Quyển
Thứ Nhất
(Phần
3)
36.
Thư gởi sư Ngọc Trụ
Trộm nghe Như Lai vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện
trong đời, tùy cơ lập giáo, nói đủ mọi pháp, không gì
chẳng nhằm làm cho chúng sanh khai - thị - ngộ - nhập tri kiến
Phật mà thôi. Nhưng chúng sanh vốn sẵn có tri kiến Phật,
do mê muội từ vô thỉ sâu hay cạn khác nhau, nên người mê
cạn thì tu một pháp bèn được ngộ nhập. Nếu như mê sâu
mà không nhờ vào sức hoằng thệ nguyện của Phật Di Đà
vãng sanh Tịnh Độ quyết khó được chứng đắc. Huống hồ
pháp này là chỗ quy túc của các pháp, là chỗ cùng cực của
tu chứng. Lúc Như Lai mới thành Chánh Giác, nói kinh Hoa Nghiêm
có đủ vô lượng pháp môn, thâu tóm căn tánh Nhất Thừa;
nhưng Thiện Tài sau khi chứng ngộ bằng với chư Phật, Phổ
Hiền Bồ Tát bèn dạy phát mười đại nguyện vương dẫn
về Cực Lạc và khuyên hải hội đại chúng cùng cầu vãng
sanh. Do vậy, các kinh Đại Thừa đều cùng tán dương, nhưng
ba kinh Tịnh Độ chuyên thuyết minh điều này cặn kẽ nhất.
Có
kẻ bảo Tịnh Độ là Quyền Tiệm Tiểu Thừa, chẳng chịu
tu tập, lại còn ngăn trở người khác tu; toàn là do chưa
thể nghiên cứu kinh luận Đại Thừa, chỉ chấp vào ý chỉ
Trực Chỉ, chưa thấy vầng trăng nơi tự tánh. Cứ xem phẩm
Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm thì biết. Huống
chi Ca Diếp, A Nan, Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh v.v…
các đại tổ sư đều chú giải kinh, tạo luận, cực lực
tán dương. Đó không phải là sáu phương chư Phật hóa thân,
là người kế thừa đích thật của giáo chủ hai cõi ư? Vì
thế nói là “ngàn kinh muôn luận, chốn chốn chỉ quy, vãng
thánh tiền hiền ai nấy đều hướng về!” Huống hồ trong
đời Mạt này, căn tánh con người hèn tệ, tri thức hiếm
hoi, bỏ pháp này sao yên cho được?
Xin
huynh lúc rảnh rang nơi Tông, Giáo, hãy phân tâm nơi pháp này
ngõ hầu tự lợi, lợi tha, báo ân sâu của Phật. Nếu như
còn nghi hoặc, hãy nên đọc nhiều kinh luận Tịnh Độ. Sách
Tịnh Độ Thập Yếu đoạn nghi khải tín, là bậc công thần
đột phá tinh nhuệ nhất, hãy nên đọc trước. Các sách Di
Đà Sớ Sao và Diễn Nghĩa quả thật là hướng dẫn tốt lành
cho những người tham cứu Tông, Giáo. Càng đọc kỹ, suy nghĩ
tinh tường, sẽ thấy những sách ấy chẳng chỉ phát huy Tịnh
Độ mà thôi. Ngài Trung Phong nói: “Thiền là Thiền nơi Tịnh
Độ, Tịnh Độ là Tịnh Độ của Thiền”. Hai sách ấy quả
thật là như vậy. Hơn nữa, nếu huynh muốn tham khảo khắp
các lời chú giải hay khéo trong tông Hiền Thủ (Hoa Nghiêm)
thì hai sách Sớ Sao[1] quả là lời chú giải hay khéo thiết
thân nhất cho sự tu chứng của thân tâm. Hãy nên rắp tâm
nghiên cứu thì lợi ích mầu nhiệm ấy ngay cả đệ cũng
chẳng thể hình dung được nổi!
37.
Thư gởi cư sĩ Hứa Khoát Nhiên ở Quảng Đông
(viết
thay cho thầy Khang Trạch)
Cư sĩ ở nơi thiện đường, tận lực làm thiện sự, suốt
ngày tuyên giảng khuyên người làm lành, gánh vác cái đạo
“ở nhà giúp nước, ngoài nội tận trung” của thánh hiền,
tuân thủ pháp “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
lành” của Phật, Tổ; mỗi lần nghĩ tới, ngưỡng mộ khôn
cùng! Nhưng thiện sự có lớn, nhỏ sai khác; thiện thư (sách
khuyến thiện) cũng có cạn - sâu khác biệt. Muốn cho mình
lẫn người cùng lên cõi thiện hãy nên chọn lấy những thiện
thư tinh vi, rõ ràng nhất để ấn loát, lưu truyền, khiến
cho thiên hạ hậu thế thấy nghe những sách ấy đều sửa
lỗi làm lành, mong thành thánh, thành hiền, khác nào các hạ
nói rót vào tai khắp thiên hạ hậu thế khiến cho họ đều
nghe lời vậy. So sánh với việc tuyên giảng một lúc, một
chỗ thì công đức lớn - nhỏ dẫu cả năm cũng không thể
nói hết!
Thiện
thư tuy nhiều, nhưng toàn là dạy về tiểu nhân, tiểu quả
thế gian, chỉ riêng mình An Sĩ Toàn Thư giác thế, mở mang
trí óc cho dân, tận thiện, tận mỹ, giảng đạo, luận đức
tuyệt cổ siêu kim; ngôn từ giản dị nhưng bao quát, lý sâu
nhưng dễ hiểu, dẫn sự tích làm chứng cứ đích xác, nêu
những lời nghị luận thông suốt, uyên nguyên. Quả thật
là của báu truyền đời quý nhất, cũng là một cuốn kỳ
thư về mặt tuyên giảng. Lời nào cũng đều là tâm pháp
của Phật, Tổ, là đạo mạch thánh hiền, là đạo trọng
yếu để đời yên, dân lành, là phương thuốc bí truyền
để sáng tỏ sự trước, an vui sự sau. Nếu hành theo sách
ấy thì có thể nối tiếp thánh hiền, liễu sanh thoát tử
như đưa bằng khoán mượn nợ ra lấy lại vật cũ. So với
những thiện thư được lưu thông trong đời kia, khác nào
quả núi sánh với ổ kiến, biển cả sánh với vũng nước
vậy. Nhân vì thầy Liễu Đắc từ Phổ Đà đến triều bái
Cửu Hoa, lão nạp[2] riêng nhờ thầy tiện đường qua Kim Lăng
(Nam Kinh) thỉnh sách ấy gởi qua, trình cho các hạ, mong hãy
chú tâm vui thích đọc, nếm món ngon biết được ý chỉ,
học đạo tột cùng biết được điều thiện. Cái tâm in
khắc, lưu truyền bố thí rộng rãi để giúp chúng sanh ắt
sẽ có cái thế [như] sông ngòi [cuồn cuộn] khôn ngăn được!
An
Sĩ tiên sinh họ Châu tên Mộng Nhan, còn có tên là Tư Nhân,
người Côn Sơn, tỉnh Giang Tô, thông suốt mọi kinh sách Tam
Giáo, tin tưởng sâu xa pháp môn Niệm Phật. Đến tuổi nhược
quan (20 tuổi) vào trường, bèn chán khoa cử, phát Bồ Đề
tâm, soạn sách giác ngộ con người, muốn cho dân chúng trước
hết tạo lập được căn bản không lầm lỗi, rồi do đấy
bèn thoát khỏi biển sanh tử. Vì thế, ông viết sách khuyên
kiêng giết là Vạn Thiện Tiên Tư, sách khuyên kiêng dâm là
Dục Hải Hồi Cuồng, bởi lẽ chúng sanh tạo nghiệp chỉ
có hai điều này là nhiều nhất, sửa lỗi cũng chỉ hai điều
này là trọng yếu nhất. Lại còn soạn Âm Chất Văn Quảng
Nghĩa khiến cho con người đối với pháp gì, chuyện gì cũng
đều biết phải theo khuôn phép nào, đều biết ngăn dè. Phê
bình, biện luận thông suốt tinh vi, có thể nói là công thần
của Đế Quân[3], trực tiếp đem cái tâm rủ lòng giáo huấn
[của Đế Quân] triệt để mở toang ra, giãi bày trọn vẹn,
khiến cho ngàn đời về trước, ngàn đời về sau, người
dạy, người được dạy không ai còn tiếc nuối gì. Do kỳ
tài diệu ngộ, ông dùng văn tự và sự tích thế gian để
phát huy ý nghĩa áo diệu, u vi của Phật, Tổ, thánh hiền
để kẻ nhã, người tục cùng xem, trí - ngu cùng hiểu.
Lại
do pháp môn tu hành chỉ có Tịnh Độ là thiết yếu nhất,
ông lại soạn cuốn Tây Quy Trực Chỉ nhằm thuyết minh đại
sự niệm Phật cầu sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử. Ấy
là vì tích đức tu thiện chỉ được phước nhân thiên, phước
hết lại phải đọa lạc, còn niệm Phật vãng sanh liền dự
vào địa vị Bồ Tát, quyết định thẳng đến thành tựu
Phật đạo. Ba cuốn sách trước tuy dạy người đời tu thiện,
nhưng cũng có đủ pháp liễu sanh thoát tử. Cuốn sách này
tuy dạy người liễu sanh thoát tử nhưng lại phải tận lực
hành thiện sự thế gian. Đúng là hiện thân cư sĩ, thuyết
pháp độ sanh; nếu bảo ông ta không phải là Bồ Tát tái
lai, tôi không tin!
Trộm
nghĩ, Ngu - Thuấn làm lành, bỏ mình theo người; Thương Thư[4]
[luận về] tu đức lấy thiện làm thầy. Đã biết các hạ
và các vị thiện nhân chung một thiện đường không việc
gì chẳng lập, có chuyện thiện gì đều dung nạp, nên mới
dám thỉnh cầu in khắc, tuyên giảng, lưu thông, xoay vần truyền
bá, tuyên dương [những sách này] ngõ hầu ánh đèn tiếp nối
đến tận đời vị lai, ai nấy đều được thọ ân. Xin hãy
phát tâm đau đáu cứu thế, chớ vì người [cầu thỉnh] kém
cỏi mà bỏ lời này thì may mắn lắm!
Cư
Sĩ Truyện do tiến sĩ Bành Thiệu Thăng[5] ở Trường Châu,
Tô Châu đời Càn Long, thanh nhàn xem khắp các sách, chọn lấy
những gương đại trung, đại hiếu, thanh bạch, trung chánh,
liêm khiết, có công danh giáo, thông hiểu Phật pháp sâu xa
từ đời Hán đến nay, chép lại chuyện nhập đạo tu chứng
cũng như những bài văn phát huy Phật pháp của họ. Số người
được chọn hơn mấy trăm, viết thành sáu tập.
Tam
Giáo Bình Tâm Luận do học sĩ Lưu Mật đời Nguyên soạn.
Trước hết, thuyết minh Tam Giáo đều khuyên con người dứt
ác hành thiện, chẳng thể phế bỏ một đạo nào, kế đến
thuyết minh công năng cùng cực sâu - cạn khác nhau, cuối cùng
phá rộng rãi thuyết của Hàn Dũ, Trình, Châu, Âu Dương [Tu][6].
Thích
Thị Kê Cổ Lược[7] lấy các niên kỷ lịch đại làm cương,
lấy các sự tích Nho - Thích làm mục[8] từ đời Phục Hy
cho đến cuối đời Minh: Quốc gia bình trị hay loạn lạc,
Phật pháp hưng hay suy, tội phước của việc tin nhận hay
hủy báng, lợi ích của việc tu trì, pháp ngôn của tổ sư,
hành trạng của cao tăng và những gương trung hiếu lỗi lạc,
kẻ gian ác cùng cực đều chép những chuyện chánh yếu khiến
cho ai đọc đến bèn biết pháp giới, ngồi yên mà xem khắp
cổ kim. Nào phải chỉ hữu ích cho người tu đạo mà quả
thật còn là kỳ trân trong tay áo của người đọc sách bàn
chuyện cổ. Phật pháp chỉ dạy người dứt ác tu thiện,
minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát
tử.
Cả
Đại Tạng Kinh trọn chẳng có một chữ nào dạy người vận
khí luyện đan, cầu thành tiên bay lên trời, trường sanh bất
lão. Năm đầu thời Dân Quốc (1911), gã dân ma Liễu Hoa Dương[9]
soạn Huệ Mạng Kinh, tận dụng kinh Phật, lời Tổ hòng chứng
thực pháp luyện đan, biến chánh thành tà, dùng pháp báng
pháp. Người chưa mở mắt thấy tà thuyết ấy tưởng là
chân thật, chánh kiến vĩnh viễn bị mất. Lời lẽ, pháp
tu trong sách ấy đều là phá hoại Phật pháp, nhưng cứ nhơn
nhơn tự đắc bảo ta may mắn gặp được chân thừa, được
nghe chánh pháp. Đó là nhận giặc làm con, nấu cát thành cơm,
một kẻ quáng dẫn lũ mù, kéo nhau sụp hầm lửa! Chẳng đáng
buồn ư? Pháp luyện đan không phải là vô ích, nhưng chỉ
có thể kéo dài tuổi thọ, hết mức là thành tiên thăng thiên,
còn chưa phải là chân truyền của Lão Tử, huống hồ là
chánh đạo Phật pháp ư? Khổng Tử nói: “Triêu văn đạo,
tịch tử khả hỹ!” (Sáng nghe đạo, tối chết cũng được
vậy!) Lão Tử nói: “Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân”
(Ta có mối lo lớn là vì ta có thân). Nếu lãnh hội được
những lời này sẽ chẳng bị chúng nó mê hoặc.
Và
nếu có thể đọc kỹ những sách An Sĩ Toàn Thư, Cư Sĩ Truyện,
[Tam Giáo] Bình Tâm Luận, [Thích Thị] Kê Cổ Lược v.v… sẽ
như gương sáng đặt trên đài, tốt - xấu tự phân biệt.
Lò luyện lớn thử vàng, thật - giả biết ngay lập tức!
Chỉ sợ ông đã từng theo đuổi sách ấy nên mới khôn ngăn
dài dòng nhiều lẽ. Pháp Thiền Tông chỉ dạy người chân
tham thật ngộ, vì thế tất cả câu lời đều không có ý
nghĩa gì. Chẳng nên dùng tri kiến phàm phu để lãnh hội nghĩa
lý trên mặt văn tự! Nếu không thân cận bậc thiện tri thức
sáng mắt và không một phen liều mạng chết lòng công phu
tham cứu ắt chẳng thể đốn minh tự tâm. Tâm đã chẳng
minh ắt chẳng hiểu ý chỉ tổ sư. Chớ nên hiểu nghĩa theo
mặt văn tự, học “khẩu đầu thiền” (thiền nói xuông
ngoài miệng). Ví như dân hèn ngoài rẫy bái, núi non, xưng
bừa là đế vương, tội ắt diệt tộc. Phàm hết thảy những
cơ phong chuyển ngữ trong Kê Cổ Lược, Cư Sĩ Truyện và hết
thảy ngữ lục chớ có hiểu xằng, mong mỏi lắm thay!
38.
Trả lời thư cư sĩ Đinh Phước Bảo luận về chuyện tý
hương
Tý hương là đốt hương trên cánh tay. Linh Phong lão nhân (tổ
Ngẫu Ích) mỗi ngày trì hai kinh Lăng Nghiêm và Phạm Võng,
vì thế từng đốt hương nhiều lần. Ấy là vì hết thảy
chúng sanh không ai chẳng yêu tiếc thân mình, quý báu gìn giữ
thân mình, lại giết thân kẻ khác, ăn thịt, tâm càng vui
sướng. Đối với chính mình, muỗi đốt, gai đâm liền cảm
thấy khó thể chịu đựng được. Trong các kinh Đại Thừa
như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Phạm Võng… đức Như Lai xưng tán
khổ hạnh, dạy đốt thân, đốt cánh tay hay ngón tay cúng
dường chư Phật nhằm đối trị tâm tham và tâm yêu tiếc
bảo trọng tự thân. Trong sáu Ba La Mật, cách này thuộc về
Bố Thí Độ vì bố thí có nội -ngoại bất đồng. Ngoại
là quốc thành, vợ con; nội là đầu, mắt, tủy, não.
Thắp
hương đốt thân đều gọi là Xả, cần phải chí thành, khẩn
thiết, ngưỡng mong Tam Bảo gia bị, chỉ mong mình lẫn người
nghiệp tiêu huệ rạng, tội diệt phước tăng (Nói “mình
lẫn người” nghĩa là dù thật sự vì mình, nhưng lại nên
đem công đức này hồi hướng pháp giới chúng sanh, nên nói
là “mình lẫn người”). Tâm trọn chẳng mảy may vì cầu
tiếng tăm và cầu phước lạc nhân thiên thế gian, chỉ vì
thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh mà hành thì công
đức vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn. Ấy gọi là
“tam luân thể không, tứ hoằng phổ nhiếp”[10]. Công đức
do tâm nguyện nên rộng lớn, quả báo do tâm nguyện nên nhanh
chóng đạt được. Nếu vì tâm chuộng hư danh, hoặc mong cầu
chấp trước rồi bắt chước [thực hiện] cái hạnh trừ
chấp trước thì đừng nói là đốt tý hương, dẫu có đốt
sạch toàn thân cũng chỉ là khổ hạnh vô ích!
Do
tâm chấp trước, ý niệm cầu danh dự nên đã không hiểu
nổi ý chỉ tam luân thể không, mà cũng chẳng có cái tâm
tứ hoằng phổ nhiếp. Biến pháp phá trừ Thân Kiến của
Như Lai thành tăng Thân Kiến[11] thêm kiên cố. Tội phước
do tâm phân định. Quả báo do tâm mà khác! Vì thế, kinh Hoa
Nghiêm nói: “Ngưu ẩm thủy thành nhũ, xà ẩm thủy thành
độc. Trí học chứng Niết Bàn, ngu học tăng sanh tử” (Bò
uống nước thành sữa, rắn uống nước thành nọc. Trí học
chứng Niết Bàn, ngu học thêm sanh tử).
39.
Thư gởi hiếu liêm[12] Tiêu Vĩnh Hoa ở Quảng Đông
(viết
thay cho thầy Khang Trạch)
Sách Ngũ Đăng Hội Nguyên[13] trong danh mục của các nhà xuất
bản kinh đều không có, không cách nào thỉnh được. Chỉ
vì không biết do lẽ gì các hạ tìm sách này nên khôn ngăn
hỏi đi hỏi lại:
1)
Vì làm bậc chân tham thật ngộ, thấu suốt rõ ràng tự tâm,
thấy triệt để diện mục sẵn có trước khi cha mẹ sanh
ra?
2)
Hay là muốn học một gậy, một tiếng hét[14], hét Phật mắng
Tổ, ngõ hầu miệng lưỡi biện bác trơn tru hòng được tiếng
khen trong cõi tục? Hoặc là muốn nhớ được lời lẽ để
bút lực mạnh mẽ, ngõ hầu lúc vung ngọn bút viết lách thần
cơ hoạt bát, văn từ u huyền, thâm thúy như bọn ông Tô Tử
Chiêm[15] phun châu nhả ngọc, gần như không phải là người
ăn cơm thế gian có thể làm được!
Nếu
muốn được như trường hợp thứ nhất, trước hết hãy
nên nghiên cứu kinh Phật cho thông suốt giáo pháp. Lại phải
thân cận bậc cao nhân sáng mắt, được nghe một chữ, một
câu, tận lực tham cứu đến cùng cực, đến khi tận sức
công thuần tự nhiên “tro lạnh, đậu nổ”[16], triệt ngộ
tự tâm như duỗi tay thấy được lòng bàn tay, trọn chẳng
còn mối nghi ta - người. Lại cần có cao nhân ấn chứng,
kẻo sợ hiểu lầm dấu hiệu. Nếu làm được như thế thì
hãy xem sách ấy và hết thảy sách Thiền. Người trong nhà
và người trong cùng một nhà nói chuyện trong nhà, chỉ có
ích chứ không tổn hại mảy may gì! Nếu chưa thể dụng công
như thế và chưa được khai ngộ ấn chứng mà trước đó
lại toan coi sách Thiền mong được khai ngộ thì cũng như gương
cổ bụi lấp, muốn mau tỏa ánh sáng, chẳng mài chất nhơ,
chỉ bôi phấn trắng. Bôi bao nhiêu kiếp cũng chẳng tỏa sáng.
Đấy gọi là nương theo người khác để hiểu, tự lấp cửa
ngộ, kể chuyện ăn, đếm của báu, sao cứu được đói,
nghèo!
Nếu
muốn được như trường hợp thứ hai thì tuy là nhân lành
nhưng trái lại chuốc lấy quả ác. Đây chính là cái hố
sâu vạn trượng Tăng - tục hiện thời bị hãm trong ấy.
Bởi những gì Thiền Tông nêu bày, đề xướng đều một
mực quy về hướng thượng. Người ngộ giải sẽ lãnh hội
thần diệu, kẻ mê hoàn toàn bị ngôn ngữ chuyển, chẳng
hiểu ý cổ nhân đập gậy, hét, chửi, bèn lấy đó để
hành trì. Sự tổn thất ấy há nào phải chỉ là Vương Mãng[17]
học đòi Châu Công, Tào Tháo học đòi Văn Vương. Đề-hồ
thượng vị được cõi đời trân trọng gặp phải những
người ấy biến thành độc dược. Ông Bùi Công Mỹ[18] nói:
“Hiểu được ý thì mau thành Phật đạo, đánh mất ý chỉ
sẽ vĩnh viễn vào Nê Lê (địa ngục)”. Chẳng đáng sợ
ư? Nguyện các hạ đừng manh nha ý niệm ấy. Còn như muốn
trước tác giống như cổ nhân, không biết cổ nhân ai nấy
đều đã phát minh tự tâm lớn lao. Vì thế, nói lời thốt
chữ diệu hợp thiền cơ, ví như đầu bếp xẻ trâu, Dưỡng
Do Cơ bắn vượn[19], không thể chỉ học mà được như thế
đâu!
40.
Thư gởi cư sĩ X… (viết thay sư Liễu Dư)
Giữa Xuân lên núi, chớp mắt đã nửa năm; dẫu thọ trăm
năm, khảy tay liền qua. Còn một hơi thở nên cầu đường
ra, chớ để đến lúc lâm chung hối không kịp nữa! Thường
nhớ kinh dạy: “Thân người khó được, chính giữa đất
nước khó sanh, Phật pháp khó nghe, tín tâm khó sanh”. Ông
may mắn hội đủ cả bốn điều ấy, càng phải nên nỗ lực,
như lên núi báu phải được Ma Ni. Do còn ở địa vị phàm
phu, chưa đoạn Hoặc nghiệp, sanh tử chưa giải quyết khó
khỏi đọa lạc. Vì vậy, đức Như Lai cực lực khuyên chúng
sanh phát chân tín tâm và tâm nguyện khẩn thiết, trì danh
hiệu Phật cầu sanh Tịnh Độ. Mọi công đức như: cúng dường
Tam Bảo, trọn đời giữ giới, hết thảy việc làm… chớ
dùng để cầu phước báo nhân thiên trong đời sau, chẳng
cầu đời này trường thọ, mạnh khỏe, bình yên, chỉ cầu
lâm chung vãng sanh Tịnh Độ, tương khế, tương hợp với
thệ nguyện của chư Phật, cảm ứng đạo giao nhất định
mãn sở nguyện.
Như
người té xuống biển, có thuyền đến cứu, nếu chịu ngồi
lên thuyền liền lên được bờ kia. Cầu phước nhân thiên,
chẳng cầu sanh Tịnh Độ giống như không chịu lên thuyền,
khó khỏi chết chìm. Phật muốn khiến cho ông siêu phàm nhập
thánh, ông lại chỉ nguyện được phước hữu lậu. Khi phước
báo hết rồi, đọa mãi trong tam đồ, như dùng châu Ma Ni để
bắn chim sẻ, được thì ít, mất thì nhiều! Chẳng đáng
tiếc ư? Hãy nên cảnh tỉnh!
Phải
biết một pháp niệm Phật vãng sanh chính là đạo trọng yếu
bậc nhất để hết thảy chúng sanh mau thoát khỏi sanh tử,
quả thật là pháp môn tối thượng để hết thảy chư Phật
mau thành Chánh Giác. Đừng nghĩ pháp này giản tiện, dễ hành,
rồi coi là chuyện nhàn hạ, phải chí tâm siêng năng, khẩn
thiết mới có thể thành tựu. Còn như pháp tắc tu trì thì
trong Long Thư Tịnh Độ Văn đã ghi đủ. Lại có An Sĩ Toàn
Thư chép đủ pháp tắc niệm Phật vãng sanh và những việc
để tích đức, sống trong cõi trần học đạo, tề gia, dạy
con, làm cho đời yên, dân lành, đủ mọi pháp tắc đều bàn
luận áo diệu đến cùng cực. Có thể nói là bộ sách độc
nhất vô nhị thông Nho lẫn Phật, là tác phẩm vô song xưa
nay, hết thảy Tăng, tục, nam, nữ đều có thể lấy sách
ấy làm gương mẫu vậy!
41.
Thư gởi phu nhân X… ở Hải Diêm (viết thay thầy Ngộ
Khai)
Thân chính là cái gốc chuốc khổ, chán ghét nó chính là cơ
sở để được vui. Do túc nhân sâu dày, hiện tại nhiều
điều thiện, nên báo nặng nhiều kiếp biến thành báo nhẹ
phải thọ trong đời hiện tại, mắc tai họa nhưng dũng mãnh
tu trì thì sự đau khổ cõi Sa Bà biến thành đạo sư cho Cực
Lạc. Nên nghĩ như mình phải trả nợ thì áo não, phiền muộn
tự tiêu. Nếu sanh lòng oán hận thì tội nghiệp nối tiếp
nhau khởi lên. Cảnh nghịch xảy đến hãy thuận chịu mới
là người biết vui theo mạng trời. Chán cõi này, ưa cõi kia
mới là người tu Tịnh niệm Phật. Nghĩ cư sĩ sùng tín đại
pháp, nhờ vào đức hạnh trong đời lẽ ra phải được hưởng
báo khỏe mạnh, bình yên; do duyên gì thân lại mang bệnh ngặt?
Phải chăng là Di Đà Như Lai, Quán Âm đại sĩ tha tâm, thiên
nhãn, phóng đại quang minh nhờ cơn bệnh huyễn của phu nhân
để làm lời cảnh tỉnh cho những kẻ đồng nhân, ngõ hầu
cứu vớt khắp mọi kẻ đang đắm chìm trong biển khổ?
Dám mong bà hãy sâu xa khuyên từ con, dâu, cho đến tôi tớ
và xóm giềng, thân quyến bên ngoài đều cùng kiêng giết,
phóng sanh, ăn chay, niệm Phật, thì gia pháp của Tịnh Như
ngàn năm mãi tốt đẹp, ngõ hầu tước lộc rỡ ràng, lưu
danh thơm muôn đời. Như thế thì cái thân bệnh thê lương
này trở thành mái chèo thoát biển khổ, lời than bệnh ủ
rũ trở thành hướng dẫn tốt lành cho trần thế. Nào còn
phải đợi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn mới có thể vào cõi tục
độ sanh, nào phải lên địa vị Bất Thoái mới có thể hiện
thân thuyết pháp!
Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng diệt được trọng
tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Dạy người niệm
Phật một tiếng hơn bố thí bảy báu suốt trăm năm! Chỉ
cần chí tâm niệm Phật thì không bệnh nào chẳng lành, hãy
theo vết chân thơm của bà phu nhân họ Phùng dạy người niệm
Phật thì phẩm vị vãng sanh tối cao, chẳng kém khuôn mẫu
tốt đẹp của Kinh Vương[20] phu nhân cho mấy. Dùng điều
đó cầu đảo nơi Phật lập tức thấy thuyên giảm. Xin hãy
dốc sức, chớ nên nghi ngờ. Thêm nữa, cuốn Di Đà Sớ Sao
Hiệt (trích yếu Di Đà Sớ Sao) của Tịnh Như ngôn từ giản
dị nhưng tinh xác, lý sâu nhưng dễ hiểu, là một cuốn sách
quan trọng trong Tịnh Độ, quả thật là người hướng dẫn
tốt lành cho kẻ sơ cơ, hãy nên đọc kỹ. Mong rằng có ai
đến đem về mấy bộ để cuộc thí pháp của Tịnh Như được
mở rộng.
42.
Thư gởi Cố mẫu Từ phu nhân ở Hải Diêm (viết thay thầy
Ngộ Khai)
Người tên X… lên núi, hỏi đến cuộc sống của bà, cho
biết: Bà thường ngày đọc Thiền Lục, thường bàn luận
công án. Ngu tôi cho rằng: Lúc tuổi già suy, nên siêng niệm
Phật, lấy Tịnh Độ làm tông mới có thành tựu thật sự.
Xin thử bàn xem: Thiền và Tịnh Độ lý vốn không hai. Nếu
luận trên mặt Sự tu thì tướng trạng khác nhau một trời,
một vực. Thiền nếu không triệt ngộ triệt chứng sẽ chẳng
thể siêu xuất sanh tử. Vì thế, ngài Quy Sơn nói: “Nơi chánh
nhân thì có thể đốn ngộ, còn xuất trần phải tiến từ
từ theo thứ tự. Nếu đời đời bất thoái thì thành Phật
quyết định có kỳ”. Lại nói: “Sơ tâm do duyên đốn ngộ
tự tánh, nhưng hãy còn có tập khí từ vô thỉ bao kiếp chưa
thể diệt ngay được, nên phải dạy ngươi trừ cho hết hiện
nghiệp lưu thức”. Ngài Hoằng Biện[21] nói: “Đốn ngộ
tự tánh bằng với chư Phật, nhưng chưa thể nhanh chóng hết
sạch tập khí vô thỉ. Cần phải nhờ vào đối trị mới
hòng khởi công dụng thuận theo Tánh được, như người ăn
cơm chẳng thể ăn một miếng liền no ngay!” Ngài Trường
Sa Sầm[22] nói: “Thiện tri thức trong thiên hạ chưa chứng
quả Niết Bàn là vì công hạnh chưa bằng với chư thánh vậy”.
Do vậy, Ngũ Tổ Giới lại trở thành Tô Đông Pha, Thảo Đường
Thanh lại thành Lỗ Công. Cổ kim tông sư triệt ngộ nhưng
chưa triệt chứng phần nhiều như vậy. Ấy là do chỉ cậy
vào Tự Lực, chẳng cầu Phật gia bị, Hoặc nghiệp còn mảy
may chưa tận thì sanh tử quyết chẳng thể thoát khỏi.
Tịnh
Độ hễ có đủ ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh liền có thể
đới nghiệp vãng sanh. Hễ được vãng sanh liền thoát sanh
tử, kẻ ngộ chứng bèn mau lên Bổ Xứ, kẻ chưa ngộ cũng
chứng A Bệ Bạt Trí (Bất Thoái Chuyển). Vì thế, Hoa Tạng
hải chúng đều nguyện vãng sanh; các tri thức bên Tông, bên
Giáo cùng sanh Tịnh Độ. Là vì hoàn toàn cậy vào Phật lực,
lại thêm tự mình tâm khẩn thiết. Vì thế, được cảm ứng
đạo giao; do vậy, mau thành Chánh Giác. Nay tôi vì bà tính
toán: Hãy nên gạt bỏ hết Thiền Lục, chuyên tu Tịnh nghiệp.
Dùng cái tâm mảy trần chẳng nhiễm trì thánh hiệu vạn đức
hồng danh, hoặc niệm ra tiếng, hoặc niệm thầm, không xen
tạp, không gián đoạn. Niệm phải khởi từ tâm, tiếng lọt
vào tai, từng chữ phân minh, từng câu chẳng loạn, lâu ngày
chầy tháng sẽ tự thành phiến, đích thân chứng Niệm Phật
tam-muội, tự biết Tây Phương tông phong. Đấy là đem cái
công phu “xoay trở lại nghe nơi tự tánh” của Quán Âm để
tu tịnh nghiệp “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”
thì tu Tịnh mà là Thiền, còn gì diệu bằng!
43.
Thư trả lời cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ nhất)
Người niệm Phật cũng không phải là không được trì chú,
nhưng Chủ và Trợ phân minh thì Trợ cũng quy về Chủ. Nếu
cứ tràn lan không phân biệt, coi đều như nhau thì Chủ cũng
không phải là Chủ. Chuẩn Đề và Đại Bi nào có hơn, kém;
nếu tâm chí thành, pháp nào cũng linh. Tâm không chí thành,
pháp nào cũng không linh! Một câu Phật hiệu bao quát trọn
vẹn không sót cả Đại Tạng giáo. Người thông Tông, thông
Giáo mới có thể thật sự làm người niệm Phật chân chánh.
Nhưng người không biết gì, không làm được gì, chỉ cần
miệng nói được thì cũng có thể là người niệm Phật chân
chánh. Ngoài hai hạng này ra thì chân chánh hay không chân chánh
đều là do chính mình có nỗ lực, có y giáo phụng hành hay
không?
Còn
như tu hành Tịnh Độ có lý quyết định không nghi, cần gì
phải hỏi đến sự hiệu nghiệm nơi người khác! Dẫu người
khắp thế gian đều không có hiệu nghiệm, cũng chẳng sanh
một niệm nghi tâm, lấy lời thành thật của Phật, Tổ làm
bằng chứng. Nếu hỏi đến sự hiệu nghiệm của người
khác tức là chưa tin cùng cực vào lời Phật, phải lấy lời
người để quyết định nên thành cái tâm mong ngóng, không
thể thành tựu. Làm thân nam tử anh hùng, tráng liệt trọn
chẳng đến nỗi bỏ Phật ngôn để tin lời người khác,
tâm mình vô chủ, chuyên muốn lấy sự hiệu nghiệm của người
ta để hướng dẫn tiền đồ, chẳng đáng buồn ư?
Tùy
Tự Ý tam-muội chính là đường tu chung từ phàm đến thánh,
tuy nói là Sơ Tâm Bồ Tát bao gồm hết thảy phàm phu, nhưng
thật ra là hạng Sơ Trụ Bồ Tát phát trọn vẹn ba tâm, tam
đức viên chứng trong Viên Giáo (nếu ước theo Biệt Giáo
thì là Sơ Địa): Do lấy phát Lý tâm làm chánh nhân nên chứng
Pháp Thân đức, do phát Huệ tâm làm liễu nhân nên chứng
Bát Nhã đức, do phát thiện tâm làm duyên nhân nên chứng
Giải Thoát đức. Vì thế có thể hiện thân mười pháp giới
ứng khắp mọi căn cơ trong mười phương thế giới, thượng
cầu hạ hóa; ông lại nói Sơ Phát Tâm chỉ là kẻ sơ phát
tâm vừa mới phát tâm tu hành thôi ư? Ông thấy Kim Luân [chú
pháp] đã dạy “ngộ pháp Nhị Không chứng lý Thật Tướng”
liền hớn hở, vui mừng, bèn muốn gánh vác; Quang sợ ông
bị ma dựa, nên trình bày rõ thân phận khiến cho ông trọn
chẳng còn lầm lạc nữa. Ngộ pháp Nhị Không, chứng lý Thật
Tướng chính là thân phận của Sơ Phát Tâm Bồ Tát vậy!
Pháp được giảng trong sách ấy phàm phu đều có thể y theo
đó để tu trì, nhưng đừng hiểu thân phận được sách nhắc
đến là phàm phu [thật sự]! Thanh Văn, Duyên Giác có đại
thần thông còn chẳng thể đạt đến, huống gì phàm phu!
Lúc khắc in riêng sách ấy nên xem kỹ:
1)
Vô trụ sanh tâm.
2) Chẳng trụ vào pháp để hành bố thí.
3) Tam luân thể không.
4) Ý nghĩa nhất đạo thanh tịnh.
(Bốn câu này là cương yếu của Phật pháp, người xem kinh
tu hành phải nên biết) thì sẽ được thông hiểu lớn lao!
Quang muốn đem những nghĩa này làm thành bài tụng để người
xem đến biết được cương yếu. Đã bàn cùng Úy Như nhưng
bận rộn lắm việc chưa thể rảnh rỗi, phải đợi năm sau.
Khắc in Thập Vãng Sanh Kinh[23] và ba thứ Tịnh nghiệp ban đầu
trong Quán kinh để lưu truyền trong đời cũng được, tôi
đã bảo với Úy Như nhưng chưa rảnh để sửa những chữ
sai trong bản ấy, nên đem nguyên bản gởi đi. Chữ cổ tuy
không sai, nhưng không nên dùng. Còn như nói quán thân, chẳng
quán hết thảy, chỉ quán vô duyên thì vô duyên là Tùy Tự
Ý tam-muội, nghĩa là tánh không, vô sở hữu; đã vô sở hữu
nên không có gì để vin nắm (phan duyên). Nếu chẳng một
nhát dao chặt đôi từ căn bản thì tâm duyên trùng trùng,
giải thoát sao được? Mấy lời này giản lược cùng cực,
nhưng ý nghĩa sâu rộng. Mong hãy bảo với ông Úy Như.
44.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ hai)
Hòa thượng Pháp Tràng xưa đã sẵn linh căn, thoạt đầu là
bậc chân Nho, sau thành bậc chân Thích, có thể nói là chẳng
uổng công đọc sách học đạo vậy! Đời có bậc chân Nho
nên mới có chân Tăng. Bọn vô lại xuất gia kia cố nhiên
đều là ma vương ngoại đạo phá hoại Phật pháp! Ngữ lục
của Hòa Thượng thống khoái thẳng chóng, mở rộng tâm mắt
con người, đáng nên khắc in lưu thông làm pháp bảo cho Thiền
gia, nhưng sách ấy chỉ phát huy đạo “chỉ thẳng tâm người,
kiến tánh thành Phật”, chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp chớ
nên sờ soạng, dò lường lời Ngài đến nỗi đánh mất lợi
ích cả hai bên. Không thể không biết điều này! Điều được
nhà Thiền đề xướng là chỉ hướng về bổn phận, ngoài
ra [mọi chuyện khác] đều không xiển phát. Chuyện tu nhân
đạt quả, đoạn Hoặc chứng chân của họ đều là tự ngầm
tu trì. Người ngoài thấy nhà Thiền chẳng đề xướng những
đạo lý tu chứng ấy bèn bảo nhà Thiền không dùng đến
những pháp đó, thành ra hủy báng Thiền, báng Phật, báng
pháp.
Mã
Tăng Ma[24] kiến địa cao siêu, văn tự khéo léo, đẹp đẽ,
cũng đáng nên khắc bản lưu thông. Vương Huyễn Như không
thấu hiểu Tông môn chỉ vì không chịu nghiên cứu sâu xa
giáo lý và cũng do chưa hề thân cận tri thức, vì thế chỉ
thành một kẻ hiểu biết Tông Môn trên mặt văn tự mà thôi.
Năm Quang Tự hai mươi mốt, tức mùa Xuân năm Ất Mùi (1895),
người ấy đến Phổ Đà, được thế phát bởi hòa thượng
Hóa Văn trụ trì chùa Pháp Vũ, chưa thọ giới, sống được
nửa năm bèn trở về nhà, lại trở thành cư sĩ. Trong cuốn
đầu, ông ta viết năm Bính Thân (1896) đến Phổ Đà làm tri
kỷ của sư Hóa Văn, toan muốn xuất gia, nhưng vì gia sự thúc
bách phải quay về. Từ chỗ này có thể thấy ngôn hạnh chẳng
tương ứng!
Quang
từng gặp người này, chưa hề nói với nhau một lời. Hỏi
đến những người ông ta thường gặp gỡ xem ông ta hành
trì những gì; họ nói ông ta không niệm Phật mà cũng chẳng
xem kinh. Những gì chép trong sách Minh Tâm Lục của ông quá
nửa là những câu dựa theo sách Kính Hoa Tập xưa kia. Ông
ta có sở đắc nơi ý Thiền Tông, nhưng hạnh nhà Thiền chưa
từng thực sự tu tập. Do vậy mới đến nỗi chẳng biết
thời vụ, trao xằng pháp dược, khiến cho những kẻ vô tri
vô thức học phải những lời sáo rỗng ấy bèn quay ra bài
bác, vứt bỏ những lý thật, sự thật trong kinh, khiến mình
mù, làm cho người mù, từ đầu đến cuối sách chẳng hé
lộ triều đại và niên hiệu với thâm ý khiến người đời
sau tưởng mình là bậc cao nhân thời thượng cổ mà thôi!
Toàn thể sách ấy là cái tâm phàm phu sanh tử kết nghiệp,
chớ hề có ý nghĩa tùy duyên mặc lòng tự vui Thiên Chân.
Hạng người như vậy chẳng nên tán thán; chỉ sợ do tôi
tán thán [người đời] bèn tưởng ông ta hoàn toàn đúng,
mà cũng không nên báng bổ vì sợ do tôi gièm báng người
khác bèn cho là ông ta hoàn toàn sai! Nhưng ông giữ pháp của
ông, tôi giữ đạo của tôi mà thôi! Rảnh công đâu bàn chuyện
rỗi hơi của người ta chẳng ăn nhập gì đến mình!
Bài
tiểu tự của sách Vạn Liên Tịnh Độ Thi, hai dòng đầu
nêu lên thuyết “nhất tâm được biểu hiện hay che lấp”
chính là lý luận sai lầm. Lời dạy chuyên tu Tịnh Nghiệp
của ngài Thiện Đạo có thể gọi là “tỏ rõ tâm chuyên
nhất”, nhưng ngài Vĩnh Minh dạy “vạn thiện đều tu”
há có thể gọi là “ngăn lấp tâm chuyên nhất” ư? Đúng
là sai lầm đến cùng cực! Phải nói là pháp môn Tịnh Độ
có Chuyên và Viên. Do căn khí của chúng sanh bất nhất, nên
chư Tổ lập pháp bất đồng. Ngài Thiện Đạo dạy người
nhất tâm trì danh, không dạy tu tạp nghiệp là vì sợ người
căn tánh trung hạ do tạp nghiệp đến nỗi tâm khó quy nhất.
Do vậy, Ngài dạy Chuyên Tu. Ngài Vĩnh Minh dạy người vạn
thiện đều tu, hồi hướng Tịnh Độ là vì sợ bậc thượng
căn hạnh chấp vào một bên, đến nỗi phước huệ chẳng
thể xứng tánh viên mãn nên dạy Viên Tu.
Nếu
là người chưa đạt đến địa vị đại triệt đại ngộ
thì lập ngôn quyết khó khỏi mắc điều tệ. Ví như ếch
ngồi đáy giếng chỉ thấy được khoảng trời xanh chừng
bằng miệng giếng mà thôi! Bài tựa giảo chánh tái bản sách
Tùy Tự Ý Tam Muội, nếu nói thông thường thì đại tâm phàm
phu là Sơ Phát Tâm Bồ Tát, và nói đúng ra thì phải hiểu
Sơ Phát Tâm Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo.
Hiểu như thế sẽ không mắc cả hai lỗi Ngã Mạn và Thoái
Khuất.
45.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ ba)
Đã đến Phổ Đà mấy lần, hãy nên ở nhà lắng lòng niệm
Phật, chẳng nên tới thường. Đến đây tốn phí công sức,
thời gian, hao tài, đối với mình lẫn người đều không
có lợi ích gì. Nếu chưa từng đến thì đến chiêm bái đạo
tràng Bồ Tát một lần cũng được. Nếu đã đến rồi nên
ở nhà cúng dường, cung kính, lễ bái, lẽ đâu Bồ Tát chỉ
ở tại Phổ Đà, chẳng cảm ứng khắp pháp giới ư? Quán
Âm Bồ Tát thường trụ trong khởi tâm động niệm của hết
thảy chúng sanh, hiển lộ đại thần thông, diễn thuyết diệu
pháp; tiếc là chúng sanh mê trái bỏ lỡ, cô phụ từ ân.
Nếu có thể thường niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát,
trong hết thảy thời, hết thảy chỗ sẽ tự thường được
Ngài che chở. Nên đem ý này bảo lại cùng hết thảy kẻ
tri giao.
46.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ tư)
Biết ý ông muốn sống ở Thông Châu, tuy có chí muốn thành
tựu con em, nhưng không biết con em được thành tựu chỉ là
do gia đình dạy dỗ! Đối với con cái, từ nhỏ phải dạy
hiếu, đễ, trung, tín, cần (siêng năng), kiệm (tiết kiệm),
ôn (ôn hòa), cung (cung kính), thì khi đến lớn đi học đọc
sách mới có cơ sở để hưởng được lợi ích. Nếu từ
nhỏ dung túng thành quen thói, đừng nói chi những đứa không
có thiên tư, không khéo dạy; ngay cả những đứa có thiên
tư, được khéo dạy cũng chỉ thành một gã thợ khéo văn
chương, thành phường bại hoại trong làng Nho mà thôi! Đời
có kẻ tài cao Bắc Đẩu, học khắp năm xe[25], nhưng hành
vi đều ỷ vào thông minh, độc hại sanh linh, hủy diệt đạo
nghĩa! Nguyên nhân đều bắt đầu do lúc ban đầu thiếu gia
giáo vậy! Văn Vương nêu gương cho vợ, gương ấy thấu đến
anh em, rồi lan ra khắp nước nhà; điều này cùng một ý vị
với điều được nói trong sách Đại Học: “Muốn bình trị
thiên hạ, quốc gia thì phải khởi đầu từ cách vật trí
tri, thành tâm, chánh ý”. Đây chính là bí quyết vô thượng
dạy người mong thành thánh thành hiền của Nho Gia vậy. Bỏ
nơi đây cầu nơi khác đều là chạy theo cái ngọn!
Nay
tôi bàn tính: Khi con cái đã có thể nói năng, hiểu biết
thì trong gia đình trước hết phải dạy cho con biết mặt
chữ (con gái tuy không cần phải có học vấn rộng, nhưng
trọn chẳng thể chỉ dạy cho con biết mặt chữ, không thông
ý nghĩa. Mẹ còn phải nên dạy con từ thuở còn nằm trong
thai. Nếu con gái biết chữ, thông văn lý thì con cái do mình
sanh ra sẽ càng dễ dạy). Mỗi một tờ giấy chỉ viết một
chữ, đừng viết cả hai mặt. Nếu viết hai mặt khác sẽ
giống như nhớ khẩu quyết vậy[26]. Mỗi ngày hạn định
mấy chữ, mỗi ngày phải nhận rành mặt chữ, lại phải
nhận được mặt chữ hai ba lần. Chưa đầy một năm đã
biết được nhiều chữ. Về sau lúc đọc sách, hễ đọc
đến đều nhận được mặt chữ, chẳng đến nỗi vướng
cái tệ chỉ nhớ ca kệ.
Phàm
những gì trẻ làm được đều nên dạy nó thường tập quen
siêng năng (như quét tước, dọn dẹp v.v...) Phàm thức ăn,
y phục chớ nên hoa mỹ. Nếu trẻ phung phí ngũ cốc và làm
hư đồ đạc, bất luận là vật sang, hèn, nặng, nhẹ đều
nên bảo cho nó biết của ấy chẳng dễ có, và những nghĩa
lý chiết phước tổn thọ! Nếu vẫn như thế nhất định
phải trách phạt, quyết chẳng bỏ qua. Như thế, trẻ sẽ
tự mình kiệm ước, trọn chẳng đến nỗi xa xỉ, phung phí.
Khi trẻ đọc được sách nên đem những sách Âm Chất Văn,
Cảm Ứng Thiên dạy trẻ đọc thuộc, thuận theo mặt chữ
mà diễn giảng. Những hành vi thường nhật nếu hợp với
điều thiện thì chỉ cho trẻ thấy điều ấy hợp với những
điều thiện được nêu trong hai cuốn sách trên mà khen thưởng.
Nếu làm điều bất thiện thì chỉ cho trẻ thấy điều ấy
phù hợp với chuyện bất thiện được nói trong hai sách ấy
để quở trách (nhà cư sĩ Bành Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) đỗ
đạt đứng đầu tỉnh Giang Tô, đời đời tuân thủ hai sách
ấy. Nhà ấy Trạng Nguyên thật nhiều, nhưng suốt đời đều
tuân thủ hai sách ấy không thay đổi). Như vàng đổ vào khuôn,
như nước có đê ngăn, há lẽ nào chẳng thể thành đồ vật,
vẫn cứ chảy ngang y như cũ hay sao? Căn bản để con người
làm người là đây! Không giảng điều này mà muốn thành
con người hoàn toàn, trừ phi là hạng có thiên tư bằng Mạnh
Tử trở lên mới được mà thôi!
Nhưng
đến lúc đi học, chẳng nên cho con vào ngay những trường
đã lập hiện thời, nên để con ở nhà vài năm, mời một
vị thầy văn chương lẫn đức hạnh đều khá, tin sâu nhân
quả để dạy trẻ học Tứ Thư và Ngũ Kinh trước. Đến
khi trẻ học được vài phần, đối với toàn bộ văn tự
đạo lý chẳng bị tà thuyết tục luận mê hoặc thì mới
cho con vào trường hòng mở mang tầm mắt, biết so sánh sự
việc, chẳng đến nỗi hành xử trái thời, không cách nào
tiến lên được! Làm được như vậy thì đứa có thiên tư
sẽ tự thành đạt, đứa không thiên tư cũng thành lương
thiện, tốt lành cho mình lẫn người, tự lợi, lợi tha, quả
thật chẳng ngoài những điều lão tăng thường nói.
Lại nữa, trước kia ở Dương Châu có thỉnh mười ba bộ
Cảm Ứng Vựng Biên tặng cho người, Vân Lôi cũng tặng một
bộ. Ngày hôm sau Vân Lôi đến chỗ tôi ở, tôi bảo ông ta
mang cho ông một bộ, ông ta đem tặng cho người khác, nói
ông có thể thỉnh được sách nơi thư cục chánh, không biết
đã thỉnh hay chưa? Những văn bút đàm luận trong sách này
đều siêu diệu (sách ấy có đôi ba chỗ hơi trở ngại đôi
chút, nhưng xét về toàn thể đều tốt nên có thể dùng được),
nhưng không quán thông Phật pháp bằng An Sĩ Toàn Thư. Ngoại
trừ An Sĩ Toàn Thư ra, nên coi sách này là nhất, nhưng chẳng
dễ gì chỉ dạy cho đàn bà, con trẻ. Quang ở Dương Châu
nhân thấy sách này phần đầu chưa khắc Cảm Ứng Thiên,
bèn cho khắc bổ sung. Do tìm sách bèn gặp được một bản
Cảm Ứng Thiên Trực Giảng, sách ấy do một bậc đại thông
gia soạn, lời chú giống với lối văn Bạch Thoại, đọc
theo mạch văn ý nghĩa càng rõ ràng, rất thích hợp cho con
cái đang tuổi thơ ấu. Nay đem sách ấy gởi đi, mong ông sẽ
dùng sách ấy để răn dạy con cái, tương lai ắt được lợi
ích thật sự mà lại còn thiết thân nữa (Ông Vương Lôi
vào mùa Hạ từng khắc Nhị Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục
của ông Bành Hy Tốc, đều là những chuyện thực trong chánh
sử, rất dễ làm cho người khác [đọc đến] phải kiêng
dè, chỉ có hai bản).
47.
Thư gởi cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ năm)
Những lời Úy Như nói hơi có đạo lý. Nhưng tôi là một
gã vô tri vô thức chỉ biết lo tự độ[27], dạy người cũng
dùng những pháp tắc để tự độ, còn ông ta muốn cho người
khác thông hiểu rộng rãi Phật pháp rồi nhờ đó mà tin sâu
Tịnh Độ; do vậy mới đến nỗi bề ngoài tợ hồ không
phù hợp, nhưng bên trong quả thật do chú trọng đến những
điểm khác nhau, ai nấy có sở trường riêng và cũng có khuyết
điểm riêng nên mỗi cách có những thiếu sót riêng. Nếu
có thể chọn lấy những chỗ lợi ích thì chẳng đến nỗi
trở thành thói tệ, pháp môn sẽ may mắn lắm!
Tuy
vậy, rất khó! Pháp do Như Lai, chư Tổ đã lập, hậu nhân
làm theo còn bị biến thành tệ hại, huống gì bọn ta? Ai
nấy chỉ nên giữ lấy một pháp ngõ hầu tự lợi và kiêm
dùng pháp đó để lợi ích người hữu duyên thì mới nên!
Kẻ vô duyên Phật còn chẳng độ được, dù chúng ta có lập
đủ cách cũng sẽ chỉ có thể nói “không làm gì được”
mà thôi! Hai lá thư của Úy Như đã khen ngợi Bất Huệ quá
mức khiến cho người ta thẹn thùng không lánh vào đâu được!
Trọn chẳng được học theo cái lối ấy, học theo sẽ khiến
người khác nghi ngờ, miệt thị cổ nhân, đâm ra cả mình
lẫn người cùng bị tổn hại! Thư ông viết cũng rất hữu
lý, nhưng Quang sự việc quá nhiều, không rảnh rang trình bày
rõ. Những lời thỉnh vấn nếu phù hợp bèn đáp, nếu không
hợp bèn bảo đi hỏi cao nhân khác. Như các cửa tiệm ngoài
chợ, mỗi tiệm có bán hàng hóa chuyên biệt: Hoặc chỉ một
món hàng mà có thể thông thương làm nước giàu, hưng gia
lập nghiệp; hoặc bán nhiều món hàng nhưng chẳng qua cũng
chỉ nhằm để thông thương, nước giàu, hưng gia, lập nghiệp
mà thôi.
Chúng
tôi đã chẳng dựng đại pháp tràng, nhặt cơm thừa canh cặn
bị vất bỏ ở cửa nhà trưởng giả đại phú để tự nuôi
thân; nếu ai chẳng nề hà hôi chua bèn chẳng ngại chuyền
tay trao lại. Nếu không, hãy cứ mặc lòng lấy gan rồng tủy
phượng để tự bồi bổ, há có nên nói “tặng hết cho
mọi người, khiến cho ai nấy đều hưởng thứ cơm thừa
canh cặn của ta mới đẹp dạ mình” ư? Ở chợ, nếu cửa
hàng chuyên bán một thứ luôn luôn phát đạt thì kẻ bán
nhiều mặt hàng cũng sẽ trích vốn [để buôn mặt hàng đó].
Sao riêng chuyện hoằng pháp lợi sanh lại chẳng giống như
thế? Ngàn căn cơ đều cùng dạy chính là lý do xuất thế
của Như Lai. Như Lai giáng tích thị hiện làm thiện tri thức,
cũng chẳng lấy đó làm chuẩn. Tôi pháp gì cũng chẳng thông,
chỉ chịu niệm Phật thì cũng có thể cậy vào đó để liễu
sanh tử; tôi cũng chẳng thẹn vì mình không thông, chỉ thẹn
mình ngôn hạnh không tương ứng, hữu danh vô thực mà thôi!
48.
Thư trả lời cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ sáu)
Giấc mộng tốt lành kỳ lạ, đặc biệt, ắt có con quý xuất
loại bạt tụy nối dòng thư hương, kế nghiệp tổ tông,
do Phật, trời ban cho. Lòng vui mừng, an ủi khôn cầm, chúc
mừng, chúc mừng! Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh
đều có đủ đức tướng, trí huệ của Như Lai, nhưng do
vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc”.
Do vậy, biết trí huệ, đức tướng chúng sanh và Phật giống
nhau. Ấy chính là Tánh Đức! Do có vọng tưởng, chấp trước
và lìa vọng tưởng, chấp trước nên chúng sanh và Phật khác
hẳn nhau. Đấy chính là Tu Đức vậy.
Tu
Đức có thuận, có nghịch. Tu thuận theo tánh thì càng tu càng
gần, tu đến cùng cực bèn chứng triệt để, tuy chứng nhưng
trọn chẳng được điều gì! Tu nghịch với tánh thì càng
tu càng xa, tu đến cùng cực bèn vĩnh viễn đọa trong ác đạo,
đọa nhưng trọn chẳng mất gì. Hiểu rõ điều này thì kẻ
ngu có thể là hiền, kẻ hiền có thể là ngu, kẻ thọ bị
chết yểu, kẻ chết yểu được sống thọ, phú quý, bần
tiện, con cháu đầy đàn hay tuyệt diệt, mỗi chuyện đều
có thể tự mình làm chủ, có chỗ nương tựa có thể thành
không nơi nương tựa, không nơi nương tựa có thể thành có
nơi nương tựa; như núi cao không lên được, con người không
có cách nào thì cũng chẳng ngại đục vách núi xếp bậc
rồi cũng lên thẳng được chót đảnh. Con người xưa nay
không biết đến nghĩa lý “tùy tâm tạo nghiệp, tùy tâm
chuyển nghiệp”; bao nhiêu kẻ đại thông minh, đại học
vấn trở thành bỏ sạch mọi công trước, lại còn di hại
bao kiếp!
Nếu
chẳng tu đức thì thân dù giàu trùm thiên hạ, quý như thiên
tử, hoặc quan vị cao cùng cực, thanh thế lừng lẫy như địa
vị tể tướng, phụ thần, có hay không những kẻ ngay trong
đời này thân bị giết, nhà tan cửa nát? Như vậy những
gì thân mình tự có được đều chẳng thể nương cậy được!
Viên Liễu Phàm khá hiểu nghĩa này, nên coi hết thảy những
gì mình được hưởng thụ không gì chẳng phải do nhân trước
định sẵn! Thế tục thường gọi “tiền nhân” là trời,
“thiên định thắng nhân” nghĩa là khó chuyển được cái
nhân trước! Nhân định cũng có thể thắng được trời nghĩa
là tu trì chống lại nghiệp thì nhân trước chẳng đáng nương
cậy! Tức là dùng cái nhân hiện tại làm nhân để tiêu diệt
cái nhân trước. Nếu mặc tình làm càn thì sẽ trở thành
trái ngược lại. Hiểu điều này thì kẻ ngu sẽ thành hiền,
kẻ dở tệ, tầm thường sẽ thành siêu quần, bạt tụy;
đều do chính mình giữ cái lòng tu đức và tùy thời khéo
dạy mà thôi! Há chẳng nên nỗ lực tài bồi ngõ hầu giấc
mộng tốt đẹp trở nên có căn cứ hay sao?
49.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ bảy)
Nhất Hạnh Cư Tập[28] nét chữ khắc quá nhỏ, in tạm mấy
ngàn bộ, là do các vị Úy Như v.v… không chăm sóc tử tế.
Bản in được duyệt sửa khá tinh tế, không thấy sai ngoa.
Sách này quả thật là đại hộ vệ cho Tịnh tông, nhưng cũng
có chỗ có thể làm cho người khác mắc bệnh. Nay tôi không
thể không bảo cho ông biết, những người khác cũng do đây
mà hiểu đại lược. Nhị Lâm cư sĩ (Bành Tế Thanh) rất
tin vào cầu cơ, những lời giáng cơ được ông chép lại
rất phù hợp với giáo pháp. Nếu chịu hành trì theo đó ắt
được đại lợi ích. Nhưng thời thế khi ấy khác, thời
này lại khác! Nếu chấp rằng lời giáng cơ ắt đều phù
hợp với giáo pháp nhà Phật, đều có thể nương theo những
lời ấy ắt sẽ mắc lỗi do cầu cơ bèn nghịch giáo. Những
kẻ giáng cơ đa số là linh quỷ, chân tiên rất ít! Dẫu chân
tiên đi nữa, há có thể hơn được chư Phật, chư Tổ ư?
Chớ nên viện cớ “Nhị Lâm cư sĩ còn tin vào lời giáng
cơ, lẽ nào chúng ta dám chẳng không tin!” thì là lầm lạc
quá lắm!
Trong
sách ấy có lời Bạt ghi Thiền Tông Bí Mật Liễu Nghĩa kinh
do chính Phật đã nói. Ông Nhị Lâm chưa mở mang Sai Biệt
Trí, nên tạo thành đầu mối bịa đặt bừa bãi cho người
đời sau. Kinh này ở chùa Pháp Vũ trước kia cũng có một
bản, Quang đã từng đọc qua; lời lẽ thật sự không có
lỗi lầm gì, nhưng toàn là những câu trích từ các kinh Lăng
Nghiêm, Hoa Nghiêm, Viên Giác, Kim Cang…và Lục Tổ Đàn Kinh,
cũng như những câu dung hội hai tông Thiền - Tịnh trong Tịnh
tông ghép thành. Bậc thông gia xem thấy cố nhiên được lợi
ích, còn kẻ không thông suốt dùng chuyện này làm chuẩn để
đánh giá mọi lời giáng cơ thì trật rồi. Do vậy, Quang bèn
đốt đi để diệt mối hại. Nhị Lâm đem sách ấy giảo
chánh, in lại; đó là vì trí của Nhị Lâm chỉ biết đến
mặt lợi ích, không biết sách sẽ gây ra mối tệ vô cùng:
Mai sau có những kẻ biến tà thuyết thành chánh giáo đều
sẽ dùng lời Bạt ấy để xướng xuất. Nếu Ấn Quang khắc
in sách ấy sẽ trọn chẳng khắc lời Bạt ấy. Lưu thông
Phật pháp chẳng phải là chuyện nhỏ nhặt, há chẳng nên
cẩn thận từ đầu ư?
Tôi
là người ngoài cõi đời, cần gì phải mừng Tết, mừng
thọ? Năm Dương Lịch đã hết, cần gì phải gởi thiệp chúc
mừng? Há chẳng phải là vô sự bèn sanh sự? Dẫu hết năm
Âm Lịch cũng chẳng cần phải ăn mừng. Thói tục phù phiếm
nhân tình thế gian ấy nếu có nhân duyên tiện dịp bèn đề
vài câu còn được, chứ riêng vì lẽ mừng tuổi bèn từ
xa vài ngàn dặm gởi đến một phong thư thì chẳng bằng lắng
lòng, giảm việc có hay hơn không?
50.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ tám)
Nhận được thư, biết ông trong cơn bệnh nhờ sức Tam Bảo
biến hiểm thành lành, mới biết sanh tử trắng tay; nếu không
thâm nhập một môn sẽ chẳng làm được gì. Nhân nghiên cứu,
đọc các sách Tịnh tông mới biết Di Đà vì ta phát nguyện,
lập hạnh để mong thành Phật. Ta do trái nghịch Di Đà hạnh
nguyện nên bao kiếp dài lâu thường luân hồi lục đạo,
vĩnh viễn làm chúng sanh. Hiểu rõ Di Đà là Phật trong tâm
ta, ta là chúng sanh trong tâm Di Đà. Đã là một mà phàm và
thánh khác nhau một trời một vực là vì ta một mực mê trái
nên mới thành ra nông nỗi ấy. Tín tâm như thế mới là chân
tín. Từ tín tâm này, phát ra cái nguyện quyết định vãng
sanh, hành cái hạnh quyết định niệm Phật, ngõ hầu thâm
nhập pháp giới Tịnh Độ, thành tựu ngay trong một đời,
siêu nhập thẳng vào Như Lai địa như mẹ con gặp gỡ, vui
sướng vĩnh viễn.
Tuy
nhiên, biết không khó, làm được mới khó. Trong đời có
hạng người nói xuông, khoe mẽ[29] nghe được lý “tâm, Phật,
chúng sanh cả ba không sai biệt”, hoặc do duyệt Giáo tham
Tông ngộ được lý ấy, bèn nói: “Ta đã giống hệt Phật
thì tu hay chứng còn có ích gì”, bèn buông tâm phóng ý trong
hết thảy cảnh duyên, lầm lạc bảo: “Sáu trần chính là
giác, tham - sân - si chính là Giới - Định - Huệ, cần gì
phải chế tâm nhiếp thân, không dây tự trói?” Loại kiến
giải này hèn kém nhất, chính là chấp Lý phế Sự, bác không
nhân quả, như dùng bánh vẽ để khỏi đói, xây nhà trên
không, tự lầm, lầm người, tội há thể cùng tận nổi?
Do thiện nhân chuốc lấy ác quả, tam thế chư Phật gọi kẻ
ấy là “hạng đáng thương xót”. Ông nên nương vào lý
tâm Phật, nhân quả bất nhị này để thiết thực tu trì
tín nguyện hành pháp thì vãng sanh sẽ có ngày, có hy vọng
thành Phật, may mắn lắm thay!
Bài
tựa Thiền Tông Bí Mật Liễu Nghĩa Kinh nơi sách Nhất Hạnh
Cư Tập tôi đã nói với ông Úy Như rồi, ông ta viết thư
trả lời: “Ông ta chưa hề thấy kinh ấy, nên lúc khắc đã
sơ ý bỏ qua, sẽ bỏ bài tựa ấy đi, ngõ hầu khỏi tạo
nên nghi ngờ, lầm lạc”. Tôi lại bảo khắc chữ to hơn,
hòng [sử dụng bản gỗ khắc] in được nhiều lần hơn; ông
ta cũng cho biết đã bảo thợ khắc chữ to hơn, lại còn cho
biết trong đầu tháng Hai sẽ lên miền Bắc. Quang cũng chẳng
hỏi ông ta đã trở lại làm việc cho chính quyền hay chưa?
Ở Bắc Kinh hiện đang lập xưởng in kinh, nếu Úy Như không
chăm sóc sẽ không xong. Toa thuốc cữ hút thuốc phiện[30]
truyền xa bốn phương, ai nương theo đó cữ thuốc, khi dùng
hết thuốc bệnh bèn lành, quả thật là thần phương (bài
thuốc tuyệt hay).
Như
Lai thuyết pháp vốn thích ứng căn cơ, vì thế mới có chuyện
vì Thật bày ra Quyền, khai Quyền hiển Thật, năm thời ban
bố giáo pháp. Lại vì cậy vào Tự Lực để liễu thoát thì
khó khăn, cậy vào Phật Lực để liễu thoát thì dễ dàng;
lại thêm chúng sanh đời Mạt căn cơ hèn kém; do vậy, Phật
đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ, ngõ hầu ba căn thượng,
trung, hạ cùng được lợi ích, cùng chứng Bất Thoái. Đời
có kẻ ham cao chuộng xa, chẳng xét thời cơ, thường dạy
người tu tập những pháp đa phần chẳng thể khế ngộ, ý
họ tuy rất tốt lành, nhưng ước về Giáo lại chẳng thể
thích hợp căn cơ, nên dùng sức nhiều lại được lợi ích
ít ỏi!
51.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ chín)
Thư ông gởi đến khá hợp thuyết Chuyên Tu của ngài Thiện
Đạo, lại còn khế ngộ người căn cơ tầm thường, hèn
kém. Rất vui! Chúng sanh mỗi người tập khí sai khác, mỗi
người thiên về một chỗ. Kẻ ngu thiên về hèn kém, tầm
thường, bậc trí thiên nơi cao thượng. Nếu kẻ ngu yên chịu
phận ngu, chẳng dụng tâm tạp loạn, chuyên tu Tịnh nghiệp
thì ngay trong đời này quyết định được vãng sanh, có thể
nói là không ai sánh kịp kẻ ngu ấy. Nếu người trí chẳng
cậy vào trí, vẫn cứ theo đuổi một môn cậy vào Phật từ
lực, cầu sanh Tịnh Độ, thì có thể nói là “đại trí”.
Nếu ỷ vào kiến giải của chính mình, miệt thị Tịnh Độ
sẽ thấy từ kiếp này sang kiếp khác trầm luân ác đạo,
có muốn được bén gót những gã ngu trong hiện thời cũng
hoàn toàn chẳng thể được!
Tôi
thật sự yêu mến, hâm mộ những kẻ hiểu sâu xa Tánh, Tướng,
Tông, Giáo kia, nhưng chẳng dám thuận theo. Vì sao? Dây ngắn
chẳng kéo được nước sâu, giấy nhỏ không thể bọc rộng,
nguyên do là vậy! Chứ không phải là hết thảy mọi người
đều phải bắt chước việc tôi làm. Nếu cũng hèn kém giống
như tôi mà muốn học theo hành vi của bậc đại thông gia,
muốn diệu ngộ ngay tự tâm, xem đọc biển giáo, tôi sợ
chẳng thể thành bậc đại thông gia; trái lại còn bị hạng
ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật vãng sanh Tây Phương thương
xót! Há chẳng phải là quá khéo biến thành vụng to, bay lên
không lại rớt xuống vực sâu ư? Một lời bao trùm hết:
Phải tự xét kỹ căn cơ của chính mình mà thôi! Chúng ta
chỉ nên an phận chịu ngu, mặc cho người khắp cõi đời
đều là bậc thông gia, chỉ mong Phật pháp được rực sáng
trong đời, chúng sanh đều được độ thoát mà thôi, còn
gì sướng hơn! Cũng mong ông đem lời này bảo với Sư Thọ.
Thầy Hoằng Nhất muốn lánh vào ở trong núi sâu, đáng gọi
là bậc có lòng tin sốt sắng, chân tu, tôi vui mừng vô lượng!
52.
Trả lời thư cư sĩ Châu Quần Tranh ở Vĩnh Gia
Lời ông nói khá có đạo lý, tôi cảm thấy an ủi lắm! Đại
sự sanh tử cần phải lo liệu sẵn! Nếu đợi đến lúc ra
đi mới tu chỉ sợ bị nghiệp lực đoạt mất! Bế phương
tiện quan, cự tuyệt những sự duyên không cấp bách: Rất
hữu ích! Ông La Đài Sơn[31] không vãng sanh mà đọa vào chỗ
phước báo là vì tập khí văn tự quá nặng! Tập khí ấy
đã nặng thì dù bảo là niệm Phật, nhưng thật ra niệm niệm
luôn đặt nơi công phu văn tự, công phu niệm Phật chỉ là
duy trì bên ngoài mà thôi. Đấy là căn bệnh chung của văn
nhân, không riêng gì La Đài Sơn! Phật bảo Thế Trí Biện
Thông là một trong tám nạn chính vì lẽ này.
Niệm
Phật muốn được nhất tâm, ắt phải phát tâm chân thật
vì liễu sanh tử, chẳng vì để được cái danh người đời
gọi ta là “kẻ chân thật tu hành”. Lúc niệm phải từng
chữ, từng câu từ tâm phát khởi, từ miệng thốt ra, lọt
vào tai, một câu như thế, trăm ngàn vạn câu cũng như thế.
Làm được như vậy thì vọng niệm không do đâu khởi được,
tâm và Phật tự có thể khế hợp! Lại phải khéo dụng tâm,
chớ chấp trước quá mức đến nỗi thân tâm chẳng yên,
hoặc đến nỗi khởi các ma sự. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối, hành theo đó, quyết chẳng bị lầm lạc
đi vào đường rẽ.
Không
biết Liễu Phàm Tứ Huấn [ông nhắc đến trong thư] là bản
chép từ An Sĩ Toàn Thư hay bản được lưu thông riêng. Quang
thấy trong một bản đang được lưu thông, thiên Tích Thiện
khuyết mười điều sự tích nhân quả. Nếu muốn in, nên
đem so với bản được chép sau cuốn An Sĩ Toàn Thư, hễ thiếu
bèn bổ sung, hễ sai bèn sửa, khuyết thì thêm vào. Lời tựa
đến hơn một ngàn chữ, ý nghĩa chấp nhận được, nhưng
văn từ chẳng thông suốt, Quang vốn muốn phát huy những ý
chỉ chưa được thông suốt của Liễu Phàm Tứ Huấn, ý nghĩa
bị ngôn từ gây trở ngại nên rốt cuộc chưa được phát
minh, nhưng đặt bài tựa ấy nơi đầu sách cũng có cái lợi
nhỏ là có thể dùng để tham khảo, làm chứng lẫn nhau.
Lại
nữa, cái chí muốn được thấy Phật trong hiện tại có thể
nói là chân thiết, nhưng sự này há phải dễ dàng! Nên lấy
“nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” để cầu
nhất tâm bất loạn làm điều chánh yếu quyết định. Trước
khi chưa được nhất tâm, trọn chẳng nên manh nha ý niệm
thấy Phật. Hễ được nhất tâm thì tâm hợp với đạo,
tâm hợp với Phật, muốn thấy liền thấy ngay, không thấy
cũng không trở ngại gì! Nếu muốn gấp thấy Phật, tâm niệm
lăng xăng, cái ý niệm muốn thấy Phật cố kết trong bụng
dạ, trở thành căn bệnh lớn cho việc tu hành. Lâu ngày, oan
gia nhiều đời nương theo cái tình tưởng vọng động ấy
hiện thành thân Phật hầu báo túc oán. Tự mình tâm không
chánh kiến, toàn thể là khí phận ma. Hễ thấy bèn sanh hoan
hỷ, từ đấy ma nhập vào tâm tạng, bị ma dựa phát cuồng.
Dẫu có Phật sống cũng chẳng biết làm sao được!
Chỉ
nên nhất tâm, nào cần phải tính sẵn có thấy Phật hay không?
Nhất tâm rồi sẽ tự biết tốt - xấu! Khi không thấy đã
tăng tiến công phu, thì khi được thấy, lại càng phải lắng
lòng chuyên tu, trọn chẳng mắc lỗi hiểu lầm, chỉ có lợi
ích thắng tấn. Người thế gian không hiểu lý, vừa có chút
tu trì đã ôm lòng mong mỏi quá phận. Ví như mài gương, nếu
hết bụi nhơ quang minh quyết định tỏa lộ chiếu trời soi
đất. Nếu chẳng tận lực mài gương, chỉ mong gương tỏa
sáng, toàn thể gương là cấu uế thì nếu có quang minh cũng
chỉ là ánh sáng quỷ quái, chứ không phải là ánh sáng của
gương. Quang sợ ông không khéo dụng tâm đến nỗi tự mình
đánh mất lợi lành, lui sụt tín tâm của người khác, nên
mới viết thêm. Ngài Vĩnh Minh nói: “Chỉ được thấy Di
Đà, lo gì không khai ngộ”. Nay tôi cũng bắt chước nối
đuôi rằng: “Chỉ cầu tâm bất loạn, chẳng kể thấy, không
thấy!” Biết vậy hãy dốc sức nơi đạo tâm hợp với Phật
vậy!
53.
Trả lời thư sư Hoằng Nhất
Nhận được thư biết Sư phát đại Bồ Đề tâm, thề chứng
Niệm Phật tam-muội, định kỳ yểm quan hầu thỏa đại nguyện
ấy. Quang đọc xong khôn ngăn hoan hỷ, còn như Sư xin lời
huấn thị tối hậu, Quang nào dám nhận, nhưng há chẳng nên
đem hết lòng ngu thành của mình dâng lên hay sao? Tuy đã biết
tọa hạ dùng cách nói ràng buộc ấy, nhưng bằng hữu qua
lại, giàu - nghèo đều trọn phận, không riêng gì trí hay
ngu đều chẳng như thế! Chỉ tận tấm lòng ngu thành mà thôi,
chẳng kể người khác có dùng được hay không!
Trộm
thưa: Tâm ấy của tọa hạ thuộc tâm chẳng thể nghĩ bàn,
nhưng trong lúc bế quan dụng công nên lấy chuyên tinh bất
nhị làm chánh. Nếu tâm thật sự chuyên nhất sẽ tự có
cảm thông chẳng thể nghĩ bàn. Lúc chưa được nhất tâm,
chớ nên vọng động cầu được cảm thông trước. Nhất
tâm rồi quyết định có cảm thông. Cảm thông thì tâm càng
tinh nhất. Đó gọi là gương sáng đặt trên đài gặp hình
liền hiện bóng, hình tự lăng xăng, can chi đến mình! Chưa
nhất tâm mà cầu cảm thông thì cái tâm cầu cảm thông ấy
bèn trở thành đại chướng bậc nhất cho việc tu đạo. Huống
chi vọng động mong mỏi chuyện phi thường rất có thể khiến
cho ma sự khởi, phá hoại tịnh tâm. Ngài Đại Thế Chí nói:
“Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc tam-ma-địa,
ấy là bậc nhất”. Dám vì tọa hạ trình bày!
54.
Trả lời thư cư sĩ Vưu Tích Âm ở Vô Tích
Cư sĩ vô ngã, thích học hỏi, nhưng mắc lỗi hiểu lầm ý
Quang, nên đầu thư gọi Quang là “sư tôn”, không dùng bốn
chữ “Ấn Quang pháp sư” khiến cho Ấn Quang và bản thân
cư sĩ đều bất an. Ấn Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm
cháo, xưng là “pháp sư” thì đã quá phận cùng cực rồi!
Dẫu là xưng hô chung chung thông thường cũng chẳng nên gọi
như vậy. Nếu như không gọi tên, lại gọi là “sư tôn”
thì quả thật đã mất đi cái đạo chánh danh giao hữu vậy;
lần sau chớ dùng cách xưng hô sáo rỗng ấy. Còn như ký tên,
cổ kim thông dụng, phàm với những người ngang hàng đều
nên ghi như thế, chứ không phải chỉ đối trước bậc đáng
tôn trọng mới dùng từ ngữ “hòa nam[32] đảnh lễ” v.v…
Nay lễ giáo bị tước bỏ, phàm người nghiên cứu học Phật
gởi thư cho tri thức đa phần hay dùng những câu như “chắp
mười ngón tay kính cẩn thưa lên”, nhưng chẳng chịu kém
cạnh tí nào.
Vua
Vũ lạy và nhận lời nói hay, Tử Hạ mù mắt oán trời, bị
Tăng Tử quở trách, còn quăng gậy lễ tạ. Người ngang hàng
với mình có một lời dạy dỗ mình, đều phải cúi mình
lễ tạ. Như nay đi tới chỗ ngõ rẽ, không thể quyết đoán
[nên đi đường nào], muốn hỏi người ta còn phải chắp
tay, huống chi muốn được giúp đỡ về đại sự liễu sanh
tử lại dùng cung cách chào nhau ngoài đường để tiếp nhận
thì là khinh pháp vậy! Khinh pháp sẽ chẳng thể được lợi
ích thật sự nơi pháp. Xưa kia, Cổ Linh Tán thiền sư sau khi
đại ngộ, muốn báo ân thầy thế độ bèn nhiều phen khơi
gợi. Thầy Ngài lấy làm lạ, bảo hãy vì mình tuyên nói,
Ngài bảo: “Nên bày pháp tọa”, bảo thầy đón mình lên
tòa lễ bái, rồi mới nói sau. Thầy Ngài tuân theo, ngay trong
lúc Ngài đang nói, vị thầy ấy bèn đại ngộ. Nếu Cổ Linh
chẳng trọng pháp như thế, và vị thầy chẳng trọng người
đắc pháp như thế, đừng bảo là không nói, dù có nói cũng
chỉ là tri kiến văn tự mà thôi, quyết chẳng thể ngay trong
một lời bèn minh bạch bổn tâm.
Sách
Luận Ngữ nói: “Chẳng hạ thấp hơn người khác thật sâu,
chẳng được lẽ chân”. Như Lai diệt độ, chỉ còn kinh
tượng tồn tại. Nếu coi tượng bằng đất, gỗ, vàng, sơn
vẽ v.v… là Phật thật sẽ diệt được nghiệp chướng,
phá phiền hoặc, chứng tam-muội xuất sanh tử. Nếu coi là
đất, gỗ, vàng, sơn vẽ v.v... thì chỉ là đất, gỗ, vàng,
sơn vẽ mà thôi; khinh nhờn đất, gỗ, vàng, sơn vẽ thì không
mắc lỗi gì. Nếu khinh nhờn tượng Phật bằng đất, gỗ,
vàng sơn vẽ thì tội ngập trời. Đọc tụng kinh Phật, lời
Tổ phải nghĩ Phật, Tổ đang hiện diện đích thân nói cho
chúng ta, chẳng dám manh nha ý niệm lười nhác, coi thường.
Tôi nói người làm được như thế ắt được vãng sanh, cao
đăng phẩm vị, chứng ngộ triệt để Nhất Chân. Nếu không,
bèn là đùa cợt với pháp môn, được lợi ích bất quá là
thấy nhiều, biết nhiều, nói trơn tru, chẳng được thọ
dụng thật sự mảy may gì, chỉ thành chuyện nghe lỏm nói
mò!
Đối
với Tam Bảo, cổ nhân luôn giữ lòng kính trọng thật sự,
chẳng phù phiếm bàn xuông! Người bây giờ ngay một chữ
“khuất” còn không nói được, huống gì thực hành? Xưa
kia, Thanh Thế Tổ Chương Hoàng Đế (Thuận Trị) bái ngài
Ngọc Lâm Thông Tú[33] thiền sư làm thầy, còn muốn xin được
đặt cho một pháp danh. Ngài Thông Tú nói: “Đế vương cần
gì phải dùng đến thứ này!” Vua không chịu, xin được
đặt cho một cái tên xấu xí. Ngọc Lâm liền viết hơn mười
chữ xấu xí cho nhà vua tự chọn, vua bèn chọn lấy chữ Si.
Thiền phái ấy đến đời vua là chữ Hành, nên vua có pháp
danh là Hành Si. Phàm mỗi khi vua viết thư cho đệ tử ngài
Ngọc Lâm đều ký tên là “pháp đệ Hành Si hòa-nam”. Khai
quốc hoàng đế còn tự khuất mình như thế. Nếu người
đời nay suy xét, trước hết phải phạt tội, rồi mới vấn
pháp thì mới hợp cách thức. Nếu không, dân thường không
còn là dân thường, hoàng đế không còn là hoàng đế!
Đối
với Phật học, Quang không đạt được điều gì, như kẻ
mù đối trước ngũ sắc, như kẻ điếc nghe ngũ thanh, trọn
chẳng biết tiếng như thế nào, màu sắc ra sao! Nhưng đối
với sự phương diện chú trọng lòng kính, gìn giữ lòng thành,
tôi nguyện dốc hết lòng ngu thành, để trọn vẹn cái lợi
ích nhỏ nhoi đá nơi núi khác[34]. Đã là tâm giao hãy nên
bỏ đi những trò phiền toái.
55.
Thư dự định trả lời vị cư sĩ X…
Đính
kèm thư của vị cư sĩ ấy:
Bỉ nhân là tín đồ Tịnh Độ, đã quyết định phụng hành,
nhưng với hai chữ “nguyện, hạnh” còn phải xin chỉ dạy:
Nguyện và hạnh là hai thứ vận dụng riêng biệt hay là phải
cùng vận dụng?
1) Nếu bảo là [vận dụng] hai thứ [riêng biệt] thì lúc niệm
Phật trước hết phải phát nguyện cầu sanh như bài Thập
Niệm Cầu Sanh Văn của ngài Từ Vân rồi mới niệm. Chỉ
lúc niệm Phật mới giữ ý chỉ “ngoài tâm không Phật, ngoài
Phật không tâm”, tâm và miệng như một, cứ như thế mà
niệm mãi. Trong mỗi niệm chỉ giữ ý niệm ấy, cũng chẳng
có ý nguyện cầu sanh. Niệm theo cách như thế thì đều vãng
sanh thượng phẩm. Đây là chiếu theo lời của Triệt Ngộ
thiền sư.
2) Nếu nói phải vận dụng cả Nguyện lẫn Hạnh cùng một
lúc thì lúc niệm Phật mỗi tiếng như trẻ nhỏ té xuống
nước gấp gáp gọi mẹ đến cứu. Đây là thuyết của ngài
Ngọc Phong thiền sư ở Hàng Châu. Lại như Kiên Mật[35] đại
sư nói: “Sáu chữ hồng danh trong mỗi một niệm có đủ
cả ưa thích và nhàm chán”, cũng giống với thuyết của
ngài Ngọc Phong[36].
Trong
hai thuyết trên, theo thuyết thứ nhất thì trong lúc niệm Phật
tợ hồ thiếu ý khẩn thiết, Ngẫu Ích đại sư từng nói:
“Cầu sanh Tịnh Độ hoàn toàn dựa vào tín nguyện. Nếu
không có tín nguyện dẫu niệm đến mức gió thổi chẳng
lọt, mưa chẳng ướt được như tường bạc vách sắt, cũng
không thể được vãng sanh”. Như vậy dù có niệm được
nhất tâm bất loạn, sợ rằng vẫn chưa được mười phần
ổn thỏa, thích đáng! Theo như thuyết thứ hai, lúc niệm Phật
có đủ cả hạnh lẫn nguyện, nhưng trong mỗi niệm, trong
tâm thường còn chứa một nguyện, e rằng đối với nhất
tâm bất loạn chẳng thuần. Gần đây vị sư… ở Hàng Châu
cũng lo ngại về chuyện không thể kiêm nguyện và không thể
không kiêm nguyện [như tôi]. Ngài Ngọc Phong có thí dụ dụng
binh, kẻ mạt học độn căn chưa hiểu rõ rốt ráo, mong bậc
cao hiền ắt có lời bàn luận xác đáng để làm bến bờ
cho hàng hậu học.
Pháp
môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông, như
ba chân của cái đỉnh, khuyết một chẳng thể được. Các
hạ đã dốc chí tu Tịnh nghiệp thì một chữ Tín ắt đã
đảm đương trọn vẹn, rốt ráo không nghi. Đối với hai
pháp Nguyện và Hạnh vẫn còn có chấp trước hai thứ đối
đãi như thế, chẳng thể dung hội quán thông đến nỗi đối
với pháp viên dung vô ngại, sanh khởi nhiều chướng ngại,
để rồi ánh trăng viên mãn muôn hào quang chiếu khắp của
ba vị đại sư Triệt Ngộ, Kiên Mật, Ngẫu Ích chỉ vì một
sợi tơ nơi mắt mình bèn thành phân cách. Tiếc thay!
Nay
tôi bảo người thật sự niệm Phật thì lúc niệm Phật ba
thứ Tín - Nguyện - Hạnh đều toàn thể đầy đủ như con
nhớ mẹ, không hề có chuyện gián đoạn và cũng không có
ý niệm hồ nghi chẳng tin và chẳng mong thấy mẹ! Ông nói
đến chuyện “cùng vận dụng” hay “vận dụng riêng rẽ”,
cho rằng “hễ có Nguyện thì nhất tâm chẳng thuần”. Chúng
vốn là một, sao lại trên đầu chồng thêm đầu rồi lo ngại
“chẳng thể kiêm” và “chẳng thể không kiêm”? Xem những
gì các hạ đã nói và lời bàn luận của vị Tăng nọ quả
thật là chưa thể thật sự theo đuổi [Tịnh nghiệp], ấy
chính là trước lúc chưa cất bước đã lo bàn cảnh tượng
khi về đến nhà. Vì thế, đối với pháp ngôn đối trị
phân biệt của cổ nhân nẩy sanh đủ mọi phân biệt. Thử
hỏi: “Ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”, nếu
chẳng khẩn thiết có làm được như thế hay chăng? Không
tín nguyện có làm được như vậy hay chăng? Lời của hai
vị Triệt Ngộ và Kiên Mật tuy khác nhau, nhưng ý nghĩa thật
sự hỗ trợ, hoàn thành lẫn nhau.
Ông
nghĩ có chuyện “cùng vận dụng” và “vận dụng riêng
rẽ” thì có thể nói là thiếu con mắt chọn lựa pháp. Còn
lời ngài Ngẫu Ích nói chính là pháp dược cho hạng dựa
dẫm Tông Môn, niệm tự tánh Di Đà, sanh duy tâm Tịnh Độ,
và những kẻ chẳng y theo tông chỉ Tịnh Độ để tu, chỉ
lấy chuyện “niệm đến nhất tâm bất loạn” làm cùng
cực rốt ráo. Sao lại dẫn chuyện ngoài cửa Tịnh tông để
so sánh với chuyện chân tu tín nguyện đầy đủ đến nỗi
đường lối bị lộn xộn! Đây là nói chung trên mặt Lý.
Nếu
luận riêng theo Sự thì sớm tối lúc niệm Phật xong (pháp
Thập Niệm buổi sáng thì cũng niệm Phật trước, phát nguyện
sau) có thể dùng bài Tiểu Tịnh Độ Văn. Nếu thân tâm rảnh
rang nên dùng bài Tân Định Tịnh Độ Văn của Liên Trì đại
sư [để hồi hướng]. Bài này ngôn từ lẫn nghĩa lý đều
châu đáo, đứng đầu cổ kim. Nên biết: Phát nguyện đọc
văn thì phải nương theo văn để phát nguyện, không phải
cứ đọc văn hồi hướng một lượt là đã phát nguyện đâu
nhé! Ngoại trừ sáng tối phát nguyện ra, trong hết thảy thời
chỉ chí thành khẩn thiết niệm Phật là được rồi!
56.
Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên
Nam Ngũ Đài Sơn, một ngàn ba trăm năm trước đây, Quán Thế
Âm Bồ Tát hiện thân tỳ-kheo hàng phục rồng độc ở đó[37],
đáng gọi là đạo tràng cổ. Nơi ấy cũng là chỗ bắt nguồn
trung hưng Liên Tông của vị tổ Liên Tông thứ tám: Vân Thê
Liên Trì đại sư. Thời Gia Tĩnh (1522-1566) nhà Minh, có lão
hòa thượng Tánh Thiên Văn Lý ẩn cư trên động Vô Môn của
núi này. Sau này, do Ngài vân du đến Hàng Châu, trụ tại Tây
Sơn Hoàng Long Am, Liên Trì đại sư ngưỡng mộ đạo phong
của Ngài, cùng với phu nhân họ Thang quy y dưới tòa. Không
đầy hai, ba năm sau, lại theo Ngài xuất gia. Nếu vị này không
có đạo đức lỗi lạc, sao có thể khiến cho đại sư là
một bậc quân tử bác học, văn chương lỗi lạc, chú trọng
thực tiễn, đức hạnh sung mãn chịu khuất thân dưới tòa,
thủy chung y chỉ làm đệ tử? Sau khi đại sư xuất gia, lão
nhân lại quay về Quan Trung (Thiểm Tây). Đại sư chí hâm mộ
tham học rộng khắp nên không thể theo hầu.
Đạo
pháp ở Quan Trung sau thời Càn Long ngày càng suy vi, bậc hiền
triết mất đi, sách vở truyện ký bị thất lạc, đến nỗi
lời hay hạnh đẹp của lão nhân không được lưu truyền
mãi mãi cho hậu thế, đáng cảm thán không cùng! Nhưng một
vị Tăng từ nơi khác lại có thể khiến cho ngài Liên Trì
quy y xuất gia thì có thể hình dung Ngài là người như thế
nào! Chuyện này có thể đọc từ bài minh nơi tháp của Liên
Trì đại sư trong bộ Vân Thê Pháp Vựng. [Bài kệ truyền
dòng của] phái này là:
Tông phước pháp đức nghĩa,
Phổ Hiền hạnh nguyện thâm,
Văn Thù quảng đại trí,
Thành Đẳng Chánh Giác quả[38].
Đại sư thuộc hàng chữ Thù, sau đổi thành chữ Châu. Vào
thời Hồng Vũ (1368-1398), có một vị cao tăng, vua Hồng Vũ
(Minh Thái Tổ) triệu kiến, rất sủng ái, đặc biệt dùng
chén ngọc đựng sữa ban cho Sư uống. Nhân đó, Sư làm thơ
tạ ơn, có câu:
Nhất trản quỳnh tương lai thù vực,
Cửu trùng ân đức tự thượng phương.
(Một chén quỳnh tương từ xứ lạ,
Phương trên ân đức chín tầng ban)
Vua
Hồng Vũ họ Châu[39] liền nghĩ: “Chữ Thù chính là “ngạt
châu”[40] (họ Châu xấu xa), Sư có ý mắng ta” liền ra lệnh
chém. Chém rồi, mới biết Sư không có ý mạ lỵ vua, nhưng
hối cũng không kịp. Đây là do sát nghiệp đời trước cảm
thành, lúc nghiệp lực hiện không thể tự chủ được. Sát
nghiệp khó tiêu như thế, chẳng kiêng dè ư? Trong các giới
của Như Lai đều lấy sát giới làm đầu, lòng từ bi sâu
xa rộng lớn đến cùng cực không gì hơn được nữa! Nhưng
ngu phu điên đảo, mê hoặc không biết cảm ân, trái lại
còn phỉ báng, tất nhiên từ kiếp này sang kiếp khác giết
hại lẫn nhau, chẳng đáng buồn ư?
Liên Trì đại sư do nguyên nhân ấy, bỏ bộ Ngạt 歹 trong
chữ Thù 殊, thay bằng bộ Y衣, nên trở thành chữ Châu 袾[41].
Thế gian không xem xét, thường viết sai chữ Châu 祩 với
bộ Thị 示, không hiểu nghĩa chữ, tâm khí thô phù, nên mới
sai như vậy, khiến cho cái đạo cẩn thận, tế nhị, dứt
mầm họa, chánh danh thuận ngôn của đại sư bị mai một,
tiếc thay!
Vô
Môn Động chính là Tương Tử Động ngày nay, nhớ xưa kia
còn có tên là Tương Tử Động, khi lão nhân (tức hòa thượng
Tánh Thiên Văn Lý) ngụ ở đó bèn đổi tên là Vô Môn Động.
Khi lão nhân mất đi, kẻ tăng người tục vô tri, không biết
ý nghĩa chữ Vô Môn, coi chuyện Hàn Tương Tử[42] thành tiên
mới là kỳ lạ nên vẫn gọi động ấy là Tương Tử Động.
Vì sao biết vậy? Nam Ngũ Đài Sơn không có động lớn để
ở được, cũng không có cái động nào tên là Vô Môn cả.
Chỉ có Tương Tử Động cao sâu rộng rãi, có thể ở được,
lại còn khuất sau núi, dưới vách đá treo, lại rất gần
dòng suối thánh, củi nước đều thuận tiện. Địa thế
lại còn hướng về phía Nam[43], Đông ấm, Hạ mát. Du khách,
tiều phu đều chẳng đến đó, thật là chỗ tối thắng để
tu tập. Từ thời Hàm Phong, Đồng Trị đến nay, binh lửa
liên miên, vì thế đã lâu không có ai ở.
Đến
đầu triều Quang Tự, các vị Pháp Nhẫn, Dã Khai v.v… chọn
ngụ nơi này, đến nay trở thành đại lan-nhã. Đạo do người
hoằng, đất do người mà linh, chẳng đáng tin ư? Gọi là
Vô Môn vì Đại Sĩ (Quán Thế Âm Bồ Tát) dùng đạo pháp
Phổ Môn độ thoát chúng sanh, lão nhân bắt chước Đại Sĩ
nên gọi nơi mình ở là Vô Môn, cũng lấy Lăng Già Phật ngữ
tâm làm tông, Vô Môn có nghĩa là pháp môn. Phải biết Vô
Môn chính là Phổ Môn. Bởi lẽ pháp nào, chuyện nào nếu
mê đều sẽ khởi Hoặc tạo nghiệp, còn ngộ thì đều có
thể đoạn Hoặc chứng chân. Vì thế, hai mươi lăm vị thánh
giả trong kinh Lăng Nghiêm đối với lục căn, lục trần, lục
thức, thất đại mỗi mỗi đều chứng viên thông. Do vậy,
không pháp nào không phải là diệu lý Tam Đế[44], mà cũng
không pháp nào chẳng khế hợp bí tạng tam đức. Do tất cả
đều là môn (cửa vào) nên không cần phải lập riêng một
môn, vì thế gọi là Vô Môn.
Cư
sĩ may mắn được ở núi này, rất có thể trước kia đã
được pháp nhuận của vị sư này thấm đến, hãy nên đem
ý nào trình bày rõ cùng vị tăng chủ ngôi chùa tranh để
ông ta biết rõ chuyện xưa của bậc cao nhân cũng như biết
tên gọi chân chánh sâu xa là gì, chẳng nên gọi chốn ấy
theo cái danh xuông do ngoại đạo truyền lại đến nỗi cái
tên chánh đáng trong nhà Phật bị mất đi.
Nhiếp
Thân Nham đỉnh ngọn chót vót, chớn chở, vách núi cao vạn
nhận[45], lên tận chót núi nhìn xuống, khôn ngăn run rẩy,
sợ hãi, thân tâm run sợ, vọng tưởng tiêu diệt, chánh niệm
tỏ ngời, chính là giống như ý câu kinh Lăng Nghiêm: “Nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Do thân là tên gọi
chung, sáu căn là chia ra từng hạng mục riêng, dùng chung để
thâu tóm riêng, nên chỗ này chỉ gọi là Nhiếp Thân mà thôi.
Sau này, triết nhân mất đi, sách vở truyện ký bị thất
lạc, tản mác, vô tri Tăng tục bèn gọi sai là Xả Thân. Sai
lầm truyền mãi, kh