Quyển
thứ hai
(Phần
3)
158.
Thư trả lời cư sĩ Hoàng Ngọc Như ở Sùng Minh
Nhận được thư, khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Pháp Trì Danh
là pháp thích ứng căn cơ nhất trong đời Mạt Pháp. Ngài
Thiện Đạo tuy sớ giải Quán Kinh, nhưng thật ra Ngài trọng
nhất hạnh Trì Danh. Chẳng thấy [đoạn văn Ngài viết]: “Chúng
sanh đời Mạt Pháp thần thức chông chênh, tâm thô, cảnh
tế, quán khó thành tựu. Đại Thánh bi mẫn, riêng khuyên chuyên
trì danh hiệu, bởi xưng danh dễ dàng, [niệm Phật] liên tục
bèn được vãng sanh” hay sao? Tuy có mười sáu hạnh (pháp
quán), nhưng hành giả tu tập phải hành từ pháp dễ tu trước,
hoặc là quán tướng Bạch Hào[1] của Như Lai, hoặc quán tưởng
pháp Tạp Quán thứ mười ba. Đến phần quán chín phẩm, chẳng
qua là để cho người ta biết nhân trước và quả sau của
hành nhân vãng sanh mà thôi. Chỉ mong hiểu rõ là được rồi,
thật ra không cần phải quán riêng phép này.
Quán
về mặt Lý không thể không biết, nhưng về mặt Sự, phải
từ từ hành. Nếu không hiểu rõ Lý, quán cảnh chẳng rành,
dùng cái tâm tháo động, bộp chộp để tu rất có thể khởi
lên ma sự. Khi quán cảnh hiện tiền, nếu tâm lầm lạc nẩy
sanh ý niệm vui sướng, thì cũng do vui sướng mà thành chướng,
rất có thể bị lui sụt công tu tập từ trước. Do vậy,
kinh Lăng Nghiêm nói: “Chẳng khởi tâm tưởng là thánh [cảnh]
thì gọi là cảnh giới lành; nếu tưởng là thánh cảnh bèn
vướng vào các tà”. Mong ông nhất tâm trì danh, bởi đây
là hạnh ngàn vạn phần ổn thỏa, thích đáng. Đợi đến
khi tâm đã quy nhất, tịnh cảnh sẽ tự hiện tiền. Tứ Thiếp
Sớ[2] bị [in chép] sai ngoa rất nhiều; hai mươi năm trước,
Quang đã từng giảo chánh đại lược. Năm ngoái, hòa thượng
Diệu Liên thuộc Quán Âm Am ở ngõ Dương Bì tại Nam Kinh muốn
khắc riêng bản ấy, sang năm chắc sẽ ra sách, xin hãy thỉnh
về xem.
Tùy
Tự Ý tam-muội[3] là hạnh cùng tu của ba căn thượng, trung,
hạ. Người niệm Phật tuy chẳng chuyên lấy pháp ấy làm
chủ, nhưng cũng không thể không biết. Biết pháp này thì
tâm Bồ Đề niệm Phật càng thêm thù thắng, bởi biết đi,
đứng, nằm, ngồi, ăn uống, nói năng, không lúc nào chẳng
phải là lúc tự lợi, lợi tha. Nhưng cần phải từ “không
làm các điều ác, vâng làm các điều lành, ăn chay, kiêng
giết” mà khởi sự thì mới là người thật sự niệm Phật
vậy.
159.
Thư trả lời cư sĩ Hà Huệ Chiêu
Nhận được thư, biết túc căn rất sâu, hạnh hiện tại
khá thuần, nên mới có các cảnh tướng thù thắng hiển hiện,
nhưng người đời nay quá nửa là chuộng thể diện, xây lầu
gác trên không. Tuy chỉ có một phần, nửa phần, lại nói
là có trăm ngàn vạn phần. Như trong cuốn sách của ông cư
sĩ X… nọ, những cảnh giới được thuật toàn là do ngọn
bút tạo ra, chẳng phải do tâm địa tạo thành. Cố nhiên
ông chẳng bịa chuyện, tôi thật chỉ sợ ông có tập khí
ấy thì lỗi hại chẳng nhỏ. Phật xếp vọng ngữ vào năm
giới căn bản, chính là để ngăn ngừa thói tệ này. Nếu
như thấy nói là không thấy, không thấy nói thấy thì thuộc
vào hạng vọng ngữ. Nếu xây lầu gác trên không, bịa nói
cảnh giới thù thắng, chính là phạm vào giới đại vọng
ngữ; chưa đắc bèn nói là đã đắc, chưa chứng nói đã
chứng, tội ấy còn gấp trăm ngàn vạn ức lần tội giết,
trộm, dâm! Người ấy nếu chẳng tận lực sám hối, khi một
hơi thở ra không hít vào được nữa liền đọa địa ngục
A Tỳ, bởi kẻ ấy hoại loạn Phật pháp, gây lầm lạc, nghi
ngờ cho chúng sanh.
Ông
phải rất thận trọng; thấy cảnh chỉ có một phân chẳng
được nói lên một phân mốt, cũng chẳng được nói chín
ly chín. Nói quá lên cũng là tội lỗi, mà nói giảm cũng là
tội lỗi. Vì sao vậy? Do hàng tri thức chưa đắc Tha Tâm Đạo
Nhãn, chỉ có thể dựa vào lời nói để phán định. Đem
cảnh giới ấy thưa cùng tri thức để chứng minh tà - chánh,
đúng - sai thì không có lỗi gì. Nếu chẳng vì để chứng
minh, chỉ muốn tự khoe khoang, cũng sẽ có lỗi. Nếu hướng
về hết thảy những người khác nói ra thì sẽ mắc lỗi!
Ngoại trừ chuyện cầu tri thức chứng minh ra, đều không
được nói. Hễ nói ra, sau này sẽ vĩnh viễn không thể đạt
được cảnh giới thù thắng ấy nữa. Cái ải lớn nhất
của người tu hành này trong giáo thuyết tông Thiên Thai đã
nhiều lần nói đến. Sở dĩ gần đây những người tu hành
phần nhiều bị ma dựa, đều là do tâm tháo động, vọng
niệm, mong cầu cảnh giới thù thắng. Đừng nói là cảnh
ma, dẫu cho cảnh ấy là cảnh thù thắng, vừa sanh tâm tham
chấp, hoan hỷ v.v… bèn bị tổn hại, chẳng được lợi
ích, huống chi cảnh ấy chưa đích xác là cảnh thù thắng
ư? Nếu người ấy có hàm dưỡng, không mang tâm bộp chộp,
vọng động, tâm không tham đắm, dù thấy các cảnh giới
cũng hệt như không thấy. Đã không sanh tâm hoan hỷ, tham đắm,
lại chẳng sanh tâm sợ hãi, kinh nghi, thì đừng nói là người
ấy sẽ được lợi ích khi cảnh thù thắng hiện, dẫu là
cảnh ma hiện cũng vẫn được lợi ích. Vì sao vậy? Do chẳng
bị ma chuyển nên có thể tiến lên.
Lời
này tôi chẳng thường bảo cùng người khác, chỉ vì ông
có chuyện ấy nên mới không thể không nói. Hình tượng Đại
Sĩ ông thấy được khi mới lễ Phật không đích xác, bởi
nếu thật sự là đúng thì sẽ chẳng vì ông nghĩ hình tượng
đó không phù hợp với Quán Kinh mà hình tượng ấy bèn ẩn.
Nhưng do đấy, tín tâm của ông càng tha thiết nên đó cũng
là nhân duyên tốt; tuy vậy, chớ nên thường mong được thấy
tượng, chỉ nên chí thành lễ bái mà thôi, để khỏi phải
lo lắng chi khác! Lúc ngủ thấy trước mắt có ánh sáng trắng
và khi lễ Phật thấy tượng Phật đứng lơ lửng trên hư
không tuy thuộc về thiện cảnh, nhưng chẳng nên tham đắm.
Từ rày, chẳng lấy đó làm điều mong mỏi nữa thì sẽ có
thể không hiện. Trộm xem căn tánh của ông, tợ hồ đời
trước đã từng tu tập Thiền Định, nên mới thường hay
có tướng ấy.
Đời
Minh, ngài Ngu Thuần Hy bế tử quan[4] tịnh tu trên ngọn núi
cao của núi Thiên Mục[5], lâu ngày, bèn có khả năng tiên
tri, đoán trước được trời sẽ âm u hay trong sáng, việc
họa - phước của người khác. Sư quy y với Liên Trì Đại
Sư, Đại Sư nghe chuyện, gởi thư cực lực quở trách, bảo
Sư đã lọt vào rọ ma; về sau, Sư không biết nữa. Nên biết:
Người học đạo phải biết chuyện lớn; nếu không, được
điều ích nhỏ nhặt ắt sẽ bị tổn hại lớn lao. Đừng
kể chi loại cảnh giới này, dẫu thật sự đắc Ngũ Thông
vẫn còn phải gác bỏ ra ngoài thì mới đạt được Lậu
Tận Thông. Hễ tham đắm sẽ khó thể tiến lên, rất có thể
bị lui sụt, không thể không biết!
Mộng
thấy vào Phật điện nhớ hai câu kinh văn cố nhiên là thiện
cảnh, nhưng hai câu kinh ấy lời lẽ thật minh bạch: “Quay
lưng với hư, nương theo đường giác. Quy chân, ngộ thường
không”, ý nói: Con người lầm tưởng các pháp thế gian là
thật, cho nên mê muội vào trong sanh tử. Nếu có thể xoay
trở lại, quán sát bản thể của pháp vốn là không thì sẽ
đi theo con đường giác, xuất mê nhập ngộ, quy Chân Đế,
ngộ Chân Thường Chân Không Thật Tướng. Cảnh ma và cảnh
thù thắng phân biệt ở chỗ nó có hợp với kinh giáo hay
không. Nếu thật sự là thánh cảnh sẽ khiến cho người ta
vừa trông thấy thì ngay khi đó tâm địa thanh tịnh, trọn
không có cái tâm vọng động, chấp lấy. Nếu là cảnh ma,
trông thấy sẽ khiến cho tâm không thanh tịnh, lại sanh khởi
những tâm chấp trước, tháo động, vọng niệm v.v… Hơn
nữa, Phật quang tuy cực sáng chói, nhưng chẳng lóa mắt. Nếu
ánh sáng làm chói mắt thì không phải là đức Phật thật.
Khi
Phật hiện, nếu dùng lý “phàm những gì có tướng đều
là hư vọng” để khám định sẽ càng hiển hiện. Nếu dùng
lý này để khám những tướng do ma hiện, chúng sẽ ẩn mất.
Đây chính là lò nung luyện lớn để khám nghiệm chân - ngụy
vậy. Ban đêm thấy ánh sáng trắng và những cảnh xanh trắng
trên hư không thì đó đều là do tâm tịnh biến hiện, sao
lại nghĩ là pháp giới nhất tướng tịch chiếu bất nhị?
Tự nghĩ như thế sẽ thành “đem phàm lạm thánh”, lỗi
ấy thật chẳng nông cạn đâu! Hai câu kinh văn ấy chưa thấy
phát xuất từ đâu, có lẽ cũng là văn được ghi nhớ từ
đời trước, chưa chắc đã là câu văn từ trong kinh. Người
tu Tịnh nghiệp chẳng coi các cảnh giới là quan trọng, nên
cũng chẳng thấy các cảnh giới phát sanh. Nếu trong tâm cứ
chuyên muốn thấy cảnh giới thì cảnh giới sẽ nhiều lắm.
Nếu chẳng khéo dụng tâm, rất có thể bị tổn hại, không
thể không biết!
Lời
nói của vị đầu-đà kia thuộc về đạo lý Thiền gia. Ông
ta không phá Tịnh Độ, ấy là điểm hay; nhưng ông ta hoàn
toàn chẳng biết tông chỉ Tịnh Độ, vì thế đem Thiền bàn
luận [Tịnh Độ]. Lời ông ta luận chú trọng nơi ánh sáng
tốt lành và cảnh thù thắng phải thật cân nhắc; nếu không,
sẽ khiến cho người khác lầm lạc chẳng cạn. Lại nói chẳng
được chấp trước, bởi Phật pháp vô lượng, hễ chấp
sẽ thành hữu lượng nên chẳng thể nhập Phật trí được.
Nào phải chỉ chẳng thể nhập Phật trí không thôi, còn rất
có thể bị lạc vào ma giới nữa! Còn những điều ông ta
nói về đức Phật nơi mỗi người chính là lời luận ước
trên cái lý nơi tâm của nhà Thiền, chẳng liên can gì đến
Tịnh Độ! Ánh sáng trắng trong sạch giữa hư không chỉ bằng
chừng mảy lông công đức của Như Lai, sao ông lại lầm tưởng
đấy chính là pháp giới nhất tướng tịch - chiếu bất nhị?
Thật ra, nó chính là cảnh Định trong đời trước do tâm
tịnh nên hiện ra, cố nhiên chẳng thể coi là chuyện lạ
lùng đặc biệt được!
Pháp
môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông. Có
tín nguyện chẳng cần biết là hạnh nhiều - ít, sâu - cạn,
đều được vãng sanh. Không có tín - nguyện, dù có đạt
đến mức độ Năng - Sở cùng mất, thoát khỏi căn trần,
cũng khó được vãng sanh. Còn như người thật sự chứng
được Thật Lý “Năng - Sở đều mất, thoát khỏi căn lẫn
trần” bèn có thể dùng tự lực để liễu sanh tử thì chẳng
cần phải bàn đến nữa! Nếu chỉ có công phu thấy được
lý ấy, nhưng chưa thật chứng, lại không có tín nguyện thì
cũng khó thể vãng sanh. Thiền gia nói đến Tịnh Độ bèn
quy về Thiền Tông, không nói đến tín - nguyện; nếu tu tập
theo đó thì cũng có thể khai ngộ. Nhưng chưa đoạn Hoặc
nghiệp mà muốn liễu sanh tử thì dù có nằm mơ cũng chẳng
mộng được! Bởi lẽ, phàm phu vãng sanh do tín nguyện cảm
Phật, nên có thể cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp vãng
sanh. Nay đã không sanh tín nguyện, lại đem mỗi lời Phật
nói quy hết về tự tâm thì làm sao cảm Phật cho được?
Cảm
và ứng chẳng phù hợp nhau thì chúng sanh là chúng sanh, Phật
là Phật, biến pháp “hoành siêu” (vượt thoát tam giới
theo chiều ngang) thành “thụ xuất” (thoát ra theo chiều dọc),
được lợi ích ít, bị tổn hại nhiều, không thể không
biết! Được lợi ích là nương theo lời đó cũng có thể
khai ngộ; còn bị tổn hại là đã bỏ tín nguyện thì không
cách gì nương vào Phật từ lực cho được! Vì thế, tôi
nói: “Đối với người thật sự tu Tịnh Độ, những khai
thị của nhà Thiền chẳng thể dùng được; bởi lẽ pháp
môn, tông chỉ bất đồng”. Mong hãy sáng suốt suy xét. Nếu
chẳng chấp nhận như thế, xin hãy thỉnh cầu nơi những bậc
đại thông gia hầu có thể phù hợp với tâm chí của ông,
dĩ nhiên Quang chẳng chấp trước!
160.
Thư trả lời cư sĩ Thang Xương Hoằng
Nhận được thư, khôn ngăn cảm khái, hổ thẹn. Quang là hạng
người như thế nào làm sao kham nổi những lời khen ngợi
quá mức như thế? Tuy vậy, người cùng bệnh mến nhau, nên
chẳng thể không bày tỏ nỗi lòng cùng nhau. Nay những kẻ
học thánh học hiền chỉ học lấy văn ngôn mà thôi! Đối
với những chỗ vì sao thánh hiền thành thánh hiền, họ đều
coi thường chẳng suy xét tới. Đấy là cái gốc bệnh của
mọi người học trong cả thế gian này, chứ chẳng phải chỉ
là căn bệnh của một hai người như tôi, như ông đâu! Đã
có cái gốc ấy, chắc chắn sẽ chẳng thể thuận theo địa
vị mà hành, chắc chắn khi gặp phải những cảnh phú quý,
bần tiện, oai vũ ắt sẽ thành dâm, di, khuất[6] vậy!
Đừng
nói gì người đời này, ngay những kẻ truyền tâm pháp của
thánh nhân trong Tống Nho, đối với hai chữ “cách vật”
vẫn còn chưa thể hiểu rõ, huống gì người đời sau! Muốn
làm sáng tỏ Minh Đức (minh Minh Đức) mà trước hết chẳng
“cách trừ” (trừ khử) “món vật” là sự ham muốn trong
tâm con người thì chuyện làm sáng tỏ Minh Đức trở thành
nói xuông. Dù có học đến mức văn chương trùm lấp cõi
đời vẫn cứ quanh quẩn trong vòng ham muốn của con người,
sao không bị chuyển theo cảnh?
Như
ông nói “minh Minh Đức giống như chứng Bồ Đề, Nho - Phật
cố nhiên không hai; học Khổng, học Phật, lý không ngoài
những gì đã nói trong một chương sách Đại Học” chính
là người minh bạch cưỡng làm hồ đồ, ấy có phải là
muốn thử xem Ấn Quang đối với những chuyện đó có hiểu
được phần nào hay chăng? Nếu có thì đủ chứng tỏ cái
nhìn sáng suốt của các hạ; nếu không thì tôi muốn phát
huy ý nghĩa tột cùng về duyên do vậy. Nhưng đã là đồng
bệnh tương lân, nào ngại gì nói lên tình huống khổ sở,
ngõ hầu nhẹ bớt nỗi uất ức mà thôi. Bản thể của Nho
và Phật cố nhiên không hai, nhưng công phu của Nho và Phật,
nếu luận một cách nông cạn thì cũng khá tương đồng; nhưng
nếu bàn sâu xa hơn thì khác biệt như trời với đất. Vì
sao nói thế? Nho lấy Thành làm gốc, Phật lấy Giác làm tông.
Thành chính là Minh Đức, do Thành khởi Minh, do Minh đạt Thành,
nên Minh và Thành hợp nhất, ấy chính là “minh Minh Đức”
(làm sáng tỏ cái đức sáng). Giác có Bổn Giác và Thỉ Giác[7];
do Bổn Giác khởi Thỉ Giác, do Thỉ Giác chứng được Bổn
Giác, Thỉ và Bổn hợp nhất bèn thành Phật. Bổn Giác chính
là Thành, Thỉ Giác chính là Minh. Thuyết pháp như vậy thì
Nho và Phật trọn chẳng hai.
Như
các hạ nói “học Khổng, học Phật, lý chẳng ngoài một
chương Đại Học”, đấy chính là lời quyết định không
nghi, nhưng chỉ là lời biện luận ở mức độ nông cạn!
Đối với việc phát huy thứ lớp công phu tu chứng sâu - cạn
theo thì gốc tuy đồng, nhưng cái chứng được, cái đạt
đến khác biệt rất lớn! Nho gia làm sáng tỏ Minh Đức há
có giống được như nhà Phật đoạn sạch hoàn toàn Tam Hoặc,
nhị nghiêm (phước và trí) toàn vẹn chăng? Có được như
hàng Bồ Tát chứng Pháp Thân phá từng phần vô minh, thấy
được từng phần Phật Tánh hay chăng? Có được như Thanh
Văn, Duyên Giác đoạn sạch Kiến Tư hai Hoặc hay chăng? Trong
ba hạng trên, chỉ có Thanh Văn đoạn Kiến Tư Hoặc là thấp
kém nhất, nhưng đã lục thông tự tại. Vì vậy, ngài Tử
Bách[8] nói: “Nếu có thể quên ngay tình kiến thì vách núi
còn có thể xuyên thẳng qua được!” Sơ Quả còn phải bảy
lần sanh lên trời, bảy lần sanh vào nhân gian, nhưng đã có
đạo lực tùy ý chẳng phạm Sát Giới. Do vậy, họ đi đến
đâu, các loài trùng tự lìa khỏi chỗ ấy. Nên mới có câu:
“Sơ Quả cày đất, trùng tránh xa bốn tấc”, huống gì
là hạng Nhị, Tam, Tứ Quả ư?
Hãy
gác những người học theo Nho Giáo lại đã, chỉ bàn đến
những bậc thánh nhân. Những vị thánh nhân ấy đa phần là
bậc Đại Quyền thị hiện, không bàn đến Bổn của họ,
nếu chỉ căn cứ theo Tích để luận thì e rằng chưa thể
sánh bằng bậc đã đoạn sạch Kiến Tư Hoặc, huống chi bốn
mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ phá vô minh, chứng
pháp tánh! Cứ cho là “làm sáng tỏ Minh Đức” ngang vai bằng
lứa với bậc đã phá vô minh đi nữa, nhưng phá vô minh có
bốn mươi mốt địa vị, những kẻ đã làm “sáng tỏ Minh
Đức ấy” có bằng vai được với Sơ Trụ là địa vị
đầu tiên hay không? Có bằng vai được với địa vị tối
hậu là Đẳng Giác hay không? Dẫu cho có bằng vai với bậc
tối hậu là Đẳng Giác đi nữa, thì Minh Đức vẫn chưa thể
làm sáng tỏ đến cùng cực, còn phải phá một phần vô minh
nữa mới có thể nói là Thành và Minh hợp nhất, Thỉ - Bổn
không hai vậy! Vì thế, tôi nói: “Về Thể tuy đồng, nhưng
phát huy công phu chứng đắc bất đồng!”
Người
đời nghe nói là “đồng” bèn cho rằng Nho Giáo hoàn toàn
bao trọn Phật giáo, nghe nói là “khác” bèn cho là Phật
giáo hoàn toàn chẳng phải là Nho Giáo, chẳng biết duyên do
“tuy đồng nhưng bất đồng, bất đồng nhưng đồng” vậy.
Do đó, cứ tranh luận lung tung, ai nấy chia vạch môn đình,
ai nấy đánh mất bản tâm yên đời, độ người của Phật,
Bồ Tát, thánh nhân, chẳng đáng buồn sao? Trong tháng Sáu,
ông Dương Lệ Đường người xứ Hương Sơn, Quảng Đông,
từ Đàn Hương Sơn (Honolulu) trong Thái Bình Dương gởi thư
cho Tạng Quán Thiền ở Sơn Đông nhờ đem cuốn sách hòa hội
[những giải thích về] Nho - Phật xưa nay do ông ta biên soạn,
đặt tên là Nho - Thích Nhất Quán, muốn dẫn dụ Nho nhập
Phật, lầm lẫn ủy thác Quán Thiền nhờ Quang viết bài tựa.
Quang thuở nhỏ không gắng sức, đến già vô tri, vì ông ta
kèo nài, khó thể thoái thác, bèn nguệch ngoạc hơn ngàn chữ
cho xong trách nhiệm. Nay đem bản thảo ấy gởi đi, xin hãy
giảo chánh tỉ mỉ.
161.
Thư gởi hội Phóng Sanh ở Đại Đồng, Tuyền Châu
Phóng sanh là lấy việc đề xướng
kiêng giết, bảo vệ sanh mạng làm gốc. Phàm những ai nhập
hội đều nên ăn chay thì mới có thể đem lợi ích của việc
ăn chay bảo cùng hết thảy mọi người. Dẫu không thể làm
cho ai nấy đều thuận theo, nhưng do các vị trong quý hội
đều là bậc quân tử đức dày, thật hành ăn chay, nên người
ta cũng tự nhiên ngầm bị cảm hóa mà thay đổi, đều không
còn sát sanh, không còn ăn thịt nữa. Nếu cứ ăn thịt như
cũ thì công đức phóng sanh vẫn chẳng thể nghĩ bàn, nhưng
vẫn tự mâu thuẫn với hạnh mình đang làm, vẫn là chẳng
y theo đạo từ bi, trung hậu, khoan thứ để thực hành vậy;
huống hồ là muốn cho những ai thấy nghe sẽ ngầm được
cảm hóa, thay đổi ư? Quang chẳng có đạo đức, tài lực
gì, chẳng thể giúp gì cho nghĩa cử tốt lành của quý hội
được, kính dâng tấm ngu thành để bố thí.
Các
vị cư sĩ ở Thượng Hải lập ra Thường Trai Hội (hội thường
ăn chay). Phàm ai gia nhập hội, bất luận quan, hôn, tang, tế
đều chẳng ăn mặn. Năm ngoái, cư sĩ Quan Quýnh Chi yêu cầu
Quang viết một bài tựa. Xem bài ấy sẽ biết được đại
khái. Muốn biết tường tận thì nên gởi thư cho cư sĩ Quan
Quýnh Chi ở đường Bạch Khắc, phố Hoài An, Thượng Hải.
Họ có chương trình, hãy xin họ gởi cho một bản. Trong bộ
Văn Sao của Quang, những văn tự khuyên người kiêng giết
cũng có hơn mười thiên; tuy văn chương vụng về, chất phác,
chẳng đáng lọt mắt người tao nhã, nhưng ý nghĩa cố nhiên
có những chỗ chấp nhận được. Nếu chẳng chê là ô uế
đáng vứt bỏ thì cũng đáng làm trò cười “đem hạt bụi
vun vào hòn núi” vậy.
Thêm nữa, quý hội đề xướng học Phật, lại suy tôn tiên
sinh Tấn Tô chẳng tiếc sức. Đã rộng thí Đạo Vị Lục,
lại còn giới thiệu người muốn học đạo, cầu ông ta truyền
thọ chân kinh diệu quyết hòng đồng lên được bờ Giác.
Tâm chí ấy có thể nói là thành khẩn, chân thực nỗ lực
mong làm lợi người khác, nhưng tiếc là chưa biết nguyên
do Phật pháp nên mới coi pháp trường sanh luyện đan vận
khí là Phật pháp! Nếu nói: “Phàm những ai muốn cầu trường
sinh và phép vệ sinh bèn giới thiệu cho họ sách ấy” thì
cố nhiên không trở ngại gì. Bởi cái lợi lớn của pháp
luyện đan là có thể kéo dài tuổi thọ, sống lâu, còn cái
lợi nhỏ là có thể bảo dưỡng sắc thân; quả thật là
pháp có ích cho con người. Nếu mù mờ gọi pháp ấy là Đạo,
rồi xui khiến đệ tử Phật cầu cho được chân quyết (bí
quyết chân thật) thì Danh và Thực mâu thuẫn lớn! Vì sao?
Phật pháp có đầy đủ hết thảy các pháp thế gian và xuất
thế gian, chẳng sót mảy may điều thiện nào; chỉ có mỗi
một pháp luyện đan tuyệt nhiên chẳng nhắc tới, lại còn
cấm thật ngặt. Là vì trong bước đầu nhập đạo, Phật
dạy con người tu Tứ Niệm Xứ Quán: Một là quán thân bất
tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm vô thường,
bốn là quán pháp vô ngã. Muốn thấy thấu suốt cái thân
tâm huyễn vọng này ngõ hầu ngộ chứng chân tâm diệu tánh
sẵn có. Luyện đan chỉ chăm chú bảo dưỡng sắc thân, chẳng
hợp với tông chỉ của Phật. Nhưng ai tu pháp nấy, tùy mỗi
người tự đạt được lợi ích, nên hai bên chẳng trở ngại
lẫn nhau.
Xem
sách Đạo Vị Lục do tiên sinh Tấn Tô viết, đến phần khẩu
quyết luyện Hỏa Hầu cho rằng: “Đó là đạo liễu tánh
mạng của Phật môn, gộp Tam Giáo đồng quy, thường hằng
vạn cổ bất tuyệt. Lìa khỏi đạo này chính là ngoại đạo.
Ra khỏi môn này bèn thành bàng môn. Đạo mạch Tiên Thiên
đời đời nhất quán truyền thừa, từ lúc Đạt Ma Sơ Tổ
từ trời Tây sang Đông, cho đến Bạch Mã Thất Tổ, y bát
truyền trong nhà lửa” v.v… Đấy chính là mượn danh nghĩa
Phật giáo để truyền pháp luyện đan, đâm ra hủy báng Phật
pháp. Tháng trước, ông ta đã gởi cho tôi hai bản. Quang thấy
ông ta tự phụ quá sâu, lẽ đâu chịu nghe theo Quang là kẻ
bất tài ư? Nên để đó chẳng bàn đến. Nay thấy quý hội
đề xướng Phật học, mà vẫn không biết ông ta không phải
là học Phật, cho nên không thể không dốc hết lòng ngu thành
của tôi để thưa trình.
Nếu
cho Quang là đa sự, cho là Quang thấy biết lầm lạc, chưa
nghe đại đạo thì cũng xin cứ tùy ý. Chim cú giữ xác chuột
rữa, phượng hoàng quyết chẳng thể bảo nó đừng ăn. Nay
gởi đến một gói Văn Sao tổng cộng ba bộ, mong mọi người
trong quý hội hãy đọc, và gởi cho cư sĩ Châu Tử Tú xem.
Nếu cho là đúng thì cũng chưa từng bao giờ không phải là
điều may mắn cho quý hội, nếu cho là sai thì cũng mặc tình
bịt vò thay củi[9]. Từ đấy gia công dụng hạnh khuếch trương
đạo luyện đan vận khí của tiên sinh Tấn Tô, khiến cho
người trong thiên hạ cùng được trường sanh cũng tốt, nhưng
nếu gọi đó là Phật pháp thì tuy chẳng báng Phật pháp,
cũng vẫn mắc lỗi hủy báng Phật pháp. Tôi trộm cho rằng
quý hội chưa phân biệt được chánh - tà nên mới thành ra
như thế. Đã coi Quang là người trong pháp môn, nếu Quang cứ
đối đãi với quý hội như ông Tấn Tô thì Quang đã phụ
lòng quý hội, cho nên mới phải một phen đôi co như thế.
162.
Thư trả lời hiệu trưởng Vạn An ở An Huy
Bốn câu của nhà trường quý vị: “Tận tánh học Phật,
tận nhân luân học Khổng, Đạo học làm thể, khoa học làm
Dụng”, quả thật là tông chỉ học đạo không thay đổi.
Từ khi nhà Nho chú trọng cái học từ chương khiến cho pháp
học đạo biến thành học nghề khéo, đau tiếc khôn xiết!
Cái học mới mẻ ngày nay đa số bỏ gốc theo ngọn, nêu tông
chỉ như nhà trường quý vị thật là ít thấy. Tận tánh
học Phật thì mới có thể tận hết luân thường học Khổng.
Tận hết luân thường học Khổng thì mới có thể tận tánh
học Phật. Thử xem những bậc đại trung đại hiếu xưa nay
cũng như những vị phát huy tâm pháp thánh hiền Nho Giáo, không
một ai chẳng nghiên cứu sâu xa kinh điển nhà Phật, ngầm
tu mật chứng.
Nho Giáo và Phật Giáo kết hợp lại thì cả hai cùng tốt
đẹp, tách ra thì cả hai cùng bị thương tổn. Bởi lẽ trong
cõi đời không một ai chẳng thuộc trong luân thường, cũng
không một ai có thể vượt ngoài tâm tánh. Đầy đủ cả
luân thường lẫn tâm tánh thì dùng “không làm các điều
ác, vâng làm các điều thiện” của nhà Phật để giúp cho
“khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành, cha từ,
con hiếu, anh nhường, em kính”. Do vậy cha con, anh em v.v…
dắt dìu nhau tận hết luân thường, tận hết tâm tánh để
trừ khử phiền hoặc huyễn vọng, khôi phục Phật tánh sẵn
có. Chẳng những Thể là một, mà Dụng cũng chẳng có hai!
Đấy là sự thực!
Nói “Phật hóa Nho tông” chẳng qua chỉ nhằm biểu thị
sự thật mà thôi, lẽ đâu chẳng thể được? Nhưng tại
gia học Phật, ắt phải lấy tin sâu nhân quả, tận hết bổn
phận, kiêng giết, cứu giúp sanh mạng, chí tâm niệm Phật
làm cách tu trì quyết định chẳng thay đổi! Nói “tận hết
bổn phận” chính là những điều từ, hiếu, nhường, kính
v.v… Thế nhưng, cõi đời loạn lạc, nước thiếu người
hiền, căn bản là do gia đình không khéo dạy dỗ mà ra! Nhưng
giáo dục gia đình, trách nhiệm người mẹ càng nặng. Vì
thế, Quang hay nói “dạy con là cái gốc để trị quốc, bình
thiên hạ, nhưng dạy con gái lại càng trọng yếu hơn” là
vì như vậy đó. Nếu thường đem điều này bảo cùng học
trò ngõ hầu chúng nó cùng đem điều này đề xướng, chỉ
dạy nhau, còn lo chi chẳng thấy cõi đời bình trị nữa!
163.
Thư trả lời cư sĩ Úc Trí Lãng
Chuyện của Phước Tuấn theo như lời ông kể lúc còn sống
và sau khi đã mất, nếu mọi điều đều thật thì chắc chắn
là vãng sanh! Do lúc sống đã thấy thấu suốt cái vỏ thân
xác này, điều này thuộc về sự lợi ích lớn nhất, vì
nữ nhân thường hay lưu luyến huyễn chất, hằng ngày lo trang
điểm. Đã không có ý niệm ấy, sẽ tự dễ dàng tương ứng
với pháp môn Tịnh Độ. Lâm chung gầy còm và bị bệnh khổ
chính là do nghiệp chướng nhiều kiếp. Do vì bà ta dốc lòng
tu Tịnh nghiệp nên mới chuyển hậu báo nặng nề thành báo
nhẹ trong hiện tại. Ông bảo: “Do tu trì tinh tấn đến nỗi
thân thể ngày càng yếu ớt’; nói như vậy không hợp lẽ,
lại còn mắc lỗi khiến cho kẻ tín tâm nông cạn nhân đó
bèn thoái đọa.
Phải
biết: Người niệm Phật quyết định tiêu trừ nghiệp chướng.
Những người có nghiệp chướng hiện tiền đều là chuyển
ác báo tam đồ trong tương lai thành bệnh khổ hiện tại để
giải quyết cho hết. Kinh Kim Cang dạy người trì kinh Kim Cang
do có nỗi nhục nhỏ là bị người khác khinh rẻ, liền diệt
được nỗi khổ nhiều kiếp trong ác đạo. Như vậy Phước
Tuấn khi sắp sanh về Tây Phương, do nỗi khổ nhỏ nhặt này
sẽ giải quyết sạch các ác báo trong vô lượng kiếp đến
nay, quả thật là may mắn lớn lao! Chớ nên học theo kẻ chẳng
biết sự việc, bảo là “do tu trì nên thành bệnh, bị chết!”
Người
niệm Phật bình thời có lòng tin chân thành, nguyện khẩn
thiết thì không ai chẳng được vãng sanh, huống chi Phước
Tuấn lâm chung chánh niệm rỡ ràng, hiện các tướng xá bái,
đảnh lễ v.v… Mất rồi thân thể vẫn mềm mại, sạch sẽ,
vẻ mặt như còn sống, há có nên vì công phu của bà ta còn
ít ỏi mà nghi ngờ hay chăng? Đối với Di Đà nguyện vương,
mười niệm còn được độ, huống chi bà ta tinh tấn tu trì
đã hai ba năm, há còn ngờ ư? Trong đời có hạng người ý
chí thấp hèn, tuy thường niệm Phật, nhưng chẳng cầu vãng
sanh, chỉ mong cầu phước báo nhân thiên; hạng người như
vậy dù có tu hành suốt đời cũng chỉ được hưởng si phước
trong đời sau mà thôi! Người có chánh tín tự mình dùng tín
nguyện cảm Phật, Phật do lòng từ bi nhiếp thọ, cảm ứng
đạo giao, ắt có thể cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp
vãng sanh, cần gì phải hỏi người ấy có thấy Phật hay
chăng rồi mới phán đoán được!
Ngay
như trước lúc lâm chung, nếu [người sắp mất] tự tắm
rửa, thay áo thì rất hay! Nếu người ấy không thể thì trọn
chớ nên tắm rửa thay áo sẵn, khiến cho người ấy đau đớn
khó chịu đựng nổi đến nỗi mất chánh niệm. Ông còn tiếc
rằng lúc ấy bà ta còn chưa mặc pháp y, chưa ngồi khoanh chân
xếp bằng; không biết lúc ấy, tốt nhất chỉ nên đồng
thanh niệm Phật, vàn muôn phần chẳng được bày vẽ phô
trương (như tắm rửa, thay áo, bắt ngồi lên v.v…) Nếu phô
trương, bày vẽ sẽ thành ra như hòn đá rớt xuống giếng,
hãy nhớ kỹ! Lệnh từ tuổi đã cao, nếu Quang không nói lên
mối tệ này, về sau, ông do tấm lòng tận hiếu sẽ gây trở
ngại cho sự vãng sanh của mẹ, khiến mẹ phải lưu chuyển
trong sanh tử bao kiếp dài lâu, không thể thoát ra được!
Chúng
ta chỉ nên giữ lấy cái thật, chớ chuộng cái danh, bài ký
của ông khá hay, chẳng cần phải nhờ người viết văn để
lưu truyền. Đấy đều là những chuyện hư huyễn, phù phiếm
trong thế gian, chỉ nên chính mình cùng người nhà niệm Phật
mong cùng sanh Tây Phương là được rồi. Trong khóa tụng sáng
tối mỗi ngày, lúc hồi hướng Quang đều đọc kèm tên của
Phước Tuấn, hồi hướng một thất để tận mối tình thầy
trò. Hơn nữa, Phước Tuấn sanh tử phen này có thể nói là
chẳng sống thừa chết phí, may mắn thay! Còn như chuyện xương
cốt làm thành viên bột thì rất tốt, nhưng chẳng được
hời hợt làm! Phải đem xương nghiền thành bột mịn, dùng
cái lưới kín mắt rây kỹ, không khác gì bột mì thì mới
được. Nếu thô tâm nghiền qua loa, khi hòa với bột mì làm
thành viên, chỉ sợ loài cá nhỏ ăn vào sẽ bị xương cứng
xóc bụng. Quang sợ ông vô tâm, không thể không nói!
164.
Thư trả lời cư sĩ X…
Bệnh và ma đều do túc nghiệp mà ra. Ông chỉ nên chí thành
khẩn thiết niệm Phật thì bệnh sẽ tự lành, ma sẽ tự
xa lìa. Nếu tâm ông không chí thành, hoặc khởi lên những
ý niệm bất chánh, tà dâm v.v… thì toàn thể cái tâm ông
đọa trong hắc ám. Do vậy, ma quỷ khuấy nhiễu! Niệm Phật
xong, lúc hồi hướng, ông nên hồi hướng cho hết thảy oán
gia trong đời trước, khiến cho ai nấy đều được hưởng
lợi ích do việc niệm Phật của ông, siêu sanh đường lành.
Ngoài ra, nhất loạt chẳng bận tâm đến chúng. Nếu chúng
phát ra tiếng, cũng chẳng quan tâm, đừng sợ hãi. Chúng không
phát ra tiếng, cũng đừng bận tâm sanh lòng hoan hỷ, cứ chí
thành khẩn thiết niệm, tự nhiên nghiệp chướng tiêu, phước
lẫn huệ đều được tăng trưởng.
Xem
kinh điển chớ bắt chước như người đời nay đọc sách,
trọn chẳng cung kính mảy may nào! Ắt phải như đang đối
trước Phật, Tổ, thánh hiền giáng lâm thì mới có ích thật
sự! Nếu ông làm được như thế thì tâm địa chánh đại
quang minh, bọn tà quỷ, tà thần kia sẽ không có chỗ nào
để ở yên được. Nếu tâm ông tà vạy trước thì sẽ do
tà chiêu tà, làm sao có thể khiến cho bọn chúng xa lìa không
quấy nhiễu cho được! Tuy quỷ thần có Tha Tâm Thông, nhưng
vừa nhỏ lại vừa gần; còn nếu là bậc nghiệp tận tình
không thì như gương báu đặt trên đài, có hình liền hiện
bóng. Ông không chí tâm niệm Phật, lại muốn nghiên cứu
chân tướng ấy, chẳng biết tâm ấy sẽ thành ma chủng. Ví
như gương báu, không có mảy may bụi nhơ, sẽ tự có thể
chiếu trời, chiếu đất. Tâm ông đã bị bụi nhơ phủ kín
dày chắc, mà muốn được như thế, thì cũng như tấm gương
bị bụi phủ dày kín mít, trọn chẳng thể tỏa sáng. Nếu
có phát sáng thì cũng là ánh sáng yêu quái, chứ không phải
là ánh sánh của gương. Hãy nên gác lại chuyện ấy, hãy
niệm Phật như đang mắc nạn lửa nước, như cứu đầu đang
bị cháy thì không nghiệp nào, ma nào chẳng tiêu!
165.
Thư trả lời tiên sinh Trương Quý Trực
Quang chỉ là một ông Tăng tầm thường vô tri vô thức, chỉ
biết cơm cháo. Do ông Từ Úy Như lầm lẫn bốn lần đem bản
cảo dở tệ của Quang ra ấn hành, đến nỗi làm bẩn mắt
xanh. Ông không những không chê bỏ là ô uế, trái lại, còn
khen là Nho - Thích dung thông, có Thể, có Dụng. Đúng là chí
tại kính Phật nên quên mất sự hèn kém, tầm thường của
ông Tăng. Cảm thấy hết sức xấu hổ! Dịch Viên và Quang
đã có túc duyên, thường muốn lôi kéo các hạ cùng về Tây
Phương để thiện căn, phước đức đã vun bồi từ vô lượng
kiếp đến nay cũng như trong đời hiện tại đều quy về
Thật Tế. Quang hết sức bội phục! Bởi lẽ các hạ là bậc
văn chương lỗi lạc đương thời, còn Quang là một ông Tăng
sống nhờ ăn bám[10] vô tri vô thức, nên chẳng dám tuân theo
lời mời dự vào ban tu thư của Dịch Viên.
Nay
nhận được tờ hoa, nét mực của các hạ, thấy ông đã
từng xem kinh, chẳng biết Thiền như thế nào, chỉ giác Tịnh
mà thôi, khôn ngăn vui mừng, an ủi! Đủ biết các hạ đã
gieo chủng tử Bát Nhã chẳng phải chỉ ở chỗ một, hai,
ba, bốn, năm đức Phật. Phàm Thiền đến mức chẳng biết
nó là gì thì mới là chân Thiền, bởi thấy - nghe - hay - biết
đều là chuyện thuộc về ý thức, chỉ không biết thì mới
có thể linh quang riêng chiếu, vượt thoát căn trần, thể
lộ chân thường, chính là Như Như Phật[11] vậy! Tịnh đến
mức chỉ giác thì toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm
- Phật chẳng hai, tâm - Phật như một. Nếu không, sao gọi
là Giác cho được? Các hạ kiến giải như thế, đã là vượt
trỗi vàn muôn lần những kẻ học Phật trong thời gần đây.
Nếu lại có thể sanh lòng tin, phát nguyện, hồi hướng vãng
sanh thì đài sen thượng phẩm sẽ tự độc chiếm. Chỉ sợ
các hạ đối với duyên do của Thiền và Tịnh, Phật lực
và tự lực, lớn - nhỏ, khó - dễ còn chưa biết sâu xa; cho
rằng “đã ngộ tự tâm thì ngay nơi này chính là Tây Phương,
chẳng cần cầu vãng sanh” thì nỗi sai lầm ấy chẳng cạn
đâu!
Vì
sao vậy? Do phàm phu dù có thể ngộ đến cùng cực, nhưng
nếu còn có tập khí phiền não từ vô thỉ đến nay chưa
thể nhanh chóng đoạn được thì hễ còn có mảy may phiền
não tập khí sẽ chẳng thể siêu xuất ra ngoài sanh tử luân
hồi được! Đây chính là sự khó khăn của việc cậy vào
tự lực để liễu sanh tử. Pháp môn Niệm Phật chỉ cần
đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, bất luận
công phu cạn hay sâu, công đức lớn hay nhỏ, đều có thể
cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp vãng sanh. Chúng sanh đời
Mạt muốn liễu sanh tử mà chẳng y vào pháp này sẽ khó khăn
chẳng thể sánh ví được nổi! Mong hãy đọc kỹ sách Tịnh
Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, ắt sẽ tự biết
Quang nói không sai. Nếu chẳng cho lời Quang là sai lầm, lại
không rảnh rỗi nhiều, chỉ cần lắng lòng đọc Văn Sao sẽ
tự biết hết.
166.
Thư tuyên ngôn kết xã niệm Phật của chùa Thanh Liên ở Lô
Sơn
Đại Giác Thế Tôn thương các chúng sanh mê trái tự tâm,
luân hồi sáu nẻo trải nhiều kiếp lâu xa, không thể thoát
ra. Do vậy, khởi lòng Vô Duyên Từ, vận dụng lòng Bi đồng
thể, thị hiện sanh trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác,
tùy thuận cơ nghi rộng giảng các pháp. Nói bao quát đại
cương thì gồm có năm tông, năm tông là như thế nào? Chính
là Luật, Giáo, Thiền, Mật và Tịnh. Luật là Phật thân,
Giáo là Phật ngữ, Thiền là Phật tâm. Phật sở dĩ thành
Phật chỉ do ba pháp này, Phật sở dĩ độ sanh cũng chỉ có
ba pháp này. Nếu chúng sanh thật sự có thể nương theo Luật,
Giáo, Thiền của Phật để tu trì thì ba nghiệp của chúng
sanh sẽ chuyển thành ba nghiệp của chư Phật. Ba nghiệp đã
chuyển thì phiền não chính là Bồ Đề, sanh tử chính là
Niết Bàn. Lại sợ kẻ túc nghiệp sâu nặng ắt chẳng dễ
chuyển, nên dùng sức gia trì Đà La Ni tam mật[12] để un đúc.
Như tò vò bảo con nhộng: “Giống ta, giống ta”, bảy ngày
sau sẽ biến thành tò vò[13]. Lại sợ kẻ căn khí kém hèn,
chưa được giải thoát, thọ sanh lần nữa, khó tránh khỏi
mê mất; do vậy, đặc biệt mở ra một môn “tín nguyện
niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” để dù thánh hay phàm cùng
trong đời này được vãng sanh Tây Phương. Thánh sẽ mau chứng
Vô Thượng Bồ Đề, phàm thì vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử
buộc ràng. Do cậy vào Phật từ lực, nên công đức lợi
ích chẳng thể nghĩ bàn.
Phải biết: Luật chính là nền tảng của Giáo, Thiền, Mật,
Tịnh. Nếu chẳng nghiêm trì cấm giới sẽ chẳng thể đạt
được lợi ích thật sự nơi Giáo, Thiền, Mật, Tịnh. Giống
như xây lầu cao vạn trượng nếu nền móng không vững thì
chưa xây xong đã sụp. Tịnh là chỗ quy túc của Luật, Giáo,
Thiền, Mật, như trăm sông vạn dòng đều đổ vào biển cả.
Bởi lẽ pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn “trên thành
Phật đạo, dưới độ chúng sanh, thành thủy, thành chung”
của mười phương tam thế chư Phật. Vì vậy, trong phẩm Nhập
Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài được Phổ Hiền
Bồ Tát gia bị khai thị, đã chứng Đẳng Giác, ngài Phổ
Hiền bèn dạy phát mười đại nguyện vương, hồi hướng
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để mong viên thành
Phật Quả, lại dùng mười nguyện ấy khuyên khắp Hoa Tạng
hải chúng. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, chương Hạ Phẩm
Hạ Sanh, dẫu là kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác sắp đọa A Tỳ
địa ngục, được thiện tri thức dạy cho niệm Phật hoặc
niệm mười tiếng, hoặc chỉ mấy tiếng rồi liền mạng
chung, cũng được đức Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Xem
đó thì trên từ Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể ra ngoài pháp
này; dưới đến tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cũng có thể
vào trong pháp này. Công đức lợi ích ấy vượt trỗi hết
thảy [các pháp khác] trong giáo pháp cả một đời đức Phật,
bởi những giáo pháp trong cả một đời Ngài đều cậy vào
tự lực để thoát sanh tử; còn pháp môn Tịnh Độ, kẻ chưa
đoạn Hoặc, cậy vào Phật từ lực, liền có thể đới nghiệp
vãng sanh. Người đã đoạn Hoặc cậy vào Phật từ lực bèn
mau chứng lên bậc Địa Thượng Bồ Tát[14]. Đây chính là
pháp môn đặc biệt trong giáo pháp cả một đời đức Phật,
chẳng thể dùng những giáo pháp theo đường lối thông thường
để bàn luận được. Vì thế, các kinh Đại Thừa như Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa v.v… các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ
Hiền v.v…, các đại tổ sư như Mã Minh, Long Thọ v.v… thảy
đều xiển dương, khen ngợi, chỉ dạy, khuyên khắp chúng
sanh vãng sanh.
Đến
khi đại giáo truyền sang Đông, Viễn Công đại sư (sơ tổ
Huệ Viễn) bèn dùng pháp này lập tông. Thoạt đầu, Ngài
muốn cùng đồng học là Huệ Vĩnh[15] qua La Phù, nhưng bị
pháp sư Đạo An[16] lưu lại, sư Huệ Vĩnh bèn đi một mình
trước. Đến Tầm Dương, thứ sử Đào Phạm ngưỡng mộ
đạo phong, bèn lập chùa Tây Lâm cho Ngài ở. Thời gian ấy
nhằm năm Đinh Sửu tức năm Thái Nguyên thứ hai (377) đời
Tấn Hiếu Võ Đế. Đến năm Giáp Thân, tức năm Thái Nguyên
thứ chín (384), Viễn Công mới đến Lô Sơn. Thoạt đầu ở
tại chùa Tây Lâm, do học trò tụ họp đông đảo, Tây Lâm
chật hẹp không chứa hết nổi, thứ sử Hoàn Y bèn lập chùa
ở phía Đông núi, đặt tên là Đông Lâm. Đến năm Canh Dần,
tức năm Thái Nguyên thứ mười lăm (390), ngày hai mươi tám
tháng Bảy, Viễn Công bèn cùng Tăng - tục một trăm hai mươi
ba người kết liên xã niệm Phật cầu sanh Tây Phương, sai
ông Lưu Di Dân làm bài văn khắc vào đá để minh thị lời
thề, Huệ Vĩnh pháp sư cũng dự vào liên xã này. Vĩnh Công
(ngài Huệ Vĩnh) sống ở Tây Lâm, kết riêng một lều tranh
trên đỉnh núi để thường lên đó thiền tư. Đến bên thất
ấy bèn nghe mùi hương lạ; do vậy, người ta gọi là Hương
Cốc (hang thơm), cứ suy nghĩ sẽ biết Ngài là người như
thế nào!
Lúc
Viễn Công kết xã, bèn có một trăm hai mươi ba người, đều
thuộc hàng long tượng[17] trong pháp môn, là Thái Sơn, Bắc
Đẩu trong làng Nho; do đạo phong của Viễn Công lan tỏa nên
đều ùa nhau kéo đến. Nhưng trong suốt đời Ngài, trong hơn
ba mươi năm, những người dự vào liên xã tu Tịnh nghiệp
được tiếp dẫn vãng sanh nhiều khó thể biết được!
Sau
đấy, như các vị Đàm Loan, Trí Giả, Đạo Xước, Thiện
Đạo, Thanh Lương, Vĩnh Minh, không vị nào chẳng dùng pháp
này để tự hành, hóa độ người. Ngài Đàm Loan viết Vãng
Sanh Luận Chú, diệu tuyệt cổ kim. Ngài Trí Giả viết Thập
Nghi Luận, chỉ bày tột cùng lẽ được - mất; ngài soạn
Quán Kinh Sớ chỉ bày sâu xa pháp quán Tam Đế[18]. Ngài Đạo
Xước giảng ba kinh Tịnh Độ gần hai trăm lượt. Ngài Thiện
Đạo sớ giải ba kinh Tịnh Độ, cực lực khuyên chuyên tu.
Ngài Thanh Lương sớ giải Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, phát
huy đạo rốt ráo thành Phật. Tổ Vĩnh Minh nói bài Tứ Liệu
Giản chỉ thẳng pháp liễu thoát ngay trong đời này. Từ xưa,
những bậc cao nhân các tông, không ai chẳng quy tâm Tịnh Độ,
chỉ có các sư Thiền Tông là chuyên chăm chú ngầm tu, ít
vị nào chịu xiển dương rõ ràng.
Từ
sau khi ngài Vĩnh Minh xướng suất, ai nấy đều để lại ngôn
giáo rõ rệt, thiết tha khuyên tu trì. Vì thế, bài Khuyến
Tu Tịnh Độ Văn của Tử Tâm Tân thiền sư[19] có câu: “Di
Đà thật dễ niệm, Tịnh Độ thật dễ sanh”, lại viết:
“Người tham Thiền tốt nhất nên niệm Phật, nếu căn cơ
độn chỉ sợ chẳng thể đại ngộ trong đời này, hãy nhờ
vào nguyện lực tiếp dẫn vãng sanh của đức Di Đà”. Lại
nói: “Nếu ông niệm Phật chẳng sanh Tịnh Độ thì lão tăng
sẽ đọa trong địa ngục Bạt Thiệt (kéo lưỡi)”. Bài Tịnh
Độ Thuyết của Chân Hiết Liễu thiền sư[20] có câu: “Trong
tông Tào Động đều chăm chú ngầm tu là do nguyên nhân nào
vậy? Ấy là do pháp môn Niệm Phật là đường tắt tu hành,
căn cứ theo Đại Tạng thì pháp này để tiếp độ căn khí
thượng thượng, tiếp dẫn kèm thêm căn cơ trung hạ”. Lại
nói: “Những bậc đại tượng trong Tông Môn đã ngộ pháp
bất không bất hữu bèn dốc chí khăng khăng nơi Tịnh nghiệp,
chẳng phải vì tịnh nghiệp thấy Phật đơn giản, dễ dàng
hơn Tông môn nhiều lắm hay sao?” Lại nói: “Dù Phật hay
Tổ, dù Giáo hay Thiền, đều tu Tịnh nghiệp, đồng quy một
nguồn. Nhập được môn này thì vô lượng pháp môn thảy
đều chứng nhập”. Trường Lô Trách thiền sư kết liên
hoa thắng hội, khuyên khắp Tăng, tục niệm Phật vãng sanh,
cảm được hai vị Phổ Hiền, Phổ Huệ Bồ Tát xin được
tham dự vào hội thù thắng ấy trong giấc mộng, bèn ghi tên
hai vị đứng đầu trong hội. Đủ thấy pháp này khế lý,
khế cơ, chư thánh ngầm tán dương vậy!
Trong
đời Tống Thái Tông - Tống Chân Tông, pháp sư Tỉnh Thường[21]
trụ trì chùa Chiêu Khánh ở Chiết Giang hâm mộ đạo phong
của ngài Lô Sơn Viễn Công bèn kết Tịnh Hạnh Xã, Vương
Văn Chánh Công Đán quy y đầu tiên, làm người đề xướng.
Phàm là bậc tể phụ đại thần, học sĩ đại phu xưng là
đệ tử dự vào Tịnh Hạnh Xã hơn một trăm hai mươi người,
sa-môn số đến mấy ngàn, còn dân thường chẳng biết là
bao nhiêu. Sau này có Lộ Công Văn Ngạn Bác làm quan suốt bốn
triều Nhân Tông, Anh Tông, Thần Tông, Triết Tông, ra vào làm
quan cao chức cả hơn năm mươi năm, làm đến chức Thái Sư,
được phong là Lộ Quốc Công. Bình sinh ông dốc lòng tin tưởng
Phật pháp, tuổi già càng dốc sức làm lợi cho đạo, chuyên
niệm A Di Đà Phật. Sáng - tối, đi - ngồi chưa từng biếng
nhác. Ông cùng với pháp sư Tịnh Nghiêm ở kinh đô kết xã
gồm hơn mười vạn người cầu sanh Tịnh Độ. Các vị sĩ
đại phu thời ấy đa phần chịu sự giáo hóa của ông; có
bài tụng rằng:
Tri quân đảm khí đại như thiên,
Nguyện kết Tây Phương nhất vạn duyên,
Bất vị tự thân cầu hoạt kế,
Đại gia tề thượng độ đầu thuyền.
(Tạm dịch:
Biết ông gan lớn bằng trời,
Tây phương xin hãy kết mười nghìn duyên,
Sống còn chẳng tính kế riêng,
Mọi người ai nấy đã lên thuyền rồi!)
Ông thọ đến chín mươi hai tuổi, niệm Phật qua đời. Trong
đời Nguyên - Minh thì có các ngài Trung Phong, Thiên Như, Sở
Thạch, Diệu Hiệp hoặc là sáng tác thi ca, hoặc là biện
luận, không vị nào chẳng cực lực xiển dương pháp “khế
lý khế cơ, thông trên thấu dưới” này; nhưng các vị Liên
Trì, U Khê, Ngẫu Ích là thiết tha, thành khẩn nhất. Đời
Thanh có các ngài Phạm Thiên Tư Tề[22], Hồng Loa Triệt Ngộ,
cũng dốc sức hoằng dương đạo này. Bài Khuyến Phát Bồ
Đề Tâm Văn của ngài Phạm Thiên, bài Thị Chúng Pháp Ngữ
của ngài Triệt Ngộ đều có thể kế tục các vị thánh
đời trước, khai ngộ cho hàng hậu học. Kinh trời đất,
động quỷ thần! Người học nếu có thể hành theo đó thì
nào có ai không từ tạ Sa Bà, cao đăng Cực Lạc, làm đệ
tử Phật Di Đà, làm bạn tốt trong hải hội!
Kể
từ sau đó, vận nước ngày càng suy, chẳng ai đề xướng,
pháp vận cũng suy sụp theo. Đến thời Hàm Phong - Đồng Trị,
binh lửa bốn mặt nổi lên, bậc triết nhân ngày càng hiếm
hoi, bọn kém cỏi ngày càng đông đúc. Nhà Nho chỉ sùng phụng
những thuyết báng Phật của Âu, Dương, Trình, Châu, cho là
danh ngôn chí lý, chẳng biết Phật pháp bao quát cái đạo
tân truyền[23] của các thánh, phát minh tâm tánh của đương
nhân; nghĩa mầu nhiệm, lời lẽ tinh vi, công đức lợi ích
ấy chẳng thể hình dung bằng ngôn ngữ, văn tự được. Do
vậy, họ dốc chí hủy diệt Phật pháp, chẳng chịu đọc
tụng, thọ trì, bảo vệ, lưu truyền, khiến cho Phật pháp
bại hoại sát đất. Ví như trẻ nhỏ thấy châu ma-ni chẳng
những không trân trọng, gìn giữ, lại còn muốn phá hủy,
vứt đi.
Đến
cuối đời Quang Tự, phế trừ cử nghiệp, khởi đầu du học
rộng rãi, phàm những kẻ có thiên tư cao, đều lấy chuyện
đọc nhiều làm trọng, tất cả các học thuyết lý luận
đều chẳng đủ thỏa mãn tâm họ, chỉ có mình Phật học
sâu xa, lớn lao, mênh mông, không hay khéo nào chẳng đầy đủ,
chân - tục hỗ trợ nhau, Không - Hữu viên dung. Từ đấy,
họ xúm vào nghiên cứu, tu tập. Lễ Kinh nói: “Tuy có thức
ăn ngon, không ăn sẽ không biết được vị ngon. Tuy có đạo
chí lý, không học sẽ chẳng biết là hay”. Nay đã biết
ý chỉ, biết cái hay, há nhường cho cổ nhân riêng hưởng
vô thượng tâm pháp này, còn chính mình và hết thảy những
đồng nhân chẳng hưởng được gì ư? Do vậy, Nghiên Cứu
Hội, Cư Sĩ Lâm, Niệm Phật Xã, Hội Ăn Chay lập ra khắp
nơi. Những người kiêng giết, cứu vật, ăn chay, niệm Phật
ngày thấy càng nhiều. Ví như đứa con nghèo khó, tự mê mất
quê nhà, một ngày nọ được người khác chỉ dạy bèn thẳng
hướng cầu đường về, trọn chẳng chịu đi ăn xin quẩn
quanh, lẻ loi tha phương như cũ.
Chùa
Thanh Liên từ khi Hoàng Cốc pháp sư khai sơn đến nay đã là
một đạo tràng Tịnh Độ lớn, hình thế hùng vĩ, quả thật
là chốn thù thắng bậc nhất của Lô Sơn. Do vậy, một ngàn
mấy trăm năm qua, đạo phong chẳng suy, qua nạn Hồng Dương[24],
đều thành tro tàn. Do pháp môn suy vi, không người khôi phục
nên thành núi hoang. Diệu Bồi đại sư từ khi xuất gia trở
đi bèn lấy Tịnh Độ làm tông, toan đem pháp “liễu thoát
ngay trong một đời này” lợi khắp đồng nhân nên bèn đến
Hồng Loa tu tập mấy năm. Mùa Xuân năm nay sang chơi Lô Sơn,
cảm khái sâu xa “đạo của Viễn Công không người chấn
hưng, khiến cho thế đạo nhân tâm mất nhiều lợi ích”.
Khi đến nền cũ của chùa Thanh Liên, thấy hình thế giống
như một đóa sen, chắn trước mặt là dòng thác Tam Điệp,
sau lưng dựa vào ngọn núi Ngũ Lão hùng vĩ, hai bên là ngọn
Sư Tử và Mũi Voi che chở. Đúng là một đạo tràng Tịnh
Độ trời xây đất dựng, chẳng nỡ để vùi lấp, bèn phát
nguyện khôi phục nhằm hoằng dương Liên Tông, nên thương
nghị cùng các đại cư sĩ Thượng Hải, may đều được họ
bày tỏ đồng tâm. Do vậy, trước hết xây cất vài gian điện
đường làm chỗ tu trì. Còn như chuyện xây cất hoàn bị
ngôi chùa phải đợi long thiên cảm ứng, không phải là chuyện
cấp bách hiện thời.
Chuyện
cấp bách bây giờ là mở liên xã hành đạo. Nếu bảo niệm
Phật vãng sanh Tây Phương là được rồi, cần gì phải kết
xã, tức là chẳng biết thế gian muôn sự cần phải có các
duyên giúp đỡ mới hòng thành tựu được, huống chi là học
vô thượng diệu pháp liễu sanh thoát tử! Kinh Dịch nói: “Lệ
Trạch Đoài; Quân tử dĩ bằng hữu giảng tập”.[25] Ấy
là lấy ý nghĩa hai cái đầm cùng tồn tại, hai bên giúp ích
cho nhau. Hơn nữa, thánh nhân liệt bằng hữu vào Ngũ Luân
là vì khuyên làm lành, vạch điều lỗi, có nghĩa như hai vầng
trăng cùng chiếu[26], giúp đỡ trong khi nguy, gìn giữ trong
khi yên; như hai tay giúp đỡ nhau (chữ Hữu 友, viết theo lối
cổ lại có nghĩa là tay).
Thói
thường con người nếu không có gì để nương tựa, đa phần
sẽ vướng vào thói tệ biếng nhác, coi thường. Đại chúng
ở cùng nhau, công khóa nhất định, dẫu muốn biếng nhác
cũng không thể được! Ngoài công khóa ra, những người mạnh
mẽ tinh tấn cũng có thể thúc đẩy những người biếng nhác
gắng sức tu hành. Ai nấy đều tiến lên, có ai đành chịu
tụt hậu? Đây kia giúp đỡ nhau, nên hạnh dễ thành. Nếu
có nghi ngờ và có kiến giải gì bèn có thể quyết trạch
cho nhau. Mỗi ngày lúc rảnh, thỉnh các bậc kỳ túc chỉ bày
đại lược cương yếu Tịnh Tông thì chuyện bỏ tà, giữ
chánh sẽ rành mạch phân minh. Có những lợi ích như vậy
nên cổ nhân đều đề xướng chuyện kết xã.
Nếu
thân mang chức vụ, chẳng thể đích thân tham dự, chỉ tu
trì theo chương trình của liên xã, đợi ngày Khai Hội hoặc
đích thân đến, hoặc gởi thư báo, thuật rõ mình tu trì
siêng hay lười, lợi ích lớn - nhỏ cũng chẳng khác gì như
đã tham dự tu tập tại liên xã. Do tâm mong đua chen cùng liên
hữu sẽ chẳng dám biếng nhác, bỏ bê! Phải biết Phật pháp
vốn chẳng lìa pháp thế gian, phàm các xã hữu[27] ai nấy
phải tận hết bổn phận, như cha từ, con hiếu, anh nhường,
em kính, chồng xướng, vợ theo, chủ nhân từ, tôi tớ trung
thành v.v… Lại phải đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều thiện, kiêng giết, cứu mạng, chẳng ăn mặn, chẳng
uống rượu, ngăn lòng tà, giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ
lễ, tự lợi, lợi tha, lấy đó làm trách nhiệm. Như thế
chính là nền tảng vững vàng, ngay ngắn, đáng được nhuần
thấm bởi pháp. Nếu quả thật đầy đủ lòng tin chân thành,
nguyện thiết tha, ắt sẽ vãng sanh thượng phẩm.
Người
ngu trong cõi đời thường chẳng tu hành chân thật, cứ muốn
được cái hư danh là bậc chân tu, nên bày ra đủ mọi cách
bôi son trát phấn, thành ra dáng vẻ giống như thật nhưng
chẳng phải thật, cốt sao người khác ca ngợi mà thôi. Tâm
hạnh đã ô trược chẳng kham nổi, dù có tu trì thì cũng
vì tâm đã nhơ bẩn nên chắc chắn khó thể đạt được
lợi ích chân thật! Đấy gọi là “ham danh ghét thật”,
là điều đại kỵ bậc nhất cho chuyện tu hành. Nếu đầy
đủ những điều nên làm như trong phần trước, không có
những điều đáng kỵ như đã nói ở phần sau thì trong thế
gian là hiền nhân, trong Phật pháp là bậc Khai Sĩ[28]. Dùng
thân mình làm gương cho người khác từ nhà đến làng, từ
làng đến ấp, cho đến toàn quốc và khắp thiên hạ thì
lễ nghĩa hưng thạnh, can qua vĩnh viễn dứt bặt, từ thiện
khởi, tai họa chẳng sanh, thiên hạ thái bình, nhân dân an
lạc. Nguyện người thấy kẻ nghe đều cùng phát khởi, đề
xướng thì may mắn lắm thay! Chương trình đơn giản sẽ ghi
trong phần sau.
167.
Thư trả lời ông Dương Minh Trai, Phó Tư Lệnh Đệ Ngũ Quân
ở Hà Nam
Nói tu hành ở chốn công môn không chỉ có nghĩa là tụng
kinh, trì chú, niệm Phật mà thôi, mà còn phải tận hết chức
phận của mình, trừ kẻ bạo, giữ yên cho người lành, cũng
như binh lính thuộc quyền mình cai quản ai nấy đều dốc
chí trừ kẻ bạo, giữ yên cho người lành, bảo vệ nhân
dân thì địa phương ấy được hưởng phước, mà chủ tướng,
quân lính sẽ ngầm cùng được nghiệp chướng tiêu trừ,
tăng trưởng phước thọ. Nếu chẳng coi trọng chuyện này,
dùng tấm lòng khẩn thiết chí thành để khuyến khích binh
sĩ, thì quân đi đến đâu, nơi ấy phải chịu nỗi thảm
cướp bóc bừa bãi chẳng thể nào kể xiết; huống hồ thậm
chí có kẻ còn hủy hoại nhà cửa, giết người để thị
uy!
Nếu
cư sĩ quả thật làm được như thế này: Dùng cái tâm chí
thành dạy binh sĩ coi dân địa phương như người nhà của
chính mình, chẳng để họ phải chịu bức bách, đè nén khổ
sở vô lối thì công đức lớn lắm. Làm được như vậy,
lại thêm tụng kinh, trì chú, niệm danh hiệu Phật thì sẽ
được Phật, trời che chở, hộ trì. Khi vô sự thì quân oai
lan xa, kẻ đớn hèn khuất phục. Khi hữu sự sẽ nương sức
Phật, trời, đánh thắng quân địch, trở thành hộ quốc
tướng quân, thành bậc Bồ Tát cứu thế vậy. Quang vốn thiếu
đức, há kham làm thầy, nhưng nếu coi tượng đất nặn, gỗ
khắc như Phật, kính trọng như đức Phật thật thì sẽ được
lợi ích chẳng khác gì kính trọng đức Phật thật. Vì thế,
tôi thuận theo chí ông, chịu làm thầy. Nếu ông kính Phật
trọng Tăng thì cũng từ nơi ông Tăng tầm thường, chỉ biết
cơm cháo này, ắt cũng chẳng đến nỗi không thể nhờ đó
được siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử.
Nếu
chỉ đòi hỏi Quang có đủ đạo đức thì Quang sẽ phụ lòng
mong mỏi, chẳng thà không quy y còn tốt hơn. Nay tôi đặt
pháp danh cho ông là Trí Nghị. Do bởi có trí mạnh mẽ, kiên
nghị, nên trong có thể tu thánh đạo đoạn Kiến Hoặc, ngoài
có thể giữ nước yên dân. Ông nghĩ tưởng đến ý nghĩa
của cái tên ấy sẽ có lợi cho cả quốc gia lẫn xã hội,
chứ nào phải riêng một mình ông đâu! Đối với chuyện
tụng kinh, trì chú, niệm Phật, một mực dùng lòng chí thành,
cung kính để thọ trì là được rồi, bất tất phải lấy
chuyện mong mau hiểu được ý nghĩa làm trọng. Nếu thọ trì
được như vậy thì lâu ngày nghiệp chướng tiêu trừ, trí
huệ phát hiện, còn chứng được lợi ích thật sự nơi kinh,
huống gì văn nghĩa! Trong Văn Sao đã từng nhiều lần đề
cập đến chuyện này, nên chẳng nói nhiều. Xin hãy đọc
kỹ Văn Sao, ấy chính là thường gặp gỡ lẫn nhau, chứ nào
phải chỉ một hai lá thư mà thôi!
168.
Trả lời thư anh em ông Châu Mạnh Do
Mẹ các ông tuổi đã cao, đối với pháp Tịnh Độ còn chưa
thể nỗ lực tu trì, hãy nên thường kể cùng bà cụ nỗi
khổ luân hồi sáu nẻo, sự vui trong thế giới Cực Lạc.
Con người sống trong thế gian, siêu thăng rất khó, đọa lạc
thật dễ. Nếu không vãng sanh Tây Phương, đừng nói chi nhân
đạo chẳng đáng tin tưởng, dù sanh lên trời phước thọ
thật dài lâu, hễ phước lực hết vẫn bị đọa lạc trong
nhân gian y như cũ, cũng như phải chịu khổ trong Tam Đồ ác
đạo! Nếu không biết Phật pháp thì chẳng biết làm sao,
nay đã hiểu đại khái Phật pháp, há nhường một mối đại
lợi ích này cho người khác, còn chính mình đành lòng luân
hồi trong sáu nẻo, thoạt chìm thoạt nổi, vĩnh viễn không
có ngày thoát khỏi ư? Nói như vậy sẽ có thể làm cho thiện
căn đời trước của cụ được phát khởi bèn tin nhận phụng
hành! Bồ Tát độ sanh tùy thuận cơ nghi, trước hết dùng
Dục để lôi kéo, sau mới dạy cho nhập Phật trí. Ông tận
lực tu tập hiếu hữu[29] và đem pháp môn Tịnh Độ khuyên
dạy quyến thuộc của chính mình cùng hết thảy kẻ hữu
duyên đồng làm người trong hội Liên Trì thì công đức lớn
lắm!
Người
đời có bệnh và có những chuyện tai nạn, nguy hiểm v.v…
nhưng chẳng biết niệm Phật, tu thiện, cứ lầm lạc muốn
cầu đảo quỷ thần, bèn giết hại sanh mạng, nghiệp chồng
thêm nghiệp, thật là đáng thương! Con người sống trong thế
gian phàm có cảnh duyên đa phần do túc nghiệp. Đã mắc bệnh
khổ thì phải niệm Phật tu thiện, sám hối nghiệp cũ, hễ
nghiệp tiêu, bệnh liền lành! Những quỷ thần kia còn đang
ở trong biển nghiệp, làm sao có thể tiêu nghiệp cho người
khác được? Dẫu là vị chánh thần có đại oai lực thì
oai lực của vị ấy sánh với oai lực của Phật, Bồ Tát
khác nào lửa đom đóm sánh với ánh sáng mặt trời! Đệ
tử Phật chẳng hướng về Phật, Bồ Tát cầu đảo lại
hướng về quỷ thần cầu đảo. Đấy chính là tà kiến,
chính là trái nghịch lời Phật dạy, không thể không biết!
Lại
nữa, hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, là vị
lai chư Phật, lẽ ra phải nên kiêng giết, cứu mạng, yêu
tiếc sanh mạng loài vật, chớ thuận theo tri kiến thế tục,
cho là phải cung phụng miếng ngon vật lạ cho cha mẹ mới
là hiếu. Những kẻ chưa nghe được Phật pháp đó chẳng
biết sự lý luân hồi lục đạo, lầm tưởng như vậy là
hiếu, còn tha thứ được. Chớ nếu là người đã nghe biết
Phật pháp, lại giết cha mẹ, thân thuộc quá khứ để phụng
dưỡng cha mẹ hiện tại cũng như để ma chay, cúng giỗ v.v…
thì chẳng những không phải là hiếu đạo mà còn trở thành
ngỗ nghịch nữa! Vì vậy, những bậc thông đạt do nghe được
chân thật nghĩa đế của Phật pháp bèn chẳng chịu hành
theo những pháp quyền biến của thế gian, bởi những pháp
quyền biến ấy đều là thuận theo tình kiến mê muội của
thế tục mà lập, chứ không phải là đạo thấy thông suốt
nhân quả ba đời của đức Như Lai. Nếu muốn hiểu sâu hơn,
hãy đọc những bài văn khuyên kiêng giết trong bộ Văn Sao
và bài Phổ Khuyến Giới Sát Vãn Kiếp Văn (văn khuyên khắp
mọi người kiêng giết để vãn hồi kiếp vận) trong bộ
Quán Âm Tụng ắt sẽ tự biết.
Người niệm Phật nếu mắc bệnh hãy nên một dạ đợi chết.
Nếu tuổi thọ chưa hết sẽ chóng lành bệnh, vì toàn thân
buông xuống niệm Phật có thể tiêu được nghiệp chướng
mạnh nhất. Nghiệp tiêu, bệnh sẽ lành. Nếu không buông xuống
được, cứ muốn cầu lành bệnh thì vẫn chưa thể lành bệnh
được, mà cũng chắc chắn không cách gì vãng sanh được
vì chẳng nguyện vãng sanh! Nếu không hiểu rõ những đạo
lý này, há còn có thể cậy vào Phật từ lực được ư?
Đối với bệnh của mẹ ông, hãy khuyên bà cụ nên buông
xuống, cầu vãng sanh. Nếu tuổi thọ chưa hết, đâm ra sẽ
ra mau lành bệnh, vì tâm chí thành nên được Phật từ gia
bị. Mong ông hãy uyển chuyển khuyên mẹ, đừng bắt chước
kẻ si nói lời ngây ngô!
Hôm qua nhận được thư Thủ Lương, biết mẹ ông chưa thật
sự phát tâm cầu sanh. Mẹ đang bệnh đừng nhắc đến chuyện
đó, chỉ khuyên mẹ chí tâm niệm Phật sẽ được Phật gia
bị khiến cho thân tâm an lạc. Đợi khi nào cụ khỏe hẳn,
hãy khéo léo khuyên chỉ, khiến cho cụ cầu sanh thì lợi ích
lớn lắm. Cũng mong ông đối trước cụ, thay tôi hỏi thăm
sức khỏe, cũng như bảo cụ rằng Quang khuyên cụ nên buông
xuống hết thảy, nhất tâm niệm Phật, lấy đó làm chuyện
trọng yếu cho chính mình, mọi chuyện khác đều phó cho con
cháu lo lắng để khỏi gây trở ngại cho lợi ích niệm Phật
của chính mình.
Quần
Tranh hãy nên biết rõ: Mẹ ông hiện đang có bệnh, mẹ chưa
lành bệnh trọn chẳng thể bỏ đi. Nhưng Quang xem ra mẹ ông
e rằng khó sống lâu, hãy nên cùng Mạnh Do và Trí Chiêu v.v…
hằng ngày thay phiên nhau niệm Phật bên mẹ, khiến cụ niệm
theo. Chẳng niệm được thì lặng lẽ nghe. Nếu tuổi thọ
đã hết, hành như thế, sẽ quyết định vãng sanh. Nếu tuổi
thọ chưa hết, cũng sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng
thiện căn. Nếu ông nhất quyết muốn lên núi, chỉ đành
bàn bạc như thế này cùng ông, ngõ hầu hai đằng đều không
trở ngại: Hiện nay mẹ ông bệnh chưa khỏi, quyết chẳng
thể phát cái tâm ấy. Nếu phát thì cả thế gian lẫn xuất
thế gian hai đằng đều trái nghịch. Con người lâm chung được
trợ niệm quyết có thể vãng sanh. Không được trợ niệm,
hoặc lại vì khóc lóc, chuyển dời, khiến tình yêu mến hay
lòng sân hận dấy động thì sẽ khó tránh khỏi bị đọa
lạc, nguy hiểm lắm thay! Ông thành tựu được sự vãng sanh
cho mẹ thì cũng chính là chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế
chư Phật, ấy là “hành Phật sự ngay trong trần lao”, công
đức thù thắng vạn phần hơn những chuyện tầm thường
khác! Xin hãy bảo cùng Mạnh Do cách trợ niệm này và khuyên
mẹ hãy nghe theo lời Quang. Vì mẹ diễn bày Phật pháp cố
nhiên là đại thiện, nhưng chuyện thăm hỏi vỗ về cũng
càng phải đặc biệt lưu ý thì may mắn lắm!
Mẹ ông phát nguyện gởi tiền cho Quang để tùy ý làm công
đức và giúp in bộ Văn Sao hủ bại. Theo cái nhìn hèn tệ
của Quang, hễ làm công đức thì phải coi việc khai phát trí
thức cho con người là trọng yếu nhất. Quang tính dùng khoản
tiền này in Quán Âm Tụng để thí khắp gần xa khiến cho
hết thảy mọi người cùng biết Quán Âm Đại Sĩ là bậc
nương cậy cho chúng sanh trong pháp giới, tùy loại hiện thân,
tầm thanh cứu khổ, lại còn phù tá Phật Di Đà tiếp dẫn
chúng sanh. Huống chi thế nhân hiện thời hằng ngày ở trong
hoạn nạn, không cách chi ngăn ngừa, gìn giữ được. Nếu
ai nấy thấy được sách này, biết ân đức Đại Sĩ, không
ai chẳng muốn cậy vào oai lực Ngài để tránh khỏi tai họa.
Đã
phát tâm quy y, tin tưởng, nương tựa Đại Sĩ thì tự nhiên
sẽ giữ lòng từ thiện, tu sửa lỗi cũ hòng chẳng trái nghịch
Đại Sĩ để được che chở, gìn giữ, ban phước. Cõi đời
loạn lạc là vì lòng người hiểm ác. Nếu ai nấy đều ngưỡng
mộ lòng từ bi của Đại Sĩ, ắt có ngày tự đến được
chốn lành. Do vậy, lưu thông sách này lợi lạc vô cùng, so
với in những thứ lợi ích tạm thời khác quả thật cách
xa một trời một vực! Do chuyện này mẹ ông sẽ tăng phước
huệ, tiêu trừ tội khiên, ắt sống được an lạc, mất về
Liên Bang. Còn như bộ Văn Sao hủ bại, người trông thấy
phát tâm tu thiện niệm Phật rất nhiều, ở đây không viết
tường tận.
Vì sao mẹ ông bệnh chẳng thấy lành? Ấy là do túc nghiệp
mà ra! Là do báo nặng đời sau chuyển thành báo nhẹ trong
hiện tại để giải quyết cho xong ngay lúc này đó vậy! Huyền
Trang pháp sư lúc lâm chung cũng có chút bệnh khổ, tâm nghi
ngờ những kinh mình dịch có bị sai lầm gì chăng, có một
vị Bồ Tát an ủi Ngài: “Do sự khổ nhỏ này, tội báo của
Sư trong những kiếp trước đều tiêu cả, chớ hoài nghi!”
Hãy nên đem ý này an ủi mẹ ông, khuyên cụ sanh lòng hoan
hỷ, đừng sanh lòng oán hận thì quyết định được Phật
gia bị. Thọ mạng chưa hết sẽ chóng lành, đã hết sẽ vãng
sanh. Phàm nhân trong lúc bệnh khổ nếu nghĩ thoái lui một
bước thì an lạc vô lượng.
Gần
đây, binh lửa liên miên, may sao chúng ta chưa mắc phải nạn
ấy. Tuy có bệnh khổ, nhưng vẫn còn có thể dùng đó làm
lời cảnh tỉnh, răn nhắc thoát khổ, phải nên cảm kích,
tinh chuyên tu tập thì sẽ tự được lợi ích. Nếu không,
oán trời hận người, chẳng những không tiêu được túc
nghiệp, lại còn đèo thêm cái nghiệp oán trời trách người!
Hãy bảo cùng mẹ ông như thế. Nếu có thể chẳng oán trời
trách người, tịnh tâm niệm Phật thì tiêu được nghiệp
như nước sôi tan tuyết. Từ khi Quang trở về núi, lúc hồi
hướng trong khóa tụng hằng ngày đều hồi hướng cho mẹ
ông, cầu Tam Bảo gia bị mạng chưa tận sẽ chóng lành, tuổi
thọ đã hết sẽ mau được vãng sanh Tây Phương.
Nhận được thư biết mẹ ông đã niệm Phật vãng sanh bữa
mồng Hai, khôn ngăn thương cảm, than thở! Tuy nhiên, các ông
đã biết Phật pháp, nên y theo Phật pháp, chăm chú tạo lợi
ích cho thần thức của cụ bà, chớ đừng buồn thương vô
ích, khiến cho kẻ còn lẫn người mất chẳng được lợi
ích gì. Trong lúc ma chay, toàn dùng đồ chay, đừng bị thế
tục xoay chuyển. Dẫu bị kẻ chẳng hiểu thời thế chê là
không đúng, cũng cứ mặc cho họ cười chê. Tang ma, chôn cất,
chớ nên bày vẽ phô trương quá mức. Làm Phật sự chỉ nên
niệm Phật, đừng làm Phật sự gì khác, cũng như bảo cả
nhà đều khẩn thiết niệm Phật thì đối với mẹ ông, đối
với quyến thuộc các ông và thân thích, bằng hữu đều có
lợi ích thật sự. Có tài lực thì làm nhiều công đức.
Nếu tiền chi tiêu cho tang sự không dư dả thì chuyên lo tang
sự là được rồi, đừng gắng gượng bày vẽ, đến nỗi
thiếu hụt, để rồi sau này túng quẫn, không nên!
Nhận
được thư, biết mẹ ông qua đời rất an lành. Ấy là do
mẹ ông xưa kia tích chứa thiện căn cũng như do thiện nguyện
trong hiện tại, mà cũng là kết quả của việc các ông giúp
cho mẹ được thành tựu. Con người suốt cả một đời chuyện
gì cũng có thể giả vờ được, chỉ có lúc sắp chết là
không thể giả dối được! Huống chi cụ không có tình ái
luyến, vẻ mặt vui tươi, ngồi yên qua đời. Nếu không phải
là Tịnh nghiệp thành thục, làm sao được như thế? Chỉ
cần nhìn vào anh em ông và gia đình quyến thuộc tích cực
vì mẹ niệm Phật, chẳng những bà cụ được lợi ích, mà
thật ra so với công đức niệm Phật cho chính mình lại càng
lớn hơn. Do vậy, đức Phật dạy con người phàm tụng kinh,
trì chú, niệm Phật, làm các công đức đều hồi hướng
cho pháp giới chúng sanh. Bình thời còn hồi hướng cho chúng
sanh không liên hệ gì với mình, huống gì lúc mẹ mất lại
chẳng chí tâm vì mẹ niệm Phật hay sao? Do hồi hướng cho
hết thảy chúng sanh chính là phù hợp với thệ nguyện Bồ
Đề của Phật, như một giọt nước gieo vào biển cả cũng
trở thành sâu rộng như biển cả. Nếu chưa đến được
biển, đừng nói chi là một giọt nước, dẫu trường giang,
sông lớn hiển nhiên vẫn thua xa biển cả như trời với đất.
Do vậy, biết rằng phàm thí cho mẹ và hết thảy mọi người
đều chính là tự vun bồi phước cho mình!
Biết
được nghĩa này thì người có lòng hiếu sẽ càng tăng trưởng
lòng hiếu; kẻ không có lòng hiếu cũng sẽ phát khởi tâm
hiếu. Thỉnh Tăng niệm Phật suốt bốn mươi chín ngày rất
tốt. Lúc niệm thì anh em ông phải có người hiện diện niệm
theo, phụ nữ bất tất phải ngồi sau Tăng. Bởi lẽ, niệm
nhiều ngày, ắt quen biết nhau, dễ khiến người ta khởi hiềm
nghi! Nên lập riêng một chỗ cho phụ nữ, hoặc cho họ ngồi
sau màn, ra vào theo cửa riêng, hai bên chẳng thấy nhau để
làm gương cho làng ấp, mở đầu khuôn phép nghi thức tốt
đẹp. Nếu tràn lan không giới hạn thì rất có thể người
khác bắt chước theo, lâu ngày nẩy sanh thói tệ. Người xưa
lập pháp dẫu là thượng thượng nhân cũng phải tuân thủ
khuôn phép dành cho kẻ hạ hạ, cho nên không thể có tệ hại.
Anh
em ông vì mẹ có thể niệm Phật như thế lại còn vì mẹ
in tặng Quán Âm Tụng, Văn Sao v.v… có thiện tâm, tư lương
thanh tịnh, và chuyện công đức lợi người như thế há chẳng
riêng gì mẹ ông phẩm sen được tăng cao, chắc rằng tổ
phụ, tổ mẫu, phụ thân ông và tổ tiên nhiều đời cùng
được thấm nhuần pháp lợi, cùng được vãng sanh. Những
gì Quang nói vốn có lý có tình, chứ không phải là nói lan
man để làm đẹp lòng vui dạ các ông. Con em nhà phú quý đa
phần chẳng thành trò trống gì, vốn là do chẳng biết cách
thương yêu, hoặc là thiên về cho con tiền tài, hoặc là thiên
về cho con ăn mặc sang trọng, mặc sức dùng tiền, ắt đến
nỗi ăn bậy thành bệnh. Nếu cho một đứa nào giữ tiền
của để kiếm lời, những đứa khác không được sẽ sanh
tâm oán cha mẹ, sanh lòng đố kỵ với những anh em, chị em
được giữ tiền. Đấy đều chẳng phải là cách dạy con
hiếu đễ.
Nếu
con gái có tiền, khi lấy chồng sẽ cậy tiền tự kiêu, hoặc
khinh thường chồng, hoặc không hiểu việc, đem tiền giúp
chồng làm chuyện trái pháp. Muốn con cái thành hiền nhân
thì hãy nên vun bồi phước, chẳng nên tích cóp tiền tài.
Tài là gốc họa, các ông thấy bao kẻ tay trắng làm nên đều
là do không tiền nhưng siêng năng mà được, còn những nhà
giàu to không ít kẻ chẳng bao lâu gia sản trống rỗng. Cổ
nhân nói: “Để cho con một rương đầy vàng, không bằng
dạy con một bộ kinh”. Học được thì học, không học được
thì hoặc làm ruộng, làm thợ, buôn bán, mỗi đứa một nghề
để làm cái vốn lập thân nuôi gia đình. Nếu con gái có
tiền, hiểu biết đạo lý thì tiền sẽ thành cái gốc để
giúp cho đạo. Nếu không hiểu đạo lý thì sẽ hại cả con
lẫn rể, hại lây đến cháu trai, cháu gái.
Mẹ
ông khéo kinh doanh, may là tổ đức nhà ông sâu dầy nên anh
em trai, chị em gái đều hiền lành, hòa thuận. Dù mẹ có
thương yêu một đứa con nào hơn những đứa khác, cũng chẳng
đến nỗi so bì lẫn nhau. Nhưng chẳng thể coi đó là cách
hay, phải làm sao cho con cái vĩnh viễn không so đo, nẩy sanh
hiềm khích, cũng như không sanh trưởng ý niệm ỷ lại, kiêu
căng, ngõ hầu gia đạo hưng thịnh, con cháu đều tuân thủ
quy củ. Quang thường hay có cái tánh dài dòng; do anh em ông
coi Quang là thầy, chỉ sợ rằng sau này con cái các ông bị
mắc hại nên mới lắm lời. Nếu không coi những gì tôi đã
nói là không có nguyên nhân, không xem là lời thừa thì may
mắn thay! Chỉ mong anh em ông tích cực niệm Phật, đấy chính
là báo ân mẹ mà cũng là báo ân Phật vậy.
Cách
hỏa táng khi Phật pháp hưng thạnh vào thời Đường - Tống,
người tại gia thường dùng. Nhưng hãy nên thuận theo thói
đời chôn cất, vì sợ kẻ chấp trước câu nệ sẽ lầm
lạc nói ra nói vào, chứ thật ra thiêu sẽ dễ dàng gọn gàng
hơn. Qua bốn mươi chín ngày hãy thiêu là ổn thỏa. Chôn lâu
ngày rất có thể xương cốt bị phơi bày. Chuyện để tang
ba năm không dùng đến lễ nhạc, cố nhiên nên tuân thủ.
Đời Thanh trước kia, hễ là quan văn thì phải xin nghỉ cư
tang, quan võ không cần phải cư tang do việc quân chẳng thể
thiếu sót được, nên chẳng lấy đó làm lệ. Nay thì những
thói “phế bỏ luân thường, bất hiếu” nhao nhao khởi lên,
chuyện vâng giữ tang chế theo kỳ hạn há còn đáng để nhắc
tới hay chăng? Chúng ta nên dựa theo cổ lễ, châm chước mà
hành, chớ nên biến đổi hết, nhưng cũng bất tất phải
câu nệ!
Những
thuyết “đảnh thánh nhãn thiên”[30] quả thật có chứng
cứ, nhưng Quang sợ kẻ vô tri chỉ chăm chú thăm dò chỗ nóng
- lạnh, ý tôi cho rằng: “Hễ có tín nguyện và lúc lâm chung
chánh niệm phân minh bèn được vãng sanh, chẳng cần phải
chuyên thăm dò nóng - lạnh để làm chứng cứ”, nên mới
nói cũng đừng theo lệ ấy vì sợ rằng thăm dò quá nhiều
lần đến nỗi hỏng việc. Không thể không biết [điều này]!
Trong
pháp hội Vô Lượng Thọ Như Lai của kinh Đại Bảo Tích[31]
có nói những kẻ nghi ngờ hối hận thì gọi là Thai Sanh,
cũng có chỗ gọi là Nghi Thành; tức là ước theo chướng
ngại, che lấp, ngăn cách, trở ngại cho nên gọi là Thai Sanh,
là Nghi Thành. Đó là vì ở trong hoa sen năm trăm năm chẳng
thấy Phật, nghe pháp. Sao lại hiểu nghĩa theo kiểu chấp chết
cứng vào văn tự, không kể những người ấy vào loại chín
phẩm vãng sanh? Phải biết: Tây Phương không có Thai Sanh, cũng
không có thành quách. Nói Thai Sanh hay Nghi Thành là ước trên
ý nghĩa “chẳng vượt ra khỏi hoa sen và bị ngăn cách với
Phật”, nên ví như thai, như thành! Ông chấp chặt vào từ
ngữ, cho rằng những người ấy không thuộc vào phẩm sen.
Hạ
Phẩm Trung Sanh là sáu kiếp [hoa mới nở], Hạ Phẩm Hạ Sanh
là mười hai kiếp; như vậy thành ấy, thai ấy lại càng dày,
càng xa. Mười hai kiếp còn gộp trong chín phẩm, sao chỉ năm
trăm năm lại lọt ra ngoài? Sao lại không thấy tám chữ “ở
trong hoa sen chẳng thể xuất hiện”, hoa sen ấy chẳng phải
là sen trong chín phẩm hay sao? Phật pháp vốn chẳng thể nói
được, hễ chấp chết vào điều gì thì là vô sự bèn sanh
sự, phí hết bút mực vậy! Nói chung, do mình nghi nên bèn
[ví như] ở trong thai, ở trong thành, dày còn hơn Thiết Vi.
Nếu ngay đó bèn hiểu rõ thì đại địa phẳng phiu, Thiết
Vi trọn chẳng còn có nữa. Mạnh Tử nói: “Do ý nghịch chí,
cho nên bèn có”[32]. Chỉ một chữ Nghịch ấy cũng là nghi
thành. Nếu biết là nghịch sẽ phù hợp cùng ý, Nghi Thành
hóa ra không còn nữa! Do vậy, những gã chấp chết cứng suốt
ngày giảng nói nhưng suốt ngày nghi ngờ, trái nghịch, đều
là vì cái gốc bệnh chấp chết cứng này chưa tiêu được
cho nên khó thể đạt được lợi ích thật sự!
169.
Thư trả lời cư sĩ Phùng Bất Cửu
Nếu muốn giáo hóa người thì chính mình phải thật sự làm,
người ta sẽ tự tin. Quang nói “thật sự làm” không chỉ
có nghĩa là niệm Phật mà thôi! Phàm người phát tâm học
Phật thì việc làm phải cao trỗi hơn người bình thường.
Nói “cao trỗi” có nghĩa là phải tận lực giữ vẹn luân
thường, tận hết bổn phận, cha từ, con hiếu là những điều
phải nên làm. Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ chăm chú
giữ lòng chân thật, phàm khởi tâm động niệm làm việc
gì đều phải “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện”. Phàm có ai mê chẳng tin tưởng thì phải dùng thành
ý chân thật để tuyên nói những sự lý nhân quả mình biết.
Nếu không biết, chớ nên cưỡng nói. Chúng sanh đang mê như
sanh ra đã mù, mê nhưng vốn có nhà, muốn quay về phải nhờ
vào người dẫn thì mới khỏi va tường đụng vách, sa hầm
xảy hố. Người được dẫn dắt phải hoàn toàn tuân theo
lời người dẫn đường, chẳng được nẩy sanh chút chống
trái nào. Nếu chống trái thì chẳng những không thể về
đến nhà, e rằng còn bị mất cả thân mạng. Pháp môn Tịnh
Độ do đức Phật đã nói chính là vị thầy dẫn đường
cho hết thảy chúng sanh trong tam giới. Chúng sanh tuân theo ngôn
giáo của Phật mà tu hành quyết sẽ đến được Tây Phương
Cực Lạc thế giới, tức là quê nhà mình sẵn có, hưởng
thụ an lạc. Chỉ vì dùng phàm tình không hiểu được thánh
trí nên lại tự cho mình thông minh, rồi lầm lạc cật vấn,
bắt bẻ, thật đáng xót thương! Nay tôi sẽ lần lượt đáp
từng điều:
1) “Vật đạt đến cùng cực sẽ xoay ngược lại, vui quá
hóa buồn” chính là lý chung, nguyên tắc chung thường hằng
cổ kim, thông suốt khắp thiên hạ, trọn chẳng thể thay đổi
mảy may nào. Tây Phương mang tên là Cực Lạc, như vậy cũng
sẽ hóa thành buồn ư?
Đáp: Trong thế gian, tất cả căn thân (căn chính là cái thân
chúng ta) hay thế giới (tức là trời đất mình đang sống)
đều là đồng nghiệp (thế giới) và biệt nghiệp (căn thân)
được cảm thành trong cái tâm sanh diệt của chúng sanh, đều
có thành - hoại, đều chẳng lâu bền. Thân có sanh - lão -
bệnh - tử, thế giới có thành - trụ - hoại - không. Nói
“vật đạt đến cùng cực ắt xoay ngược lại, vui quá hóa
buồn” chính là ý này. Bởi lẽ nhân đã là sanh diệt thì
quả không thể nào không sanh diệt! Cực Lạc thế giới là
do A Di Đà Phật chứng triệt để Phật Tánh sẵn có trong
tự tâm, tùy tâm hiện ra thế giới xứng tánh trang nghiêm
chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, sự vui không có thời kỳ cùng
tận. Ví như hư không rộng rãi lớn lao, bao hàm hết thảy
sâm la vạn tượng. Tuy thế giới bao lượt thành, bao phen hoại,
nhưng hư không rốt ráo chẳng tăng - giảm.
Ông
dùng sự vui thế gian để cật vấn sự vui nơi Cực Lạc.
Ông chưa thể thấy được sự vui nơi Cực Lạc; tuy ông chưa
thể thấy hư không hoàn toàn, nhưng hư không trong vòng trời
đất ông đã từng thấy qua, nó có biến đổi hay chăng? Phải
biết hết thảy chúng sanh đều sẵn có Phật Tánh; vì thế,
đức Phật (chỉ Thích Ca Mâu Ni Phật) dạy người niệm Phật
cầu sanh Tây Phương. Do nương vào đại từ bi nguyện lực
của Phật A Di Đà nên cũng được hưởng sự vui bất sanh
bất diệt ấy. Bởi lẽ căn thân là liên hoa hóa sanh nên không
có nỗi khổ sanh - già - bệnh - chết; còn thế giới do công
đức xứng tánh biến hiện nên không có những sự biến đổi
thành - trụ - hoại - không! Dẫu là thánh nhân cũng còn có
những điều không biết, há có nên do pháp thế gian sanh -
diệt mà nghi ngờ ư?
2) “Nhất Âm nhất Dương gọi là Đạo”. Đời đồn đại
tiên sinh Giang Thận Tu[33] ở một mình trong núi thẳm, làm
ra thiên, địa, nhật, nguyệt, tinh tú đều thành hình, nhưng
chúng đều đứng yên không vận chuyển được, đến khi chúng
được hưởng khí Âm của đứa tớ gái mới vận hành được!
Tây Phương không có thân nữ, riêng có một mình Dương, làm
sao sanh trưởng cho được?
Đáp: Giang Thận Tu là một bậc quân tử ẩn dật đời Thanh,
đối với tâm pháp thánh hiền, thiên văn, địa lý, không
gì chẳng thông đạt, quả là trong thế gian hiếm được mấy
kẻ! Tiên sinh chưa từng nghiên cứu Phật pháp, nhưng đối
với chuyện kiêng giết, phóng sanh v.v… lại suốt đời khen
ngợi (Quang từng viết lời tựa cho sách và bản Niên Phổ
của tiên sinh, cùng cho lưu truyền). Đối với pháp thiển
cận nhất của Phật pháp, tiên sinh còn như thế; nếu khi
đó được bậc cao nhân thông suốt Phật pháp hóa độ, ắt
sẽ thâm nhập pháp tạng, triệt chứng tự tâm. Còn như nói
“ông ta làm ra thiên, địa, nhật, nguyệt, tinh tú đều thành
hình, nhưng chúng chỉ đứng yên không vận chuyển được,
phải đợi đến khi có Âm Khí của đứa tớ gái mới xoay
vần được” thì đấy chính là lời đơm đặt, đồn thổi
của bọn hạ lưu luyện đan, nhằm lôi kéo những kẻ vô thức
làm chuyện tà bậy, nên mượn chuyện ông Thận Tu làm ra thiên
địa hòng chứng minh “Âm Dương hòa hợp chính là Đạo”.
Đấy là chuyện cực ác, trái pháp, vô luân lý, vô liêm sỉ,
dẫn con người sa vào lời ma, tà kiến cầm thú. Kẻ vô tri
tưởng là diệu đạo, chẳng đáng buồn ư? “Nhất Âm nhất
Dương gọi là Đạo” chính là lời Khổng Tử khen ngợi kinh
Dịch. Dịch lấy Âm Dương làm gốc nên Khổng Tử nói như
thế. Người đời sau không biết đạo, liền hiểu sơ sài
hai chữ “Âm Dương” có nghĩa là khí Âm, khí Dương; kẻ
tà kiến lại hiểu lệch lạc Âm Dương là nam nữ, đúng là
“két học tiếng người, trọn chẳng biết chuyện người”.
Nay
chẳng nài phiền toái, chỉ bày đại lược ngõ hầu chẳng
đến nỗi khiến cho lời dạy đạo của thánh nhân bị kẻ
vô tri hiểu lầm tạo thành ác nghiệp vĩnh viễn đọa trong
tam đồ. “Nhất” không phải là “một” như trong “nhất,
nhị” (một, hai), mà có nghĩa là “hỗn hợp, không gián
đoạn”. Dương chính là Minh Đức; Minh Đức này ai ai cũng
có. Do bị món vật là lòng ham muốn của con người ngăn lấp
nên Minh Đức sẵn có chẳng thể hiển hiện được! Nếu
“cách trừ” (trừ khử) được “món vật” (tức “cách
vật”) là lòng Dục thì Minh Đức sẽ tự hiển lộ, đó
gọi là “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ đức sáng). Dương
là Minh Đức, còn Âm là công dụng làm sáng tỏ Minh Đức.
Sách Trung Dung nói là “thành minh”. Thành chính là Minh Đức,
Minh chính là sự sáng tỏ của việc “minh Minh Đức”. Thành
và Minh hợp nhất chính là “minh Minh Đức”. Đấy chính
là đạo được truyền bởi các vị Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu,
Thuấn, Vũ (vua Đại Vũ), Thang (vua Thành Thang), Văn (tức Châu
Văn Vương), Vũ (tức Châu Vũ Vương), Châu Công, Khổng Tử.
Trong
sách Đại Học, Khổng Tử gọi thẳng là “minh Minh Đức”,
còn trong Trung Dung, Tử Tư gọi là “thành minh”. Sách Châu
Dịch chính là sách thánh nhân xem xét hình tượng để sánh
ví đạo nhằm dạy người, nên bảo “nhất Âm nhất Dương
là Đạo”. Đời sau trí thức nông cạn, hèn kém, hiểu chết
cứng chữ “Âm Dương”, rốt cuộc hiểu thành nam nữ, rồi
tà nhân dùng đó làm chứng cứ để gạt gẫm người vô tri
làm chuyện tà bậy. Cái tội vu báng, miệt thị Khổng Tử,
phá hoại Dịch lý, gây nghi ngờ lầm lạc cho hậu thế há
cùng cực được ư? Tôi nói như vậy, sợ ông không tin. Hãy
xem phần Tượng Truyện nói về những con rồng trong sáu hào[34]
của quẻ Thuần Càn ắt tự biết rõ, cũng chẳng cần phải
nghiên cứu toàn bộ sáu mươi bốn quẻ. Kẻ kia cho Âm Dương
hợp nhau là Đạo, trong núi sâu há lẽ chẳng có khí Âm Dương,
cần chi cứ phải dùng đến khí Âm Dương của con người?
Khí Âm Dương của con người là cái gốc để sanh con cái,
nào phải là cái gốc của thiên, địa, nhật, nguyệt, tinh
tú? Loại tà kiến này xú uế đến cùng cực, chẳng đáng
nhắc đến. Kẻ ấy vẫn cho đó là đạo, đúng là “dùng
phân người để làm chiên-đàn[35]”, chính là hạng người
chẳng biết thơm - thối! Buồn thay!
3)
Do tham Thiền điều thần dưỡng khí nên tin là có í