Quyển
Thứ Hai
(Phần
1)
91.
Trả lời thư cư sĩ Bao Hữu Vũ (thư thứ nhất)
Vừa
nhận được thư, khôn ngăn cảm khái, thẹn thùng. Ấn Quang
là một ông Tăng chỉ biết đến cơm cháo, những chuyện trong
pháp môn nhất loạt chẳng biết gì, chỉ có mỗi Tịnh Độ
là hơi muốn cho cả mình lẫn người cùng được vãng sanh.
Bởi vậy, nếu có kẻ Tăng, người tục hỏi đến, đều
dùng chuyện này để phụng đáp. Cư sĩ Từ Úy Như cho rằng
những phân tích rõ ràng giới hạn giữa Thiền và Tịnh, cũng
như những nghị luận ngoài da về sự khó - dễ, được -
mất giữa Tự Lực và Phật Lực, cũng như việc trọng lòng
kính, giữ lòng thành [của tôi] đều hơi có ích cho hàng sơ
cơ cho nên tuy văn từ tệ vụng cũng chẳng vứt bỏ, ba bốn
lượt ấn loát lưu thông, ngõ hầu những ai có chí liễu sanh
tử đều cùng nhận lấy những lời nghị luận ngô nghê này[1]
mà thôi. Nhưng đem cơm thừa canh cặn bày trước mặt người
đã no ứ tiệc vua ắt sẽ nhớm gờm mắc ọe, nào còn dám
chú giải kinh?
Các
hạ chẳng cho [lời tôi] là chua hôi, đáng vứt bỏ, nên kính
tặng một bộ Văn Sao hủ bại. Bản này do ông Từ Úy Như
yêu cầu Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ in riêng. Năm nay
in ra, do Thư Quán sợ bán không được nên chỉ in hai ngàn
bản. In sách xong, chưa kịp phát hành đã bán hết sạch. Tuy
còn bản lưu, nhưng do Thư Quán ấy chú trọng những cuốn
sách mới mang tính thời thượng cho nên đến nay vẫn chưa
in lần thứ hai. Một hai năm nay, cũng có bạn bè quen biết
khuyên Quang khắc in, Quang tính đợi cho Thương Vụ Ấn Thư
Quán sắp xếp sách hoàn chỉnh rồi mới cho khắc ván để
đỡ tốn tâm lực. Năm ngoái, miền Bắc mất mùa lớn, các
thiện sĩ lập cách quyên mộ, Quang bèn đem hết số tiền
dự định khắc kinh ra đóng góp cho công cuộc cứu trợ, làm
như thế hai lần tổng cộng là năm trăm đồng. Nếu như [sách
này] có ích cho hàng sơ cơ, hãy nên in ra, lưu truyền, chưa
hề chẳng có lợi cho người khác vậy!
92.
Trả lời thư cư sĩ Bao Hữu Vũ (thư thứ hai)
Biển
cả sanh tử không nhờ niệm Phật không cách nào vượt được!
Muốn biết gốc cội của pháp niệm Phật nhưng chẳng xem
kinh luận Tịnh Độ, làm sao biết được? Vì thế, hằng ngày
nên tụng kinh A Di Đà, thường xem kinh Vô Lượng Thọ, và
kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Đó là Tịnh Độ Tam Kinh. Đọc
những kinh ấy sẽ biết thệ nguyện rộng sâu của Phật A
Di Đà, cảnh duyên thù thắng của Tịnh Độ, hành tướng
vãng sanh của hành nhân. Ngoài ra, khai thị phương pháp niệm
Phật thân thiết nhất thì có chương Đại Thế Chí Bồ Tát
Niệm Phật Viên Thông ở cuối quyển năm kinh Lăng Nghiêm.
Lại còn có phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm,
dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Đọc những
kinh này sẽ biết pháp Niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính
là bước cuối cùng để thành Phật trong một đời của kinh
Hoa Nghiêm, là phương tiện tối thắng để tự lợi lúc tu
nhân, để lợi tha khi đã chứng quả của mười phương tam
thế chư Phật. Những kẻ nói xằng pháp môn Tịnh Độ là
Quyền Tiệm Tiểu Thừa đều là những kẻ có tội cực nặng
hủy báng kinh Hoa Nghiêm và hủy báng Phật - Pháp - Tăng. Còn
những bản chú giải ba kinh Tịnh Độ và những sách Tịnh
Độ nên chuyên tinh xem đọc thì trong lá thơ gởi cho bà Từ
nữ sĩ trong bộ Văn Sao tôi đã trình bày đầy đủ. Ở đây
không phải viết chi tiết nữa!
Phép
Thập Niệm buổi sáng nên thực hành vào lúc súc miệng, rửa
ráy xong và trước khi thực hành công khóa. Trong Tịnh Độ
Thập Yếu và Tây Quy Trực Chỉ đều có nghi thức này, làm
theo đó là được rồi! Nhưng chẳng được niệm hơn mười
niệm vì niệm nhiều sẽ bị tổn khí, trong bộ Văn Sao, Quang
cũng đã nhiều lần nêu lẽ lợi - hại. Công khóa sáng tối
cứ chiếu theo công khóa mà niệm là được. Nếu công việc
đa đoan, chẳng rảnh rỗi để niệm công khóa thì dùng cách
Thập Niệm cũng được! Ngoài ra thì chỉ niệm một câu “nam-mô
A Di Đà Phật” là được rồi!
Pháp
Thập Niệm vừa nói đó cứ hết một hơi là một niệm, niệm
mười hơi như thế thì gọi là Thập Niệm. Như người hơi
mạnh, một niệm có thể niệm được nhiều đến mười,
hai mươi câu; người khí yếu, chỉ niệm được vài câu.
Bất luận niệm Phật nhiều ít, chỉ lấy từ một hơi đến
mười hơi làm chừng. Chỗ mầu nhiệm của pháp này trong bộ
Văn Sao cũng đã nói rồi. Nếu niệm nhiều sẽ bị tổn khí
thành bệnh, không thể không biết. Cổ nhân nói: “Thông minh
chẳng cự nổi nghiệp, phú quý chẳng khỏi luân hồi”. Sanh
tử xảy đến không dựa vào đâu được, chỉ có A Di Đà
Phật là nương dựa được. Tiếc là người đời biết điều
này quá ít; tuy biết nhưng chân tín thật niệm lại càng ít
hơn nữa!
Ông
Vương Thiết San ở Thông Châu[2] từng làm chức Phiên Đài[3]
ở Quảng Tây vào đời nhà Thanh trước kia, cõi ấy thổ phỉ
rất nhiều, ông bày kế tiễu trừ, giết không biết bao nhiêu
mà kể. Năm trước mắc bệnh, nhắm mắt liền thấy mình
ở trong nhà tối, quỷ thật đông cùng xông đến bức bách,
hoảng sợ thức dậy. Suốt ba ngày ba đêm như thế, vừa chợp
mắt liền thấy cảnh ấy. Con người suy sụp, hơi thở thoi
thóp. Bà vợ ông khuyên ông niệm Phật, liền niệm mấy mươi
tiếng bèn ngủ được. Do ngủ được đẫy giấc, tinh thần
dần dần tỉnh táo, bệnh liền giảm bớt. Ông liền trường
trai niệm Phật. Nếu lúc ấy không có ai đem pháp Niệm Phật
bảo cho, e rằng vạn phần chẳng sống được đến bây giờ.
Vì thế, dạy người niệm Phật công đức vô lượng; những
người biết đến lợi ích niệm Phật đều là do thiện căn
nhiều đời nhiều kiếp tạo thành.
Những
chuyện lệnh thân đã được thấy quả thật là hiếm lạ,
có thể nói là đời trước đã có thiện căn, nhưng phải
tự gắng tu trì thật cẩn thận, ngõ hầu chẳng uổng giấc
mộng ấy. Nếu vì tri kiến phàm phu, lầm lạc bảo mình đã
được Tam Bảo gia bị, đã dự vào dòng Thánh, từ đó sanh
ra đại ngã mạn, chưa đắc bảo là đắc, chưa chứng nói
là chứng thì là do thiện nhân chuốc lấy ác quả. Người
trong đời Mạt tâm trí hèn kém, thường mắc cái bệnh này!
Ấy là như kinh Lăng Nghiêm đã dạy: “Tâm chẳng coi đó là
thánh [cảnh] thì gọi là cảnh giới lành. Nếu hiểu là cảnh
thánh sẽ bị mắc vào các tà!”, chính là nói về điều
này vậy! Xin hãy đem chuyện tận lực tu pháp môn Tịnh Độ
để tự khích lệ thì tương lai chắc chắn đạt được đại
lợi ích.
Phải
biết một pháp Tịnh Độ chính là lò luyện lớn để nung
phàm luyện thánh của mười phương ba đời chư Phật. Chúng
sanh trong chín pháp giới nếu không vào trong lò ấy thì không
ai thoát ra ngoài [chín pháp giới] được, bởi thoát ra chính
là rốt ráo thành Phật vậy! Tin tưởng được như thế mới
gọi là Chánh Tín, mới gọi là “có Tịnh Độ” vậy!
93.
Thư trả lời cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ nhất)
Ngày
hôm qua nhận được thư luận về chuyện dạy con gái là cái
gốc để tề gia trị quốc, có thể nói là ông đã thấy
thấu triệt được cái lý. Nhà Châu lập quốc nền tảng
là do ba bà Thái. Văn Vương thành thánh là nhờ thai giáo[4].
Do vậy, biết đời không có bậc thánh hiền là do thế gian
ít có người mẹ thánh hiền mà nên nỗi! Nếu như bà mẹ
nào cũng giống như ba bà Thái thì con họ dẫu chẳng là Vương
Quý, Văn Vương, Châu Công[5] thì cũng chẳng là kẻ gian ác,
điều này cũng rõ ràng lắm! Nhưng người đời chỉ biết
yêu thương con gái, mặc tình cho nó kiêu căng thành thói, chẳng
biết đem lẽ mẫu nghi ra dạy. Đấy chính là một điều đại
bất hạnh của nước ta!
Con
người lúc nhỏ thường kề cận bên mẹ, nên chịu ảnh hưởng
thói quen của mẹ rất sâu. Những kẻ làm con gái người ta
hiện thời, ngày sau sẽ là mẹ người ta. Ai muốn bồi đắp
quốc gia phải lấy chuyện dạy con gái làm nhiệm vụ cấp
bách. Chớ nói: “Con gái là con người ta, cần gì phải uổng
công chịu đựng nhọc nhằn, lo lắng làm gì?” Phải biết
rằng: Vì trời đất, vun bồi một người dân lành biết giữ
phận thì không có công đức nào lớn hơn! Huống chi nếu
người nữ có thể giữ vững đức hạnh của nữ nhân thì
con cái cô ta sẽ phỏng theo khuôn mẫu tốt lành, còn vinh dự
nào hơn; huống gì con dâu, cháu dâu của chính mình cũng đều
là con gái nhà người ta đó thôi! Muốn cho nước nhà quật
khởi hưng thạnh, nếu không có hiền mẫu sẽ không có gì
hỗ trợ được! Đời không có mẹ hiền thì chẳng những
nước không có lương dân, mà nhà cũng chẳng có con ngoan!
Ngay cả những gã sư tăng tồi tệ ăn bám Phật pháp cũng
đều chẳng phải do những người mẹ tốt lành sanh ra! Nếu
như người mẹ thật sự hiền, bọn ấy trọn chẳng đến
nỗi kém hèn đến thế! Tiếc thay!
Phật
pháp không gì lớn lao chẳng bao gồm, không gì nhỏ nhặt chẳng
nêu lên. Ví như một trận mưa thấm khắp, cây cỏ cùng tươi
tốt. Cái đạo tu thân, tề gia, trị quốc, tân dân không gì
chẳng đầy đủ. Xưa nay những kẻ văn chương lừng lẫy
một thuở, công nghiệp vang rền vũ trụ, và những người
nhân hiếu rất mực, muôn đời kính ngưỡng, người ta chỉ
biết đến hình tích chứ chưa xét đến cội nguồn. Nếu
khảo sát kỹ căn do thì tinh thần, chí khí, tiết tháo của
họ đều do học Phật vun bồi mà ra. Những chuyện khác không
cần phải nhắc đến, chứ ngay như tâm pháp của thánh nhân
do Tống Nho[6] phát minh cũng phải nhờ vào Phật pháp để
làm khuôn mẫu vậy, huống gì những thứ khác! Thế nhưng
bọn Tống Nho khí lượng hẹp hòi, muốn hậu thế cho rằng
những điều ấy do chính trí của họ tìm ra, nên đặt ra
những lời chê trách Phật để làm kế “bịt tai trộm linh”,
từ đời Tống đến nhà Nguyên rồi sang nhà Minh, không lúc
nào chẳng vậy! Thử dốc lòng khảo sát thì không ai chẳng
lấy Phật pháp để tự làm lợi cho mình! Còn như họ nói
đến chuyện tịnh tọa, nói đến chuyện tham cứu, đều là
chứng cớ chứng tỏ họ dụng công; lâm chung biết trước
lúc mất, nói cười ngồi thác là những chứng cớ sau cùng
để phát hiện [họ có tu Phật]. Những chuyện như vậy chép
trong các truyện ký của Lý Học không thể nào nêu trọn.
Há có phải học Phật là mối lo cho xã hội ư?
Tống
Cát Phồn[7] ban ngày làm chuyện lợi người, Triệu Duyệt
Đạo[8] ban ngày làm điều gì, ban đêm ắt thắp hương tâu
cùng Thượng Đế. Viên Liễu Phàm lập mạng, Châu Mộng Nhan
soạn sách, không vị nào chẳng tha thiết mong người đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, tỏ nhân quả,
chỉ tội phước, khiến cho người khác biết: Khởi tâm động
niệm thì thiên địa quỷ thần không gì chẳng đều thấy
đều biết. Dẫu muốn dối người nhưng vì thiên địa đều
thấy biết tất cả nên chẳng dám làm. Từ đấy, gắng sức
làm lành, thật tâm kiêng ác, tuy là kẻ ương ngạnh khó giáo
hóa nhất chẳng thể dùng lý để dẫn dụ được, nhưng do
nghe đến cái đạo nhân quả ba đời ắt sẽ dần dần chững
lại, thậm chí chuyển bạo ác thành lương thiện không biết
là bao nhiêu!
Tôi
trộm cho rằng: Cha mẹ yêu con không gì chẳng lo lắng, chỉ
có bệnh tật hoạn nạn mới đành cam chịu. Trẻ nhỏ vừa
mới biết nói liền dạy niệm “nam-mô A Di Đà Phật” và
danh hiệu “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” . Dẫu cho đời
trước ít vun bồi, nhờ vào nguyện lực này ắt có thể tiêu
được họa ngay khi chưa chớm, phước đưa đến mà không
biết, có thể không còn phải lo gì đến những chuyện bệnh
tật, tai ương, hiểm nạn. Con vừa mới hiểu biết, liền
dạy cho con trung hậu, khoan thứ, nhân từ, kiêng giết, phóng
sanh và những sự tích nhân quả ba đời rõ ràng, ngõ hầu
con tập thành tánh. Lúc nhỏ, chẳng dám tàn bạo đối với
loài trùng kiến nhỏ nhặt, lớn lên trọn chẳng đến nỗi
làm chuyện gian ác, làm nhục tổ tiên cha mẹ. Phật pháp gặp
cha nói từ, gặp con nói hiếu, gặp anh nói nhường, gặp em
nói kính, chồng xướng vợ thuận theo, chủ đối xử có nghĩa,
tớ trung thành. Tuy gọi chung là “pháp xuất thế”, nhưng
quả thật đầy đủ những khuôn phép tốt lành để sống
trong đời.
Những
khuôn phép tốt lành để sống trong đời cũng giống như Nho
Giáo, nhưng Nho Giáo chỉ dạy con người tận nghĩa, còn Phật
giáo mỗi mỗi đều nói đến nhân quả. Tận nghĩa chỉ có
thể dạy người thượng trí, khó cảm hóa kẻ hạ ngu. Nhân
quả thì thượng trí hạ ngu không ai chẳng được lợi ích.
Trong xã hội ngày nay, chuyên lấy trí xảo làm chủ thể. Vì
thế, đề ra chuyện gì đều mượn cái danh vì dân, vì hạnh
phúc của chế độ Cộng Hòa, chứ thật ra là anh em một nhà
đánh nhau, khiến cho thế nước ngày càng nguy ngập, nhân dân
ngày càng thêm khốn khổ vì chuyện tranh chấp ý kiến, tranh
chấp quyền lực. Trở thành ra kết quả như vậy toàn là
do chẳng biết nhân quả báo ứng. Nếu ai cũng biết nhân quả
thì tự lợi, lợi tha, tự lập, lập người, sao đến nỗi
cùng cực như thế này? Nói “dạy trẻ học Phật” chỉ
là học mấy nghĩa như vừa đã nói đó mà thôi, há nào phải
dạy chúng những chuyện tham Thiền ngộ tánh, xem kinh giáo,
quán sát cái tâm? Ông Vương chưa biết Phật pháp nên mới
lo lắng quá mức như thế. Nếu làm như lời ông ta nói thì
dù gần hết cả một đời cũng chẳng dám nói đến Phật
pháp. Trong thư phúc đáp ông Vương, ông nên dùng những ý
Quang vừa nói để dung hội và mở rộng ra.
Như
tôi đã viết nhiều lần về pháp danh, trộm nghĩ: Trẻ nhỏ
chọn lấy một tên thích hợp là được rồi, cần gì nhất
định phải chọn lấy ba tên. Tên của Khổng Tử chính là
nhũ danh, nào có phải nhũ danh[9] chỉ dùng lúc nhỏ thôi ư?
Pháp danh cũng do đời sau đặt ra, tên các vị đệ tử Phật
không tên nào chẳng phải là tục danh tại gia. Nay dùng pháp
danh là để phân biệt người đã nhập pháp hay chưa. Nếu
con cái ngay thoạt đầu đã chọn đặt cho cái tên đẹp đẽ
thì có thể dùng tên ấy suốt đời. Cần gì phải mất công
đặt hai ba tên? Trước hết tận lực việc người, sau nghe
theo mạng trời. Chuyện gì con người không tính được bèn
cậy vào oai thần Tam Bảo thì sẽ âm thầm tự nhiên có chuyển
biến chẳng thể nghĩ bàn.
94.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ hai)
Hôm
qua nhận được thư ông, biết tâm của Sư Thọ đã xoay chuyển,
không còn nhất quyết muốn xuất gia. May mắn thay! Người
đời nay hay coi chuyện xuất gia như một cách để dựa dẫm,
sống bám, tìm chỗ yên thân. Kẻ kém hơn nữa thì do không
còn đường sống bèn tính kế ăn bám, nên những kẻ xuất
gia ngày nay đều là phường vô lại, cho nên pháp đạo suy
sụp sát đất đều là vì hạng xuất gia này làm chuyện bại
hoại mà nên nỗi!
Quang
thấy căn tánh của Sư Thọ nếu tu trì tại gia sẽ chẳng
uổng là một bậc thiện sĩ trong làng xóm. Dẫu chẳng thể
hoằng dương giáo pháp rộng lớn, nhưng đều có lợi ích
thiết thực cho cả mình lẫn người. Nếu xuất gia, do tuổi
tác quá thời, lại do thân yếu đuối chẳng kham chịu khổ
được. Đối với chuyện tham Thiền học Giáo nếu không hỏi
đến bờ bến sẽ trọn chẳng biết đâu là phương hướng.
Nếu đi tham học thì dù có dốc hết sức cả một đời này,
vẫn còn chưa thể thấu đạt. Tông, Giáo không biết thì đối
với cái đạo Niệm Phật chỉ có thể lợi ích cho mình, chứ
chuyện lợi người [thì không thể, vì] còn thiếu tham học.
Do vậy, chẳng bằng ở nhà theo cách tu trì của các vị Long
Thư, An Sĩ, Nhị Lâm thì tốt hơn!
95.
Trả lời thư vị cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ ba)
Hôm
qua nhận được thư biết ông lại có con quý, vui lắm! Những
điều ông viết trong thư đều có đạo lý. Chuyện ông Trương
Hoán Bá dạy con cái là biết Thể nhưng không biết Dụng,
chẳng thể hoàn toàn học theo cách ấy. Con còn bé, khi con
đi học về phải lấy chuyện nhân quả báo ứng và lợi ích
của pháp môn Tịnh Độ để ra rả giáo huấn khiến cho con
cái hiện thời được lợi ích nơi niệm Phật, ắt khỏi
phải lo lắng những chuyện xảy ra ngoài dự liệu; trong tương
lai khi lập gia đình, lập nghiệp, đó lại là cái gốc tiêu
tội được phước. Nếu hoàn toàn chẳng giao thiệp cùng trường
học sẽ chẳng am hiểu thời vụ, dẫu đứa có khả năng
cũng khó tiến bộ, huống chi những đứa tầm thường!
Người
tại gia trước hết phải tìm được một cách mưu sinh, cách
cư xử của Hoán Bá chỉ có thể dùng được trong ba mươi
năm trước, chẳng thích hợp cho hiện thời. Thời bây giờ
là thời như thế nào? Chính là cái thời “gian dối đua chen,
tranh giành lẫn nhau”, nếu hoàn toàn chẳng giao thiệp với
những kẻ ấy ắt sẽ bị chúng dối lừa, làm nhục, khó
thể an thân!
Còn
về pháp danh, đứa lớn đã quy y, không cần phải chọn tên
khác nữa. Những đứa còn lại lấy chữ Phước làm chữ
đầu, [chữ thứ hai lần lượt là] Huệ, Dung, Uyên, Hòa, Minh.
Mẹ chúng nó nên đặt tên là Sư Việt. Do bà Kinh Vương phu
nhân họ Vương đời Tống, tự hành, dạy người, chuyên tu
Tịnh nghiệp, đứng đầu hàng nữ lưu, nên nếu đặt tên
cho bà [vợ ông] là Sư Vương tợ hồ chẳng thích hợp. Do
Kinh Vương phu nhân còn xưng là Việt Quốc phu nhân nên đặt
tên là Sư Việt thì ổn thỏa.
Thêm
nữa, lìa ngũ trược, sanh về Tịnh Độ, chính là siêu việt
phàm tục trược ác, sau khi vãng sanh dần dần thăng lên, cũng
là sự siêu việt vậy. Danh là khách của Thực, ắt phải
thường răn dạy khiến cho con cái biết đạo lý thế gian,
biết đạo lý Phật pháp, tương lai khi chúng trở thành cha
mẹ, tự có thể lập ra quy tắc cho con cái, chẳng đến nỗi
tuy có thiên tư thượng đẳng như ông Tăng nọ, như kẻ tục
nọ, đều có thiên tư kham làm Phật, làm Tổ, nhưng lại vùi
lấp đường chánh nhân - thiên của mình lẫn người, đào
hố sâu địa ngục! Nguyên do đều là vì cha mẹ những kẻ
ấy thoạt đầu chẳng đem nhân quả báo ứng dù Sự hay Lý
để bảo ban cho mà ra. Nếu nhân quả chẳng giảng thì Danh
và Thực trọn chẳng tương ứng, huống còn muốn được hiệu
quả thật sự làm thánh, làm hiền, làm Phật, làm Tổ ư?
Hai chữ “nhân quả” chính là nghĩa lý trọng yếu “gốc
chánh nguồn trong” để cứu nước trị dân cho ngày nay vậy.
Bỏ điều này sẽ không còn phương cách nào khác, huống chi
là chuyện dạy con cái ư?
96.
Thư trả lời vị cư sĩ X... ở Vĩnh Gia (thư thứ tư)
Gia
thuộc của ông đông quá. Khi các cô em dâu, em gái, con gái
đi học về, nên đem những chuyện nhân quả báo ứng và lợi
ích niệm Phật bàn luận cùng họ, ngõ hầu trong tâm ai nấy
biết tâm mình thông với thiên địa quỷ thần, tương thông
cùng từ phụ Di Đà. Do vậy, đoạn trừ ác niệm, tăng trưởng
chánh tín, ngõ hầu hiện tại họ kham làm vợ hiền của người,
tương lai làm mẹ hiền cho người. Biến điều ấy thành phong
tục cho làng xóm thì cũng là căn bản pháp luân để bình
trị thiên hạ quốc gia vậy. Bồ Tát sống trong cõi tục để
lợi sanh, chẳng lập riêng quy cách, đối bệnh phát thuốc,
khiến cho ai nấy đều theo đường về nhà mới thôi.
Nay
những phụ nữ trong chốn học đường đa phần lầm lạc
nẩy sanh những mong muốn lạ lùng, muốn nắm giữ chánh quyền,
chẳng biết giữ bổn phận. Giúp chồng dạy con chính là căn
bản để thiên hạ thái bình. Do vậy, vương nghiệp nhà Châu
có nền tảng là ba bà Thái. Các bà Thái Khương, Thái Tự,
Thái Nhậm chính là bậc thánh nhân trong nữ giới, chỉ chú
trọng âm thầm giúp đỡ chồng, dạy con từ thuở còn trong
thai. Người đời nay chẳng học theo gương đó, những điều
họ tính toán, lo nghĩ đều là những mầm mống mưu mô gây
loạn thiên hạ, còn nói gì được nữa! Quang vốn là người
ngoài cõi đời, há nên bàn chuyện phụ nữ! Do vì gia quyến
ông đàn bà đông quá [nên mới bàn đến], mong rằng họ sẽ
là gương mẫu cho hàng nữ lưu trong tương lai, là gương tốt
cho chốn khuê khổn[10] hòng phát dương ánh sáng mặt trời
Phật pháp vậy!
97.
Trả lời thư vị cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ năm)
Dạy
con cái phải bắt đầu từ căn bản. Cái căn bản vừa nói
đó chính là hiếu với cha mẹ, giúp đỡ mọi người, nhẫn
nhục, tận tụy, lấy thân làm gương, lấy đức làm khuôn
phép; như nung chảy vàng hay đồng, đổ vào khuôn. Khuôn ngay
ngắn sẽ đúc ra vật ngay ngắn, khuôn méo mó sẽ đúc ra vật
méo mó. Lớn - nhỏ, dày - mỏng, trước khi đổ khuôn đã
có thể biết trước, huống gì lúc đã trút khỏi khuôn! Gần
đây con người đa phần chẳng biết điều này. Vì thế, những
con em có thiên tư đa số là cuồng vọng, trái nghịch; những
đứa không có thiên tư lại thành ra ương bướng, hèn tệ.
Đó là do lúc nhỏ đánh mất khuôn phép, như vàng lỏng rót
vào khuôn hư trở thành đồ hư hỏng. Cố nhiên vàng là một,
nhưng đồ vật lại sai khác một trời một vực! Tiếc thay!
Phật lấy Vô Ngã để dạy, người đời nay hễ có chút tri
kiến bèn nghếch mắt lên tận trời thẳm, là vì chỉ biết
Phật pháp qua nghĩa lý văn tự, chẳng biết Phật pháp chính
là tu thân tịnh tâm, diệt trừ ngã tướng, tận lực tu Định
- Huệ, ngõ hầu đoạn Hoặc chứng Chân!
98.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ sáu)
Thế
giới Sa Bà là một lò luyện lớn, ai chịu được chưng luyện
sẽ không còn là người trong thế gian nữa. Ai không chịu
nổi sự chưng luyện thì lò luyện lớn lao bèn thành món đồ
độc hại, thành món đồ gây khổ não, ấy là do tùy mỗi
người mà tự được lợi ích. Người cùng một nhà nên trong
lúc nhàn hạ vô sự, nhẹ nhàng, uyển chuyển, trình bày, mở
mang những lý tột cùng khiến cho họ biết có những chuyện
đúng - sai, nên hay không nên thì tâm thức họ sẽ bất tri
bất giác dần dần bị ảnh hưởng rồi chuyển biến. Nếu
gặp lúc tánh tình ngu bướng, ngạo mạn [của kẻ ấy] lộ
ra, nếu như đối trị được thì hãy dùng những câu danh
ngôn chí lý, hòa dịu bình tâm để đối trị. Nếu không,
cứ để mặc đó, nhất loạt không bận tâm đến nữa, đợi
khi nào hết nóng, lại dùng tâm bình khí hòa bàn luận đến
đầu đến đũa, lâu ngày kẻ ấy sẽ được cảm hóa. Nếu
dùng thủ đoạn mạnh bạo, nặng nề để trói buộc thì hoàn
toàn không thích hợp, do kẻ ấy có chỗ dựa dẫm (chỗ dựa
dẫm chính là con cái người ấy) cũng như đánh mất pháp
tắc giáo huấn con cái. Niệm Phật phải luôn nghĩ mình sắp
chết, sắp bị đọa địa ngục thì không khẩn thiết cũng
sẽ tự khẩn thiết, không tương ứng cũng tự tương ứng;
vì cái tâm sợ khổ mà niệm Phật chính là diệu pháp bậc
nhất để thoát khổ, cũng là diệu pháp bậc nhất để tùy
duyên tiêu nghiệp.
99.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ bảy)
Linh
Phong lão nhân (tổ Ngẫu Ích) là người độc nhất vô nhị
trong đời Mạt Pháp, lời lẽ, lý - sự của Ngài đều trọn
đủ, há lường được lợi ích ư? Tùy theo căn cơ của mỗi
người, ai nấy được hưởng lợi ích. Con em có tài hoa, nếu
được khéo dạy sẽ dễ thành tựu chánh khí; không khéo dạy
thì đa số trở thành phường bại hoại! Ngày nay dân không
lẽ sống, vận nước gian nan, gần như sụp đổ, đều là
do những kẻ có tài hoa nhưng không được khéo dạy dần dần
ấp ủ tạo thành [mối họa]. Đứa không tài hoa cố nhiên
nên dạy nó thành thật, đứa có tài hoa càng nên dạy nó
thành thật, nhưng dù là đứa thành thật cũng có thể làm
điều dối trá. Thoạt đầu phải dạy lẽ nhân quả báo ứng
và chuyện “một khởi tâm động niệm của con người thiên
địa quỷ thần đều thấy biết hết từng điều”, thường
nên khuyên dạy như thế.
Phải
dạy chúng đọc thuộc Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên, đừng
cho đấy không phải là sách Phật rồi coi thường. Do phàm
phu tâm lượng thiển cận, nếu dùng những lẽ xa xôi, lớn
lao, sâu xa để trình bày sẽ khó thể lãnh hội. Những sách
ấy dù già hay trẻ nghe đến đều được lợi ích, huống
chi [những sách ấy] đều chú trọng lấy vô thường làm thầy,
lấy điều thiện làm thầy!
Phật
còn dạy con người ta quán tử thi, phẩn uế, rắn độc để
chứng A La Hán, số người chứng quả còn nhiều hơn cát sông
Hằng. Huống chi những câu nói thiết thực, nuôi dưỡng thiện
tánh, cảnh tỉnh, tự xét của những sách này. Kinh Lăng Nghiêm,
nếu người không biết pháp Tịnh Độ đọc đến sẽ cho
là công thần bậc nhất để đả phá Tịnh Độ; còn người
đã biết Tịnh Độ sẽ thấy kinh này là hướng dẫn tốt
lành cho Tịnh Độ. Vì sao nói thế? Dùng tự lực để ngộ
đạo khó lắm, còn vãng sanh Tịnh Độ lại dễ. Nhân quả
của mười pháp giới, mỗi mỗi phân minh. Nếu chẳng cậy
vào Phật lực, dù phá được một hai Ấm, vẫn có thể bị
ma dựa, trở thành chủng tử địa ngục. Đã thế, hai mươi
bốn công phu Viên Thông, người bây giờ ai có thể tu tập
được? Chỉ có niệm Phật như con nhớ mẹ, hễ ai có tâm
đều phụng hành được. Hễ tịnh niệm tiếp nối bèn tự
chứng được Tam Ma (Chánh Định). Người biết tốt - xấu
đọc đến có còn chịu chỉ cậy vào Tự Lực, chẳng nương
vào Phật lực hay chăng? Kẻ không phân tốt - xấu thì ngược
lại, chỉ muốn trở thành một bậc thông gia, không hề có
cái tâm liễu sanh tử!
100.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ tám)
Thư
gởi đến nêu rõ chuyện kính trọng toàn thể Tăng Ni, lý
ấy, sự ấy quả thật rất xác đáng, nhưng về chuyện dạy
dỗ con cái lại phải bàn đi luận lại, bởi lẽ nếu chỉ
nhắc đến một lần, e rằng ông chẳng biết chọn lấy điều
thân - sơ, rất có thể bị tổn hại! Ví như có người, dù
thơ hay văn, dù Tông hay Giáo, thảy đều cao siêu, nhưng phẩm
hạnh kém hèn, chẳng đáng làm gương cho người khác. Nếu
chẳng biết phân biệt, cứ nhất loạt thân cận thì thân
cận người như vậy chẳng những là hành vi có thể bị xoay
chuyển theo, gã đó lại còn dùng những ý kiến ức đoán
của chính mình nói ra những đạo lý xằng bậy nên kẻ không
có tri kiến chân chánh rất có thể bị lầm lạc bởi gã
đó. Như vậy, phải giữ tấm lòng “đối với người hiền
hay kẻ ngu đều cung kính, chẳng sanh lòng ngạo mạn”, nhưng
về mặt hành sự thân cận thì phải thân hiền, xa ngu, chọn
ưu, bỏ hèn. Như thế sẽ tránh được cái tệ bị lây nhiễm
cũng như khỏi bị lầm lạc oan uổng. Chuyện thiên hạ có
lý nhất định, nhưng không có pháp nhất định. Nếu chẳng
dùng tình và sự để định đoạt, như chữa bệnh có biến
chứng mà cứ chấp chặt vào một phương thuốc ắt sẽ chết
nhiều, sống ít. Lý và tình cần phải phù hợp, pháp và sự
phải tương ứng thì mới nên.
101.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ chín)
Trong
thư gởi đến, những điều ông viết đều từ sự suy xét
những tập khí nơi thân tâm của chính mình, khôn ngăn mừng
rỡ, cảm động! Nhưng ở địa vị phàm phu, tuy không thể
không có bệnh, nhưng cũng chẳng nên mặc kệ không trị. Cách
chữa trị ít tốn sức nhất lại được lợi nhiều là lấy
ngay bệnh làm thuốc. Lấy ngay bệnh làm thuốc thì bệnh chẳng
làm phiền rộn mình được. Như cái bệnh yêu thương con cái
quyết chẳng thể đoạn được thì chẳng ngại gì lấy ngay
lòng yêu thương đó làm gốc, muốn cho con cái lúc sống làm
người chân chánh, lúc chết sanh về Tịnh Độ. Yêu thương
như vậy chính là dùng phàm tình thế gian để thành tựu thánh
quả xuất thế gian. Nếu chẳng khéo dùng lòng yêu thương,
mặc lòng dung dưỡng thói kiêu căng còn hơn giết con trăm
ngàn vạn ức vô lượng vô biên lần. Đất nước diệt vong,
nhân dân điêu đứng đều vì những bậc cha mẹ chẳng hiểu
sự việc này ấp ủ thành. Chẳng đáng buồn ư?
Công
khóa mỗi ngày hồi hướng mỗi mỗi đều vì pháp giới chúng
sanh. Nếu làm công khóa này vì chuyện này, công khóa kia vì
chuyện kia, tuy không phải là không được, nhưng cần phải
có cái nguyện hồi hướng rộng khắp thì mới tương ứng
với ba thứ hồi hướng. Ba thứ hồi hướng thì một là hồi
hướng Chân Như Thật Tế, tâm tâm khế hợp; hai là hồi hướng
Phật Quả Bồ Đề, niệm niệm viên mãn; ba là hồi hướng
pháp giới chúng sanh cùng sanh Tịnh Độ. Mỗi người ai nấy
có chí, ai nấy có nghiệp (nghiệp là thức nghiệp), cứ tùy
duyên tùy phận là được rồi, bất tất mọi người đều
phải giống nhau.
102.
Trả lời thư cư sĩ Hà Hòe Sanh
Nhận
được thư biết cư sĩ có chí hướng thượng, nhưng chưa
biết duyên do của pháp môn cùng là thời cơ. Nếu đã từng
đọc Văn Sao của Quang thì ông cũng chưa xét rốt ráo những
ý chỉ Quang đã nói. Phàm tu hành dụng công vốn là vì liễu
sanh tử. Nếu dụng công nhưng chẳng thể liễu sanh tử là
vì chẳng chịu hành theo pháp có thể liễu được sanh tử,
há chẳng phải là gánh gai bỏ vàng[11], tự chuốc lấy vạ
hay sao? Tham Thiền dù có đại triệt đại ngộ như Ngũ Tổ
Giới, Thảo Đường Thanh, Chân Như Triết, Đoạn Nhai Nghĩa[12]
còn chẳng thể liễu, hễ thọ sanh lần nữa bèn bị mê mất,
kém xa đời trước, huống hồ bọn ta! Vị hòa thượng X…
tuy đã biết phương hướng của Thiền Môn, nhưng chưa vượt
ra được giới hạn của Thiền Tông nên chẳng thể làm cho
các hạ lắng lòng niệm Phật.
Ý
ông cho rằng hễ ngộ ắt sẽ không có sanh tử để kết liễu,
cũng chẳng có Niết Bàn để chứng, nhưng chẳng biết rằng
dẫu có ngộ đến địa vị “thấy không có sanh tử để
kết liễu, không có Niết Bàn để chứng đắc” thì vẫn
cứ ở trong sanh tử y như cũ, chẳng thoát ra được, chẳng
thể chứng được Niết Bàn. Chúng sanh đời Mạt cậy vào
Tự Lực để đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử
rất ư là khó; huống chi ông đã quán sát nhất niệm rớt
vào chốn nào thì phải luôn luôn quán sát niệm ấy đi về
đâu. Ngoại trừ chuyện này ra, bất cứ điều gì khác cũng
không quan tâm đến, thật giống như truy tầm oan gia, chẳng
chịu lãng ý một nháy mắt kẻo nó trốn mất, phải sao cho
bắt được nó ngay khi đó, khiến cho nó táng thân mất mạng
mới thôi! Nhưng ông nói rằng khi cái niệm ấy khởi lên đủ
mọi cảnh giới bèn bỏ toàn thể chuyện quán sát những cảnh
giới ấy đi về đâu, cho rằng mọi cảnh giới đã hiện
ra chính là do tâm đạt được, tức là chẳng biết những
cảnh giới ấy đều do tịnh định mà phát hiện, quả thật
là chướng ngại cho sự tham Thiền. Vì sao? Vì quên mất chuyện
suy xét đến tận cùng xem cái niệm này đi về đâu, tưởng
huyễn cảnh là điều mình đạt được. Vả nữa, cảnh giới
ấy còn xen tạp những cảnh giới của bọn luyện đan. Trước
đây, các hạ đã từng dùng qua công phu ấy, nên nay do tịnh
định, chúng bèn hiện ra. Nếu cho đó là chứng đắc, ắt
có mối lo sau này sẽ bị ma dựa. Các hạ chẳng biết vứt
bỏ toàn bộ những chuyện ấy, vẫn cứ mong thường giữ
được lâu dài. Do chẳng thể đạt được bèn bứt rứt,
than thở, há chẳng phải là nhận giặc làm con, giao cho nó
giữ gia nghiệp hay sao? Kinh Kim Cang dạy: “Phàm những gì có
hình tướng đều là hư vọng”, Tâm Kinh nói: “Soi thấy
Ngũ Uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách”. Tướng
ấy của các hạ là tướng hay phi tướng vậy? Là Ngũ Uẩn
hay không phải Ngũ Uẩn vậy? Nếu là tướng, là Ngũ Uẩn
thì đều phải bỏ đi, sao lại trân quý nó? Nếu nó là phi
tướng, là phi Ngũ Uẩn thì cái niệm để thấy còn chẳng
thể có, những cảnh tướng ấy do đâu mà có?
Cổ nhân nói: “Người học đạo chẳng hiểu lẽ chân đều
là vì từ trước chẳng hiểu được thức thần là cái gốc
của vô lượng kiếp sanh tử, người ngu cho đó là con người
sẵn có của mình”. Câu nói đó chính là món thuốc mầu
nhiệm thật thích hợp để trị chứng bệnh của các hạ
vậy. Há có nên vọng động đem ý mình để tham Thiền ư?
Hãy nên ngay trong lúc một niệm khởi, phải quán xem ý niệm
ấy đi về đâu. Chẳng dốc sức vào đó thì sai chỉ hào
ly, lạc đi ngàn dặm, lại còn cho đó là đắc, há chẳng
quá đáng buồn hay sao? Tuy thế, Quang chẳng phải là Thiền
khách, trọn chẳng dùng Thiền học để dạy người. Đây
chẳng qua là vì các hạ không biết cảnh nào là tà - chánh,
đúng - sai, nên mới khôn ngăn biện luận, phân tích đôi chút.
Nếu các hạ muốn dựng cao cờ xí nhà Thiền, lấy đại triệt
đại ngộ làm chuyện chánh yếu, hãy nên tham học với những
bậc đại lão trong Thiền Tông. Nếu nói “tôi trong một đời
này, quyết định phải liễu sanh tử” thì xin hãy đem ý
niệm tham Thiền vứt ra ngoài Đông Dương đại hải, y theo
pháp môn Tịnh Độ, sanh tín, phát nguyện, niệm Phật cầu
sanh Tây Phương, nương vào Phật từ lực, chắc chắn sẽ
được mãn nguyện. Nếu chẳng y theo pháp môn Tịnh Độ thì
tất cả những gì đã tu trì đều trở thành phước báo nhân
thiên và nhân duyên để đắc độ trong tương lai mà thôi,
muốn liễu sanh tử khó thể mộng thấy được!
Muốn
biết nguyên do của Thiền và Tịnh mà không xem rộng khắp
các sách Thiền - Tịnh sẽ không thể nào hiểu được. Dẫu
có thể xem rộng khắp, nhưng nếu không có mắt chọn lựa
pháp cũng sẽ thành dõi nhìn biển cả thở than, mịt mờ chẳng
biết về đâu. Do vậy, hãy nên chuyên đọc các trước thuật
Tịnh Độ, nhưng các trước thuật về Tịnh Độ rất nhiều,
người chưa nhập môn khó nắm được cương yếu. Tìm lấy
một tác phẩm dẫn người tiến vào chỗ thù thắng, phân
tích minh bạch giới hạn giữa Thiền và Tịnh, Phật lực
và tự lực, không gây nghi ngờ, trệ ngại, ngôn ngữ đơn
giản, rõ ràng, nghĩa lý bình thường, thực tế, là hướng
dẫn ban đầu để nghiên cứu các trước thuật của cổ đức,
thì có lẽ là bộ Ấn Quang Văn Sao chăng? Xin hãy lắng lòng
nghiên cứu ắt sẽ tự biết!
103.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ nhất)
Ngài
Ngẫu Ích sanh vào cuối đời Minh, mất vào đầu đời Thanh[13],
một đời hoằng pháp đều ở phương Nam, chưa từng lên đất
Bắc. Thêm nữa, trong những năm đầu thời Thuận Trị, phương
Nam còn nhiều chỗ chưa quy phục, sau khi vua Sùng Trinh[14] thăng
hà, lãnh thổ nhà Minh tan nát, phàm trước thuật gì, đại
sư đều chỉ ghi năm tháng, không ghi quốc hiệu và niên hiệu.
Đến khi các xứ Ninh Ba, Phước Kiến quy thuận [nhà Thanh],
chưa đầy một hai năm sau, đại sư bèn nhập Niết Bàn, nhưng
trong tông Thiên Thai có người bắt chước, trước thuật vào
thời Khang Hy cũng chẳng ghi quốc hiệu và niên hiệu, có thể
nói là vu báng, khinh miệt ngài Ngẫu Ích lẫn quốc gia vậy.
Do chẳng khéo học nên mới có chuyện như thế!
Học
giả ở phương Nam đa số thiên về giáo pháp Thiên Thai, các
học giả phương Bắc đa số chuộng giáo nghĩa Hiền Thủ
hoặc Từ Ân. Do không người học tập nên những tác phẩm
[của tông Thiên Thai được lưu hành ở phương Bắc] cũng
ít. Thanh Thế Tông (Ung Chánh) tuy đề xướng khắc in Đại
Tạng, nhưng đầu mùa Hạ năm ấy đã lên làm khách cõi trời.
Những kinh sách được đưa vào hay gạt ra khỏi Đại Tạng
đời Thanh thường nói là do Thanh Thế Tông định đoạt, nhưng
thật ra quá nửa là do vị thân vương đặc phái và vị đại
hòa thượng thủ lãnh tổng lý việc in khắc Đại Tạng chủ
trì.
Hơn
nữa, những vị Tăng sắp đặt việc in khắc đều là người
thuộc các tông Hiền Thủ, Từ Ân, Lâm Tế. Tông Thiên Thai
chỉ có một vị, nhưng chỉ giữ vai trò giảo duyệt, không
có quyền quyết định. Những trước thuật của ngài Ngẫu
Ích được nhập tạng chỉ có hai thứ là Tướng Tông Bát
Yếu[15] và Thích Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn[16], những
thứ khác ở phương Bắc không có, lấy đâu mà nhập tạng
cho được? Đây là chuyện thuộc về cuối đời Ung Chánh,
đầu đời Càn Long. Đến cuối đời Càn Long, ở kinh đô,
những trước thuật của ngài Ngẫu Ích không còn được bao
nhiêu. Triệt Ngộ lão nhân đọc bộ Duyệt Tạng Tri Tân[17],
liền muốn khắc in. Ngài mong tìm được một bộ thì chẳng
cần phải chép riêng[18] hòng giảm bớt tâm lực nên tìm tòi
khắp nơi, chỉ được một bộ. Phàm những trước thuật
của đại sư được truyền đến kinh đô thì ngài Triệt
Ngộ và môn nhân của ngài Triệt Ngộ đều cho khắc bản,
cũng được mười hay hai mươi loại.
Những
kẻ không biết thời thế cứ đổ riệt Thanh Thế Tông chẳng
chọn lấy những tác phẩm ấy, đúng là đã vu báng vua Thế
Tông. Nếu như Thanh Thế Tông được thấy toàn bộ những
trước tác của ngài Ngẫu Ích chắc chắn sẽ cho nhập tạng
toàn bộ, chẳng sót bộ nào. Phải biết: Đại Tạng kinh đời
Thanh do Thanh Thế Tông khởi xướng, đến khi Thanh Thế Tông
băng hà, Cao Tông (Càn Long) kế vị, phàm những chuyện khắc
in Đại Tạng đều do những người có quyền thế trong giới
Tăng - tục thời ấy làm chủ, chẳng qua Cao Tông cũng chỉ
chủ trì trên danh nghĩa đó thôi. Vì sao biết như vậy? Bộ
Giản Ma Biện Dị Lục[19] do Thế Tông soạn vừa mới hoàn
tất bản thảo, còn chưa sửa chữa hoàn chỉnh, vua liền băng
hà ngay. Tuy Cao Tông sai người biên chép, khắc bản, nhưng
chẳng rảnh rỗi để kiểm điểm. Do vua không sai một bậc
đại thông gia chủ trì, nên rốt cuộc sai ngoa không biết
bao nhiêu mà kể. Di bút của cha mà còn để như thế, huống
gì là Đại Tạng?
Vả
nữa, lúc Thế Tông bắt đầu soạn tác phẩm này liền ban
lời dụ, trong đó có nhắc đến chuyện nhập tạng lưu thông.
Về sau, chỉ khắc bản in sách, rốt cuộc không nhập tạng,
chỉ đem lời dụ này in kèm vào sau cuốn Ngữ Lục của Viên
Minh cư sĩ[20], há cũng nên bảo là vì Thế Tông tỵ hiềm
sách ấy có tập khí nên không được nhập tạng ư? Nguyên
nhân chẳng được nhập tạng là vì những kẻ ngoại hộ
của con cháu sư Hán Nguyệt Tạng[21] đa phần là những người
đang nắm quyền, nên chẳng ai dám đề xướng [nhập tạng
sách ấy] mà thôi. Nếu luận về tập khí, có thể nói ngài
Ngẫu Ích hoàn toàn không có; thế nhưng những kẻ thiền hòa[22]
mù quáng cho là Ngài uổng có văn tự, nhưng chưa đại ngộ,
cống cao ngã mạn. Những kẻ như thế ngửa mặt nhổ lên
trời, há có nên lấy những lời họ để làm cơ sở bình
luận ư? Những kẻ hủy báng Thanh Thế Tông cũng như hủy
báng ngài Ngẫu Ích, đều là những kẻ nghe lỏm nói mò, hùa
theo phụ họa mà thôi!
104.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ hai)
Hôm
qua nhận được tin từ Sư Đạo cho biết tháng trước bệnh
tình ông thật nguy ngập, gần đây đã thuyên giảm, may mắn
thay! Con người xử thế, nhất nhất nên án theo bổn phận,
chẳng được lầm lạc lo lắng vượt ngoài bổn phận. Đấy
là như câu nói: “Quân tử chẳng nghĩ ra ngoài địa vị”.
Lại nói: “Quân tử chỉ thuận theo địa vị mà hành”.
Tuy ông đã hơi sanh tín tâm đối với pháp môn Tịnh Độ,
nhưng vẫn còn có ý niệm ham cao chuộng lạ chưa buông xuống
được, chưa chịu tu tập như hàng ngu phu, ngu phụ. Phải biết
liễu sanh tử đối với ngu phu, ngu phụ thì dễ, bởi tâm
họ chẳng có dị kiến; còn nếu là bậc thông Tông, thông
Giáo mà khắp thân buông xuống được, thực hành công phu
của kẻ ngu phu, ngu phụ thì cũng dễ. Nếu không, bậc cao
nhân thông Tông, thông Giáo lại chẳng bằng kẻ ngu phu, ngu
phụ đới nghiệp vãng sanh! Pháp môn Tịnh Độ lấy vãng sanh
làm chánh yếu, tùy duyên, tùy phận, chuyên tinh chí hướng;
chắc chắn Phật chẳng dối người! Nếu không, cầu thăng
hóa ra bị đọa, đấy chính là tự mình tạo lỗi, nào phải
lỗi Phật đâu!
105.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ ba)
Học
Phật phải chuyên chú lấy việc giải thoát cho chính mình
làm chuyện chánh yếu, nhưng cũng phải tùy phần tùy sức
làm chuyện công đức. Nếu là người có sức lớn lao thì
mới có thể triệt để buông xuống, triệt để đề khởi.
Còn người trung hạ căn, nếu hết thảy đều không làm sẽ
trở thành biếng nhác, lười trễ, ngay cả tự lợi cũng chẳng
nỗ lực, chuyện lợi người hoàn toàn gác qua một bên, rớt
vào thói tệ “dù chỉ nhổ một sợi lông để làm lợi cho
người khác cũng chẳng chịu làm” của Dương Tử[23]. Vì
thế, phải hành cả hai pháp để bổ trợ cho nhau, nhưng chuyên
chú nơi tự lợi. Cũng chớ nên hiểu lầm lời của ông Nhị
Lâm (Bành Tế Thanh). Hiểu lầm sẽ đắc tội với ông Nhị
Lâm chẳng nhỏ! Ý của ông Nhị Lâm là phải chuyên chú nơi
tự lợi, chứ không phải hoàn toàn vứt bỏ chuyện tùy phần
tùy sức dạy người khác tu tập pháp môn Tịnh Độ. Chuyện
lợi người chỉ bậc đại Bồ Tát mới có thể gánh vác
nổi, những kẻ kém cỏi hơn nào ai dám nói lời lẽ lớn
lao ấy? Người trung hạ căn phải biết tùy phần tùy lực
để làm chuyện lợi ích người khác thì mới hợp với cái
đạo tu hành tự lợi vậy! Do vì pháp môn tu hành có Lục
Độ, vạn hạnh; nên tự mình chưa độ thoát thì lợi người
vẫn thuộc về tự lợi.
Nhưng
chẳng nên chuyên chú làm những chuyện thuộc về hình tích
bên ngoài, còn chuyện đối trị phiền não tập khí trong tâm
mình bèn gác lại, không nhắc gì tới, tức là có ngoại hạnh,
nhưng công phu bên trong hoàn toàn bỏ phế! Do đấy, đâm ra
nẩy sanh ngã mạn, tự cho công hạnh lợi tha là đức hạnh,
sẽ bị tổn thất rất nhiều. Ví như ăn cơm phải có thức
ăn kèm vào, cũng như thân thể phải dùng áo mũ để trang
hoàng. Trên con đường tu hành để liễu sanh tử dài dằng
dặc, sao lại muốn thâm nhập một môn, phế sạch các môn
khác? Thâm nhập một môn[24], bỏ hết các môn khác chỉ có
lúc đả thất thì được. Bình thời, nếu không phải là
Bồ Tát tái lai, trọn chưa có ai chẳng vướng mối tệ trở
thành giải đãi, khinh mạn! Bởi cái tâm phàm phu hễ cái gì
thường có quá ắt sẽ sanh chán!
Trời
sanh ra muôn vật ắt phải dùng trời tạnh, mưa dầm xoay vần,
nóng -lạnh đắp đổi thì mới có thực tế sanh thành tạo
hóa. Nếu cứ thường tạnh hoặc mưa mãi, hoặc nóng mãi,
lạnh mãi thì dưới gầm trời sẽ không có một vật nào
cả! Huống chi tâm bọn ta như khỉ vượn, chẳng dùng đủ
mọi pháp đối trị muốn cho nó ở yên một chỗ, chẳng rong
ruổi lung tung thì rất ư là khó! Con người hãy nên tự lượng
sức mình, chớ nên thiên chấp một pháp, cũng chớ nên tràn
lan không lớp lang gì, lấy trì giới niệm Phật cầu sanh Tây
Phương làm chánh. Gặp hết thảy mọi người, trên là cha
mẹ, giữa là anh em, bè bạn, dưới là vợ con, đầy tớ,
đều đem chuyện này chỉ dạy, há có nên nói đây chẳng
phải là tự lợi ư? Một ngọn đèn chỉ là một ngọn đèn,
một ngọn đèn thắp truyền sang trăm ngàn vạn ức ngọn đèn,
nhưng ngọn đèn ấy trọn chẳng bị tổn hại gì, ai được,
ai mất, nào đến, nào đi? Còn phải đợi hỏi người khác
mới hiểu rõ nữa ư?
106.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ tư)
Ngày
Rằm tháng trước nhận được thư ông. Do ông bảo khi Mạnh
Do[25] đến, ông sẽ lên đường ngay, nên sợ trả lời thư
sẽ bị lạc mất. Vì thế, không phúc đáp. Trưa nay lại nhận
được thư ông, biết Mạnh Do còn chưa về lại tỉnh nhà.
Do ông ta nấn ná chưa về, nên ông không dám dứt khoát. Nếu
ông ta trở về, ông sẽ dứt khoát lên đường. Sao ông không
hiểu lòng tôi và tấm lòng những người khác mà thành ra
đạo lý ương ngạnh như thế? Quang cũng là người xuất gia,
há cứ nhất định phải ngăn trở ông, trở ngại ông, học
theo thói người tại gia lưu luyến nhà cửa, chẳng muốn cho
người khác mau được giải thoát ư? Nhưng cơ duyên gặp gỡ
của mỗi người có muôn vàn kiểu chẳng giống nhau.
Luận
theo phần ông, quả thật tại gia có ích rất lớn, còn xuất
gia chỉ được lợi ích nhỏ nhoi. Tổ nghiệp của ông gần
như sống qua ngày được, trên có mẹ hiền để thờ, giữa
có anh em để nương tựa, trong nhà có vợ hiền, dưới gối
không con cái. Nhưng anh cả của ông khá tin tưởng vào Phật
pháp, chú Ba, chú Tư cũng chẳng chống trái đạo pháp lắm.
Ông tại gia dốc sức tu Tịnh nghiệp, cũng có thể hướng
dẫn khiến cho mẹ hiền sanh lòng tin niệm Phật, ngõ hầu
được liễu thoát mà cũng có thể vì anh em đang ở ngoài
lo liệu chuyện trong gia đình, cũng như suất lãnh vợ, em dâu
v.v… cùng tu Tịnh nghiệp, cùng thoát vòng khổ. Bên ngoài
thì xóm giềng, thân thích, tùy duyên hướng dẫn, chỉ vẽ,
thì nhà cửa bèn thành đạo tràng, hết thảy mẹ, anh em, vợ
con, cháu chắt, xóm giềng, thân bằng đều thành pháp quyến.
Tùy sức, tùy phận, thân làm gương, miệng giáo hóa khiến
cho mọi kẻ lạc đường ở Vĩnh Gia cùng những kẻ chủng
tánh tà kiến kia cùng được nạp vào trong lò luyện lớn
là pháp môn Tịnh Độ chí cực viên đốn của Phật pháp,
cùng trở thành pháp khí[26], cùng tu Tịnh nghiệp, tương lai
cùng lên Liên Bang, cùng chứng Bồ Đề. Há chẳng bằng ông
xuất gia làm Tăng, bỏ mẹ đi xa, người trong nhà ôm mối
hận không người nương cậy, mẹ đem lòng oán con hay sao?
Đã thế, những kẻ chẳng hiểu rõ lý cùng cực sẽ đâm
ra nói Phật pháp trái nghịch thế đạo, lầm sanh hủy báng,
khiến cho những kẻ ấy tạo ác nghiệp, đọa ác đạo. Chưa
thấy ích gì mà trước hết đã mắc lấy những tổn hại
to lớn như thế, như vậy là tốt hơn hay sao?
Huống
chi mẹ ông đã không bằng lòng, há có nên chẳng tuân theo
ý mẹ, vẫn cứ ôm ấp ý niệm ấy? Nếu như mẹ ông trọn
chẳng bằng lòng cho ông tu hành, thì [chuyện bỏ nhà đi xuất
gia] còn chấp nhận được! Chứ ông tu hành mẹ rất hoan hỷ,
lẽ đâu lại muốn bỏ mẹ đi tu? Trong Phật pháp có đủ
mọi công nghiệp, Lục Độ vạn hạnh đều vì lợi ích chúng
sanh. Ông không xuất gia sẽ có lợi ích lớn lao cho mẹ, chỉ
nội một điều này đã nên chiều theo lòng mẹ, sống trong
cõi trần học đạo, khiến cho mẹ hằng ngày trông thấy quen
mắt, chẳng mong mẹ tin tưởng mà mẹ tự nhiên tin tưởng,
còn công đức nào lớn lao hơn? Huống chi nào phải chỉ một
mình mẹ [được lợi ích]?
Hơn
nữa, mẹ đã không chấp thuận, thì về mặt đạo nghĩa,
chẳng nên nghĩ tới chuyện xuất gia nữa! Vì trong giới luật
nhà Phật, cha mẹ chẳng bằng lòng cho con xuất gia, mình cứ
tự tiện xuất gia thì [nhà chùa] chẳng được phép dung nạp,
xuống tóc, và thọ giới v.v… Nếu không cả thầy lẫn trò
đều mắc tội. Ông đã thờ Quang làm thầy, coi Quang là thiện
tri thức, tuy Quang thật chẳng phải là thiện tri thức, nhưng
chuyện trái nghịch Phật pháp quyết chẳng dám làm. Chỉ mong
ông nghe theo lời Quang, thuận lòng mẹ, tại gia tu hành mới
nên! Cổ nhân có người vì tri kỷ, chẳng ngại đem thân đền
đáp. Huống chi mẹ ông đã lưu giữ ông, Quang khuyên ông:
Lẽ nào lại chống trái, cố chấp không thay đổi ư? Phải
biết: Hiếu thuận cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm
không giết, tu Thập Thiện Nghiệp, chính là chánh nhân để
vãng sanh Tây Phương. Hãy nên học đòi Vương Hư Trung[27],
Châu An Sĩ, Bành Xích Mộc (Bành Thiệu Thăng) ba vị tiên sinh
thì mới chẳng thẹn là đệ tử Phật!
107.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ năm)
Chuyện
trong thiên hạ đều có nhân duyên, chuyện được thành hay
chăng đều do nhân duyên gây ra. Tuy có người làm cho chuyện
ấy thành hay bại, nhưng quyền lực thực tế là do cái nhân
trước của chính ta, chứ không do cái duyên hiện tại. Hiểu
điều này sẽ vui theo mạng trời, chẳng oán, chẳng hận,
thuận theo địa vị mà hành, không trong hoàn cảnh nào chẳng
tự tại vậy! Riêng ông chẳng biết làm phận con, đúng lý
ra phải nghe lời cha mẹ. Thêm nữa, muốn làm học trò của
người ta, nên nghe theo lời thầy. Những gì cha mẹ mưu tính
cho con cái rất có thể không thích đáng, là vì yêu thương
sâu nặng nên có thể bị thiên lệch, còn thầy đã có thể
coi là bậc tri thức, trọn chẳng đến nỗi tính toán những
điều quá sai lầm.
Sống
trong cõi trần học đạo, tu chân ngay trong cõi tục, chính
là chuyện đạt nhân danh sĩ lẫn ngu phu, ngu phụ đều có
thể làm được. Gắng sức tu trì, do tại gia có đủ mọi
hệ lụy, nên coi như những lời cảnh tỉnh[28], lâu dài sanh
cái tâm chán lìa, ngõ hầu sẽ dài lâu nuôi lớn cái tâm ưa
thích, lấy bệnh làm thuốc, biến tắc thành thông, trên chẳng
khiến mẹ phải thở than, dưới gia đình riêng của mình chẳng
mất nơi nương tựa, lại còn khiến cho hết thảy mọi người
do cùng thấy nghe bèn được tăng trưởng Tịnh nghiệp, còn
vui nào bằng?
Chỉ
mong ông trên là nghe theo lời mẹ, cũng như thuận theo lòng
Quang, tùy phận tùy duyên tự lợi, lợi tha. Bồ Tát bỏ đầu,
mắt, tủy, não để cứu chúng sanh đói khát. Tại gia tu hành
đối với mẹ, đối với ông đều có lợi ích lớn lao, sao
lại lầm sanh chống trái? Như ông cứ nhất quyết muốn y
theo tâm hạnh của mình, làm sao Quang có thể chấp nhận như
thế được, chỉ mong hãy đem cái danh tự thầy trò giả tạm
thủ tiêu đi, ông cứ việc bái vị cao tăng nào đó làm thầy,
Quang hoàn toàn không hỏi đến nữa. Ngày sau gặp gỡ như
người đi trên cùng một đường gặp nhau, đừng giữ cái
lễ thầy trò nữa!
Nếu
không như thế thì xin hãy nghe theo lời tôi nói, thay Quang khuyến
hóa trai gái vùng Âu Giang[29] cùng vào Liên Trì Hải Hội. So
với việc ông cứ muốn làm Tăng, khiến cho mẹ chẳng vui
lòng, anh em, vợ con đều buồn bã, người xứ Âu Giang lầm
lạc khởi lên tâm nghiệp phỉ báng Phật pháp. Lẽ được
- mất khác biệt tựa hồ một trời, một vực, ông hãy thử
nghĩ kỹ xem: Quang vì ông hay là hại ông vậy? Quang đã nói
hết lời, chẳng thể viết thêm một chữ thừa thãi nào nữa,
mặc lòng ông tự tiện mà thôi!
108.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ sáu)
Một
pháp nhân quả là bước đầu để nhập môn Phật giáo, cũng
là phương sách trọng yếu để thành tâm, chánh ý, tu thân,
tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cuốn sách của họ Đinh[30]
dù có sai sót, nhưng về đại thể là tốt. Chớ vì họ Viên
thiếu đức mà cho là chẳng đáng lưu thông. Họ Viên[31] đã
mất rồi, người biết ông ta thiếu đức được mấy người?
Nếu như chuyện nhân quả báo ứng đập vào mắt, thấm vào
lòng, dẫu họ Viên hèn kém cũng nên giảm lòng tà, giữ lòng
thành, khắc kỷ, giữ lễ, mong chính mình tránh khỏi tội
lệ, vun trồng phước đời sau, chớ vì một lỗi mà giấu
kín đi.
Hơn
nữa, họ Viên lúc ban đầu bài bác Phật, sau đọc nhiều,
đọc sâu hơn, biết đích xác nhân quả không sai chạy mảy
may, tuy chưa dứt khoát nghiên cứu sách vở nhà Phật, nhưng
xem đến những sự tích cảm ứng đã được ghi chép thì
quả thật tâm đã vui mừng, khâm phục Phật pháp. Sở dĩ,
ông ta chưa được như ông Bành Nhị Lâm là vì do văn tự
chướng ngại sâu xa, lại thêm biếng nhác, trễ nãi, thành
ra kết quả chỉ là gieo nhân cho tương lai, đáng tiếc thay!
Tôi cho rằng do ông Viên, ông Kỷ[32] học rộng mà còn chăm
chú gom soạn nhân quả báo ứng như thế, người sau xem đến,
há đâu chẳng cảm động sâu xa ư? Nếu không muốn lưu thông
thì thôi, còn muốn lưu thông hãy nên lưu thông, đừng có
nên nghĩ ngợi thái quá!
109.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ bảy)
Giảng
Khởi Tín Luận rất tốt, chỉ e ít người lãnh hội được,
nên kẻ căn cơ nông cạn sẽ bị mất lợi ích nhiều. Có
lẽ nên giảng kèm pháp môn Tịnh Độ khiến cho họ trước
hết biết được đạo trọng yếu để liễu sanh tử, lại
còn biết được tâm pháp trọng yếu của Phật pháp thì cả
Lý lẫn Cơ đều được khế hợp. Để đối chứng cấp thuốc
cho người hiện thời thì nhân quả báo ứng là bậc nhất,
còn trong các pháp nên tu thì Tịnh Độ là bậc nhất. Nếu
nghiên cứu Khởi Tín Luận thì tuy cũng có nhân quả Tịnh
Độ, nhưng tri kiến phàm phu không thể lãnh hội trọn vẹn
nghĩa lý, lại còn chẳng thể nương theo luận ấy để khởi
tu, chỉ hiểu được ý nghĩa mà thôi! Bất luận căn tánh
nào, không thể không trước hết nghiên cứu nhân quả, Tịnh
Độ; còn về giáo tướng thì cũng phải chọn người mà thí,
bởi lẽ học trò mỗi người có chuyện phải học riêng,
Phật học chỉ là chuyện kèm thêm. Nếu người căn cơ thiên
tánh cạn cợt lại chuyên chú vào giáo tướng, rất có thể
sẽ quăng Tịnh Độ ra sau ót, đến nỗi thành ra kết quả
“có nhân mà không có quả”! Đấy là lập cách chẳng phù
hợp căn cơ vậy.
Nay
trong những kẻ tôn sùng Tướng tông, thói tệ ấy cũng giống
như thế. Chuyện họ đề xướng chẳng thật sự vì liễu
sanh tử mà chỉ vì thông suốt Lý Tánh để thuyết giảng
mà thôi! Nếu như họ biết được nỗi khó khăn của việc
dùng Tự Lực để liễu sanh tử, quyết sẽ chẳng chịu dốc
sức nơi chuyện ấy, bỏ qua Tịnh Độ không hỏi đến! Nếu
kẻ nào chê bai thì kẻ ấy đều thuộc hạng ham cao chuộng
thù thắng, chẳng biết duyên do của sự cao, sự thù thắng.
Nếu thật sự biết thì dù có giết họ, họ cũng chẳng chịu
gác bỏ Tịnh Độ không dốc sức tu! Thật là học đạo khó
khăn thay! Chí của sư Hoằng Nhất chỉ có mình ngài Hoằng
Nhất biết rõ. Nếu chẳng đại tinh tấn, tâm sanh tử không
khẩn thiết sẽ thành hạng biếng nhác, bê trễ.
Tăng
nhân ngày nay thật khó khiến cho người ta tin tưởng, nhưng
đã truy điệu Tăng nhân, há nên phỉ báng Tăng nhân. Nếu
nêu lên những điều thiện, răn dè những điều bất thiện
thì không mắc lỗi gì. Nhưng nếu đã dự vào hàng học trò
người ta, thì chuyện chỉ trích cũng nên im lặng. Chuyện
ấy chỉ có người đức cao trọng vọng mới có thể tiến
hành, không phải là chuyện hàng chim non miệng vàng nên làm.
Những
kinh hư rách không thể tu bổ được thì đốt đi cũng không
sao! Nếu còn xem được, còn có thể tu bổ được thì chẳng
nên thiêu. Nếu chẳng biết lẽ biến thông, cứ một mực
không dám thiêu, kinh ấy rốt cuộc chẳng thể xem, mà cũng
không được cất giữ như kinh tốt, thành ra khinh nhờn, lại
còn tạo thành cái lỗi khinh nhờn cho người đời sau vậy,
há có nên chẳng biết quyền biến ư? Quang thường nói: “Nhân
quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn
xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh”.
Lúc này nếu chẳng coi nhân quả là nhiệm vụ cấp bách để
cứu nước cứu dân thì dù ông trí xảo, đạo đức cao siêu
đến đâu cũng chỉ uổng công, bởi lẽ chẳng giảng đạo
lý cũng như không có vương pháp vậy!
110.
Trả lời thư cư sĩ Hồng Quán Lạc
Thánh
hiền xưa kia không ai chẳng dè dặt, kinh sợ tự tu trì; vì
thế, tâm họ chẳng bị phú quý, cùng - thông xoay chuyển.
Nếu bần cùng thì riêng một thân mình thiện, còn hiển đạt
sẽ kiêm làm điều lành cho thiên hạ. Người đời nay trong
cách cư xử, nói năng hằng ngày, giữa cha con, anh em, vợ chồng
với nhau còn chẳng thể mỗi mỗi đều đúng pháp. Có chút
tri kiến liền lầm lạc mong thành bậc cao nhân lỗi lạc;
nếu chưa có quyền lực bèn mặc tình cuồng vọng biện luận
mù quáng lừa đời dối dân. Khi đã có địa vị bèn phô
bày ác niệm bạo ngược của chính mình rối nước hại dân.
Cái gốc bệnh là do lúc ban đầu cha mẹ, thầy bạn kẻ ấy
chưa từng đem cái đạo nhân quả báo ứng ra dạy dỗ cho
kẻ đó. Nếu hắn biết chút ít về nhân quả báo ứng thì
khởi tâm động niệm ắt sẽ có chỗ kiêng sợ, chẳng dám
phóng túng. Dẫu chẳng mong thành thánh thành hiền, cũng vẫn
dè dặt, kiêng sợ như rớt xuống vực sâu, như đi trên băng
mỏng, không thể không như vậy được. Do vậy, kẻ có thiên
tư cao lại càng phải bắt tay từ chỗ thiển cận, đừng
thấy điều thiện nhỏ bèn không làm, đừng cho là điều
ác nhỏ rồi cứ làm. Lúc nhỏ huân tập thành tánh, như cây
lúc nhỏ đã mọc ngay thẳng, đến khi lớn, muốn cho nó cong
vẹo cũng không thể nào được!
111.
Trả lời thư cư sĩ Uông Cốc Nhân
Chân
cảnh có hạn lượng, do không biết hai chữ “chân cảnh”
nên tính toán lầm lạc. Thế giới không đồng - dị, chỉ
bậc đã viên chứng Tịch Quang mới thấy được như thế.
Sanh tử và Niết Bàn cùng một nguồn, nhưng do mê - ngộ khác
biệt nên mới có trói buộc và giải thoát sai khác. Chân và
vọng vốn không hai thể, nhưng mê chân thành vọng, nên chỉ
thấy được vọng, chẳng thấy được chân. Nếu hỏi vì
sao thành ra như thế, xin hãy tự tham cứu nơi chính mình. Đến
khi nào thấy ngay cả chính mình cũng chẳng thể được thì
sẽ tự biết. Như người uống nước, lạnh - nóng tự hay.
Nếu hướng về người khác hỏi han hòng biết rõ, dù người
khác nói rất rành rẽ, cũng giống như nghe nói về bánh, chính
mình làm sao biết được mùi vị, dứt cơn đói khát cho được?
Toàn
thể chân biến thành vọng, há hỏi bản thể của cái chân
nếu có thì có ở chỗ nào? Nếu toàn thể vọng biến thành
chân, há có thể hỏi tướng vọng vốn không, cái không ấy
đi về đâu? Những kẻ hỏi như vậy chẳng gọi là người
trí. Dẫu Phật ngữ như sấm, nhưng tâm đầy nghiệp chướng
thì làm sao đây? Nếu thật sự thông đạt Nhất Thừa thì
Tứ Đại đều mất bổn tánh, sáu căn thảy đều dùng lẫn
cho nhau. Lý Thể như thế nói có vẻ dễ, chứng được thật
khó. Xưa kia may ra còn có người chứng đắc, chứ hiện thời
toàn là những kẻ ham cao chuộng xa, chẳng trọng thật tu,
toàn là những kẻ hư vọng, vờ vịt bàn xằng Bát Nhã. Xin
hãy đọc kỹ Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, cùng cầu vãng
sanh với những vị Đẳng Giác Bồ Tát đã chứng ngang bằng
với Phật, ấy chính là điều Quang tôi mong mỏi sâu xa. Nếu
không, ai giữ chí nấy, chẳng cần phải thương lượng nữa!
112.
Trả lời thư cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ nhất)
Người chưa thọ giới chẳng được xem Luật Tạng:
1)
Một là vì sợ kẻ chưa hiểu lý sâu, trông thấy hành vi của
những người phạm giới cấm, chẳng biết là bậc Đại Quyền
Bồ Tát thị hiện, vì mong Phật chế giới hòng lợi lạc
cho đời sau, bèn hiện tướng chẳng như pháp để Phật có
dịp chế lập giới, nêu khuôn phép. Do chẳng hiểu lý này,
chỉ căn cứ vào những hành vi trước mắt, cho là khi Như
Lai tại thế, các đệ tử Phật phần nhiều chẳng như pháp.
Từ đấy, khởi lên tà kiến miệt thị Tăng chúng, tội đó
chẳng nhỏ.
2)
Hai là những chuyện trong Luật Tạng chỉ Tăng được biết,
nếu để kẻ chưa phải là Tăng đọc được, rất có thể
có kẻ ngoại đạo giả vờ dự vào hàng tỳ-kheo, làm chuyện
sai pháp, vu báng Phật pháp thì hại chẳng nhỏ.
Do
vậy, nghiêm cấm như thế là để dự phòng. Còn như kẻ hảo
tâm hộ pháp, giảo chánh, lưu thông, há có nên cứ tuân theo
thường lệ chăng? Nếu chấp chặt vào lời ấy thì Luật
phải do Tăng chép, Tăng khắc, Tăng in, Tăng truyền mới khỏi
trái nghịch cấm chế của Phật. Vạn sự trong thiên hạ đều
có lý nhất định, làm điều gì phải thuận theo cái lý nhất
định, nhưng cách thực hiện thì phải tuân theo cái đạo
thích nghi thời tiết, nhân duyên. Lý khế hợp với Quyền,
pháp phù hợp cùng đạo mới nên. Trong Luật ắt có những
đoạn văn nói rõ [điều ấy], Quang mắt mờ chẳng thể xem
trọn. Bộ Tỳ Ni Tập Yếu của ngài Ngẫu Ích cũng nhắc đến
nghĩa lý này, ông cũng không cần phải kiểm lại.
Nếu
đã không vướng vào những lỗi như: không phải người hiểu
lý sâu xa, chỉ biết căn cứ vào chuyện trước mắt, muốn
biết chuyện cơ mật trong Phật pháp, hoặc muốn giả vờ
dự vào chúng tỳ-kheo v.v… thì cứ thanh thản yên tâm giảo
chánh, lưu thông. Công đức ấy vô lượng vô biên, cần gì
phải lo nghĩ quá? Nhưng phải im lặng, chẳng được đem những
sự tướng chép trong Luật tuyên nói cho kẻ vô tri vô thức,
cũng như trích đăng bừa bãi trong những văn tập tầm thường,
khiến kẻ vô tri lầm lạc tạo khẩu nghiệp. Lý thế gian
hay xuất thế gian về lý đều nhất định, nhưng pháp không
nhất định. Lớn như chuyện giữ nước yên đời, nhỏ như
một miếng ăn hớp uống không chuyện gì chẳng như vậy.
Sao lại riêng chấp khăng khăng nơi Luật Tạng?
113.
Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ hai)
Trước kia tôi ở Dương Châu, biết thái phu nhân mắc bệnh,
các hạ phải trở về đất Thân (Thượng Hải) để chăm
sóc. Tôi cho rằng bà cụ đã ngoài bảy mươi, Tịnh nghiệp
đã thuần, rất có thể là vì muốn răn nhắc những người
đồng hàng nên dùng đại sự Tây quy để nhân đó họ được
tỉnh ngộ đó chăng? Cho đến ngày mồng Bốn tháng Chín, Quang
đến đất Thân, hôm sau gặp Vân Lôi, cho biết thái phu nhân
thân thể đã mạnh khỏe, các hạ cũng đã quay lại Bắc Kinh
mấy ngày rồi! Khôn ngăn mừng rỡ vô cùng! Ai ngờ thái phu
nhân rốt cuộc chẳng muốn trụ lâu trong thế giới này, dùng
chính thân mình thuyết pháp, chỉ muốn cho hết thảy thân
bằng quyến thuộc đều biết tướng thế gian vô thường,
hễ sanh ắt có tử, dốc sức tu Tịnh nghiệp, cầu mau được
thoát khỏi đời ác ngũ trược này, chứng triệt để thiên
chân Phật tánh chúng ta vốn sẵn có mới thôi! Có thể nói
thật là đại từ bi, hiện thân thuyết pháp vậy!
Nhận
được tin từ Vân Lôi, tâm tôi rất bi thương; kế đó nghĩ
thái phu nhân quả thật muốn cho chúng ta khỏi chịu khổ luân
hồi, nên mới thị hiện đến - đi. Điều đáng bi thương
chỉ là ông mất nơi nương cậy, mất đi mẹ hiền mà thôi.
Tuy vậy, thần thức cụ đã siêu về tịnh vực, nghiệp trả
lại trần lao, sen chín phẩm nở hoa, Phật thọ ký ngay trong
một đời. Do các hạ thiên nhãn chưa mở, chẳng thể thấy
thấu suốt, xét về phần được thái phu nhân chở che, cố
nhiên tơ hào chẳng cách, nhưng đã thành chuyện dĩ vãng rồi!
Xin ông bớt buồn, lấy chuyện niệm Phật ngõ hầu phẩm sen
của cụ được cao thêm, mau chứng Vô Sanh làm trọng. Quyết
chớ nên quá bi thương, đến nỗi hai bên đều vô ích. Quang
may chẳng bị ghét bỏ, được dự vào hàng bè bạn của ông,
pháp lẫn tài đều nghèo, biết lấy chi làm lễ, chỉ đành
vào lúc sáng tối lễ tụng, vì thái phu nhân hồi hướng Bồ
Đề, để tận tình bạn bè phương ngoại[33] mà thôi.
114.
Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ ba)
Hôm qua nhận được thư cùng thiệp báo tin buồn, đọc xong,
khôn ngăn buồn than khôn xiết. Phàm chư Phật, Bồ Tát, Pháp
Thân đại sĩ nghĩ thương chúng sanh, thị hiện sanh trong thế
gian, hòa quang đồng sự[34] dùng hạnh giáo hóa, khiến cho
dù nam, dù nữ, hoặc quốc vương, đại thần, phi hậu, đại
gia, và những kẻ bần cùng hạ tiện trông thấy đều được
cảm hóa, phát khởi, bất cứ đâu, bất cứ ai đều được
nhập vào Nhất Thừa viên diệu, sâu xa mà chẳng tự biết.
Như thế thì pháp đạo lưu thông, như Xuân về trên lãnh thổ
của vua Vũ, mặt nhật rạng ngời trời Nghiêu, không chỗ
nào, không một ai chẳng được hưởng quang minh, được thấm
nhuần nuôi dưỡng. Xét việc làm của cả một đời thái
phu nhân và tình hình khi lâm chung, trước đây Quang đã từng
bảo bà cụ là bậc thừa nguyện thị hiện, mang thân phận
nữ nhân mà thuyết pháp, luận như vậy là đích xác nhất.
Quang
uổng mang thân nam, lạm chen vào Tăng chúng, bốn mươi năm
qua chẳng được mảy may lợi ích gì nơi pháp môn cả. Đọc
thấy thái phu nhân sốt sắng lưu thông Đại Tạng, khắc in
những sách khế lý khế cơ, thẹn đến chết được! Sáng
chiều lễ tụng hồi hướng chỉ để giãi bày tấm lòng thành
của tôi, còn mong thái phu nhân từ mẫn, dẫn thánh chúng của
Phật Di Đà mau đến độ tôi, sao có thể nói là tôi làm
pháp thí cho cụ bà được? Nhưng tôi chẳng ngại nhờ vào
duyên sự này để tăng trưởng cái tâm tự lợi, lợi tha.
Do vậy, hàng phàm phu sát đất, trong lúc lễ tụng còn vì
chư Phật hồi hướng, huống chi những vị thị hiện địa
vị phàm phu thì về mặt Lý nào có ngại gì?
Trong
thời gian làm thất và trong hết thảy lúc, hết thảy sự,
đều nên lấy niệm Phật làm chánh, chứ nào phải chỉ trong
lúc chưa đưa đám! Do hiện nay, đa số Tăng lười nhác, người
không biết tụng kinh thì nhiều, mà Tăng lại đọc nhanh như
nước chảy, người khác dù có biết tụng kinh nhưng không
thuộc cũng chẳng thể niệm theo. Dẫu có mười mấy người,
số người niệm theo chẳng được mấy. Chỉ có niệm Phật
thì ngoại trừ những kẻ không phát tâm ra, chắc chắn không
có cái tệ chẳng niệm theo. Lại dù họ chẳng chịu niệm,
nhưng một câu Phật hiệu đã lọt qua tai thì lợi ích tự
lợi, lợi tha cũng chẳng cạn. Đấy chính là lý do Quang tuyệt
chẳng đề xướng làm các đạo tràng khác.
Người
đang lúc lâm chung, chỉ đồng thanh niệm Phật hiệu là có
ích. Nếu thức tâm [của người sắp mất] chưa rời khỏi
[xác thân] thì tắm rửa, cất tiếng khóc v.v… đều gây trở
ngại lớn. Do vậy, người tu Tịnh nghiệp trong lúc bình thời
phải thuật rõ duyên do cùng thân quyến ngõ hầu họ chẳng
đặt lòng yêu thương sai chỗ. Nếu là người có sức lớn
lao, là bậc cao sĩ lỗi lạc, ắt sẽ chẳng sợ bị những
thứ ấy gây vướng mắc. Bởi lẽ, những vị ấy phước
đức sâu dầy, ngay trong lúc uế nghiệp đã diệt, tịnh cảnh
hiện tiền, liền ngay trong lúc ấy, những gì họ thấy họ
nghe đã không còn thuộc vào thế gian này nữa!
Thái
phu nhân vốn đã chẳng phải hạng tầm thường; vì thế chẳng
nên theo lệ thường. Bà cụ ắt vãng sanh, phẩm vị ắt chẳng
thuộc vào Trung, Hạ, nhưng Phật pháp rộng sâu, chỉ khi nào
thành Phật rồi mới có thể buông tay, muốn quyết định
được vãng sanh, quả thật chẳng ngại gì khẩn thiết niệm
Phật, thường hành truy tiến[35], tức là như kinh Phật thường
nói: “Tuy biết tội tánh vốn không, nhưng thường hối tội
trước, chẳng nói mình đã được thanh tịnh”. Ngài Liên
Trì cũng nói: “Trong năm, thường nên truy tiến tiên vong[36]
chẳng được bảo họ đã được giải thoát nên chẳng cử
hành”.
Phải
biết niệm Phật, tụng kinh tuy nói là để cầu siêu cho người
thân, nhưng thật ra là để cho quyến thuộc hiện tiền tự
biết, khai tâm địa, trồng thiện căn, và đem tất cả công
đức cầu siêu cho người thân để hồi hướng cho hết thảy
chúng sanh trong pháp giới, hòng mở rộng tâm lượng của mình
lẫn người, của kẻ còn, người mất, nhằm tiêu diệt những
chấp trước trở ngại còn - mất của mình lẫn người. Còn
như không lấy lòng thành làm chánh, chỉ cốt xa hoa, bày vẽ,
phô trương với người thì đúng là dùng đám tang cha mẹ
để bày trò náo nhiệt, chẳng phải là điều kẻ làm con
nên làm. Các hạ thông hiểu Phật pháp sâu xa, quyết chẳng
đến nỗi như thế, chỉ e quyến thuộc, người quen bị ảnh
hưởng bởi những thói ưa thích xa hoa của những nhà giàu
có gần đây, nên tôi chẳng ngại nhắc nhở các hạ, ngõ
hầu ngăn chặn những tâm trái pháp, trái lý, xu thời vậy.
115.
Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ tư)
Hôm trước, Vân Lôi gởi đến cuốn Kim Cang Liễu Nghĩa của
Vô Y đạo nhân, đọc xong, biết Phật học của các hạ đến
nay cũng sâu xa lắm, khôn ngăn cảm phục. Mạnh Do gởi đến
cuốn Nhất Hạnh Cư Tập, tôi thấy chữ cũng nhỏ quá, không
thể dùng để in lâu được[37], đấy chính là điều nhà
khắc kinh ở Bắc Kinh chưa nghĩ đến. Bản để in kinh sách
nên khắc chữ thật to, bản in hiện thời nhỏ quá, chẳng
thể chiếu theo cách ấy, nhưng cũng nên phỏng theo cách thức
ở Dương Châu, Nam Kinh. Mong ông hãy gởi thư đến người
trông coi, nhắc đến nguyên do, sao cho cứ một bức gỗ khắc
in được cả mấy ngàn cuốn, lợi ích rất lớn.
Thêm
nữa, Nhất Hạnh Cư Tập cả văn lẫn lý đều hay, chỉ có
phần Bạt, nói về Thiền Tông Bí Mật Liễu Nghĩa Kinh quả
là trong đề-hồ có lẫn chất độc. Bản kinh ấy do đàn
cầu cơ mà có, toàn nhặt nhạnh những câu trong Hoa Nghiêm,
Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Viên Giác cũng như Lục Tổ Đàn Kinh
gộp thành, và gom góp những đoạn văn trong các Ngữ Lục
Thiền, Tịnh. Bậc đại thông gia xem đến cố nhiên là hữu
ích, nhưng người không đầy đủ con mắt [trí huệ] sẽ cho
rằng kinh này từ đàn cầu cơ mà có, do chính miệng vàng
nói ra. Từ đó, sẽ bảo những kinh có được từ đàn cầu
cơ đều là kinh Phật. Xưa kia có kẻ nhắm mắt tụng ra kinh,
nhưng những kinh ấy đều chẳng được lưu thông, vì sợ
rằng sẽ tạo thành đầu mối bịa đặt vậy! Nhân Hiếu
hoàng hậu thời Minh mộng cảm được kinh[38], nghĩa lý lợi
ích đều chẳng thể nghĩ bàn, nhưng trong bộ Duyệt Tạng
Tri Tân, Linh Phong lão nhân xếp kinh ấy vào loại nghi ngụy[39].
Đầu đời Thanh kinh này cũng được khắc in, nhập tạng;
nhưng sau đời Cao Tông (Càn Long) bèn bỏ ra để phòng chuyện
ngụy lạm. Nhị Lâm kiến địa thật cao, cớ sao chẳng nghĩ
đến điều ấy! Ở chùa Pháp Vũ trước kia cũng có một bản,
Quang đã đốt đi để ngăn mối họa, đối với bậc tri kỷ
pháp môn chẳng ngại gì dài dòng một phen.
Hiện
thời, nước cùng quẫn, dân khốn khó đã đến mức cực
điểm, cái nạn hút thuốc phiện đã dính đến tận xương,
chưa thể trừ được, cũng là một mối lo nghĩ lớn cho những
ai nặng lòng trách nhiệm với thế đạo dân sinh. Mùa Hạ
năm nay có người bạn từ Cáp Nhĩ Tân[40] đến, cho biết
nơi ông ta cấm thuốc phiện rất ngặt, cũng có hai ba người
bạn muốn cai thuốc nhưng khổ vì không có phương thuốc hay.
Trước kia, Quang nghe nói ông Trần Tích Châu có bài thuốc
cai thuốc phiện linh nghiệm phi thường, trước nay chưa hề
có. Đến khi ông ta lên núi thăm tôi, bèn bảo ông ta viết
ra gởi đi, lại còn chép lại một bản giao cho phó tự của
chùa mình bảo phân phát cho người khác, vì ông ấy đã từng
đến làm việc trong Thương Vụ, giao du ắt phải rộng, chỉ
mong bài thuốc ấy được phổ biến lưu truyền. Giữa tháng
11, từ Cáp Nhĩ Tân có thư gởi đến, nói bài thuốc do Quang
gởi cho linh nghiệm phi thường, xin thay mặt cho những bạn
bè đã cai được thuốc hết sức cảm tạ. Khôn ngăn hoan
hỷ!
Nhân
đó tôi hỏi thăm vị phó tự của chùa mình, ông cho biết
vợ của ông Uông Thiềm Thanh (bạn của ông ta), do bị khí
thống nên hút thuốc phiện, về sau muốn cai, liền mua thuốc
viên bán ngoài chợ về uống, nhưng trọn chẳng dứt tận
gốc được. Nếu chẳng uống thuốc thì cơn thèm thuốc phiện
lẫn bệnh khí thống cùng nổi lên, được phương thuốc này
uống một liều liền khỏi, hai chứng ghiền thuốc và khí
thống đều hết sạch! Con ông ta mở tiệm thuốc Uông Lý
Tế Đường, sanh lòng cảm kích lớn lao, in bài thuốc ấy
tặng cho người, và theo toa chế thành thuốc viên, thuốc nước
hòng giúp người, bán ở các tiệm thuốc của mình. Quang liền
yêu cầu in ra hai trăm tờ bài thuốc này, để hễ gởi thư
cho những tri giao xa gần đều gởi kèm một toa. Người có
sức sẽ in ra lưu truyền rộng rãi.
Trộm
nghĩ các hạ và Vân Lôi đều là những người có tâm làm
lợi cho người khác, hãy nên đem toa thuốc này đăng lâu dài
trên báo để khắp cõi đời đều biết đến thì công đức
vô lượng vậy. Tôi đã bàn với Vân Lôi sẽ bỏ ra một nửa
tiền đăng báo. Khoản phí tổn ấy nên kiếm dăm ba người
có lòng với thế đạo chia sẻ thì sự việc ắt sẽ tiến
hành được, đối với tòa báo, đối với chính mình đều
không trở ngại gì. Nếu ai muốn cai thuốc liền có thể nhanh
chóng thoát khỏi nỗi khổ ấy, đây cũng là một đầu mối
để cứu nước cứu dân vậy! Đối với các xứ Quảng Đông,
Vân Nam, Quang đều gởi kèm bài thuốc ấy theo Văn Sao, bảo
họ in bài thuốc ấy ra phổ biến truyền bá. Lúc gởi cho
người bạn ở Cáp Nhĩ Tân trước kia, cũng bảo ông ta kiếm
dăm ba người có tài lực chịu lợi người bỏ tiền ra đăng
báo suốt năm trên hai tờ báo ở nơi đó, ngõ hầu người
nơi ấy và người chung quanh đều biết đến. Nay đã tự
đạt được sự hiệu nghiệm, ắt phải nên thường đăng
báo. Người thật sự tu đạo, sao lại xen vào chuyện người
khác? Nhưng toàn thân chưa thể buông xuống, cắt đứt muôn
duyên thì chẳng ngại gì vun bồi tâm địa, ngõ hầu cứu
vớt phần nào (Bài thuốc được in kèm ở cuối tập)
116.
Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ năm)
Cư
sĩ Vương Hoằng Nguyện tuy sùng tín Mật Tông, khá có hiệu
nghiệm[41], nhưng lúc đầu do nhận lầm tin tức[42] nên mới
mắc lỗi chưa đắc đã bảo là đắc; về sau, do đọc nhiều
giáo điển mới biết mình sai lầm. Lại thêm hiện thời tuy
công phu đắc lực nhưng hư hỏa bốc lên, không cách nào trị
được. Do hai điều này, Quang nhận định rằng một pháp
Mật Tông chẳng thể độ khắp ba căn, chẳng bằng Tịnh Độ
ngàn vạn phần ổn thỏa, thích đáng, có thể nói là ông
ta xưa đã có linh căn, kiến địa cao siêu, mà còn hiểu lầm
cũng như mắc bệnh chẳng biết đối trị thì biết: Người
đời do chẳng bằng ông ta sẽ thành ra như thế nào rồi!
Ông
ta cho là Mật Tông vượt trội Hiển Giáo, dẫn đủ mọi ngôn
luận để biện bác, nhưng Phật không hai tâm, cũng không hai
pháp, muốn đề cao Mật Tông nhưng chỉ luận về những chỗ
cao siêu của Mật Tông, bởi xét về mặt chứng đắc thì
chỗ mầu nhiệm của Mật Tông và chỗ mầu nhiệm của Hiển
Giáo giống như nhau, dù có muốn suy tôn thì thật ra vẫn ngang
như nhau. Lời luận của ông ta là ước theo giáo pháp, bỏ
sót căn cơ; Quang ước theo chỗ lợi ích cho từng căn cơ mà
luận giáo. Bởi khế lý nhưng chẳng khế cơ thì không thể
cảm ứng đạo giao, nghĩa là thuyết pháp chẳng hợp với
căn cơ thì chỉ thành lời nói xuông, đại ý là như vậy.
Những gì Quang nói đa số là lập đi lập lại, lại thêm
mục lực chẳng đủ, những thư từ nói chung không giữ lại
bản nháp.
Hai
câu nói: “Một vị bao gồm hết thảy vị, từ cạn đến
sâu, hành tướng vẫn phải luôn rõ ràng như thế. Viên dung
chẳng trở ngại gì đến việc bố thí” rất thích đáng.
Bởi lẽ viên dung chính là viên dung nơi việc hành bố thí.
Nếu không hành bố thí sao nói là viên dung được? Hành bố
thí chính là hành bố thí nơi viên dung, nếu không viên dung
thì sự bố thí ấy sẽ thành sanh diệt, bèn thuộc đế lý
Tiểu Thừa, chẳng phải là cái đạo “bao gồm nhân, thấu
triệt quả”!
117.
Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ sáu)
Nhận
được thư và bản Quán Kinh Nghĩa Sớ của Gia Tường đại
sư, duyệt kỹ một lần nữa, văn chương của bản chú sớ
ấy quả thật khiến người đọc rối ren. Một câu nói đi
nói lại nhiều lần, ý nghĩa hàm hồ, lại chỉ chú trọng
giải thích danh nghĩa, trước đã không giảng tường tận
duyên do, sau lại chẳng kết về chỗ quy túc. Quang phỏng đoán
bản chú sớ chưa chắc đã do chính Gia Tường[43] đại sư
viết, có lẽ là do bọn người Nhật Bản cả tin mạo danh
đại sư soạn ra. Nếu không, dẫu bị sao chép sai ngoa, cũng
chẳng đến nỗi toàn bộ không thành văn lý, tạp nhạp, lụn
vụn, trọn chẳng hiển thị được đại nghĩa. Như đoạn
văn “núi Tu Di cao vượt khỏi biển cả, tám thứ gió thổi
chẳng động, dẫu khiến cho tốt đẹp lại thêm trang nghiêm,
vẫn chẳng thể dời động một chữ” thật đáng nghi. Thập
Nhất Diện Sớ[44] cũng thế! Bọn họ hâm mộ tên tuổi của
bậc cao nhân nước ta, bèn xằng bậy viết sách [mạo danh],
chẳng biết chính mình chẳng phải là cao nhân, dù có mạo
danh thì cũng chẳng mạo danh được!
Thêm
nữa, gần đây ở Bắc Kinh in sách dùng loại giấy Mao Biên,
giấy này hiện giờ trông thấy khá tốt, nhưng để lâu bèn
bị giòn vụn. Lúc Quang ở Bắc Kinh, thấy những cuốn sách
đã hơn trăm năm, giấy đều đã giòn vụn, kẻ thô tâm giở
xem, sẽ bị vỡ nát. Tâm tôi đã trộm ngờ, nhưng chẳng biết
nguyên do