thần, ngõ hầu trên hiểu thấu lòng từ của Phật, dưới thương xót tấm ngu thành, yêu tiếc mạng loài vật, chẳng hưởng của cúng tế bằng thịt. Phàm những khi cúng chay bèn ban cho may mắn. Nếu dùng đồ mặn bèn hiện ra họa ương, khiến cho người trong làng cùng cảm nhận đức thông minh, chánh trực, hiếu sanh, ghét giết chóc của tôn thần, khiến cho gió Từ thổi khắp, hòng bồi đắp gốc đạo Bồ Đề, vãn hồi kiếp vận, cùng vui thái bình vô sự. Kính mong thần hãy sáng soi thì người trong làng may mắn lắm, vận nước may mắn lắm! 

 

59. Lời tựa cho Đồng Giới Lục của chùa Phổ Chiếu ở Dương Châu 

 

      Như Lai đại pháp ứng khắp chín giới, thượng thánh hạ phàm đều được un đúc. Tuy pháp môn vô lượng chẳng dễ nói trọn, nhưng nêu đại cương chung thì chỉ có Giới - Định - Huệ. Ấy chính là chỗ trọng yếu để nhập đạo. Thoạt đầu thì dùng Giới để giữ thân, kế đến dùng Định để lắng tịnh ý niệm, rồi dùng Huệ để phá Hoặc. Do vậy, đoạn được Ngũ Trụ Phiền Hoặc, chứng được bí tạng tam đức. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ”. Đây gọi là Tam Vô Lậu Học. Ba pháp này như ba chân của cái đỉnh, nếu khuyết một thì khó thể đứng vững. Tuy nói có ba nhưng tu thì chỉ một tâm. Bởi lẽ Giới không có Định - Huệ thì chẳng phải là Giới xuất thế; Định không có Giới - Huệ thì chẳng phải là Định xuất thế. Huệ không có Giới - Định chẳng phải là Huệ xuất thế. Do vậy biết ba pháp ấy vốn là một pháp. Nói có ba là do chú trọng hoằng dương nơi mặt nào mà đặt tên, cũng như do nơi tu chứng đạt được ích lợi mà phán định ý nghĩa. Kinh Phạm Võng dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành. Thường nên tin như thế thì Giới Phẩm đã trọn đủ”. Lại dạy: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật liền nhập vào địa vị chư Phật, địa vị bằng với Đại Giác, thật sự là con chư Phật vậy”. Đủ thấy Giới thống nhiếp các pháp. Do đó, tri thức hoằng dương, người học tu trì, không ai chẳng lấy Giới làm nhiệm vụ trước tiên. 

Phổ Chiếu Tự do Đạo Thanh lão nhân sáng lập. Lão nhân thị hiện sanh nơi Tứ Xuyên, tuổi mới nhược quan (20 tuổi) liền chán trần lao, bèn đến xuất gia tại Hoa Nghiêm Đảnh ở Nga Mi Sơn, được thọ giới rồi tận lực tham cứu đến cùng để thấu tỏ tâm yếu, muốn tham học các nơi để mở rộng tâm địa, khi đi qua Dương Châu được thân sĩ làng Vĩnh Trấn ngoài cửa Từ Ngưng biết đến, thỉnh Sư trụ trì tại tiểu miếu Thái Dương Cung nơi ấy. Lão nhân xét thấy chỗ ấy có thể lập đạo tràng, do vốn có túc duyên, nên bèn chấp nhận. Vào năm đầu đời Quang Tự (1875) nhà Thanh trước kia bèn quyên mộ khắp mười phương mở mang nền móng, điện Phật, lầu kinh chót vót tận mây. Phàm những gì tùng lâm nên có, việc tu hành cần phải có thì không gì chẳng đầy đủ. Từ đấy mùa Đông tọa Thiền, mùa Hạ giảng pháp, rộng mở cửa cứu độ. Thiện sĩ, đạt nhân thảy đều y chỉ. Đến năm Quang Tự 22 (1896), lên kinh đô thỉnh kinh, được vua chấp thuận sắc tứ biển ngạch “Phổ Chiếu Thiền Tự”. Quả thật không còn gì may mắn hơn. Liền vào mùa Đông năm ấy, khai đàn truyền giới để báo ân nước, cầu phước cho dân. Cho đến năm Dân Quốc thứ năm (1916), đã mở giới đàn năm lần, ba lần mở trường giảng, luôn luôn tu trì. Tuy Thiền - Tịnh cùng hành, nhưng chú trọng nơi Tịnh Độ. Đến năm Dân Quốc thứ 8 (1919), Sư tuổi đã tám mươi tư, bèn thị hiện viên tịch trở về Cực Lạc, cùng với hải hội thánh chúng thân cận Di Đà để chứng vô lượng quang thọ; đệ tử thế độ đắc pháp rất nhiều. 

Vì Sư có vị cao túc[31] tên là Đạo Hương, thân thiết và thuận thảo với Quang, muốn vào mùa Đông này đưa Ngài ra khỏi khám[32] dựng tháp thờ, vào ngày Rằm tháng Chín bèn mở đàn truyền giới đến ngày mồng Tám Đông nguyệt (tháng Chạp) là viên mãn để báo ân Phật, tạo phước ngầm cho thầy, sai Quang viết lời tựa. Quang nghĩ Phật giáo lấy Hiếu làm gốc; cho nên, kinh Phạm Võng dạy: “Hiếu gọi là Giới, cũng gọi là chế chỉ (ngăn dứt), hiếu thuận là pháp đạo tột cùng. Y giáo phụng hành mới gọi là Hiếu”. Y giáo phụng hành thì những gì Phật đạt được chính ta sẽ đạt được, từ phiền não sẽ thành Bồ Đề, ngay trong sanh tử chứng Niết Bàn, mới khỏi cô phụ ân Phật giáo hóa, chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình, là bậc trượng phu lỗi lạc, là con chân thật của đức Như Lai. Nếu chẳng y giáo phụng hành thì dưới lớp ca-sa, đánh mất thân người, nỗi khổ tam đồ ác đạo dẫu hết cả kiếp vẫn chưa thể nói hết được. Nguyện các Phật tử thọ giới ai nấy đều gắng lên. 

 

60. Lời tựa khắc lại bộ Thủy Lục Nghi Quỹ 

 

       Ơn Phật rộng lớn, trọn khắp, chẳng còn sót tí gì. Thoạt mới thành Chánh Giác, bèn nói ra pháp Ngài đã chứng, chỉ riêng hàng Pháp Thân đại sĩ mới có thể lãnh hội được; nhân, thiên, phàm phu, Tiểu Thừa chẳng thấy, chẳng nghe. Do vậy, bèn từ Thật bày ra Quyền, ẩn Đại dùng Tiểu, tùy thuận cơ nghi, khéo léo khuyến dụ dần dần, đợi đến khi đã đoạn Phiền Hoặc, đã chứng Chân Đế, rồi mới quở trách mọi lẽ, nhiều cách đào thải, khiến cho phát đại tâm cầu Phật quả, chẳng trụ vào pháp mà tu vạn hạnh. Đến khi căn cơ đã chín muồi bèn hội tam quy nhất, khai Quyền hiển Thật, thọ ký thành Phật cho khắp tất cả, diễn bày thông suốt lớn lao bổn hoài xuất thế. Từ đấy, hiểu rõ hết thảy các pháp đều là Phật pháp, hết thảy mọi người đều là Phật tử, không còn ai cam lòng thoái khuất. 

Lại còn thương xót những kẻ tự lực kém hèn, hiện tại quyết khó thể liễu thoát, liền đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ khiến cho họ cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Có những kẻ tội chướng sâu nặng, định nghiệp chẳng dễ chuyển dời, bèn mở rộng bí mật quán đạo khiến cho họ nương vào sức Tam Mật[33] diệt cho hết sạch không còn sót. Nhưng hai pháp này là đạo để phàm lẫn thánh cùng tu, là pháp thành thủy thành chung; do chúng rõ ràng thiên về hàng phàm phu bị nghiệp buộc ràng khiến cho họ mau được lợi ích thù thắng mà nói như vậy; chứ thật ra mười phương tam thế chư Phật không vị nào chẳng do pháp này mà viên thành Phật đạo, không vị nào chẳng dùng pháp này để phổ độ quần manh. 

Đến khi pháp truyền sang Chấn Đán, Lương Võ Đế lên ngôi, thuật giấc mộng cùng cao tăng để phổ độ các hàm linh; nhân đó, [chư Tăng] đọc trọn Đại Tạng, soạn thành nghi quỹ này. Từ đấy lưu thông cho đến ngày nay. Xét về nguồn cội thì dùng vô lượng oai đức đà-la-ni để phát khởi. Xét trên mặt trước thuật và cách xếp đặt thì hết thảy các pháp trong cả một đời giáo hóa không gì chẳng nêu trọn để đọc tụng, tu trì. Do đó, pháp môn ấy rộng lớn, lợi ích sâu rộng, không những làm cho lục đạo phàm phu mau thoát khỏi nghiệp trói buộc mà còn làm cho tam thừa thánh nhân mau chứng Bồ Đề. 

Người có thể hoằng đạo, lòng thành kham phù hợp lẽ chân! Nếu vị trai chủ thỉnh pháp và các sư tác pháp ai nấy đều dốc kiệt lòng thành, tận lòng kính thì lợi ích không thể nào diễn tả được. Ví như mùa Xuân về trên cõi đất, thảo mộc đều được sanh thành; vầng trăng sáng vằng vặc giữa trời, sông ngòi mỗi đều hiện bóng. Vì thế, đương nhân được nghiệp tiêu trí rạng, chướng hết, phước cao, tiên vong đều được sanh về Tịnh Độ, sở cầu không gì chẳng toại ý, lại khiến cho oán thân bao kiếp, hàm linh trong pháp giới đều được tắm gội ân quang Tam Bảo, cùng kết duyên chủng Bồ Đề. Nếu trai chủ chẳng thành tâm thì công đức bỏ tiền [làm pháp hội] hữu hạn, tội lỗi khinh mạn pháp vô cùng. Tăng chúng chẳng chí thành thì thổi ống bễ, thổi sáo thành kinh, nhịp chày giã gạo thành lễ[34]. Lúc Tam Bảo long thiên giáng lâm, làm chuyện lỗ mãng, quấy quá, tắc trách, làm sao núi tội không cao chót vót, biển phước cạn khô, sống thì mắc họa tai, chết bị khổ sở[35] cho được? Sách này là bản của Hàng Thản[36], mờ mịt quá sức, chùa Thiên Đồng dù khắc cũng khó được phổ cập. Do vậy, Tịch Công chùa Vạn Thọ ở Duy Dương, Dũ Công chùa Bảo Luân v.v… quyên tiền để khắc lại hầu được lưu truyền rộng rãi, sai Quang ghi lại năm tháng. Do vậy, lược thuật nguyên ủy cũng như điều lợi, mối tệ, để người theo đuổi pháp này chỉ được lợi ích, chẳng bị tổn hại, thì Phật thánh hoan hỷ, phước lẫn huệ cả hai cùng tăng trưởng. Nguyện những người tu pháp này ai nấy đều gắng lên. 

 

61. Lời tựa quyên mộ tu bổ, xây dựng ao phóng sanh chùa Đại Phật ở Tân Xương[37] 

 

      Nho thì lấy “trung hậu, khoan thứ, thương yêu người và vật như ruột thịt, như chính mình” làm trách nhiệm, ắt phải coi người khác cho đến loài vật đều như chính bản thân mình thì mới là người học đạo thật sự. Họ Thích lấy từ bi tế độ làm trọng. Vì vậy, thương xót các loài vật đều có Phật tánh, muốn thực hiện sự cứu giúp. Hiềm rằng người đời sát sanh ăn thịt đã thành thói quen, chẳng biết như vậy là sai, đến nỗi đời đời kiếp kiếp lần lượt giết lẫn nhau trọn chẳng khi nào ngơi! Chẳng đáng buồn ư? Phải biết con người và loài vật cùng mang cái thân máu thịt này, cùng có tánh linh tri này, cùng sống trong vòng trời đất, chỉ vì đây - kia kiếp trước tội - phước bất đồng đến nỗi đời này hình dáng, thể chất, lanh lợi - ngu xuẩn sai khác. Cậy mình mạnh lấn áp kẻ yếu, ăn thịt chúng nó để no bụng mình, khoái lòng sướng ý, cho là có phước báo, chẳng biết một khi phước lực vừa hết, nghiệp báo hiện tiền, đọa trong dị loại: Lúc bị người ta giết hại, thân không chống lại được, miệng không nói được, trong tâm lo sợ, đau khổ, mới biết chuyện ăn thịt là tội lỗi lớn! Người ăn thịt quả thật là La Sát[38]. Dù có muốn chẳng bị người khác giết ăn thịt cũng không thể được. 

Do vậy, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Do người ăn thịt dê, dê chết thành người, người chết thành dê, như thế cho đến mười đời giống như vậy, chết chết, sống sống, ăn nuốt lẫn nhau, do ác nghiệp cùng sanh ra cho đến tận đời vị lai”. Huống chi từ nhiều kiếp đến nay lại sanh ra nhau. Đã không có đạo lực để cứu tế, nỡ nào khiến chúng nó chịu nỗi đau cùng cực bị dao chặt xẻ để cho ta hưởng vị ngon nơi lưỡi miệng ư? Trong kinh Nhập Lăng Già, đức Thế Tôn quở trách thói ăn thịt nhiều lần. Có câu: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay, luân hồi trong sanh tử chẳng ngơi, không ai chẳng từng là cha mẹ, anh em, con cái, quyến thuộc, cho đến là bằng hữu, người thân ái, tôi tớ. Qua đời khác bèn mang thân chim, thú v.v… Sao lại bắt lấy chúng để ăn thịt?” Phàm những người sát sanh ăn thịt, nếu nghĩ đến điều này ắt sẽ run rẩy, kinh sợ, tỉnh ngộ. Thà tự giết mình, chẳng thể giết hết thảy loài vật! 

Vùng Tân Xương có quả núi tên là Thạch Thành, trên núi đục cái khám và tượng Di Lặc to cả trăm thước, do ba vị sư là Tăng Hộ, Tăng Thục đời Tề và Tăng Hựu đời Lương tạo dựng. Tướng hảo trang nghiêm, đẹp đẽ không thể sánh tầy. Chùa nơi ấy là Tây Môn của Thiên Thai, Trí Giả đại sư nhập diệt tại đó. Có lẽ muốn ngụ ý: Trước là kế tục Linh Sơn, sau là phụ trợ hội Long Hoa. Suốt cả đời Đại Sư tùy cơ thuyết pháp, Ngài đặc biệt chú trọng phóng sanh. Do dân vùng Thiên Thai đa số theo nghề đánh cá, để cứu vớt, Ngài mua một chỗ đánh cá, biến thành ao phóng sanh. Lại còn giảng cho ngư dân nghe kinh Kim Quang Minh. Ngư dân nghe pháp đều hiếu sanh, bỏ giết chóc, ai nấy đều bỏ đăng, đó trên sông ngòi . Cả sáu mươi ba chỗ rộng đến hơn ba trăm dặm, đều biến thành ao phóng sanh. Những ai đánh bắt trộm bèn lập tức mắc họa. Đến đời Đường vẫn y như vậy. Nhưng lâu ngày, người đã khuất, pháp tàn, lệnh cấm lỏng lẻo, đến nỗi cái ao ngoài chùa Đại Phật cũng trở thành chỗ đánh cá. Cư sĩ Mã Khế Từ ngưỡng mộ đức hạnh tốt đẹp, công huân thù thắng của các vị Tăng Hộ, Tăng Thục, Tăng Hựu, Trí Giả, muốn cho đồng nhân và hết thảy loài vật sống trên cạn, dưới nước, bay trên không đều được hưởng hết tuổi trời, cùng sanh về Cực Lạc, tương lai cùng được dự ba hội Long Hoa, nên đặc biệt xin ban hành lệnh nghiêm cấm, cho khắc lên đá ngõ hầu tồn tại vĩnh cửu. 

Nhưng ao đã lâu chưa vét, bùn lầy đầy ứ, lại còn phải dựng tường vây quanh bên ngoài để phòng kẻ bắt trộm. Lại còn phải dựng cầu, sửa đập, cất đình, đắp đường; nào phải chỉ nhằm làm cho quang cảnh đẹp mắt mà thật ra là muốn cho những người đến lễ Phật trông thấy cảnh sắc lòng vui thư thái, trên là khế hợp tâm Phật, ngõ hầu tiêu trừ được thiên tai nhân họa mà không hay không biết! Nhưng do công trình rộng lớn không thể không quyên mộ mười phương quan viên, thân sĩ, thương gia cùng hết thảy thiện tín. Khẩn khoản mong mọi người phát lòng “chúng sanh và Phật đồng thể, loài vật và ta chẳng hai”, cùng bỏ ra tịnh tài khiến cho quang cảnh này được thành tựu thì công đức ấy có cùng thọ lượng với mười phương hư không. 

 

62. Lời tựa truyền giới của Kim Sơn Giang Thiên Thiền Tự 

      

      Như Lai dùng ba sự để khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài nơi đời, chúng sanh [nhờ đó] đều được độ thoát. Ba sự ấy là gì? Chính là Giới - Định - Huệ. Do chúng sanh một bề trái giác, xuôi trần, luân hồi sáu nẻo, nay muốn cho họ trái trần, hợp giác, tiến lên chứng được Niết Bàn; nếu không có Giới thì do không bị trói buộc ắt sẽ rong ruổi theo trần cảnh bèn khởi Hoặc tạo nghiệp. Nếu không có Định thì sóng thức dâng trào, tâm làm sao vô sở trụ cho được? Nếu không có Huệ thì do đâu mà chứng triệt để được chân tâm sẵn có, các vọng Hoặc huyễn khởi biết nhờ đâu để diệt nhanh chóng cho được? Vì thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ. Đây chính là Tam Vô Lậu Học”. Phải biết ba pháp này cả ba đều là một, hoàn toàn là một nhưng lại là ba, chớ nói Giới chỉ là nền tảng ban đầu của Định và Huệ! Phàm Luật Nghi Giới giữ cho thân không vi phạm thì có thể gọi là “nền tảng ban đầu”, nhưng Định kết hợp với Giới giữ cho [vọng] tâm chẳng khởi; Đạo kết hợp cùng Giới thì nghiệp tận tình không, thấu tột lẽ Chân, trí sáng suốt, há chẳng phải là công dụng toàn thể lớn lao của Định - Huệ, há có nên coi Giới chỉ là nền tảng ban đầu mà thôi ư? Định kết hợp với Giới hay Đạo kết hợp với Giới vẫn lấy Luật Nghi làm bản thể; nhưng do công dụng trì giới sâu hay cạn mà lập ra hai tên, chứ ngay từ ban đầu nào có Giới Bổn được nói riêng rẽ ư? Người đời thường bàn luận về Luật Nghi, nhưng chẳng hề biết đến ý nghĩa lớn lao chế định Giới của Như Lai nên xem thường; nhưng Chân Giới, Chân Định, Chân Huệ, không gì chẳng nhờ vào sự nghe để un đúc cho đạt được, thật đáng than thở vậy! 

      Pháp đạo của Như Lai phạm vi rộng lớn trọn khắp mười giới. Tuy những vị hoằng pháp đại sĩ ai nấy đều tam học viên minh (hiểu rõ thông suốt Giới - Định - Huệ), nhưng tạo lập môn đình, mỗi một vị không thể không có một pháp chuyên chú riêng. Nếu chuyên chú nơi “chỉ, tác, trì phạm”[39] thì gọi là Luật. Nếu chuyên chú nơi tu quán, giảng diễn thì gọi là Giáo. Nếu chuyên chú tham cứu bản lai để mong triệt ngộ thì gọi là Tông. Tông mang tên là “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo), nhưng Luật - Giáo chính là “giáo nội chân truyền”. Nói “biệt truyền” là nhằm làm cho con người thấy được bản thể nằm ngoài ngôn ngữ, chứ không có nghĩa là Tông vượt ra khỏi giáo lý! Thử nhìn xem: Đức Thế Tôn cầm cành hoa giơ lên, Ca Diếp mỉm cười, quang cảnh nơi bổn địa triệt để hiển lộ trọn vẹn. Hiểu được điều này thì tất cả hình sắc trong thế gian không gì chẳng phải là cành hoa đức Thế Tôn đã giơ lên, không gì chẳng làm cho con người thấy thấu triệt bản lai diện mục trước khi được cha mẹ sanh ra. Huống chi vô thượng diệu pháp được tuyên nói bởi kim khẩu của Như Lai lại chẳng phải là cành hoa ấy, lại chẳng thể làm cho con người đích thân thấy được bản lai diện mục hay sao? Thế nhưng, trời người trăm vạn, dù thấy đức Thế Tôn giơ cành hoa lên nhưng hết thảy đều ngơ ngác, cũng như đang cỡi trâu lại đi tìm trâu, trọn chẳng thể tìm được! 

Nếu biết “trực hạ tiện thị”[40] sẽ thành tựu ngay trong hiện tại biết bao nhiêu, đỡ tốn sức biết bao nhiêu. Do họ mê chẳng biết quay trở lại giống như cái đầu của chàng Diễn Nhã[41], vô cớ phát cuồng bỏ chạy, hạt châu trong chéo áo mà oan uổng chịu bần cùng. Thật đáng buồn thay! Phải biết dù là Luật, là Giáo, hay là Tông, phải toàn vẹn ba điều này mới hòng tiếp nối huệ mạng Phật, truyền được pháp đạo của Phật. Nếu thiếu khuyết thì trên chẳng đủ để chứng Vô Thượng Bồ Đề, dưới chẳng đủ để độ hết thảy hàm thức! Lô Xá Na Phật[42] lấy Giới làm Thể. Do không điều ác nào chẳng tận nên gọi là Tịnh, do không điều thiện nào chẳng trọn vẹn nên gọi là Mãn. Đoạn ác tu thiện chính là hành trì hai thứ Chỉ và Tác vậy. Luật là Phật thân, Giáo là Phật ngữ, Tông là Phật tâm. Ba thứ thân - ngữ - tâm quyết khó tách rời, quyết khó thể thiếu nhau. Nếu không, một cánh khó bay, một bánh xe khó lăn. Muốn tự lợi, lợi tha, lại càng khó được như nguyện! 

Kim Sơn là đạo tràng trứ danh hơn một ngàn năm qua, tuy tu trọn ba pháp nhưng chuyên chú nơi Tông. Vì thế, xưa nay những bậc đại triệt đại ngộ ở đấy không biết bao nhiêu mà kể. Cứ cách vài năm lại truyền giới một lần, một là để kế thừa quy mô lớn lao trước kia của Phật, hai là làm gương mẫu tốt lành cho hàng hậu học. Cựu trụ trì Thanh Công và trụ trì Dung Công đều là bạn cũ mấy mươi năm trước. Mùa Thu năm nay lên núi ngắm cảnh, hai vị khẩn khoản lưu lại nghỉ đêm, nhân đó cho biết chúng thường trụ nơi ấy định mở đàn truyền giới vào năm sau, sai Quang viết lời tựa để phát huy ý nghĩa. Đối với Tông, đối với Giáo, đối với Luật, Quang đều chẳng có tâm đắc gì, làm sao đảm nhận nổi lời phó chúc? Chỉ đành đem những gì đã lãnh hội hằng ngày từ Phật, Tổ, cổ đức qua sự thấy biết hèn tệ của mình trình bày tóm lược cho xong trách nhiệm. 

Kinh Di Giáo nói: “Hàng tỳ-kheo các ông sau khi ta diệt độ, nên tôn trọng trân kính Ba La Đề Mộc Xoa[43], như trong tối gặp được ánh sáng, như người nghèo được của báu. Nên biết đấy chính là đại sư của các ông, giống như ta trụ thế chẳng hề khác gì!” Kinh Phạm Võng dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật chưa thành. Nếu tin được như thế thì giới phẩm đã đầy đủ”. Lại nói: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật tức là đã dự vào địa vị của chư Phật, địa vị đã giống với Đại Giác, thật sự là con của chư Phật”. Xin các Phật tử thọ giới ai nấy hãy tự biết mình vốn đã là Phật, do mê trái nên đâm ra dùng sức công đức Phật tánh ấy để luân hồi sáu nẻo, bị các sự khổ cùng cực. 

Như Chuyển Luân Thánh Vương mộng thấy mình là con kiến, lần theo mùi tanh tưởi dưới thềm, tự thấy mình thấp hèn, nhỏ nhoi, chứ thân vua nằm trên giường vẫn y như cũ chẳng bị mất. Đến khi tỉnh giấc, mới biết là huyễn mộng biến thành thân con kiến, trọn chẳng có thật thể. Hết thảy chúng sanh cũng giống như vậy. [Chúng sanh là] Phật vốn chưa thành, nghiệp vốn là không, nhưng lầm tạo. Đề cao thánh cảnh, cam bề phàm ngu, nhường cho riêng mình đức Thích Ca Thế Tôn làm bậc trượng phu hùng mãnh, há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Nếu các Phật tử thọ giới ai nấy gắng công thì chẳng những không phụ một phen Dung Công khổ tâm truyền giới, mà còn có thể an ủi thánh ý của đức Như Lai một phen xuất thế chế giới vậy. 

 

63. Lời tựa cho bộ Trừng Tín Lục Tu Bổ Cầu Cống từ huyện Cận đến Khưu Ải Trấn[44] 

 

      Cuộc sống người dân hằng ngày sự vụ đa đoan. Nếu chẳng nhờ vào giao thông qua lại, đây - kia đắp đổi nhau thì chẳng sự nào được thành, sanh kế cũng bị đoạn tuyệt theo. Do vậy, sửa sang đường sá chính là nhiệm vụ cấp bách của việc trị quốc bình thiên hạ. Vì vậy, kinh Thi mới có câu: “Châu đạo như chỉ, kỳ trực như thỉ” (đường nhà Châu phẳng như mài, thẳng như mũi tên), kinh Thư mới có những câu như “vương đạo đãng đãng, vương đạo bình bình” (đường vua thênh thang, đường vua bằng phẳng). Nếu có kẻ bảo những câu ấy nhằm sánh ví nề nếp cai trị của nhà vua, chứ không phải nói về đường sá, thì hãy nghĩ thử xem: Nếu đường sá không tu bổ, chẳng những truyền phát hiệu lệnh bị trở ngại, đình trệ, mà nông, công, thương cổ[45] qua lại cùng những quan chức đến nhậm chức, đi công tác đều chẳng thể nhanh chóng toại ý được! Huống chi nếu không có những chuyện “như mũi tên, như được mài, thênh thang, bằng phẳng” thì dùng những điều đó để sánh ví nề nếp cai trị của vua thì có khác gì phỉ báng nề nếp cai trị của nhà vua hay chăng? 

Do vậy, sách Châu Lễ [chép chuyện vua] lập ra chức Tư Hiểm Hầu, Nguyệt Lệnh còn ghi lệnh sửa sang đường sá. Đến như những vị chánh thần hộ quốc giúp dân như hai vị đại đế Đông Nhạc[46], Văn Xương thảy đều thị hiện làm chuyện này. Chẳng thấy hai Ngài sửa cầu đắp đường có ích cho người đi, và sửa chữa những con đường khúc khuỷu mấy trăm năm, bắc cầu cho ngàn vạn người qua lại đó sao? Hơn nữa, Trì Địa Bồ Tát do sửa sang, bồi đắp đường sá phẳng phiu nên chứng viên thông. Do vậy, biết tam giáo thánh hiền không ai chẳng chú trọng chuyện này. 

Từ Cận huyện đi về phía Đông đến Khưu Ải Trấn hơn hai mươi dặm đường, đi qua những cây cầu lớn - nhỏ tổng cộng có hai mươi ba cái. Xây dựng, tu bổ đã lâu, dần dần thấy hư hỏng. Người trong ấp là tiên sinh Mã Nguyên Bồi phát tâm sửa chữa vào năm ngoái. Do vậy bèn quyên mộ các thiện tín ai nấy bỏ ra tịnh tài và đích thân đứng trông coi thợ, để mỗi một cây cầu đều được khôi phục dáng vẻ cũ. Những chỗ nào sông to, nước sâu thì dựng thêm lan can đá để ngừa cho người đi đêm hôm và kẻ không mắt khỏi bị té ngã, tổng cộng tốn hơn hai ngàn đồng. Nay công việc đã xong, muốn đem công sá sửa chữa cầu và các khoản tiền quyên góp ghi chép đầy đủ vào sổ, đem in rồi gởi tặng để tỏ rõ lòng thành tín. Lại muốn cho người đọc biết được lợi ích nên xin Quang phát huy nghĩa ấy để cho ai nấy đều chú ý. Nhưng loại sách này đọc xong liền thành phế vật, cho nên bèn phụ thêm lời chú thích của tiên sinh Lục Đình Tiếp đối với sách Trị Gia Cách Ngôn của tiên sinh Châu Bách Lư và cuốn Thường Thức Tinh Hoa được ghi chép bởi Lão Thân Báo. Hai tác phẩm này đều có thể dùng để xử thế, trị gia, dạy con thật thiết thực cũng như là pháp để lúc nhỏ thì biết làm những gì thích đáng, lớn lên mong thành thánh thành hiền. Dụng tâm đáng gọi là chân thành, tha thiết. Nguyện những người đọc cùng lấy tâm này làm tâm mình thì lợi ích há có thể nghĩ bàn cho thấu được chăng? 

 

64. Lời tựa sách Tịnh Độ Thích Nghi 

 

      Phật pháp sâu rộng, khác nào đại hải. Hạng phàm phu sát đất ai có thể thấu nguồn tột đáy, một hơi nuốt hết cho được? Tuy nhiên, nếu sanh được tâm chánh tín sẽ tự có thể tùy phần tùy sức ai nấy được lợi ích. Ví như Tu La, hương tượng và các loài muỗi mòng uống nước biển cả, loài nào loài nấy đều được no bụng mới thôi. Như Lai xuất thế tùy thuận chúng sanh, vì họ thuyết pháp, khiến ai nấy đều được lợi ích cũng giống như thế. Nhưng chúng sanh thời Mạt nghiệp chướng sâu nặng, thiện căn cạn mỏng, tâm trí hẹp kém, thọ mạng ngắn ngủi. Lại thêm tri thức hiếm hoi, tà ma ngoại đạo tung hoành, nếu tu những pháp môn khác mà muốn cho trong đời này đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử quả thật là chuyện rất khó, hiếm có. Chỉ có một mình pháp Tịnh Độ chuyên cậy vào Phật lực cho nên chẳng cần luận đến đoạn chứng, chỉ dựa vào tín nguyện. Tín nguyện nếu có đủ, dù là phường tội lớn cực ác sắp đọa A Tỳ địa ngục cũng vẫn có thể cậy vào sức Thập Niệm, chóng nhờ vào Phật từ tiếp dẫn vãng sanh.

Ôi! Như Lai đại từ phổ độ, chẳng bỏ sót một ai. Chỉ có mỗi pháp này thật là châu đáo, thiết tha nhất. Do vậy, Tây Thiên, Đông Độ, Bồ Tát, tổ sư, cao tăng, đại nho, không ai chẳng dùng pháp này để tự lợi, lợi tha. Tất cả trước thuật cực kỳ rộng lớn, muốn tìm hiểu nguyên ủy nào phải là chuyện dễ dàng. Cư sĩ Vị Ngư Lâm Sư Thượng túc căn sâu dầy, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, tận tâm chuyên tinh nghiên cứu đã nhiều năm, muốn hướng dẫn khắp các đồng nhân đều sanh về Tịnh Độ nên trích lấy những nghĩa trọng yếu từ các kinh luận, trước thuật Tịnh Độ, soạn thành tác phẩm, như ghép các miếng da thành áo cừu, như gom hoa làm mật, quả thật thích hợp thời tiết, căn cơ, phô diễn biện tài khéo léo, soạn thành tất cả năm mươi bảy thiên, đặt tên là Tịnh Độ Thích Nghi (cởi gỡ mối nghi về Tịnh Độ). Lời lẽ ngắn gọn nhưng tinh xác, lý sâu nhưng rõ ràng, khiến người đọc không mối nghi nào chẳng cởi gỡ, dù nghĩa nào cũng đều phục. Do đây, chẳng muốn phát sanh lòng tin phát nguyện trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương cũng chẳng thể được! 

Nhưng cư sĩ đã có thể tập hợp một hai câu, một tiết, một đoạn của tiền nhân, rồi lại dựa theo ý của mình kết hợp thành văn, sao không dùng văn của chính mình để phát huy? Ấy là vì muốn cho người đọc biết được những điều vừa nói ấy đều có xuất xứ. Tuy do chính mình soạn tập, nhưng quả thật trích từ kinh, luận, ngữ lục và các trước thuật, là những điều do Phật, Bồ Tát, tổ sư, các thiện tri thức đã nói, gây ảnh hưởng sâu cho người, gây xúc cảm thiết tha cho người, so với việc chuyên dùng lời lẽ của mình để trình bày thật hơn hẳn nhiều lắm. Trộm nghĩ: Thuyết pháp cho bậc thượng trí thì dễ, bởi người trí hiểu được lý, không còn ngờ vực; như ngựa hay thấy bóng roi liền chạy[47], lúa tốt được mưa ngọt liền sum suê. Vì kẻ hạ ngu thuyết pháp cũng dễ, do tâm kẻ ấy không có thành kiến, tin tưởng hành theo ngay; như chất ngọt có thể trộn được, như lụa trắng dễ nhuốm màu. Chỉ khi nào vì kẻ trung căn thuyết pháp thì quả thật chẳng dễ. Bởi lẽ tri thức của họ phức tạp, lộn xộn, tà - chánh chẳng phân, thường hay dùng phàm tình suy lường thánh trí, dùng tục kiến (kiến giải thế gian) để lãnh hội chân lý. Dù nói đủ mọi thứ hướng dẫn, khơi gợi, họ vẫn cứ hoài nghi hết điều này sang điều khác. Do vậy, phải đặt ra những câu vấn đáp đến hơn năm mươi bảy lần, khiến cho những mối hồ nghi hết sạch, Phật lý được tỏ bày. Người biết tốt - xấu thảy đều tuân hành. Có thể nói là tận tâm, chuyên tinh, dốc kiệt lòng thành, là bậc kiện tướng dẹp sạch nghi hoặc. Nhưng mọi mối nghi đã cởi gỡ, phải dũng mãnh phát đại chí, chỉ giữ mỗi một niệm thì tâm vương do Phật lực sẽ luôn tỉnh giác, giặc cướp phiền não không đất dung thân, muốn chẳng quy hàng cũng không được! Giặc cướp phiền não đã quy thuận sự giáo hóa của Phật thì tuy chưa ra khỏi Sa Bà đã không còn là người khách lâu ngày ở Sa Bà nữa; tuy chưa sanh Cực Lạc nhưng đã là khách quý cõi Cực Lạc. Như thế, trên chẳng cô phụ Phật giáo hóa, dưới chẳng phụ bạc tánh linh của chính mình. Đến cùng tột đời vị lai, cùng với hải hội đại chúng thân cận A Di Đà Phật trong cõi Tịch Quang Tịnh Độ, há chẳng phải là bậc đại trượng phu hùng mãnh ư? Nguyện người thấy nghe đều gắng sức lên. 

 

65. Lời tựa cho lần tái bản tác phẩm sớ giải kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật của ngài Thiện Đạo 

 

      Con người sống trong thế gian, họa - phước, cát - hung thay nhau xảy tới, nhưng bị tổn hại hay lợi ích chỉ là do con người khéo dùng tâm hay không. Chư Phật xót thương chính mình và hết thảy chúng sanh bị ba khổ, tám khổ, vô lượng các khổ bức bách não hại. Do vậy, suy nghĩ khổ báo đang phải chịu là ác nghiệp từ đời quá khứ cảm thành. Ác nghiệp đã tạo là do đối trước sáu trần cảnh, chẳng biết chúng như huyễn, như hóa, lầm khởi tâm tham - sân - si mà ra. Do vậy, biết phiền hoặc tham - sân - si chính là đại oán gia của hết thảy chúng sanh. Từ đấy, dùng Giới - Định - Huệ đoạn tham - sân - si, khôi phục thiên chân sẵn có để thành vô thượng giác đạo. Như vậy, ba khổ, tám khổ v.v… quả thật là người hướng dẫn tốt lành cho chư Phật ba đời, là duyên lành vô thượng để chúng sanh vĩnh viễn lìa các nỗi khổ, thường hưởng những sự vui. 

Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh là đại pháp khiến cho khắp tất cả dù phàm hay thánh đều cùng trong một đời này vãng sanh Cực Lạc, dù Đốn hay Tiệm đều chứng Vô Sanh Nhẫn, cho đến viên thành Phật đạo. Do thánh thì tự lực đầy đủ, kiêm cậy vào Phật lực nên sự chứng nhập của họ thẳng chóng nhất; cho nên, Hoa Tạng hải chúng cùng nguyện vãng sanh. Còn kẻ phàm thì cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh, do vậy bèn siêu phàm nhập thánh, chứng địa vị Bất Thoái. Từ đấy, tu dần dần cho đến khi viên mãn Bồ Đề mới thôi. Trong kinh này, phần nói về Trung Phẩm dạy về giới thiện, phước thế gian, Hạ Phẩm nói về chúng sanh tạo các ác nghiệp và Ngũ Nghịch, Thập Ác sắp đọa địa ngục, do xưng niệm danh hiệu Phật bèn được vãng sanh. Lực dụng như thế rộng sâu bậc nhất. Ấy là do vua A Xà Thế nương đại nguyện luân, thị hiện hạnh ác nghịch, giam cha, ngăn mẹ để phát khởi [nhân duyên giảng kinh này]. Bà mẹ vua nhàm lìa Sa Bà, phát nguyện sanh về Cực Lạc, lại vì chúng sanh đời Mạt, cầu pháp vãng sanh. Thế Tôn bèn nói ra mười sáu phép quán, quán tưởng y báo của cõi nước Tây Phương đủ mọi trang nghiêm, chánh báo là tướng hảo, oai đức của Phật, Quán Âm, Thế Chí và nhân lẫn quả của cửu phẩm vãng sanh. 

Trong phần đầu của phép Quán Tượng thứ tám, đã nêu tỏ tông yếu như sau: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân, vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. Do vậy, khi tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh. Vì thế, hãy nên nhất tâm hệ niệm, quán tưởng kỹ càng đức Phật ấy”. Phải biết: Quán tưởng Pháp Thân, thật lý rất sâu. “Tâm làm Phật, tâm là Phật” sự vốn bình thường, bình thường nhưng phi thường, rất sâu nhưng chẳng sâu. Người viên ngộ lẽ này mới gọi là bậc thông đạt. Trong phép quán mười ba, đặc biệt mở ra phương tiện môn cho hàng chúng sanh căn cơ kém cỏi, dạy họ quán thân tướng một trượng sáu hay tám thước[48]. Phép quán thứ mười sáu lại khiến cho kẻ ác nghiệp nặng nề, xưng ngay vào danh hiệu Phật. Do xưng danh nên liền được vãng sanh. Do vậy, biết tướng có lớn - nhỏ, Phật vốn chỉ là một. Quán không được thì xưng danh bèn được lợi ích. Từ chỗ này suy nghĩ kỹ, biết một pháp Trì Danh thật là bậc nhất! Hành nhân đời Mạt muốn được quyết định vãng sanh ngay trong đời này há chẳng trân quý một hạnh Trì Danh này hay sao?