Quyển
thứ hai
(Phần
5)
III.
Sớ[1]
1.
Sớ trùng tu ao phóng sanh chùa Cực Lạc ở Nam Tầm[2]
Kiêng giết phóng sanh về mặt Sự thì nông cạn, dễ thấy;
nhưng về mặt Lý lại sâu xa, khó hiểu rõ. Nếu chẳng hiểu
rõ Lý, dù có làm chuyện này, trong tâm chắc chắn chẳng chí
thành, thương xót thiết tha, phước điền lợi ích cũng do
tâm lượng mà trở thành nhỏ nhoi, nông cạn. Nếu gặp phải
kẻ vô tri ngăn trở, phỉ báng, [người phóng sanh] sẽ bị
kẻ đó xoay chuyển, khiến cho một dạ thiện tâm vì đó bị
tiêu diệt chẳng còn. Do vậy, chẳng ngại lắm lời giãi bày
ý nghĩa, để những loài vật đều được gội từ ân, loài
người đều được vun bồi nền phước, ngõ hầu khẩn thiết
động đến lòng nhân sâu xa, diệt được sát báo cho ta lẫn
người, cùng đều được về cõi thọ, cùng vui tuổi trời.
Lại nguyện đem công đức này hồi hướng Tây Phương để
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, vượt thoát tam giới, làm
đệ tử Phật Di Đà, làm bạn tốt trong hải chúng. May ra
sẽ được người đọc chú ý vậy! Nhất niệm tâm tánh của
chúng sanh sống trên đất hay dưới nước, vốn quả thật
chẳng hai, chẳng khác gì với tam thế chư Phật; nhưng vì
sức ác nghiệp đời trước chướng lấp nên diệu minh chẳng
thể hiển hiện, trầm luân trong dị loại, đến nỗi sự
hay biết hèn kém, ngoại trừ chuyện tìm cái ăn, tránh cái
chết ra, trọn chẳng biết đến điều chi khác nữa!
Ví
như tấm gương đồng quý báu lớn, trải bao kiếp bị bụi
lấp, chẳng những không có mảy may quang minh nào, ngay cả
chất đồng của gương cũng chẳng thể hiển hiện được,
khác gì phế vật! Chợt gặp được người trí, biết là
gương báu sẵn có đủ vô biên quang minh chiếu trời soi đất,
bèn ngày ngày chăm chú giồi mài. Thoạt đầu bèn lộ chút
chất gương, dần dần tỏa ra ánh sáng. Mài đến cùng cực
thì ánh sáng chiếu trời soi đất bèn hiển hiện toàn thể;
người vô trí mới bèn quý trọng, xem là vật quý báu nhất.
Phải biết: Ánh sáng ấy gương vốn sẵn tự có, nào phải
do mài mà có! Tuy là tự sẵn có, nhưng nếu không có duyên
giồi mài thì từ kiếp này sang kiếp khác cũng chẳng có ngày
tỏa ra quang minh. Tâm tánh của hết thảy trời - người chúng
sanh lục đạo đều giống như vậy. Do Hoặc nghiệp từ vô
thỉ đến nay che lấp nên chẳng thể tỏ lộ diệu minh sẵn
có, mê trái chân tánh, tạo nghiệp sanh tử. Đức Đại Giác
Thế Tôn biết nhất niệm tâm tánh của các chúng sanh bằng
với chư Phật; do vậy, đủ mọi phương tiện tùy cơ thuyết
pháp, khiến cho khắp mọi loài đều tu đạo Giới - Định
- Huệ, ngõ hầu đoạn Hoặc chứng Chân, khôi phục cái mình
sẵn có, trọn vẹn phước huệ để chứng Pháp Thân.
Lại
dạy người đời phát tâm từ bi, kiêng giết, phóng sanh; ấy
là vì ta và hết thảy chúng sanh đều ở trong luân hồi, từ
vô thỉ đến nay lần lượt sanh ra nhau, xoay vần giết lẫn
nhau. Bọn họ cố nhiên là cha mẹ, anh em trai, chị em gái,
con cái của ta, mà ta cũng là cha mẹ, anh em trai, chị em gái,
con cái của mỗi một người trong bọn họ. Bọn họ nhiều
phen do ác nghiệp lực mà sanh trong loài người hoặc sanh trong
dị loại[3], bị ta giết chóc; ta cũng nhiều phen do ác nghiệp
lực mà sanh trong loài người hoặc sanh trong dị loại, bị
họ giết chóc. Trải bao kiếp lâu xa, sanh ra nhau, giết lẫn
nhau, trọn không ngơi ngớt! Phàm phu không biết, Như Lai thấy
thấu suốt. Hễ không nghĩ thì thôi, nếu nghĩ đến ắt khôn
ngăn hổ thẹn, thương xót! Nay ta may nhờ phước thiện đời
trước, sanh trong loài người, cố nhiên nên cởi gỡ mối
oán kết, kiêng giết, phóng sanh, khiến cho hết thảy những
loài có sanh mạng đều được yên ổn; lại vì họ niệm
Phật hồi hướng Tịnh Độ, khiến cho họ được độ thoát.
Nếu họ nghiệp nặng chưa thể vãng sanh ngay, ta bèn nhờ vào
công đức từ thiện này, quyết cầu lâm chung vãng sanh Tây
Phương. Đã vãng sanh ắt sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh
thoát tử, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, dần dần chứng
được Phật quả.
Vả
nữa, yêu thương loài vật, phóng sanh thì bậc cổ thánh tiên
hiền đều làm chuyện này. Vì thế, kinh Thư có đoạn văn
chim, thú, cá, ba ba đều được sống yên vui[4], Văn Vương
ân trạch thấm đến xương khô, huống chi loài vật có tri
giác. Như Giản Tử thả chim cưu, Tử Sản[5] nuôi cá, Tùy
Hầu giúp rắn[6], Dương Bảo cứu chim sẻ[7]. Đấy là tâm
thánh hiền cùng dùng lòng nhân đối đãi với loài vật, dẫu
họ không biết đến những nghĩa lý: “Những loài có tri
giác, có cử động đều có Phật tánh, lần lượt thăng lên,
đọa xuống, làm kẻ oán người thân lẫn nhau, và tương lai
quyết định thành Phật”. Đến khi đại giáo truyền sang
Đông, thì nhân quả ba đời và lý “chúng sanh, Phật, tâm,
ba thứ bình đẳng không hai” sáng lòa trong thế gian. Phàm
là bậc đại thánh đại hiền, không ai chẳng kiêng giết,
phóng sanh, nhằm vãn hồi sát kiếp để vun bồi quả phước,
làm nền tảng để dứt nạn binh đao, vui hưởng tuổi trời.
Cổ nhân nói: “Dục tri thế thượng đao binh kiếp, tu thính
đồ môn bán dạ thanh” (tạm dịch: “Muốn biết đao binh
trong cõi thế, hãy nghe lò mổ giữa đêm thanh”). Lại nói:
“Muốn cho thế gian không còn nạn đao binh thì trừ phi chúng
sanh không ăn thịt”. Do vậy, biết rằng: Kiêng giết, phóng
sanh chính là khuôn mẫu tốt đẹp để nhổ rễ lấp nguồn
[tai nạn], cứu đời.
Vì
thế, Trí Giả đại sư đời Trần mua hơn sáu mươi chỗ ở
Lâm Hải, Giang, Hỗ, Khê, Lương, cả hơn bốn trăm dặm làm
ao phóng sanh, xin sắc chỉ lập bia cấm ngặt đánh cá. Kẻ
nào bắt trộm làm càn sẽ bị mắc vạ. Đến niên hiệu Trinh
Quán đời Đường (triều vua Đường Thái Tông) vẫn còn như
thế. Đến năm Càn Nguyên thứ hai đời Đường Túc Tông (759),
vua hạ chiếu truyền các châu trong thiên hạ lập ao phóng
sanh, sai Nhan Chân Khanh[8] soạn bài văn bia và viết bằng bút
son; trong ấy có câu: “Đức vua ta lấy cả thiên hạ làm
ao, hết thảy [các loài] trong toàn cõi đều nhờ phước, nương
sức Đà La Ni gia trì, cạn bờ mé phiền não sanh tử; suy đến
tận ngàn xưa, chưa hề phảng phất giống được như vậy”.
Năm Thiên Hỷ nguyên niên (1017) đời Tống Chân Tông, hạ chiếu
truyền thiên hạ lập ao phóng sanh, Tây Hồ ở Hàng Châu cũng
trở thành ao phóng sanh của vua Tống. Đời Minh, đại sư Liên
Trì lập ao phóng sanh ở hai nơi là Thượng Phương và Trường
Thọ. Bài Giới Sát Phóng Sanh Văn của ngài lưu truyền khắp
thiên hạ. Cho đến nay đã hơn ba trăm năm, những người thông
hiểu trong hàng Tăng - tục đều ngưỡng mộ cao phong, từ
bi cứu tế loài vật không thể tính kể.
Như
có kẻ nói:
- Kẻ
quan quả cô độc[9], bần cùng hoạn nạn đâu đâu cũng có,
sao không châu cấp, lại gấp rút lo lắng cho loài dị loại
chẳng liên quan gì đến ta? Đấy chẳng phải là điên đảo
nơi chuyện thong thả - gấp rút, nặng - nhẹ đó ư?
Đáp:
- Ông
chưa biết nguyên do đức Như Lai dạy người kiêng giết, phóng
sanh. Tuy người và vật khác nhau, nhưng Phật tánh vốn đồng.
Do ác nghiệp nên chúng bị trầm luân trong dị loại, ta do
thiện nghiệp may được thân người. Nếu chẳng xót thương,
giúp đỡ, cứ mặc tình giết hại, ăn nuốt, thì một mai
kia nếu phước ta hết rồi, tội của chúng đã trả xong,
khó tránh khỏi phải đền trả từ đầu, [đem thân mình]
thỏa miệng bụng của chúng. Phải biết đao binh đại kiếp
đều do sát nghiệp đời trước cảm thành. Nếu không có
sát nghiệp, dẫu thân gặp phải giặc cướp, chúng cũng sẽ
khởi lòng lành, chẳng giết hại mình. Huống chi những tai
nạn bất ngờ như ôn dịch, nước, lửa thì người kiêng
giết, phóng sanh rất ít gặp phải. Do vậy, biết rằng: Che
chở loài vật chính là tự che chở mình. Kiêng giết sẽ khỏi
bị trời giết, quỷ thần giết, trộm cướp giết, [khỏi
bị] oán - thân giết nhau báo thù trong tương lai. Những kẻ
quan quả cô độc bần cùng hoạn nạn cũng nên tùy phần tùy
lực châu cấp cho họ, chứ nào phải người kiêng giết phóng
sanh hoàn toàn chẳng hành những điều công đức ấy! Tuy người
quan quả cô độc rất đáng thương, nhưng họ chưa đến nỗi
lâm vào tử địa, còn loài vật nếu không bỏ tiền chuộc
mạng, sẽ lập tức phải lên chảo, thớt để thỏa bụng
miệng con người!
Lại
có kẻ nói:
- Loài
vật vô tận, phóng sanh được mấy?
Đáp
rằng:
- Phải
biết chuyện phóng sanh thật ra nhằm để phát khởi thiện
tâm tối thắng “bảo vệ sanh mạng mọi loài vật” của
mọi người, ngõ hầu lãnh hội được ý nghĩa của chữ “Phóng”
(thả), trong tâm đã động lòng trắc ẩn, ắt chẳng nỡ ăn
nuốt. Đã không có người ăn nuốt thì người đánh bắt
sẽ phải thôi, khiến cho hết thảy loài vật dưới nước,
trên mặt đất, trên hư không đều tự tại bay, chạy, bơi
lội trong nơi sinh sống của chúng. Như vậy, thành ra không
phóng sanh mà hóa ra là phóng sanh khắp tất cả. Đấy chẳng
phải là “cả thiên hạ biến thành một cái ao” ư? Dẫu
không phải ai cũng đều như vậy cả, nhưng một người chẳng
nỡ ăn thịt thì vô lượng sanh mạng trên đất liền, dưới
nước khỏi bị giết chóc; huống chi nào phải chỉ có một
người! Lại vì hiện tại, vị lai hết thảy đồng nhân đoạn
trừ cái nhân của quan quả, cô độc, hoạn nạn, bần cùng,
tạo cái duyên trường thọ, không bệnh, phú quý, an lạc,
cha con đoàn viên, vợ chồng giai lão cho họ. Đấy chính là
làm chuyện châu cấp, cứu tế sẵn để đời đời kiếp
kiếp trong vị lai mãi mãi chẳng bị những nỗi khổ quan quả
cô độc v.v… hưởng thụ dài lâu những niềm vui sống lâu,
giàu sang v.v… Đấy chẳng phải là “toàn nước được hưởng
phước” ư? Há có nên coi thường gác bỏ? Ông hãy nghĩ kỹ
đi, kiêng giết, phóng sanh rốt ráo là khăng khăng vì con người
hay là khăng khăng vì loài vật, điên đảo nơi chuyện thong
thả - gấp rút, nhẹ - nặng vậy?
Phía
ngoài chùa Cực Lạc ở Nam Tầm từ trước đã có ao phóng
sanh, nhưng do bờ vách chưa xây nên bị sụp lở, lại thêm
nhiều năm chưa được khơi vét, bùn lầy đầy ứ. Thường
có những người lành phải ra sông phóng sanh, dù phát thiện
tâm nhưng sanh vật khó được hưởng lợi ích. Sáng vừa được
thả, chiều lại bị bắt, quá nửa là như vậy. Nếu gần
sông to thì dĩ nhiên nên thả xuống sông, nơi sông nhỏ trọn
chớ nên thả xuống. Viên Lâm đại sư lòng bất nhẫn, muốn
đào sâu ao đó, phía ngoài đắp tường vây bọc bảo vệ
để có chỗ phóng sanh mà kẻ bắt cá trộm cũng không làm
gì được! Ý ấy cũng rất tốt lành, nhưng chưa tiến hành,
đến khi Giác Tam đại sư từ Phổ Đà đến đó, vừa trông
thấy liền hợp ý, trở về chùa bàn bạc chuyện ấy, nhưng
tôi đã buông xuống vạn duyên, chuyên tu Tịnh nghiệp rồi
[nên không thể cáng đáng việc ấy]. Thầy Giác Tam kế thừa
đầu mối cũ, muốn sự ấy chóng thành, nhưng công trình rộng
lớn, sức một mình Sư khó thể thành tựu, tính quyên mộ
thiện tín toàn trấn cùng giúp cho việc thù thắng, xin tôi
viết lời tự (phần sau lược đi).
2.
Bài sớ về ao phóng sanh chùa Pháp Vân ở sông Tam Xoa[10], Kim
Lăng
Kim Lăng[11] là đất văn hiến, thường được gọi là Phật
Quốc. Người xứ ấy đa phần có căn tánh Đại Thừa. Từ
khi đại pháp truyền sang Đông, hơn một trăm bảy mươi năm
chỉ ở phương Bắc. Đến năm Xích Ô thứ tư (241) đời Tôn
Quyền nhà Ngô, tôn giả Khang Tăng Hội đến giáo hóa đất
này, cảm được xá-lợi Phật giáng lâm, Tôn Quyền bèn cho
dựng tháp lập chùa để hoằng pháp hóa. Đến đời Tấn,
ngài Phật Đà Bạt Đà La[12] cũng dịch kinh Hoa Nghiêm ở nơi
đây. Từ đời Tống, Tề, Lương, Trần trở đi, dịch kinh
hoằng pháp có rất nhiều vị. Một là do thiện căn xưa kia
un đúc khiến thành ra như thế; hai là núi cao, nước sâu,
địa linh khiến thành ra như vậy. Đến thời Đường Túc
Tông, Lỗ Công Nhan Chân Khanh trấn giữ đất này, vua hạ chiếu
truyền các châu trong thiên hạ đều lập ao phóng sanh, sai
Lỗ Công soạn bài văn, có câu: “Cả thiên hạ đều thành
ao, trọn đất nước đều nhờ phước, chứ nào phải chỉ
tính kế riêng cho loài vật mà thôi ư!” ấy là muốn cho
[người đọc đến] phải cảm động vậy!
Đầm
Ô Long dưới núi Thanh Lương chính là ao phóng sanh do Lỗ Công
tự lập. Lỗ Công lòng tinh trung ngời nhật nguyệt, văn bút
động gió mây, nhưng lại dốc lòng tin tưởng Phật pháp,
cực lực bảo vệ sanh mạng loài vật. Đức hạnh tốt đẹp,
lòng từ bao la ấy một ngàn trăm năm sau không ai chẳng kính
ngưỡng! Gần đây, thế đạo nhân tâm suy kém đã đến độ
cùng cực, thiên tai, nhân họa xảy ra liên miên. Người có
lòng lo lắng cho đời đều cho rằng những nghiệp quả ấy
đều do sát nghiệp tạo ra. Nếu biết được loài vật chẳng
nên giết, chắc chắn không khi nào có người giết! Do vậy,
những người ôm lòng từ thiện nâng đỡ lẫn nhau, sẽ tự
có thể thay đổi phong tục, chiêu cảm được thiên hòa. Do
vậy, các vị cư sĩ Phùng Mộng Lão, Vương Ấu Nông, Bàng
Tánh Tồn, Ngụy Mai Tôn… tính lập ao phóng sanh để đề
xướng đạo “ngưng giết, hành từ”, ngõ hầu đề cao phong
tục “coi dân chúng như ruột thịt, coi loài vật như chính
mình”.
Do
nền cũ đầm Ô Long của Lỗ Công không thông ra sông, nên
họ tìm riêng một cuộc đất rộng rãi hơn một trăm mấy
mươi mẫu ở phía dưới bờ đập nhà họ Phương ở sông
Tam Xoa, đủ để kiến lập đạo tràng, đào ao phóng sanh.
May là chủ cuộc đất ấy là ông Phương Tuấn Sanh vốn là
bậc quân tử thích làm lành, chỉ lấy nửa giá, cũng có thể
nói là công đức hy hữu vậy! Bàn bạc vừa xong, nhằm đúng
lúc tôi đến Kim Lăng, ông Ngụy đem chuyện này bảo với
tôi, nhờ viết tờ sớ để xướng suất. Tôi thường đau
đớn trước nỗi thảm sát kiếp trong thời gần đây, muốn
vãn hồi nhưng không có sức. Nay do ông ta thỉnh, lòng xúc
động, trước kia tôi từng soạn bài sớ cho ao phóng sanh chùa
Cực Lạc ở Nam Tầm, đã trình bày đại lược chuyện chúng
ta cùng loài vật vốn có đủ chân tâm, do tùy theo nghiệp
mà thăng - trầm, cũng như quả báo do sát sanh hay phóng sanh
trong hiện tại - tương lai, nên ở đây chỉ nói đại lược,
không nhắc lại nữa.
Kính
mong chư vị đàn-việt[13] cùng phát thiện tâm, cùng bỏ ra
tịnh tài khiến cho việc này mau được thành công, ngõ hầu
muôn vật loài nào loài nấy sống yên; công đức lợi ích
ấy vô lượng, vô biên, há nào phải chỉ trong hiện đời
vạn họa băng tiêu, ngàn sự tốt lành nhóm đến như mây,
mà trong đời vị lai những người đền ân báo đức cũng
chẳng biết là bao nhiêu ngàn vạn ức! Phải biết phóng sánh
vốn là kiêng giết, kiêng giết phải khởi đầu từ việc
ăn chay! Nếu ai nấy đều kiêng giết, ai nấy đều ăn chay
thì nhà nhà tập thói từ thiện, người người giữ trọn
lễ nghĩa, phong tục tốt đẹp tinh thuần, thời thế hòa bình,
được mùa, nào đến nỗi có chuyện đao binh kiếp khởi,
đây - kia đánh lẫn nhau! Đấy chính là chuyện trọng yếu,
là “nguồn trong gốc chánh” để vãn hồi thiên tai nhân
họa vậy! Phàm những ai muốn cho cửa nhà yên ổn, thân tâm
khỏe mạnh, yên vui, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc,
xin hãy cầu từ nơi kiêng giết phóng sanh, ăn chay, niệm Phật
thì cầu gì mà chẳng được!
3.
Bài sớ [kêu gọi đóng góp] xây dựng viện mồ côi Phật
giáo chùa Pháp Vân ở sông Tam Xoa, Kim Lăng
Càn là đại phụ, Khôn là đại mẫu. Dân là đồng bào của
chúng ta, loài vật và ta cũng giống như thế. Do vậy, Khổng
Tử lấy chuyện yên ổn người già, lo lắng cho trẻ nhỏ
làm chí, đức Như Lai lấy việc phổ độ chúng sanh làm tâm.
Do hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ
thân thuộc trong quá khứ của chúng ta, đều sẽ thành Phật
đạo trong đời tương lai. Có những kẻ do nghiệp lực nên
đọa trong dị loại sống trên đất, dưới nước, trên không
trung, nhưng Phật tánh của họ chẳng bị tổn hại chút nào.
Cái tâm tham sống, sợ chết, tránh khổ, cầu vui chẳng khác
chúng ta chút nào! Do vậy, ông Phùng Mộng Lão mời các vị
cư sĩ cùng chí hướng đề xướng tạo dựng Pháp Vân Tự
làm đạo tràng niệm Phật phóng sanh. Mong hết thảy thiện
nhân cảm cái tâm của cha trời mẹ đất, cùng mang ý niệm
“dân là đồng bào, loài vật cũng giống như ta”, dứt sát
nghiệp cho cả người lẫn ta, vun cội đạo Bồ Đề, chứ
nào phải chỉ chăm chú vào một đạo tràng nhỏ bé mà thôi!
Ấy là vì muốn cho cả thiên hạ đều cùng phát khởi cái
tâm trắc ẩn không chi chẳng thấu.
Đối với hết thảy những kẻ quan quả cô độc, khốn khổ,
lênh đênh, không nơi nương tựa, không phải là chẳng muốn
cứu giúp, nhưng do tài lực khó khăn, nên bèn lập thêm một
Viện Mồ Côi nơi cuộc đất hẹp bên cạnh ao phóng sanh chùa
Pháp Vân, đem những cô nhi không cha, không mẹ, không cách
sống còn về nuôi dạy cho đến khi chúng thành tài tự lập,
để chúng khỏi bị đói lạnh mà chết vùi lấp bên khe ngòi,
no lòng quạ, chó; đến nỗi tổ tông chúng không người thờ
phụng, cũng như quốc gia thiếu nhân dân. Tâm ấy có thể
nói là chân thành khẩn thiết, biết điều gì cần phải lo
trước. Ấy là vì trẻ nhỏ hễ mất cha mẹ ắt phải đến
nỗi chết đi. Dẫu cho nó có thể xin ăn được đôi chút,
không đến nỗi chết ngay, nhưng vì không thể học hành, bất
quá chỉ suốt đời làm mướn, làm sao mở mang trí thức để
thấu đạt thiên tư sẵn có, giữ vẹn luân lý hòng chẳng
trái đạo làm người cho được? Hãy thử nghĩ: Ngài Đạo
An đời Tấn, ngài Nhất Hạnh đời Đường, ngài Diệu Phong
đời Minh[14] đều là cô nhi. Do các vị được làm Tăng nên
đạo bèn truyền khắp thiên hạ, đức phủ triệu dân. Ông
Lã Văn Mục đời Tống lúc hàn vi đọc sách, xin ăn nuôi thân;
một vị Tăng thương xót bèn giúp đỡ, ông đậu cao, tận
tụy với vua, thương yêu dân chúng. Do vậy, ông có phát nguyện
rằng: “Nguyện con cháu đời đời ăn lộc, hộ trì Phật
pháp. Kẻ nào chẳng tin Tam Bảo đừng sanh vào nhà ta”. Ấy
là vì lòng cảm kích sâu xa. Do vậy, biết rằng thần long
còn bé thường hay bị cát đá gây khốn, người có lòng nhân
đem nước chừng một thưng, một đấu giúp cho, đợi đến
khi rồng đủ vây cánh, gió mây gặp hội, ắt có thể rưới
mưa ngọt khắp cả thiên hạ. Dẫu những đứa thiên tư tầm
thường, không bản lãnh gì, nhưng được nuôi dưỡng lương
năng lương tri khiến cho đứa nào đứa nấy hiền lành thì
cũng có thể tạo thành cái gốc làm cho thiên hạ thái bình.
Huống hồ cô nhi rất nhiều, trong ấy ắt có những đứa
tài năng xuất chúng, có thể thành đạo lập đức, tán trợ
quyền giáo hóa, dưỡng dục, như các vị Đạo An, Nhất Hạnh,
Diệu Phong, Văn Mục vậy! Công đức nuôi dạy thành tựu ấy
há thể tính lường được ư?
Kính
mong những bậc quân tử nhân từ, hết thảy thiện tín, đều
khởi lòng giúp đỡ trẻ nhỏ, đừng keo kiệt, giúp đỡ nhỏ
giọt. Phải biết bố thí là cội phước, đạo trời sẽ
đền đáp tốt đẹp. Mình đã giúp con côi của người ta
thì con cháu mình ắt sẽ có nhiều đứa tài năng xuất chúng,
làm chuyện lớn lao, quyết chẳng đến nỗi khổ sở lênh
đênh, không biết kêu ca vào đâu! Phạm Văn Chánh Công (Phạm
Trọng Yêm) đời Tống chỉ chăm chú giúp đời, cứu người.
Con cháu ông cho đến tận bây giờ nhiều người hiển đạt.
Do vậy biết rằng cứu giúp người bị tai ương thì chính
mình và con cháu mình đời đời kiếp kiếp đều chẳng đến
nỗi bị tai ương phải đợi người cứu giúp. Nếu có thể
nhận lãnh lời bàn luận kém hèn, chẳng tiếc của báu trong
nhà, ngõ hầu sự việc này được thành tựu mỹ mãn, thì
há nào phải chỉ cô nhi được may mắn, mà thật ra chính
là thiên hạ quốc gia được may mắn lớn lao vậy!
4.
Sớ phổ khuyến thí tiền khắc in Đại Tạng
Đại Tạng chính là tùng lâm Bát Nhã, là kho tàng Chân Như,
là biển thẳm của hết thảy các pháp thế gian, xuất thế
gian. Toàn bộ đạo do chính đức Như Lai rốt ráo chứng đắc,
pháp sẵn có trong tâm của chúng sanh và pháp rộng khắp mười
phương thế giới, tinh vi như nhân quả ba đời, cũng như những
đạo luân thường hiếu đễ từ thiện thường ngày thảy
đều xiển dương, khen ngợi, chỉ dạy hoàn toàn chẳng sót
chút nào. Do vậy, bậc hoằng pháp đại sĩ không ai chẳng
lấy việc lưu thông Đại Tạng làm nhiệm vụ cấp bách để
hoằng pháp lợi sanh.
Khắc
Đại Tạng Kinh khác với chỉ khắc một hai bộ kinh luận,
nhưng không được nói là công đức này lớn, công đức kia
nhỏ, pháp này thích đáng căn cơ, pháp kia không thích đáng
căn cơ. Ấy là vì một Đại Tạng giáo tuy có kinh, luật,
luận, và những trước thuật của Tây Trúc (Ấn Độ), phương
này (Trung Hoa), bộ loại khác biệt, số quyển vượt quá vạn
cuốn, nhưng đều là một bộ Đại Tạng Kinh. Đã là một
bộ sao có thể chia xẻ cương vực, lầm lạc phân chia hơn
- kém? Ví như vạn con sông đổ vào biển cả cùng một vị
mặn, trăm hoa gom thành mật cùng một vị ngọt. Cây cỏ tuy
có lớn - nhỏ, nhưng ánh nắng xuân trọn chẳng thiên vị;
hình tướng tuy rất khác biệt, nhưng gương sáng nào soi khác
nhau? Như xây tháp chín tầng, xếp gạch đá thành từng bậc,
công đức giống hệt như nhau. Như đúc tượng Phật ngàn
thước, nung vàng và đồng trong cùng một lò, nào phân cao
- thấp?
Chỉ
nên do ngọn tìm được gốc, há nên chấp nguồn bỏ giòng!
Bồ Tát độ sanh chẳng thấy tướng người độ và kẻ được
độ. Bồ Tát hành bố thí chẳng chấp vào tướng Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc, Pháp. Vì thế, đắc nhất tâm vô trụ, tam
luân thể không, đạt được phước đức bằng với mười
phương hư không, cùng một dạng rộng lớn lâu dài. Giáo pháp
Đại Tạng tuy có Đại, Tiểu, Quyền, Thật, Thiên, Viên, Đốn,
Tiệm, Hiển, Mật, Chân, Tục, Thiền, Tịnh, Tánh, Tướng,
đủ mọi thứ bất đồng, nhưng tâm quang huyết mạch cố
nhiên đều dung hội quán thông, không một điều gì trệ ngại.
Ví như ngàn hạt châu nơi cái lưới của Đế Thích, rọi
bóng lẫn nhau trùng trùng; như ngàn ngọn đèn trong điện Phật,
ánh sáng bao phủ lẫn nhau. Đàn-việt giúp khắc in kinh chỉ
[cần biết] là tiền bỏ ra chẳng uổng phí, đừng hỏi khắc
in những kinh gì, khiến cho người đứng trông coi đỡ tốn
tâm lực và Đại Tạng mênh mông chóng được viên thành.
Nếu như có tâm phân biệt, lầm lạc sanh lòng chọn lựa,
thì ai nấy có lòng ưa thích riêng, ắt đến nỗi có loại
được nhiều người nguyện khắc trở thành trùng lặp, có
loại thì không ai phát tâm, thường bị thiếu sót. Công đức
tuy có, nhưng thong thả hay gấp rút chẳng thích đáng, biết
đến khi nào toàn tạng mới được lưu thông?
Huống
chi lúc này người trông nom, giảo chánh, đối chiếu đều
đã có, duyên thù thắng ấy khó thể có lần nữa, nỡ nào
bỏ lỡ qua ư? Phải biết: Vì Thật bày Quyền, Quyền ấy
là Quyền đối với Thật. Khai Quyền hiển Thật thì Thật
ấy là Thật đối với Quyền vậy. Như Lai nói kinh, Bồ Tát
tạo luận, nếu không có chư tổ sư Tây Trúc, phương này
trước thuật, phụ giúp khen ngợi thì làm sao có thể lưu
thông trong nước ngoài nước mãi cho đến nay chẳng suy phế
được?
Vả
nữa, bậc thế chủ trị quốc còn phải nhờ vào văn võ phù
tá thì mới được vạn dân ngưỡng mộ đức, kiêng oai, nhìn
vào gương sáng mà tự thay đổi. Huống chi tam đức bí tạng
do đức Như Lai đã chứng, diệu lý Thật Tướng, nếu bỏ
đi những thứ phát huy tùy thuận cơ nghi của cổ đức những
gì tâm Phật đã chứng thì chỉ có Phật và các vị Pháp
Thân đại sĩ biết được, còn những chúng sanh căn cơ kém
cỏi khác sẽ dựa vào đâu để biết được? Nhờ vào đâu
để chứng được? Do vậy, biết rằng hơn một vạn quyển
kinh trong Đại Tạng đều là cùng một pháp, há có thể phân
biệt được sao? Mong rằng các đại đàn-việt bỏ tiền của
giúp khắc in đều cùng dùng vô sở trụ để sanh tâm, chẳng
trụ vào pháp để hành bố thí thì công đức chẳng thể
nghĩ bàn của Đại Tạng ai nấy đều đạt được toàn phần.
Như một vầng trăng giữa trời hiện bóng khắp muôn sông,
cùng một tiết khí cả cõi đất đều là mùa Xuân.
5.
Sớ sáng lập chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Cát Lâm
Phật pháp lưu thông, lợi ích vô lượng. Người căn cơ thiên
bẩm sâu sẽ đạt sâu xa, tức là có thể minh tâm kiến tánh,
đoạn Hoặc chứng Chân. Người căn cơ thiên bẩm nông cạn
sẽ đạt được nông cạn, cũng có thể cải ác tu thiện,
mong thành thánh, thành hiền. Ấy là do Như Lai lập giáo, tuy
chánh yếu vì lẽ xuất thế, nhưng tùy thuận cơ nghi nên khéo
léo khuyên dụ dần dần. Vì thế, đối với đạo xử thế
cũng phát huy trọn vẹn, chẳng sót mảy may điều gì. Gặp
cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh kính, em nhường, chồng
xướng, vợ theo. Phàm hết thảy đạo luân thường hằng ngày
trọn chẳng khác gì đạo Nho đã dạy. Điểm khác biệt là
trong mỗi pháp đều dạy nhân quả ba đời, thiện ác báo
ứng, khiến cho con người giữ tấm lòng kính sợ, chẳng dám
vượt phạm, dẫu ở trong nhà tối phòng kín vẫn thường
như đối trước Phật, trời. Dẫu là phường tham tàn bạo
ác trọn không có lòng tin, nhưng do nghe chuyện nhân quả báo
ứng lâu ngày, tâm chúng cũng ngầm bị chế phục, cũng chẳng
đến nỗi mười phần tàn khốc.
Xem thời Liệt Quốc, giết người để tuẫn táng, càng giết
nhiều càng vinh. Đến khi Phật giáo truyền sang Đông, phong
tục này bèn bị diệt là đủ thấy vậy! Thấm sâu vào con
người, lợi ích rộng lớn, ví như mặt trời sáng rực giữa
trời, dẫu kẻ mù từ lúc mới sanh vẫn đều được an lạc;
ánh dương xuân chiếu xuống đất, mầm đã bị thiêu cũng
được sanh thành. Quả thật: “Nếu Như Lai không xuất thế,
vàn muôn đời như đi trong đêm tối. Nếu Phật pháp lưu thông,
trời người đều có chỗ nương tựa”. Giáo pháp truyền
sang Đông Chấn[15] gần hai ngàn năm, trong thời gian ấy những
bậc thông minh duệ trí, lập nên sự nghiệp lòa trời rợp
đất, học thức thông trời thấu người, tiết tháo át gió
mây, không ai chẳng sùng phụng, hộ trì, cực lực lưu thông,
chẳng tiếc tiền của lớn lao tạo dựng chùa tháp. Là vì
về mặt ngầm thì đạo Phật giúp cho việc trị đạo, về
mặt rõ ràng là làm cho dân tình được yên, khiến cho dân
ngày càng hướng về điều lành mà chẳng hay biết duyên do.
Vì thế, xưa nay những bậc lỗi lạc không ai chẳng lưu thông
Phật pháp để làm nền tảng khiến thiên hạ thái bình, muôn
nước đều được yên ổn.
Thành
phố Cáp Nhĩ Tân tỉnh Cát Lâm hẻo lánh chốn biên thùy, xưa
kia chỉ là vùng đánh cá của Trung Hoa và Nga mà thôi! Từ
khi đường sắt được mở, bèn trở thành một địa điểm
giao thông trọng yếu giữa Âu và Á, muôn thương nhân như
mây tụ về, các hãng la liệt như sao. So với Bắc Kinh, Thiên
Tân, Thượng Hải, Vũ Hán, không kém cạnh cho mấy! Thế nhưng
hoàn toàn chẳng có chùa, miếu, cao tăng chẳng đến trụ tích[16],
kinh điển chưa lưu truyền, nhân dân không có duyên để tu
tập, bồi dưỡng. Cục trưởng giám sát đường sắt Trung
Đông là ông Trần Phi Thanh, xưa đã gieo cội lành, dốc lòng
tin vào Phật thừa, muốn khiến cho mọi người cùng sống
ở vùng Cáp Nhĩ Tân, Hắc Long Giang, đều được tắm gội
pháp hóa của Như Lai, nên bèn hướng về cục quản trị đường
sắt Trung Đông, xin vài mẫu đất, muốn dựng một tùng lâm
thập phương, đặt tên là Cực Lạc, hòng hoằng truyền Phật
pháp, giúp cho tín ngưỡng. Những lãnh tụ của hàng thân sĩ,
thương nhân như ông này, ông nọ, mấy mươi người không
ai chẳng có lòng thành tựu cho mình, thành tựu cho người,
dốc lòng hành tự lợi, lợi tha, hiệp lực giúp đỡ cho việc
này mau được thành công. Quy mô kiến trúc chùa đều phỏng
theo quy cách những ngôi đại tự trong nội địa. Pháp sư
Đàm Hư[17] bác học đa văn, thông hiểu kinh giáo sâu xa, chí
thiết tha hoằng pháp lợi người, nên được mời làm Trụ
Trì. Mong sau khi chùa này được thành lập xong sẽ giảng kinh
suốt năm, ngõ hầu nhân sĩ đến Cáp Nhĩ Tân đều biết đạo
tu thân yên đời và pháp liễu sanh thoát tử, kèm thêm mở
liên xã, kế thừa di phong của Lô Sơn, mở ra nơi chốn đọc
kinh, thấu hiểu tột cùng bí yếu tu trì.
Nhưng
xây dựng từ nơi đất trống và hoằng pháp lâu dài, sự
thể rất lớn, phí tổn rất nhiều. Do vậy, khẩn thiết mong
những bậc trưởng quan đang cai trị, những phú thương, đại
thân sĩ và hết thảy hàng thiện tín, ai nấy đều phát Bồ
Đề tâm, hành phương tiện sự, mở kho báu, vun bồi ruộng
phước, quyên tiền góp gạo, lần lượt khuyên bảo, quyên
mộ, ngõ hầu điện báu mênh mông sớm ngày thành tựu, mãn
nguyệt kim dung[18] thường trụ bao kiếp, cao tăng đến đây
ở lại, kinh điển lưu thông, liên xã mở, tông phong Tịnh
Độ chấn hưng, kinh giáo được tuyên giảng khiến cho thuyền
bè [cứu độ] trong biển khổ được tồn tại mãi. Từ đấy,
con người cẩn thận tam nghiệp, nhà nhà chăm lo Thập Thiện,
đè nén hung tàn, bỏ giết chóc, đồng chứng cảnh nhân từ,
sống thọ, tín nguyện niệm Phật, cùng sanh cõi Cực Lạc.
Sẽ thấy hàng thiện sĩ xuất tiền của thường được Phật
trời phù hộ, tai chướng ắt băng tiêu, cát khánh (điều
tốt lành, may mắn) như mây nhóm, thân tâm yên vui, thanh thản,
cửa nhà yên tịnh, dư dật, sống lâu, mạnh khỏe, bình an,
hiện đời ngũ phước nườm nượp, chức tước tăng cao,
hậu duệ được hưởng trăm điều lành như đã nói trong
bài Y Huấn[19].
6.
Sớ duyên khởi thành lập liên xã chùa Di Đà tại Hàng Châu
Nhất
niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh và chư Phật tương
đồng, nhưng suy nghĩ, xử sự hoàn toàn khác với chư Phật.
Là do lẽ gì vậy? Ấy là do mê tánh đức sẵn có, bèn lầm
lạc xuôi theo trần lao, khiến cho Giới - Định - Huệ không
vướng mắc vốn sẵn có trong tánh bị biến thành tham - sân
- si nhiễm ô nơi cảnh, tạo ra những chuyện giết - trộm
- dâm tranh chấp nơi sự. Do vì lẽ đó, luân hồi lục đạo,
chịu các nỗi khổ cùng cực trải kiếp dài lâu, không thể
thoát được. Đức Đại Giác Thế Tôn thương xót, khởi Vô
Duyên Từ, vận lòng Bi Đồng Thể, thị hiện sanh trong thế
gian, thành Đẳng Chánh Giác, thuyết pháp bốn mươi chín năm,
giảng kinh hơn ba trăm hội. Trong khoảng thời gian ấy, do căn
cơ [khác nhau] nên giáo pháp sai khác, pháp do duyên mà khác
biệt. Đại - Tiểu, Thiên - Viên, Quyền - Thật, Tiệm - Đốn,
khiến cho ai nấy tùy theo cơ nghi[20] đều được lợi ích.
Trong ấy, nếu cầu lấy pháp độ khắp ba căn, gồm thâu lợi
- độn, hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít được hiệu
quả nhanh, chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà được dự vào Hải
Hội, ngay trong một đời này nhất định thoát khỏi luân
hồi, thì không gì thù thắng siêu tuyệt bằng tín nguyện
niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Do vậy, các kinh Đại Thừa
như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v… các đại Bồ Tát như Văn Thù,
Phổ Hiền... các đại tổ sư như Mã Minh, Long Thọ… đều
cực lực tán dương, khuyên khắp [mọi người] vãng sanh.
Đến
khi đại giáo truyền sang Đông, Viễn công đại sư ẩn cư
tại Lô Sơn, sáng lập Liên Xã, hoằng thông pháp này. Thoạt
đầu, lúc kết xã, cao tăng, đại nho dự vào hội là một
trăm hai mươi ba người. Nếu tính suốt cuộc đời Ngài, thì
trong hơn ba mươi năm, những người gia nhập liên xã niệm
danh hiệu Phật được tiếp dẫn vãng sanh nhiều không biết
bao nhiêu mà kể! Từ đấy trở đi, đời đời có bậc cao
nhân hoằng dương Liên tông, dẫn dắt lợi lạc hàm thức.
Đầu đời Tống có Vĩnh Minh đại sư trụ trì Tịnh Từ (chùa
Tịnh Từ thoạt đầu có tên là Vĩnh Minh), tu trọn vạn thiện,
riêng xưng tán Tịnh Độ. Ngài sợ kẻ học chẳng biết cội
nguồn của Phật lực và tự lực bèn soạn Tứ Liệu Giản
để làm kim chỉ nam, ngõ hầu thượng trung hạ căn dù thánh
hay phàm đều có cái để noi theo. Nếu không phải là Di Đà
hóa thân, dễ đâu được như vậy! Sau đấy có Tỉnh Thường
pháp sư, nhằm vào đời Tống Thái Tông và Tống Chân Tông,
trụ trì chùa Chiêu Khánh, hâm mộ di phong Lô Sơn, bèn kết
Tịnh Hạnh Liên Xã, mà ông Văn Chánh Công Vương Đán là người
quy y đầu tiên, trở thành người đề xướng, hướng dẫn.
Những quan to chức cả, học sĩ, đại phu xưng là đệ tử
dự vào liên xã, hơn một trăm hai mươi người. Hàng sa-môn
có đến mấy ngàn, còn những hạng thứ dân không thể ghi
chép nổi.
Cuối
đời Minh, đại sư Liên Trì sau khi tham Thiền đại ngộ, bèn
tận lực tu Tịnh nghiệp, trùng hưng chùa Vân Thê. Do pháp
khế lý khế cơ không gì hơn được Tịnh Độ nên Ngài bèn
viết Di Đà Kinh Sớ Sao, phát huy chỉ thú thật sâu. Tông phong
Tịnh Độ được chấn hưng lớn lao, suốt đời Ngài bi kính
song tu[21], Sự - Lý bất nhị. Do vậy, gương cao đẹp kiêng
giết, phóng sanh, giúp kẻ côi cút, lợi lạc cõi âm của Ngài
được trong nước lẫn ngoài nước kính ngưỡng suốt cả
mấy trăm năm. Trong thời Ung Chánh đời Thanh, Tỉnh Am pháp
sư trụ trì chùa Phạm Thiên[22], hoằng dương xiển phát Tịnh
Độ chẳng tiếc sức. Bài Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của
Ngài quả thật đã tranh sáng cùng nhật nguyệt, thọ ngang
với hư không.
Do
vậy, tâm quang của chư Tổ tỏa sáng, nhân sĩ Hàng Châu đa
phần đều tin tưởng, hướng về. Lại do nước non xinh đẹp,
cao nhân nẩy sanh đông đảo, con người tụ hội đông đúc,
nên nhiều bậc tri thức trong pháp môn cũng đến ở lại.
Vì thế, pháp hóa hưng thạnh, trỗi hơn mọi xứ. Địa linh
nhân kiệt, pháp nhờ vào duyên mà hưng khởi, lòng tin chẳng
phải là nói xuông. Đến đầu thời Quang Tự, Ngọc Phong pháp
sư sáng lập chùa Di Đà để làm đạo tràng Tịnh Độ, khoét
núi khắc kinh, hoằng dương Tịnh Độ. Tuy đạo đức chẳng
dám sánh bằng chư tổ như Vĩnh Minh, nhưng thệ nguyện hoằng
thâm, lời lẽ thống thiết, chẳng thẹn là bậc tạo ảnh
hưởng, dắt dìu trong Tịnh Độ, là bậc tri thức trong pháp
môn. Kế thừa quá khứ, chỉ dạy tương lai, quả thật công
lao ấy chẳng cạn nhỏ.
Về
sau, đất nước lắm nỗi gian truân, không người trụ trì,
đến nỗi suy sụp sát đất. Mấy năm gần đây, tầm mắt
của mọi giới được rộng mở, phàm những ai có chí học
thánh, học hiền không ai chẳng nghiên cứu Phật học, tu trì
Tịnh nghiệp. Những vị cư sĩ như ông X…. chẳng nỡ để
đạo tràng bị chìm lấp mãi, cùng suy cử Trí Huệ pháp sư
làm trụ trì, ngõ hầu đề xướng Liên tông, lợi lạc khắp
hết thảy. Thầy Trí Huệ có tâm tự lập, lập người, tự
lợi, lợi tha, ngửa trông theo đường lối tu trì trước kia,
đặc biệt mở ra liên xã. Mỗi tháng, vào sáu ngày chay, cử
hành một lần. Người có tín tâm đồng đến niệm Phật.
Niệm xong được một chốc bèn cung thỉnh thầy Trí Huệ,
hoặc những bậc tri thức khác, hoặc hàng cư sĩ thông hiểu
Phật pháp thăng tòa diễn giảng hết thảy lý sự trong pháp
môn Tịnh Độ, để cho ai nấy đều khắc phục tập khí,
tăng trưởng tín tâm, quả thật là một việc tốt đẹp.
Quang và thầy Trí Huệ chí đồng đạo hợp, nên thầy bèn
ủy thác Quang trần thuật duyên khởi để khuyên hết thảy
đại chúng.
Thiền
sư Trường Lô Trách đời Tống, hâm mộ Lô Sơn liên xã nên
lập ra Liên Hoa Thắng Hội, trong mộng cảm được hai vị
Bồ Tát Phổ Hiền, Phổ Huệ xin được ghi danh. Do đó, biết
rằng hội này được gọi là hội pháp thí tối thắng. Phàm
những ai nhập hội, đều phải gắng công. Vả nữa, con người
gần đây đa phần chuộng hư danh, chẳng tu thật hạnh. Miệng
tuy niệm Phật, tâm trái nghịch Phật. Ví như thuốc và chất
kỵ thuốc đều uống hết, làm sao lành bệnh cho được! Ắt
phải niệm niệm khắc phục, đối trị tập khí của chính
mình, tâm tâm ức niệm hồng danh Di Đà. Phàm có những ý
niệm chẳng phù hợp với Phật thì phải tự trách rằng:
“Ngươi là người niệm Phật cầu sanh Tây Phương, sao lại
khởi lên ý niệm ấy?” Chánh niệm vừa khởi thì tà niệm
tự tiêu, quyết chẳng cho nó tồn tại trong khoảnh khắc,
phải làm sao cho trong tâm sạch sẽ không tỳ vết, không nhơ
bẩn như tịnh lưu ly, bên trong đựng bảo nguyệt. Đừng làm
các điều ác, vâng làm các điều thiện, tín nguyện trì danh,
quyết định cầu sanh thì mới là người thật sự tu Tịnh
Độ. Nếu tâm có một niệm cầu phước báo trời người
trong đời sau thì tuy tu trì tinh thuần vẫn gọi là “trái
nghịch Phật giáo”. Tuy gieo thiện căn, nhưng liễu sanh thoát
tử vẫn còn dài lâu lắm, chẳng đáng buồn ư? Tuy đoạn
này chẳng ăn nhập gì đến duyên khởi, nhưng quả thật là
nghĩa lý tu trì trọng yếu, nên viết lẫn vào đây!
7.
Sớ trùng tu bảo tháp của Vinh Quốc Thiền Tự ở Nam Cao Phong,
Hàng Châu (viết thay cho thầy trụ trì Chấn Cơ)
Đấng Đại Giác Thế Tôn thương các chúng sanh mê mất diệu
tâm vốn có, luân hồi sanh tử, nên thị hiện sanh trong thế
gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy theo căn tánh của chúng sanh
mà nói diệu pháp, khiến cho mọi loài hữu tình đều được
lợi lạc. Đến khi xong việc, bèn thị hiện diệt độ. Lại
do bi tâm vô tận nên đặc biệt nát toàn thân thành tám hộc
bốn đấu xá-lợi, phân bố trong cõi trời, nhân gian, để
làm nhân duyên vô thượng chẳng thể nghĩ bàn bậc nhất cho
chúng sanh vị lai được diệt tội gieo phước, thoát ly luân
hồi, vượt thoát sanh tử cho đến thành Phật. Do vậy, những
ai có được xá-lợi Phật không ai chẳng dựng tháp báu cao
vút để cất giữ, khiến cho cả mình lẫn người, u lẫn
hiển cùng được tiêu túc nghiệp, cùng gieo thiện căn.
Nam
Cao Phong là danh sơn thuộc Tỉnh Hội - một thị trấn lớn
của tỉnh Chiết Giang. Từ chân núi lên đến đỉnh hơn một
ngàn sáu trăm trượng, lên đỉnh nhìn ra xa, Trường Giang như
một dải thắt lưng, Tây Hồ như cái chén. Nhìn trọn vẹn
vẻ đẹp của hồ lẫn núi, bậc khoát đạt ưa thích. Đứng
sóng đôi cùng ngọn Bắc Cao Phong, cách nhau hơn mười dặm.
Thế núi trùng điệp, quanh co uốn lượn. Hình thế núi cao
ngất, lại hay có mưa, nên trên đỉnh thường có mây phủ.
Núi cao ngất lẫn vào trong mây, có lúc lộ ra hai chóp núi,
trông xa như được cắm vào mây. Do đó, được gọi là Song
Phong Sáp Vân (hai ngọn núi cắm vào mây), là một trong mười
cảnh của Tây Hồ.
Trong
niên hiệu Thiên Phước (936-942) của nhà Thạch Tấn[23] thời
Ngũ Đại; khi ấy, Chiết Giang thuộc về xứ Ngô Việt, có
Phạm tăng từ Tây Trúc đến đây, lên ngọn Nam Cao Phong, trông
xa không ngằn mé, bèn vui vẻ nói: “Nơi đây có thể lập
làm chỗ biểu hiện hình tướng của đấng Đại Giác Thế
Tôn khiến cho những người trong bốn phương dõi nhìn cùng
gieo thiện căn”. Do đó, Sư bỏ ra một viên xá-lợi, gởi
cho vị tăng có đạo đức trọng vọng là Đạo Viên, bẩm
với quốc chúa xứ Ngô Việt là Văn Mục Vương[24] lập bảo
tháp, cao bảy tầng, rộng mười trượng, quy mô kiểu cách
tinh diệu tuyệt luân. Dưới chân tháp lập một ngôi chùa,
đặt tên là Vinh Quốc, coi việc xá-lợi của Như Lai truyền
đến là điều vinh dự, vui mừng cho đất nước. Trải các
triều Hán, Châu[25], Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho đến ngày
nay, đã tròn một ngàn năm, sửa cũ xây mới không phải chỉ
một lần.
Hiện
thời bảo tháp hư nát, chỉ còn một tầng, tự viện đổ
nát gần hết, mấy gian nhà nát không che được mưa gió. Vị
trụ trì trước đây không chịu nổi khổ đã bỏ đi. Gần
đây, Chấn Cơ tôi đến làm trụ trì, hầu hạ nhang đèn.
Trộm nghĩ tiền nhân dựng tháp vốn là để gieo phước cho
quốc dân, nay đã hư nát gần hết, nỡ nào để cổ tích
mất đi, làm tổn hại thắng cảnh Tây Hồ, bỏ hoang ruộng
phước của chúng sanh ư? Mắt nhìn lòng đau, chẳng thể yên
tâm được! Tính khởi công sửa chữa, tận lực trùng tu.
Lại do cách kiến tạo của tiền nhân khó thể tồn tại lâu
dài, nay không thể không suy nghĩ dự phòng cẩn thận từ trước.
Ấy là vì cổ nhân dựng tháp nhằm để chứa xá-lợi của
Như Lai, khiến cho kẻ ở xa ngưỡng vọng, người ở gần
lễ bái đều trồng thiện căn, cùng được giải thoát, nên
bên trong tháp lại tạo đường đi quanh co, uốn vòng từ thấp
dần lên cao cho đến tận đỉnh. Bốn mặt đều trổ cửa
sổ để nhìn ra bốn phương, không gì chẳng nhằm làm cho
chúng sanh hiểu rõ “muốn đạt được Phật Quả, thì phải
giẫm trên Thật Địa[26]; đoạn ác tu thiện từ phàm đến
thánh tăng tiến theo từng bậc”. Thân đã Đăng Địa (dự
vào những địa vị thuộc Thập Địa) thì mới tự có thể
vĩnh viễn đoạn phàm tình. Do vậy, thấy thấu suốt chân
không, nào khó chứng ngay vào Diệu Giác. Nhưng do chính giữa
trống rỗng nên tháp không kiên cố, chẳng tồn tại lâu dài.
Thêm
nữa, người vô tri không biết chỗ dụng ý của cổ nhân,
thường cứ thích lên cao để nhìn ra xa, thành ra khinh nhờn
thật sâu, mắc tội chẳng cạn. Nay dự tính bên trong tháp
không lập đường đi, làm toàn bộ tháp kín chắc, chính giữa
dựng trụ sắt để làm cái lõi cứng. Một là để khỏi
bị gió lốc, động đất xô đổ; hai là khỏi mắc tội lỗi
lên cao vui chơi. Như vậy thì chỉ được lợi ích, không bị
tổn hại. Ắt sẽ được Phật, trời chấp thuận, được
thiện tín tán thành vậy! Nhưng do công trình lớn lao, nếu
không có hơn ba vạn đồng sẽ chẳng thể hoàn thành được!
Do vậy, cung kính vẽ hình tháp, kính cẩn giãi bày lòng ngu
thành, khẩn cầu các đàn-việt mười phương cảm ân đức
Phật, phát Bồ Đề tâm, mở rộng kho báu, vun bồi phước
điền, khiến cho bảo tháp vòi vọi lại được chọc trời,
chúng sanh đông đảo lại được ngắm nhìn pháp tướng, diệt
tội nghiệp trong quá khứ, gieo thiện căn cho tương lai. Chỉ
thấy Phật, trời như mây che chở, tai chướng băng tiêu, thân
tâm yên vui, cửa nhà đón tiếp chuyện lành, tiền trình thuận
theo cõi lòng được xa rộng, quyết định đạt được những
điềm giàu, thọ, khỏe mạnh, yên ổn, những điều mừng
vui đều dồi dào, đức không ngằn mé, vĩnh viễn hưởng
phước quyền cao chức cả.
8.
Sớ mộ duyên làm đàn thủy lục vạn niên ở Phật Đảnh
Sơn
(Đây
là phần dẫn khởi, phần sau trình bày sự việc, lược đi,
không sao lục)
Trộm nghĩ lòng Từ vô duyên mới độ được hạng vô duyên,
việc phi thường ắt phải đợi người phi thường. Truy nguyên,
duyên khởi Thủy Lục là do đức Quán Âm hành phương tiện
khéo, hiện tướng Diện Nhiên để nhắc nhở A Nan cầu xin
đức Như Lai nói thần chú bí mật, khiến cho tất cả kẻ
đói khát đều được no đủ, khiến cho tất cả loài quỷ,
hữu tình trong địa ngục đều được sanh lên trời hay vào
nhân gian. Đến khi đại giáo từ phương Tây truyền sang, Lương
Võ Đế lên ngôi vua, kiền thành tu trì trai giới, cảm thông
u minh, mộng thấy cô hồn đến cầu xin cứu độ, bèn lập
pháp để cầu siêu cứu độ, rộng thỉnh cao tăng trong Thiền,
Giáo, xem khắp các áo điển Hiển - Mật, vận dụng tài thi
văn, soạn ra văn Thủy Lục, cậy vào chân thuyên của Tam Thừa
Tam Mật[27], nương theo oai lực của vạn đức vạn linh để
tiêu tan Hoặc nghiệp, diệt trừ tội khiên. Như sương mỏng
phơi trước mặt trời rạng rỡ, khác nào mảnh tuyết rớt
vào lò to, lợi ích khó nêu, công huân khôn lường. Những
kẻ thiện căn từ những kiếp trước [nay đã] chín muồi
liền bỏ cõi khổ mau siêu về lạc bang, dẫu cho căn cơ từ
đời trước hãy còn sống sít vẫn được thăng lên cõi trời
người, vĩnh viễn lìa khỏi địa ngục, ngạ quỷ. Do vậy,
đương thời cầu Phật chứng minh, ngọn đuốc này tàn bèn
tự nhiên có ngọn đuốc khác tiếp nối. Đời sau, y theo khoa
nghi này làm khuôn phép để siêu tiến cha mẹ thì cha mẹ liền
được độ thoát.
9.
Sớ quyên mộ tu bổ điện đường, tăng phòng và vét ao phóng
sanh của chùa Di Đà, núi Thạch Kinh, Hàng Châu
Danh lam thắng cảnh trong thiên hạ được truyền rộng trong
vũ trụ thì trước hết phải có chỗ, rồi sau đó là có
được người thì tên tuổi mới bắt đầu [nổi lên được].
Chỗ đất thù thắng ấy, ngọn núi nổi tiếng ấy thoạt
đầu phải nhờ vào bậc cao nhân đủ đức có thể làm gương
cho hiện tại, tương lai, khiến cho người ta mơ tưởng tới,
sanh lòng kính ngưỡng. Như Lô Sơn nổi tiếng nhờ Viễn Công,
Vân Thê được trọng vọng bởi ngài Liên Trì. Non nước Chiết
Giang đứng đầu thiên hạ, nơi ấy thường được gọi là
“Phật quốc”. Cao nhân, triết sĩ nối tiếp nhau xuất hiện,
đúng là “hễ địa linh ắt có nhân kiệt”.
Trong
niên hiệu Đồng Trị (1862-1874) đời Thanh, Diệu Nhiên pháp
sư chuyên tu Tịnh nghiệp. Do thấy kinh Di Đà độ khắp ba
căn, quả thật là nghĩa trọng yếu quy túc của kinh Hoa Nghiêm,
mà cũng là thuyền từ tối thắng trong đời Mạt Pháp, nên
Ngài tính tạc vào đá núi để kinh được lưu truyền vĩnh
cửu, ngõ hầu những ai thấy nghe trong hiện tại hoặc tương
lai đều gieo căn lành, nẩy sanh chánh tín, tu Tịnh nghiệp
vãng sanh Tây Phương. Nhân thấy khoảnh đất trồng cây tùng
phía Bắc thành ấy, vách đá chót vót, chất đá cứng rắn,
bèn mua khu đất đó, thuê thợ đục chạm, mời người viết
chữ đẹp là cư sĩ Trầm Thiện Đăng[28] đến viết.
Cư
sĩ bèn lên núi Đặng Úy[29], trước hết thỉnh bốn vị đạo
hữu phát Bồ Đề tâm ngày đêm niệm Phật để gia trì, chính
mình buông xuống vạn duyên, trai giới, tắm gội, kính cẩn
viết. Cứ hễ viết một chữ thì trước đó lễ Phật ba
lạy, trì Phật hiệu 108 lần, kết ấn trì chú Uế Tích Kim
Cang[30] bảy lần, quỳ gối viết. Ngoài việc viết kinh ra,
chỉ lắng lòng niệm Phật, chẳng bận tâm đến chuyện gì
khác. Do công đức Phật lực, pháp lực gia trì này mong hết
thảy mọi người hiện tại hoặc trong vị lai nếu thấy hay
nghe đều phát đại tâm Bồ Đề, mau thoát khỏi Sa Bà uế
khổ. Năm mươi ba ngày như thế, hơn một ngàn tám trăm chữ
mới viết xong. Chữ lớn độ mấy tấc, sắc sảo[31], cứng
cáp, tròn đầy, tươi đẹp, thật là hy hữu.
Thầy
Diệu Nhiên bèn cho khắc đá, đục sâu xuống tám phân, hằng
ngày trì Phật hiệu để gia trì. Việc còn chưa xong, Sư bèn
quy Tây, bạn của Sư là hai vị pháp sư Ngọc Phong và Thành
Phương vốn đã giúp đỡ từ trước, đến nay bèn tận lực
lo liệu. Kinh khắc trên đá xong xuôi, dùng vàng trang hoàng.
Phàm những ai trông thấy, không ai không nghiêm trang cung kính,
sanh ý tưởng hy hữu nên công đức của toàn bản kinh cố
nhiên đã in vào trong tám thức điền, tạo thành chủng tử
vãng sanh Tây Phương rốt ráo thành Phật trong vị lai. Như
vậy là lấy Phật lực, pháp lực và tâm lực của ba vị
pháp sư và Trầm cư sĩ làm tăng thượng duyên để hiển phát
công đức sẵn có nơi tánh của người thấy, kẻ nghe, khiến
cho họ cuối cùng được thọ dụng. Do vậy, các đàn-việt
thảy đều hoan hỷ, trước hết đua nhau cúng vàng, nên Phật
điện, phòng Tăng mỗi mỗi đều được hoàn chỉnh, nghiễm
nhiên trở thành một đại đạo tràng chuyên tu Tịnh nghiệp,
chẳng phải là “đất do người tạo thành” hay sao? Ngoài
cửa tam quan, đào ao để thả các loài động vật thủy tộc,
kế thừa hạnh từ bi của các vị Vân Thê, Thiên Thai, khiến
cho những loài sắp phải vào chảo vạc để thỏa bụng miệng
con người đều được bơi lội trong ấy, được sống hết
tuổi trời. Đấy chính là sách lược tốt đẹp cao cả nhất
để dứt đao binh, ngưng sát kiếp vậy!
Từ
khi kiến lập cho đến nay đã hơn năm mươi năm đều theo
quy củ đã định, không tu sửa gì thêm. Mấy năm gần đây,
trụ trì tài lực bạc nhược, khá khó khăn. Đã không có
điền sản để trang trải những nhu cầu của thường trụ,
lại không có đạo đức để cảm đàn-việt tin tưởng cúng
dường; đạo tràng này gần như diệt mất. Các cư sĩ lo lắng,
mùa Thu năm ngoái ép pháp sư Trí Huệ làm trụ trì. Sư riêng
mở liên xã để nối nghiệp ngài Ngọc Phong, mong cho tứ chúng
cùng niệm Di Đà, cùng cầu vãng sanh. Lại còn chuyển hóa
hết thảy đều cùng từ tạ ngũ trược, cùng lên chín phẩm
mới thôi.
Điện
đường, liêu xá đã hơn năm mươi năm chưa từng tu bổ. Lại
thêm, mùa Hạ năm nay có tai nạn gió lốc, nhiều chỗ bị
hư sụp, đổ nát. Nếu không sửa ngay, lâu ngày sẽ khó đủ
sức. Đã thế, ao phóng sanh nhiều năm không nạo vét, bùn
lầy đầy ứ, gây trở ngại lớn cho việc phóng sanh nên tính
khơi đào, nạo vét cho rộng hơn. Phía ngoài dựng lan can vây
quanh để gìn giữ, ngõ hầu có chỗ phóng sanh, mà kẻ đánh
bắt trộm cũng không làm gì được, khiến cho lòng từ bi
bố thí của Lưu Thủy[32], Trí Giả, Từ Vân, Liên Trì vĩnh
viễn không bị mất đi. Đấy chẳng phải chỉ hoàn toàn vì
sanh mạng loài vật mà quả thật là còn muốn khơi gợi lòng
nhân từ trong đời.
Nếu
như con người ai nấy đều không giết, thì thế đạo chẳng
thái bình hay sao? Nhưng do công trình lớn lao, phí tổn thật
nhiều, nên cậy Quang viết sớ, khẩn cầu khắp các đại
đàn-việt, ai nấy phát tâm Bồ Đề, cùng trồng nghiệp xuất
thế, bỏ ra một giọt nước trong biển báu, để tạo thành
cảnh phạm vũ trang nghiêm. Phải biết: Vừa khởi công xây
cất Kỳ Viên, cung điện trên thiên giới đã hiện[33]. Phật
niệm vừa phát khởi, hoa sen trong Tịnh Độ liền mọc. Những
con cá được ngài Lưu Thủy cứu vớt, đã trở thành mười
ngàn vị thiên tử. Những con vật được ngài Trí Giả thả,
đa phần là vương thần ngoài biển Đông. Xưa đã như thế,
nay há chẳng vậy? Do nhân như thế, cảm quả như thế. Nếu
chẳng tiếc của quý báu là tài sản chung của năm nhà[34]
để thành tựu sự nghiệp thù thắng hưng long Tam Bảo, ắt
thấy đời này vĩnh viễn hưởng nhiều phước, lâm chung cao
đăng chín phẩm, ngõ hầu phô bày trọn vẹn Phật tánh sẵn
có, mau chứng Vô Thượng Bồ Đề.
10.
Sớ quyên mộ xây bến thuyền cho Phổ Đà Sơn
Quán Âm đại sĩ thệ nguyện hoằng thâm, tế độ không ngằn
mé, là chốn nương náu không lường, trọn chẳng phan duyên
mà ứng hóa đến với mọi chúng sanh cơ cảm. Như một vầng
trăng in bóng khắp ngàn con sông, trụ trong Chân Tế nhưng ứng
khắp quần cơ, như ánh nắng Xuân tăng trưởng khắp muôn
cây cỏ. Vận lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên,
theo tiếng cứu khổ, hiện thân ứng hóa mọi chốn, tùy theo
từng loài mà hiện hình, nơi nơi làm bậc chỉ đường trong
nẻo mê. Ân bủa khắp muôn loài, thấm nhuần muôn dân, mong
hàm thức tự thấy được bầu trời chân tánh. Vì thế, không
cõi nào Ngài chẳng ứng hiện theo lòng cảm. Bởi muốn cho
chúng sanh có chỗ gieo lòng thành nên đặc biệt ứng tích
nơi Phổ Đà. Do vậy, bao triều đại khâm kính, cả cõi đời
tôn sùng. Điện Phật, lầu kinh cao ngất tầng mây, văn chương
trác tuyệt huy hoàng trong chốn biển cả. Theo phẩm Nhập Pháp
Giới trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử đi về Nam tham
học [với vị thiện tri thức] thứ hai mươi tám, tham học
với Quán Thế Âm Bồ Tát ở Bổ Đát Lạc Ca[35], chính là
núi này vậy.
Xưa
kia, khi đại giáo chưa truyền sang, đạo tràng chưa mở, tuy
phàm tục chưa đích thân thấy được từ dung, nhưng chân
tiên cố nhiên thường chiêm ngưỡng Phật nhật. Vì thế,
ông An Kỳ Sinh đời Tần, ông Mai Tử Chân đời Hán, ông Cát
Trĩ Xuyên đời Tấn[36] đều sống nhờ núi này để tu chân
dưỡng đạo. Đến đời Châu Lương[37] khai sơn, tứ chúng
mới biết quy hướng. Tâm báo đức thiết tha, chẳng sợ nhọc
nhằn trèo núi, vượt biển. Do gieo lòng thành ân cần, cho
nên phải thể hiện lòng cung kính bằng cách chiêm ngưỡng
thánh tượng, lễ dưới chân Phật. Nhưng do thuyền to chưa
có bến, thường phải dùng thuyền nhỏ để đón vào bờ,
hễ hơi có chút sóng gió bèn thành ra rất nguy hiểm. Người
trẻ mạnh còn được, chứ người già yếu, phụ nữ thật
rất đáng lo. Do vậy, không tu bổ bến thuyền thì quả thật
là một chuyện đáng tiếc lớn đối với tâm từ bi của
Đại Sĩ, mà cũng là chuyện thiếu sót lớn lao trong việc
báo đáp thiện tín.
Hễ
gió lớn vừa dậy thì sóng dữ ào ạt, đá to mấy vạn cân
khác nào viên thuốc bị xoay vần. Nếu chẳng bỏ vốn liếng
lớn lao, quyết chẳng thể tồn tại lâu dài, không bị hư
hoại được! Do vậy, gần đây nhiều người phát tâm nhưng
vẫn chưa thể thực hiện vì phí tổn quá lớn lao, sợ rằng
chẳng tồn tại lâu dài thì uổng phí tiền của, uổng công
nhọc nhằn tâm lực. Vị đại hộ pháp là ông Chúc Lan Phưởng
và con là Y Tài, nhiệt tâm làm chuyện ích lợi chung, lại
còn dốc lòng tin nơi Tam Bảo, thấy tình hình này lòng thương
xót, phát Bồ Đề tâm, tuy biết chẳng dễ tạo dựng, nhưng
cứ muốn thực hiện chuyện này. Nếu không mang lòng tự lợi,
lợi tha của đức Như Lai, mang tâm tự lập, lập người của
Khổng Tử há có thể dũng mãnh, kiên nghị như vậy ư?
Nhưng
công đức này nào phải chỉ có mấy mươi vạn đồng nên
sức họ không lo liệu được hết. Không những do sức mình
chẳng đủ, mà còn vì muốn cho người khác cùng làm lành
nên mới ủy thác cho Quang trình bày duyên khởi. Quang sống
ở núi này đã nhiều năm biết rõ việc này khó khăn, lại
may là ông Chúc có chí làm lợi cho người, đứng ra đề xướng,
ắt sẽ có những người có tâm lực, tài lực giống như
ông Chúc đua nhau phụ họa. Mọi người dốc chí sẽ thành,
khó gì chẳng thành tựu?
Huống
nữa khắp tứ chúng cùng kết tâm báo ân chí thành, khế hợp
nguyện lực từ bi của Đại Sĩ, sẽ thấy Hải Nhược, Phong
Bá[38] cũng trên là tuân theo thánh ý, dưới là thuận phàm
tình nên thường ủng hộ, khiến cho vĩnh viễn không còn phải
lo lắng nữa. Ngõ hầu sau này những người đến lễ Đại
Sĩ khỏi bị lo lắng không đáng, yên ổn lên được bờ kia.
Kinh dạy: “Nếu làm cho chúng sanh sanh tâm hoan hỷ thì chính
là làm cho hết thảy Như Lai hoan hỷ”. Vì thế, biết rằng:
Dùng một câu, hoặc dùng một đồng tán thành chuyện này,
thì hết thảy chư Phật đều cùng hoan hỷ, huống chi còn
làm nhiều hơn nữa! Nếu chỉ luận về công đức tối thiểu
thì ví như một giọt nước, gieo vào trong biển cả, sẽ rộng
sâu, dài lâu hệt như biển cả. Nếu nhiều hơn thì cần gì
phải luận nữa! Nay hãy dốc lòng đem tịnh tài gieo vào biển
giác thì biển khổ ắt sẽ khô cạn, biển phước rộng sâu,
cho đến khi nào biển giác tròn đầy, lặng trong mới thôi.
Khẩn cầu những người vào núi báu chớ trở về tay không;
người được tắm gội nơi pháp phải dốc lòng báo ân Phật!
11.
Sớ quyên mộ tu bổ điện Tam Thánh chùa Thượng Phương Quảng
núi Thiên Thai
Thiên Thai là đệ nhất danh sơn vùng Đông Nam, Thượng Phương
Quảng chính là cổ tự khai sơn bậc nhất của Thiên Thai.
Truy nguyên, kể từ khi tôn giả Đàm Du đời Tấn[39] dùng
thần thông đạo lực hàng phục sơn thần, khai sơn dựng nên
chùa này. Thoạt đầu chùa có tên là Thạch Kiều Tự, do chùa
ở gần bên cầu đá. Qua khỏi cầu đá có chùa Phương Quảng,
tức là thánh tự của năm trăm bậc Ứng Chân ở nhờ. Nếu
không phải là bậc Ứng Chân gần đạo sẽ không thể thấy
được. Ngài Đàm Du từng vào chùa này, thọ trai rồi ra, biết
đó là sự thị hiện vô ngại của các vị Ứng Chân. Về
sau, do hâm mộ thắng tích của những bậc Ứng Chân bèn gọi
chùa Thạch Kiều là Phương Quảng.
Chỗ
cao nhất trong chùa Phương Quảng là điện Tây Phương Tam Thánh,
trước kia là Niệm Phật Đường, ba gian chánh điện thờ
tượng Tam Thánh, để làm chỗ lễ niệm. Hai gian hai bên dùng
làm chỗ an trụ cho những vị Tăng niệm Phật. Trộm nghĩ
pháp môn vô lượng, đều phải đoạn hết Kiến Hoặc mới
có thể liễu sanh thoát tử, chỉ riêng pháp Niệm Phật chỉ
cần đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha thì đều
có thể nương vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Do vậy,
những bậc cao nhân lỗi lạc xưa nay không vị nào chẳng chú
trọng pháp này, tự hành, dạy người, ngõ hầu hết thảy
đồng nhân đều được siêu phàm nhập thánh ngay trong một
đời này.
Điện
Tam Thánh của chùa Phương Quảng trải qua năm tháng lâu xa,
rường cột mục nát, lẽ ra phải trùng tu từ lâu, hiềm rằng
trụ trì không đủ tài lực, đành phải đợi thời cơ. Đầu
tháng Ba năm nay, có một vị khách Tăng đến trụ nơi đó
niệm Phật, khá là siêng năng, khẩn thiết, đến đêm mồng
Bốn tháng Tư tự thiêu thân nơi điện Tam Thánh. Đến khi
mọi người trong chùa biết được thì ngọn lửa đã cháy
to, không cách gì cứu chữa được. Nhưng may là chỉ cháy
nơi ấy, những nơi khác không bị ảnh hưởng. Không biết
có phải là vị Tăng ấy muốn sửa mới điện ấy nên làm
như vậy? Hay là những vị linh thiêng nơi núi ấy muốn tu
bổ chùa nên mới xui khiến vị Tăng ấy làm như vậy? Hay
là Phật, Bồ Tát, năm trăm vị Ứng Chân muốn hoằng dương
pháp môn Tịnh Độ lớn lao để hết thảy các thiện tín
bỏ tiền của giúp trùng tu, cùng nhờ vào thiện căn này thoát
khỏi cõi khổ Sa Bà, sanh về Cực Lạc thế giới, mà xui khiến
vị Tăng ấy làm như thế?
Nay
Trụ Trì muốn trùng tu, nhờ Quang viết sớ, thuật chuyện
khai sơn dựng chùa và chuyện điện ấy đáng lẽ phải được
trùng tu từ lâu, gặp nhân duyên này, bèn mong hết thảy đàn-việt
nghĩ đến chỗ mầu nhiệm khế lý khế cơ của pháp môn Tịnh
Độ, lòng thành vì pháp tổn thân của vị Tăng ấy, ai nấy
đều bỏ ra tịnh tài giúp cho công việc thù thắng này. Công
đức ấy chỉ có Phật mới có thể biết được!
12.
Sớ quyên mộ tu bổ đại điện Bán Sơn Am ở Phổ Đà Sơn
(soạn giùm)
Viên Thông đại sĩ lưu dấu nơi Phổ Đà, thệ nguyện không
ngằn mé, từ bi khôn lường, hoàn toàn không phan duyên mà
ứng hiện khắp cả, như một vầng trăng in bóng nơi ngàn
con sông, trụ nơi Chân Tế nhưng ứng khắp quần cơ, như một
trận mưa thấm khắp vạn loài thảo mộc. Bán Sơn Am là chùa
phụ của chùa Pháp Vũ, là biệt viện của Đại Sĩ. Trống
khuya chuông sớm, tiếp nối nhịp điệu trong trẻo của chùa
Phổ Tế, cầm cành hoa phe phẩy, ngưỡng thừa tông phong chùa
Pháp Vũ, phù tá hai chùa, hoằng xiển Nhất Thừa. Do vậy,
mới gọi tên là Bán Sơn (lưng chừng núi). Kể từ khi sáng
lập đến nay, trải năm tháng đã lâu, sửa cũ dựng mới
đời nào cũng có người. Đến nay, mưa dầm, nắng hun, sương
ngấm, mây chưng, gần muốn sụp đổ, cần phải sửa chữa
gấp. Nạp tăng xuất gia nơi viện ấy, tham phỏng khắp các
phương, một buổi nọ đi rách cả giày cỏ, gót chân bết
đất. Do vậy, biết mệt quay về, quên duyên vui đạo, hưởng
gió trăng nơi cố hương, giữ gìn môn đình của Biệt Am.
Trông thấy hình thế của chùa nhức mắt đau lòng, thường
sợ kim dung khuất sắc, không tỏ lộ ánh sáng trong tam thiên.
Phổ Môn cửa gài, khó thể làm đường nẻo cho hai mươi lăm
[pháp Viên Thông].
Muốn
triệt để thay đổi để khôi phục diện mạo sẵn có của
chùa, hiềm rằng phí tổn lớn lao, bát rỗng, túi không, toan
giãi bày tấm lòng thành hèn kém, quyên mộ khắp các đàn-việt,
khẩn khoản mong hãy phát Bồ Đề tâm, hành phương tiện sự,
bỏ ra của quý báu sẵn có trong nhà để vun bồi công đức
chẳng mục nát. Lượng sức tùy duyên, thí tiền quyên thóc,
ngõ hầu điện báu thênh thang sớm có ngày thành tựu, mãn
nguyệt kim dung thường trụ cả kiếp. Khiến cho hàng truy tố
nam tham[40], phường Tăng tục đông thỉnh vào cửa quy mạng,
trông thấy hình tướng bèn phát tâm, hiểu rõ các tướng
lìa tướng, đích thân chứng diệu tướng Thật Tướng. Môn
nào cũng đều là Phổ Môn, vào thẳng pháp môn Vô Môn. Mở
mang phong thái huyền diệu vượt ngoài cả kiếp, giúp cho sự
bình trị trong cả vũ trụ. Công đức lợi ích ấy há có
thể hình dung bằng ngôn ngữ, văn tự được nổi ư?
13.
Sớ quyên mộ thiết lập đại đạo tràng Phổ Môn Vô Giá[41]
Phổ Độ Thắng Hội (viết giùm)
Quán Âm Đại Sĩ nương đại nguyện luân, độ thoát chúng
sanh, gọi là Phổ Môn vì pháp nào, sự nào cũng đều quy về
Thật Tướng, [do từ] căn nào, trần nào cũng đều chứng
Viên Thông, chẳng có pháp nào không thông Niết Bàn, do vậy
gọi là Phổ Môn. Lại khiến cho thượng trung hạ căn đều
theo đường trở về nhà, thiện, ác, hay trung dung[42], không
ai chẳng được bình đẳng nhiếp thọ. Không một ai Bồ Tát
chẳng rủ lòng từ cứu vớt, nên gọi là Phổ Môn. Nhưng
do chúng sanh ở trong mê, đối với những cảnh Căn, Trần
v.v… lầm lạc khởi Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp chịu khổ,
trải bao kiếp lâu xa, trọn chẳng có lúc ra. Do vậy, thiên
tai nhân họa càng ngày càng nổi lên, thủy, hỏa, đao binh,
liên tiếp xảy ra. Há phải đâu trời đối xử hung cuồng,
bạo ngược với dân, mà là do nghiệp xưa của dân chiêu cảm!
Nếu
không quy mạng Đại Sĩ thì khổ quả lại sanh ra khổ nhân.
Nếu khẩn cầu nơi tòa sen thì do thiện duyên sẽ đạt thiện
báo. Trộm nghĩ vùng chúng ta mấy năm gần đây nhiều lượt
bị ôn dịch, lại trải qua nạn đao binh, lại gặp nạn động
đất, lụt lội, hạn hán, châu chấu, sâu rầy thình lình
xảy ra. Do mấy lẽ ấy, người nghèo túng đến nỗi phải
chết đói thật rất nhiều. Dẫu có kẻ may mắn tránh khỏi
chưa bị tổn thương, cũng vẫn hoảng sợ, kinh hãi, như nuốt
phải gai, như ngồi trên đệm kim, ôm nỗi đau đớn, không
cách nào than van.
Những
vị tên X…. do vậy kính cẩn phát lòng kiền thành, quy mạng
Từ Phụ, mong diệt được tội khiên quá khứ, bồi đắp
sẵn nền phước cho tương lai. Tính trong năm đó, tháng đó,
sẽ thiết lập đại đạo tràng phổ độ thù thắng Phổ
Môn Vô Già bảy ngày bảy đêm tại Pháp Vũ Thiền Tự ở
Phổ Đà Sơn. Nhờ nhân tốt đẹp ấy, người mất sẽ được
Phật tiếp dẫn, thần thức siêu sanh về cõi trời Cực Lạc,
người còn sống sẽ được tắm gội oai lực của pháp, thân
hưởng phước khang ninh, túc nghiệp tiêu, đều được giải
thoát, mưu cầu mọi chuyện thuận lợi hanh thông, chuyển phiền
não bức bách thành tiêu dao tự tại, cha mẹ ông bà đã khuất
ai nấy đều được siêu thăng, con cháu đời sau của mọi
người thường hưởng cát khánh. Chỉ vì đạo tràng này phí
tổn rất nhiều, khẩn cầu những vị thiện tín trong ấp
ta cùng phát thiện tâm, cùng giúp cho sự thù thắng thì công
đức vô lượng vậy.
14.
Sớ khuyên đóng góp cho viện tàn tật ở Thượng Hải
Hết thảy chúng sanh tâm tánh vốn đồng, nhưng thân tâm thọ
dụng, khổ -vui khác biệt vời vợi là do đời trước tu trì
không giống nhau nên đến đời này cảm báo khác biệt. Vì
thế, kinh dạy: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả
thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Tạm dịch:
Muốn biết nhân đời trước thì [hãy nhìn vào] những gì
phải hưởng trong đời này. Muốn biết quả trong đời sau,
hãy nhìn vào những gì đang làm trong đời này). Sách Cảm
Ứng Thiên nói: “Họa phước không cửa, chỉ do con người
tự chuốc lấy. Thiện báo, ác báo như bóng theo hình. Do vậy,
người quân tử vui theo mạng trời, chẳng oán chẳng hờn,
chỉ tu đức mình. Chỉ cầu nhiều phước để mong tiêu diệt
nghiệp cũ, vun bồi quả báo cho tương lai”.
Kẻ
đáng thương xót nhất trong cõi đời không gì bằng kẻ bần
cùng không cơm áo, mù lòa, tàn tật. Cùng là con người, người
ta mắt sáng, thấy rõ hết thảy, còn những kẻ ấy tuy cùng
ở dưới ánh sáng mặt trời rực rỡ, khác gì ở trong nhà
tối, hang thẳm. Người ta ai cũng tay chân vẹn toàn, tùy ý
làm lụng, còn họ chi thể tàn khuyết, chuyện gì cũng bất
tiện. Người như vậy lại còn không có gia đình để nương
thân, không cơm áo để nuôi mạng. Bọn họ cùng do cha trời
mẹ đất sanh ra, dĩ nhiên họ là ruột thịt của chúng ta.
Chúng ta may được cha trời mẹ đất che chở, cảnh ngộ còn
khá hơn một chút. Nếu chẳng lập phương cách khiến cho thân
họ có chỗ gởi gắm, tâm có chỗ nương tựa, ngõ hầu túc
nghiệp tiêu diệt, quả báo đời sau thắng diệu, thì là đã
đánh mất cái tâm sanh trưởng bình đẳng của cha trời mẹ
đất, lại còn phụ bạc ý niệm cha trời mẹ đất đã ban
phước lạc, an vui cho chúng ta. Huống hồ rộng thí giúp đỡ
mọi người, yên già, lo trẻ, xem dân như người thân, thi
ân chẳng nói, cổ thánh tiên hiền không vị nào chẳng đề
xướng tận lực thực hành để hậu thế noi theo. Há có nên
chẳng thấu hiểu tâm của thiên địa hiền thánh để hành
cái đạo “dùng lòng nhân đối xử với mọi người”, lại
coi thường gạt qua một bên ư?
Do
vậy, Nhất Hanh Vương cư sĩ riêng phát đại tâm, tụ họp
những người cùng chí hướng, lập ra viện tàn tật ở vùng
phụ cận trạm xe phía Nam Thượng Hải, cho những người tàn
tật không có nhà cửa để quay về ấy được sống yên trong
đó, được chu cấp cơm áo cho đến hết đời. Với những
người chân tay chẳng vẹn toàn, sẽ phái người chăm sóc.
Những người có mắt để nhìn, có tay làm lụng được, bèn
tùy theo khả năng của người ấy, cho làm các nghề nghiệp
để bù đắp đôi chút vào chi phí. Lại thỉnh người thông
đạt Phật pháp, cách vài ngày đến đó vì họ diễn nói
pháp sửa lỗi hướng thiện, dứt lòng tà, giữ lòng thành,
tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, ngõ hầu bọn
họ hiểu rõ tiền nhân hậu quả, quyết tu đức mình, nhất
tâm niệm Phật để cầu vãng sanh hòng vĩnh viễn lìa khỏi
cái khổ sanh tử luân hồi trong Sa Bà, thường hưởng niềm
vui thường - lạc - ngã - tịnh nơi Tịnh Độ. Vì những người
ấy lo toan có thể nói là khẩn thiết, châu đáo đến mức
cùng cực không chi hơn được nữa! Nhưng số người thì đông,
chi phí quả thật rất nhiều, hoàn toàn cậy vào những người
giàu có cùng phát lòng Bi Đồng Thể, quyên ra vô tận bảo
tạng giúp cho nỗi lo lắng sanh thành dưỡng dục của thiên
địa, bồi đắp Pháp Thân trang nghiêm của chính mình thì
thật là may mắn lắm thay!
15.
Sớ quyên mộ tu bổ Cảnh Đức Thiền Tự núi La Hán, Vĩnh
Gia
Phật pháp thâm diệu, phàm tình chẳng thể suy lường được
nổi. Nếu chẳng phải là thánh nhân có đại trí huệ, đại
biện tài, đại thần thông mà muốn giáo hóa, dẫn dắt kẻ
ngu tục cùng hướng về chánh pháp, bỏ đi kiến giải hèn
kém, câu nệ, hư huyễn, mở mang chánh tri kiến sẵn có nơi
tánh thì ai nấy đều bỏ tiền của trong nhà để sáng lập
phạm-sát ngõ hầu hoằng Tông diễn Giáo, làm đèn sáng trong
đêm dài, tập đạo tu tâm, làm chiếc bè to trong biển khổ,
thật chẳng phải là chuyện dễ dàng! Chùa Cảnh Đức ở
núi La Hán tại Vĩnh Gia do tôn giả Đằng La[43] tạo ra vào
thời Đường. Theo tự chí, tôn giả chẳng biết là người
như thế nào, vào năm Hội Xương thứ hai (842) đời Đường
Võ Tông, cưỡi gỗ vượt biển đến trước ty tuần giản[44]
ở Thụy An. Người trong ấp lấy làm lạ, mời Sư lên bờ.
Do vậy, dân chúng cả một vùng sùng tín, kính ngưỡng như
vị Phật sống. Do vậy, Sư bèn tùy cơ chỉ dạy, khiến họ
sanh chánh tín. Sư biết trước chuyện Đường Võ Tông sẽ
diệt pháp nên chuyện kiến lập phạm-sát đều tiến hành
thong thả, đến khi Trung Tông kế vị, Phật nhật lại sáng,
tôn giả mới giáo hóa, chỉ dạy khắp những thôn ấp thuộc
Ôn Châu cùng xây dựng phạm-sát gồm mười tám chỗ, có thể
nói là đại hoằng pháp hóa, làm phước điền cho chúng sanh.
Chùa Cảnh Đức ở núi La Hán là một trong số đó. Núi ấy
quanh co, cao ngất, đẹp đẽ, cảnh sắc thanh tịnh, u nhã,
là chỗ quan trọng đứng đầu của Vĩnh Gia, là khu vực linh
thiêng để tu đạo.
Chùa
ấy từ đời Đường đến nay đã hơn một ngàn một trăm
năm. Trong thời gian hoằng dương pháp hóa đó, cảnh chùa được
sửa sang cố nhiên không biết bao lượt. Nay đã lâu chưa được
sửa chữa, Phật điện, tăng liêu đổ nát gần hết. Thánh
tích của tôn giả sắp bị tiêu mất. Người trong ấp như
các vị Phan Giám Tông, Ngô Bích Hoa, Diệp Kiến Hùng v.v…
mấy mươi người lo lắng, cùng bàn tính cách phục hưng. Nhưng
vì thời cuộc khó khăn, bèn rút nhỏ quy mô, tính lập năm
gian Phật điện, tiền điện ba gian, liêu xá hai bên hơn mười
gian để những người đến lễ tụng nghỉ lại đều có
nơi chỗ. Mấy vị tỳ-kheo an trụ, cư sĩ tinh tu Tịnh nghiệp
thường sống nơi ấy, chuyên tu Niệm Phật tam-muội để mong
mình lẫn người cùng thoát Sa Bà, đồng sanh Tịnh Độ, làm
đệ tử Phật Di Đà, làm bạn bè tốt nơi Hải Hội.
Nhưng
do công trình rộng lớn, sức lực đơn độc khó thành, khẩn
cầu những vị thiện tín đàn-việt mười phương phát lòng
Bồ Đề, hành phương tiện sự, mở rộng bảo tạng, vun đắp
phước điền, khiến cho bảo điện mênh mông sớm có ngày
thành công, mãn nguyệt kim dung thường trụ muôn kiếp. Liên
xã mở ra, người thấy kẻ nghe đều được lợi ích, Tịnh
tông được xiển phát, Tăng - tục minh tâm, ắt thấy Phật
trời hộ trì như mây nhóm, cát khánh chen nhau đưa đến. Giàu,
thọ, khang, ninh, đời này được ngũ phước kín dầy, quan
cao tước cả, con cháu được hưởng trăm điều tốt lành
như đã nói trong bài Y Huấn.
16.
Sớ thuật duyên khởi thành lập liên xã chùa Thanh Liên ở
Lô Sơn
Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không,
nhưng toàn thể đại dụng đều ở trong một niệm tâm của
chúng sanh. Chỉ do mê chưa ngộ, nên đến nỗi trong chỗ vốn
không có sanh tử lại lầm chịu nỗi khổ luân hồi sanh tử.
Vì thế, đức Thích Ca Thế Tôn ta riêng rủ lòng ai mẫn, thị
hiện sanh trong thế gian để cứu vớt. Khi đó, Ngài vứt bỏ
vinh hoa nơi cõi nước, xuất gia tu đạo, thành Đẳng Chánh
Giác dưới cội Bồ Đề, muốn khiến cho hết thảy chúng
sanh đều triệt chứng tự tâm, viên thành Phật đạo. Do vậy,
Phật bèn tùy cơ thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc, để những
người thiện căn chín muồi mau chứng Vô Dư Niết Bàn, người
thiện căn chưa chín muồi tùy phần đều được lợi ích.
Thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội,
tuy là Đại - Tiểu, Quyền - Thật bất đồng, Thiên - Viên,
Tiệm - Đốn có khác, nhưng trong tâm Phật, không gì chẳng
nhằm truyền dạy thẳng vào giác đạo chính Ngài đã chứng.
Chỉ vì căn cơ đa phần chẳng phù hợp, nên không thể không
uyển chuyển lập phương tiện để nhiếp thọ, còn bổn hoài
xuất thế chưa thể nhanh chóng diễn bày.
Do
vậy, ngoài những giáo lý thông thường, Phật mở ra một
pháp môn đặc biệt, tức là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
khiến cho chúng sanh dù thánh hay phàm, dù ngu hay trí, đều
cùng trong đời này thoát lìa sanh tử, khiến cho những người
đã phá vô minh sẽ viên chứng Pháp Thân, người còn đủ
Kiến Hoặc cũng lên Bất Thoái. Công huân lợi ích ấy vượt
trỗi hết thảy giáo pháp suốt cả một đời, thật có thể
gọi là “giáo ngoại biệt truyền chí viên chí đốn”. Do
vậy, trong hết thảy kinh Đại Thừa không kinh nào chẳng hiển
phát, xiển dương, khen ngợi, chỉ dạy; hết thảy Bồ Tát,
tổ sư không vị nào chẳng y giáo phụng hành bởi lẽ pháp
này là đại đạo phổ độ chúng sanh của tam thế chư Phật,
là diệu pháp để viên chứng Phật Quả của chúng sanh trong
chín giới.
Đến
khi đại pháp truyền sang Đông, Viễn Công đại sư hoằng
dương pháp này đầu tiên tại chùa Đông Lâm ở Lô Sơn. Cao
nhân Tăng - tục khi ấy đều như mây nhóm lũ lượt kéo về
Lô Sơn ghi danh, pháp Tịnh Độ ai nấy đều kính ngưỡng tu
trì. Từ đấy về sau, tất cả Luật, Giáo, Thiền, Mật không
ai chẳng lấy việc cầu sanh Tịnh Độ làm bước cuối cùng
để phản bổn hoàn nguyên. Do vậy, Liên phong thổi khắp trong
nước, ngoài nước, pháp lợi trọn khắp cổ kim. Huống chi
lúc này nhằm đúng thời Mạt Pháp, con người căn tánh hèn
tệ, càng phải nên chuyên chú nơi pháp này để mong được
liễu thoát ngay trong đời này.
Cuộc
đất tối thắng ở Lô Sơn nhằm đúng ngay nền chùa Thanh
Liên. Chùa ngự cao trên đỉnh núi, hình thế giống như một
đóa sen tự nhiên. Vì thế, đại sư Hoàng Cốc đời Tấn
tiếp nối chí lớn của Viễn Công, lập chùa nơi đây để
xiển dương Liên Tông. Từ đời Tấn đến đời Thanh, hơn
một ngàn năm trăm năm, do cao nhân nối tiếp nhau trụ trì
nên liên phong thường được chấn hưng mạnh mẽ. Đến cơn
biến loạn Hồng Dương[45], đều thành tro bụi. Pháp đạo
suy vi, không người khôi phục, đến nỗi đạo tràng tuyển
Phật suốt hơn một ngàn năm rốt cục biến thành núi hoang,
chẳng đáng buồn ư!
May
còn có Diệu Bồi đại sư là cao túc đệ tử của Vi Quân
lão nhân, tận lực tuân theo lời thầy dạy, dốc chí tu Tịnh
nghiệp, riêng qua Hồng Loa tham học nhiều năm. Mùa Xuân năm
nay qua chơi Lô Sơn, đến chỗ nền chùa, thấy hình dáng như
đóa hoa sen, trước mặt lại nhìn ra thác nước Tam Điệp,
sau lưng dựa vào ngọn núi Ngũ Lão hùng vĩ, hai bên có hai
ngọn Sư Tử và Tượng Tỵ (vòi voi) để che chở. Đúng là
chốn Tịnh Độ đạo tràng trời xây đất dựng, chẳng nỡ
để bị chìm đắm mãi mãi, nên phát nguyện khôi phục để
hoằng dương Liên Tông, bèn bàn bạc cùng các đại cư sĩ
ở Thượng Hải, trước hết quyên được hơn một ngàn đồng
dùng để lập một tòa Niệm Phật Đường, vài gian tăng liêu
[làm chỗ] an trú cho vài người chân tâm tu đạo, sáu thời
hành đạo, nối tiếp khuôn phép thơm của Viễn Công. Đợi
sau này có đại công đức chủ sẽ tùy sức mở rộng ra thêm.
Do tài lực khó khăn, tu hành lại là chuyện gấp, nên không
thể không tùy phần tùy sức để mong tu trì đạt được
lợi ích, chẳng đến nỗi gây trở ngại cho Tịnh nghiệp
vậy.
Pháp
kết xã thì một là tuân theo quy củ đã thành lập bởi tổ
Huệ Viễn, bất luận Tăng - tục đều phải đầy đủ tín
nguyện chân thành, quyết định cầu sanh Tây Phương. Ai nấy
lại phải giữ trai giới, thanh tịnh thân - khẩu - ý nghiệp,
khóa tụng sáng chiều, ba thời niệm Phật, trừ khi có bệnh
và có việc chung ra, trọn chẳng được tránh né, kiếm cớ
thảnh thơi. Ngoài ra thì tùy ý lễ tụng, tọa thiền, cốt
sao đạt được lợi ích nơi đạo mà thôi. Chỉ có điều
không được học tập thi văn, xem lung tung sách vở thế tục,
cũng như chẳng được chuyện trò tạp nhạp lúc rảnh rỗi
kẻo uổng phí quang âm! Xưa Viễn Công kết xã có một trăm
hai mươi ba người thảy đều là bậc rường cột trong Phật
môn, là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong làng Nho. Nay thì căn tánh
con người hèn tệ, kém xa xưa kia, nhưng trong tâm vốn có Phật
tánh, cố nhiên pháp môn độ khắp ba căn xưa - nay chẳng khác.
Như vậy lý “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, sự
“nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” há chẳng
phải do tự mình tu, tự mình chứng hay sao? Vì thế, kính cẩn
soạn ra một chương đơn giản để khuyên lơn những người
cùng chí hướng.
Lại
mong các đại đàn-việt phát Bồ Đề tâm, cùng nhau hộ trì,
bỏ tiền, thí gạo, xoay vần khuyên bảo, quyên mộ, khiến
cho bảo điện thênh thang sớm có ngày được thành tựu, mãn
nguyệt kim dung thường trụ muôn kiếp. Liên xã hưng khởi,
tông phong rạng rỡ, chánh pháp thạnh, tai chướng ngầm tiêu,
sẽ thấy Phật trời hộ trì như mây nhóm, cát khánh tranh
nhau đưa đến, trong đời hiện tại sẽ hưởng ngũ phước,
lâm chung cao đăng chín phẩm. Như thế có thể gọi là bậc
đại trượng phu thật sự, là đệ tử Phật thật sự, trên
chẳng phụ công giáo hóa của chư Phật, dưới chẳng phụ
linh tánh của chính mình. Nguyện người thấy, kẻ nghe cùng
tu đạo này, để một truyền mười, mười truyền thành trăm,
cho đến khắp pháp giới thì thế giới thái bình, nhân dân
an lạc, khôn ngăn thơm thảo cầu chúc vậy.
17.
Sớ quyên mộ tu bổ điện Thiên Vương
và
lầu trống chùa Pháp Vũ núi Phổ Đà
Phổ Đà danh sơn là cõi đất thù thắng, nơi Đại Sĩ ứng
tích. Pháp Vũ Thiền Tự quả thật là đạo tràng cầu phước
cho quốc dân. Từ khi được sáng lập đến nay đã trải nhiều
năm lâu xa, sửa cũ đổi mới đời nào cũng có người. Hai
phen được vua ban tiền[46] [sửa chữa], vào đời Thanh trước
kia được hai phen sắc tu, quyên mộ khắp các duyên. Sau cơn
loạn lạc lại được tu tạo một lần nữa, khổ là ở giữa
biển cả, hơi muối, gió táp, xói mòn các vật. So với nội
địa càng bị hư mục nhanh hơn. Nay lầu trống, điện Thiên
Vương, kèo cột hư nát, chân cột mục ruỗng. Nếu chẳng
sớm lo liệu, ắt sẽ thấy bị sụp đổ rất nhanh.
Tuy
mang tên là Thiên Vương Điện[47], nhưng thật ra thờ pháp
tướng của đức Di Lặc. Từ tâm của ngài Di Lặc và Quán
Âm phù hợp nhau, tùy theo từng loài mà hiện hình, tầm thanh
cứu khổ. Lòng Từ lừng lẫy khắp đời này, lòng Bi thấu
đến mạt kiếp, làm chỗ nương tựa cho đời hiện tại,
làm Thế Tôn cho đời tương lai. Lúc này, vừa nhìn mặt liền
cười, để kết duyên hệ châu[48]; trong tương lai ba hội
Long Hoa cùng được thọ ký Vô Sanh. Ngài Di Lặc có nhân duyên
rất sâu với cõi đời. Nếu chẳng tu bổ làm sao thỏa được
lòng thành khẩn đối với bậc thánh linh, tiêu tai họa, dịch
lệ, tạo phước cho muôn dân? Nhưng vì công trình to lớn,
sức lực đơn độc khó thành; do vậy, giãi bày lòng ngu thành,
kính quyên mộ thập phương đàn-việt, khẩn cầu hãy phát
Bồ Đề tâm, hành phương tiện sự, mở rộng bảo tạng,
vun trồng ruộng phước, khiến cho bảo điện thênh thang sớm
ngày thành công, mãn nguyệt kim dung thường trụ vĩnh kiếp.
Ngõ hầu hết thảy ai đến đây đều lên địa vị Hoan Hỷ,
vào trong cửa lâu các[49], hiện đời khế hợp Phật tâm sâu
xa, tương lai cùng viên thành Chủng Trí, sẽ thấy Phật, trời
gia hộ như mây nhóm, cát khánh tranh nhau đưa tới, đời này
vĩnh viễn hưởng nhiều phước, sự tốt lành thấu mãi đến
con cháu.
18.
Sớ thuật duyên khởi mở Niệm Phật Đường chuyên tu Tịnh
nghiệp tại chùa Chân Như ở Gia Hưng[50]
Phật pháp rộng sâu, khác nào biển cả, dẫu là bậc Pháp
Thân đại sĩ vẫn chẳng thể tột nguồn thấu đáy được,
huống gì hạng phàm phu sát đất! Nhưng Như Lai do lòng đại
từ bi, muốn cho hết thảy dù thánh hay phàm đều cùng trong
một đời này thoát lìa sanh tử, nên đặc biệt mở ra pháp
môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Như kẻ thọt
chân yếu ớt, cả ngày khó đi được vài dặm, nếu nương
theo Luân Bảo của Chuyển Luân Thánh Vương chưa đầy nửa
buổi liền có thể đến khắp bốn đại bộ châu. Hai điều
này nhanh - chậm khác biệt một trời một vực!
Phàm
phu chưa đoạn Hoặc nghiệp, cố nhiên chẳng thể liễu sanh
tử. Nếu dùng tín nguyện niệm Phật, cảm Phật từ bi nhiếp
thọ liền ngay trong đời này vãng sanh Tịnh Độ, siêu phàm
nhập thánh, vượt lên địa vị Bất Thoái. So với những
kẻ chỉ cậy vào tự lực, tu Giới - Định - Huệ để mong
nghiệp tận tình không, liễu sanh thoát tử, thì chẳng thể
nào thí dụ, diễn giải để hình dung cho được! Do vậy,
những bậc cao nhân Tăng - tục các đời không vị nào chẳng
dùng pháp này để tự hành, dạy người, lấy pháp này làm
môn trọng yếu nhập đạo, làm đường tắt để thành Phật.
Chân
Như Thiền Tự từ khi được sáng lập đến nay đã h