Quyển
Thứ Nhất
(Phần
4)
64.
Trả lời thư cư sĩ Thích Trí Châu (thư thứ nhất)
Đã
ở Hàng Châu hãy nên lắng lòng tu đạo, cần gì phải chờ
đến kỳ hội dâng hương lại đến Phổ Đà? Đại Sĩ không
cõi nào chẳng hiện thân, có chỗ nào lễ bái, cúng dường
chẳng tốt? Nếu nói vì cốt ý để gặp Quang thì cũng không
cần phải đến. Bộ Văn Sao được in lần này có hơn chín
mươi thiên, những thứ tầm thường đầy ắp trong bụng Quang
đã lôi hết ra cả rồi, há còn có bí quyết “miệng truyền
tâm nhận” nào để truyền riêng cho ông nữa ư? Quang học
thức nông cạn, không phát huy điều gì lớn lao, nhưng nếu
có thể hành theo đó, quyết định sẽ có ích không bị tổn
hại, quyết định liễu sanh tử trong đời này, hầu cận
Di Đà sau khi mất. Chỉ e rằng ông coi đó là hèn kém thì
nó trở thành hèn kém vậy! Ví như đối với tượng Phật
được làm bằng vàng, gỗ, đất nặn, hay sơn vẽ mà kính
trọng như đức Phật thật thì bèn có thể thành Phật. Coi
những tượng ấy chỉ là vàng, gỗ, đất nặn, sơn vẽ thì
chúng chỉ là vàng, gỗ, đất nặn, sơn vẽ mà thôi. Nhưng
khinh nhờn vàng, gỗ, đất, sơn vẽ thì không bị tội khiên
gì; nếu khinh nhờn tượng Phật bằng vàng, gỗ, đất, sơn
vẽ thì tội lỗi sẽ ngập trời.
Người
khéo được lợi ích thì đối với mọi chuyện, không chuyện
gì không được lợi ích: Quạ kêu, sẻ hót, nước chảy,
gió động, không gì chẳng chỉ bày Thiên Chân[1] con người
vốn sẵn có (Thiền Tông gọi là “ý của Tổ Sư từ trời
Tây sang”), huống gì bộ Văn Sao của Quang, văn tuy vụng về,
chất phác; nhưng những điều được viết trong đó bất quá
đều là tùy ý tùy cơ lấy những lời đã nói của Phật,
Tổ biến thành những lời nói thông dụng mà thôi, nào phải
Quang tự bịa ra ư? Quang chỉ truyền dịch lại để người
sơ cơ dễ hiểu đó thôi! Dẫu là sơ cơ nhưng nếu thực hiện
đến cùng cực thì cũng chẳng thể bỏ những điều này để
tu điều gì khác, bởi một pháp Tịnh Độ là pháp thông trên
thấu dưới, chẳng giống như pháp Tiểu Thừa không thích
hợp cho người Đại Thừa tu tập!
65.
Trả lời thư cư sĩ Thích Trí Châu (thư thứ hai)
Thầy
Quang Thuận đến đây cầm theo thư của ông và hạt sen Hạ
Bố đưa cho Quang, thuật những chuyện như ông đã trụ tại
am thầy ấy v.v… Trộm nghĩ ông đã không dư dật, sao còn
phải bắt chước thói người thế gian làm cái trò đem đào
bù mận? Ông và tôi quen biết nhau qua tình đạo, hãy nên trực
tiếp hành xử theo đạo. Những gì đã gởi đến sẽ dùng
để làm phước, cảm ơn lắm. Lệnh nghiêm, lệnh nhạc mẫu[2]
đã sanh lòng tin tưởng, hãy nên đem lợi ích của Tịnh Độ
khuyên chỉ, khiến cho tín tâm của họ từ nhỏ nhặt trở
thành rõ ràng. Nếu như tín nguyện chân thiết, quyết định
được sanh về Tịnh Độ, đấy là hiếu vậy! Cái hiếu thế
gian há sánh bằng được ư? Ông còn chưa hiểu rành rẽ cách
tu Tịnh Độ, hãy nên lấy việc xem đọc, nghiên cứu Tịnh
Độ làm chánh, nửa ngày học Giải, nửa ngày học Hành, ngõ
hầu rõ thấu đầu đuôi, trọn không nghi hoặc mới được!
Lăng
Nghiêm Chánh Mạch[3] hãy khoan tính đến, dẫu có đích thân
thấy được Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh cũng chẳng thể
liễu sanh tử được ngay. Thấy Tánh là ngộ, chưa phải là
chứng; chứng rồi mới liễu sanh tử được! Nếu chỉ ngộ
chưa chứng, dẫu chỗ ngộ cao sâu, mà nếu hai thứ Kiến Hoặc
và Tư Hoặc chẳng thể nhanh chóng đoạn được ngay thì chuyện
luân hồi trong ba cõi quyết chẳng thể do đâu mà thoát lìa
được! Nếu chẳng thông hiểu Lăng Nghiêm, nhưng tu pháp môn
Tịnh Độ, ngửa tin lời Phật quyết định không nghi, tin
chân thật, nguyện khẩn thiết, do tu thật hạnh sẽ quyết
định được vãng sanh, làm người trong thế giới Cực Lạc.
Huống chi hiện tại cõi nước nguy ngập, vẫn toan trong lúc
nguy hiểm, tinh thần hữu hạn làm những pháp vụ không cần
gấp, mong được cái tiếng đại thông gia để thỏa thể
diện đến nỗi chuyện chuyên tu của chính mình rốt cục
trở thành lan man ư? Nếu đã tin chắc, biết sâu xa pháp môn
Tịnh Độ thì có nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm và các kinh luận
cũng chẳng ngại gì.
Trước
kia, ông đã xin Quang khai thị, Quang gởi bộ Văn Sao cho, nhưng
ông vẫn không thể xem trọn mỗi điều, đương nhiên Quang
biết ông không biết đâu là chuyện thong thả, đâu là chuyện
gấp gáp, cứ lan man bắt chước người thời nay nghiên cứu
kinh Phật chỉ mong thành một bậc đại thông gia đó thôi!
Bộ Văn Sao của Quang văn tự tuy kém cỏi, vẫn có thể chỉ
cho người khác đường lối tu trì. Xưa kia Đại Trí luật
sư[4] thông hiểu sâu xa giáo pháp của tông Thiên Thai, nghiêm
tịnh Tỳ Ni (giới luật), hạnh nguyện tinh thuần, chí lực
rộng lớn, chỉ đối với Tịnh Độ chẳng sanh tin tưởng.
Về sau, do bệnh nặng mới biết lỗi trước, từ đó trở
đi hơn hai mươi năm tay chẳng rời kinh, chuyên nghiên cứu
Tịnh Độ, mới biết pháp này lợi ích siêu việt thù thắng,
bèn dám đối trước mọi người xứng tánh phát huy trọn
chẳng sợ hãi. Dẫu là đứa trẻ lên ba cũng có thể niệm
Phật, ông còn chưa nhận biết rõ ràng đường lối pháp môn
này, lại chẳng bị thời hạn giảng giải [kinh điển] bức
bách như vị giảng sư muốn chống đỡ môn đình, cần gì
phải nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm trước, chẳng coi chuyện
biết đường về nhà là cấp bách? Những lời Quang đã nói
bất quá nhằm ngăn chặn chuyện sai để khỏi phụ lòng gởi
thư đến, chứ nào phải là đã thật sự hiển thị ý nghĩa
trọng yếu của kinh Lăng Nghiêm! Đức Như Lai muốn cho hết
thảy chúng sanh theo đường về nhà, vì thế bảo hai mươi
lăm vị thánh trình bày túc nhân của chính mình để chúng
sanh đời Mạt bất luận căn cơ thượng, trung, hạ, đều
dùng pháp môn Niệm Phật của ngài Thế Chí tự lợi, lợi
tha, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, quay lại niệm
nơi tự tánh, tánh thành vô thượng đạo. Đây chính là điều
cư sĩ nên dốc sức, còn chuyện “chỉ tâm, biện định cái
Thấy, phá Ấm, siêu trược”, hãy đợi đến khi niệm đến
mức tâm - Phật bất nhị, tâm lẫn Phật cùng mất, tự chứng
Niệm Phật tam-muội rồi hẵng tính, giống như đức Thế
Tôn cầm cành hoa giơ lên, Ca Diếp mỉm cười vậy. Nếu không,
vào biển đếm cát đầu choáng váng, tâm mê muội, kể chuyện
ăn, đếm của báu, chẳng đỡ đói rét! Người biết tốt
- xấu quyết chẳng coi thường lời tôi.
66.
Trả lời thư cư sĩ Thích Trí Châu (thư thứ ba)
Ý Quang muốn cho các hạ ở yên nơi nhà mình, tu chân ngay trong
cõi tục, trên có thể cảm phát bậc trưởng thượng phát
sanh lòng tin trong sạch, dưới có thể dắt dìu vợ con đồng
thấm ơn Phật. Nếu ông cứ muốn sống nhờ ở chùa người
ta thì cũng được. Đối với chuyện nghe kinh không cần phải
đến chùa Linh Ẩn[5], bởi lẽ Huệ Minh pháp sư thường bỏ
bớt, nêu đại lược ý nghĩa kinh văn, chuyên chú trọng dẫn
chứng những công án nhà Thiền; có lẽ ích lợi cho bậc đại
đạt, chứ kẻ sơ cơ sẽ bị hoang mang, không biết về đâu.
Đối với người thông minh đôi chút rất có thể bị xen
lạm hỗn độn giữa Tông và Giáo, lỗi ấy quả thật chẳng
nhỏ cạn. Mười nguyện Phổ Hiền, một hạnh Văn Thù[6],
nếu có thể tinh tu dẫu chẳng quán thông hết thảy kinh luận
vẫn có thể thoát nhanh khỏi lồng rọ phiền não, cao dự
hải hội. Nếu đối với pháp cậy vào Phật từ lực này
lòng tin không chân thật, không dựa chắc vào, dù có thông
Tông, thông Giáo cũng chỉ là tam-muội ngoài cửa miệng. Muốn
dùng tam-muội ngoài miệng ấy để liễu sanh tử thì đúng
là như muốn dùng bánh vẽ để khỏi đói, ắt đến nỗi
cùng đường hối hận sâu xa, chẳng được lợi ích mảy
may. Đời, đạo hiện thời chẳng biết tương lai sẽ như
thế nào, còn toan dùng quang âm sắp hết để làm chuyện không
gấp rút nữa ư?
Tuy
trước kia, Quang có ý nguyện tu sửa bộ Sơn Chí[7], nhưng
nếu không được Đại Sĩ thầm gia hộ khiến cho mục lực
được sáng quyết chẳng thể theo đuổi được. Nếu mục
lực có thừa, ở đâu mà chẳng soạn tập được, cần gì
phải muốn sang Hàng Châu ở nhờ chỗ người ta! Mong hãy chuyên
tâm niệm Phật, đấy mới là quyến thuộc thật sự trong
pháp môn, chớ đừng đến núi này khiến cho đôi bên đều
bị khốn khó. Còn chuyện ông muốn xuất gia hãy nên lễ thỉnh
bậc tri thức cao minh khác, trọn chớ vì Quang ngăn ngại mà
bèn chẳng lễ các vị thầy khác, đến nỗi mất lợi ích
lớn lao! Đế pháp sư (ngài Đế Nhàn) ở chùa Quán Tông, Ninh
Ba, bệnh chưa lành, cũng không cần phải qua đó nghe kinh. Cổ
nhân nói: “Thật ít hơn dối nhiều, khéo quá chẳng bằng
vụng, nói được một trượng không bằng làm được một
thước”. Người thật lòng vì mình phải suy nghĩ những câu
ấy.
67.
Trả lời thư cư sĩ Phạm Cổ Nông (thư thứ nhất)
Một pháp Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm Tông,
chỉ khi nào có đủ lòng tin chân thành, nguyện khẩn thiết
thì mới dốc sức thực hành. Khi họa hại bức bách khẩn
thiết mới thành khẩn, còn lúc nhàn nhã vô sự bèn hoãn đãi,
đấy là bệnh chung của phàm phu. Nhưng trong lúc này, tình
hình đời đạo như đang nằm yên trên đống củi, phía dưới
đã bốc lửa mạnh chưa đốt đến thân, nhưng nháy mắt bèn
cháy bùng toàn thể, khắp pháp giới không trốn tránh vào
đâu được, thế mà vẫn còn hờ hững, coi thường để ngày
tháng trôi qua, chẳng thể chuyên chí cầu cứu nơi một câu
Phật hiệu thì cái tri kiến ấy nông cạn quá sức vậy!
Tu
trì trong các tông của Phật pháp ắt phải đạt đến chỗ
hạnh khởi giải tuyệt mới có ích lợi thật sự, chứ chẳng
riêng gì tu quán trong Tịnh tông là phải như vậy. Nhà Thiền
lấy một câu thoại đầu không có ý nghĩa gì đặt vào trong
tâm, coi như bổn mạng nguyên thần, chẳng kể ngày giờ thường
luôn tham cứu câu ấy. Đến khi nào thân tâm, thế giới đều
thảy đều chẳng biết, mới có thể đại triệt đại ngộ,
chẳng phải là hạnh khởi giải tuyệt hay sao? Lục Tổ nói:
“Chỉ xem kinh Kim Cang liền có thể minh tâm kiến tánh”,
chẳng phải là hạnh khởi giải tuyệt hay sao? Ngu tôi cho rằng:
Một chữ Khởi nên hiểu nghĩa là Cực, chỉ ra sức đến
cùng cực thì mới đạt đến Năng lẫn Sở cùng mất, nhất
tâm hiển lộ triệt để. Hạnh nếu chưa cùng cực, dẫu có
quán niệm vẫn là có Năng, có Sở. Toàn là phàm tình dụng
sự, toàn là tri kiến phân biệt, toàn là tri giải, sao có
thể đạt được lợi ích chân thật? Chỉ dùng sức đến
cùng cực thì tình kiến Năng - Sở mới tiêu diệt, chân tâm
vốn có mới hiển hiện. Vì thế, xưa kia có người đầu
như gỗ khô, về sau đạo phong [của vị ấy] chói lọi cổ
kim. Lợi ích đều chỉ ở một chữ Cực mà thôi!
Người
đời nay đa phần bàn xuông, chẳng trọng thực tiễn, khuyên
tu Tịnh nghiệp hãy nên nêu cả Lý lẫn Sự, nhưng cần nhất
là phải lấy Sự làm phương cách tu trì, vì sao? Vì đối
với người hiểu rõ Lý thì toàn Sự chính là Lý, suốt ngày
Sự Trì chính là suốt ngày Lý Trì. Nếu chưa hiểu trọn vẹn
Lý - Sự, vừa nghe đến Lý Trì liền cảm thấy nghĩa này
thâm diệu, lại còn hợp với cái tánh lười nhác, biếng
trễ, sợ trì niệm nhọc nhằn của mình, bèn chấp Lý phế
Sự. Đã phế Sự thì Lý cũng chỉ thành bàn xuông. Mong các
hạ đem cái lý “toàn Sự chính là Lý” của bậc viên ngộ
khuyên hết thảy mọi người thì lợi ích lớn lao lắm!
68.
Trả lời thư cư sĩ Phạm Cổ Nông (thư thứ hai)
Trung
Ấm[8] là thức thần, không phải là thức thần biến thành
Trung Ấm, thế tục thường gọi là “linh hồn” vậy. Như
nói Trung Ấm cứ bảy ngày lại sống chết một lần, bốn
mươi chín ngày bèn đầu thai v.v… chớ nên câu nệ, chấp
trước. Nói đến sự sống chết của Trung Ấm chính là nói
đến những tướng sanh diệt được hiện trong cái tâm vô
minh của Trung Ấm; chẳng thể ngờ nghệch đem những tướng
sanh tử của người đời để luận. Trung Ấm thọ sanh nếu
nhanh thì như trong khoảng khảy ngón tay, liền vào trong tam
đồ lục đạo; chậm thì bốn mươi chín ngày hoặc hơn bốn
mươi chín ngày v.v…
Kẻ mới chết có thể cho người quen biết trông thấy trong
ban ngày, ban tối, hoặc tiếp xúc cùng người khác, hoặc nói
năng, chuyện này không phải chỉ Trung Ấm mới như vậy. Dẫu
đã thọ sanh trong đường lành, nẻo ác, cũng vẫn có thể
hiện hình trước người quen biết, thân thiết. Tuy điều
này do ý niệm của chính người đó biến hiện, nhưng thực
ra do những vị thần kỳ chủ trì quyền tạo hóa làm ra, ngõ
hầu tỏ rõ con người chết đi thần minh bất diệt và quả
báo thiện - ác chẳng dối vậy. Nếu không, người dương
gian chẳng biết chuyện cõi âm, cái lý luận mù quáng “con
người chết đi thân hình đã mục nát thì thần thức cũng
phiêu tán” ắt sẽ được người đời xúm nhau phụ họa;
người cả cõi đời bị hãm trong hầm sâu tà kiến “không
nhân, không quả, không đời sau, hậu thế”, khiến cho người
trông thấy điều thiện chẳng càng dè dặt, gắng sức tu
đức, kẻ ác càng cùng hung cực ác muốn tạo ác! Tuy có lời
Phật dạy, nhưng không có gì để chứng minh, ai chịu tin nhận?
Do có những chuyện hiện hình cho thấy như thế, đủ chứng
tỏ lời Phật nói không dối, quả báo phân minh, chẳng những
người lành càng thêm hướng đến điều lành, mà tâm kẻ
ác cũng bị những tình lý ấy chiết phục, cũng chẳng đến
nỗi mười phần cạn tàu ráo máng. Thiên địa, quỷ thần
muốn cho con người biết được điều này, nên mới có chuyện
người chết hiện thân trong nhân gian, người cõi dương xử
án chốn U Minh v.v…đều nhằm để phù trợ Phật pháp, giúp
đỡ, khen ngợi trị đạo. Lý này rất vi tế, quan hệ rất
lớn. Những chuyện này xưa nay được ghi chép rất nhiều,
nhưng chưa thuật rõ quyền ấy do đâu cũng như chưa nêu lên
mối quan hệ lợi ích của những chuyện ấy.
Trung
Ấm tuy đã lìa thân xác, nhưng vẫn còn mang tình kiến thân
xác như cũ. Đã có tình kiến thân xác, cố nhiên cần phải
có cơm áo để đắp đổi. Do phàm phu nghiệp chướng sâu
nặng, chẳng biết Ngũ Uẩn vốn không, không khác gì người
thế gian. Nếu là bậc có đại trí huệ sẽ ngay trong lúc
thoát xác không nơi nương dựa, Ngũ Uẩn trống không, các
khổ bèn tiêu diệt, Nhất Chân hiển hiện, nên vạn đức
trọn bày. Tuy cảnh giới ấy không nhất định phải giống
nhau, nhưng chẳng ngại tùy tình kiến của mỗi người mà
giúp đỡ cho. Như đốt áo giấy cho người chết, trong tâm
người sống chỉ có ý nghĩ ban cho áo, tuy lớn, nhỏ, dài,
ngắn làm sao vừa vặn, thích hợp cho được, nhưng do tình
kiến của người sống và tình kiến của kẻ mất kia [tương
ứng], nên [những áo ấy] đều vừa khít, thích hợp. Từ
điều này có thể thấy được cái nghĩa lớn lao “hết thảy
pháp chuyển biến theo tâm”. Sau khi chết đi, khi chưa thọ
sanh trong sáu đường, thì gọi là Trung Ấm. Nếu đã thọ
sanh trong lục đạo thì chẳng gọi là Trung Ấm. Những hồn
dựa vào người khác để nói chuyện khổ, chuyện vui đều
là tác dụng của thần thức.
Đầu
thai ắt phải do Thần Thức hòa hợp với tinh huyết của cha
mẹ, lúc thọ thai, Thần Thức đã trụ trong thai. Lúc sanh nở
từng có trường hợp tận mắt thấy người ấy (tức người
sẽ đầu thai làm con) đi vào nhà mẹ, vì lúc cha mẹ giao cấu
đã có Thức khác thay thế thần thức của người ấy nhập
thai. Đến lúc thành thai, Bổn Thức (tức Thức của người
thật sự sẽ đầu thai làm con nhà ấy) đến, cái Thức thay
thế mới ra đi. Sách Dục Hải Hồi Cuồng quyển ba, trong mục
thứ mười hai, dòng tám, chín, mười, mười một, mười hai
đã từng hỏi về chuyện này, nhưng lời đáp chưa trúng lý
lắm! Quang bèn sửa cho đúng, hãy nên tra duyệt. Lời đáp
nguyên thủy như sau: “Ví như trứng gà, có trứng có cồ,
có trứng không có cồ. Khi chưa có thức gá vào thai giống
như trứng chưa có cồ vậy!” Chẳng biết trứng không có
cồ, dẫu đem cho gà ấp cũng chẳng thể nở, làm sao sánh
ví cho được? Quang chỉ mong Lý được sáng tỏ, chẳng nề
hà chuyện tiếm quyền, vượt phận, nên vì cư sĩ trình bày
duyên do. Bà mẹ của sư Viên Trạch[9] mang thai ba năm chính
là vì lẽ này. Đấy là luận theo lẽ thông thường.
Phải
biết nghiệp lực của chúng sanh chẳng thể nghĩ bàn, như
người Tịnh nghiệp đã thành, dẫu thân chưa chết nhưng thần
thức đã hiện nơi Tịnh Độ; kẻ ác nghiệp sâu nặng, thân
còn nằm trên giường bệnh nhưng thần thức đã bị xử phạt
nơi U Minh. Mạng tuy chưa tận, Thức đã đầu thai. Đợi đến
lúc sắp sanh, toàn phần tâm thức mới gieo vào trong thai ấy.
Lý này cũng chẳng phải là hoàn toàn không có; nên thông thường,
đa phần là có Thức thay thế để thọ thai vậy. Các pháp
trong tam giới duy tâm sở hiện. Chúng sanh tuy mê, nhưng nghiệp
lực của họ chẳng thể nghĩ bàn chính là do tâm lực chẳng
thể nghĩ bàn, cũng là do thần thông đạo lực của chư Phật
chẳng thể nghĩ bàn. Hơn mười năm gần đây, sức nhìn của
Quang chẳng ra gì nên chẳng thể dẫn rộng kinh luận để
làm chứng, nhưng cố nhiên lý ấy chẳng phải do Quang bịa
ra nói mò để phải chuốc lấy tội lệ! Sanh tử là chuyện
lớn của chúng sanh, nhân quả là phương tiện giáo hóa lớn
lao, nguyện các hạ chẳng tiếc tướng lưỡi rộng dài dùng
nhân quả báo ứng chuyển phiền não sanh tử thành sự trợ
giúp cho Bồ Đề Niết Bàn thì pháp môn may lắm, chúng sanh
may mắn lắm!
69.
Thư trả lời cư sĩ Ngô Hy Chân (thư thứ nhất)
Một pháp Niệm Phật ước có bốn thứ là Trì Danh, Quán Tượng,
Quán Tưởng, và Thật Tướng. Trong bốn pháp này, chỉ có
mỗi pháp Trì Danh nhiếp thọ căn cơ phổ biến nhất, hạ
thủ dễ dàng nhất, chẳng đến nỗi khởi ma sự. Như muốn
quán tưởng thì phải đọc kỹ Quán Kinh, biết sâu xa “tâm
này làm Phật, tâm này là Phật”, và “tâm tịnh Phật hiện,
cảnh chẳng từ bên ngoài đến, duy tâm sở hiện”, chẳng
sanh chấp trước thì cảnh càng thêm sâu mầu, tâm càng thêm
tinh nhất. Làm được như vậy thì sự lợi ích của việc
quán tưởng thật chẳng nhỏ nhoi. Nếu quán cảnh không thuần
thục, chẳng rõ lý luận, do tâm bộp chộp, vọng động muốn
cảnh hiện gấp thì toàn thể là vọng, đều chẳng tương
ứng với cả Phật lẫn tâm liền đọa vào thai ma. Do vậy,
vọng động muốn thấy cảnh, tâm càng thêm vọng động, ắt
đến nỗi khơi động nhiều kẻ oan gia hiện ra cảnh giới.
Nhân địa lúc ban đầu đã không thật, làm sao biết những
cảnh đó do ma nghiệp hiện ra cho được, bèn sanh lòng hoan
hỷ lớn, tình chẳng tự yên, ma bèn dựa thân, mất trí thành
cuồng, dẫu có Phật sống hiện thân cứu độ cũng không
làm gì được! Hãy nên tự lượng căn tánh, chớ có ham cao
xa, đến nỗi cầu được ích lại trở thành tổn hại. Thiện
Đạo hòa thượng nói: “Chúng sanh đời Mạt Pháp thần thức
chông chênh, tâm thô, cảnh tế, quán khó thành tựu. Vì thế,
Đại Thánh bi mẫn, riêng khuyên chuyên trì danh hiệu, vì xưng
danh dễ dàng, [niệm Phật] liên tục bèn được sanh”. Thật
chỉ sợ có kẻ chẳng khéo dụng tâm đến nỗi lạc vào ma
cảnh! Hãy nên tự suy xét tường tận. Lại nữa, chí thành
khẩn thiết chính là pháp mầu nhiệm để tiêu trừ sự vọng
động, bộp chộp, ma cảnh. Hãy nên tận tâm dốc sức mà
hành thì may mắn lắm!
70.
Trả lời thư cư sĩ Ngô Hy Chân (thư thứ hai)
Được dự pháp hội Lăng Nghiêm, mừng rỡ, may mắn khôn ngằn!
Một pháp quán tưởng nếu không hiểu rõ đạo lý, không thông
thuộc quán cảnh, tâm vọng động mong gấp đạt được, không
có chí vững vàng chẳng dời, ắt sẽ bị tổn hại nhiều,
lợi ích ít. Còn về Thật Tướng Niệm Phật chính là diệu
hạnh theo đường lối thông thường của hết thảy pháp môn
trong cả một thời giáo hóa [của đức Phật]. Như pháp Chỉ
Quán của tông Thiên Thai, pháp Tham Cứu Hướng Thượng của
nhà Thiền đều là nó cả, tức là niệm đức Phật Thiên
Chân[10] nơi tự tánh vậy. Kinh Lăng Nghiêm thật sự là pháp
niệm đức Phật nơi Thật Tướng thiết yếu nhất. Lại như
Trì Danh Niệm Phật, quyết chí cầu sanh Cực Lạc là vô thượng
đại giáo, sao có thể nói gì cho được? Mới thoạt đầu
mà đã nêu bày cái tâm, biện định cái thấy, thì chỉ e
coi vọng là chân, hiểu lầm tin tức. Đợi đến khi ngộ rồi
hãy chỉ bày Ấm, Nhập, Giới, Đại đều là Như Lai Tạng
Diệu Chân Như Tánh, bèn biết pháp nào, sự nào cũng đều
thuộc Thật Tướng. Đã ngộ Thật Tướng thì trọn chẳng
thể tìm được cái tướng của Ấm, Nhập, Giới, Đại, mà
Ấm, Nhập, Giới, Đại bày ra la liệt cũng chẳng ngại gì.
Hai mươi lăm pháp Viên Thông đã dạy đó, ngoại trừ pháp
Viên Thông của ngài Thế Chí là pháp dạy thẳng vào Trì Danh
và kiêm cả ba pháp niệm Phật kia, những pháp khác đều là
pháp môn Niệm Thật Tướng Phật. Còn như nhân quả của bảy
đường[11], địa vị Tứ Thánh[12], cảnh Ngũ Ấm Ma, không
pháp nào chẳng hiển thị duyên do thuận - nghịch, mê - ngộ
lý Thật Tướng.
Niệm
đức Phật nơi Thật Tướng như thế nói có vẻ dễ dàng,
nhưng tu chứng thật là khó nhất trong những điều khó. Nếu
không phải là bậc đại sĩ tái lai, ai có thể tự chứng
ngay trong đời này? Do khó như vậy nên đặc biệt khuyên nhủ,
khen ngợi pháp Trì Danh Niệm Phật. Hiểu rõ điều này rồi
mà vẫn muốn cậy vào Tự Lực để đoạn Hoặc chứng Chân,
khôi phục tâm tánh vốn có, chẳng chịu sanh lòng tin, phát
nguyện, chấp trì Phật hiệu cầu sanh Tây Phương, quyết chẳng
có lẽ ấy! Do Thật Tướng trọn khắp hết thảy pháp, một
pháp Trì Danh là một đại pháp môn “Sự chính là Lý, tuy
cạn mà sâu, tu chính là tánh, tâm phàm phu chính là tâm Phật”
vậy. Do Trì Danh biết được Thật Tướng ngay nơi Thể, lợi
ích ấy rộng sâu. Ngoài cách Trì Danh, cứ chuyên tu Thật Tướng
thì trong vạn người khó được hai, ba kẻ thật chứng; nếu
được quả báo như Tô Đông Pha, Tăng Lỗ Công, Trần Trung
Tú, Vương Thập Bằng v.v… vẫn còn là bậc thượng! Một
sự liễu sanh thoát tử há có thể dùng chí to, lời lẽ lớn
lao để hoàn thành được ư? Hãy nên tự suy xét cặn kẽ
thì biết lý Thật Tướng chẳng thể không biết, dứt lòng
nghiên cứu Lăng Nghiêm thì phàm - thánh, nhân - quả, mê - ngộ,
tu - chứng dù Sự hay Lý đều rõ như xem ngọn lửa. Tự lực,
Phật lực, Trì Danh - Thật Tướng lợi ích lớn - nhỏ cũng
rõ ràng như xem ngọn lửa. Vì thế, dù là mình hay người,
đều mong lấy Trì Danh để tu Thật Tướng, quyết chẳng đến
nỗi ham cao chuộng xa, bỏ pháp Trì Danh tu Thật Tướng khiến
cho uổng có tâm tu, nhưng chẳng chứng quả!
71.
Trả lời thư cư sĩ Ngô Hy Chân (thư thứ ba)
Phật thấy chúng sanh đều là Phật, chúng sanh thấy Phật
đều là chúng sanh. Phật thấy chúng sanh đều là Phật nên
tùy thuận cơ nghi vì chúng sanh thuyết pháp ngõ hầu chúng
sanh tiêu trừ vọng nghiệp, tự chứng cái mình sẵn có. Dẫu
cho hết thảy chúng sanh đều chứng được Niết Bàn rốt
ráo, Phật trọn chẳng thấy ta là người hóa độ, chúng sanh
là kẻ được hóa độ; bởi lẽ họ chính là Phật. Chúng
sanh thấy Phật đều là chúng sanh nên chín mươi lăm thứ
ngoại đạo ở Tây Thiên (Ấn Độ) và những nho sĩ câu nệ,
hủ bại không ai chẳng tận tâm tận lực hủy báng nhiều
cách ngõ hầu Phật pháp loạn diệt, trọn chẳng còn tiếng
tăm, dấu tích gì nữa, tâm họ mới vui sướng! Mặt nhật
rạng ngời giữa hư không toan dùng một tay bưng bít càng khiến
quang minh Phật pháp sáng tỏ, càng phơi bày sự thiển cận,
hèn kém của chính mình mà thôi! Kẻ có túc căn do nhân duyên
báng Phật, chê Phật, bèn lại quy y Phật pháp, làm đệ tử
Phật, thay Phật hoằng dương, giáo hóa. Kẻ không túc căn
sẽ do nghiệp lực vĩnh viễn đọa trong A Tỳ địa ngục.
Đến khi nghiệp báo hết, thiện căn “nghe được danh hiệu
Phật trong kiếp xưa” bèn phát hiện; do vậy mới nhập Phật
pháp, rồi sẽ gieo thiện căn dần dần đến khi nghiệp tận,
tình không mới hoàn lại cái mình sẵn có mà thôi. Thật là
ơn Phật rộng lớn, sâu xa, không thể nào hình dung được!
Một
câu nhiễm vào thần thức, vĩnh viễn trở thành hạt giống
đạo. Ví như nghe tiếng cái trống đã bôi thuốc độc, dù
xa hay gần đều chết. Ăn chút Kim Cang, quyết định chẳng
tiêu. Sanh được lòng tin như thế thì gọi là Chánh Tín, ông
hãy gắng lên. Thêm nữa, kẻ khéo được lợi ích, không gì
chẳng phải là lợi ích. Kẻ cam chịu tổn hại thì không
gì là chẳng tổn hại. Người đời nay hay cậy vào Thế Trí
Biện Thông nghiên cứu học Phật, vừa biết chút nghĩa lý
liền bảo mình đã đích thân chứng đắc. Từ đó, tự đặt
mình lên cao, miệt thị cổ kim: Đừng nói là người thời
nay chẳng thèm để vào mắt, dẫu bậc cao tăng mấy ngàn,
mấy trăm năm trước đa phần là cổ Phật tái lai hoặc là
Pháp Thân Bồ Tát thị hiện, đều bị kẻ ấy coi là tầm
thường, chẳng đáng học hỏi. Chưa đắc nói là đắc, chưa
chứng khoe đã chứng, nghe lời họ nói cao vượt chín tầng
trời, xét cái tâm họ hèn tệ tụt dưới chín tầng đất.
Tập nhiễm như thế phải nên trừ gấp; nếu không, sẽ như
đựng Đề Hồ trong đồ chứa có chất độc, sẽ giết được
người.
Nếu
có thể niệm niệm quay trở lại soi xét tự tâm thì chẳng
những được lợi ích nơi những pháp đức Như Lai đã nói,
mà với tảng đá, gạch, ngói, đèn, lồng, trụ trống và
tất cả mọi hình sắc, thanh âm khắp cõi đại địa không
gì chẳng phải là diệu lý Thật Tướng Đệ Nhất Nghĩa Đế.
Nói “cổ kim không có ai” há từng mộng thấy, mong hãy tin
chắc, gắng sức hành.
72.
Trả lời thư cư sĩ Lục Giá Hiên
Chiều hôm qua, cư sĩ Hạc Niên đem đến bản kinh Pháp Hoa
do Trang cư sĩ chép, thấy bút pháp của ông ta cứng cáp, tinh
xảo, đẹp đẽ, khôn ngăn khâm phục. Nhưng cách viết của
ông ta vẫn còn tập khí của kẻ văn nhân, đối với chuyện
lưu thông pháp đạo tợ hồ chưa thích hợp. Như Tục Thể,
Thiếp Thể, Biến Thể[13] v.v… là thuận theo thói tệ thế
tục, lại còn chấp nệ vào Cổ Thể, như chữ Ma 魔 viết
thành Ma 磨, chữ Huyền 懸 viết thành Huyền 縣, Mã Não Xa
Cừ 瑪 瑙 硨 磲 viết thành Mã Não Xa Cừ 馬 腦 車 渠, Trận
陣 viết thành Trần 陳 v.v… mắc lỗi trái thời[14]. Nếu
nói phải y theo Cổ Văn thì lúc này phải theo Chánh Thể, những
chữ viết như vậy đều chẳng thích hợp, mỗi chữ đều
phải sửa đổi, không dùng được một chữ [viết theo lối
cổ] nào! Ông Dương Nhân Sơn đả phá những người nệ cổ
như sau: “Chữ viết phải theo thời, việc gì cứ phải nệ
cổ! Nếu như cứ muốn theo lối cổ thì xin trước hết hãy
từ hai chữ Nhân 人 (người) và Nhập 入 (vào) mà sửa đổi!
Chữ Nhân viết theo lối cổ là 入, chữ Nhập 入 viết là
Nhân 人. Nếu Nhân và Nhập không sửa được thì cần gì
phải riêng thay đổi những chữ khác! Vả lại Cổ Thể cũng
chẳng phải là những chữ được chế ra thời Thương Hiệt[15],
không biết biến đổi đến thế nào mới thành ra dạng như
vậy!”
Ông
đã chuộng cổ hãy nên lấy “trùng văn điểu thư”[16] làm
Chánh Thể thì tôi không còn cách nào chõ miệng vào được
nữa! Nếu không, rốt cuộc là vô sự bèn sanh sự, nhọc nhằn
vô ích, sống thời bây giờ lại quay về thời cổ, bậc thánh
đã có lời minh huấn. Nếu Trang cư sĩ có chí lưu thông, hãy
nên quét sạch tập khí văn nhân, chữ nào cũng tuân theo thời
bây giờ. Phàm những lối Phá Thể[17], Tục Thể v.v… đều
nhất loạt không dùng, ngõ hầu mỗi nét bút, mỗi vạch đều
có thể làm khuôn mẫu để khắc in, lưu truyền, khiến cho
người khác trông thấy, đọc đến, phát khởi tín tâm. Dù
Quang hèn tệ cũng sẽ làm bài tựa khen ngợi. Bản chép kinh
này nên giữ trong nhà hòng làm di niệm cho con cháu đời sau.
Thêm nữa, phàm chép kinh, những chỗ giấy xếp[18] giữa hai
trang sách nên đề tên kinh, số quyển, số trang để người
đọc vừa nhìn vào liền biết ngay. Dẫu có sắp lộn trang
cũng xếp lại không khó, sao không theo cách này khiến cho người
đời sau xem đến nếu không thông Phật pháp sẽ chẳng bị
mắc cái vạ điên đảo, lầm lẫn! Mong hãy viết bổ túc
vào chỗ giáp trang tên sách, số trang thì công đức chép kinh
mới là viên mãn! Quang mục lực không đủ lại thêm không
rảnh rỗi, chưa thể xem trọn, chỉ tùy tiện nêu ba bốn chữ
trong bản chép ấy, những chỗ khác chưa coi, không thể biết
được!
73.
Thư trả lời cư sĩ Lưu Trí Không
Hôm
qua nhận được thư mới biết bệnh đã lâu nay mới lành,
khôn ngăn mừng vui. Sanh tử đại sự, vô thường nhanh chóng.
Kẻ nghe đến hoảng sợ không thống thiết bằng người đích
thân trải qua, hãy nên phát khởi tâm đại Bồ Đề để dạy
người nhà, quyến thuộc và bằng hữu, người quen biết cũ
bên ngoài cũng như kẻ hữu duyên thì lợi ích lớn lao vậy!
Trong thư ông nói hễ niệm Phật gấp thì bị hụt hơi là
do ông chưa khéo dụng tâm mà nên nỗi! Phàm chuyện niệm Phật
phải tùy sức mỗi người, tùy tiện niệm ra tiếng hoặc
niệm thầm, lớn tiếng hay nhỏ tiếng, không gì là không được!
Cớ sao cứ một mực niệm lớn tiếng đến nỗi tổn khí
mắc bệnh vậy? Chứng bệnh nặng của ông tuy do tổn khí
mà ra, nhưng thật ra là vì nghiệp lực từ vô lượng kiếp
đến nay biến hiện. Do ông tinh tấn niệm Phật nên chuyển
hậu báo thành hiện báo (báo trong đời này), chuyển báo nặng
thành báo nhẹ. Căn bệnh ấy không biết đã tiêu bao nhiêu
tội tam đồ ác đạo mấy kiếp! Phật lực khó nghĩ tưởng,
Phật ân khó báo, hãy nên sanh ý tưởng may mắn, mừng rỡ
lớn lao, sanh lòng hổ thẹn lớn lao, sanh lòng tin trong sạch
lớn lao, dùng một pháp Tịnh Độ để tự hành, dạy người,
ngõ hầu quyến thuộc trong nhà và hết thảy những ai hữu
duyên cùng sanh Tây Phương thì mới chẳng phụ căn bệnh này
và Phật vì mình hiện thân vậy! Phổ Đà không cần phải
tới, bởi lẽ phí tổn đi về nặng gấp mười lần, ở nhà
niệm Phật một là công hạnh dễ tiến, hai là chẳng tốn
kém, tốt lắm, hay lắm!
74.
Trả lời thư cư sĩ Châu Trí Mậu
Thưa cư sĩ Châu Mộc! Nhận được thư, biết ông sanh lòng
tin trong sạch, muốn quy y Phật pháp. Nhưng quy y Phật pháp
thì cần phải đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, tận lực giữ vẹn luân thường, tận hết sức mình,
sanh lòng tin, phát nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây Phương.
Lại còn phải kiêng giết, cứu giúp sanh mạng, ăn chay. Nếu
chẳng thể ăn chay hoàn toàn thì cũng chớ nên tham ăn là được
rồi! Lại nên giữ sáu ngày chay[19], hoặc Thập Trai. Nếu
không, sẽ trái nghịch với Phật. Nay tôi đặt pháp danh cho
ông là Trí Mậu, vì tâm tánh như cây cối: Do phiền não chướng
lấp nên tâm tánh chẳng thể hiện, như cây khô kháo. Đã
có trí huệ thì phiền não chẳng sanh, cây tâm tánh cố nhiên
xum xuê, tươi tốt.
Còn
về Ngũ Giới, hãy tự xét tâm mình, nếu có thể thọ được
chẳng phạm thì hãy hỏi Hóa Tam về quy củ thọ giới trước
đức Phật, ông ta sẽ dạy cho ông, Quang không viết đầy
đủ ra. Đã quy y Phật pháp hãy nên đọc kỹ bộ Văn Sao,
hành theo đó, sẽ chẳng đến nỗi bị người tầm thường
gây lầm lạc. Còn những chuyện cầu phước báo trong đời
sau và luyện đan, vận khí của ngoại đạo để cầu thành
Tiên v.v… nếu ông thật sự lãnh hội được ý nghĩa của
bộ Văn Sao, dù có trăm ngàn ngoại đạo cũng chẳng thể dao
động cái tâm ông. Chớ bảo những điều ấy do Quang nói
ra chỉ sợ không đủ làm chứng cứ, nên biết rằng Quang
chỉ nói dựa theo ý của Phật, Bồ Tát, tổ sư, thiện tri
thức, chứ không phải do Quang tự nghĩ ra nói bậy. Mong hãy
sáng suốt xét soi thì may mắn lắm thay!
Tâm ông cao như trời, chí hèn như đất, miệng tuy nói “nương
theo những gì Quang nói”, nhưng thật ra hoàn toàn dựa theo
thiên kiến của chính mình. Pháp môn Tịnh Độ chỉ lấy Tín
làm gốc, tin đến cùng cực thì Ngũ Nghịch, Thập Ác đều
được vãng sanh. Tin chưa tới thì dù là bậc thông Tông, thông
Giáo chưa hề đoạn Hoặc cũng chẳng có phần! Ông đã không
thể thông Tông, thông Giáo, đoạn Hoặc chứng chân, cậy vào
Tự Lực để liễu sanh tử, lại không tin Phật lực chẳng
thể nghĩ bàn, tự tánh công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nếu
có đủ lòng tin chân thành, nguyện khẩn thiết, niệm Phật
cầu sanh Tây Phương thì không một ai không được sanh. Pháp
môn Tịnh Độ chính là pháp môn viên đốn thẳng chóng vô
thượng để liễu sanh tử ngay trong đời này. Nếu còn chưa
hiểu rõ phương hướng của pháp môn này, tâm cuồng vọng
ham cao chuộng xa bèn nghiên cứu Khởi Tín Luận. Khởi Tín
Luận quả thật là cương yếu để học Phật, nhưng đối
với kẻ căn cơ kém cỏi và sơ cơ cũng khó được lợi ích
[nơi luận ấy]. Dù nghiên cứu Khởi Tín Luận thông triệt
không nghi ngờ, nhưng dụng công vẫn phải nương vào pháp
môn Niệm Phật cầu sanh thì mới ổn thỏa, thích đáng; huống
hồ Pháp Tướng, Thiền, Giáo dù tinh vi, áo diệu, cao sâu,
vẫn không thể mong bằng được!
Tâm
ông cao như thế, chính là không biết phân lượng của cái
cao. Chí ông lại cho rằng mình căn tánh kém yếu, mong chi sanh
Tây? Chỉ cần chẳng đọa ác đạo đã rất an ủi rồi! Ông
không biết chẳng sanh Tây Phương, tương lai ắt đọa ác đạo.
Đây chính là trái nghịch lời Phật dạy và những gì đã
nói với Quang; sao có thể nói là từ đầu đến cuối phụng
hành lời răn dạy, nhất tâm trì niệm Phật Di Đà cho được?
Nay đem cái thân của ông hứng lấy thức nghiệp của người,
lại không phải là tư cách thượng đẳng, cái chí và tâm
ông đã lập ấy thật đáng khiến cho người khác than thở,
cười cợt! Ông nên dứt cái lòng cuồng vọng muốn thành
bậc đại thông gia, hãy chuyên tâm nghiên cứu những sách
thuộc pháp môn Tịnh Độ. Trong Văn Sao, Quang đã nói đầy
đủ trong những lá thư gởi cho ông Cao Thiệu Lân hoặc Từ
nữ sĩ. Thuận theo những gì đã khai thị, sanh lòng tin, phát
nguyện, chẳng vì căn khí của mình hạ liệt bèn đề cao
sự vãng sanh là chuyện vượt khỏi sức mình.
Phải
thường dù động hay tịnh, lấy một câu Di Đà làm bổn mạng
nguyên thần; giữ lòng cư xử phải hợp với tông chỉ “chớ
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Nếu còn thừa
sức thì tùy ý thọ trì, đọc tụng các kinh Đại Thừa cũng
chẳng trở ngại gì. Nên lấy việc chí tâm thọ trì làm gốc,
chớ chuyên chú mong gấp được thấu triệt nghĩa lý. Nếu
có thể chí thành đến cùng cực sẽ tự thấu triệt giáo
lý. Nếu cứ muốn thấu triệt trước, chẳng thuận thọ trì
đọc tụng, dẫu thấu triệt cũng không có lợi ích thật
sự, huống hồ thật khó thấu triệt ư? Pháp Tướng, Thiền,
Giáo nghiên cứu cả đời cũng khó nắm được chỗ chỉ quy.
Dẫu được, ai là người có thể chẳng đoạn Hoặc nghiệp
mà liễu sanh thoát tử? Muốn đoạn Hoặc nghiệp, liễu sanh
thoát tử, chỉ sợ dù có mộng cũng không thể mộng nổi!
Ông
còn chưa đọc kỹ bộ Văn Sao, nên mới nói những lời cao
thấu trời thẳm, ngõ hầu vào được chốn biển rộng. Bộ
Văn Sao đã nhiều lần nói đến những sách nên xem và pháp
tắc xem kinh, cũng như chỗ khó được lợi ích nơi Pháp Tướng,
Thiền, Giáo. Do pháp môn Tịnh Độ cậy vào Phật từ lực,
các pháp môn khác đều phải cậy vào chính mình. Một đằng
là giáo lý thông thường, như kẻ sĩ trong đời do tư cách
bèn làm quan. Một đằng là giáo lý đặc biệt như vương
tử trong đời, dù có té xuống đất vẫn được hết thảy
quan tướng cung kính. Hai thứ pháp môn chẳng thể đem ra đối
biện được! Kẻ phàm phu có đủ Hoặc nghiệp há nên chẳng
cẩn thận chọn lựa ư? Quỹ lưu thông kinh sách nếu muốn
tăng thêm nên làm biện pháp quyên mộ như thế nào ư? Nếu
ai có tín tâm có tài lực thì hãy thương lượng với họ,
ngõ hầu họ giúp đỡ thì cũng được!
Thêm nữa, kinh điển rất nhiều, tâm ông muốn mở rộng môn
đình, nhưng ở Trịnh Châu có mấy ai thỉnh! Nên chọn những
kinh sách mà người bình thường có thể đọc được, thỉnh
về để sẵn. Hãy tính sẵn những sách mà đại đa số người
bình thường chưa xem đến, hãy thay họ thỉnh trước thì
sẽ giảm được tiền vốn mà cũng chẳng đến nỗi thỉnh
về bán không được, tốn tiền nhưng chẳng có lợi ích.
Ông tự nói ngày tháng không còn nhiều, thực lực hữu hạn,
nên Quang mới nói như thế. Nếu không phải như vậy thì cứ
y theo tâm tướng của chính mình mà hành, Quang cũng không miễn
cưỡng ông. Làm được một bậc đại thông gia cũng là điều
may mắn cho cửa Phật; chỉ sợ ông không thành bậc đại
thông gia được, lại tin pháp môn Tịnh Độ chẳng tới nơi,
cả hai đầu đều hỏng! Đời này tu chút công đức, đời
sau nhất định sanh vào nhà phú quý, ông thử chú tâm nghĩ
kỹ xem: Người phú quý có mấy ai chẳng tạo nghiệp? Ngày
nay vận nước nguy ngập, dân không sống nổi, đều là do
những người tu hành không có trí huệ, đời sau có phước
báo bèn khuấy đảo mà ra. Ông khởi vọng tưởng khó thể
cùng tận như thế, muốn chẳng đọa ác đạo, chẳng sanh
Tây Phương thì một đời không đọa ác đạo còn may ra, chứ
hai đời không đọa thì hiếm lắm!
Phật nói kinh chú rất nhiều, ai có thể trì được hết tất
cả? Cổ nhân chọn lấy những thứ trọng yếu gộp thành
khóa tụng hằng ngày, buổi sáng thì Lăng Nghiêm, Đại Bi,
mười chú nhỏ, Tâm Kinh. Niệm xong bèn niệm Phật bao nhiêu
tiếng đó, hồi hướng Tịnh Độ. Khóa tối thì kinh Di Đà,
Đại Sám Hối, Mông Sơn, niệm Phật hồi hướng. Nay tùng
lâm đều muốn giảm bớt công phu, sáng chỉ tụng chú Lăng
Nghiêm, Tâm Kinh; khóa tối thì ngày lẻ niệm kinh Di Đà và
Mông Sơn, ngày chẵn niệm Đại Sám Hối, Mông Sơn. Ông nói
Thiền Môn Nhật Tụng kinh chú quá nhiều, không biết ngoài
Khóa Tụng Sáng Tối còn có phần phụ lục. Cư sĩ tại gia
công khóa hoặc chiếu theo Thiền Môn Công Khóa mà hành hoặc
cũng có thể tùy ý lập ra, như khóa sáng chuyên niệm kinh
Di Đà, chú Vãng Sanh, niệm Phật, hoặc khóa sáng chuyên niệm
chú Đại Bi, niệm Phật, khóa tối thì niệm kinh Di Đà, chú
Vãng Sanh, niệm Phật, hoặc có người trì kinh Kim Cang cũng
được. Bất luận tụng kinh nào, trì chú nào, cũng đều phải
niệm Phật bao nhiêu tiếng đó rồi hồi hướng thì mới hợp
với tông chỉ tu Tịnh nghiệp.
Những
điều ông nói chính là thấy khác, nghĩ lệch, dẫu là hảo
tâm, nhưng thật ra tâm không có chủ định, bị chuyển theo
cảnh. Kinh nào, chú nào chẳng xưng tán công đức thù thắng?
Theo cái tri kiến của ông, hễ xem kinh này ắt phải bỏ kinh
kia, trì chú này ắt phải bỏ chú kia, do sức chẳng thể xem
hết, nên tình thế tất nhiên phải như thế! Như vậy còn
được gọi là bậc chân tu hiểu rõ lý hay chăng?
Nói
rộng hơn nữa, nếu ông gặp người tham Thiền khen ngợi Thiền,
chê trách Tịnh Độ ắt sẽ theo người ấy tham Thiền. Gặp
những tông khác như Thiên Thai, Hiền Thủ, Từ Ân[20], Bí Mật[21],
cứ hễ gặp một vị tri thức đề xướng bèn bỏ pháp này
tu theo pháp kia, không biết ông thuộc căn tánh nào! Muốn làm
bậc đại thông gia pháp nào cũng thông nhưng nghiệp sâu, trí
cạn, không làm bậc đại thông gia được, lại gác pháp cậy
Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh ra ngoài, đợi đến lúc
lâm chung nếu chẳng tiến vào vạc sôi, lò than, thì chắc
cũng đi vào thai lừa, bụng ngựa! Dẫu may mắn không mất
thân người thì đời này tuy không có chánh trí, nhưng còn
có si phước do tu hành. Do hưởng thụ si phước ấy bèn tạo
ác nghiệp, một hơi thở ra không hít vào được, bèn vào
thẳng Tam Đồ. Muốn được biết danh hiệu thiên địa, cha
mẹ còn không thể, huống gì là biết được pháp môn Tịnh
Độ nữa ư?
Ông
xem bộ Văn Sao của Quang hiểu như thế nào? Phải biết một
câu A Di Đà Phật, trì đến cùng cực thì thành Phật vẫn
còn dư! Há nên bảo niệm kinh Di Đà, niệm Phật chẳng diệt
được định nghiệp ư? Phật pháp như tiền, do người khéo
dùng, ông có tiền thì làm gì mà chẳng được? Ông chuyên
tu một pháp, cầu gì chẳng được? Há cứ khăng khăng trì
chú này, niệm kinh này sẽ được công đức này, chẳng được
những công đức khác ư? Hãy khéo hiểu lời Quang, tự có
thể hiểu rõ một điều thì trăm điều sẽ rõ. Nếu không,
dù nói cho nhiều, tâm ông vẫn không có định kiến, có ích
gì đâu?
Phàm phu đang mê, tín tâm bất định, nên lúc tin, lúc ngã
lòng, lúc tu, lúc tạo nghiệp, cũng do người dạy ban đầu
chẳng hiểu đường lối mà ra. Nếu thoạt đầu, khởi đầu
từ những chuyện nhân quả thiển cận sẽ chẳng đến nỗi
có những chuyện mê hoặc, điên đảo như thế. Tội dĩ vãng
dẫu cực sâu nặng, nhưng nếu dốc chí nơi chí tâm sám hối,
sửa đổi tu tập, dùng chánh tri kiến dốc lòng tu tập Tịnh
nghiệp, lợi mình, lợi người thì tội chướng như sương
tiêu, bầu trời chân tánh rạng ngời. Vì thế, kinh nói: “Thế
gian có hai hạng người mạnh mẽ: một là không tạo tội,
hai là tạo rồi biết sám hối”. Một chữ Hối phải từ
tâm khởi. Tâm không hối thật sự, nói gì cũng vô ích! Ví
như đọc đơn thuốc nhưng không uống thuốc, quyết chẳng
mong gì lành bệnh! Nếu có thể theo toa uống thuốc, sẽ được
bệnh lành, thân yên. Chỉ sợ lập chí chẳng vững, một ngày
nóng mười ngày lạnh, chỉ uổng có hư danh, chẳng ích lợi
mảy may gì!
75.
Trả lời thư cư sĩ X…
Dịch vốn do thánh nhân xem xét hình tượng rồi lập pháp
nhằm dạy cho con người cái đạo làm sáng tỏ minh đức,
tân dân[22], chứ chẳng phải chỉ nhằm để bói tốt xấu
mà thôi! Người đời sau học đến, bỏ gốc theo ngọn, Dịch
trở thành một nghề khéo, đáng buồn làm sao! Thử xem phần
Đại Tượng của mỗi Quái (quẻ), lời lẽ thiết thực, tường
tận, rõ ràng. Như quẻ Càn thì nói: “Thiên Hành Kiện, quân
tử gắng sức không ngơi”. Quẻ Khôn thì là: “Địa Thế
Khôn, quân tử dùng đức dầy để chở vật”. Từ những
Đại Tượng của sáu mươi bốn quẻ[23], chép thành một bức,
có thể dùng làm tiêu chuẩn để lập thân hành đạo. Do những
điều ấy có thể kế tục quá khứ, mở mang tương lai, há
phải đâu cứ khăng khăng biến Dịch thành một nghệ thuật
đoán số mạng hòng cầu cơm áo mà thôi? Nếu thấy lời tôi
chẳng đủ để thuyết phục, xin hãy thử đọc kỹ phần
Đại Tượng của mỗi quẻ, ắt sẽ tự biết, huống hồ
toàn văn của mỗi quẻ và toàn văn của cả bộ Dịch vậy!
Dịch chính là cội nguồn của thánh đạo, vì thế Khổng
Tử đọc kinh Dịch đến nỗi ba lần đứt lề sách, đến
tuổi bảy mươi còn mong trời cho sống thêm vài năm để học
Dịch hòng tránh được lỗi lớn. Tự gắng sức không ngơi,
dùng đức dầy chở vật là như thế nào vậy? Xin hãy suy
nghĩ cặn kẽ, sâu xa thì may mắn lắm thay!
76.
Trả lời thư cư sĩ Hoàng Trí Hải
Nhận được thư biết ông tu trì nghiêm mật, mừng vui vô
cùng. Người đã ngoài năm mươi tuổi lại thêm công chuyện
đa đoan, chỉ tốt nhất là chuyên tu Tịnh nghiệp. Nếu cứ
nghiên cứu tràn lan, sợ rằng chẳng thể thông suốt kinh luận,
Tịnh nghiệp đâm ra trở thành chuyện phụ. Nói đến sự
phân biệt giữa Tánh, Tâm và Ý, thì Tâm đa phần là ước
theo Thể mà nói, Ý chính là niệm lự, tức là Dụng của
Tâm. Tánh chính là luận trên phương diện bản thể không
biến động của Tâm. Nếu nói chung chung thì Tâm và Tánh có
thể dùng lẫn cho nhau, nhưng Ý thì chỉ có thể chỉ cho niệm
lự mà thôi. Nhưng Tâm có Chân Tâm và Vọng Tâm. Nếu ước
theo Thể thì Tâm chỉ Chân Tâm, Vọng Tâm cũng thuộc về niệm
lự, tức là vọng niệm nơi Tâm Thể vậy. Bốn giáo Tạng,
Thông, Biệt, Viên chính là Như Lai thuận theo căn cơ của chúng
sanh nói ra những pháp phù hợp. Do có những nghĩa ấy nên
ngài Trí Giả dựa theo ý nghĩa mà lập ra những tên gọi ấy.
1)
Tạng Giáo là vì căn tánh Tiểu Thừa, nói ra ba tạng Kinh,
Luật, Luận, do đó gọi là Tạng Giáo. Đại Thừa cũng có
ba tạng, ở đây chỉ nói riêng về Tiểu Thừa.
2)
Thông Giáo là Đại Thừa sơ môn, do căn tánh bất đồng, độn
căn thông với Tạng Giáo ở trên, lợi căn thông với Biệt
Giáo, Viên Giáo ở phần sau, nên gọi là Thông Giáo.
3)
Biệt là khác biệt, giáo này là pháp để dạy riêng cho Bồ
Tát. Tất cả giáo lý, trí đoạn, hạnh, vị, nhân quả, mỗi
mỗi đều khác biệt, chưa thể viên dung bao gồm lẫn nhau
như Viên Giáo, nên gọi là Biệt Giáo.
4)
Viên là viên mãn, viên dung. Do pháp nào cũng viên dung, pháp
nào cũng trọn đủ, nên gọi là Viên Giáo. Giáo này là Phật
pháp tối thượng, do đức Phật đem những lý chính mình đã
ngộ, đã chứng, giảng cho hết thảy đại căn Bồ Tát. Hãy
xem Giáo Quán Cương Tông[24] sẽ tự biết được nghĩa ấy.
Nếu muốn dùng bút mực để trình bày rõ, chẳng những quá
tốn công lại còn chẳng bằng xem sách ấy tự hiểu vậy.
Chúng
sanh đời Mạt căn cơ mỏng ít, muốn được lợi ích chân
thật nơi giáo nghĩa Thiền Tông hết sức khó khăn, chỉ có
pháp môn Tịnh Độ là nương cậy được. Hãy thử xem cái
chết của Hiển Ấm[25] kém xa những kẻ ngu phu, ngu phụ, những
gì Hiển Ấm biết được, kẻ ngu phu, ngu phụ không sao mong
bằng được, nhưng những gì kẻ ngu phu, ngu phụ đạt được,
Hiển Ấm lại không sao mong bằng được. Chính là như Quang
đã nói: “Tánh thủy lặng trong, do phân biệt bèn xao động,
đục ngầu, sóng Thức bủa giăng, nhờ Phật hiệu bèn ngừng
lặng”. Do vậy, thượng trí chẳng bằng hạ ngu, khéo quá
biến thành vụng to. Xin cư sĩ hãy chuyên chí Tịnh nghiệp,
đừng hâm mộ chuyện Tông thông, thuyết thông, ngõ hầu chuyện
liễu sanh thoát tử chẳng bị biến thành bánh vẽ.
Ông
Châu Đức Quảng ngày mồng Hai tháng Hai, ngồi niệm Phật
qua đời, không có tâm tình bi luyến, vẻ mặt vui vẻ, ắt
vào thẳng Liên Bang, làm đệ tử Phật Di Đà vậy! Năm ngoái,
ông Châu sanh bệnh, phát nguyện dùng một vạn đồng mình
đã để dành dùng làm điều thiện. Nhân đó, đem bảy ngàn
đồng giao cho Quang, ba ngàn bốn trăm đồng dùng in Đại Sĩ
Tụng một vạn bộ, một ngàn sáu trăm đồng in bộ Bất Khả
Lục[26], hai ngàn đồng để in bộ Tăng Quảng Văn Sao mới
san định xong, còn dư ba ngàn đồng làm những thiện sự khác.
Bốn người con ông Châu đều không dư giả lắm, nhưng có
thể đem tiền cha đã để dành vì cha làm công đức, chẳng
chịu dùng tiền đó để tự mình xài, cũng đáng nói là đã
làm được chuyện khó làm vậy!
Mong
ông chuyên chí nơi Tịnh tông, đừng bị lay động bởi thuyết
“thành Phật ngay nơi thân này” của Mật Tông. Thành Phật
ngay trong thân đời này chính là Lý Tánh, chứ không phải
là sự thật. Nếu hiểu là sự thật thì Tây Tạng, Đông
Dương (Nhật Bản), Phật nhiều vô kể, đừng nói chi là hạng
bình dân, ngay cả tâm hạnh, hành vi của Ban Thiền[27] còn
chưa có phong thái của Phật, huống gì bảo là thành Phật
được ư? Vì ông ta nhằm lúc dân không lẽ sống, vẫn chẳng
biết tiếc thương xương máu của bá tánh, mặc tình bày vẽ
hao phí, tiền lọt đến tay quý như tánh mạng, chẳng có mảy
may ý niệm từ bi hỷ xả. Hiển Ấm tự khoe mình đắc chánh
truyền nơi Mật Tông, bảo Phật pháp truyền sang Đông đến
Trung Quốc, chỉ có mình giáo lý của Hoằng Pháp đại sư[28]
là viên diệu, thường chê bai tổ sư các tông phái Trung Quốc,
đều chê họ chẳng được chánh truyền như Hoằng Pháp đại
sư, nhưng lúc chết rốt cuộc trở thành kẻ nghiệp thức
mịt mờ, không có cội gốc gì để nương cậy. Ông ta đã
thành Phật ngay nơi thân này, sao kết quả lại như thế? Mong
ông hãy thấu hiểu thì may mắn lắm!
Tâm Bồ Tát ví như thái hư, không gì chẳng bao gồm, muốn
lợi ích chúng sanh làm đủ mọi phương tiện, trước hết
dùng Dục để lôi kéo, sau dạy họ nhập Phật trí, chớ nên
dùng tri kiến phàm phu để suy lường xằng bậy, bởi các
ngài đã chứng Pháp Nhẫn, trọn không còn Ta - Người, chỉ
muốn nhiếp thọ hết thảy chúng sanh vào trong biển pháp đại
giác của Như Lai. Nếu so lường, suy tính sẽ thuộc về tình
kiến, chẳng thể ngầm khế hợp với đạo vô nhân ngã cho
được! Nói các ngài bố thí đầu, mắt, tủy, não là thật,
còn như nói bố thí kỹ nữ, thể nữ v.v… bất quá nhằm
diễn tả rộng cái tâm Bồ Tát, chớ vì lời hại ý[29]. Nếu
chấp chết vào từ ngữ để hiểu đoạn văn “kỹ nữ đầy
khắp A Tăng Kỳ thế giới” thì sẽ an trí họ nơi đâu?
Điều này nhằm hiển thị Bồ Tát trong ngoài đều bỏ được,
trọn chẳng tham tiếc. Trong là đầu, mắt, tủy, não; ngoài
là quốc thành, vợ, con, chẳng sanh tham đắm một pháp nào;
vì thế, trong sanh tử riêng Ngài được giải thoát.
Những
kẻ nhận bố thí, được nguyện lực của Bồ Tát nhiếp
trì sẽ ngay trong lúc ấy hoặc vào đời sau không ai chẳng
tự hưởng lợi ích liễu sanh thoát tử. Như vua Ca Lợi[30]
cắt chặt thân thể [của Nhẫn Nhục tiên nhân], về sau thành
người được độ đầu tiên tức ngài Kiều Trần Như. Tâm
đại Bồ Đề lượng như thái hư sao có thể dùng tiểu tri
tiểu kiến của phàm phu để dò lường cho được? Phải biết:
Phàm phu chưa đắc Pháp Nhẫn trong tâm hãy nên kính mộ đạo
Bồ Tát, nhưng hành động nên học theo những lý thông thường
của phàm phu . Nếu không, bèn đối với việc trụ trì pháp
đạo rất có thể bị phương ngại. Nếu chưa chứng Vô Sanh
Pháp Nhẫn tức là chưa trụ trì pháp đạo, cũng chẳng nên
học theo những chuyện bỏ đầu, mắt, tủy, não v.v… của
Bồ Tát, bởi sức mình chưa đủ, chẳng kham nhẫn chịu được,
dù mình hay người đều không ích lợi gì. Phàm phu phải hành
theo những gì mình có thể làm thì mới nên!
77.
Trả lời thư cư sĩ Phan Đối Phù
Trước kia đại mộng chưa tỉnh, nên có xung đột, khôn ngăn
hổ thẹn! Nay tỉnh mộng rồi, vốn chẳng muốn nói năng chi,
nhưng sợ các hạ có chỗ chưa thấu tỏ nên phải bèn trình
bày đại lược. Mạnh Tử nói: “Có tiếng tăm không ngờ
tới, ắt sẽ bị cái vạ chê trách cầu toàn”. Mạnh Tử
nói lời ấy hết sức xác đáng, nhưng chưa nêu rõ được
nguyên do. Phật nói hết thảy lợi, suy, đề cao, hủy báng,
khen ngợi, chê trách, khổ, vui, mỗi điều đều có tiền nhân
nên hiện thời chịu quả. Hiểu rõ điều này thì chỉ nên
tự sám hối túc nghiệp, hơi đâu oán trách người khác! Vì
vậy, quân tử trên chẳng oán trời, dưới chẳng hờn người,
hễ phú quý bèn sống theo phú quý, hễ bần tiện bèn sống
theo bần tiện, hễ sống nơi mọi rợ bèn sống theo lối mọi
rợ, gặp hoạn nạn bèn thuận theo hoạn nạn, được sủng
ái bèn sợ, bị nhục chẳng oán, cảnh nghịch xảy đến bèn
thuận theo, không gì chẳng tự tại tiêu dao!
Bài
truyện ấy[31] viết vào năm Dân Quốc thứ mười ba (1924),
ông ta ở công ty Duyệt Lai tại Thanh Đảo, gởi thư cho Quang,
chứ quả thật chưa gởi tác phẩm đến, Quang cực lực chê
trách, bảo ông ta hãy hủy bản cảo đi. Đến tháng Tư năm
nay, ông ta đem cuốn Niên Phổ do mình soạn đưa cho Quang xem.
Trong phần Niên Phổ năm Dân Quốc thứ mười ba (1924) có chép
đoạn văn ấy. Quang xé nát bài truyện ấy, cực lực quở
trách, bảo ông ta là người như thế nào mà lại tự soạn
Niên Phổ, cớ sao lại bịa chuyện hãm Quang vào cái tội cực
đại “đem phàm lạm thánh, miệt thị những bậc tri thức
Tông, Giáo và những bậc hiền sĩ, đại phu trong thiên hạ”,
bảo ông ta vĩnh viễn không được chép nữa! Đến tháng Tám,
do thúc giục nhà in ấn loát bản Quán Âm Tụng, đến đất
Thân (Thượng Hải), từ nơi chỗ bè bạn, trông thấy bản
văn của ông ta được in dầu[32], Quang đem về xé đi. Khi
ấy, ông ta cũng đang ở nhờ chùa Thái Bình, tôi bảo ông
ta: “Ông xưng tụng Quang như thế này, thật còn hơn cầm
dao giết Quang trăm ngàn vạn lần, chớ nên lưu truyền”,
không ngờ bài ấy đã sớm gởi cho tờ Hải Triều Âm[33]
đăng báo rồi!
Đến
khi các hạ gởi bài tới, Quang vẫn cho rằng mới in chưa lâu,
vẫn còn có thể thâu thập được, cho nên mới bảo Úy Như
khuyên các hạ tận sức thiêu hủy, mới là yêu thương tôi
thật sự. Lại bảo những tờ lâm san[34], nguyệt san của
Thượng Hải Cư Sĩ Lâm, Tịnh Nghiệp Xã đăng bài thanh minh
kẻo người không biết tưởng ông ta thuận theo ý Quang mà
viết bài đó. Đến khi các hạ gởi thư tới mới biết chẳng
thể thâu thập, bèn ngộ được sự lý của những lời Mạnh
Tử, Tử Tư[35], Phật đã nói, trong tâm không còn bận lòng
về chuyện ấy nữa. Ấy là do túc nghiệp sai khiến, chỉ
có thể oán đời trước ít chịu vun bồi, hơi đâu oán ông
ta tạo lời đồn đãi xằng bậy! Đối với hành động ấy
của Mã Khế Tây, và đối với hết thảy cảnh trước, Quang
đều chẳng bận lòng nghĩ đến, may ra trở lại được với
thiên chân của chính mình, rốt cuộc chẳng thẹn với tâm
mình thì nhân họa bèn được phước, thật là may mắn lắm!
Các
hạ in truyện ấy tùy ý các hạ, đốt đi cũng tốt, vứt
đi cũng xong. Nếu như lòng thật yêu thương tôi, xin hãy đem
những lời tôi khuyên răn ông ta trình bày tóm tắt độ vài
trăm chữ in vào phần giấy trắng ở mặt trong bìa sách, ngõ
hầu người không biết khỏi bắt chước theo thì càng tốt,
chứ hoàn toàn chẳng phải nhằm rửa sạch lời vu báng ấy
để khỏi bị người khác thóa mạ. Vì sao? Người ta thóa
mạ càng nhiều, Quang được lợi ích càng sâu, bởi Quang không
tự làm, lại bị thóa mạ, bèn được tiêu nghiệp chướng,
tăng phước huệ, như trong phần thứ mười sáu của kinh Kim
Cang đã nói. Quang sắc lực suy nhược, bận rộn nhiều việc,
đến nỗi công phu Tịnh nghiệp xao nhãng thật đáng thẹn.
Do nhân duyên này, chẳng tu mà được lợi ích, may mắn nào
hơn!
78.
Thư gởi cư sĩ Nhiếp Vân Đài
Nhận được lời của Ngài khôn ngăn khâm phục, các hạ đã
tiếp thừa được tâm pháp của Văn Chánh Công[36], vì thế
có thể thoát ly tập khí phú quý, vui theo cái thiên chân của
chính mình, chẳng bị vật chuyển. Còn như cuốn sách của
ông X… nọ quả thật là diệu pháp để chấn hưng tình thế
suy đồi, chỉ e ông X… nọ không có chí hướng ấy thì trọn
chẳng có ích lợi gì. Nhưng phổ biến cho mọi người xem,
ắt có người chịu hành theo. Trộm nghĩ nếu thúc đẩy nhân
duyên đến cùng cực ắt có thể làm thánh, làm hiền, sẽ
là bài văn chí lý để cứu thế; do sách ấy sẽ biết được
đạo nhân quả thật sâu, thật xa.
Ông ta cho nhân quả là Quyền Tiệm Tiểu Thừa, toàn là nghe
lỏm nói mò đó thôi. Quang thường nói: “Nhân quả là phương
tiện lớn lao để bậc thánh nhân thế gian lẫn xuất thế
gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh. Trong thời thế
hiện tại, nếu chẳng đề xướng nhân quả, báo ứng, dẫu
Phật, Bồ Tát, thánh hiền cùng xuất hiện trong đời cũng
chẳng làm gì được!” Lại nói: “Khéo dạy con cái là cái
gốc để bình trị thiên hạ, nhưng dạy con gái là quan trọng
nhất”. Lại nói: “Quyền trị quốc bình thiên hạ, hàng
nữ nhân chiếm quá nửa”. Đời ít hiền nhân là vì thế
gian thiếu hiền nữ! Có hiền nữ ắt có hiền thê, hiền
mẫu vậy. Có hiền thê, hiền mẫu mà chồng, con người ấy
chẳng hiền cũng hiếm hoi lắm.
Trường
học đề xướng nam nữ bình quyền, thật là chẳng biết
thời thế. Phải biết: Nam có nam quyền, nữ có nữ quyền.
Giúp chồng dạy con chính là thiên chức của người nữ, quyền
ấy cực lớn! Chẳng thấu hiểu điều đó, cứ đề xướng
phụ nữ tham dự chánh trị là bình quyền, đúng là không
phân đen, trắng, tạo thành mối loạn. Ngu kiến của Quang
là như vậy đó, không biết các hạ có chấp nhận hay không?
Nếu không quá sai lầm, trái nghịch, dám mong các hạ hãy ra
sức phát huy rộng rãi điều này, cũng là một phương cách
hỗ trợ cho thế đạo chưa hẳn là không thể vãn hồi được.
79.
Trả lời thư cư sĩ Kiều Trí Như
Phàm nhân làm việc phải nghiêm túc làm, chớ nên qua quít,
tắc trách, huống chi đệ tử Phật làm người giáo hóa trong
nhà tù, có cái tâm cảm hóa con người, mang trách nhiệm thành
tựu chánh khí! Sách Luận Ngữ nói: “Quân tử chẳng nghĩ
ra ngoài địa vị”. Đã nhận lãnh chức ấy ắt phải đặt
nặng chuyện mong mỏi tù nhân sửa đổi tấm lòng, nhận lãnh
sự giáo hóa thì công đức ấy lớn lắm. Ông nói ba vị nữ
cư sĩ muốn quy y, hãy bảo họ nên ăn chay niệm Phật, cầu
sanh Tây Phương, chẳng được cầu phước báo trời người
trong đời sau, cần phải đừng làm các điều ác, vâng làm
các điều lành, kiêng giết, cứu vớt sanh mạng, khéo dạy
con cái. Con cái tuy còn nhỏ, vạn phần chẳng được để
chúng nó mặc tình quen thói kiêu ngạo, thường phải nói chuyện
nhân quả báo ứng cho chúng biết, khiến cho trong tâm chúng
thường mang lòng kinh sợ, tự nhiên chẳng đến nỗi mai sau
làm chuyện thương thiên tổn đức. Chuyện đề xướng nhân
quả báo ứng ấy và khéo dạy con cái chính là căn bản pháp
luân khiến thiên hạ thái bình. Đối với hết thảy mọi
người đều nên dùng điều này để khuyên lơn, chứ chẳng
riêng gì nữ nhân.
Bà
Trần Ngô Thị pháp danh là Chí Thanh, bà Khang Kim Thị[37] pháp
danh là Chí Tịnh, bà Nghê Khang Thị pháp danh là Chí Trừng,
nói chung thể hiện ý chí lìa khỏi thế giới trược ác này,
sanh về cõi Phật thanh tịnh kia mà thôi! Mong ông gởi thư
đến họ, nói kèm ý cầu chúc của Quang, khiến họ trở thành
người chân thật tu hành, cũng như dạy con cái tu hành, ngõ
hầu chẳng thẹn với đại sự quy y Phật pháp vậy. Thiên
hạ trị hay loạn là do sự rèn luyện trong gia đình có đạo
đức hay không, căn bản ấy là điều nghị luận thiết thực
vậy.
80.
Trả lời thư cư sĩ Giang Dịch Viên
Nhận được thư biết pháp môn Tịnh Độ ở quý địa do
chính các hạ đề xướng khiến được thạnh hành, tôi lấy
làm an ủi lắm. Quang chỉ uổng phô trương hư danh, chẳng
có mảy may đức hạnh thật sự gì! Nhưng muốn người khác
được ích lợi nên vờ phô trương thanh thế, dẫu tổn hại
mình, nhưng có ích cho người khác cũng vui lòng. Như nói đến
quả mơ miệng thấy chua, nghĩ đến vách đá, chân thấy run;
tuy không phải là chuyện thật, nhưng người ta khởi tâm ấy
cũng không phải là vô ích. Các hạ toan bắt chước chuyện
cũ ở Từ Giác, thật là khiến cho Quang hổ thẹn không còn
chỗ nào lánh được, Quang còn mong gởi đi hai mươi bộ Văn
Sao, mong ông gởi cho những ai hữu duyên, cũng như giữ trong
thư viện để người ta xem đọc lâu dài.
Lại
như nay đề xướng Phật học, nên chuyên trọng pháp môn Tịnh
Độ và nhân quả báo ứng, dạy người dự vào liên xã ai
nấy đều phải kiêng giết, cứu vật, ai nấy khéo dạy con
cái. Đất nước hoang loạn do thiếu người hiền, nguyên nhân
là do trong gia đình không khéo dạy mà ra! Trong sự giáo dục
gia đình, sự giáo dục của mẹ lại càng khẩn yếu. Vì thế,
dạy dỗ con gái lại càng quan trọng hơn dạy con trai! Có gái
hiền ắt có vợ hiền, mẹ hiền. Con người lúc nhỏ có mẹ
hiền, lớn lên có vợ hiền, muốn chẳng thành người hiền
cũng không được! Đấy là “gốc chánh nguồn trong” để
mong cầu thái bình yên ổn vậy, mong các hạ lúc đề xướng
Phật học, hãy ra rả nhắc đến điều này ngõ hầu Phật
pháp lẫn thế gian pháp đều được chấn hưng.
81.
Thư trả lời cư sĩ Đường Đại Viên[38]
Xem thư ông thấy nói đến chuyện làm học sinh, khó khiến
người ta không bật cười. Nay tôi nêu một thí dụ. Ví như
quan Ngự Y ở Thái Y Viện, phàm là sách thuốc, gốc bệnh,
bí quyết xem mạch[39], đọc nhuần như gương sáng hiện bóng,
nhưng đến lúc chẩn bệnh bèn rối beng không biết đường
nào mà lần, chẳng biết nên dùng thuốc gì! Lời hỏi của
ông chẳng khác với kiến thức của ông thầy thuốc ấy mảy
may nào! Phật pháp vốn dạy người liễu sanh tử, chẳng phải
chỉ là một kiểu nói năng cao siêu huyền diệu. Những kẻ
tri kiến hèn kém kia dùng Triết học để nghiên cứu Phật
pháp, ắt trước hết phải bảo cho họ biết duyên do Phật
thuyết pháp là vì muốn đối trị tập khí của con người,
rửa lòng gột ý, giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận,
từ bi, nhân nhượng, đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành, đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử, tự
lợi, lợi tha cùng chứng Chân Thường, tu tập dần dần, cho
đến khi thành Phật đạo. Tất cả kinh giáo đều nhằm phát
minh những sự lý như trên vừa nói. Nếu chỉ mong hiểu rõ,
chẳng muốn thật hành, khác gì kép hát đóng tuồng, còn nói
là học sinh được ư?
Như
ai thiên tư thông minh, mẫn tiệp, nghiên cứu các tông Tánh,
Tướng chẳng trở ngại gì, nhưng vẫn phải lấy pháp môn
Tịnh Độ làm chỗ nương về, ngõ hầu chẳng đến nỗi có
nhân không quả, biến diệu pháp liễu sanh thoát tử thành
lời nói trơn tru ngoài miệng, không do đâu được lợi ích
thật sự. Ắt phải trọng lòng kính, giữ lòng thành, xem kinh
- tượng như vị Phật sống, chẳng dám chớm chút ý coi thường,
ngõ hầu tùy lòng thành của mình lớn hay nhỏ sẽ được
những lợi ích sâu hay cạn! Đối với người độn căn, hãy
nên chuyên nghiên cứu pháp môn Tịnh Độ. Nếu quả thật
tin cho tới nơi, giữ cho chắc, nhất định trong đời này
sẽ liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, so với những
kẻ hiểu sâu xa kinh luận chẳng thật hành pháp môn Tịnh
Độ thì lợi ích đúng là khác biệt một trời một vực.
Những điều vừa nói đó, bất luận là tư cách nào, lúc
ban đầu cứ cho uống loại thuốc Một Vị này, bất luận
những căn bệnh như tà chấp, thấy biết sai lầm, ngã mạn,
phóng túng, đề cao thánh cảnh nhưng tự mình cam phận hèn
kém, không bệnh nào kê thuốc A Già Đà Nhất Vị trị chung
vạn bệnh này mà chẳng lành.
Ông
học đầy một bụng Phật pháp, đối với hai loại học sinh
ấy không biết làm sao? Cho thấy ông chỉ biết nói đến thuốc,
chứ tự mình chưa từng thực hành. Nếu ông thực hành, trọn
chẳng đến nỗi ôm mối nghi ấy. Xưa kia, có kẻ coi các ngài
Văn Thù, Phổ Hiền như bè bạn ngang hàng, đều là do không
thể phân biệt chân - ngụy, đến nỗi bối rối không biết
làm sao, rất có thể coi ngụy là chân. Cha ông không thể ăn
chay là do không chú tâm suy xét, quay trở lại quán thân. Nếu
như thấy chính mình là con vật bị giết để ăn, sẽ trọn
chẳng mong người ta giết mình ăn thịt. Nay có ngũ cốc để
dưỡng mạng, vẫn còn muốn thỏa lòng tham, sanh tử chẳng
xong, đến lúc bị người ta giết, thật đáng thương xót,
nhưng không thể cứu giúp, buồn thay! Niệm Như đã xuống
tóc, thọ giới, đương nhiên là chánh lý, cần gì phải chờ
đợi! Chỉ cần xét kỹ tâm mình, và suy xét cảm tưởng trong
lúc đối cảnh hằng ngày, nếu có thể tu dưỡng trong sạch
bèn thành tựu Tăng tướng. Dù có gần gũi khí tượng ấy,
nhưng nếu khó trọn cái tâm sắt son trăm lần vấp ngã chẳng
lùi thì lấy chồng vẫn tốt hơn, Niệm Quang cũng vậy!
Trong
một số báo nào đó, ông cho đăng tải những lời nghị luận
của hai người Niệm Như, Niệm Quang, Quang tôi trọn chẳng
cho đó là đúng. Dẫu quả thật đó là lời của bé gái chín
tuổi nói thì không đăng báo có mất gì đâu! Nếu là viết
thác ra như thế lại thành dối đời lừa người, trở thành
trá ngụy. Nếu do chính những người đó viết thì chắc là
tự kiêu, tự thị, trở thành ngã mạn. Đấy đều là vì
ông gặp chứng bệnh không biết cách bốc thuốc vậy. Ông
đã không coi Quang là vô tri thì Quang cũng chẳng ngại lấy
vô tri làm hữu tri, thưa cùng ông: Ông trọn chẳng biết pháp
tắc dạy người tiểu căn nên mới làm như vậy. Nếu ông
biết sẽ trọn chẳng đăng báo! Hiển Ấm thiên tư cực thông
minh, ông ta vốn háo thắng, háo danh, Đế pháp sư (ngài Đế
Nhàn) chẳng thể cắt thuốc để đè nén cái bệnh phô trương,
kiêu căng của ông ta, rồi sau ông ta đoản mạng chết đi.
Đối với Niệm Quang, ông cũng giống như thế.
Cư
sĩ Vô Đắc có cha già sáu mươi tuổi, có nên xuất gia chăng?
Nếu không xuất gia không cách nào nghe pháp tu hành, vẫn có
cách bổ cứu. Nay những rào ngăn đã rỡ bỏ[40], người tại
gia nghiên cứu tu tập nhiều như rừng, mà lợi ích sanh về
Tây Phương cũng thường có chuyện như thế, cần gì phải
bỏ cha xuất gia? Quang tuyệt đối chẳng tán thành chuyện
này. Dựa theo sự thực mà nói, trong việc tu hành hiện thời,
tu tại gia vẫn tốt hơn, vì sao? Do hết thảy vô ngại. Người
xuất gia có nhiều chướng ngại hơn người tại gia. Vì thế,
những ai không thật sự phát đạo tâm đều trở thành phường
hạ lưu, không ích lợi gì cho pháp, nhục lây đến Phật!
82.
Trả lời thư cư sĩ Uông Vũ Mộc
Đính kèm thư của ông Uông:
Vũ Mộc niệm Phật mười năm, biết đại lược chỉ thú.
Trộm nghĩ, phương pháp Niệm Phật dạy bởi các đại sư
Linh Phong, Mộng Đông và bộ Văn Sao của thầy tôi đại để
đều vì ngu phu, ngu phụ nói chung mà lập thuyết. Nếu bọn
chúng tôi là những người thông hiểu văn tự, tâm tư phức
tạp mà vẫn dùng phương pháp Niệm Phật của hàng ngu phu,
ngu phụ ấy, chắc chắn chẳng thể vãng sanh Tịnh Độ. Ý
kẻ hèn này cho rằng người niệm Phật cầu được vãng sanh,
trước hết phải biết “người niệm Phật là ai”, có thấy
được vị chủ nhân ông thì niệm Phật mới có ích lợi,
vãng sanh mới nắm chắc được! Chẳng riêng gì niệm Phật
phải như thế, ngay cả niệm kinh, trì chú, cũng không thể
không như vậy! Người ta bây giờ cứ động đến bèn nói
“thật thà niệm Phật, chết lòng niệm Phật liền được
vãng sanh”, không biết rằng nếu không biết “người niệm
Phật là ai?” làm sao thật thà niệm Phật cho được, làm
sao chết lòng niệm Phật cho được, dù có ngày đêm niệm
mười vạn tiếng, đối với sanh tử nào có liên can chi! Có
người đem chuyện “cổ nhân đa phần chuyên chú trì danh,
chẳng tham cứu người niệm Phật là ai” để cật vấn,
Vũ Mộc nói: “Đấy là chuyện của cổ đức sau khi đã tham
cứu xong, kẻ sơ tâm chẳng thể bắt chước được!” Vũ
Mộc thấy người niệm Phật ngày nay mười người hết chín
chẳng hiểu ý chỉ này, thật đáng thương xót, thường luôn
luôn rát miệng khuyên người, nhưng trong hàng cư sĩ có người
cho tôi là kẻ tà kiến. Chân nghĩa của Phật pháp chìm tối
đến như thế, khôn ngăn buồn đau than thở! Nay riêng tỏ
bày nỗi ưu hoài, kính cầu ấn chứng, cũng như khai thị cho
rõ thêm thì chúng sanh may mắn lắm, nào phải riêng mình Vũ
Mộc may mắn mà thôi!
Xem kỹ thư ông gởi đến, khôn ngăn khâm phục. Các hạ muốn
cho hết thảy mọi người tự thấy được bổn lai, thẳng
lên Thượng Phẩm. Quán kinh nói “đọc tụng Đại Thừa,
hiểu Đệ Nhất Nghĩa, phát Bồ Đề tâm, khuyến tấn hành
giả” có phải là nói đến các hạ đấy chăng? Tuy nhiên,
thuyết pháp phải xét căn cơ. Nếu chẳng xét căn cơ, trao
lầm pháp dược, thì chẳng khác gì gã thầy thuốc dốt dùng
thuốc giết người. Phải biết hai tông Thiền, Tịnh, quy về
gốc là một, nhưng cách tu khác nhau: Thiền lấy thấy thấu
triệt bản lai diện mục làm tông, Tịnh lấy tín nguyện niệm
Phật cầu sanh làm tông. Nếu cõi đời đều là thượng căn
thì những gì các hạ nói quả thật hữu ích. Nhưng thượng
căn rất ít, trung căn, hạ căn thật nhiều, chẳng dạy họ
lấy tín nguyện cầu sanh mà lại dạy họ tham cứu “người
niệm Phật là ai”, tham thấu tỏ được thì may mắn vô cùng,
nhưng vẫn phải chú trọng phát nguyện thiết tha cầu được
vãng sanh. Nếu tham không thấu, trong tâm giữ hoài ý niệm
không biết “người niệm Phật là ai” thì chẳng thể vãng
sanh, sẽ trọn chẳng có chuyện cảm ứng đạo giao cùng Phật,
đích thân được Phật tiếp dẫn.
Nhưng
hiện thời người tham cứu thật sự đạt đến địa vị
đại triệt đại ngộ được mấy kẻ? Phàm ai hiểu “người
niệm Phật là ai” chính là người đại triệt đại ngộ
minh tâm kiến tánh vậy. Đừng nói ai khác, ngay đến các hạ
cũng chưa hề đạt đến địa vị ấy! Vì sao biết các hạ
chưa đạt? Vì nếu đạt, quyết chẳng dám nói những câu:
“Các vị Linh Phong, Mộng Đông vì kẻ ngu phu, ngu phụ mà
lập thuyết, không biết người niệm Phật là ai, dù có thật
thà niệm Phật, chết lòng niệm Phật, cũng chẳng được
gọi là thật thà, chết lòng. Dù ngày đêm niệm mười vạn
tiếng, đối với sanh tử chẳng liên can gì!” cũng như bảo:
“Cổ nhân chuyên chú trì danh vì đã tham cứu xong. Sơ tâm
chẳng thể bắt chước theo”. Do vậy tôi nói rằng: Tâm các
hạ quả thật muốn tự lợi, lợi người, nhưng lời các
hạ quả thật là mình lầm, làm người khác lầm, xin hãy
nín lặng chớ nói. Nếu không một đại pháp môn phổ độ
chúng sanh của Như Lai bị các hạ đóng chặt, lấp kín, không
cách gì khai thông được! Tội ấy bằng với tội báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng, há chẳng thận trọng ư!
Các
hạ thấy biết như vậy là vì chẳng biết khế lý khế cơ,
lầm chấp pháp lợi lạc bậc thượng căn, nên khuyên khắp
mọi người đều tu tập, thành ra thiên chấp, thấy lầm;
đem pháp chẳng hợp căn cơ lầm lạc khuyên người khác tu,
cho đó là chân nghĩa của Phật pháp. Quang tuy tầm thường,
hèn kém, nào dám tán thành, chấp nhận cái tội báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng của các hạ ư? Nếu các hạ cho là không
đúng, xin hãy quăng [thư này] vào ngọn lửa, ai theo đường
nấy mà thôi! Quang há có thể cưỡng các hạ bỏ cái học
của chính ông để theo cái học của mình được sao? Chẳng
qua các hạ hỏi đến, chẳng thể không thẳng thắn dâng lòng
ngu thành. Mong các hạ thấu hiểu cho thì may mắn lắm!
83.
Trả lời thư sư Thịnh Cơ
Hôm qua nhận được thư thầy, khôn ngăn cảm thán. Thầy học
Phật, há có nên dùng tri kiến của chính mình để suy lường
cảnh giới Phật ư? Suy không thấu bèn nẩy sanh nghi hoặc
ư? Phàm chứng Chân Như thì tam tế[41] đều đoạn, mười
giới[42] chìm hết. Do có nhân duyên nên cũng có thể trong
một niệm hiện vô lượng kiếp, biến vô lượng kiếp thành
một niệm, niệm và kiếp viên dung, nhưng hai thứ chẳng lẫn
lộn. Thầy nói “mười sáu tiểu kiếp giống như một bữa
ăn, năm mươi tiểu kiếp chỉ như nửa ngày” không thể có
sự - lý ấy, như vậy những chuyện kinh nói lớn - nhỏ vào
trong nhau, niệm và kiếp hiện lẫn nhau đều là nói dối ư?
Như Lai lúc mới thành Chánh Giác, hiện tướng Báo Thân viên
mãn, vì bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ nói kinh
Hoa Nghiêm, hàng Nhị Thừa trong hội chẳng thấy chẳng nghe,
chỉ thấy đức Phật mang hình tướng một vị lão tỳ-kheo,
pháp họ được nghe chính là sanh diệt Tứ Đế. Vì thế,
kinh Duy Ma nói: “Phật dùng một tiếng diễn thuyết pháp,
chúng sanh tùy mỗi loại đều được hiểu”. Ông nói không
có sự - lý ấy hay sao? Phải biết Thời không phải là pháp
nhất định, tùy mỗi người thấy khác nhau. Hãy gác cảnh
giới của Phật, Bồ Tát lại; chỉ lấy cảnh giới của phàm
phu, tiểu trí để bàn. Con của Châu Linh Vương là Tử Tấn[43]
học đạo Tiên, qua bảy ngày, xuất hiện tại Hầu Sơn, đã
qua đời Tấn. Vì thế có thơ rằng:
Vương tử khứ cầu tiên,
Đan thành nhập cửu thiên,
Động trung phương thất nhật,
Thế thượng kỳ thiên niên.
(Vương tử học đạo tiên,
Đan thành[44] lên trời thẳm,
Trong động vừa bảy bữa,
Ngoài đời gần ngàn năm)
(Chữ Kỷ幾 đọc âm bình thanh, có nghĩa là gần. Từ Châu
Linh Vương đến đời Tấn gần một một ngàn năm).
Lại như Lữ Thuần Dương[45] gặp Chung Ly Quyền nơi quán trọ
Hàm Đan, họ Chung khuyên học đạo Tiên, ông Lữ muốn được
phú quý rồi mới học, ông Chung đưa cho một cái gối bảo
nằm ngủ. Họ Lữ mộng thấy làm quan chức từ nhỏ đến
lớn, làm đến Tể Tướng, năm mươi năm phú quý vinh hoa hiếm
có trong đời, con cháu đầy nhà, vui sướng không tai ương.
Về sau chỉ do một chuyện không hợp ý bề trên, bèn bị
giáng. Tỉnh dậy, thấy lúc mới ngủ, chủ quán trọ nấu
nồi cháo kê vàng; ra vào làm tướng, trong giấc mộng bao nhiêu
là chuyện suốt cả năm mươi năm, đến lúc tỉnh, nồi cháo
kê vàng vẫn chưa chín! Đấy chẳng qua là những cảnh do Tiên
hiện, trong một niệm còn hiện được những sự nghiệp cảnh
giới trong năm mươi năm, huống chi là cảnh giới của Phật
là trời của các vị trời, thánh của các thánh, cảnh giới
của các vị Bồ Tát đã chứng Pháp Thân ư?
Vì
thế, Thiện Tài vào lầu gác của Di Lặc Bồ Tát, vào trong
lỗ chân lông của ngài Phổ Hiền, đều trong mười phương
thế giới hành Lục Độ vạn hạnh, trải Phật sát vi trần
số kiếp[46]. Ông xem đoạn kinh văn ấy có suy lường được
hay không? Phải biết Tam Tế không có thật thể, phận phàm
phu chỉ thấy được những cảnh phàm phu có thể thấy, chẳng
nên vin vào cảnh được thấy bởi phàm phu rồi cho là Phật,
Bồ Tát cũng giống như thế, trọn chẳng khác gì! Nay tôi
dùng thí dụ để luận rõ, như tấm gương chiếu mấy mươi
tầng nước non, lầu gác, thật không có gần - xa, nhưng lại
thấy xa - gần rành rành. Sắc pháp thế gian còn được như
thế, huống gì tâm pháp đã chứng duy tâm tự tánh? Bởi thế,
nói: “Trong một đầu lông, hiện cõi Bảo Vương[47], ngồi
trong vi trần chuyển đại pháp luân”. Mười đời xưa - nay,
đầu - cuối chẳng lìa cái niệm hiện tại, vô biên cõi nước,
ta - người chẳng cách đầu một sợi lông. Thầy đã phát
tâm bế quan, hãy nên khẩn thiết chí thành lễ bái, trì tụng
cầu Tam Bảo gia bị khiến cho nghiệp tiêu, trí rạng, chướng
tận, phước cao.
Phàm
những gì thuộc cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, chỉ nên
ngửa tin lời Phật, chớ suy lường xằng. Nếu có thể khẩn
thiết đến cùng cực, sẽ tự có thể hiểu rõ, cũng không
cần phải hỏi ai khác! Nếu chẳng dốc sức khẩn thiết,
chí thành lễ bái, trì tụng, suốt ngày lầm lạc suy lường
những cảnh giới mà phàm phu chẳng thể suy lường được
sẽ đi vào vết xe đổ của Huyễn Nhân pháp sư[48], muốn
chẳng vướng lấy tội báo báng Phật, báng Pháp, báng Tăng,
há có được chăng? Mong hãy sáng suốt suy xét thì may mắn
lắm.
84.
Trả lời thư cư sĩ Phương Viễn Phàm
Người thế gian bệnh tật phần nhiều đều do chính họ tự
tạo. Ngay cả căn bệnh của lệnh nghiêm[49] là do chẳng biết
cẩn thận bụng miệng, ham ăn trái cây và những thứ lạnh
mát mà ra! Đến khi mắc bệnh lại chẳng khéo dưỡng sức
để khôi phục, cứ một mực thay đổi nhiều thầy thuốc.
Mỗi khi thầy thuốc gặp được người bệnh giàu có liền
hoan hỷ quá đỗi, bèn dùng đủ mọi phương pháp bày vẽ,
rồi mới làm cho bệnh bớt đi, ngõ hầu thâu được nhiều
tiền. Nhưng người giỏi thuốc cũng chỉ chữa được bệnh,
chẳng thể chữa được nghiệp. Ngay như Tử Trọng mắc bệnh
loét ruột, bác sĩ bảo không giải phẫu không được, bà
thím Tư của ông chẳng cam lòng, bèn không chữa, cùng Đức
Chương liều mạng niệm Phật, niệm kinh Kim Cang, năm ngày
bèn khỏi. Căn bệnh ấy có thể nói là ngặt nghèo nhất,
nguy hiểm nhất, nhưng không trị năm ngày bèn khỏi. Tử Tường
bị điên là do túc nghiệp, do bà thím Tư của ông chí thành
lễ tụng, nửa năm bèn khỏi. Cha ông đã quy y Phật pháp,
hãy nên y theo lời Phật, chớ tin tưởng bác sĩ Tây Y phải
đến chữa tại y viện của họ.
Nếu
như hết thảy bệnh đều do y học chữa lành, không chữa
sẽ không lành thì hoàng đế và những kẻ đại phú quý xưa
nay đều vĩnh viễn không đổ bệnh, cũng vĩnh viễn không
chết mất. Nhưng kẻ nghèo khó lại ít bệnh, thường sống
lâu, kẻ phú quý lắm bệnh, lại hay đoản thọ! Nguyên nhân
vì đâu? Do một là tự gây ra bệnh, hai là do thầy thuốc
gây nên bệnh. Có hai công năng tạo bệnh như thế mà muốn
thoát khỏi bệnh khổ há có được ư? Mong ông hãy bảo cùng
cha, không cần phải lên Thượng Hải cầu Tây Y, cứ ở nhà
cầu A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát đại y vương, sẽ
tự có thể không dùng thuốc mà bệnh lành. Cầu Tây Y thì
lành hay không chỉ có một nửa, cầu đại y vương thì hoặc
là thân lành bệnh, hoặc là thân chưa lành nhưng thần thức
chắc chắn thấy tốt hơn.
Nếu
muốn được khỏe ngay, hoàn toàn phế bỏ những giới đã
giữ trước kia, thật giống như khoét thịt thành vết thương,
bị tổn hại vô ích! Khi Tây Y chưa truyền vào Trung Quốc,
người Trung Quốc có bệnh đều chẳng thể trị lành ư? Vì
thế, phải buông vọng tưởng xuống, đề khởi chánh niệm,
sẽ cảm ứng đạo giao, có thể tự khỏi hoàn toàn! Như nói
“trời lạnh thân yếu, phải mặc áo tơ lụa; nếu không,
chẳng thể sống được!” Nếu mượn cớ lạnh yếu để
tự mong cầu loại vải nhẹ nhàng, hoa mỹ thì là kẻ không
biết hổ thẹn, bởi phải giết mạng tằm quả thật không
ít! Còn n