Quyển
thứ Ba
(Phần
2)
21.
Lời tựa bản thạch ấn sách Giản Ma Biện Dị Lục
(viết
thay cư sĩ Xí Giác Triệu Hy Y)
Từ khi Phật pháp truyền vào Trung Quốc, đế vương các đời
không ai chẳng sùng phụng, nhưng có những vị chỉ gieo hạt
giống kết duyên, có vị ngộ chứng, đủ mọi hạng bất
đồng. Tìm lấy một vị thâm nhập kinh tạng, đạt thẳng
nguồn Thiền, chứng diệu tâm Niết Bàn, có chánh nhãn Kim
Cang, nhân lúc tu - tề - trị - bình được rảnh rỗi, bèn
xiển dương tông chỉ “niêm hoa trực chỉ” (cầm cành hoa
giở lên để chỉ thẳng vào tâm)[1] thì chỉ có mình Thanh
Thế Tông hoàng đế là bậc nhất. Nếu không phải là bậc
Pháp Thân đại sĩ thừa nguyện tái lai, nắm vững cốt lõi
đạo Quyền - Thật bất nhị, độ chúng sanh luân hồi không
nơi nương tựa thì há có được như vậy hay chăng? Về trước
thuật của nhà vua, trong Đại Tạng có Viên Minh Cư Sĩ Ngữ
Lục gồm ba quyển (Viên Minh Cư Sĩ là đạo hiệu của Thanh
Thế Tông). Ngoài ra, những tự, bạt, truyện, ký, thấy rải
rác trong những kinh, luận, ngữ lục, thảy đều khéo léo
khế hợp tâm Phật, ngầm hợp ý Tổ. Chữ nào chữ nấy tỏ
rõ sự thật, lời nào lời nấy đều quy tông. Như gảy bàn
tính, như báu Ma Ni, phàm những ai có đủ con mắt không ai
chẳng bội phục!
Vào
cuối đời Minh, trong số đồ đệ của sư Mật Vân Viên Ngộ,
có Pháp Tạng tự là Hán Nguyệt, thiên tư thông minh, mẫn
tiệp, gốc ngã mạn sâu dầy. Sau khi đại ngộ, bèn muốn
làm bậc cao nhân thiên cổ độc nhất không ai sánh bằng,
vì thế lập bậy chủ kiến, viết sách Ngũ Tông Nguyên, mong
muốn vượt trội hết thảy. Chẳng biết Như Lai tâm ấn như
vầng trăng trong mát, mây ngã mạn vừa đùn, liền che mất
ánh trăng; Chân Như diệu tánh như thái hư không, bụi ngã
mạn vừa bay tung, liền bẩn thể chất của Không. Đủ mọi
thứ bôi vẽ, trau chuốt, bẹo hình bẹo dạng cuồng vọng,
trái nghịch, cầu thăng hóa đọa, biến khéo thành vụng. Mật
Vân quở lên, trách xuống, Pháp Tạng cùng với học trò là
Hoằng Nhẫn vẫn chấp mê chẳng tỉnh. Sư phải cứu vớt
nhiều lần nhưng ông ta lại toan lấn lướt ngài Mật Vân,
bảo “ta tự ngộ không cần thầy”, Mật Vân bị ép phải
đem mối đạo giao phó. Những ngôn thuyết của Pháp Tạng
phần nhiều là dối lập, ít có sự thật. Hàng tri thức thời
ấy tuy biết ông ta sai, nhưng thầy ông ta còn chẳng làm gì
được; lại thêm môn đình của ông ta quá mạnh, hàng sĩ
đại phu đa phần là kẻ ngoại hộ, chỉ sợ vừa phê phán
đã khó khỏi mắc họa. Do vậy, họ đều chẳng dám bàn đến
nữa.
Đến
năm Ung Chánh mười một (1733), Thế Tông xem khắp các ngữ
lục của Mật Vân, Pháp Tạng, Hoằng Nhẫn, thấy tri kiến
của họ lầm lạc liền chép ra hơn mấy mươi ý kiến phỏng
đoán, tà thuyết của họ để biện định chánh - tà một
phen. Tính ra đến hơn mười vạn chữ, đặt tên là Ngự Chế
Giản Ma Biện Dị Lục, liền cho khắc thành sách để thành
bản in của triều đình, lại truyền đưa sách ấy vào Đại
Tạng hòng trừ tà thuyết để chánh nhân tâm, chấn hưng Tông
phong, sáng tỏ đạo Tổ. Đến năm thứ mười ba (1735) khởi
công khắc in Đại Tạng, nhưng xe rồng đã lên làm khách cõi
trời. Cao Tông (Càn Long) kế vị, ngày ngày phải lo muôn chuyện,
chẳng rảnh rỗi đề xướng, đến nỗi rốt cuộc chẳng
được nhập tạng. Sách đã khắc thành bản in chánh thức
của triều đình được giữ trong đại nội, chẳng dễ lưu
thông. Vì thế, những hàng đại gia Tăng - tục bác học đa
văn hiện thời đều chẳng biết đến tựa đề sách này.
Năm
Giáp Thìn (1904) đời Quang Tự, bạn tôi là Tử Nhậm tìm được
hai bộ sách này ở chợ sách Bắc Kinh, gởi một bộ cho pháp
sư Đế Nhàn mong Ngài đề xướng quyên mộ lưu thông, một
bộ giao cho ông Dương Nhân Sơn gởi qua Nhật Bản, đưa vào
Đại Tạng Kinh bản in mới của Hoằng Giáo Thư Viện. Mùa
Xuân năm nay, tôi muốn vượt biển đến đất Hỗ (Thượng
Hải) gặp cư sĩ Địch Sở Thanh. Tôi nói: “Ông thích truyền
bá những sách cổ, sao không lấy cuốn Giản Ma Biện Dị Lục
trong Đại Tạng Kinh của Hoằng Giáo Thư Viện để khắc ván
ấn hành? Sách này do Thế Tông đem tâm pháp của Linh Sơn,
Tứ Thủy để mở đại quang minh tạng Kim Cang chánh nhãn cho
hai đạo Nho, Thích. Nếu sách này được lưu truyền, chẳng
những người tham Thiền lập tức biết chỗ quy hướng, ngay
cả người đề cao Khổng Mạnh để dò tìm Thành Minh đến
cùng cực cũng sẽ như ngồi thuyền gặp được gió thuận,
mau đến được bờ kia!” Cư sĩ nói: “Trước kia, ở kinh
đô, con tìm được một bộ trong đống đồ cũ nát, cất
trong rương sách đã hơn cả năm. Nếu không nhờ thầy nói,
chắc là bỏ qua mất rồi!” Liền giao cho nhà in để họ
chiếu theo thể thức in thạch bản, in ra một ngàn bộ, xin
tôi viết lời tựa. Tôi hết sức vui mừng, quên mình kém
cỏi, soạn lời tựa để phô bày cơ duyên ẩn - hiển như
vậy.
22.
Lời tựa cho sách Tam Thập Nhị Tổ Truyện Tán
Khởi đầu từ chuyện đức Thế Tôn giơ cành hoa, Ca Diếp
mỉm cười, “chánh pháp nhãn tàng, Niết Bàn diệu tâm”
liền được phổ biến khắp hoàn vũ. Cho đến khi đại giáo
truyền sang Đông, Tổ Đạt Ma từ trời Tây sang, những vị
viên ngộ Phật tánh, triệt chứng tự tâm, tiếp nối huệ
mạng của Như Lai, làm đạo sư cho trời người, thật rất
nhiều. Những vị được Truyền Đăng Lục, Cao Tăng Truyện
ghi chép chỉ là mười phần, một phần trong trăm ngàn phần
mà thôi. Còn những vị ẩn đức chẳng phô bày, giấu kín
chẳng tỏ rõ làm sao kể xiết được?
Thanh
Thế Tông Hiến Hoàng Đế (Ung Chánh) đã chứng Pháp Thân từ
lâu, thừa nguyện tái lai, dù Tông hay Giáo không gì chẳng
thấu nguồn tột đáy. Kể từ khi lên ngôi, trong vòng mười
năm, chuyên coi sóc việc chánh trị, chẳng đề xướng Phật
pháp vì mong thiên hạ thái bình, phong tục thuần mỹ. Sau đấy
mới tuyên bố pháp hóa sẽ dễ được lợi ích, như đồ
đựng đã khử chất độc có thể chứa được cam lộ. Đến
năm Ung Chánh 11, bèn dùng thân nhân vương (vua trong cõi người)
làm chuyện pháp vương, một vai gánh vác cả Phật pháp lẫn
thế pháp. Nho giáo, Thích giáo, nhất đạo cùng hành. Lấy
tâm pháp Linh Sơn, Tứ Thủy để thuật luân âm truyền tân
tục diệm[2], Không - Hữu bất nhị, Chân - Tục viên dung,
thật muốn cho nhân dân trong khắp cõi đời đều là con đích
thật của đấng Như Lai, hữu tình trong hiện tại lẫn tương
lai đều cùng được hưởng cảnh sắc rạng rỡ nơi bổn
địa.
Vào
mỗi ngày Sóc, Vọng[3], hoặc thánh đản của Phật, Bồ Tát
liền trực tiếp bảo ban quần thần nơi triều đình, hoặc
truyền chiếu chỉ tới đại thần nơi biên cương cho đến
thứ dân, làm cho họ đều hiểu rõ tự tâm, đều hướng
đến đạo nghịch trần theo giác, chẳng đến nỗi bỏ uổng
Phật tánh, chịu nỗi đau buồn sanh tử luân hồi oan uổng.
Hoặc hạ sắc chỉ truyền các tùng lâm trong thiên hạ phải
tận lực giữ Thanh Quy, tinh tu phạm hạnh, chân tham thật ngộ,
minh tâm kiến tánh, ngõ hầu hoằng dương quang đại pháp đạo,
hỗ trợ kế sách của vua. Lại vào những ngày sóc - vọng,
ắt đích thân nâng ngọn bút sắc sảo, cung kính vẽ hình
một bậc cổ đức. Trích lấy những điều chính yếu trong
truyện ký của vị ấy, soạn thành tiểu truyện. Lại làm
một bài tán nhằm phát huy nghĩa lý uyên áo, tự chép trên
đầu bức vẽ. Cho khắc in thạch bản giữ trong đại nội,
ngõ hầu làm bản mẫu dùng in rập hòng được lưu truyền.
Bắt đầu từ tháng Hai năm Ung Chánh 11 cho đến tháng Ba năm
Ung Chánh 13, vẽ được tổng cộng ba mươi hai vị. Đến tháng
Tư, xe rồng lên làm khách cõi trời, khiến cho vô lượng cổ
đức chưa tỏa được quang minh sâu thẳm, đáng tiếc lắm!
Đến
năm Càn Long thứ 9 (1744), với mục đích trang hoàng, vua đem
ba mươi hai cuốn trục bản rập hình Tổ ấy ban cho chùa Lý
An ở Vũ Lâm[4]. Về sau, nhà chùa tu chỉnh Tự Chí bèn đem
bộ truyện tán ấy đặt vào đầu sách để cảm tạ ân sủng,
nhưng bộ truyện tán đó chưa được khắc thành sách. Do vậy,
cõi đời chẳng được thấy nghe. Trộm nghĩ đạo phong của
cổ đức trời người ngưỡng mộ, như vầng trăng vằng vặc
trên không, vạn con sông đều hiện bóng. Quang minh sáng sạch,
mở rộng tâm mắt con người, tự có thể đốn khai tâm địa,
thấy thấu suốt bầu trời chân tánh. Lại được ngọn bút
tài hoa của Thế Tông phát huy, cùng cổ đức chiếu rọi lẫn
nhau thấu suốt không tỳ vết. Nếu một phen được xem đến
liền thấu cội đạt nguồn, đạt được minh châu nơi chéo
áo, phá trần, lìa chấp, mở được kinh quyển đại thiên.
Từ đó tâm tâm tương ấn, đăng đăng tương truyền[5], khiến
cho mình lẫn người cùng chứng chân thường, khiến cho phàm
thánh cùng lên bờ Giác, ngõ hầu chẳng phụ Thế Tông một
phen dốc ý soạn truyện. Do vậy, quyên mộ cư sĩ Ưng Quý
Trung bỏ tiền khắc bản để làm của chung cho những người
cùng chí hướng. Trước mỗi truyện, đặt đề mục, khiến
cho vừa xem đến liền hiểu rõ ngay, cũng như chép duyên khởi
để bảo cùng những người thông suốt trong tương lai.
23.
Lời tựa sách Tịnh Nghiệp Lương Đạo
Sa Bà là đường hiểm sanh tử. Cực Lạc là quê nhà thường
trụ. Chúng sanh do một niệm bất giác, đi vào trong đường
hiểm không thể thoát ra được. Dù có muốn lìa đường hiểm
này trở về quê nhà, nhưng chúng sanh không có con mắt huệ
chẳng biết hướng về đâu. Nếu không có người hướng
dẫn tốt lành, chẳng những đi nhầm vào đường rẽ, rốt
cục thành đi sai đường, lại còn phải lo sa hầm sụp hố,
táng thân mất mạng nữa! Tịnh Độ ba kinh, một luận cũng
như hết thảy kinh luận Đại Thừa đều là đạo sư (người
dẫn đường). Nhưng do văn sâu xa, nghĩa uyên áo, kẻ sơ cơ
chẳng dễ lãnh hội. Tuy là vô biên diệu nghĩa, đầy đủ
không sót gì, nhưng do tâm thức ám độn nên thường nghi ngờ
chẳng thể quyết đoán được, tuy có lòng tin nhưng chẳng
thể phát sanh. Do vậy, cổ đức các đời đều lưu lại ngôn
giáo hòng thích hợp thời tiết, căn cơ. Vì thế, pháp được
lưu truyền, không úng tắc, mọi căn cơ đều được lợi
lạc, cứu tế.
Cư
sĩ Vô Danh tuy chưa tự độ, nhưng chí thiết tha độ người;
vì thế, bèn sao lục những câu thích hợp thời cơ trong Lạc
Bang Văn Loại và văn tập của các vị Liên Trì, Tử Bách,
Hám Sơn, Ngẫu Ích được hơn mấy mươi thiên hòng thích ứng
cho những người vừa mới nhập pháp môn. Đợi đến khi đã
hiểu được đường lối, sẽ đọc toàn bộ những tác phẩm
gốc, ắt biết vị của một giọt nước và vị của biển
cả không hai, không khác. Đại sự nhân duyên xuất thế của
đức Như Lai chỉ có một pháp Tịnh Độ mới có thể rốt
ráo tỏ bày bổn hoài của Phật. Cư sĩ Vô Danh khiêm tốn,
chẳng dám tự chuyên, bảo Quang giám định. Do đó, tôi bèn
đặt tựa đề là Tịnh Nghiệp Lương Đạo (hướng dẫn tốt
lành cho Tịnh nghiệp).
24.
Lời tựa sách Phật Học Sơ Giai
Phật pháp rộng lớn, chẳng dễ suy lường. Muốn cho đồng
nhân đều được tắm gội pháp trạch thì phải do mắt thấy
tai nghe sự tích nhân quả báo ứng, luân hồi sanh tử nông
cạn để chỉ bảo, dẫn dụ, khiến cho họ bỏ đi cố chấp
câu nệ, hư huyễn, thấy được trời đất rộng lớn hòng
đoạn nghi sanh tín, càng vào càng sâu, ắt mong triệt ngộ
tự tâm, khôi phục cái mình sẵn có và nương vào Phật từ
lực vãng sanh Tây Phương. Lại còn đem những điều ấy giáo
hóa mọi người, quyết chẳng chịu trên cô phụ sự giáo
hóa của Phật, dưới chẳng phụ tánh linh của chính mình,
bao kiếp cam chịu sanh tử luân hồi khổ độc. Cư sĩ Đinh
Phước Bảo thệ nguyện hoằng thâm, từ bi rộng lớn, muốn
cho dân chúng đều lên được bờ giác; nhân đó, bèn thâu
thập những chuyện nhân quả luân hồi, công đức của Tam
Bảo, lợi ích của Tịnh Độ từ di tập của các bậc danh
hiền Tăng - tục cũng như từ kinh luận của Phật, Tổ, soạn
thành sách, đặt tên là Phật Học Sơ Giai (bước đầu học
Phật), mong cho độc giả nhân đây bèn tìm cầu, đối với
đại pháp chẳng thể nghĩ bàn “đoạn Hoặc chứng Chân,
từ phàm thành thánh” đều tự đạt được, thật sự thực
hiện được. So với những bộ sách ông đã soạn trước
đây như Phật Học Chỉ Nam, Phật Học Khởi Tín Biên, và
Lục Đạo Luân Hồi Lục thì tuy chi tiết hay giản lược khác
nhau, nhưng cốt yếu đều nhằm tạo bậc thang cho người mới
học mà thôi! Nếu là bậc trượng phu quyết liệt, ắt phải
đăng phong tạo cực[6], quyết chẳng đến nỗi vạch đất
tự hạn chế để hòng được yên ổn chẳng muốn tiến lên
nữa!
25.
Lời tựa sách Thích Giáo Tam Tự Kinh
(viết
thay cho Xuy Vạn Lão Nhân Thích Quảng Chân[7] chùa Tụ Vân ở
Trung Châu, Thục Đông, thời Thiên Khải nhà Minh)
Con người có cùng một cái tâm, tâm có cùng một lý ấy,
phàm - thánh chẳng hai, chúng sanh và Phật như một, do mê -
ngộ sai khác đến nỗi thăng - trầm thật khác biệt. Đại
Giác Thế Tôn xót thương, thị hiện thành Chánh Giác, chuyển
đại pháp luân. Vốn từ nhất tâm mà tạo dựng bè báu trong
bến mê, muốn cho khắp đời vị lai đều lên bờ đạo. Do
vậy, đem những gì đã giảng trong Ngũ Thời Giáo[8] và ý
chỉ “truyền riêng ngoài Giáo” giao cho các đệ tử, sai
lưu thông rộng rãi. Do vậy, chư Tổ các tông nối tiếp nhau
hưng khởi, hoằng Tông diễn Giáo, thay Phật hoằng dương,
giáo hóa. Đến nay lâu đời nhiều năm, sự nhiều nghĩa rộng,
nếu chẳng đọc thấu hiểu Đại Tạng diệu ngộ tự tâm,
sẽ không thể nào suy lường đầu mối, nắm được cương
yếu. Tôi thường muốn tóm lược đại khái để chỉ bảo
hàng hậu tấn, do nghĩ đến tiên sinh Vương Bá Hậu[9] thời
Tống Nho soạn sách Tam Tự Kinh để tóm tắt đạo luân thường,
xử thế hằng ngày và những chuyện tích thái bình hay loạn
lạc của các đời, khiến cho người học trước là biết
được đại lược, về sau sẽ dần dần hiểu rộng. Tuổi
thơ học đến, lớn lên thực hành, lập thân hành đạo, thờ
vua, giúp dân, khôi phục điều thiện sẵn có trong tâm tánh
con người.
Do
vậy bèn phỏng theo ý đó, thuật đại lược chuyện Như Lai
giáng sanh, thành đạo, thuyết pháp độ sanh, chư Tổ tiếp
nối huệ mạng Phật, tùy cơ lập giáo, cũng như những lời
hay hạnh đẹp tự lợi, lợi người của chư cổ đức, đặt
tên là Thích Giáo Tam Tự Kinh, để khi còn làm sa-di[10], đọc
tụng, tu tập, biết những nghĩa trọng yếu của kinh Phật,
hiểu rõ cương tông của đạo Tổ. Lớn lên, xem khắp Tam
Tạng, tham học khắp năm tông, diệu ngộ tự tâm, thầm hợp
Phật ý, mới biết: “Sắc núi, tiếng khe đều chỉ bày Đệ
Nhất Nghĩa Đế; quạ kêu, sẻ hót cùng nói vô thượng tâm
tông”. Chẳng đồng, chẳng khác, chẳng có, chẳng không,
vừa là Quyền, vừa là Thật, vừa là Tục, vừa là Chân.
Rộng thì tột cùng hư không chẳng thể chứa đựng được,
gọn thì tìm lấy một chữ cũng không thể được. Sau đấy,
nương đại nguyện luân, xiển dương pháp hóa, khiến cho pháp
giới chúng sanh quy y Nhất Thể Tam Bảo, khôi phục mặt mũi
vốn có, truyền vô tận tâm đăng. Đấy chính là điều tôi
thường mong mỏi hàng hậu tấn phát tâm tu tập vậy!
26.
Lời tựa cho tập Mô Tượng Thi của cư sĩ Lưu Viên Chiếu
(do
ông ta khắc con dấu có chữ Chiếu trong vòng tròn nên mở
đầu vẽ một hình tròn)
O Một đoạn quang minh này chẳng phải nhân, chẳng phải quả,
chẳng phải thánh, chẳng phải phàm, chẳng phải đoạn, chẳng
phải thường, chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, cổ kim
thường hằng, chiếu trời soi đất. Khi Phật chưa xuất thế,
lúc Tổ chưa từ trời Tây qua, ai nấy vẫn sẵn đủ, chẳng
thiếu chẳng thừa. Hiềm rằng chúng sanh đang mê, ôm của
báu mà chịu túng quẫn, ngược ngạo dùng ánh sáng chiếu
trời soi đất này để khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi
sáu nẻo. Do vậy, đức Thế Tôn muốn lập cách tế độ,
thị hiện thành Chánh Giác, vào lúc cuối đêm thấy sao Mai,
hoát nhiên đại ngộ, bèn than thở: “Lạ thay! Lạ thay! Hết
thảy chúng sanh có đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai,
nhưng do vọng tưởng, chấp trước mà chẳng chứng đắc.
Nếu lìa vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Tự
Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Do vậy,
tùy cơ giáo hóa, đối bệnh phát thuốc.
Do
chúng sanh căn cơ chẳng giống nhau, nên Ngài nói ra pháp Tiệm
hay Đốn, hoặc Thật, hoặc Quyền, đủ mọi thứ bất đồng.
Tuy lập ra các phương tiện, nhưng không gì chẳng nhằm uyển
chuyển dẫn dụ chúng sanh, khiến cho ai nấy đều triệt chứng
tâm quang này, rốt ráo thành Phật mới thôi! Đấy chính là
“lời thô, lẽ tế đều quy về Đệ Nhất Nghĩa. Thoạt đầu
thì ngàn căn cơ đều vun bồi, cuối cùng thì đồng quy một
đạo”. Lại do chúng sanh độn căn nếu chẳng liễu thoát
ngay trong một đời này thì luân hồi sanh tử hoàn toàn không
thể chấm dứt được. Vì thế, đặc biệt mở ra pháp môn
tín nguyện niệm Phật để người chưa đoạn Hoặc nương
vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh, người đã đoạn
Hoặc nương theo Phật từ lực mau chứng được Pháp Thân;
khiến cho khắp thượng trung hạ căn dù thánh hay phàm cùng
chứng chân thường, sanh lên bờ kia, phô bày cùng cực bản
hoài xuất thế của Như Lai, triệt để đạt được Phật
tánh chúng sanh sẵn có. Cao đẹp thay ân Phật, hết kiếp không
thể khen ngợi trọn vẹn!
Đến
khi đại giáo truyền sang Đông, pháp này bèn được gọi là
Liên Tông do pháp này niệm Phật cầu sanh Tây Phương, liên
hoa hóa sanh, được dự vào Liên Trì Hải Hội, thân cận Di
Đà Thế Tôn và Quán Âm, Thế Chí, các thượng thiện nhân.
Về sau, tổ Đạt Ma từ Tây Vực qua truyền Phật tâm ấn,
chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật. Nhưng chỗ thấy
biết, thành tựu của pháp ấy chính là chỉ ra Phật tánh
thiên chân sẵn có trong tâm chúng ta, khiến cho con người trước
hết biết được cái gốc thì hết thảy các pháp tu chứng
sẽ tự có thể nương theo đó để tiến hướng, cho đến
khi tu cái không thể tu, chứng cái không thể chứng mới thôi!
Chứ không có nghĩa là hễ ngộ liền được phước huệ đều
vẹn toàn, viên mãn Bồ Đề, rốt ráo Phật đạo đâu nhé!
Ví như vẽ rồng điểm mắt khiến cho tự được thụ dụng.
Do vậy pháp này thạnh hành nơi Chấn Đán, rực rỡ, rạng
ngời, đạo “tâm này chính là Phật”, pháp “không phải
tâm, không phải Phật” phổ biến khắp hoàn vũ. Người căn
cơ thiên bẩm sâu dầy thì đối với mỗi một cơ, một cảnh,
hễ biết được đầu mối thì nói lời, thốt lẽ, tự lìa
khuôn sáo, vào sanh ra tử trọn chẳng vướng mắc, được
đại giải thoát, được đại tự tại vậy! Nếu căn cơ
hơi kém, dẫu được đại ngộ, nhưng phiền não tập khí
chưa thể đoạn sạch thì vẫn là người trong sanh tử, xuất
thai cách ấm, đa phần mê mất. Bậc đại ngộ hãy còn như
thế, huống chi kẻ chưa ngộ!
Do
đó, hãy nên chuyên tâm dốc chí nơi pháp môn Tịnh Độ cậy
vào Phật từ lực mới là kế sách ngàn vạn phần ổn thỏa
thích đáng vậy. Cư sĩ Lưu Viên Chiếu túc căn sâu dầy, hiện
tu tập tinh thuần, đối với hai tông Thiền - Tịnh đều nắm
được yếu chỉ, nhưng coi trọng pháp môn Niệm Phật là đạo
tự lợi, lợi người rốt ráo. Mỗi khi có cảm xúc bèn thể
hiện qua thi ca, ghi chép lại được 108 bài, đặt tên là Mô
Tượng (sờ voi, ý nói chỉ sờ soạng, phỏng đoán, không
hiểu rõ hoàn toàn); bởi lẽ đại đạo vô ngằn, há có thể
dùng một lời tầm thường để diễn tả trọn vẹn được
nổi ư? Bất quá mượn ý để diễn tả đó thôi. Con ông
ta và họ hàng muốn cho hậu thế đều được hưởng nhờ,
toan đưa thi tập này vào gia phả, nhờ Quang thuật đại ý
để bảo cùng người đời sau.
27.
Lời tựa cho bản đúc kẽm lưu thông cuốn Phật Học Thuật
Yếu
Từ khi Phật pháp truyền vào Trung Quốc đã hơn một ngàn
tám trăm năm, dù Tăng hay tục, dù nam hay nữ, những người
thâm nhập Kinh Tạng, triệt ngộ tự tâm kể sao cho xiết!
Ấy là vì Chân Như Phật tánh ai nấy sẵn có, chỉ vì mê
không giác, ngay từ đầu chẳng mất, đến khi được nghe
ngôn giáo của Như Lai, được hàng tri thức chỉ dạy liền
biết hạt châu nơi chéo áo, Phật tánh luôn tồn tại, chẳng
lìa đương xứ được đại tự tại, tự lợi, lợi người,
thọ dụng vô tận. Thiên Thai Trần Cần Tiên nữ sĩ xưa có
huệ căn, đối với các tông Thiên Thai, Thiền, Tánh, Tướng,
Tịnh Độ đều biết được chỗ sâu thẳm, nhưng lại riêng
khen ngợi Tịnh Độ, mong cho hết thảy những ai chẳng thể
triệt ngộ tự tâm, đoạn Hoặc chứng chân sẽ ngay trong một
đời này liền đạt lên địa vị A Bệ Bạt Trí. Cũng có
thể gọi là “đối với cái rộng rãi nắm được cái chánh
yếu, đối với pháp rộng sâu biết được điều quan trọng”,
những điều được phát huy đều khế hợp cả lý lẫn căn
cơ. Tuy sao lục từ nhiều chỗ tạo thành tác phẩm, nhưng
giống như rải tiền trong một nhà, đồng nào đồng nấy
dính thành một chuỗi, khiến cho người dùng có thể cầm
lấy ngay được. Đối với những ngã ba sông, đường rẽ
đều nêu bày tường tận, khiến cho hành giả mạnh mẽ tiến
thẳng tới trước, cũng chẳng thể nói là không có công lao
gì!
Tiếc rằng con bà là Viên Thọ Tuân căn tánh chẳng được
như mẹ! Đối với trước thuật của mẹ hoàn toàn không
hiểu biết, muốn sao lục để lưu truyền, nhưng cứ lăm lăm
trích yếu rút gọn. Không biết chỗ nào nên rút gọn, chỗ
nào không nên rút gọn. Chẳng nên rút gọn mà cứ rút gọn
bừa thì có khi bị khuyết điểm ý nghĩa không rõ ràng, phép
hành văn không thích hợp. Đã thế lại còn sai ngoa đầy dẫy,
đến nỗi có rất nhiều chỗ từ ngữ chẳng thể hiện được
ý nghĩa. Đủ thấy đạo này phải có thiện căn mới có thể
chứng nhập thù thắng được. Nếu không, dẫu chí thân như
mẹ với con, cũng chẳng thể truyền được! Cư sĩ Tôn Ngọc
Tiên ở Phụng Hóa muốn đúc bản kẽm lưu thông, ngõ hầu
bậc tu mi trượng phu, khuê các anh hiền cùng phát tâm mong
được bằng bà ta, cùng chứng Phật tánh vốn có, nên ủy
thác Quang giám định. Nhân đó, sửa cho đúng chỗ sai ngoa,
bỏ những câu sai chỗ, đặt tựa đề là Phật Học Thuật
Yếu vậy!
28.
Lời tựa tái bản cuốn Cách Ngôn Liên Bích
Sở dĩ con người cùng với trời đất xưng là Tam Tài là
vì có thể cách vật trí tri, khắc kỷ, giữ lễ để làm
sáng tỏ cái Minh Đức, đạt đến chí thiện. Bỏ đi điều
này thì chỉ là một phường có huyết khí[11] mà thôi, sao
có thể đứng chung với trời đất xưng là Tam Tài cho được?
Mạnh Tử cho rằng “Lúc đêm tối không duy trì được đầy
đủ những ý niệm trong sạch thì chẳng khác gì cầm thú
cho mấy!”[12] Lại còn bảo: “Nguyên do để con người khác
với cầm thú rất nhỏ nhặt, kẻ hèn bỏ đi, quân tử giữ
lấy”[13]. Do vậy biết rằng: Nếu mặc tình phóng túng làm
càn làm quấy thì chẳng qua mang danh con người, chứ chẳng
khác gì cầm thú, có thể còn kém hơn!
“Cách
vật trí tri” chính là tâm pháp được truyền dạy bởi chư
thánh. Coi nhân dục (lòng ham muốn của con người) là vật,
bởi nó sanh khởi từ ngoại cảnh, ắt phải cách trừ (trừ
khử) cho sạch thì lương tri sẵn có trong tâm tánh mới có
thể hiển hiện toàn thể. Lương tri đã có thì đức phải
sáng. Cách vật và trí tri đều là nhằm để làm sáng tỏ
cái Minh Đức! Minh Đức đã sáng thì chính là dùng ý thành
tâm chánh để tu thân vậy. Đây chính là chuyện thất phu
thất phụ đều có thể làm được! Nếu hiểu “cách vật
trí tri” là “thúc đẩy sự hiểu biết của chúng ta đối
với cái lý của mọi sự vật trong khắp cùng thiên hạ đến
tận cùng” thì đó chỉ là hiểu nơi cành ngọn, không phải
là cội gốc. Tuy là thánh nhân vẫn có những điều không
thể làm được. Làm sáng tỏ được Minh Đức thì riêng thân
mình thiện. Nếu có địa vị hành đạo thì dùng tiên giác
để giác ngộ hậu giác, khiến cho thiên hạ cùng thiện. Chúng
ta chưa thể trừ sạch lòng ham muốn của con người, [khiến
cho] thiên lý lưu hành thì cần phải học biết nhiều về
những lời lẽ hành vi của cổ nhân, dùng đó để hướng
dẫn tiền đồ, hằng ngày đọc tụng suy nghĩ, cốt sao lỗi
càng ngày càng ít, đức càng ngày càng cao cho đến khi đức
thuần không còn lỗi mới thôi.
Tăng
Tử lúc lâm chung còn nói: “Dè dặt kinh sợ như vào vực
sâu, như đi trên băng mỏng. Từ nay trở đi, ta biết mình
mới tránh khỏi được!” Cừ Bá Ngọc năm 50 tuổi, biết
49 năm trước sai trái. Khổng Tử còn buồn bản thân đức
chưa tu, học chưa hiểu thấu, nghe được điều nghĩa chưa
thể thực hiện, điều bất thiện chưa thể sửa đổi! Đến
năm 70 tuổi, còn mong trời cho sống thêm vài năm để học
kinh Dịch hòng tránh khỏi lỗi lớn. Tuy nói là dùng thân để
thuyết pháp hòng khuyến khích hậu tấn, nhưng thật ra đã
thuộc vào công phu cách vật trí tri của thánh hiền, gắng
sức không ngơi, không lúc nào nghĩ là đã xong xuôi!
Tiên
sinh Kim Lan Sanh ở Sơn Âm[14] thâu thập những câu nói răn
nhắc thân tâm của tiên hiền, soạn thành sách Cách Ngôn Liên
Bích, khiến cho người học như vào núi báu, tùy ý thu thập.
Công ấy quả thật chẳng cạn nhỏ! Cư sĩ Trương Thụy Tăng
ở Duy Dương từ nhỏ đã coi sách này là khuôn phép chánh
yếu, tiếp đó muốn cho sách được truyền bá rộng rãi cho
mọi người, bèn giảo đính tường tận, dùng phương pháp
bao biếm khuyên điểm[15], chỉ rõ những điều này nên bắt
chước theo, điều nào nên kiêng tránh, khiến cho người đọc
đỡ phí tâm lực vẫn biết được nên chọn lấy và nên
bỏ bớt những điều nào. Dụng tâm có thể nói thật là
thiết tha. Khắc in xong, nhờ tôi viết lời tựa. Do vậy, tôi
bèn lược thuật danh nghĩa của chữ Tam Tài và công phu cách
vật trí tri của thánh hiền, nhằm giúp sáng tỏ những điều
đã được nói đến trong tập sách này, khiến cho người
học nắm được công phu thân thiết để hạ thủ, tiến tu
đức chẳng ngơi, đáng sánh cùng trời - đất mới thôi. Người
có đủ con mắt ắt chẳng cho lời tôi là trái lẽ, sai bậy
vậy!
29.
Lời tựa tái bản sách Bất Khả Lục
Cái họa nữ sắc cực kỳ khốc liệt. Từ xưa đến nay do
họa này mà nước mất nhà tan, diệt thân tuyệt tự biết
là bao nhiêu! Dẫu chưa đến nỗi ấy, nhưng trong số đó,
những kẻ thân đang khỏe mạnh trở thành suy nhược, chí
đang sáng suốt thành hôn ám, biến tư chất đội trời đạp
đất, mong thành thánh thành hiền biến thành hạng tầm thường
hèn tệ, không có chí lập thân, làm sao tính kể được nổi?
Huống chi những kẻ nghịch thiên lý, loạn nhân luân, sống
làm loài cầm thú mặc áo, đội mũ, chết đọa trong tam đồ
ác đạo, làm sao có thể thấy hết, biết hết cho được?
Ôi! Cái họa nữ sắc sao mà khốc liệt đến mức cùng cực
như vậy! Do đó, chư thánh chư hiền đặc biệt từ bi thương
xót hoặc dùng lời cứng rắn để răn dạy, hoặc dùng lời
nhẹ nhàng để khuyên bảo, ngõ hầu cả cõi đời đều biết
được lý “phước thiện họa dâm”. Lại còn nêu ra các
sự thực để răn dạy ngõ hầu những ai biết tự ái đọc
đến ắt sẽ sợ sệt, kinh hoảng, hiểu ra, cạn dòng lũ nhân
dục, khôi phục thiên lương sắp diệt. Từ đấy, hết thảy
đồng luân đều hưởng phước giàu thọ khỏe mạnh, bình
yên, vĩnh viễn lìa khỏi họa nghèo bệnh, chết yểu. Đây
chính là lý do bộ Bất Khả Lục được soạn tập. Cư sĩ
Trương Thụy Tăng muốn khắc lại để ấn thí, bảo tôi viết
lời tựa nhằm phô bày nghĩa trọng yếu của việc bớt dục.
Phải
biết: Đối trước sắc đẹp, dục tâm bừng bừng thì lời
lẽ khuyên răn nhân quả báo ứng đều khó thể đoạn tâm
ái. Nếu [lúc ấy] có thể quán bất tịnh thì một trận lửa
dục sẽ băng tiêu ngay lập tức. Con em đất Trường An ở
xứ Tần (Thiểm Tây) của tôi phần nhiều thích chơi dế.
Có ba anh em tuổi đã choai choai, đêm trăng đi bắt dế nơi
gò mả, chợt thấy một thiếu phụ, nhan sắc tuyệt vời,
bèn cùng đuổi theo. Người thiếu phụ ấy khuôn mặt biến
đổi, thất khiếu[16] ứa máu, lưỡi thè ra hơn cả thước,
ba đứa nó sợ chết ngất. Ngày hôm sau người nhà đi tìm,
cứu sống được một đứa, mới biết chuyện ấy. Đứa
còn sống bệnh nặng mấy tháng mới khỏi, con cháu nhà ấy
chẳng dám đi bắt dế vào ban đêm nữa! Khi thiếu phụ đó
chưa biến đổi khuôn mặt thì lòng yêu nhập vào xương tủy,
không thỏa lòng dục không xong! Đến khi mặt đã biến đổi
thì kinh hãi đến chết, tâm ái chẳng hề còn nữa! Nhưng
trong lúc chúng cùng nhau đuổi theo cô ta ấy, đương nhiên
chưa thấy máu và lưỡi thè ra. Sao khi máu chưa chảy, lưỡi
còn ngậm bèn sanh tâm ái; lúc máu chảy, lưỡi thè ra lại
sanh tâm sợ? Hiểu rõ điều này, hễ thấy trang sắc nước
hương trời đều tưởng như con quỷ treo cổ thất khiếu
tuôn máu, lưỡi thè ra hơn thước, sao đến nỗi bị sắc
làm mê, sống chẳng hưởng hết tuổi trời, chết đi bị
đọa vĩnh viễn trong đường ác ư?
Do
vậy, Như Lai dạy kẻ ái dục nặng nề quán bất tịnh. Quán
lâu ngày còn có thể đoạn Hoặc chứng chân, siêu phàm nhập
thánh, chứ phải đâu chỉ không phạm tà dâm, tiết dục,
gìn giữ sanh mạng mà thôi ư? Nữ nhân nhan sắc xinh đẹp
yêu kiều khiến người ta sanh tâm ái, hành dục sự, chẳng
qua chỉ là một tấm da mỏng bên ngoài, rực rỡ diễm lệ
gây mê hoặc đó thôi! Nếu bóc lớp da mỏng ấy đi thì chẳng
những các vật được bọc trong lớp da ấy chẳng thể yêu
mến được, mà ngay cả lớp da mỏng ấy cũng tuyệt đối
không thể yêu luyến nổi! Nếu lại còn mổ xẻ thân ra thì
chỉ thấy máu mủ dầm dề, xương thịt chằng chịt, tạng
phủ phân tiểu bầy hầy khắp đất, hôi dơ tanh tưởi, chẳng
nỡ thấy nghe. So với hình dáng biến đổi của thiếu phụ
trên đây còn đáng sợ hãi, chán ghét hơn trăm ngàn lần!
Dẫu
cho giai nhân tuyệt thế nghiêng nước đổ thành thì những
vật được chứa trong lớp da mỏng có ai là không như vậy
đâu? Sao con người chỉ nhìn cái vẻ bên ngoài, chẳng xét
kỹ nội dung? Yêu chút phần sắc đẹp, chẳng tính đến nhiều
phần xấu ác? Tôi mong sao thế nhân bỏ vẻ bên ngoài, hãy
xem xét nội dung, chán cái “nhiều xấu ác” để bỏ chút
vẻ đẹp, hòng cùng thoát biển dục, cùng lên bờ giác. Lại
trong lúc dâm dục hừng hực, không thể chế ngự, chỉ nên
nghĩ nữ âm[17] như miệng rắn độc, như đem nam căn bỏ vào
miệng rắn, tâm thần kinh hoảng, xương tóc run rẩy. Vô biên
nhiệt não sẽ nguội lạnh ngay lập tức! Đấy chính là phương
pháp diệt dục giản dị nhất vậy!
30.
Lời tựa [khuyên] giữ vẹn luân lý cho sách Bất Khả Lục
Trời là đại phụ, đất là đại mẫu. Hết thảy nam nữ
đều là con cái của trời đất, đều là ruột thịt của
ta. Đã là ruột thịt thì phải tận hết lòng hòa thuận,
yêu thương, che chở, nâng đỡ, mong cho ai nấy được yên
ổn. Như thế chính là đứa con xứng đáng của trời đất,
chẳng khiến người sanh ra mình hổ thẹn! Đã có thể che
chở, nâng đỡ con cái của trời đất, ắt trời đất sẽ
che chở nâng đỡ kẻ đó, khiến cho phước sâu, thọ dài,
mọi chuyện như ý. Nếu như mặc tình hoành hành, khinh hiếp
con cái của trời đất thì tổn phước, giảm thọ, diệt
môn, tuyệt tự. Khi một hơi thở ra không hít lại được,
vĩnh viễn đọa ác đạo trải trăm ngàn kiếp, không lại
được mang thân người nữa! Ấy chính là tự mình chuốc
lấy họa, nào phải trời đất không nhân từ đâu!
Khoan
nói đến những chuyện khác, kìa như vợ con, chị em, ai nấy
đều có. Nếu kẻ nào dòm ngó vợ con, chị em mình, ta liền
nổi nóng, bực tức, muốn đánh nhau, sao lại thấy vợ con,
chị em người ta có chút nhan sắc tâm bèn khởi xằng dâm
niệm, ý muốn ô nhục họ? Cùng là con cái của trời đất,
là ruột thịt của ta; nếu với người ruột thịt khởi ý
niệm bất chánh thì là ô nhục con cái của trời đất, khinh
khi người ruột thịt, kẻ ấy còn có thể đứng trong trời
đất, còn đáng gọi là người nữa ư? Huống chi đạo vợ
chồng thuộc trong Tam Cương, Ngũ Thường, nam nữ lập gia đình
là giềng mối lớn lao của con người. Con người sở dĩ khác
với cầm thú là do có nhân luân. Nếu làm chuyện khinh miệt
lý, loạn luân, thì chính là đem thân người làm chuyện cầm
thú; thân tuy là người nhưng thật ra chẳng bằng cầm thú.
Vì sao vậy? Vì cầm thú không biết luân lý, con người biết
luân lý! Biết luân lý mà vẫn khinh miệt luân lý thì phải
ở dưới loài cầm thú!
Nhưng
hết thảy chúng sanh do dâm dục sanh, cho nên tập khí rất
nặng, phải ngăn ngừa sâu xa. Tưởng như người thân, tưởng
như kẻ oán, tưởng bất tịnh ngõ hầu dứt bặt tà niệm,
thuần toàn chánh niệm. Oán và bất tịnh thì trong lời tựa
trước đã nói, ở đây chỉ riêng phát huy về ý “tưởng
như người thân” ngõ hầu người đọc cùng giữ trọn vẹn
thiên luân chẳng ôm giữ ác niệm. Kinh Tứ Thập Nhị Chương
dạy con người nên xem các người nữ như sau: “Tưởng người
già như mẹ, người lớn hơn như chị, người nhỏ hơn như
em, coi đứa bé bỏng như con gái, sanh tâm độ thoát, dứt
bặt ác niệm”. Kinh Phạm Võng dạy: “Hết thảy người
nam đều là cha ta, hết thảy người nữ đều là mẹ ta. Đời
đời không khi nào ta chẳng từ họ sanh ra, phải sanh tâm hiếu
thuận, tâm từ bi”. Như vậy, che chở, nâng đỡ họ còn
chưa xuể, lẽ đâu khởi tâm xấu hèn, muốn làm ô nhục họ?
Đời
Minh có một người học trò mắc thói dâm, chẳng thể tự
chế, bèn hỏi Vương Long Khê[18]. Long Khê nói: “Ví như có
người bảo ông: ‘Ở đây có cô gái làng chơi nổi tiếng,
ông có thể đến chơi bời’. Theo lời đó, ông đến gặp,
hóa ra là mẹ hoặc chị em ông, ngay khi ấy lòng dâm của ông
có nguội lạnh hay chăng?” Đáp: “Nguội chứ!” Long Khê
nói: “Thế nhưng dâm vốn là không, ông hãy hiểu cho đúng
vậy”. Nếu con người chịu coi hết thảy nữ nhân là mẹ,
là con gái, là chị em, thì không những ác niệm dâm dục không
do đâu sanh khởi, mà sanh tử luân hồi còn nhờ đó mau chóng
thoát khỏi! Trong bộ sách Bất Khả Lục, những lời gương
mẫu, những câu nói khuyên răn nhẹ nhàng, những câu chuyện
phước thiện họa dâm, và những ngày tháng nơi chốn nên
kiêng ngừa [ăn nằm] đều nhất nhất nêu rõ. Tâm giác thế
tỉnh mê ấy có thể nói thật là tha thiết. Cư sĩ Trương
Thụy Tăng ở Duy Dương tâm lợi người tha thiết, liền cho
khắc in lưu hành, sai Quang phát huy những điều trọng yếu
để trấn áp lòng dục. Do đấy, bèn tường thuật ý chỉ
đại khái về “tưởng như kẻ oán, tưởng là bất tịnh”.
Tiếp đó, vì anh họ ông ta là Chánh Huân qua đời, muốn đem
công đức này truy tiến linh thức để tội chướng tiêu diệt,
phước trí cao rạng, thoát khỏi Dục giới ngũ trược, sanh
vào chín phẩm liên bang. Do tình hiếu hữu của cư sĩ, nên
tôi lại soạn lời tựa bàn về chuyện giữ vẹn luân thường
mong sao những ai thấy nghe đều xét soi tường tận thì may
mắn lắm thay!
31.
Lời tựa cho cuốn Vạn Niên Bạ[19] bàn giao Phổ Tế Thiền
Tự
(viết
thay cho hòa thượng Liễu Dư, chỉ bàn giao chứ không thay đổi
thập phương)
Đạo tràng Viên Thông trọn khắp ba đời chẳng tăng chẳng
giảm. Phong thái, khuôn phép Phổ Môn vạn pháp không thiếu,
không thừa. Hằng cổ hằng kim, như như bất biến, hữu tình
vô tình pháp pháp viên dung. Tuy ngàn đức Phật cùng xuất
thế, trọn chẳng có gì hưng. Dẫu tam tai cùng khởi, há có
gì bại! Danh sơn Bổ Đát[20] của Quán Âm đại sĩ chính là
cảnh tượng Chân Như Thật Tế rốt ráo. Về mặt ứng hóa
thì pháp tùy duyên khởi, đạo do người hoằng. Hưng - phế,
thông - tắc đều có nguyên do. Xét từ khi thủy tổ Huệ Ngạc
khai sơn vào đời Lương, Chân Hiết thiền sư khai tông vào
đời Tống, cho đến khi được sùng tín vào đời Nguyên,
được nổi tiếng vào đời Thanh, đều đạo cao ngất đời,
đức cảm chín loại. Chấn hưng tông phong, rộng lưu truyền
sự giáo hóa huyền diệu, khiến cho khắp trong ngoài bốn biển
đều được phủ mây Từ, chúng sanh sáu đường đều thấm
mưa pháp. Cao đẹp thay! Tốt lành thay! Còn gì hưng thạnh hơn!
Kể
từ khi được nổi tiếng, chùa hai lần được sắc tu[21].
Đời đời tuân theo quy củ đã định, gia phong chẳng suy.
Đến đầu đời Hàm Phong, giặc tóc dài dấy loạn, nhân dân
nheo nhóc, hương lửa nhiều năm đoạn tuyệt, chi phí do vậy
thiếu hụt, pháp khí, đồ đạc đều chẳng đủ dùng. Phàm
Trụ Trì đến nhậm chức, những gì cho chính vị ấy gầy
dựng thì đến khi thôi làm Trụ Trì, bèn cho khiêng về chùa
mình. Nếu có để lại, đều tính tiền bàn giao. Thậm chí
vật hư nát quá sức, chẳng đáng giá đồng nào, cứ nhất
loạt chiếu theo giá trị như vật mới mà bàn giao, tính tiền
thành một ngàn mấy trăm đồng, giống như sang tiệm ngoài
chợ, hàng hóa đồ đạc đều bán cho chủ mới. Cái gọi
là “thường trụ” chỉ là nhà trống, kinh tượng mà thôi.
Tệ nạn ấy do chiến tranh cũng không lấy gì làm lạ. Về
sau, thế đạo thái bình, đèn nhang nhộn nhịp, nhưng vẫn
giữ nguyên thói cũ, chẳng hề sửa đổi mảy may! Những ai
từng trông coi việc chùa, ắt biết rõ nguyên do
Nay
nhằm lúc Văn Liên lão hòa thượng thôi làm Trụ Trì, tôi
được các vị lão hòa thượng và pháp quyến các phòng giao
cho trách nhiệm nặng nề ấy. Tự thẹn tài kém đức mỏng,
chẳng dám đảm nhận, nhưng đôi lần ba lượt bị ép buộc,
chẳng cho thoái thác. Trộm nghĩ Phổ Tế là danh sơn đạo
tràng của Bồ Tát trong thiên hạ. Từ đời Lương đến thời
Dân Quốc đã qua mười thế kỷ, tròn một ngàn năm. Nay đã
lạm giữ chức này, dám đâu không gắng sức trù tính để
hưng khởi điều lợi, trừ khử mối tệ, bồi đắp nguyên
khí cho thường trụ, kính vì các vị, vì pháp, vì người,
một phen dốc chí. Nhân đó, nói:
- Thường
trụ về bản chất vốn thuộc thập phương, chứ không phải
tài sản riêng của một mình vị Trụ Trì. Đúng lý, tất
cả tài chánh phải thuộc về thường trụ. Phàm tiền tài,
thóc gạo, vật dụng trang hoàng, bất luận là do thường trụ
đã có từ trước hay vật do chính vị Trụ Trì sắm sửa
cũng chẳng được đem đi hay bán lại cho chùa sau khi hết
làm Trụ Trì. Chi phí làm lễ nhậm chức Trụ Trì do chính
vị Trụ Trì ấy bỏ ra, chẳng được hao phí của thường
trụ. Như thế sẽ thấy của thường trụ ngày càng sung túc,
pháp đạo cũng do đó thạnh vượng.
Văn
Liên lão nhân nghe vậy hớn hở, hoan hỷ, phát Bồ Đề tâm,
xin đem khoản tiền bàn giao một ngàn mấy trăm đồng tiền
ấy một nét bút xóa sạch. Những đồ vật hư nát chẳng
đáng nhắc tới bèn cùng đại chúng vứt đi. Vật nào dùng
được bèn chiếu theo giá trị mới - cũ mà ghi vào Vạn Niên
Bạ để bàn giao. Những thứ được sắm sửa về sau, nhất
loạt ghi vào sổ. Quy củ tài chánh của Trụ Trì và thường
trụ đều phỏng theo tùng lâm các nơi, chỉ có chức Trụ
Trì phải tuyển từ con cháu các phòng trong chùa[22]. Ấy gọi
là “tử tôn thập phương”. Mong rằng từ đây về sau, phàm
ai làm Trụ Trì và những ai đảm trách chức vụ, ai nấy đều
phát Bồ Đề tâm, vun bồi cho thường trụ, khiến cho từ
ân của Đại Sĩ theo chiều dọc thì suốt cả ba đời, theo
chiều ngang bèn trọn khắp mười phương, ai nấy trong đời
này phước lẫn huệ đều thạnh, được trời - người kính
ngưỡng, lâm chung thì thân lẫn tâm đều tốt lành, Phật
- thánh đến rước. Như thế thì một niệm ngu thành của
Bất Huệ cũng như một phen khổ tâm của cụ Văn chẳng thành
hư uổng, ai nấy đều được lợi ích thật sự. Do vậy,
bèn lược thuật nguyên ủy ghi vào đầu sổ, để cho những
người thông suốt trong đời mai sau đều biết được duyên
khởi vậy!
32.
Lời tựa cho từ đường mới của Thống Tổ ở Biệt Am
(viết
thay cho thầy Mậu Lượng)
Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đức Như Lai đã chứng
chính là cái tâm hiện tiền nhất niệm phiền não kết nghiệp
điên đảo hôn mê của ta và hết thảy chúng sanh. Biết được
cái tâm phiền não kết nghiệp điên đảo hôn mê này thì
trên có thể nối tiếp được huệ mạng của Như Lai, dưới
có thể làm đạo sư cho trời người, khiến cho hết thảy
chúng sanh đều cùng biết tâm này, cùng chứng đạo Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Ấy chính là “tâm, Phật, chúng sanh,
cả ba không sai biệt. Mê - ngộ dẫu khác, thể vốn chẳng
hai; đường Trường An thênh thang, xưa nay chẳng hề cấm ai
đi. Tự mình chẳng về, hễ về liền được, gió trăng quê
cũ há ai tranh?” Từ khi Thế Tôn thị hiện thành Chánh Giác,
trong bốn mươi chín năm rộng nói kinh pháp, nêu đại kinh
trong vi trần, chỉ minh châu trong chéo áo. Ba ngàn năm qua, người
tắm gội pháp trạch ngộ tự tâm, chứng giác đạo, độ
hữu tình, số nhiều còn hơn cát sông Hằng, há thể kể xiết!
Như
Thống Tổ của Biệt Am chúng ta, xưa trồng cội đức, thừa
nguyện tái lai, đồng chân xuất gia[23], tuổi nhược quan[24]
bèn ngộ đạo, mở bày Phổ Môn, trùng hưng Pháp Vũ, truyền
tâm ấn, chấn hưng tông phong, sống ngoài hải đảo, đạo
rền hoàn vũ. Sáu phen ngồi nơi đạo tràng, rộng ban ngôn
giáo. Do vậy chẳng những được vạn dân ngưỡng mộ, mà
còn được một người[25] chú ý. Do vậy, ban tặng tiền của,
ban ca-sa tía, nhiều lượt thí ân mưa móc chín trùng, chỉ
mong cầu chúc nước nhà, nhân dân đều được tắm gội ân
quang Đại Giác. Người đương thời cố nhiên đều kính ngưỡng,
mà hậu thế cũng chẳng ai không tôn sùng. Trước kia, tiên
sư[26] là Giới Văn lão nhân và Khai Như hòa thượng thường
nghĩ mình chưa xứng làm pháp duệ[27], chưa thể kế tục được
giềng mối tốt đẹp, toan tỏ tấm lòng thành tưởng nhớ
cội nguồn, thành lập hội tạo dựng từ đường, bởi lẽ
từ đường đã lập từ trước quá sơ sài, chẳng đủ tỏ
lòng kiền thành, cung kính hòng báo đáp tổ đức, [chẳng
đủ] khởi lòng quán cảm để con cháu [gắng sức tu tập
cho] tốt đẹp hơn.
Năm
Quang Tự 18 (1892), toàn núi tậu chút ít ruộng hương hỏa
của nhà họ Châu; nhân đó, mười mấy nhà[28] góp lại, hoặc
góp một phần vốn, hoặc mấy phần vốn, tiền đóng góp
được bao nhiêu đó đem mua một trăm mẫu ruộng để lấy
vốn xây dựng nhà từ đường mới. Về sau, bị người ngoài
xâm chiếm mất hơn một nửa, chỉ còn được ba mươi mốt
mẫu mà thôi. Do đất ruộng mới khai khẩn, chưa trừ hết
phèn. Vì vậy, hai mươi năm qua, vẫn chưa xây cất được.
Nay ruộng đã thuần thục, thâu hoạch ổn định. Vì thế,
mùa Xuân năm nay khởi công dựng nhà từ đường. Mười nhà
thay phiên làm ruộng, hết một vòng lại trở lại từ đầu.
Thật ra, ý của thầy Khai Như và thầy tôi là muốn cho con
cháu đời sau vào từ đường cúng bái, lễ tượng gieo tấm
lòng thành, tâm tự suy nghĩ: “Tổ sư cũng giống như người
khác. Ngài là trượng phu, ta cũng vậy. Há nên đề cao thánh
cảnh nhưng chính mình ở địa vị phàm phu chăng?” Do vậy,
đại tâm khởi lên mạnh mẽ, noi dấu bậc tiên giác, phá
vô minh, chứng pháp tánh, tiếp nối Phật huệ, độ chúng
sanh, sao cho viên thông đạo tràng được thường trụ bao kiếp.
Đạo pháp của bậc đại huệ được lưu hành khắp pháp
giới, mới chẳng thẹn là con cháu của tổ sư, là đệ tử
Như Lai vậy. Những người cùng hàng với tôi hãy gắng lên!
(viết vào năm Dân Quốc thứ hai – 1912)
33.
Lời tựa cho Miên Vân Từ Đường
(viết
thay cho thầy thư ký chùa Pháp Vũ)
Con người sống trong thế gian huyễn trụ mấy mươi năm. Kể
từ khi có hiểu biết trở đi, ngày đêm toan tính, bận bịu
rộn ràng, không gì chẳng nhằm nuôi thân mình và gia đình,
giữ thể diện, để của cải lại cho con cháu mà thôi! Xét
đến cái gốc bệnh chỉ vì do chấp trước có Ngã, không
chịu buông xuống. Mối lo toan kết chặt, dù Phật có thuyết
pháp cũng không thể cởi gỡ được, đâm ra đối với vị
chủ nhân ông bản lai diện mục của mình bèn bỏ qua không
thèm hỏi đến, mặc tình lưu chuyển theo nghiệp, vĩnh viễn
trầm luân chẳng đáng buồn ư?
Hòa
thượng Khai Nhiên túc nhân sâu dầy, sanh trong nhà tướng,
lớn lên sợ sát nghiệp, chẳng thích theo đuổi việc quân.
Nghe Hóa Văn lão nhân thuyết pháp bèn gieo thân dưới tòa,
xuống tóc làm Tăng đã mấy mươi năm, chuyên chú tham cứu.
Chỉ hận chưa được gặp mặt, giãi bày cơ duyên, nên chỗ
Ngài ngộ giải sâu - cạn [như thế nào] chẳng thể lường
được! Đến cuối đời Quang Tự, Sư trụ trì chùa Pháp Vũ,
bèn tự lập từ đường, để làm kỷ niệm, đặt tên là
Miên Vân. Mây chính là vật không biết từ đâu đến, không
biết đi về đâu, huyễn sanh, huyễn diệt, trọn không có
tướng nhất định, nhưng có thể tuôn mưa ngọt nhuần thấm
khắp cõi đất, khiến cho hữu tình vô tình đều được yên
ổn, thật giống như người đã chứng vô ngã tướng, bèn
không trụ vào đâu để sanh tâm, độ thoát hết thảy chúng
sanh nhưng không có tướng độ. Sư toàn thân buông xuống,
an trụ trong ấy. Đấy có phải là thể hiện sở ngộ của
mình hay chăng? Hay là khiến cho con cháu đời sau lấy đó làm
khuôn phép? Nghĩa ấy huyền diệu, đáng suy nghĩ sâu xa vậy!
34.
Lời tựa cho từ đường của Thông Trí pháp sư
(viết
thay cho đại sư Ngộ Khai)
Kể từ khi Thế Tôn nhập diệt, tứ y hoằng pháp[29], hiện
thân Phổ Môn, hiện hình trong sáu nẻo, nghịch - thuận, ẩn
- hiển, đủ mọi phương tiện tùy thuận cơ nghi đều làm
cho độ thoát. Diệu hạnh thần thông chẳng thể nghĩ bàn
ấy chỉ bậc thánh mới làm được, chứ phàm chẳng thể
sánh bằng. Nếu hiện làm thân sa-môn thì ly trần thoát tục,
dựng cao pháp tràng, chấn hưng tông phong, lưu thông pháp hóa,
nối huệ mạng của Phật. Đấy chính là diệu hạnh thông
thường hoằng truyền xiển dương Phật giáo của bậc Pháp
Thân đại sĩ và phàm phu đại tâm. Do hai hạnh này nên theo
chiều ngang thì trọn khắp mười phương, theo chiều dọc thì
tột cùng ba đời, không một nơi nào chẳng nhận được Phật
quang, không một ai chẳng được gội ân Phật.
Đến
khi pháp truyền sang Chấn Đán (Trung Hoa), hai ngàn năm qua, bậc
hoằng pháp đại sĩ rộng truyền pháp hóa, Tông thuyết đều
thông, Định - Huệ đều bình đẳng, hiện thân thuyết pháp
dùng đức khuất phục người, quạt gió Chân trong nhà lửa,
tuôn mưa Pháp nơi ruộng tình, độ khắp ba căn, thống nhiếp
các cơ, ai nấy khôi phục thiên chân sẵn có, cùng chứng giác
đạo nơi tâm. Vì thế, vua quan quy mạng, dân chúng dốc lòng
thành kính, rộng nêu lẽ huyền, giúp đỡ chánh trị. Công
lao, dấu tích lớn lao ấy khó thể thuật trọn. Dù những
bộ như Cao Tăng Truyện, Truyền Đăng Lục ghi chép hơn trăm
quyển, vẫn chỉ là một hai phần trong ngàn vạn phần mà
thôi! Trong đời gần đây, có vị xưa đã gieo cội đức,
thị hiện sanh trong gia tộc lớn, mắt nhìn xuyên thế giới
nổi trôi, một vai gánh vác bến bờ lớn lao; ngồi yên nơi
đạo tràng viên thông, thâm nhập Bảo Vương tam-muội, cùng
tu cả Thiền lẫn Tịnh, gồm thâu Tông - Giáo, hiện tướng
lưỡi rộng dài diễn dương rộng lớn Viên Tông, duỗi cánh
tay bình đẳng tiếp độ khắp ba căn, ngay nơi phàm tâm chỉ
ra Phật tâm, gồm thâu vạn hạnh về một hạnh. Người như
vậy chỉ có vị thầy quá vãng của tôi là Thông Công pháp
sư vậy.
Sư
húy là Tầm Nguyên, tự Thông Trí, biệt hiệu Ức Liên Sa Môn.
Họ ngoài đời là Nguyễn, người huyện Nghi Trưng, Dương
Châu, là con thơ của Trung Đường Nguyên Công, sanh nhằm giờ
Mùi, ngày mồng Tám tháng Ba năm Quý Mão, tức năm Đạo Quang
22 (1842)[30]. Bà mẹ Sư là X… người kinh đô. Đến khi Nguyên
Công qua đời, do xung khắc với con cái dòng đích quá mức,
mẹ Ngài bèn đem con trở về kinh đô, ở nhờ nhà ông cậu.
Đến lớn, Sư tướng mạo khôi vĩ, tiếng nói sang sảng, tánh
ưa Đạo thuật (thích tu tiên), chẳng mong làm quan, chỉ muốn
làm vị thần tiên trường sanh, tấm lòng phóng khoáng, dạo
chơi Bồng Đảo[31], thường tiếc nuối vì chẳng gặp được
bậc chân nhân[32].
Đến
năm Đồng Trị thứ 12 (1873), tuổi tròn 21, ngẫu nhiên đến
chùa Long Tuyền, gặp hòa thượng thủ tòa là ngài Bổn Nhiên,
thông suốt giáo lý, thấu triệt Thiền Tông. Sư cho rằng đây
là bậc đắc đạo cao nhân, bèn nêu điều mình thường ấp
ủ. Ngài Bổn Nhiên cười: “Ông vô cớ vứt bỏ thiên chân
Phật tánh mình sẵn có để cầu làm thần tiên chưa chắc
đã được và chẳng thể ra ngoài bảy đường được! Bỏ
vàng gánh gai, nhận tớ làm chủ. Ông có tướng mạo như thế,
sao lại có chí kém hèn đến thế?” Sư bèn bỏ ngay lòng
mong mỏi ấy, cầu được nhiếp thọ. Ngài Bổn Nhiên nhân
đó cho xuống tóc tại chùa Thất Tháp ở kinh đô, [chùa ấy]
là chi phái của chùa Thạch Phật. Từ đó, thường thân cận
vị thầy thọ nghiệp của mình, nghiên cứu giáo điển, quyết
chí tu trì. Đến năm Quang Tự thứ 4 (1878), thọ Cụ Túc Giới
ở chùa Vân Cư tại Kinh Tây. Do nghĩ mình mới hiểu biết
giáo lý thô lược, chưa tròn bổn phận, kể chuyện ăn, đếm
của báu nào được lợi ích gì, Sư bèn cất bước du phương,
tham học khắp các bậc Tông tượng. Đến năm Quang Tự thứ
14 (1888), dự vào hội chúng của Tín Chân lão nhân ở chùa
Phật Đảnh Sơn tại Phổ Đà, thầy trò đạo hợp, được
trao tâm ấn, được nối pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời
thứ bốn mươi hai.
Năm
ấy, Sư diễn giảng kinh Lăng Nghiêm ở chùa Pháp Vũ. Từ đấy,
suốt hơn mười năm thường được mời giảng, mỗi kỳ thính
chúng cả mấy trăm người. Sư riêng tâm đắc nơi kinh Lăng
Nghiêm, do vậy bèn soạn sách chú thích, muốn cho lý Đại
Phật Đảnh, tánh thường viên thông được hiển hiện toàn
thể, không còn bị ẩn giấu chút nào. Soạn thành sách Khai
Mông (chỉ điểm cho những người còn mờ mịt, chưa hiểu
biết) gồm mười quyển, nay đã được Tịch Công[33] chùa
Vạn Thọ ở Duy Dương cho khắc ván lưu thông. Tiếc là Sư
bẩm tánh thật thà, chỉ chú trọng đến cội gốc, chẳng
quan tâm đến nhánh ngọn. Chỉ muốn phát huy sao cho lý tánh
được triệt để hiển lộ, giãi bày trọn vẹn; còn chuyện
chọn chữ dùng từ, chưa xét kỹ càng, đến nỗi tác phẩm
bị mắc khuyết điểm rối ren, thiếu sót. May là còn được
bậc tác gia[34] có đủ con mắt gọt dũa sửa đổi trở thành
vườn pháp hoàn bích, thành gương báu cho Lăng Nghiêm.
Sư
bình sanh chí tại Lăng Nghiêm, nhưng hạnh tại Tịnh Độ.
Nhật khóa niệm Phật ba vạn tiếng, thề cầu vãng sanh. Sáng
ra trì chú Đại Bi tàn một cây hương để làm Trợ Hạnh,
muốn cho hữu tình trong hiện tại, tương lai đều cùng sanh
Tịnh Độ. Do vậy, đối với những bộ Di Đà Sớ Sao và
[Di Đà Sớ Sao] Diễn Nghĩa, Yếu Giải, Tiện Mông Sao, Thế
Chí Viên Thông Sớ Sao đều cho in khắc, lưu truyền, bảo với
những người đến học: “Thiền Tông gọi là giáo ngoại
biệt truyền (truyền riêng ngoài giáo), nhưng Tịnh Độ mới
thật sự là giáo nội chân truyền. Phải biết chân truyền
ở đây chính là biệt truyền ngoài biệt truyền vậy! Các
ông phiền hoặc chưa đoạn, đạo nghiệp chưa thành. Chớ
có nên phán đoán sai lầm[35], đề cao Thiền Tông, miệt thị
Tịnh Độ, đến nỗi lúc lâm chung, nghiệp thức mờ mịt,
không có gì để nương tựa. Dù có Phật lực đại từ đại
bi chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vì không tin nên không cách gì
nương cậy được! Vẫn y như cũ nương theo ác nghiệp lực,
luân hồi trong đường ác từ kiếp này sang kiếp khác, trọn
chẳng có kỳ ra! Chẳng đáng buồn ư? Chẳng đáng sợ sao?”
Sư
giảng kinh Lăng Nghiêm, đối với bảy chỗ gạn cái tâm, mười
phen chỉ chỗ thấy, đều chỉ rõ khai ngộ trong cõi này khó
khăn, chứng đạo trong Tịnh Độ dễ dàng! Đến chương Thế
Chí lại ân cần khuyên dạy chẳng tiếc sức thừa, muốn
cho pháp hội đại chúng ai nấy đều nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối, liền theo ngài Thế Chí tự chứng viên
thông. Đối với chỗ “những kẻ do ác nghiệp trầm luân
trong bốn đường, do thiếu Định Huệ nên đọa vào Ngũ Ấm
Ma”, Sư lại cực lực chỉ bày lẽ được - mất, đau đáu
dạy lẽ lợi - hại. Với mỗi điều đều lệ ứa theo từng
tiếng, âm thanh nghẹn ngào, thường nói: “Không biết Tịnh
Độ [thì thấy] Lăng Nghiêm là bậc công thần hàng đầu để
đả phá Tịnh Độ. Hiểu sâu Tịnh Độ [thì thấy] Lăng Nghiêm
quả thật chính là hướng dẫn tốt lành để hoằng dương
Tịnh Độ! Xem kinh mà thiếu con mắt chọn lựa pháp (trạch
pháp nhãn) ắt cô phụ ơn Phật, phần nhiều là như thế!
Các ông chớ nên coi cơ phong chuyển ngữ của Thiền Tông là
thật pháp, xem Tịnh Độ chẳng đáng tu trì! Phải biết trong
hội Hoa Nghiêm, Hoa Tạng hải chúng cùng phá vô minh, cùng chứng
Pháp Thân, vẫn phải dùng mười nguyện vương để hồi hướng
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để mong viên mãn
Phật quả. Các ông là người như thế nào mà dám chống lại
các vị ấy? Trên cô phụ Phật giáo hóa, dưới phụ bạc
tánh linh của chính mình. Chư Phật gọi đó là kẻ đáng thương
xót”.
Hơn
mười năm qua, Sư hoằng kinh các nơi như mây trôi chim bay,
không ở nơi nào nhất định, thường hay dừng nghỉ nơi chùa
Thiên Đồng ở Tiểu Bạch Lãnh, nơi chùa Vạn Thọ ở Duy
Dương và am Phổ Huệ nơi núi này, do chủ nhân hai nơi ấy
(tức chùa Thiên Đồng và chùa Vạn Thọ) đều là bậc tôn
đức trọng đạo. Hơn nữa, Giác Công am chủ am Phổ Huệ,
về mặt truyền thừa pháp là đồng môn, giao hảo không trái
nghịch. Đến mùa Đông năm Bính Ngọ tức năm Quang Tự 32
(1906), Ngài thị hiện mắc bệnh tại chùa Dục Vương. Mùa
Xuân năm Đinh Mùi (1907), Giác Công liền đón về am, tận tình
chăm sóc, được hơn hai tháng, mấy hôm trước bữa lâm chung,
thần khí tươi tỉnh, dũng mãnh niệm Phật. Đến giờ Mùi
ngày mồng Ba tháng Tư, chắp tay niệm Phật, ung dung qua đời,
thọ sáu mươi lăm tuổi, Tăng lạp 35 năm. Toàn thân được
nhập quan, an táng nơi rặng Tổ Yến phía sau Phật Đảnh Sơn,
là chỗ do các vị như Văn Chánh hòa thượng v.v… đã xây
dựng sẵn làm chỗ yên nghỉ.
Do
Sư bình sinh tánh ưa vắng lặng, không ở nhất định một
nơi, nên không thế độ ai. Môn nhân nối pháp nơi núi này
chỉ có sư Nguyên Thông và kẻ bất tiếu là Ngộ Khai. Ở
bên ngoài dù có, nhưng không biết hết. Chỉ sợ chuốc lấy
tiếng dị nghị thân - sơ nên nhất loạt không ghi. Ô hô!
Những năm xưa kia, Khai từng nhiều lần dự pháp hội, nhiều
phen được nghe viên âm, nhưng chưa thấu hiểu tự tánh. Sư
cho rằng đứa con yếu ớt này có thể dạy được nên phó
chúc sẵn. Lúc ấy, tuy hết sức thẹn thùng, vẫn mong có ngày
giải ngộ. Nào ngờ chưa diệt được các ma, bậc pháp tướng
đã mất; độc dược chưa tiêu, từ phụ đã bỏ đi. Buồn
thay! Bến bờ của chúng sanh, huệ mạng của Như Lai phó thác
cho ai? Biết gởi gắm vào đâu? Thà tự chết đi, chẳng nỡ
nhìn thầy mất. Chỉ mong Sư nương Phật lực, sen nở Thượng
Phẩm, chứng Vô Sanh Nhẫn, lên địa vị Bất Thoái, mau nương
bổn nguyện, rủ lòng từ tế độ. Ngõ hầu có thể nương
vào oai thần của Sư, thoát đường hiểm mau lên bảo sở,
giải quyết hết phiền hoặc trong tâm thức tôi, triệt chứng
chân thường. Dùng tiền tiên sư để lại, dựng lập từ
đường, lược thuật những nét chính để lưu lại mãi mãi,
ngõ hầu pháp duệ đời sau ngửa trông gương sáng của tiên
đức, quyết chí học đòi theo.
35.
Lời tựa cho nhà từ đường của con cháu chi phái Lập Sơn
lão nhân
(viết
thay cho Khai Như hòa thượng)
Hết thảy chúng sanh vốn có trí huệ, đức tướng của Như
Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng
đắc. Xét đến nguyên do, nói chung là vì chẳng hiểu rõ Chân
Như diệu tánh, nhận lầm Tứ Đại là thân tướng của chính
mình, coi bóng dáng của duyên sáu trần chính là tâm tướng
của chính mình. Đã nhận lầm giặc làm con, nên trái giác,
hiệp trần, từ đấy dính chặt vào Căn - Trần, ta - người
đối nghịch nhau, khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi sáu đường
trải trần điểm kiếp, không thể giải thoát. Đại Giác
Thế Tôn thương cho nỗi khổ kịch liệt ấy, ban cho đại
pháp dược, dạy tu Tứ Niệm Xứ Quán: Một là quán thân bất
tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm vô thường,
bốn là quán pháp vô ngã. Ngoài ra còn có Chánh Cần, Như Ý
Túc, Căn, Lực, Giác Đạo, ba mươi bảy phẩm pháp môn.
Tuy
căn có lợi - độn, thừa có đại - tiểu, nhưng không gì
chẳng lấy Tứ Niệm Xứ làm căn bản. Ấy là vì nếu Tứ
Quán mà thành liền phá được Ngã Chấp. Ngã Chấp đã phá
thì Ngũ Uẩn đều không, sáu trần liền giác, phản bổn hoàn
nguyên, tự chứng được diệu tánh. Ví như nhơ hết gương
sáng, mây tan mặt trời rạng rỡ. Mặt trời vốn sẵn có,
ánh sáng chẳng phải từ bên ngoài đến. Đắc Vô Sở Đắc,
đạt Đại Tự Tại. Phàm tình, thánh kiến thảy đều tiêu
vong. Niết Bàn còn không có, huống là có sanh tử? Nếu như
tuổi thọ đã hết bèn thiêu hình hài là vì:
1)
Một là sợ người mất còn có việc làm chưa xong, Thân Kiến
chưa hết. Nay hỏa thiêu để khiến cho người ấy đột ngột
ngộ Chân Không, giải thoát ngay trong lúc đó.
2)
Hai là chính vì muốn cho người còn sống hiểu rõ toàn thể
thân này là hư vọng, tận lực tu Thánh Đạo, khôi phục nguồn
tâm, chăm chú nơi cử chỉ, lời lẽ, đích thân thấy được
chủ nhân ông, sẽ tự làm chủ tể, chẳng bị cái đãy da
thối này lắm cách sai khiến, ngõ hầu trên có thể tiếp
nối huệ mạng đức Phật, dưới hóa độ hữu tình. Từ
ngay cái thân khổ, vô thường, vô ngã, bất tịnh, huyễn vọng
này, triệt chứng Phật tánh Chân Như thường - lạc - ngã
- tịnh.
Do
vậy, bất luận phàm hay thánh đều nên hỏa táng hết, tùng
lâm trong thiên hạ không đâu chẳng tuân hành. Vào thời Phật
pháp hưng thạnh dưới đời Đường, đời Tống, những bậc
sĩ đại phu cũng đa phần tuân theo Phật chế dùng pháp này,
chứ không riêng gì Tăng chúng mới vậy! Tăng đã hỏa thiêu,
nhặt lấy xương thừa, đặt trong tháp Phổ Đồng[36], cũng
giống như hải chúng cùng ở chung với nhau trong tùng lâm.
Trong số ấy, phàm - thánh khó lường, hạnh vị khó phân biệt.
Phàm đã gần thánh thì cũng dễ được giải thoát, như loài
nhặng xanh bám vào đuôi ngựa Ký, chẳng nhọc sức mà đi
được ngàn dặm vậy! Pháp Vũ thường trụ vào thời Hàm
Phong - Đồng Trị nhà Thanh trước kia, do binh hỏa lâu ngày
đã bị hoang phế, đèn nhang đoạn tuyệt, đến nỗi hư hoại
đổ sụp. Vào năm Đồng Trị thứ 10 (1871), đại chúng ép
tiên sư công[37] là Lập Sơn lão nhân làm trụ trì, pháp đạo
do vậy lại được trùng hưng, thế độ pháp tự[38] thật
đông đảo.
Sư
bá Hóa Khai bàn với các pháp quyến trong bổn phái, ai nấy
bỏ ra tịnh tài bao nhiêu đó tiền tu bổ tháp Phổ Đồng
cho con cháu ở phía Đông cầu Hải Hội. Phàm những con cháu
của chi phái Lập Sơn lão nhân và các pháp đồ[39] đều được
đưa vào đây. Lại mua năm mươi mẫu ruộng hương hỏa, đem
tô lợi thu được hằng năm dùng làm chi phí cúng quải hai
kỳ Xuân - Đông. Sai năm am Bán Sơn, Thường Minh, Trường Sanh,
Dương Chi, Bảo Xứng và con cháu của chi phái sư Hóa Hằng,
sáu nhóm thay phiên đảm nhiệm khiến cho người mất được
cúng tế, được pháp lợi siêu sanh trời Cực Lạc, người
còn sống hiểu thấu suốt huyễn vọng, tu Tịnh nghiệp dự
vào hội Liên Trì, nên bèn ghi duyên khởi để bảo cùng đồng
luân.
36.
Lời tựa quyên mộ dựng thảo xá Dược Vương (viết thay)
Đại Giác Thế Tôn được mệnh danh là Đại Y Vương, trị
khắp các bệnh thân - tâm cho chúng sanh. Ngài dùng thuốc số
đến vô lượng, nhưng ba thứ Giới - Định - Huệ bao gồm
hết tất cả không còn sót. Do vậy, ba thứ này được gọi
là Dược Vương. Nếu uống vào, phàm sẽ thành thánh, nhưng
thuốc tuy đẹp hay, tu trì lại thật khó. Tín nguyện niệm
Phật cầu sanh Tây Phương gọi là thuốc A Già Đà, trị chung
được vạn bệnh. Hạ thủ dễ, thành công cao; dùng sức ít,
được hiệu quả nhanh chóng. Ba căn thượng - trung - hạ ngay
trong đời này đều thoát khổ luân. Ba pháp Giới - Định
- Huệ ngay trong một niệm đều được đầy đủ. Do vậy,
biết một pháp tín nguyện niệm Phật chính là dược vương
của các dược vương. Tôi may nhờ túc nhân, được nghe pháp
này, dám đâu chẳng kiệt thành, tận kính, khăng khắng tu
trì ư? Toan muốn dựng một am tranh, đặt tên là Dược Vương,
yên trụ trong đó, dốc sức tu Tịnh nghiệp, ngõ hầu chữa
lành các chứng bệnh lớn sanh tử nơi thân tâm của mình lẫn
người. Khẩn khoản mong các đàn-việt phát Bồ Đề tâm,
hành phương tiện sự, tạm bỏ ra chút phần tạng báu, thành
toàn cho căn nhà tệ hèn để yên thân. Do đây, đêm ngày ân
cần lễ bái, ức niệm. Đã có thể niệm đâu nghĩ nơi đó,
khó gì [chẳng chứng] tâm này chính là Phật, thì vô biên
lợi ích đều được thành tựu. Dùng nhân như thế để cảm
quả như thế. Đời này ắt được Phật tiếp dẫn cao dự
hải hội; tương lai ắt làm thân Dược Vương, trị đủ mọi
bệnh. Nếu như lòng ngu thành này được xét soi thì lời lẽ
này ắt chẳng bị bỏ phí vậy!
37.
Lời tựa cho cuốn Vạn Niên Bạ chùa Pháp Vũ
(viết
thay Khai Như Hòa Thượng)
Có được cuộc đất tối thắng mới hoằng dương được
đạo tối thắng. Tạo lập chuyện phi thường ắt phải đợi
người phi thường. Bậc tông tượng xuất hiện thì gốc lập,
đạo sanh. Triết nhân mất thì pháp tàn, giáo suy. Tuy bỉ cực
thái lai thuộc vào vận trời, nhưng sửa cũ đổi mới quả
thật phải nhờ vào sức người. Pháp Vũ thường trụ do Đại
Trí lão nhân sáng lập[40], do Thống Tổ ở Biệt Am trung hưng,
quy mô lớn lao, pháp đạo hưng long. Từ đấy Trụ Trì các
đời tuy không thành tựu lớn lao, nhưng ai nấy đều tận
lực giữ quy củ đã thành lập, gia phong chẳng suy đồi. Sau
cơn binh hỏa, Trụ Trì chẳng tìm được người đến nỗi
suy bại sát đất. Điện đường, liêu xá hư sụp, đổ nát,
pháp khí trang nghiêm, trăm thứ chẳng còn được một. Pháp
quyến các phòng thấy cảnh tượng ấy đều bó tay, chẳng
dám gánh vác.
Vào
năm Đồng Trị thứ 11 (1872), đại chúng ép tiên sư công Lập
Sơn lão nhân làm Trụ Trì, tận lực tu bổ tường sụp, nhà
rách, siêng năng, chăm chút, trải hơn mười năm. Từ điện
Thiên Vương cho đến Tàng Kinh Các thảy đều sửa mới. Những
công trình khác tuy chưa hoàn toàn khôi phục lại quy mô cũ,
nhưng nhìn vào đại cuộc đã khả quan. Đến năm Quang Tự
thứ 11 (1885), do già bệnh, lão nhân bèn thoái ẩn, sai tiên
sư là Văn Lão Nhân[41] kế vị trụ trì. Tiên sư kế thừa
đầu mối cũ, phát tâm rộng lớn. Phàm đối với những gì
sư ông (chỉ ngài Lập Sơn) chưa đủ sức lo đến, hết thảy
điện đường, liêu xá đều dựng mới hoặc tu bổ, không
chỗ nào chẳng sửa chữa mới. Quy mô chế độ chẳng kém
thời trung hưng. Phàm những vườn đào, ruộng rẫy bị cưỡng
ép lấy mất vào thời Hàm Phong đều tận lực chuộc lại.
Lại vì muốn chuyển pháp luân thì phải nhờ vào pháp khí
trang nghiêm; hơn mười mấy năm qua, hoằng Tông xiển Giáo,
những vật dụng sắm sửa trên là Càn Long Đại Tạng kinh,
tượng Phật, dưới là bàn ghế, giường chõng, phàm vật
gì cần đến thảy đều đầy đủ.
Nhưng
lão nhân đại nguyện như mây nhóm, hận chẳng nhóm được
thập phương Tăng chúng trong cùng một nhà để Kỳ Viên xưa
kia lại được thấy trong ngày nay. Tâm vì pháp, vì người,
vì thường trụ, vì đại chúng như chôn cha mẹ[42], như cứu
đầu cháy, ngày đêm suy tư, lo nhọc đến nỗi thành bệnh.
Đến mùa Đông năm Quang Tự 23 (1897), công trình xây dựng
chưa xong, lão nhân quyết chí về Tây. Khai Như tôi tự thẹn
đức bạc, lại không có bản lãnh. Do được ghé dự vào
hàng đồ đệ, nên Ngài giao cho coi sóc sự vụ trong chùa,
gắng gượng vâng lệnh thầy, tận lực phụ giúp. Tuy là hạt
bụi nhẹ, giọt sương bé, chẳng giúp ích gì núi, cho sông,
nhưng luận trên sức mình, cũng có thể nói là đã cúc cung
tận tụy, dốc cạn lòng ngu muội. Nương theo những công trình
chưa hoàn thành của thầy, chỉ tận lực gánh vác, vâng theo
di mạng của tiên sư, xin các pháp quyến công cử Định Công
kế nhiệm làm trụ trì. Khai Như vẫn giữ chức vụ cũ, trông
nom việc chùa. Đến khi Định Công thoái ẩn, nhờ ơn pháp
quyến ủy thác trách nhiệm nặng nề này, tuy biết mình chẳng
xứng gánh vác, nhưng chẳng thể từ khước vì kế hoạch
công trình của tiên sư vẫn chưa hoàn thành. Do vậy, đêm
ngày lo liệu, chẳng dám bê trễ. Dốc cạn thân tâm này để
kính cẩn hoàn thành chí nguyện của thầy. Trong vòng ba năm,
những chuyện gì nên làm thảy đều hiểu rõ, chuyện gì có
thể giao phó được, chẳng làm phiền cho người. Vì thế,
nay kính thưa cùng pháp quyến, sẽ đem hết tất cả những
đồ vật thường trụ lớn nhỏ, nhất nhất ghi chép, để
vị Trụ Trì sau này, hễ đảm nhận chức vụ ắt biết tiền
nhân vì chuyển pháp luân đã sắm sửa đồ đạc, một phen
khổ tâm, thật chẳng dễ dàng. Ai nấy đều càng thêm mến
tiếc, không đến nỗi phí phạm, vâng giữ công lao đã thành,
tươi đẹp công nghiệp khai sáng, nối tiếp đức hạnh, theo
gót bậc khai sơn cả ức vạn năm, vĩnh viễn không phế bỏ,
ngõ hầu pháp luân lẫn nguyện luân đều thường chuyển,
ngàn đời tuân giữ nếp gia phong cũ, ân nước lẫn ân Phật
đều báo, cả cõi đời thường đượm ơn mưa móc thì pháp
môn may mắn, thường trụ may mắn lắm thay!
38.
Lời tựa nhà từ đường Hóa Văn Lão Nhân
(viết
thay cho Khai Như hòa thượng)
Trộm nghĩ Nho Lễ coi trọng Xuân - Thu tế lễ; Thích Giáo coi
trọng việc truy tiến hằng năm. Nghĩ đến ân “cây có cội,
nước có nguồn”, cung kính làm chuyện tưởng nhớ nguồn
cội. Thế gian, xuất thế gian nào có cách ngăn? Tiên sư Văn
lão nhân huân tu nhiều kiếp, kham làm phước điền cho trời
người, thừa nguyện tái lai, chấn chỉnh môn đình của Đại
Sĩ. Tuy thị hiện sanh trong chốn đô thành, nhưng mắt thấy
thấu suốt vinh hoa cõi thế, gởi. thân nơi hải đảo, hai
vai gánh vác Phật pháp để giăng bủa mây từ, hưng long chùa
Pháp Vũ. Chẳng thẹn là công thần của Phổ Môn, xứng đáng
là đích tử của Biệt Am. Bỏ cũ đổi mới, phạm vũ lại
khôi phục quy mô huy hoàng. Hoằng Tông diễn Giáo, nguồn pháp
được lưu thông tốt lành. Xem người như chính mình, gấp
lo chuyện công, gác lại chuyện tư, trụ trì Pháp Vũ cả hơn
mười năm, chưa từng mua một khoảnh ruộng dưỡng lão, dựng
một gian phòng làm chỗ nương thân. Chỉ muốn khôi phục,
hoằng dương Tổ đạo, lợi ích tương lai. Đêm ngày suy tư,
lo nhọc thành bệnh. Công viên quả mãn, buông tay quy Tây. Đức
Nguyệt chưa thể nối đức, không cách báo ân. Do muốn đề
cao nghi thức truy tiến, cũng như hòng cảm phát hậu nhân,
cho nên mới chọn một trăm mẫu ruộng từ những ruộng hương
hỏa của lão nhân đã tậu để làm chi phí cho việc cúng
tế Đông - Xuân tại từ đường của pháp quyến; khiến cho
sau này, ai vào tòa nhà ấy cúng tế, lễ tượng, gieo tấm
lòng thành, sẽ sanh lòng kinh sợ thật sự, tự thẹn tự hổ,
ai nấy vâng giữ phép tắc, người người học theo, lấy tâm
lão nhân làm tâm mình, lấy việc của lão nhân làm việc mình,
mới chẳng thẹn là con cháu lão nhân. Phàm những ai cùng hàng
với tôi, xin hãy gắng lên!
39.
Lời tựa cho cuốn pháp phổ[43] am Bạch Hoa
(phần
này thuộc phần dẫn khởi, phần sau tường thuật sự việc
nên không sao lục)
Một niệm tâm tánh của chúng ta bất sanh bất diệt, chẳng
phải có, chẳng phải không, theo chiều dọc không có dấu
vết trước - sau, theo chiều ngang hoàn toàn không có hình dáng
trong - ngoài, bất biến tùy duyên, trải khắp chín giới nhưng
chẳng giảm; tùy duyên bất biến, chứng Phật đạo chẳng
tăng. Quang minh chiếu thấu tột, thọ dụng tự tại, thật
không hai, không khác gì với mười phương tam thế hết thảy
chư Phật. Nhưng do mê chân đuổi theo vọng, trái giác, hiệp
trần, đến nỗi chúng sanh và Phật khác xa nhau, khổ - vui
thật khác! Đức Đại Giác Thế Tôn thương xót, thị hiện
sanh trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác, rộng diễn ngôn
giáo, khiến cho chúng sanh bỏ vọng về với chân, trái trần,
hiệp giác, khôi phục thiên chân vốn sẵn có, tự chứng Vô
Thượng Giác Đạo. Do vậy, giáo tùy theo căn cơ mà sai khác,
pháp do người mà khác biệt.
Vì
Thật bày Quyền, lập đủ năm tầng bậc, địa vị Ngũ Thừa.
Khai Quyền hiển Thật, cùng về pháp môn tam đức. Tuy một
trận mưa thấm nhuần khắp, tứ chúng đều được thấm đượm,
nhưng hoằng dương lưu thông phải nhờ vào Tăng. Ấy là do
cắt ái lìa thân mới có thể tu ròng tịnh hạnh; gánh vác
pháp đạo thì phải thấu triệt nguồn tâm. Do vậy, từ khi
đại giáo phát khởi từ Tây Càn (Ấn Độ), pháp truyền sang
Đông Chấn (Trung Hoa), Luật, Giáo giương lao, Thiền, Tịnh
dựng cờ, hai ngàn năm qua, người được thế độ, uống
sữa pháp, dùng đạo này để giác ngộ dân, thế hệ thầy
trò truyền cho nhau, cội nguồn gốc gác sao kể cho xiết! Phổ
Đà là nơi Quán Âm đại sĩ ứng hóa, trải bao kiếp vẫn
thường như vậy, không thay đổi, không biến dịch. Nhưng
trong sự thấy biết của thế gian phàm phu, thì kể từ niên
hiệu Trinh Minh nhà [Châu] Lương thời Ngũ Đại mới lập đạo
tràng. Trải các đời Tống, Nguyên, Minh đã từng rạng rỡ
cõi đời, cao nhân nhiều lần xuất hiện, lắm phen lẫy lừng.
Trong thời gian ấy, pháp vận không phải là không có lúc bỉ
cực, bế tắc, nhưng nhờ có người gánh vác pháp đạo, điều
đình, xếp đặt, nên bỉ chuyển thành thái, tắc biến thành
thông. Do vậy, đạo tràng viên thông lừng lẫy như cũ, chẳng
kém thuở ban đầu.
40.
Lời tựa cho bản quy củ Hương Tích Trai Tăng Hội
Trộm nghĩ Tăng mang tên là phước điền, lợi khắp tứ sanh
cửu hữu[44]. Làm chay có thể giúp cho đạo, giúp khắp tam
thừa lục hòa. Do [Tăng] là phước điền cho nên cúng dường
thì gần là trừ được cái nhân đói kém, xa thì là được
quả Ứng Cúng. Do là trợ đạo nên nhận lãnh thì tu được
hạnh Lục Độ, dùng để nêu bày thân tam đức. Kinh dạy:
“Đối với thức ăn bình đẳng, thì đối với pháp cũng
bình đẳng. Hai thứ Tài Thí và Pháp Thí, bình đẳng không
sai biệt”, chính là ý này vậy. Chung Phương đại sư thấy
được việc này, liền mời mấy người tịnh hữu, ai nấy
bỏ ra bao nhiêu tiền, giữ vĩnh viễn trong quỹ chùa Phổ Tế
hòng kiếm chút tiền lời, để chi phí vào lễ Trai Tăng ngày
25 tháng Chạp mỗi năm. Một bữa, Sư đem bản quy ước đã
lập đến chỗ tôi, nhờ viết lời tựa hòng lưu lại mãi
mãi. Lại nói:
- Xưa
cư sĩ Duy Ma dùng sức thần thông qua khỏi bốn mươi hai Hằng
sa cõi Phật trên thượng phương, nơi cõi Chúng Hương là chỗ
của đức Hương Tích Như Lai, xin được cơm thơm, đặt ở
trong trượng thất[45], cúng cho khắp các đại chúng để làm
Phật sự khiến cho người chưa đắc bèn đắc, chưa chứng
bèn chứng. Bọn Phương tôi thẹn không có được thần lực
như vậy, kính cẩn dọn cơm chay đạm bạc để biểu thị
tấm lòng thành nhỏ bé. Muốn cho mười phương tam thế hết
thảy đại chúng đều nhờ vào bốn mươi tám nguyện rộng
lớn của Phật Di Đà, cùng lìa ngũ trược, cùng lên chín
phẩm, vĩnh viễn hầu đại sĩ Phổ Môn, tự chứng viên thông
chân thật.
Tôi
nói:
- Thần thông ai nấy vốn sẵn có, lẽ nào Sa Bà chẳng có
cơm thơm? Cần gì phải phải hiển lộ thần thông, vượt
lên cao Hằng sa cõi cầu cơm thừa của họ để no bụng đại
chúng cõi này mới được ư? Nên biết rằng bữa cơm chay
này các thầy thật tâm sắp đặt, đại chúng lòng rỗng rang
lãnh nhận. Người sắp đặt, người lãnh nhận đều đầy
đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; nhưng mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý xét về bản thể vốn là không, đó là loại thần
thông nào? Vật được chuẩn bị, vật được lãnh nhận lại
là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, nhưng Sắc, Thanh, Hương,
Vị, Xúc, Pháp thật sự giống như hư huyễn, đó là loại
cơm thơm nào? Huống chi Căn - Trần đã mất, nhân - ngã nào
còn? Tam luân không tịch, nhất đạo thanh tịnh. Ấy là thần
thông, là cơm thơm vậy! Chẳng lìa chỗ này, mặc tình đến
khắp mười phương. Chẳng qua một niệm, pháp nhĩ[46] xông
khắp ba đời. Huyễn uế trong tâm bèn tiêu ngay, chân tịnh
nơi tự tánh hiển hiện trọn vẹn. Ngay trong niệm này tự
thấy Phật Di Đà, lâm chung quyết định được nhiếp thọ.
Từ đấy thường nghe viên âm, hằng thân cận ánh sáng tốt
lành, ắt sẽ mau mãn quả hải, nhập Đại Niết Bàn, nào
đợi phải đắc Tam Ma Địa, chứng chân Viên Thông mới được
ư? Như vậy, xét ra, việc làm này của các thầy sánh bằng[47]
lão cư sĩ Duy Ma Cật, không hề cao - thấp! Công đức đã
làm ấy có thọ lượng bằng với mười phương hư không,
không bút mực, văn tự nào có thể hình dung được nổi!
Nếu như không biết nhân quả, bỏ bê, xâm phạm thì như xưa
kia có người dùng tiền trai tăng đem lợp tăng thất còn bị
đọa vào Hỏa Già địa ngục (địa ngục gông lửa), huống
gì bỏ vào túi xài riêng để béo thân mình. Gương rành rành
đã sớm treo, ai nấy đều nên xét kỹ.
41.
Lời tựa cho cuốn Vạn Niên Bạ am Viên Thông
(viết
thay Vĩnh Ngộ hòa thượng)
Thật Tế lý địa chẳng nhiễm mảy trần, chuyện trong cửa
Phật chẳng bỏ một pháp. Xưa đức Thế Tôn dùng ngũ thời
bát giáo để ứng khắp mọi căn cơ. Tùy theo căn khí đều
làm cho được lợi ích. Trong bốn thời trước, nói đủ mọi
pháp môn lục độ vạn hạnh. Nhiếp tiểu thì chẳng bỏ sót
điều thiện nhỏ nhặt, ứng đại thì bao trọn pháp giới.
Đến thời Pháp Hoa bèn khai Quyền hiển Thật, hội tam quy
nhất, thọ ký thành Phật cho khắp tất cả, diễn bày bản
hoài lớn lao của Phật. Thuyết giả cho rằng kinh Pháp Hoa
chính là lời bàn luận cùng cực rốt ráo của đức Như Lai,
thuyết minh trọn vẹn xuyên suốt nguyên do của cả một đời
giáo hóa. Như cuốn sổ cái ghi chép toàn bộ gia nghiệp, như
thiên tử có chín cái đỉnh[48] vậy. Cuốn Vạn Niên Bạ đây
cũng là cuốn sổ cái của Viên Thông thường trụ.
Xét
từ sư tổ của tôi là Phổ Tín lão hòa thượng muốn nhiếp
tâm thiền tịch
nên
vào năm Đồng Trị thứ ba, tức năm Giáp Tý (1864), lập ra
ba gian thảo am ngoài Tây Thiên Môn, cạnh tảng đá Bất Nhị,
đặt tên là Viên Thông, chỉ đủ để che mưa nắng hòng yên
thân tâm mà thôi. Lão nhân nhập tu Thiền Quán, nhìn ra biển
thẳm, vui lòng thích chí, lấy pháp làm vui, thoạt đầu chưa
nghĩ đến chuyện dựng tinh xá. Theo Sơn Chí, Viên Thông Am
ở ngoài Tây Thiên Môn, vào năm Vạn Lịch thứ năm (1577),
vị Tăng tên Viên Hiến dựng am ở trong hang, nhiều năm sau
bị bỏ phế. Xưa ở trong hang, nay trên đỉnh núi; tên tuy
giống nhau, nhưng nền hơi khác. Về sau, dời khỏi hang đưa
thẳng lên núi Đại Niết Bàn, có phải là điềm báo trước
của bậc thường quán biển Đại Tịch Diệt hay chăng? Năm
năm sau, đúng năm Mậu Thìn (1868), thầy tôi là Sơn Tịnh lão
nhân thâu nhận tôi và sư huynh Vĩnh Khánh. May được Đại
Sĩ thầm gia hộ, hai ba năm sau, hương đèn đông đảo dần,
đàn-việt thí chủ nhiều người kéo đến, liền mở rộng
nền chùa, đổi tên là Thiền Am. Đến mùa Xuân năm sau, tiên
sư thị hiện viên tịch.
Tôi
tuân mạng lệnh từ ái của sư tổ, tận lực đảm nhiệm
hoàn thành việc chùa, Khánh huynh (tức sư Vĩnh Khánh) chuyên
tu Tịnh nghiệp; trải chín lượt nóng lạnh, ba phen đóng cửa
Thiền để giúp đỡ. Đến năm Quý Dậu (1873) đời Đồng
Trị, sư tổ về Tây. Tuy thế cục chưa được rộng rãi,
lớn lao như hiện thời, nhưng đã có vẻ khả quan. Từ đấy
về sau, người thế độ càng đông, nhang đèn càng thạnh.
Lại thêm, con cháu tên X… kế tiếp đảm nhiệm chuyện ấy,
lại càng chẳng tiếc tâm lực, lo liệu tu tạo. Nền chùa
chỗ cao bèn khoét xuống, chỗ thấp bèn đắp thêm, khiến
cho cuộc đất được bằng phẳng, con người có chỗ sử
dụng mới thôi. Điện đường, nhà cửa hễ cần phải dựng
bèn dựng, cần sửa liền sửa. Nhỏ hẹp, xấu xí thì mở
rộng, sửa sang tráng lệ, thảy đều rực rỡ như mới, thành
tựu quang cảnh đẹp đẽ. Lớn như tượng Phật, kinh điển,
hạng trung như pháp khí trang nghiêm và đủ loại đồ vật,
ngay cả thứ nhỏ nhặt như chiếc thìa, chiếc đũa, phàm những
gì nên dùng vào Phật sự, những thứ cần dùng thường ngày
không thứ gì chẳng có đủ. Điền sản tuy không được mấy,
nhưng cũng đủ ăn cho một quý (ba tháng). So với kẻ không
đất cắm dùi, vẫn khá hơn một chút!
Ôi!
Tôi đã già rồi! Tháng ngày không còn mấy, muốn cho hậu
nhân có cái kế thừa, vâng giữ, chẳng dám vứt bỏ bừa
bãi, gượng bắt chước tiền nhân quang hiển, hoằng dương
pháp đạo. Nay đem tất cả những đồ vật thường trụ lớn
- nhỏ chia ra từng loại, nhất nhất chép vào sổ để lưu
lại lâu xa. Am này chẳng phải do trời tạo đất dựng, mà
là do tâm huyết của tôi, Khánh huynh và mười phương đàn-việt
tạo thành; cháu con cũng dự phần góp sức, há phải đâu
cũng uổng công tạo dựng ư? Ấy là vì muốn thành Phật quả
thì phải viên mãn vạn đức; muốn chuyển pháp luân phải
nhờ vào các duyên. Nay may được các duyên tạm đủ, phải
nên thường chuyển pháp luân, tu trọn vạn hạnh ngõ hầu
vạn đức viên thành.
Con
cháu đông đảo an trụ trong am, không phải lo đói lạnh khốn
khổ, có niềm vui tiêu dao nhàn hạ, há chẳng đau đáu nghĩ
đến đại sự sanh tử, vô thường nhanh chóng, hiểu lòng
thành khẩn của đàn-việt, nghĩ đến công tạo dựng gian
nan, phát Bồ Đề tâm, dốc sức tu tịnh hạnh, ngõ hầu báo
đáp tứ ân trong muôn một ư? Phàm thấy một cây kim, một
nhánh cỏ trong am đều nói: “Những thứ này đều được
sắm sửa để chúng ta tiếp nối huệ mạng Phật, tự lợi,
lợi tha vậy!”, quý như thịt trên thân mình, giữ gìn như
tròng mắt, khăng khắng tu trì suốt cả ngày còn chẳng đủ.
Làm được như thế thì chẳng thẹn là đệ tử Như Lai, là