Quyển
thứ Ba
(Phần
1)
IV.
Tự
1.
Lời tựa in tặng tranh Cực Lạc (viết thay)
Giáo pháp của pháp môn Tịnh Độ lớn lao thay! Tâm này làm
Phật, tâm này là Phật, pháp Trực Chỉ Nhân Tâm còn phải
nhường phần kỳ đặc (lạ lùng, đặc biệt). [So với cách
tu] “dùng ngay cái tâm này niệm Phật, niệm niệm thành Phật”
thì lợi ích đạt được do trải bao kiếp tu chứng vẫn phải
kém hơn. Độ khắp thượng trung hạ căn, thống nhiếp Luật,
Giáo, Thiền Tông, như mưa đúng thời nhuần thấm muôn vật,
như biển cả dung nạp các sông. Hết thảy các pháp Thiên,
Viên, Đốn, Tiệm, không pháp nào chẳng từ pháp giới này
lưu xuất; hết thảy hạnh Đại - Tiểu, Quyền - Thật, không
hạnh nào chẳng quy về pháp giới này. Chẳng đoạn Hoặc
nghiệp mà được dự vào Bổ Xứ, ngay trong một đời này
viên mãn Bồ Đề. Chúng sanh trong chín pháp giới lìa môn này
thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo; mười phương chư
Phật bỏ pháp này thì dưới chẳng thể lợi khắp quần manh.
Do vậy, Hoa Nghiêm hải chúng hết thảy đều tuân theo mười
đại nguyện vương. Pháp Hoa xưng niệm một tiếng[1] đều
chứng Thật Tướng các pháp.
Hạnh
phương tiện tối thắng, ngài Mã Minh dạy trong luận Khởi
Tín. Đạo dễ hành chóng đến, ngài Long Thọ xiển dương
trong luận Tỳ Bà Sa. Ngài Trí Giả là hậu thân của Phật
Thích Ca, nói Thập Nghi Luận, chuyên chí Tây Phương. Ngài Vĩnh
Minh là Phật Di Đà thị hiện, soạn Tứ Liệu Giản, suốt
đời niệm Phật. Hội tam thừa ngũ tánh[2] cùng chứng chân
thường, dẫn thượng thánh hạ phàm cùng lên bờ kia. Vì thế,
[pháp này] được chín pháp giới cùng quy về, mười phương
cùng khen ngợi. Ngàn kinh cùng xiển dương, vạn luận đều
tuyên nói. Thật có thể gọi là lời bàn luận tột cùng trong
giáo pháp cả một đời [đức Phật], là đại giáo Nhất
Thừa vô thượng vậy! Chẳng gieo cội đức, dù trải bao kiếp
vẫn khó thể gặp gỡ. Đã được thấy nghe, hãy nên siêng
năng tu tập!
Bất
Huệ sanh nhằm đời Mạt, may mắn gặp được môn này, thẹn
không có sức tự lợi lợi tha, nhưng hơi có tâm tự lập,
lập người, muốn cho sang, hèn, trí, ngu, Tăng, tục, nam, nữ,
bỏ nẻo khách trở về nước mình, buông cõi uế sanh về
Liên Bang; do vậy, vẽ bức hình y báo chánh báo trang nghiêm
của cõi Cực Lạc để nêu bày cảnh tịnh, nhằm phát sanh
lòng tin tưởng. Cạnh bức vẽ ghi Niệm Phật Khởi Chỉ Nghi
(nghi thức niệm Phật) và pháp môn Thập Niệm để ai nấy
tùy phần tùy sức tu trì hằng ngày. Đầu đời Minh, ở Cẩn
Giang có một vị đại thiền sư tên là Diệu Hiệp triệt
ngộ Thiền Tông, thông hiểu sâu xa giáo lý, tự hành, dạy
người chuyên chú trọng Tịnh Tông. Tác phẩm Bảo Vương Tam
Muội Niệm Phật Trực Chỉ[3] của Ngài văn lẫn lý đều
hay, hay tuyệt xưa nay! Thiên sách luận về y báo, chánh báo
Cực Lạc của Ngài trình bày rõ diệu cảnh của Lạc Bang,
bao quát các kinh Tịnh Độ, cùng bức tranh Cực Lạc nói trên
chiếu rọi lẫn nhau không sót chút nào. Do vậy, bèn y theo
nguyên bản, chép lại ở dưới, ngõ hầu người thấy nghe
lễ tụng biết đạo trọng yếu để thoát khổ, biết cái
nhân thật sự để tu thành Phật. Tín nguyện tùy ý phát sanh,
chấp trì Phật hiệu không ngơi.
Từ
đây, cùng lìa cõi uế, cùng sanh về nước tịnh, cùng hầu
Di Đà nơi chín phẩm sen, cùng viên mãn Chủng Trí trong một
niệm. Lợi ích như vậy làm sao diễn tả được nổi? Ấy
là dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm (cái tâm để tu
nhân) cho nên nhân trùm biển quả, quả thấu nguồn nhân. In
thạch bản (lithography) một vạn tấm để kết tịnh duyên.
Lại mong thiện tín xoay vần lưu thông để hết thảy hữu
tình trong mười phương pháp giới cùng về lại quê nhà sẵn
có của chính mình, luôn trụ trong Tịch Quang Tịnh Độ vậy!
2.
Lời tựa in lại Phật Thuyết A Di Đà Kinh (viết thay)
Trộm nghĩ giáo pháp Tịnh Độ được khởi đầu bởi Di Đà
đạo sư, được diễn bày bởi Thích Ca Thế Tôn, mười phương
chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài tán dương, thánh hiền
hai cõi phát tâm Kim Cang lưu truyền. Nói tóm lại, giáo pháp
suốt cả một đời đức Phật, trăm ngàn pháp môn, không
pháp nào chẳng khiến cho con người dùng Văn Tự Bát Nhã để
khởi Quán Chiếu Bát Nhã. Do Quán Chiếu Bát Nhã bèn chứng
Thật Tướng Bát Nhã. Đã chứng Thật Tướng Bát Nhã thì
“tâm tịnh, cõi tịnh, tình không, cảnh không”, như một
vầng trăng in bóng khắp ngàn con sông, như vạn ống tiêu cùng
kêu bởi một trận gió. Quang minh, thọ mạng tột cùng chiều
ngang, thông thấu chiều dọc, cùng tồn tại lâu dài giống
như đức Di Đà Thế Tôn. Như vậy thì kinh nào chẳng phải
là kinh Tịnh Độ, hạnh nào chẳng phải là hạnh Tịnh Độ?
Ước
trên bề mặt, chỉ có ba kinh Tịnh Độ là chuyên giảng về
Tịnh Độ đến tột cùng. Nhưng mở bày rộng lớn nguyện
luân, minh thị sâu xa duyên khởi thì chỉ có kinh Vô Lượng
Thọ. Chuyên xiển dương pháp quán, dạy thêm về nhân vãng
sanh thì chỉ có Thập Lục Quán Kinh. Hai kinh nói trên pháp
môn rộng lớn, đế lý tinh vi, kẻ độn căn đời Mạt thật
khó được lợi ích. Tìm một bản kinh văn tự đơn giản,
nghĩa lý phong phú, chữ nghĩa gọn ghẽ, lý dồi dào, thích
hợp khắp ba căn, chín pháp giới cùng tuân phụng, hạ thủ
dễ, thành công cao, dùng sức ít mà được hiệu quả nhanh
chóng, dốc sức tu một hạnh mà viên thành vạn đức, khiến
cho cái tâm tu nhân nhanh chóng khế hợp quả giác thì chỉ
có Phật Thuyết A Di Đà Kinh mà thôi! Ấy là vì vừa nghe “y
báo, chánh báo trang nghiêm, thượng thiện nhân cùng nhóm hội”
thì lòng tin thật sự sẽ nẩy sanh, nguyện thiết tha sẽ phát,
ắt sẽ có cái thế cuồn cuộn như sông ngòi không sao ngăn
được. Từ đấy, khăng khắng gìn giữ, chấp trì vạn đức
hồng danh, niệm đâu chú tâm vào đó cho đến khi nhất tâm
bất loạn. Làm được như vậy thì trong đời này đã dự
vào dòng thánh, lâm chung theo Phật vãng sanh, khai tri kiến Phật,
cùng được thụ dụng như Phật. Do vậy, biết rằng: Một
pháp Trì Danh chứa đựng trọn vạn hạnh, toàn sự chính là
lý, toàn vọng chính là chân, nhân tột biển quả, quả thấu
nguồn nhân, thật có thể gọi là “đường tắt để trở
về nguồn, là môn trọng yếu để nhập đạo” vậy! Cổ
đức nói: “Học đạo nơi những môn khác như con kiến trèo
lên núi cao. Niệm Phật vãng sanh như buồm căng gió thuận
nước”, thật có lý!
Tôi
túc nghiệp sâu nặng, rất hâm mộ Tịnh tông, nhưng không
có sức tự lợi lợi tha, nhưng khá có tâm tự lập, lập
người, nên in lại kinh này để rộng lưu truyền khiến cho
người đọc đến ai nấy đều chấp trì danh hiệu, đều
cùng nhất tâm. Vượt khỏi trần thế, tu lên Cực Lạc, dùng
nguyện luân “nhiếp thủ chúng sanh” của ngài Pháp Tạng,
nương theo cảnh duyên Tịnh Độ tiến thẳng về Phật Quả,
ngõ hầu kinh “không ai hỏi, Phật tự nói này” chẳng trở
thành giảng xuông, có ai nghe được hạnh này đều thật sự
hành, bèn dập đầu nói kệ tụng để kính cẩn khuyên lơn
như sau:
Người thấy nghe, tùy hỷ,
Đều phát tâm Bồ Đề,
Hết một báo thân này,
Cùng sanh cõi Cực Lạc.
3.
Lời tựa khắc lại cuốn Di Đà Lược Giải Viên Trung Sao,
khuyên nên thọ trì
Một pháp Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chính là đạo trọng
yếu để phổ độ sanh của mười phương chư Phật, là diệu
môn để mau chứng Phật quả của chúng sanh trong chín giới.
Các kinh Đại Thừa đều dạy về pháp trọng yếu này; nhưng
ba kinh Tịnh Độ chuyên giảng pháp này đến cùng tột. Thế
gian thường quen thói chẳng suy xét, coi là pháp thiển cận,
cho rằng chẳng rộng sâu như biển Giáo, chẳng thẳng chóng
như Thiền Tông, thường xiển dương Tông, Giáo, đè nén Tịnh
Độ, chuộng tự lực, ghét Phật lực. Thấy việc nhân mà
nhường, thấy chuyện nghĩa chẳng làm, đến nỗi bi tâm triệt
để của Như Lai bị khuất lấp chẳng thông suốt được,
đường tắt thoát khổ của chúng sanh bị bế tắc chẳng
thông. Nay chẳng nề hà bị chê trách, nêu chứng cứ đại
lược mong sao người thấy nghe tùy hỷ cùng sanh về liên bang.
Lúc Như Lai mới thành Chánh Giác, vì bốn mươi mốt địa
vị Pháp Thân đại sĩ diễn giảng kinh Đại Hoa Nghiêm. Đến
phẩm Nhập Pháp Giới, Thiện Tài do tâm Thập Tín đã mãn,
vâng lời ngài Văn Thù dạy, tham học với khắp các tri thức.
Thoạt đầu gặp ngài Đức Vân, vừa được nghe pháp môn
Niệm Phật liền chứng Sơ Trụ. Từ đó hễ tham học liền
chứng, cho đến chỗ của vị tri thức thứ năm mươi ba là
ngài Phổ Hiền. Phổ Hiền dùng oai thần gia bị, ngay lập
tức, sở chứng của Thiện Tài bằng với Phổ Hiền, bằng
với chư Phật, ngài Phổ Hiền bèn giảng mười đại nguyện
vương khuyến khích Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng hồi
hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong Quán
kinh, hàng Ngũ Nghịch Thập Ác khi tướng địa ngục hiện,
niệm Phật mười tiếng liền được vãng sanh. Pháp Thân đại
sĩ đều nguyện vãng sanh, A Tỳ tội nhân còn dự vào phẩm
chót. Pháp môn rộng sâu, thẳng chóng, có pháp gì hơn được
nữa!
Thật
có thể gọi là kim chỉ nam trong biển Giáo, là Bắc Cực của
Thiền Tông. Hết thảy các pháp, không pháp nào chẳng lưu
xuất từ pháp giới này; hằng sa diệu nghĩa, không nghĩa nào
chẳng quy hoàn pháp giới này.
Vì
thế, bên Tây Thiên: Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, Mã Minh,
bên Đông Độ: Viễn Công (tổ Huệ Viễn), Trí Giả, Thiện
Đạo, Vĩnh Minh hoặc phát nguyện nói kinh (ngài Văn Thù có
kinh phát nguyện, ngài Phổ Hiền nói phẩm Hạnh Nguyện), hoặc
chú giải kinh, tạo luận, không vị nào chẳng dùng pháp môn
này để tự hành, dạy người, lợi khắp hàm thức. Cổ nhân
muốn cho cả cõi đời cùng tu nên đem kinh A Di Đà xếp vào
khóa tụng hằng ngày. Do kinh này lời lẽ ngắn gọn, nghĩa
lý phong phú, hành giản dị mà hiệu quả nhanh chóng, nên bậc
hoằng pháp đại sĩ chú sớ, tán dương, từ xưa đến nay
không biết bao nhiêu mà kể! Trong số ấy, tìm lấy bản thật
rộng lớn, thật tinh vi thì không gì bằng bộ Sớ Sao của
ngài Liên Trì. Còn bản thẳng chóng, quan trọng, hay khéo thì
không gì bằng bộ Yếu Giải của ngài Ngẫu Ích. U Khê pháp
sư[4] nắm giữ pháp ấn Bất Nhị của Thiên Thai Giáo Quán,
soạn bộ Lược Giải Viên Dung Trung Đạo Sao, lý cao sâu nhưng
hàng sơ cơ vẫn hiểu được, văn lưu loát, thông đạt, khiến
người tu lâu đều khâm phục. Hiềm vì lưu thông đã lâu,
bị sai ngoa quá nhiều. Do vậy, tôi giảo chánh, cho khắc ván
lại, ngõ hầu khôi phục diện mạo cũ. Kinh Di Đà có được
ba bộ sớ giải này thì không pháp gì chẳng hoàn bị, không
căn cơ nào chẳng thâu tóm. Tùy ý nghiên cứu một bản nào
cũng đều có thể biết chỗ chỉ quy. Đọc trọn cả ba bộ
sách ấy mới kham thấu hiểu triệt để điều sâu xa yếu
diệu. Từ đấy, phát trọn vẹn ba tâm, chấp trì thánh hiệu,
mong thoát khỏi đời ác ngũ trược, mong chứng được Tứ
Đức[5] sâu thẳm. Như vậy, đến lúc lâm chung, chắc chắn
được Phật Di Đà tiếp dẫn, thánh chúng đều tiếp nghênh,
gởi chất nơi thai sen, lìa đường hiểm, ở yên nơi bảo
sở[6]. Nghe pháp thọ ký, từ Đồng Cư bèn nhanh chóng chứng
Tịch Quang, xắn tay hành ngay, nào ai chẳng có phần. Giãi bày
tấm lòng ngu muội dám thưa cùng đồng nhân.
4.
Lời tựa giảo chánh khắc in lại sách Tùy Tự Ý Tam Muội
Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không.
Muốn tu tập nhưng chẳng nắm được chỗ trọng yếu, ắt
đến nỗi dõi nhìn biển rộng thở than, sanh ý tưởng lui
sụt. Nếu đạt được chỗ trọng yếu, dù có vô lượng
pháp môn, vô biên hành tướng, nhưng một khi đã nắm được
thì càng rộng càng thấy gọn, càng phức tạp càng thấy giản
dị. Tuy Lý tánh rộng lớn cao sâu như trời, như đất, như
núi, như biển, nhưng phàm phu sát đất vẫn có thể tiến
trên đạo này. Nhờ pháp này bèn đoạn Phiền Hoặc, chứng
tam-muội, trọn vẹn phước huệ để chứng Tứ Đức, tiến
thẳng đến Quả Giác, thành Vô Thượng Đạo, huống gì thánh
nhân đã đạt những địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Thập Địa ư! Chỗ trọng yếu ấy như thế nào?
Chính là “thật thể, thật tánh của hết thảy các pháp:
Căn, Trần, Thức v.v… đều là không, vô sở hữu”. Hiểu
rõ điều này thì bốn tướng vốn là không, tam luân thể
không[7]. Vạn pháp sâm la, nhất đạo thanh tịnh. Phàm phu do
mê nên pháp gì, chuyện gì cũng đều thành chướng ngại,
đối với Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới,
Thất Đại đều khởi phiền hoặc, tạo nghiệp sanh tử. Thánh
nhân do ngộ nên pháp gì, chuyện gì cũng là Chân Như. Đối
với Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất
Đại đều chứng viên thông, thành đạo Bồ Đề. Mê - ngộ
tuy khác, tánh vốn không hai; tánh tuy không hai nhưng khổ -
vui thật khác.
Nam
Nhạc đại sư[8] thương xót bèn soạn sách Tùy Tự Ý Tam Muội.
Trong sáu oai nghi đi - đứng - nằm - ngồi - ăn uống - nói
năng, chỗ nào cũng chỉ bày Thật Tướng các pháp. Có nghĩa
là: tánh của Căn - Trần - Thức là không, vô sở hữu và
tam luân thể không, tứ tướng[9] chẳng hề có được v.v…
khiến cho con người đối với một cơ, một cảnh đều tự
thấy được Thật Tướng, đều hiểu rõ tự tâm. Đâu đâu
cũng chỉ dạy diệu hạnh thù thắng sáu Ba La Mật, khiến
cho con người trong mỗi một động tịnh đều có thể thượng
cầu hạ hóa, tự lợi, lợi tha. Những chỉ dạy ấy và Ấm,
Nhập, Giới, Đại trong kinh Lăng Nghiêm đều là Như Lai Tạng
Diệu Chân Như Tánh, những chuyện như ngôn ngữ, cư xử trong
đời, nghề nghiệp mưu sinh… trong kinh Pháp Hoa đều thuận
theo chánh pháp, đều chẳng trái nghịch Thật Tướng, những
nghĩa lý “chẳng trụ vào đâu để sanh tâm, chẳng trụ vào
Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để hành bố thí, độ thoát
hết thảy chúng sanh, nhưng chẳng thấy kẻ độ, người được
độ” trong kinh Kim Cang thảy đều phù hợp khít khao! Đấy
chính là đem pháp chính mình đã ngộ đã chứng giãi bày triệt
để, phơi trọn hết ra, thí cho khắp hậu thế để mong ai
nương theo pháp này mà tu sẽ cùng ngộ cùng chứng đó thôi!
Hơn nữa, Sơ Phát Tâm Bồ Tát được nói trong sách này vốn
có hai nghĩa: Một là hàng phàm phu sát đất phát đại tâm;
hai là hạng Sơ Phát Tâm Trụ trong Viên Giáo, vừa phá vô minh,
thấy được Pháp Tánh. Pháp Tánh chính là tánh của Căn, Trần,
Thức là không, vô sở hữu v.v… như vừa mới nói. Nơi địa
vị phàm phu muốn hướng đến Phật quả thì trước hết
phải ngộ được lý này rồi mới hòng thật chứng. Nếu
không, dù có tu trì vẫn thuộc vào hữu lậu, chẳng thành
Bồ Đề. Như sách chép: “Trong một niệm, ở trước khắp
chư Phật mười phương cúng dường rộng khắp, nhận pháp
hóa của Phật; ở trước khắp chúng sanh trong mười phương,
tùy loại hiện thân, ứng cơ thuyết pháp, khiến cho khắp
ba căn đều được lợi ích” thì chuyện này chỉ có hàng
Bồ Tát Sơ Trụ trong Viên Giáo mới có thể làm được. Nếu
chẳng biết lý này và sự tu này thông với phàm phu, ắt sẽ
mắc lỗi “tuy đề cao thánh cảnh nhưng chính mình lại ở
trong địa vị phàm phu”. Nếu không biết hàng Sơ Trụ mới
đạt được đại thể đại dụng, ắt sẽ mắc tội khiên
“chưa đắc nói là đắc, đem phàm lạm thánh”. Hiểu rõ
điều này thì trên kính mộ chư thánh, dưới trọng tánh linh
của chính mình. Đã không bị lỗi “đành lòng yên phận
phàm ngu”, lại còn chẳng mắc tội lạm thánh, sẽ tiến
thẳng trên đường giác, mau đạt đến bảo sở như đưa
bằng khoán lấy lại vật cũ, nào có khó khăn gì! Do vậy,
[tác phẩm này được] lưu thông khắp trong nước, ngoài nước.
Tiếp theo là những nhân duyên được - mất đã được nói
đầy đủ trong phần Tự và Bạt của lần in đầu tiên, nên
ở đây không nhắc lại nữa.
Ông
Từ Úy Như là bậc thế gia ở Chiết Tây, cả mười đời
thờ Phật. Từ lúc thơ ấu đã được dạy dỗ chu đáo, lại
kiêm học Phật thừa. Gần đây, việc công rảnh rỗi, đọc
khắp các nội điển, tìm được bản sách này lưu truyền
ở Nhật Bản, lắng lòng nghiên cứu, thấy bị sai ngoa quá
nhiều. Do vậy, đem đối chiếu với Đại Tạng Nhật Bản,
sửa đúng được mấy mươi chỗ rồi cho khắc ván hòng lợi
lạc rộng khắp. Vì coi Lượng[10] tôi là người cùng chí
hướng, bèn gởi tặng mấy bản. Do vậy, tôi thắp hương,
cung kính đọc. Thấy văn lẫn nghĩa có nhiều chỗ chẳng ổn,
như mây che lấp trăng, chẳng thấy được chân tướng. Trộm
nghĩ: Sách này lưu truyền đến nay đã hơn một ngàn ba trăm
năm, sao không khỏi sai ngoa? Do vậy, bèn dựa theo văn, căn
cứ theo nghĩa, bỏ bớt việc để sửa chữa, thật giống
như mây tan, trăng hiện, quang minh lẫn thể chất cùng tỏ
bày, văn lẫn lý đều thông suốt, khiến tâm mắt người
ta đều vui thích. Đem bản này gởi cho ông Từ, được ông
thiết tha tán thành, chấp thuận, lập tức khắc in lại ngay.
Ông
lại bảo tôi viết lời tựa để thuật duyên khởi. Lượng
tôi tuy thô lậu, nhưng vì nghĩa chẳng thể từ tạ được.
Phải biết lần khắc in này, tuy sửa chữa nhiều, nhưng thật
ra không thay đổi gì. Chẳng qua chỉ là sửa cho đúng những
chỗ sao chép bị sai lạc, ngõ hòng khôi phục bản lai diện
mục cho trước tác của ngài Nam Nhạc mà thôi. Trong đời
có người bệnh, thầy thuốc chẩn mạch còn biết được
tạng phủ là hư hay thực, huống chi tác phẩm này văn nghĩa
hiển lộ, có thể lấy làm chỗ căn cứ được, há chẳng
thể biết được chỗ bị chép sót, sai lầm hay sao? Bậc đại
phương gia ắt chẳng cho là Lượng tôi sửa chữa không cẩn
thận mà quở trách sâu xa vậy!
5.
Lời tựa bản thạch ấn Phổ Đà Sơn Chí
Quán Thế Âm Bồ Tát từ vô lượng kiếp trước thành Phật
đạo đã lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh, nhưng do ý niệm độ
sanh khẩn thiết, tâm cứu khổ ân cần, chẳng lìa Tịch Quang,
hiện hình trong sáu nẻo. Trong các cõi Phật nhiều như vi trần
ở khắp mười phương, hiện đủ mọi sắc thân độ thoát
chúng sanh, chứ nào phải chỉ hiện thân Bồ Tát. Còn Nhị
Thừa, lục đạo, không đâu chẳng hiện thân. Kinh Pháp Hoa
nói: “Nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy
thuyết pháp”. Tuy vào khắp các cõi Phật mười phương, nhưng
Ngài có nhân duyên rất sâu với cõi Sa Bà. Tuy hiện thân khắp
mười pháp giới, nhưng căn cứ trên sự ứng tích, thế nhân
chỉ nói Ngài là Bồ Tát mà thôi. Do Ngài chứng triệt để
duy tâm, phô bày trọn vẹn tự tánh nên vận dụng lòng Bi
đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên. Do Bổn cao, Thể đại
nên Tích quảng, Dụng rộng[11]. Tùy loại, tùy hình, theo tiếng
cứu khổ. Thị hiện có cảm liền ứng, không nguyện nào
chẳng thuận theo, như mặt trăng vằng vặc giữa trời, hiện
bóng trong mọi nơi có nước. Không chỉ sông, hồ, rạch, biển
đều hiện bóng toàn vẹn, dù chỉ một chước[12], một giọt,
không đâu chẳng đều hiện bóng vẹn toàn.
Lại
nữa, bóng trăng hiện trong sông, hồ, rạch, biển, một người
nhìn vào thì mặt trăng ấy đối trước người đó; trăm
ngàn vạn người ở trăm ngàn vạn nơi nhìn vào thì mỗi một
người đều thấy trăng đối trước chính mình. Nếu người
ấy đi sang Đông, trăng cũng theo sang Đông; nếu đi sang Tây,
trăng cũng theo sang Tây. Nếu người ấy ngồi yên chẳng động,
trăng cũng chẳng lìa nơi ấy. Từ một người cho đến trăm
ngàn vạn người đều như vậy. Trong một niệm, nếu khắp
pháp giới cảm, Bồ Tát bèn ứng khắp pháp giới. Cảm ứng
đạo giao, không sai khác chút nào! Giống như mặt trăng hiện
bóng trong các chỗ có nước, người nào, nơi nào cũng đều
thấy trọn vẹn bóng trăng, trọn chẳng sai khác gì! Ấy là
do Bồ Tát tâm gồm trọn thái hư, lượng gồm thâu các cõi
nhiều như cát. Do lấy tâm chúng sanh làm tâm, do lấy cảnh
của chúng sanh làm cảnh, nên chẳng nghĩ tưởng mà hợp, vô
duyên bèn ứng. Há thế trí phàm tình hòng tính lường được
nổi ư?
Còn
nếu như nước đục, mắt lòa, thì trăng chẳng thể hiện,
phải đâu trăng không hiện, mà là do lỗi của nước đục,
mắt lòa ấy chứ! Xét cảm ứng trên mặt Tích, thì có hiển
cảm hiển ứng, minh cảm minh ứng (cảm ngầm, ứng ngầm),
minh cảm hiển ứng, hiển cảm minh ứng, vừa hiển vừa ngầm
cảm mà lại hiển ứng, vừa ngầm vừa hiển cảm mà lại
ngầm ứng… sai khác (“Hiển cảm hiển ứng” là ngay trong
đời này dốc lòng thành, cạn lòng kính lễ niệm cúng dường
thì sẽ được gia bị, gặp điều hung trở thành điều lành,
gặp nạn thành may, và nghiệp tiêu chướng tận, phước tăng,
huệ rạng v.v… “Minh cảm minh ứng” là trong đời quá khứ
từng tu những hạnh cạn lòng thành, tận lòng kính lễ niệm,
đời này tuy chưa tu tập, nhưng do túc nghiệp thiện căn, được
Ngài gia bị mà không hay không biết, họa diệt, phước đến,
nghiệp tiêu chướng tận v.v… “Minh cảm hiển ứng” là
đời trước từng gieo thiện căn, đời này được gia bị.
“Hiển cảm minh ứng” là đời này dốc lòng thành, kiệt
lòng kính lễ niệm, chẳng thấy được gia bị, âm thầm được
từ lực gia bị khiến hung lui, cát (tốt lành) đến, nghiệp
tiêu chướng tận v.v… “Vừa hiển vừa ngầm ứng mà được
hiển cảm” là đời trước đã từng gieo thiện căn, đời
này dốc cạn lòng thành lễ niệm, được gia bị rõ ràng,
chuyển họa thành phước v.v… “Vừa ngầm vừa hiển cảm
mà được ngầm ứng” là đời trước từng gieo thiện căn,
đời này dốc lòng thành lễ niệm, âm thầm được từ lực
gia hộ, đạt được các thứ lợi ích. Hiểu rõ điều này
sẽ biết công chẳng hư uổng, quả không lãng phí. Dẫu cho
trọn đời chẳng thấy dấu hiệu gì được gia bị, cũng
chẳng đến nỗi sanh tâm oán vọng, bỏ cuộc giữa đường.
Đạo cảm ứng vi diệu khó thể nghĩ suy, tạm ghi đại lược
để khơi gợi người sáng suốt trong mai sau).
Sự
ứng hiện ấy lớn - nhỏ, hơn - kém là do lòng thành đã đến
mức cùng cực hay chưa mà thôi! Dẫu cho tâm không thể tin
chắc, chưa chí thành đến cùng cực, nhưng nếu có thể nhất
niệm dốc lòng thành ắt cũng được lợi ích. Tùy theo một
niệm chí thành của mình mà chia ra hơn - kém tuy lợi ích chẳng
thể siêu tuyệt như người dốc cạn lòng thành, tận hết
lòng kính. Giống như trăng vẫn hiện bóng trong nước đục,
nhưng lờ mờ không rõ. Người mù tuy chẳng thể đích thân
thấy được ánh trăng, nhưng có khi nào chẳng được ánh
trăng chiếu đến? Bồ Tát đại từ đại bi, làm chỗ nương
tựa cho các chúng sanh trong khắp pháp giới. Do vậy, nhân dân
cả nước ai nấy đều tín phụng, vì thế mới thường nói
“nhà nhà Quán Thế Âm”.
Đạo
tràng ứng hóa của Ngài cố nhiên không phải chỉ một chỗ.
Như Nam Ngũ Đài Sơn, Đại Hương Sơn ở Thiểm Tây, Thiên
Trúc Sơn ở Chiết Giang v.v… là những nơi cảm ứng rõ ràng,
hương đèn nhộn nhịp, nhưng chỉ có Nam Hải Phổ Đà Sơn
thật là bậc nhất do tên chỗ này được ghi trong kinh Hoa
Nghiêm, năm xưa Thiện Tài đích thân tham học [tại đây].
Ân trọn khắp mọi loài, hoàng đế các đời sắc kiến, nên
được cả cõi đời sùng kính, các nước ngưỡng mộ. Tưởng
nghĩ Bồ Tát ứng hóa cho hàng căn cơ Đại Thừa trong tam thừa
thiên tiên, nên trải bao kiếp thường trụ nơi núi này, chứ
nào phải chỉ dài lâu như trời như đất. Nhưng về phía
thị hiện ứng tích cho phàm phu thì trong năm Trinh Minh thứ
hai (916) nhà Châu Lương[13] thời Ngũ Đại, Huệ Ngạc đại
sư thỉnh tượng Quán Âm bằng đồng từ núi Ngũ Đài muốn
đưa về Nhật Bản. Đi đến đây, thuyền bị ách lại không
đi được nữa, mới bèn khai sơn. Đến nay đã hơn một ngàn
năm, sự tích, thi văn được biên soạn thành tập với tựa
đề là Phổ Đà Sơn Chí. Tôi thường hay bệnh nên đối với
những sự - lý cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát
thật khó phát huy. Tính đọc khắp Đại Tạng, xem trọn các
sách, phàm những sự tích Bồ Tát tùy cơ ứng theo lòng cảm
đều ghi chép đầy đủ, khắc bản lưu thông, một là để
xiển dương đạo mầu độ sanh của Bồ Tát, hai là khải
phát duyên lành thoát khổ cho chúng sanh; nhưng do bệnh mắt
chưa lành, chưa thể như nguyện.
Cư
sĩ Hà Liêm Thần ở Cối Kê, thấu hiểu tâm tủy đạo Nho,
y thuật được xưng là quốc thủ[14], chí hạnh cao khiết,
tín tâm thuần chân, từng kêu gọi đồng nhân lập Tang Du
Xã[15], với ý nghĩa cảnh chiều tà không còn nhiều, nghĩ
cách quay về, đồng tu Tịnh nghiệp, cầu sanh An Dưỡng. Lại
do hết thảy chúng sanh đắm chìm trong biển khổ đã lâu,
chẳng nương vào pháp lực không cách nào vượt ra được,
tính đem những sự tích ứng hóa của Bồ Tát làm thuyền
cứu mạng, thả trong biển khổ, vung tay kêu gấp để dẫn
dắt những kẻ chìm đắm lên thuyền, ngõ hầu cùng lên được
bờ kia, về thẳng quê nhà, vĩnh viễn lìa khỏi các khổ,
chỉ hưởng những sự vui. Do vậy, bèn cho in thạch bản cuốn
Phổ Đà Sơn Chí để rộng lưu truyền hòng đền ân Đại
Sĩ độ sanh, tạo nẻo cho chúng sanh gieo lòng thành. Ông bảo
tôi viết lời tựa, khôn ngăn hoan hỷ, quên phứt mình kém
hèn, liền đem những chuyện cảm ứng mầu nhiệm của Bồ
Tát phát huy đại lược. Những sự tích khác, cố nhiên đã
chép trọn vẹn trong sách, cần gì phải dài dòng nữa!
6.
Lời tựa cho bức khánh đồ (tranh diễn tả chuyện vui mừng)
nhà ông Hà Lãng Tiên ở Thiệu Hưng
Xuân về trên cõi đất, trăm loài cây cỏ đều được sanh
thành, gió lùa trên không, vạn ống sáo đều cùng trỗi tiếng.
Trong đời chẳng có quả không nhân, cũng chẳng có cái nhân
không quả. Ví như trồng dưa được dưa, trồng đậu được
đậu, thanh hòa thì tiếng vang thuận, hình thẳng thì bóng
ngay! Đấy là những điều cả cõi đời đích thân thấy biết,
tin tưởng chắc thật không nghi! Hai chữ “nhân quả” bao
trùm khắp hết thảy các pháp thế gian xuất thế gian trọn
vẹn không còn sót. Thánh nhân thế gian không vị nào chẳng
dạy rõ nhân quả, nhưng do các ngài chuyên chú nơi việc đời,
muốn cho đạo ấy được tiếp nối, được truyền thừa,
nên chỉ hạn cuộc trong đời này và đời cha, đời con, chứ
không giảng rõ chuyện trước lúc sanh ra, chuyện sau khi đã
chết, và những chuyện từ vô thỉ trước, chuyện tận vị
lai sau. Những kẻ hậu học chẳng thể lãnh hội sâu xa ý
thánh nhân, bèn cho người và vật được sanh ra là do bẩm
thụ khí trời đất, ngẫu nhiên tụ hợp thành hình hài mà
thôi! Đến khi chết đi, hình đã mục nát thì hồn cũng phiêu
tán. Không nhân, không quả, thành Đoạn Diệt Kiến! Họ cô
phụ thánh giáo, mê mất tánh linh của chính mình quá mức!
Khổng Tử khen ngợi sách Châu Dịch[16], vừa mở đầu liền
nói: “Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa. Nhà tích điều
bất thiện ắt tai ương có thừa!” Cơ Tử soạn sách Hồng
Phạm[17], cuối sách bèn nêu rõ chuyện hưởng dụng ngũ phước,
oai dùng lục cực.
Hai là nếu chẳng luận đến tam thế quá khứ, hiện tại,
vị lai, thì sự ban tặng của trời đất, ngôn luận của
thánh nhân, chánh lệnh của minh quân, phần nhiều sẽ mâu
thuẫn nhau (như gian đảng được vinh hoa, phú quý, trung thần
bị tru lục, Nhan Uyên đoản mạng, Đạo Chích[18] trường
thọ v.v…) Nếu biết tiền nhân hậu quả thì cùng - thông,
được - mất đều do ta tự chuốc lấy. Dẫu gặp phải nghịch
cảnh, chẳng oán, chẳng hờn, chỉ thẹn đức mình chưa xứng,
chẳng thấy lỗi lầm của trời hay người, vui theo mạng trời,
không chuyện gì chẳng tự tại tiêu dao. Người ta chỉ thấy
ông Hà một nhà từ hiếu, cả bốn đời cùng ở chung một
nhà là vui, nhưng chẳng biết nguyên do là vì họ đã nhiều
đời vun bồi nên được như vậy.
Phải
biết thế giới Sa Bà thọ mạng ngắn ngủi, trăm năm là thượng
thọ, nhưng mấy ai đạt được. Nay ông Hà may mắn có mẹ
sống thọ đã tròn sáu mươi, nên mở tiệc hoa để mừng
thượng thọ. Bày ra đủ loại thi văn để giúp vui cho tiệc
chúc thọ. Có thể nói là dốc lòng thờ mẹ, lấy thân mình
làm gương. Lại phải biết cái “tột cùng tam thế chẳng
dời, chẳng biến, trải muôn đời chẳng giảm, chẳng tăng”
mới là thọ lượng chân thật sẵn có nơi tự tâm của lão
phu nhân. Bởi một niệm hiện tiền của chúng ta vốn tự
linh minh đỗng triệt, trạm tịch thường hằng[19], quả thật
chẳng hai chẳng khác gì với tam thế chư Phật. Nhưng do trái
nghịch giác, xuôi theo trần lao, mê tâm chấp cảnh nên đến
nỗi vốn chẳng dời, chẳng biến, chẳng tăng, chẳng giảm
lại thường bị dời, biến, tăng, giảm, trọn chẳng lúc
nào đạt được một niệm thường trụ bất động. Đức
Đại Giác Thế Tôn ta thương xót, thị hiện sanh trong thế
gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy thuận cơ nghi, rộng lưu ngôn
giáo, khiến cho khắp hết thảy chúng sanh trái nghịch trần
lao, hiệp theo tánh giác, khôi phục tâm tánh vốn có, diệt
được huyễn nghiệp vốn chẳng có, hiểu rõ chân tâm vốn
sẵn có. Vì vậy, kinh Hoa Nghiêm nói: “Lạ thay! Lạ thay! Hết
thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ đức tướng của
Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể
chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự
Nhiên Trí liền được hiện tiền”.
Phải
biết: Trí huệ - đức tướng và vọng tưởng - chấp trước
chỉ là một tâm, vốn không phải là hai vật. Mê thì toàn
thể trí huệ - đức tướng liền trở thành vọng tưởng,
chấp trước; ngộ thì toàn thể vọng tưởng, chấp trước
liền thành trí huệ, đức tướng. Ví như nước đông thành
băng, băng tan thành nước; cũng như say thấy nhà xoay, chứ
nhà thật sự không xoay. Mê thì cho là phương hướng thay đổi,
chứ phương hướng thật sự không đổi dời. Nói “vạn
cảnh vốn nhàn, chỉ có tâm tự ồn náo. Một tâm không sanh,
vạn pháp đều dứt”, chính là ý này. Lý này ngộ thì dễ,
nhưng chứng thật khó. Nếu chẳng phải túc căn chín muồi,
ai có thể tự chứng, tự đạt được! Vì thế, đức Thế
Tôn ta riêng ban phương tiện, lập ra pháp môn tín nguyện niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Bất luận thánh hay phàm, ngu hay
trí, cho đến những hàng thiên tiên, Tu La, những loài địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ cần chí thành phát nguyện
trì danh hiệu Phật, thánh thì nhanh chóng thành Phật đạo,
những loài khác đều đới nghiệp vãng sanh. Đã được vãng
sanh thì Hoặc chẳng mong đoạn mà tự đoạn, đức chẳng
mong chứng mà tự chứng. Ví như một mảnh tuyết rớt vào
lò lớn, chưa đến nơi đã tan; đã gặp được người có
đức thì ý niệm hèn tệ hoàn toàn tiêu.
Con
hiếu đối với cha mẹ thì trước hết phải chú trọng cái
gốc rồi mới lo đến cái ngọn, phụng dưỡng cái thân nhưng
phải hướng dẫn cái tâm. Nếu chỉ biết hầu hạ, phụng
dưỡng để cha mẹ được yên thân, lập thân hành đạo để
cha mẹ được vẻ vang, chẳng biết dùng đạo vô sanh thường
trụ, pháp Niệm Phật vãng sanh để khuyên dụ cha mẹ tu trì,
sao cho sống thì niệm Phật hiệu, chết sanh về cõi Phật,
từ tạ huyễn khổ sanh tử, hưởng chân lạc thường trụ,
hầu hạ Phật Di Đà, dự trong hải chúng, nghe viên âm[20],
Tam Hoặc[21] hết sạch, thấy diệu cảnh, tứ trí[22] viên
minh, chẳng rời An Dưỡng, vào khắp mười phương, thượng
cầu hạ hóa, rộng làm Phật sự, triệt chứng Phật tánh
vốn sẵn có nơi tâm, rộng làm thuyền từ độ người trong
biển khổ, thì có thể nói là “thấy sự nhỏ quên mất
chuyện lớn, được gần bỏ xa, chỉ là cái thấy hạn hẹp
của kẻ tầm thường, chẳng phải tầm mắt rộng lớn của
bậc thông đạt”.
Nếu
có thể làm cho mẹ cùng với mình và gia quyến cùng thoát
Sa Bà, cùng sanh về An Dưỡng, cùng chứng vô lượng quang thọ,
cùng hưởng pháp lạc tịch diệt, cùng làm pháp vương tử
của Phật Di Đà, cùng làm đại đạo sư cho trời - người,
thì mới là tận hết lòng từ hiếu, trọn tình nuôi dạy.
Từ hiếu, giáo dục như vừa nói đó chẳng phải là từ hiếu
giáo dục như thế gian thường nói. Đấy chính là chỗ khởi
đầu và kết thúc cùng cực của bức gia khánh đồ này. Nếu
chẳng cho lời tôi nói là sai, đợi đến khi cùng sanh về
Tịnh Độ xong, sẽ dùng Đại Viên Kính Trí thâu nhiếp lấy
hình ảnh trong Liên Trì Hải Hội tặng cho khắp những đồng
bào trong biển khổ, tôi cũng sẽ dốc cạn lòng ngu thành viết
tựa khen ngợi.
7.
Lời tựa quyên mộ làm chay cúng dường ngàn vị Tăng
(viết
thay cho hàng thiện nhân tại gia)
Rồng đất tuy chẳng thể làm mưa, nhưng cầu mưa ắt phải
tế rồng đất. Phàm Tăng tuy chẳng thể giáng phước, nhưng
cầu phước phải cúng phàm Tăng. Huống chi Quán Âm đại sĩ
hiện thân trong các cõi nước nhiều như bụi trần, theo tiếng
cứu khổ, ứng hóa lưu dấu tại Phổ Đà. Do vậy, bao triều
đại khâm kính, cả cõi đời tôn sùng. Tăng chúng trong núi
ấy và các vị từ mười phương đến đều là đệ tử của
Như Lai, là con cháu của Đại Sĩ. Nhằm hội dâng hương, gần
như có đến hai ngàn vị. Trong số ấy, thánh - phàm xen lẫn,
hạnh - vị khó thể phân biệt. Há chẳng nên nghĩ đến ân
Đại Sĩ, vun bồi nhân xuất thế, dùng tâm chí thành, bình
đẳng cúng dường ư? Nếu tâm chân thật, thiết tha thì không
những các bậc đại A La Hán trụ thế như ngài Tân Đầu
Lô Phả La Đọa tôn giả[23] chắc chắn đến nhận cúng dường,
ngay cả Đại Sĩ cũng rất có thể thị hiện thân phàm tăng
quang lâm pháp hội. Công đức lợi ích ấy sao diễn tả được
nổi? Ông X… muốn trong tháng Hai năm sau kiền thành tổ chức
đại Trai Tăng một ngàn vị Tăng ở Pháp Vũ Thiền Tự để
rộng kết duyên lành, nhưng sức của ông ta yếu kém, thật
sự muốn cho người khác làm lành. Do vậy, quyên mộ thiện
tín tùy tâm vui vẻ giúp đỡ, vào núi báu chớ trở về tay
không, đã tắm gội pháp ai nấy phải báo ân Phật.
8.
Lời tựa khắc in lại sách Hộ Pháp Lục của Tống Văn Hiến
Công đời Minh
Năm Kỷ Mùi, ông Tôn Ngọc Tiên ở Phụng Hóa khắc xong bộ
Tống Văn Hiến Công[24] Toàn Tập. Lại đem những trước tác
chuyên xiển dương Phật học, cũng như y theo bản Hộ Pháp
Lục đã được ngài Liên Trì và ông Mục Trai giảo đính
in riêng ngoài Toàn Tập. Có những phần không liên tục, cũng
khắc in riêng. Hai tập sách ấy, mỗi thứ đều gởi cho pháp
sư Đế Nhàn ở chùa Quán Tông một bộ, Quang đến chùa Quán
Tông trông thấy, hoan hỷ khôn cùng, cầu Ngài thỉnh cho mình
một bộ Hộ Pháp Lục. Trước kia, ông Tôn tính khắc riêng
bộ Hộ Pháp Lục, xin ngài Đế Nhàn viết tựa. Sư do hằng
ngày phải diễn giảng giáo nghĩa Thiên Thai cho học chúng nên
chẳng rảnh rỗi để viết. Do vậy, bởi Quang thỉnh sách,
ông Tôn bèn cầu ngài Đế Nhàn sai Quang gượng viết. Quang
tâm như bị nút chặt, kiến giải như nhìn vào vách, sao có
thể phát huy đạo của bậc thừa nguyện tái lai, hiện thân
tể quan văn chương lừng lẫy, dùng thân - khẩu - ý tam nghiệp
để chép Hoa Nghiêm Đại Kinh nhằm hoằng truyền tâm yếu
của Phật, Tổ? Nhưng đã được ủy thác, nào dám nại cớ
kém hèn để thoái thác! Do vậy, đại lược nêu lên những
điều quan trọng liên quan đến mối nghi ngờ bàn luận của
cả cõi đời mà thôi. Còn như văn chương của tác giả hùng
hồn, biện bác, viên dung, thẳng chóng, phát minh tâm tông của
Nho và Phật, vĩnh viễn là con mắt của trời - người, khác
nào mặt trời chói ngời giữa hư không, ai có mắt đều thấy,
thật chẳng cần đến Quang lấy sự hiểu biết hạn hẹp
bàn chen vào nữa!
Lời
tựa rằng: A Di Đà Phật chứng Bồ Đề đã lâu, an trụ Thường
Tịch Quang Tịnh Độ, thường hưởng pháp lạc tịch diệt,
nhưng vì chúng sanh vô tận, nguyện của ta vô tận nên chẳng
lìa Tịch Quang Tự Thọ Dụng Độ, vào khắp mười phương
vô tận thế giới hiện đủ mọi sắc thân độ thoát chúng
sanh, hoặc hiển hiện hay thầm kín, hoặc chiết phục, hoặc
nhiếp thọ, ắt sao cho rốt ráo lìa khỏi hai thứ sanh tử
mới thôi! Đó gọi là đối với những kẻ thiện căn chưa
gieo, chưa chín, chưa thoát liền làm cho họ gieo, chín, thoát,
nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy thuyết
pháp. Đạo lớn, sự rộng ấy dù dùng hết biển mực cũng
chẳng thể viết hết được; đành nhờ vào chuyện của Văn
Hiến Công để trình bày đại khái.
Cứ
dựa theo lời tựa khen ngợi của ông Văn Hiến đối với
việc ngài Thích Huyễn Diệt trích máu chép kinh Hoa Nghiêm,
cuối bài ông tự nêu túc nhân như sau: “Vô Tướng cư sĩ
(đạo hiệu của Văn Hiến Công) khi chưa ra khỏi thai mẹ,
mẹ nằm mộng thấy một ông Tăng lạ lùng, tay viết kinh này,
đến bảo với mẹ: ‘Ta chính là Vĩnh Minh Diên Thọ, ở nhờ
nhà này để viết cho xong quyển này’. Bà mẹ tỉnh giấc,
liền sanh ra cư sĩ. Nay gặp được nhân thù thắng này, chợt
nhớ lại chuyện cũ”. Trong các trước tác khác cũng tự
thuật sự này, nhưng những kẻ câu nệ, hư giả trong đời
thường hay nghi, nói: “Vĩnh Minh chính là hóa thân của Phật
Di Đà, hóa thân của Di Đà chưa liễu thoát sanh tử hay sao?
Đã vì chép kinh mà ở nhờ nơi nhà người, nhưng xét trong
văn tập, chưa hề nhắc nhở đến, chẳng phải là uổng thọ
thân này, chẳng thỏa được nguyện cũ hay sao?” Tôi nói:
Đây chính là dùng phàm tình để suy lường thánh trí, chẳng
những không biết Văn Hiến Công, mà còn là chưa hiểu ngài
Vĩnh Minh và Phật Di Đà nữa!
Muốn
phát huy đến cùng cực, thẹn chẳng có tài văn chương khéo
léo, nhưng lời lẽ cốt đạt được ý, nào ngại bàn thẳng
vào chuyện này. Phật Di Đà đã chứng cùng tột pháp giới,
đối với mọi chuyện trong pháp giới, không gì Ngài chẳng
tùy ý hóa hiện. Chánh báo là thân Phật, thân Bồ Tát, thân
Nhị Thừa, thân lục đạo, tùy loại hiện khắp để giáo
hóa. Y báo là lầu, đài, điện, gác, thức ăn, y phục. Chỉ
cần có lợi ích thì không gì chẳng hóa hiện. Ngài Di Sơn
nói: “Đời tật dịch hiện làm dược thảo, lúc đói kém
hóa làm thóc gạo”. Do trong cõi Thường Tịch Quang thân và
cõi nước chẳng hai, Lý và Trí như một; thân có thể hiện
cõi nước, cõi nước có thể hiện thân, thân lại hiện thân,
cõi lại hiện cõi. Kinh Di Đà nói: “Các con chim ấy đều
do A Di Đà Phật biến hóa ra”. Ngài Duy Ma Cật nói: “Do hết
thảy chúng sanh bệnh cho nên ta bệnh”. Phật Di Đà thân và
cõi hiện lẫn nhau, nào ngại gì hiện thân Vĩnh Minh rồi lại
hiện thân Văn Hiến!
Thêm
nữa, ngài Vĩnh Minh hiện thân Văn Hiến chính là nương vào
bi nguyện thị hiện hóa sanh, há có nên nói ngài Vĩnh Minh
chưa liễu thoát sanh tử, vẫn phải theo nghiệp lực thọ sanh
ư? Do chúng sanh bệnh nên Bồ Tát cũng bệnh. Muốn độ thoát
chúng sanh nhưng không thuận theo cơ nghi, thị hiện sanh trong
thế gian hòa quang đồng sự để hành giáo hóa, thì vì phàm
- thánh khác nẻo, không cách gì thí giáo được! Những loài
chim nhiều màu kỳ diệu như hạc, chim công v.v… Phật còn
chịu biến hóa ra, huống gì hiện thân làm vua trong chốn văn
chương, phong nhã, tài hoa, làm bậc thuần Nho chế lễ, soạn
nhạc, phù tá thánh chúa mà lại có trở ngại gì ư?
Ngài
Vĩnh Minh là Phật Di Đà hóa hiện, Văn Hiến Công do ngài Vĩnh
Minh hóa hiện, chính là chứng theo chiều dọc thân lại hiện
thân. Những kinh như kinh Vô Lượng Thọ… nói “trong quang
minh hóa Phật và các Bồ Tát vô lượng vô biên” chính là
gồm thâu trọn khắp hai nghĩa dọc và ngang, vì Phật quang
trọn khắp chiều ngang, cùng tột chiều dọc, không lúc nào,
không nơi đâu chẳng trọn khắp. Ngài Vĩnh Minh ở nhờ nhà
họ Tống để chép kinh Hoa Nghiêm chính là dùng thân để chép,
dùng nghĩa để chép; chớ nên câu nệ vào văn tự ngôn ngữ
để luận! Phàm những chuyện cả đời Văn Hiến Công đã
làm và những gì ông ta trước thuật đều nhằm chép kinh
Hoa Nghiêm. Đức hạnh cùng tột, hạnh hay đẹp của ông đã
được chép trong Minh Sử nhưng vẫn chỉ là chép đại lược
một hai điều, còn bị thiếu sót nhiều lắm; văn ông được
truyền tụng trong đời chỉ có bộ Toàn Tập và tập sách
này mà thôi! Đọc đến ắt có thể hình dung được đạo
đức, tu dưỡng của ông. Bộ Toàn Tập tuy chẳng chuyên nói
về Phật pháp, nhưng văn tự thế gian chưa hề chẳng bao gồm
tông yếu Phật pháp.
Như
trẻ nhỏ bị bệnh chẳng chịu uống thuốc, bèn bôi thuốc
lên vú, thì nó không uống cũng thành uống, bệnh liền lành
mạnh. Những kẻ không biết Phật pháp, đọc bộ Toàn Tập
của Văn Hiến Công, liền khâm phục văn chương lưu loát,
rộng lớn của ông, lại khâm phục lý cao sâu, sao không đoạn
nghi sanh tín, càng vào càng sâu, hiểu rõ tâm pháp của Nho
và Phật, mong thoát khỏi lồng rọ sanh tử ư? Huống chi Phật
pháp được phát huy trong sách ấy nhiều hơn một trăm bảy
mươi thiên. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hoặc riêng dùng chú ngữ
để nói Tứ Đế, hoặc khéo dùng mật ngữ để nói Tứ Đế,
hoặc dùng ngay lời lẽ của con người để nói Tứ Đế,
hoặc là dùng mật ngữ của chư Thiên để nói Tứ Đế”,
chính là bằng chứng vậy!
Nếu bảo: “Kinh Lăng Nghiêm cấm chẳng tiết lộ mật nhân
(nhân thầm kín) của Phật, ông Văn Hiến lại tự nói mình
là hậu thân của Vĩnh Minh, không phải là trái nghịch lời
răn dạy thanh tịnh của Phật, bày đầu cho bọn cuồng vọng
đời sau, tạo thành đầu mối đem phàm lạm thánh ư?” Tôi
nói: Đối với bậc xuất cách, chẳng thể dùng cách thức
thông thường để phán định! Ông chẳng thấy Phó Đại Sĩ
tự xưng là Di Lặc hiện thân ư? Đã chẳng coi chuyện đó
là trái nghịch, sao lại chỉ coi chuyện này là trái nghịch?
Hơn nữa, cuồng vọng lạm thánh sẽ tự chuốc nhục, như
khắc phân người thành hình chiên-đàn, há có thể lẫn lộn
cùng chiên-đàn được ư?
Nếu
nói: “Như Lai trí đoạn rốt ráo, công đức, trí huệ, thần
thông đạo lực chẳng thể nghĩ bàn; Vĩnh Minh tuy cao, còn
cách Phật xa lắm, huống gì là Văn Hiến?” Tôi nói: Chắc
ông cũng biết chuyện hoàng đế vi hành chớ? Người trí biết
là hoàng đế, kẻ ngu coi là bình dân, còn có khi nghi là gián
điệp, là đạo tặc nữa kia! Sao lại riêng nghi chuyện trong
bí mật, bề ngoài hiện này nọ của Như Lai? Phải biết:
Đây chính là phương tiện khéo léo lập cách giáo hóa của
Như Lai, ngầm nêu “chúng sanh chính là Phật, Quyền chính
là Thật, sanh diệt chính là tịch diệt, Đồng Cư chính là
Tịch Quang”, những ngôn ngữ, xử thế, nghề nghiệp mưu
sinh v.v… đều thuận theo chánh pháp, đều chẳng trái nghịch
ý chỉ Thật Tướng nhỏ nhiệm. Bậc thượng căn thoạt nhìn
bèn hiểu, hàng trung - hạ phải do giải thích mới có thể
hiểu rõ được.
Do
đại từ bi bèn dùng chuyện từ Tích hiển Bổn này để người
hiểu biết nông cạn có thể biết được trọn vẹn chuyện
hiện khắp các sắc thân chẳng thể nghĩ bàn của bậc Pháp
Thân đại sĩ. Như chuyện trong cõi âm, dương gian chẳng biết;
nhưng Thượng Đế cực lực mong muốn người đời cải ác
tu thiện nên cũng thường đem người dương gian vào cõi âm,
chỉ bày ngục trong cõi âm cho dương thế. Phương tiện quyền
xảo dạy người của Thượng Đế tình kiến phàm phu còn
chưa thể suy lường được, huống chi Bồ Tát thần biến
vô phương? Do vậy, tôi nêu ra ngõ hầu ai nấy tuân hành, cùng
thoát Sa Bà, cùng sanh Tịnh Độ, hòng thỏa tâm Phật Di Đà
đại từ bi bao lượt hiện thân, mà cũng chẳng cô phụ ngài
Văn Hiến chép kinh, một phen ông Tôn dốc lòng khắc bản.
Phàm con ngựa nào mong được như ngựa Ký thì cũng là hạng
ngựa Ký, người mong được như Nhan Uyên thì cũng là hạng
như Nhan Uyên. Tôi chưa từng biết mặt ông Tôn. Nếu không
phải đời trước ông ta từng được Phật phó chúc, thì
cũng phải là đã gội ân sâu của họ Tống, cho nên mới
thừa nguyện tái lai, cực lực lưu thông, khiến cho hữu tình
hiện tại, vị lai cùng được đượm nhuần pháp lợi không
sót. Tốt đẹp thay! Cao quý thay!
9.
Lời đề từ và tựa bản in lại Long Thư Tịnh Độ Văn
(viết
thay cho ông Vương Hoằng Nguyện)
Tâm tánh chúng sanh bằng với chư Phật, do mê trái nên luân
hồi chẳng ngơi. Như Lai từ mẫn, tùy cơ thuyết pháp, khiến
cho khắp hàm thức đều theo đường về nhà. Hiềm rằng căn
tánh muôn thứ chẳng giống nhau, nếu không phải người lỗi
lạc sẽ khó thể thoát khỏi! Nhân đấy, bèn đặc biệt mở
ra một môn Tịnh Độ để nhiếp khắp hết thảy: Thượng
trung hạ căn, Ngũ Nghịch, Thập Ác tướng địa ngục hiện,
nhất niệm dốc lòng thành, liền lên được bờ kia. Đẳng
Giác Bồ Tát đức bằng với Phật, còn phải vãng sanh mới
chứng được Bồ Đề. Phàm phu sát đất, đầy đủ phiền
não, chẳng chịu niệm Phật, làm sao tốt lành cho được?
Nhắn với người đời, cùng sanh tín nguyện, chấp trì Phật
hiệu, từ đầu đến cuối không thay đổi, đến lúc lâm
chung được Phật tiếp dẫn, mau ra khỏi Ngũ Trược, lên thẳng
chín phẩm, thấy Phật nghe pháp, tự chứng Vô Sanh, nương
đại nguyện luân phổ độ hữu tình.
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn do Như Lai tâm bi triệt để
phổ độ chúng sanh, khiến cho những kẻ không có sức đoạn
Hoặc, hàng phàm phu sát đất tín nguyện trì danh liễu thoát
ngay trong đời này, cùng làm bầu bạn với Quán Âm, Thế Chí.
Trên đến Đẳng Giác Bồ Tát địa vị gần với Phật Quả,
còn cần phải vãng sanh, mới thành Chánh Giác. Chí viên, chí
đốn, thông trên thấu dưới, vượt trội các pháp môn đã
được nói trong một đời giáo hóa tại một phương. Vì thế,
khi đức Phật giảng kinh Di Đà, sáu phương chư Phật hiện
tướng lưỡi rộng dài cùng một giọng khen ngợi, xưng là
kinh Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật
Hộ Niệm. Lại khen đức Thích Ca Thế Tôn ta có thể làm được
chuyện hy hữu rất khó, đức Thế Tôn ta tự nêu túc nhân
rằng: Ta ở trong đời ác Ngũ Trược, làm chuyện khó khăn
này, chứng được Bồ Đề, vì hết thảy thế gian nói pháp
khó tin này, thật là rất khó, khiến cho người nghe tin nhận
phụng hành, diễn bày rốt ráo bổn hoài xuất thế vậy.
Nhưng
pháp môn này rất sâu khó lường, dẫu được Bổn Sư và
chư Phật cùng khuyên tin tưởng, thế nhưng kẻ nghi trong đời
vẫn còn rất nhiều! Chẳng những thế trí phàm tình không
tin, ngay cả những hàng tri thức thâm hiểu sâu xa Tông, Giáo
vẫn còn nghi hoặc. Không những bậc tri thức không tin mà
ngay cả Thanh Văn, Duyên Giác đã chứng Chân Đế, nghiệp tận
tình không cũng vẫn còn nghi hoặc! Chẳng những hàng Tiểu
Thánh không tin, ngay đến bậc Quyền Vị Bồ Tát hãy còn nghi
ngờ! Cho đến ngay cả bậc Pháp Thân đại sĩ tuy có thể
tin chắc, nhưng vẫn chưa thể thấu nguồn tột đáy. Ấy là
vì pháp môn này lấy Quả Giác làm cái tâm để tu nhân, toàn
thể là cảnh giới Phật. Chỉ có Phật với Phật mới có
thể rốt ráo thấu hiểu cùng tột, trí của những hạng người
kia dễ hòng biết được nổi! Bọn phàm phu chúng ta ngửa
tin lời Phật, y giáo phụng hành, tự được lợi ích chân
thật. Nếu được nghe pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này chính
là nhiều kiếp đã trồng sâu thiện căn, huống chi còn tin
nhận phụng hành nữa ư?
Truy
nguyên, từ khi đại giáo truyền sang Đông, Viễn Công sáng
lập Liên Xã. Từ đấy trở đi, bậc cao nhân trong Tông, trong
Giáo, không ai chẳng hoằng dương, khen ngợi, như Trí Giả,
Từ Ân, Thanh Lương, Vĩnh Minh v.v… vì pháp này là môn trọng
yếu nhất để nhập đạo cho người sơ cơ, là bước cuối
cùng để thành Phật trong kinh Hoa Nghiêm. Do vậy, hạng phàm
phu đầy dẫy phiền não nương theo Phật lực để liễu sanh
tử, không thể dùng toán số thí dụ để biết được nổi!
Nhằm vào thời Nam Tống, bậc tiên đức trong tông ta có cư
sĩ Long Thư, tên là [Vương] Nhật Hưu, tự là Hư Trung, thừa
nguyện tái lai, dùng thân thuyết pháp: Tuy sống trong trần
tục, nhưng chẳng lập gia đình, tuy đậu quốc học nhưng
chẳng làm quan, phát huy tâm tông Nho - Phật, dạy dỗ hàng
đệ tử có đủ lòng tin. Lại muốn cho đồng nhân đều cùng
sanh Tịnh Độ, nên soạn sách này để hướng dẫn rộng khắp.
Lời lẽ đơn giản nhưng mẫu mực, lý lẽ sâu xa nhưng rõ
rệt, thuận theo căn cơ kém cỏi, khéo léo dẫn dụ dần dần,
dốc lòng đau đáu chiều theo tâm họ, không gì chẳng thấu.
Sợ họ ngại khó chẳng vào, nên dùng cách Thập Niệm buổi
sáng để làm phương tiện tối thắng nhiếp trọn các căn
cơ; đợi đến khi vào sâu dần dần, như được thức ăn
ngon lành, đã biết mùi vị, liền đối với những pháp nhật
dụng sẽ tự khăng khắng vâng giữ, chỉ nghĩ đến Phật,
nào phải chỉ hạn cuộc trong [thời gian niệm Phật chừng
bằng] một bữa trà; lấy đó làm nề nếp nhất định! Nếu
có thể đầy đủ tín nguyện, cả đời kiên trì Thập Niệm,
ắt quyết định vãng sanh. Huống chi lại gia công dụng hạnh!
Chẳng
phải chỉ có thế, dù cho hoàn toàn không có tín nguyện, không
tu trì, nhưng biết đến thánh hiệu Di Đà thì cũng là thiện
căn chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao vậy? Là vì do biết [ Phật
hiệu] nên hễ gặp cảnh đụng duyên, sẽ có thể đề khởi.
Như Trần Xí bị oán quỷ [là những kẻ từng bị] chính ông
ta giết chết, kéo đến bức bách; nhờ niệm Phật, quỷ bèn
chẳng hiện nữa. Do vậy, cả đời niệm Phật. Lâm chung vãng
sanh lại còn có thể quay trở lại tự thuật tiền nhân, đích
thân hiện diệu tướng sanh Tây của chính bản thân. Nếu
trước kia, chưa từng được nghe biết [danh hiệu Phật] ắt
sẽ bị quỷ đoạt mạng, mãi mãi luân hồi. Do vậy, ba phước
trong Quán Kinh thì phước đầu tiên là những điều thiện
thế gian, đều có thể dùng để hồi hướng, và trong chín
phẩm thì phẩm cuối cùng chính là những kẻ tướng địa
ngục đã hiện còn được vãng sanh. Còn những ai nhất tâm
bất loạn, diệu quán viên thành, chứng tam-muội mà vãng sanh
thì không cần phải bàn đến nữa! Do vậy, biết pháp môn
Tịnh Độ nhiếp khắp mọi căn cơ hoàn toàn chẳng bỏ sót
ai, tốt lành thay, cao quý thay, lớn lao thay!
Sách
ấy lấy lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, trì danh hiệu
Phật, ngay trong đời này quyết định được vãng sanh làm
Tông. Đọc kỹ sẽ đoạn nghi sanh tín, khuyên khắp mọi người
tu trì. Riêng nêu những sự tích vãng sanh để khuyên lơn,
cũng như những việc cả một đời Vương cư sĩ đã làm,
cuối sách chỉ rõ: Thượng trung hạ căn không căn nào chẳng
được thâu tóm. Ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh không pháp nào
chẳng phô bày rõ ràng. Do vậy, bèn khắc in phổ biến rộng
khắp để hòng đáp tạ chừng bằng một giọt nước biển
trong trần sát[25] “công Phật Thích Ca thuyết pháp, chư Phật
chứng minh, liệt tổ truyền đăng, tâm đại từ bi soạn sách
của Vương cư sĩ” mà thôi!
10.
Tựa chung cho các sách Phật Học Chỉ Nam, Phật Học Khởi
Tín Biên và Lục Đạo Luân Hồi Lục
Nhất niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh thật sự không
hai không khác với tam thế chư Phật, nhưng do chưa ngộ nên
chẳng thể thọ dụng. Vì thế phẩm Như Lai Xuất Hiện trong
kinh Hoa Nghiêm có câu: “Hết thảy chúng sanh đều có trí
huệ của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước, nên
chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết
Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí sẽ được hiện tiền”.
Nên biết: Trí huệ và vọng tưởng chấp trước vốn chẳng
phải là hai vật! Mê thì toàn thể trí huệ biến thành vọng
tưởng, chấp trước. Ngộ thì toàn thể vọng tưởng, chấp
trước biến thành trí huệ. Ví như nắm bàn tay lại hay xòe
bàn tay ra, vốn chỉ là một bàn tay. Kết thành băng hay tan
thành nước vốn chỉ là một thứ nước. Ấy là do Tâm Thể
bất biến, Dụng thường tùy duyên, nhưng Thể thường bất
biến. Tại phàm chẳng giảm, nơi thánh không tăng, ở trong
trần không nhiễm, lìa cấu chẳng tịnh, ở trong sanh tử chẳng
bị luân hồi, chứng Niết Bàn nhưng chẳng thuộc Tịch Diệt.
Không có hình tướng nhưng làm chủ của muôn hình tướng,
không có pháp nào nhưng là tông của muôn pháp.
Từ
trước đến nay, thường tự như như, trọn chẳng có phàm
- thánh, chúng sanh - Phật sai khác! Ngộ thì gọi là Hiền,
chứng thì gọi là Thánh. Nếu chỉ sẵn có nhưng chưa ngộ,
tuy có Tánh Đức, trọn chẳng có Tu Đức thì chỉ là phàm
phu luân hồi trong lục đạo mà thôi! Do Dụng tùy duyên nên
có tứ thánh lục phàm[26], khổ - vui thăng trầm sai khác. Nhưng
duyên có nhiễm - tịnh, ắt theo một trong hai thứ đó. Theo
nhiễm duyên thì khởi Hoặc, tạo nghiệp, luân hồi sáu nẻo.
Theo tịnh duyên thì đoạn Hoặc chứng Chân, thường trụ Niết
Bàn. Do Hoặc nghiệp có nặng - nhẹ nên có đường lành trời
- người và đường A Tu La thiện - ác xen tạp, cũng như ba
đường ác: súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Do Hoặc khởi
Hoặc, do nghiệp tạo nghiệp, hoặc thiện hay ác, trọn không
có tướng nhất định cho nên chỗ thọ sanh lần lượt đổi
dời như bánh xe [xoay tròn] không có khởi đầu, thoạt lên
thoắt xuống. Đã có đủ Phiền Hoặc thì đều bị nghiệp
ràng buộc, theo nghiệp thọ sanh, chẳng thể tự chủ.
Do
đoạn chứng có nông - sâu, nên người đoạn Kiến Tư thì
chứng quả Thanh Văn. Người dứt được tập khí thì chứng
quả Duyên Giác. Người phá vô minh chứng quả Bồ Tát. Nếu
phá sạch hết vô minh, phước huệ viên mãn, công tu đức
đến cùng cực, tánh đức phơi bày trọn vẹn, thì chứng
Phật Quả. Chứng Phật Quả chẳng qua cũng chỉ là chứng
triệt để rốt ráo công đức lực dụng sẵn có nơi tâm
tánh trong địa vị phàm phu, nay tự thọ dụng được toàn
thể mà thôi, chứ chẳng hề thêm mảy may gì vào cái sẵn
có ban đầu cả! Như Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát tuy sở
chứng cao - thấp bất đồng, nhưng đều chưa thể thọ dụng
hoàn toàn công đức sẵn có nơi tánh.
Ngược
lại, hết thảy phàm phu dùng sức tâm tánh chẳng thể nghĩ
bàn này để khởi tham - sân - si nơi sáu trần cảnh, tạo
giết - trộm - dâm, đến nỗi đọa trong ba ác đạo, vĩnh
viễn luân hồi. Toàn là như vậy, chẳng đáng buồn ư? Dù
cho tận lực tu Ngũ Giới, Thập Thiện, được làm thân trời
- người, nhưng phước lạc trong nhân gian chính là căn bản
của đọa lạc. Phiền Hoặc trong cõi trời tuy chẳng mãnh
liệt sắc bén như trong nhân gian, nhưng một khi phước trời
vừa hết, chắc chắn phải sanh xuống cõi thấp hơn. Do túc
phước chưa hết, nên được hưởng phước. Do hưởng phước
bèn tạo nghiệp. Đã tạo nghiệp rồi, phải đọa ác đạo
đúng là trong nháy mắt! Huống chi có người do mạng trời
đã hết, bèn vì sức của ác nghiệp đời trước đã chín
muồi, đọa thẳng vào ác đạo! Do vậy, cổ đức nói người
tu hành nếu không chánh niệm tu trì Tịnh nghiệp, chỉ được
phước báo nhân thiên, gọi là “mối oán đời thứ ba”.
Kinh
Pháp Hoa dạy: “Tam giới không yên như nhà lửa cháy, các
khổ đầy dẫy, thật là đáng sợ!” Người biết tốt -
xấu ắt sẽ coi chuyện gấp cầu thoát lìa, hòng được an
ổn là kế sách bậc thượng. Đại trượng phu sanh trong thế
gian, đã biết một niệm tâm tánh của chính mình không khác
gì chư Phật, lại biết nhân quả tu chứng trong mười pháp
giới chẳng ra ngoài tự tâm. Cho nên, sẽ phát đại Bồ Đề
[tâm], tận lực tu Định Huệ, mong đoạn Hoặc chứng Chân,
thành ngay Phật đạo, khiến cho chúng sanh trong khắp pháp giới
cùng ra khỏi đường mê, cùng lên bờ giác, rốt ráo tự chứng
được tâm tánh vốn sẵn có mới thôi. Nếu là kẻ căn cơ
kém cỏi, chưa thể làm được như thế, thì phải dùng lòng
tín nguyện sâu dốc sức tu Tịnh nghiệp, nương vào Phật
từ lực vãng sanh Tây Phương. Để đến khi chứng Vô Sanh
Nhẫn, lại nương theo nguyện trở lại độ thoát chúng sanh.
Nhưng trước lúc vãng sanh phải phát Bồ Đề tâm, tự hành,
dạy người, dẫu chẳng thể hiện tướng lưỡi rộng dài,
vang rền Hải Triều Âm thì cũng nên đối với kinh luận của
Phật, Tổ, di thư của bậc tiên hiền, tìm lấy bộ nào khế
lý khế cơ, dễ dàng lãnh hội được, biên tập thành sách
để lại cho tương lai. Phàm là nhân quả ba đời, lục đạo
luân hồi và công đức Tam Bảo, lợi ích của Phật pháp,
và “đạo độ khắp ba căn, pháp phàm thánh cùng tu”, bèn
phân môn chia loại, trình bày phân tích rạch ròi, khiến cho
người đọc xem đến, tự nhiên tự biết chỗ lấy - bỏ.
Từ đó, đoạn nghi sanh tín, quy tâm đại giác, hoặc là liễu
sanh tử ngay trong đời này, hoặc trở thành nhân duyên đắc
độ trong vị lai.
Nếu
không có được tai mắt ấy, chớ nên mạo muội theo đuổi,
hãy nên in khắc lưu truyền các sách khế lý khế đạo của
cổ nhân, ngõ hầu những sách ấy được lần lượt truyền
bá, xiển dương, vĩnh viễn dùng làm thuyền từ, quả thật
không còn công đức nào lớn hơn. Những điều vừa nói trên
đây tuy chí nhằm lợi người, nhưng công giáo hóa thật sự
quy về chính ta. Do vậy, trong đời hiện tại phước huệ
tăng cao, lâm chung lên thẳng Thượng Phẩm. Há chẳng phải
là bậc trượng phu đường đường, oai nghi tốt lành rạng
rỡ hay sao? Nếu không biết nghĩa này, chỉ căn cứ theo Thế
Đế tu dưỡng, dẫu cho đời này nắm thật vững đạo “ý
thành tâm chánh”, chỉ e một khi chuyển sang đời khác, lại
bị mê hoặc, bị nghiệp buộc ràng, theo nghiệp thọ báo.
Như lá cuốn theo gió đùa chẳng thể tự chủ, hoặc rơi trên
nệm, hoặc rớt vào nhà xí. Nghĩ rồi chẳng thấy thật đáng
sợ lắm ư?
Cư
sĩ Đinh Phước Bảo chuyên tinh học Y kể đã mấy năm. Kế
đó, nghĩ bệnh sanh từ thân, thân do nghiệp sanh, nghiệp do
tâm sanh. Nếu chỉ trị thân, quả thật chẳng phải là đạo
nhổ rễ lấp nguồn rốt ráo vậy. Do vậy bèn nghiên cứu
Phật học, tiên chú[27] các kinh, muốn cho hàng sơ cơ dễ lãnh
hội, nên dùng phương cách huấn hỗ[28] của Hán Nho sao cho
dù văn hay nghĩa đều thông suốt. Ấy là vì kinh Phật sâu
xa, uyên áo, ý nghĩa vô cùng, chú sớ của cổ đức đa phần
chú trọng nêu lên cương lãnh, xiển dương chỗ nhiệm mầu,
không giải thích tường tận từng câu từng chữ, khiến cho
hàng sơ cơ thật khó thể lãnh hội! Nếu dùng phương pháp
huấn hỗ để nhập môn thì sẽ tự có thể đăng đường
nhập thất, sau đấy mới nghiên cứu chú sớ của cổ đức
ắt sẽ như mặt trời chói lọi giữa không trung, không điều
gì nhỏ nhặt chẳng chiếu thấu, bất tất phải chấp [những
gì được giải thích sơ khởi] ở đây là rốt ráo vậy.
Lại
do Nho gia trong đời quen chấp vào sự thấy nghe, không tin con
người chết đi thần minh bất diệt, không tin những chuyện
nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo. Người bậc thượng
chỉ có thể làm kẻ tự lo giải thoát cho chính mình, hoàn
toàn chẳng thể thay đổi phong tục, giác thế dạy dân[29].
Kẻ bậc hạ bèn cho rằng “đã không có nhân quả, chết
đi bèn vĩnh viễn diệt mất”, sao không muốn gì bèn làm
đấy để cả một đời này được khoái lạc ư? Từ đó,
phóng túng không kiêng dè, yên tâm làm ác, đến nỗi thế
đạo nhân tâm ngày càng đi xuống. Do vậy, ông Đinh đem tất
cả sự tích rõ ràng về nhân quả báo ứng trong kinh luận
của Phật, Tổ và các di thư của những bậc hiền nhân Tăng
-Tục xưa nay chép thành ba bộ:
1)
Thứ nhất là Lục Đạo Luân Hồi Lục, nhằm chỉ rõ chuyện
thăng trầm trong lục đạo về mặt Lý lẫn mặt Sự, những
cảnh tượng trong chốn u minh, trạng huống của quỷ thần.
Đồng thời chỉ rõ muốn thoát khỏi nỗi khổ trong đường
tăm tối, mà bỏ đại pháp của Như Lai thì hoàn toàn chẳng
thể nương cậy vào đâu được. Quả là bộ sách cải ác
tu thiện, xả mê quy ngộ, kính cẩn sùng mộ Phật pháp, là
bước ban đầu khiến cho người ta hâm mộ chân thừa.
2)
Bộ kế tiếp tên là Phật Học Khởi Tín Biên. Bộ kế đó
là Phật Học Chỉ Nam. Ý chỉ của hai cuốn sách này gần
giống nhau. Trước hết, nói về nhân quả báo ứng, hAIhAI
CUOtiếp đến nói về công đức Phật pháp; nhưng chỗ khác
nhau là bộ Khởi Tín chú trọng vào nghĩa đầu tiên, còn bộ
Chỉ Nam chú trọng vào nghĩa thứ hai. Những công đức Phật
pháp được nhắc đến trong sách cũng đều sao lục từ sách
vở của những bậc cao nhân dật sĩ; nhưng vì hạn cuộc vào
từng thiên, nên không khỏi bị thiếu sót. Nhưng nếu tín
căn đã sanh thì đã có đủ Đại Tạng kinh luận và sách
vở của thánh hiền tồn tại [để tham khảo]. Sách này chẳng
qua là sách nhập môn để dẫn người ta tiến vào Phật pháp,
há nên vin vào đây rồi tự giới hạn mình, ngừng lại không
tiến tới nữa! Thuật lại những sự ấy, tấm lòng ấy quả
thật rộng lớn, lợi ích quả thật chẳng thể nghĩ bàn được!
Quang
túc nghiệp sâu nặng, có mắt như mù, lạm dự vào Tăng chúng,
uổng hưởng của tín thí, thẹn chẳng có năng lực tu Định
Huệ đoạn Hoặc chứng Chân, chỉ mong nương theo Phật từ
lực, đới nghiệp vãng sanh. May sao ông Đinh chẳng vì đó
mà chê bỏ, hễ có trước thuật gì đều gởi đến cho. Nhưng
chữ nhỏ mắt quáng, bất quá giở xem qua loa để kết duyên
tùy hỷ mà thôi. Gần đây, được thấy ba bộ sách này, khôn
ngăn cảm động, muốn lưu truyền rộng rãi, hiềm là nghèo
không chỗ cắm dùi, bèn chẳng nề hà kém cỏi, viết tựa
giới thiệu đại lược. Mong sao nơi nơi chốn chốn, những
người có tâm lo cho thế đạo sẽ lần lượt lưu thông, truyền
bá nhiều nơi. Như thế chẳng những sẽ thỏa lòng đúc kết,
biên tập của ông Đinh mà quả thật còn là thay cho Phật,
Tổ, hiền nhân, hiện tướng lưỡi rộng dài rền tiếng hải
triều không ngớt vậy. Sẽ thấy phong tục đổi thay, nhanh
chóng đạt đến đại đồng bình trị, dân hòa, thời thế
tốt đẹp, cùng hưởng niềm vui vô vi. Công đức lợi ích
ấy sẽ có thọ lượng bằng với mười phương hư không,
há có thể dùng văn tự ngôn ngữ để hình dung được nổi
ư? Nếu chẳng vì người kém cỏi mà vứt bỏ hoàn toàn lời
này thì may mắn lắm thay!
11.
Lời tựa tái bản bộ An Sĩ Toàn Thư (lời tựa thứ nhất)
Cái đạo sẵn có trong tâm chúng ta lớn lao thay! Pháp sẵn
có trong tâm chúng ta nhiệm mầu thay! Tịch - Chiếu bất nhị,
Chân - Tục viên dung. Ly niệm, ly tình, bất sanh bất diệt.
Đó gọi là “có mà chẳng có, không có mà có”, hoặc: “Không
mà chẳng không, chẳng không lại không”. Chúng sanh và Phật
đều do đây mà ra, thánh hay phàm đều chẳng thể diễn tả
được. Giống như gương sáng trọn chẳng có một vật nào,
nhưng hễ Hồ đến, Hán hiện[30]. Như các tướng xa xôi trong
thái hư chẳng trở ngại mặt trời chiếu qua mây đùn. Đấy
chính là “nơi Thật Tế lý địa chẳng nhiễm mảy trần,
trong tâm Bổn Giác có đủ trọn vẹn các pháp”. Đấy chính
là vô thượng giác đạo do đức Như Lai đã chứng, đó cũng
là chân tâm thường trụ của chúng sanh đang mê.
Tam
giáo thánh nhân nương theo tâm tánh này, đều lưu lại ngôn
giáo, rộng hướng dẫn quần manh. Do vậy, Ni Sơn[31] nêu ý
chỉ “thành minh” sâu xa để làm đường lối tu - tề -
trị - bình; Trụ Sử[32] nói Đạo Đức Kinh, chỉ bày thuật
trường sanh. Đại Giác Thế Tôn xứng pháp giới tánh, chỉ
bày tâm Chân Như, diễn giảng đạo “nghịch trần hiệp giác”,
lập tông “bất sanh bất diệt”. Tuy cạn - sâu, lớn - nhỏ
bất đồng, thế gian, xuất thế gian khác biệt, nhưng chủ
yếu đều chẳng ngoài việc phát huy, diễn bày thông suốt
cái lý sẵn có trong tâm chúng ta khiến cho khắp các hàm thức
đều xứng tánh khởi tu, do tu hiển tánh, tiêu tan huyễn vọng
vốn dĩ không có, khôi phục thiên chân sẵn có, vĩnh viễn
thoát đường mê, chứng ngay lên bờ giác mới thôi.
Văn
Xương Đế Quân trong đời xa xưa, tâm giữ vẹn Ngũ Thường,
tận lực phụng trì Tam Giáo, tự hành, dạy người, chỉ muốn
đạt đến chí thiện, công cao đức cả, nên bèn được cai
quản văn học. Chỉ sợ hàng mạt học vô tri, mê muội tánh
thường trụ bao kiếp, bèn soạn văn dạy dỗ rộng rãi, thuật
chuyện một trăm mười bảy đời về trước. Diệu nghĩa
vô tận, ai lường được uyên nguyên. Chú giải dẫu nhiều,
chẳng thể phô bày hết lẽ uyên áo mênh mông. Cho nên ngàn
đời trước, ngàn đời sau, người dạy dỗ, kẻ được dạy
dỗ thảy đều nuối tiếc chưa thỏa ý.
An
Sĩ tiên sinh xưa đã trồng cội đức, thừa nguyện tái lai,
xem rộng rãi cùng tột các sách, thâm nhập kinh tạng, tự
đặt trách nhiệm tỉnh giác cõi đời, khai hóa dân trí, giữ
thân tốt đẹp, thay đổi phong tục để nêu khuôn mẫu tốt
đẹp. Dùng học thức kỳ tài diệu ngộ, dùng tâm pháp Linh
Sơn - Tứ Thủy[33] để soạn bản chú giải cho bài văn tùy
cơ thuyết pháp của Đế Quân khiến cho kẻ nhã, người tục
cùng được xem. Lý vốn nơi tâm, từ ngữ nêu được chỗ
trọng yếu, dẫn chứng sự thật, xé toạc mây mê nơi cõi
ý, xiển dương nghĩa lý, ý chỉ, giương cao vầng mặt trời
trí huệ trên bầu trời tâm tánh khiến cho người đọc đối
với pháp gì, chuyện gì cũng đều có chỗ để phỏng theo,
tâm tâm, niệm niệm thường biết kinh sợ, dè dặt. Thật
là đã vạch toang tấm lòng đau đáu của Đế Quân, giãi bày
hết cả ra, ngõ hầu ngàn đời trước, ngàn đời sau, người
dạy dỗ, kẻ được dạy dỗ đều thỏa thích, không còn
nuối tiếc mảy may gì nữa!
Nhưng
bi tâm chưa hết, từ nguyện chẳng cùng, muốn khiến cho nhân
dân đề cao lòng trung hậu, khoan thứ như đối với người
ruột thịt, dứt đao binh, hưởng tuổi trời, giữ lễ nghĩa
để vẹn luân thường, chuộng đức, xa lìa sắc đẹp. Do
vậy, ông bèn soạn bộ sách răn kiêng giết tên là Vạn Thiện
Tiên Tư, bộ sách răn kiêng dâm tên là Dục Hải Hồi Cuồng.
Ấy là vì người đời sát nghiệp nhiều nhất, dâm nghiệp
dễ phạm. Do vậy, chẳng ngại phiền nhọc, ra rả khuyên răn.
Lại vì tu tràn lan những chuyện lành thế gian chỉ được
phước trời - người, khi hết phước sẽ đọa lạc, khổ
độc làm sao dứt cạn cho được? Do vậy, từ những kinh luận
Tịnh tông, ông chọn lấy những lời lẽ phù hợp căn cơ,
gộp thành một bộ sách, đặt tên là Tây Quy Trực Chỉ, khiến
cho khắp những ai giàu sang, nghèo hèn, già, trẻ, trai, gái,
dù trí hay ngu, dù Tăng hay tục, đều cùng niệm A Di Đà Phật
cầu sanh Cực Lạc, thoát khỏi luân hồi, lên thẳng Bất Thoái,
từ tạ những nỗi khổ do vọng nghiệp cảm thành, hưởng
sự vui tâm ta sẵn có.
Ba
bộ sách trước tuy giảng về việc tu hành điều thiện thế
gian, nhưng cũng có pháp liễu sanh thoát tử. Bộ sách cuối
cùng này tuy nói về pháp liễu sanh tử, nhưng cũng phải tu
hành các thiện pháp thế gian. Còn như những chuyện thuận
lý dẫn đến điều lành, trái nghịch dẫn đến điều xấu
đều phân tích rạch ròi, dứt nghi, giải đáp những vấn
nạn, lý trọn, văn khéo. Nỗi niềm lay động kẻ điếc, làm
sáng mắt người mù càng thống thiết hơn cứu người bị
chết đuối hay đang bị lửa thiêu. Thật có thể nói là dựng
thiên địa, lập quỷ thần, bổ trợ sáu kinh, nâng đỡ danh
giáo, đáng là bộ kỳ thư tốt lành nhất trong đời, chẳng
thể xem giống như những bộ thiện thư tầm thường khác.
Nếu bảo tiên sinh chẳng phải là Bồ Tát thừa bổn nguyện
luân, hiện thân cư sĩ, thuyết pháp độ sanh thì tôi chẳng
tin.
Bất
Huệ lúc bé đọc sách Nho, chẳng biết tâm truyền của Khổng
Mạnh, lớn lên học Phật thừa, chưa ngộ được tánh thể
của Như Lai. Đến nay tuổi sắp tri mạng (năm mươi), kiến
giải như nhìn vào vách, chỉ có cái tâm ham thiện, chẳng
có mảy may sức lợi người gì, muốn đem sách này in khắc
lưu truyền, hiềm rằng nghèo không chỗ cắm dùi, lại lười
mộ duyên. Do vậy, nhiều năm chưa thỏa được nguyện. Cư
sĩ Lý Thiên Quế ở Tây Thục có linh căn từ xưa, dốc lòng
hành thiện mong chứng đắc vô thượng Phật pháp, đến triều
bái danh sơn Phổ Đà. Ở Pháp Vũ Thiền Tự, ngẫu nhiên gặp
gỡ, nếu không có sẵn túc duyên, sao lại giải cấu[34] như
thế? Ông bèn khuất mình hỏi pháp, cầu xin lẽ xuất yếu
(đạo lý trọng yếu để giải thoát). Nhân đó, tôi bèn dạy
“tận lực giữ luân thường, tinh tu Tịnh nghiệp, tự lợi,
lợi tha, chỉ lấy đó làm trọng”. Nếu có thể tận lực
thực hành không tỳ vết thì mới cảm hóa được đồng nhân.
Nếu hành vi chẳng phù hợp lời nói thì phụng pháp lại trở
thành hoại pháp. Những kẻ chẳng tu đức thế gian, chẳng
tận lực làm lành, không phải là vì không có tư chất để
tu đức, làm lành, mà là vì không có thầy tốt bạn lành
để hướng dẫn. Nên bèn tặng cho ông ta cuốn sách này, bảo
hãy đọc kỹ, chăm chú sao cho hành vi cử chỉ của mình đều
phù hợp với những gì được chỉ bày, dạy dỗ trong sách
này, không sai khác chút xíu nào thì mới nên. Ông ta khác nào
được vật quý báu nhất, mừng rỡ khôn cùng, phát nguyện
khắc in để rộng lưu truyền. Lại xin tôi viết tựa để
bảo khắp đồng nhân. Do vậy chẳng nề hà kém cỏi, lược
thuật đầu đuôi. Những ai có chí thờ vua giúp dân, tu thân,
tề gia, dạy con cháu mong thành thánh thành hiền, ngộ tâm
tánh liễu sanh tử thì xin hãy đọc kỹ rồi tận lực thực
hành, đừng cho lời tôi là hư vọng, sai quấy vậy!
12.
Lời tựa tái bản bộ An Sĩ Toàn Thư (lời tựa thứ hai)
Hai nghiệp dâm - sát chính là căn bản sanh tử của hết thảy
chúng sanh. Khó đoạn nhất chỉ có dâm, dễ phạm nhất chỉ
có sát. Trong hai thứ này, đối với dâm thì những ai biết
tự ái đôi chút còn có thể tự chế chẳng phạm. Nhưng muốn
cho ý địa thanh tịnh, trọn chẳng có mảy may gì thì chỉ
bậc A La Hán đoạn Hoặc chứng Chân mới có thể làm được.
Còn ngoài ra, tuy tập khí ái nhiễm dày - mỏng khác nhau, nhưng
đều đã cố kết triền miên trong tâm thức, từ kiếp này
sang kiếp khác, chưa thể giải thoát. Sát thì thế gian đều
coi là chuyện đương nhiên, cậy mình mạnh, lấn áp kẻ yếu,
dùng thịt chúng nó để no bụng mình. Chỉ cốt sướng miệng
một lúc, ai tin phải bao kiếp đền bồi? Kinh Lăng Nghiêm dạy:
“Do người ăn dê, dê chết thành người, người chết thành
dê. Như vậy cho đến mười đời, chết chết, sống sống,
ăn nuốt lẫn nhau, do ác nghiệp cùng nhau sanh cho đến cùng
tột đời vị lai”. Cổ đức nói: “Muốn cho thiên hạ không
binh kiếp, trừ phi chúng sanh không ăn thịt”. Lại nói: “Muốn
biết kiếp đao binh trong thế gian, hãy nghe tiếng lò mổ thịt
nửa đêm”.
Đã có nhân ấy ắt phải chuốc lấy quả ấy. Chẳng nghĩ
đến thì thôi, hễ nghĩ tới bèn rất sợ hãi. An Sĩ tiên
sinh kính vâng lời Phật sắc truyền, riêng rủ lòng từ mẫn,
do vậy soạn bộ Dục Hải Hồi Cuồng để răn kiêng dâm,
soạn bộ Vạn Thiện Tiên Tư để răn kiêng giết. Dẫn chứng
sự thật, nêu rõ nhân quả. Thiết tha mong người khắp cõi
đời cùng giữ tấm lòng chân thật “cha trời mẹ đất,
coi dân như ruột thịt, nghĩ loài vật cũng như mình”, vĩnh
viễn dứt bỏ chuyện thương tổn thuần phong, loạn hoại
luân lý, dứt ác niệm cậy mạnh hiếp yếu. Lại muốn cho
đồng nhân đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện;
do vậy, bèn chú thích tường tận bản Âm Chất Văn của Văn
Xương Đế Quân, để những hành vi thường ngày, khởi tâm
xử sự, chuyện lớn như trị quốc an dân, chuyện nhỏ như
một lời, một niệm, đều tuân thủ theo lời dạy răn, đều
giữ khuôn phép. Do vậy, thuyết “giữ lòng kính, dè dặt,
cẩn thận, chánh tâm thành ý” của cổ thánh tiên hiền chẳng
đến nỗi thành chuyện bàn xuông mà thôi! Ba bộ sách trên
đây văn từ, lý lẽ, không gì chẳng trội tuyệt xưa nay,
bổ trợ kinh điển, giúp cho bình trị.
Bởi
tiên sinh do kỳ tài diệu ngộ, dùng bút mực phát huy tâm pháp
của Phật, Tổ, thánh hiền cho kẻ nhã lẫn người tục cùng
xem vậy. Tuy nhiên, người đã có thể kiêng dâm, kiêng sát,
không làm các điều ác, vâng làm các điều lành, nhưng nếu
chẳng liễu sanh thoát tử, làm sao đảm bảo đời đời kiếp
kiếp chẳng quên mất tu trì? Người luôn sanh trong thiện đạo,
rộng tu phước huệ, chẳng đọa đường ác để đền trả
lẫn nhau, há được mấy ai? Liễu sanh thoát tử, nào có dễ
đâu? Chỉ người tận lực tu Định Huệ, đoạn Hoặc chứng
Chân thì mới có thể rốt ráo tự do. Ngoài ra, dù có tôn
quý như Thiên Đế, tột bậc là Phi Phi Tưởng Thiên, phước
thọ tám vạn đại kiếp, vẫn thuộc trong vòng trói buộc
của nghiệp lực thiện ác, bị nghiệp lực thiện ác xoay
chuyển! Do vậy, riêng nương theo một pháp “cậy vào Phật
từ lực đới nghiệp vãng sanh” của đức Như Lai, thâu thập
rộng rãi những nghĩa trọng yếu trong kinh luận Tịnh Độ,
soạn thành một bộ sách, đặt tên là Tây Quy Trực Chỉ.
Nếu đọc đến sách này, tin tưởng chắc chắn không nghi,
sanh tín, phát nguyện, cầu sanh Tây Phương, bất luận căn
cơ lợi hay độn, tội nghiệp nặng hay nhẹ, cũng như công
phu cạn hay sâu, cốt sao tín nguyện chân thành, thiết tha,
trì danh hiệu Phật, đến lúc lâm chung không ai chẳng được
Phật từ lực tiếp dẫn vãng sanh. Đã vãng sanh bèn siêu phàm
nhập thánh, liễu sanh thoát tử, ngộ tự tâm ngay trong đương
niệm, chứng giác đạo trong tương lai. Nghĩa lý, lợi ích
ấy chỉ có chứng mới biết được, cố nhiên ngòi bút chẳng
thể diễn tả được nổi. Điều này thuộc về chuyện dùng
tín nguyện của chính mình để cảm Phật từ bi, cảm ứng
đạo giao, đạt được lợi ích lớn lao như thế. So với
chuyện cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng Chân liễu
sanh thoát tử thì khó - dễ khác biệt vời vợi như trời
với đất.
Hiện
nay, các nước bên Tây Phương đại chiến đã mấy năm, nước
ta thoạt đầu do ý kiến bất đồng, rốt cuộc thành Nam -
Bắc đánh lẫn nhau. Lại thêm mấy năm qua, những tai nạn
như nước dâng, gió bão, hạn hán, lụt lội, động đất,
thổ phỉ, ôn dịch… liên tiếp xảy ra. Tính ra số người
thương vong trong nước, ngoài nước không dưới vạn vạn
người, đau lòng buốt óc, thảm chẳng nỡ nghe! Bất Huệ
lạm dự vào Tăng chúng, chưa chứng đạo quả, chỉ giữ tấm
lòng thương đời, chẳng có sức cứu người mảy may. Có
vị đồng hương là tiên sinh Cần Phố Lưu Tại Tiêu, là người
thanh cao, đời đời đạo đức, dốc lòng tin tưởng Phật
pháp. Mùa Hạ năm nay lên núi gặp gỡ, bàn đến những sự
tình trong nước ngoài nước gần đây, buồn bã hỏi: “Có
diệu pháp gì để cứu giúp hay chăng?” Tôi nói: “Đây là
khổ quả, quả ắt phải có nhân. Nếu muốn cứu khổ thì
phải đoạn trừ nhân. Hễ đoạn được nhân thì quả không
do đâu sanh được! Vì thế kinh dạy: ‘Bồ Tát sợ nhân,
chúng sanh sợ quả’”. Bèn đưa bộ An Sĩ Toàn Thư cho ông
xem, mong hãy khắc in lưu truyền rộng rãi, khiến ai nấy đều
được thấy nghe, cùng lên bờ Giác. Tiên sinh mừng rỡ khôn
cùng, liền sai người cháu là Triệu Bộ Vân bỏ ra bảy trăm
đồng, xin tôi thay ông ta đảm nhiệm chuyện ấn tống.
Nhớ
năm Mậu Thân xưa kia, từng khuyên ông Lý Thiên Quế khắc
bản tại đất Thục (Tứ Xuyên), ông ta liền xin tôi viết
tựa. Về sau, nhân duyên không đủ, rốt cục việc chẳng
thành. Nay được ông Lưu kiên quyết tán thành, quả chẳng
phải là duyên nhỏ. Trộm thấy những lời hay cải ác hướng
lành trong Liễu Phàm Tứ Huấn, bài ký Du Tịnh Ý[35] là hạnh
tốt đẹp chí thành thấu trời, phát huy sự lý công phu tu
dưỡng, thật là đẹp đẽ, thuần thành, tinh tường, trọn
vẹn. Nhân đó, đem ghép vào sau bộ Âm Chất Văn Quảng Nghĩa
gồm ba cuốn. Bài Giới Sát Phóng Sanh Văn của đại sư Liên
Trì là bậc chúa soái từ bi diệt sạch ma quân tàn nhẫn,
bài tụng Bất Tịnh Quán của ngài Tỉnh Am v.v… là mãnh tướng
tịnh hạnh diệt trừ ma quân tham dục, bài Khuyến Phát Bồ
Đề Tâm Văn của ngài Tỉnh Am là thuyền từ phổ độ chúng
sanh trầm luân trong biển khổ. Do vậy, xếp những bài này
vào sau ba thứ pháp môn[36]. Ví như gấm dệt thêm hoa, đặt
đèn cạnh gương, rực rỡ chói ngời, vui mắt đẹp dạ người
ta. Nếu như đọc đến, ắt những ý niệm chẳng trung hậu,
chẳng khoan thứ sẽ đột nhiên băng tiêu, tâm tự lợi - lợi
tha đột nhiên như mây nhóm. Từ đó, từng bước càng thù
thắng hơn, càng vào càng sâu hơn, phàm tình trở thành thánh
trí mà chẳng biết, chẳng hay, ngõ hầu liễu sanh thoát tử,
vĩnh viễn thoát luân hồi. Tận mặt lễ Phật Di Đà, đích
thân được thọ ký. Kính vì những người đọc sách này
mà chúc mừng rằng: “Chìm trong biển khổ đã lâu, chợt
gặp được thuyền từ, tuân hành trung thứ, quy mạng Giác
Hoàng[37], tín chân, nguyện thiết, hết chấp quên tình, cảm
ứng đạo giao, hầu Vô Lượng Quang”. Những điều khác đã
nói tường tận trong lời tựa viết năm Mậu Thân, ở đây
không nhắc lại.
13.
Lời tựa đúc bản kẽm lưu thông sách Tứ Huấn của ông
Viên Liễu Phàm
Đạo thánh hiền chỉ có Thành và Minh. Phân ra thánh và cuồng
chỉ trong một niệm. Thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc
chế được niệm bèn thành thánh. Để hình dung sự thao túng
được - mất thì ví như thuyền chèo ngược nước, chẳng
tiến ắt lùi, không thể không gắng sức tu dưỡng, không
sanh phóng túng chút nào! Phải biết một chữ Thành chính là
chân tâm cả thánh lẫn phàm đều có, giống hệt như nhau,
không hai. Một chữ Minh là hàm dưỡng[38] phản tỉnh, là đạo
để từ phàm đạt thánh. Trong địa vị phàm phu, trong sanh
hoạt thường nhật, vạn cảnh xen lẫn, nếu chẳng quan sát
nhận biết sẽ khó tránh khỏi những tình tưởng trái lý
nẩy sanh trong chớp mắt. Tưởng ấy đã sanh, chân tâm liền
bị ngăn lấp, những việc làm cử chỉ đều đánh mất lẽ
trung chánh.
Nếu
chẳng một phen dùng công phu thiết thực để khắc chế, trừ
khử cho hết sạch thì ngày càng đi xuống, không biết đến
đâu là cùng tận. Uổng để cái tâm làm thánh chìm đắm
mãi mãi trong phường hạ ngu, chẳng đáng buồn ư? Nhưng làm
thánh chẳng khó, chỉ là tự làm sáng Minh Đức. Muốn làm
sáng Minh Đức thì phải khởi đầu từ cách vật trí tri.
Nếu chẳng thể cực lực cách trừ (trừ bỏ) “món vật”
là lòng dục của con người thì chân tri vốn có chắc chắn
khó thể triệt để hiển hiện. Muốn cho chân tri hiển hiện
thì trong lời lẽ hành vi hằng ngày phải thường khởi giác
chiếu, chẳng để cho hết thảy tình tưởng trái lý tạm
chớm trong tâm. Thường khiến cho tâm này rỗng sáng thông
suốt, như gương đặt trên đài, hễ có cảnh liền hiện
bóng, chỉ chiếu cảnh trước gương, chẳng bị cảnh chuyển.
Xấu - tốt tự nó, can chi đến ta? Đến chẳng mong ngóng,
đi không lưu luyến. Nếu tình tưởng trái lý vừa mới chớm
nẩy, liền nghiêm ngặt đối trị, trừ khử cho hết sạch,
như đối địch cùng quân giặc, chẳng những không cho chúng
xâm lấn lãnh thổ của mình, mà còn chém tướng đoạt cờ,
trừ sạch dư đảng.
Về
cách cầm quân thì chính mình phải nghiêm ngặt gìn giữ, đừng
lười nhác, đừng coi thường. Khắc kỷ, giữ lễ, trọng
lòng kính, giữ lòng thành, khí giới phải dùng đến “bốn
điều không” của Nhan Tử[39], “ba lượt phản tỉnh”[40]của
Tăng Tử, cách “ít lỗi biết sai” của Cừ Bá Ngọc, lại
thêm dè dặt, kiêng sợ như đang đi vào vực sâu, như đi trên
băng mỏng, thì quân oai lan xa, tặc đảng kinh hãi, sợ bị
tàn sát diệt chủng, mong được hưởng hồng ân vỗ về.
Do vậy, kéo nhau đầu hàng, quy thuận, chịu giáo hóa, đổi
hết tâm trước, dốc lòng tu đức sau. Tướng không ra khỏi
nhà, binh không đổ máu, toàn bộ giặc thù đều thành con
đỏ, kẻ phản nghịch đều thành dân lành. Trên hành, dưới
bắt chước theo, toàn cõi yên bình, chẳng dấy can qua, ngồi
hưởng thái bình.
Những
điều vừa nói trên đây là do cách vật (trừ khử vật dục)
nên trí tri (hiểu thấu suốt). Do trí tri nên tự nhiên sáng
tỏ đức sáng, Thành và Minh nhất trí, phàm biến thành thánh.
Nếu như căn khí kém hèn, chưa thể đạt được hiệu quả,
thì hãy nên bắt chước ông Triệu Duyệt Đạo, ban ngày làm
điều gì, tối đến ắt thắp hương tâu cùng Thượng Đế,
chuyện gì chẳng dám báo thì chẳng dám làm. Viên Liễu Phàm
không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Mạng do
chính ta lập, phước do ta tự cầu, khiến cho tạo hóa chẳng
thể chuyên quyền độc đoán. Thọ trì Công Quá Cách, phàm
khởi tâm động niệm và ngôn ngữ, hành vi, thiện - ác mảy
may đều nhớ, để mong thiện ngày một tăng, ác ngày một
giảm. Thoạt đầu thì thiện - ác xen tạp, lâu dần sẽ chỉ
có thiện không ác. Vì thế, có thể chuyển vô phước thành
có phước, chuyển yểu thọ thành trường thọ, chuyển không
con cháu thành đông con cháu. Hiện đời đã dự vào hạng
thánh hiền; báo hết, cao đăng cõi Cực Lạc. Hạnh làm khuôn
mẫu cho đời, lời lẽ làm pháp tắc cho đời. Người ta là
trượng phu, ta cũng là trượng phu; sao lại tự khinh, đành
chịu thua kém?
Nếu
có kẻ hỏi:
- “Cách
vật” là cùng tận cái lý của sự vật trong thiên hạ. “Trí
tri” chính là thúc đẩy tri thức của chúng ta đến tột
bậc, sao cho mỗi mỗi đều hiểu rõ. Sao lại coi lòng ham muốn
của con người là vật, coi chân tri là tri, coi khắc phục,
đối trị không cho vật dục hiển hiện là cách trí vậy?
Đáp:
- Thành
và Minh Đức đều là ước theo bản thể của tự tâm mà
nói. Danh tuy có hai, vốn chỉ là một. [Nói] Tri và ý tâm là
gộp chung Thể và Dụng của tự tâm để nói. Chứ thật ra,
cả ba điều này đều là một. Cách, trí, thành, chánh, minh
(ở đây chỉ “minh” trong “minh Minh Đức” và “minh”
trong “thành minh”), năm thứ này đều ước trên phương
diện dứt lòng tà, giữ lòng thành, phản vọng quy chân mà
nói. Trong công phu kiểm điểm, phản tỉnh, quán sát, tu tập
thì Minh là cương lãnh chung, Cách Trí, Thành, Chánh là những
mục riêng vậy. Tu thân, chánh tâm, thành ý, trí tri do vậy
đ