Quyển
Thứ Nhất
(Phần
2)
20.
Thư gởi cư sĩ Tâm Nguyện
(viết
thay cho bạn)
Tâm là chủ của thân, là tông của muôn pháp. Thuận theo sẽ
mau thành Bồ Đề, trái nghịch ắt phải chìm mãi trong sanh
tử. Hết thảy chúng sanh mê trái bổn tâm, đuổi theo vọng
cảnh, khởi tham - sân - si, tạo giết - trộm - dâm, luân hồi
trong lục đạo, ngụp lặn trong tam giới, trải kiếp dài lâu
không thể xuất ly. Ông đã phát tâm quy y Tam Bảo, làm đệ
tử Phật, hãy nên phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện của Bồ Tát,
tự lợi, lợi tha.
Tứ Hoằng Thệ Nguyện là “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.
Phải biết Tứ Hoằng Thệ Nguyện này chính là thệ nguyện
gốc của hết thảy tam thế chư Phật. Hằng ngày, ông khởi
tâm động niệm phải hợp với nguyện này. Nếu hợp, hãy
mở rộng cho viên mãn. Nếu chẳng hợp, hãy đoạn trừ cho
sạch hết. Muốn lợi tha trước hết phải tự lợi. Nếu
chính mình không xuất sanh tử trước, sao có thể độ chúng
sanh thoát sanh tử? Ví như người đang chết chìm trong biển,
chẳng thể cứu người khác bị chết đuối trong biển. Như
Lai nói ra vô lượng vô biên pháp môn liễu sanh thoát tử,
chỉ có mỗi một pháp Tịnh Độ hạ thủ dễ dàng, thành
công cao, dùng sức ít, đạt hiệu quả nhanh. Nếu muốn thành
tựu ngay trong đời này mà bỏ pháp này sẽ chẳng có cách
nào cả!
Nói
đến pháp Tịnh Độ thì phải sanh tín, phát nguyện, niệm
A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu
quả thật tín nguyện chân thành, khẩn thiết, nhất tâm niệm
Phật, đến lúc lâm chung quyết định được Phật tiếp dẫn
vãng sanh cõi ấy. Đã được vãng sanh liền tạ từ xác phàm,
cao dự dòng thánh, thấy Phật, nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn,
thần thông, trí huệ chẳng thể nghĩ bàn! Rồi lại nương
theo bổn nguyện trở vào Sa Bà, dùng đủ mọi phương tiện
độ thoát chúng sanh, như Quán Thế Âm Bồ Tát: Nên dùng thân
nào để độ được bèn hiện thân ấy mà thuyết pháp, khiến
cho khắp hết thảy chúng sanh đồng thoát sanh tử, cùng thành
Phật đạo, rồi mới viên chứng tâm diệu Chân Như chính
mình sẵn đủ. Như thế mới là rốt ráo khế hợp Tứ Hoằng
Thệ Nguyện của Bồ Tát, với bốn mươi tám nguyện của
A Di Đà Phật và mười đại nguyện vương của Phổ Hiền
Bồ Tát. Ý nghĩa của Tâm Nguyện là như vậy. Nếu có thể
nhìn vào danh nghĩ đến ý nghĩa, ra sức thực hành thì có
thể gọi là bậc trượng phu lỗi lạc, sen mọc trong lửa,
là con thật sự của đức Như Lai, là đích tôn của Đại
Sĩ, hãy gắng lên, hãy cố lên!
21.
Thư gởi cư sĩ Vệ Cẩm Châu (ông này do nhà hàng xóm cháy
lan qua, nên nhà cửa, của cải mất sạch, vợ kinh hãi thành
bệnh, vì thế tâm thần mê loạn, như say, như cuồng)
Kinh Pháp Hoa dạy: “Ba cõi không yên, ví như nhà lửa. Các
khổ dẫy đầy, rất đáng kinh sợ”. Do trời muốn thành
tựu người nên có khổ, có vui, có nghịch, có thuận, có
họa, có phước, vốn không nhất định. Chỉ cần người
trong cuộc có con mắt thông suốt, khéo hiểu ý trời thì không
khổ, không vui, không nghịch, không thuận, không họa, không
phước vậy! Do vậy, quân tử vui theo mạng trời, trên chẳng
oán trời, dưới chẳng hận người, tùy ngộ nhi an, không
lúc nào không tự tại tiêu dao. Do vậy, “tố phú quý hành
hồ phú quý” (Tố có nghĩa là hiện tại, Hành có nghĩa là
thong dong, nhàn hưởng. Hễ giàu thời chu cấp kẻ bần cùng,
hễ quý hiển bèn tận trung với vua, yêu dân, tận bổn phận
phú quý. Ấy gọi là “tố phú quý hành hồ phú quý”), “tố
bần tiện hành hồ bần tiện” (nếu nhà không dư dật, thân
chưa làm quan thì giữ khí tiết thanh bần, chẳng dám làm bậy),
“tố di địch hành hồ di địch” (nếu tận trung mà bị
sàm tấu, bị biếm ra nơi xa, như các vùng Vân Nam, Quý Châu,
Lưỡng Quảng, Hắc Long Giang v.v… thì tâm bình khí hòa, chẳng
oán vua, chẳng hận kẻ sàm báng, tự sống như người ở
nơi ấy), “tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn” (hoặc có
thể chẳng những bị biếm truất, lại còn bị xử tội,
nhẹ thì đánh đập, giam cầm, nặng thì chém đầu, phân thây,
hoặc đến nỗi diệt môn, vẫn chẳng oán vua, chẳng hận
gian đảng, như thể chính mình đáng bị như thế. Đối với
hoạn nạn do người gây ra còn như thế, huống chi những hoạn
nạn do trời giáng xuống, há oán hận ư? Người như vậy
được người yêu thương, trời hộ trì, trong đời này hoặc
trong đời sau hoặc là đời con cháu quyết định được hưởng
phước báo vô cùng để xứng với đức ấy). Cư sĩ tuy có
tư chất ham làm lành, nhưng chưa rõ lý tột cùng của Nho và
Phật; vì thế, vừa gặp nghịch cảnh bèn đâm ra cuồng loạn.
Nay tôi khuyên rằng: Rộng dày, cao minh nhất trong thế gian
không gì hơn thiên địa, nhật, nguyệt. Mặt trời đứng bóng
rồi chênh; trăng tròn rồi khuyết, bờ cao thành hang, hang sâu
thành vách núi, biển xanh biến thành ruộng dâu, ruộng dâu
biến thành biển xanh.
Xưa
nay người đạo cao đức trọn vẹn nhất không ai bằng Khổng
Tử, thế mà còn bị tuyệt lương nơi đất Trần, bị vây
nơi đất Khuông, chu du liệt quốc, rốt cuộc không gặp được
minh quân, chỉ có một người con, tuổi mới năm mươi liền
bị chết mất; may còn một cháu nối dõi. Tính trở xuống
thì Nhan Uyên đoản mạng, Nhiễm Bá Ngưu[1] cũng đoản mạng,
Tử Hạ [2]bị mù, Tả Khâu Minh[3] cũng bị mù, Khuất Nguyên
tự trầm dưới sông (Khuất Nguyên tận trung bị gièm, sau
Sở Hoài Vương bị vua Tần bắt giữ, khôn ngăn ưu phẫn,
không làm gì được, ngày mồng Năm tháng Năm tự trầm nơi
sông Mịch La), Tử Lộ[4] bị bằm vụn (chữ 醢 đọc là Hải,
có nghĩa là thịt làm thành mắm. Tử Lộ làm quan nước Vệ,
Vệ Khoái Quý và con toan chiếm nước. Tử Lộ bị chết trong
nạn ấy, bị quân địch băm vụn ra).
Thiên
địa, nhật nguyệt còn chẳng thể thường hằng bất biến,
đại thánh đại hiền cũng chẳng thể chỉ có thuận không
nghịch; chỉ vui theo mạng trời thì không chuyện gì chẳng
an vui, lại được trăm ngàn đời sau, từ thiên tử cho đến
thứ dân, không ai không ngưỡng mộ. Nếu luận theo tình cảnh
khi ấy, tợ hồ họ vô phước; nhưng nếu luận trên mức
độ được truyền tụng hậu thế thì không ai phước bằng
được họ! Người sống trong thế gian, nghĩ ngàn lối, tính
muôn bề, đặt bày mọi cách, xét đến rốt ráo chẳng qua
là để nuôi thân miệng, để lại của cải cho con cháu mà
thôi. Nhưng thân thì vải thô cũng đủ che mình, cần gì phải
lụa, là, the, đoạn? Miệng thì canh rau đủ nuốt trôi cơm,
cần gì phải cá thịt, hải sản? Con cháu thì hoặc là đọc
sách, hoặc cày ruộng, hoặc buôn bán tự nuôi được thân,
cần chi phải giàu có trăm vạn?
Vả
nữa, từ cổ đến nay, những kẻ mưu cầu phú quý muôn đời
cho con cháu ai bằng Tần Thủy Hoàng, thôn tính lục quốc,
đốt sách, chôn học trò, thâu binh khí thiên hạ đúc thành
chuông lớn, không chuyện gì chẳng nhằm làm cho nhân dân ngu
yếu chẳng thể nổi dậy. Nào biết Trần Thiệp vừa khởi,
quần hùng đua nhau, sau khi nhất thống chưa đầy mười hai
mười ba năm bèn đến nỗi thân chết nước tan, con cháu bị
giết sạch hết, khác nào cắt cỏ trừ rễ, nào còn sót gì?
Đấy là muốn cho con cháu yên vui, lại đến nỗi làm chúng
mau chết sạch!
Thời
Hán Hiến Đế, Tào Tháo làm Thừa Tướng, chuyên đoạt uy
quyền, những việc hắn làm không gì chẳng nhằm làm suy yếu
quyền thế nhà vua, tăng thêm quyền lực cho bản thân; muốn
khi mình chết đi, con mình sẽ làm vua. Kịp đến khi chết
đi, Tào Phi bèn soán ngôi, xác cha chưa liệm, Tào Phi đã dời
hết cả phi tần đưa sang cung mình. Tháo chết đi, mãi mãi
đọa trong ác đạo, đến hơn một ngàn bốn trăm năm sau,
nhằm đời Càn Long nhà Thanh, tại Tô Châu có người giết
heo, moi gan phổi ra, thấy đề hai chữ Tào Tháo. Xóm giềng
có kẻ trông thấy sợ hãi vô cùng, liền lập tức xuất gia,
pháp danh là Phật An, nhất tâm niệm Phật liền được vãng
sanh Tây Phương. Chuyện này được ghi trong Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục.
Ôi!
Tào Tháo phí sạch tâm cơ, vì con bày mưu, dù làm hoàng đế
nhưng chỉ được bốn mươi lăm năm, nước liền diệt vong.
Nhưng hằng ngày cùng Tây Thục, Đông Ngô tranh chấp, có ngày
nào được an lạc đâu? Sau đó, như hai nhà Tấn[5], Tống,
Tề, Lương, Trần, Tùy và Lương, Đường, Tấn, Hán, Châu
thời Ngũ Đại đều chẳng dài lâu. Tựu trung, chỉ có nhà
Đông Tấn dài nhất, cũng chỉ được 103 năm, những triều
đại khác hoặc hai ba năm, hoặc tám chín năm, mười, hai mươi
năm, bốn mươi, năm mươi năm liền bị diệt vong. Đấy chỉ
mới kể những triều đại chánh thống, chứ còn những kẻ
chiếm cứ bừa bãi, tiếm xưng ngụy quốc, số lượng càng
nhiều, thời gian tồn tại càng ngắn hơn nữa. Xét đến cái
tâm ban đầu, không ai không muốn cho con cháu được phú quý,
tôn vinh; nhìn vào hiệu quả thật sự, trái lại khiến cho
con cháu gặp phải kiếp nạn tru lục, diệt môn tuyệt hộ!
Dù quý như thiên tử, giàu khắp bốn biển, còn chẳng thể
khiến cho con cháu đời đời hưởng phước, huống hồ kẻ
phàm phu hèn mọn. Từ vô lượng kiếp đến nay đã tạo ác
nghiệp dầy hơn đại địa, sâu quá biển cả, há có thể
giữ cho gia đạo thường hưng thạnh, có phước không tai ương
được ư?
Phải
biết vạn pháp trong thế gian đều là hư giả, trọn không
chân thật, như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng, như sương,
như chớp, như ánh trăng trong nước, như hoa đốm trên hư
không, như ánh nước gợn khi trời nắng, như thành Càn Thát
Bà (Phạn ngữ Càn Thát Bà, Hán dịch là Tầm Hương, chính
là nhạc thần của Thiên Đế, thành của họ huyễn hiện,
không thật. Thế tục thường gọi là “thẩn lâu hải thị”
(lầu sò chợ biển) chính là nó đấy). Chỉ một niệm tâm
tánh của chính mình hằng cổ hằng kim, chẳng biến, chẳng
hoại. Dẫu không biến hoại nhưng thường tùy duyên. Hễ ngộ
tịnh duyên bèn thành Thanh Văn, thành Duyên Giác, thành Bồ
Tát, thành Phật. Do công đức có cạn - sâu nên quả vị có
cao - thấp. Hễ mê nhiễm duyên bèn sanh lên trời, sanh trong
nhân gian, đọa vào Tu La, đọa trong súc sanh, đọa vào ngạ
quỷ, đọa xuống địa ngục. Do tội - phước có nặng - nhẹ
nên khổ - vui có dài - ngắn. Nếu là người không biết Phật
pháp thì không biết phải nên làm như thế nào.
Ông
đã sùng tín Phật pháp, sao chẳng do nghịch cảnh này, thấy
thấu suốt tướng thế gian, bỏ duyên mê nhiễm, ngộ theo
tịnh duyên, nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương? Từ
đây vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi lục đạo, cao chứng
quả vị Tứ Thánh. Há chẳng phải là nhân họa nhỏ này mà
thường hưởng phước to ư? Lại mịt mờ chẳng rõ, như say,
như cuồng. Nếu như lo nghĩ quá độ, đến nỗi táng thân
mất mạng sẽ bao kiếp dài lâu khó thoát khỏi luân hồi,
lại còn vợ yếu con côi lấy gì tự lập? Vốn muốn tự
lợi, lợi người, lại trở thành tự hại, hại người (chữ
“người” ở đây chỉ vợ con). Sao lại ngu si đến nỗi
như thế?
Kinh
dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát sợ
gặp ác quả nên đoạn trừ sẵn ác nhân. Do vậy, tội chướng
tiêu diệt, công đức viên mãn, mãi cho đến khi thành Phật
mới thôi. Chúng sanh thường gây nhân ác, muốn tránh quả
ác, như dưới mặt trời toan trốn bóng, uổng công nhọc nhằn
rong ruổi! Thường thấy kẻ ngu vô tri vừa làm chút điều
lành nhỏ nhoi bèn mong phước to, vừa gặp nghịch cảnh bèn
nói làm thiện mắc họa, không có nhân quả. Từ đó, lui hối
cái tâm ban đầu, quay ngược lại phỉ báng Phật pháp, nào
biết ý chỉ sâu huyền “báo thông ba đời, chuyển biến
do tâm”!
“Báo
thông ba đời” có nghĩa là đời này làm thiện, làm ác;
ngay đời này được phước, mắc họa, đó gọi là Hiện
Báo. Đời này làm thiện, làm ác, ngay trong đời sau hưởng
phước, mắc họa, đó gọi là Sanh Báo. Đời này làm thiện,
làm ác, đến đời thứ ba, hoặc đời thứ tư, hoặc mười,
trăm, ngàn vạn đời, hoặc đến vô lượng vô biên kiếp
sau mới hưởng phước, mắc họa, đó gọi là Hậu Báo. Hậu
Báo sớm - trễ không nhất định. Hễ gây nghiệp quyết định
không thể không thọ báo.
“Chuyển
biến do tâm” là ví như có người tạo ác nghiệp, sẽ vĩnh
viễn đọa địa ngục, chịu khổ bao kiếp dài lâu. Về sau,
người ấy sanh lòng hổ thẹn lớn lao, phát đại Bồ Đề
tâm, cải ác tu thiện, tụng kinh niệm Phật, tự hành dạy
người, cầu sanh Tây Phương. Do vậy, đời này hoặc bị người
khác khinh rẻ, hoặc bị chút bệnh khổ, hoặc bị bần cùng
đôi chút, hoặc gặp hết thảy chuyện chẳng như ý, cái nghiệp
vĩnh viễn đọa địa ngục bao kiếp chịu khổ dài lâu đã
trót tạo trước kia nay liền tiêu diệt, lại còn có thể
liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Kinh Kim Cang dạy:
“Nếu có người thọ trì kinh này, bị người khác khinh rẻ
là do tội nghiệp đời trước của người ấy đáng lẽ đọa
ác đạo, vì đời này bị người khác khinh rẻ nên tội nghiệp
đời trước bèn tiêu diệt, sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác”. Đấy chính là ý nghĩa “chuyển biến do tâm”
vậy.
Người
đời vừa gặp chút tai ương, nếu không oán trời thì cũng
trách người, trọn chẳng có ý tưởng trả nợ, sanh lòng
hối tội. Phải biết: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu
được đậu”. Trồng cỏ dại chẳng thể được hạt thóc
ngon, trồng gai góc mong chi thóc nếp! Làm ác mà được phước
là do đời trước tài bồi sâu xa. Nếu không làm ác, phước
còn lớn hơn nữa! Ví như con cháu nhà giàu có, ăn uống phung
phí, xài vàng như đất, nhưng không đến nỗi đói rét là
do vàng nhiều. Nếu cứ ngày ngày như thế, dẫu giàu có đến
trăm vạn, chẳng mấy năm sẽ nhà tan người chết, hết sạch
sành sanh! Làm lành mắc họa là do tội nghiệp đời trước
sâu dày. Nếu không làm lành, tai ương càng lớn hơn. Ví như
kẻ phạm tội nặng, chưa kịp xử phạt, lại lập công nhỏ;
do công nhỏ nên chưa được tha hoàn toàn, đổi tội nặng
thành tội nhẹ. Nếu có thể ngày ngày lập công, do công nhiều
thành lớn nên tội hết, được tha miễn. Lại còn được
phong hầu bái tướng, thế tập tước vị[6], tồn tại mãi
cùng đất nước.
Đại
trượng phu sống trong thế gian, nên có tri kiến vượt trội,
há để vật ngoài thân phiền lụy, hủy hoại thân mình. Ví
như vàng ngọc đầy nhà, cường đạo lại cướp, chỉ nên
bỏ đó trốn lẹ, há nên giữ của đợi chết ư? Bởi lẽ
vàng ngọc tuy quý, nhưng so với thân mạng vẫn hèn kém hơn!
Đã chẳng thể toàn vẹn đôi bề, chỉ có thể bỏ vàng ngọc
để toàn thân mạng. Tài vật của ông đã cháy hết, buồn
xuông ích gì? Chỉ nên tùy duyên sống qua ngày, dốc hết sức
niệm Phật, cầu sanh Tây Phương thì trong đời vị lai, vĩnh
viễn lìa khỏi các khổ, chỉ hưởng các sự vui. Như thế
thì do nạn lửa này, bèn thành đạo vô thượng. Phải cảm
ân, báo đức còn không xuể; há lại oán hận, buồn phiền
như thế chăng?
Xin
hãy đem lời tôi suy nghĩ cặn kẽ, ắt sẽ được gỡ rối
giải thoát. Như vẹt mây mù thấy được mặt trời, từ đây
tai ương biến thành người dẫn đường tốt lành, chuyển
ngay nóng bức thành mát mẻ. Nếu cứ chấp mê không ngộ,
ắt sẽ phát điên phát cuồng, bổn tâm bị mất, tà ma dựa
thân, dẫu ngàn đức Phật xuất thế cũng không cách nào giúp
được ông!
22.
Trả lời thư cư sĩ Lâm Giới Sanh ở Thái Thuận (thư thứ
nhất)
Bất Huệ học Nho không xong, học Phật chẳng thành, lìa quê
cũ đã lâu, muốn quay về nhưng chưa được. Mỗi phen tự
xét, thẹn thùng không biết ẩn vào đâu. Chợt tiếp được
thư ông, khác nào gặp lại cố nhân, nhưng trong thư khen ngợi
quá lẽ, khiến người như phải chịu búa rìu. Sau này có
viết thư, xin chớ dùng lời khách sáo ấy nữa! Được gặp
mặt lệnh huynh Chi Phân hôm mười bốn tháng Bảy, nhân đấy
hỏi thăm chuyện tu trì, gia cảnh cư sĩ. Ông ta cho biết cư
sĩ cật lực làm lành, đạo niệm ngày càng tăng trưởng,
nhưng gia đình bất hạnh, lệnh lang[7] mất sớm, hai cháu còn
thơ, khá đáng ưu tư.
Tôi
nghe xong khôn ngăn thở dài, phải biết: Cảnh nghịch xảy
đến hãy thuận theo mới gọi là “vui theo mạng trời”.
Tu thân trồng đức mới là “tận tánh”. Đời có kẻ ngu,
chẳng biết thiện - ác đời trước, chỉ nhìn chuyện tốt
- xấu trước mắt, thấy làm lành mắc họa bèn bảo “chẳng
nên làm lành, làm ác được phước”. Còn nói: “Ác chẳng
đáng kiêng”; chẳng biết thiện báo, ác báo chẳng phải
một sớm một chiều mà thành, phải do dần dần mà ra. Ví
như ba thước băng há do một ngày lạnh bèn có thể ngưng
đọng, nước trăm sông ngập tràn há vì trời nóng một bữa
liền tiêu được ư? Chớ nên oán trời trách người, do dự,
ngã lòng, hối hận. Hãy nên học theo Du Tịnh Ý tu thân, học
theo Viên Liễu Phàm lập mạng, sẽ thấy hai cháu thành đạt,
sẽ thấy sanh nhiều con quý[8].
Còn
như việc trùng tu chùa Hoa Nghiêm, thật không công đức nào
lớn bằng, nhưng ở chốn núi sâu, quyên mộ khó lắm, chỉ
nên tùy duyên, chớ nên miễn cưỡng. Có chánh điện để
thờ Phật, có liêu phòng để an thân, có chỗ để hành đạo,
cư ngụ là đủ rồi, cần gì phải dựng nhiều điện vũ,
xây nhiều nhà ngang, chẳng lợi ích gì cho mình lẫn người,
chỉ nhằm sướng con mắt tục ư?
Tạ
Hữu tài chí tuy cao, đáng tiếc là chưa gặp được người
thông hiểu, tự nói đáng tiếc thời đã qua khó học, chuyên
theo cử nghiệp. Nào biết chuyện học thánh, học hiền chẳng
có thời mà cũng chẳng có chuyện lỡ thời, mà học [theo
thánh hiền] cũng chẳng khó, chẳng dễ. Vì sao nói vậy? Khổng
Tử bảy mươi tuổi còn muốn sống thêm vài năm để học
Dịch, hòng tránh được lỗi lầm lớn. Há vì từ nghĩa tinh
thông bèn vùng vẫy bút mực để hòng được tước vị cao
ư? Năm mươi tuổi dốc chí nơi học, bảy mươi tuổi vẫn
còn học. Ông ta tuổi gần bốn mươi, há phải đâu là đã
quá thời chẳng thể học ư?
Đạo
Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu đễ mà thôi! Cả ngày khắc kỷ,
giữ lễ, thiên hạ quy về nhân. Thánh nếu mất niệm sẽ
thành cuồng, cuồng mà khắc chế được niệm ắt thành thánh.
Trong ấy, há có khó - dễ gì để luận được ư? Tôi nói:
Tạ Hữu mà học thì không gì tốt hơn lúc này, có cha mẹ
để tận hiếu, có anh em để hết dạ thương yêu, có con
cái để giáo huấn, có thi thư để bắt chước theo, thật
hợp với đạo “ở nhà mà tham dự quyền chánh trị”[9]
của Phu Tử. Lúc này không học thì đúng là lỡ thời khó
học vậy. Dẫu cho văn chương quán thế, quan cao nhất phẩm,
rốt cuộc vẫn chỉ là người tài khéo cùng cực vi diệu,
há nào phải kẻ sĩ hợp thời tận lực học! Do nghe lời
Phật bèn ăn chay trường, đủ biết túc căn sâu dầy, nhưng
vứt bỏ công sức trước kia, ý muốn xuất gia, đủ thấy
đạo nhãn còn mê muội.
Như
Lai thuyết pháp hằng thuận chúng sanh. Gặp cha nói về Từ,
gặp con nói đến Hiếu, ngoài tận hết nhân luân, trong tiêu
tịnh lự, ngõ hầu khôi phục chân tâm vốn có. Đấy gọi
là đệ tử Phật, nào phải luận trên đầu tóc? Huống chi
quê ông ở sâu trong núi thẳm, người biết pháp thì ít, kẻ
cao minh vì không thông ngôn ngữ không đến nơi ấy. Nương
theo tâm lành ấy dốc tận sức học đạo, tu hiếu đễ để
cảm hóa xóm giềng, lập trai giới hòng giết - trộm dần
tiêu, nghiên cứu kinh luận Tịnh Độ hòng biết yếu đạo
xuất khổ. Thọ trì An Sĩ Toàn Thư sẽ biết khuôn mẫu tốt
lành để an cõi đời. Đem pháp môn Tịnh Độ khuyến dụ
cha mẹ, đem pháp môn Tịnh Độ dạy cho con và những người
thân quen.
Phải
nên vì sanh tử đại sự mà đau đáu xót thương thân sau.
Bất tất phải chọn riêng một chỗ, gia đình chính là đạo
tràng, lấy toàn bộ cha mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu, thân
thích làm pháp quyến, tự hành, dạy người, miệng khuyên,
thân làm gương, khiến họ cùng về cõi Tịnh, cùng thoát vòng
khổ, đáng gọi là bậc cao tăng để tóc, là Phật tử tại
gia vậy! Nên dùng ý thô tệ này để bảo với ông ta. Nếu
nghe lời này không phỉ báng, vẫn muốn tiến bước, nhưng
đường nẻo chưa dứt khoát được, mà nếu rảnh rang thì
chẳng ngại gì đích thân đến Phổ Đà gặp gỡ một phen.
Nếu không, chỉ xem Tịnh Độ Thập Yếu và Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục sẽ tự biết đường lối, chẳng cần phải nhọc
công hỏi ai khác nữa!
Lệnh
huynh trung hậu có thừa, dường như có duyên với đạo này,
hãy khuyên ông ta thọ trì An Sĩ Toàn Thư ngõ hầu chẳng uổng
một phen gặp gỡ. Di Đà Sớ Sao, An Sĩ Toàn Thư mỗi thứ
một bộ gởi kèm theo thư để kết tịnh duyên.
23.
Trả lời thư cư sĩ Lâm Giới Sanh ở Thái Thuận (thư thứ
hai)
Mấy phen chưa gặp gỡ, lòng luôn nghĩ nhớ. Mùa Thu năm nay
lệnh huynh Chi Phần đi thi Hương, mang thư lên núi, mới rõ
sự tu trì gần đây của cư sĩ, lại nói gia đình bất hạnh,
phải chôn con yêu, sáng tối lo buồn, chẳng thể yên dạ.
Tôi muốn trình bày rõ sự lý nhân quả, nhưng [lệnh huynh]
kẹt khóa thi Lục Di[10] buổi sáng, không thể ở lại đêm,
cho nên phải nói đại lược. Nay ngày Rằm thanh nhàn, thầy
Triệt Quyền đến thăm cho biết tình trạng oán hận của
cư sĩ, bảo với vô tri tục nhân rằng: “Làm lành mắc họa,
tu hành vô ích” v.v… đủ mọi tà thuyết. Tôi nghe xong, đau
xót, sợ bậc thượng trí nhân đó biếng nhác tu hành, kẻ
hạ ngu dám làm chuyện ác.
Vì
thế chẳng nề bỉ lậu, đem lời nói thẳng trình bày. Như
Lai giảng kinh báo thông ba đời. Phàm sanh con đại lược có
bốn nhân. Báo thông tam thế là:
1) Thứ nhất là Hiện Báo, nghĩa là hiện tại làm lành, làm
ác, đời này được phước, mắc họa. Như sĩ tử tập tành
cử nghiệp, đời này được công danh. Đây là điều mắt
phàm thấy được.
2) Thứ hai là Sanh Báo, nghĩa là đời này làm thiện, làm ác,
ngay đời sau được phước, chịu tội, như tổ phụ trọng
học vấn, cháu con mới phát đạt. Mắt phàm chẳng thấy được
điều này, thiên nhãn vẫn có thể thấy được (Đời này,
đời sau là ước theo người ấy mà nói, nhưng chuyện cách
đời khó thể dùng thí dụ để chỉ rõ nên mới đành tạm
thời dựa vào con cháu, tổ phụ cho người khác dễ hiểu,
chẳng được chấp vào từ ngữ, khiến ý nghĩa bị trở ngại).
3) Thứ ba là Hậu Báo, nghĩa là đời này làm lành, làm ác,
đến đời thứ ba, hoặc thứ tư, năm, sáu, bảy, hoặc mười,
trăm, ngàn, vạn đời, hoặc một, mười, trăm, ngàn, vạn
kiếp, hoặc đến vô lượng vô biên Hằng hà sa kiếp mới
chịu báo thiện hay ác. Như vương nghiệp nhà Thương, nhà
Châu, thật ra bắt đầu nền móng từ lúc ông Tắc, ông Khiết[11]
phù tá vua Thuấn, vua Vũ. Nếu là chuyện ba đời, thiên nhãn
có thể thấy được. Nếu như trăm ngàn kiếp, thiên nhãn
chẳng thể thấy được, nhưng đạo nhãn của Thanh Văn còn
thấy được. Nếu là vô lượng vô biên Hằng hà sa kiếp,
chỉ có ngũ nhãn viên minh của Như Lai mới thấy được, còn
chẳng phải là cảnh giới của đạo nhãn Thanh Văn, huống
gì thiên nhãn, nhục nhãn!
Biết được ý nghĩa ba thứ báo này thì làm lành sẽ được
điều lành giáng xuống, làm điều chẳng lành phải vướng
tai ương, thánh ngôn vốn chẳng sai lầm! Giàu - sang, nghèo
- hèn, thọ - yểu, cùng, thông, mạng trời chưa hề thiên vị.
Cảnh duyên xảy tới như gương hiện bóng. Người trí biết
sửa hình dung ngoài gương, kẻ ngu uổng công ghét hình ảnh
hiện trong gương. Cảnh nghịch xảy đến bèn thuận chịu
mới là vui theo mạng trời. Chẳng oán chẳng hờn mới hòng
lập mạng. Con có bốn nhân: Một là báo ân, hai là báo oán,
ba là trả nợ, bốn là đòi nợ.
1) Báo ân là cha mẹ sanh con, đời trước có ân với nó, nên
để báo ân bèn sanh vào làm con hòng hầu hạ, phụng dưỡng,
sống thờ chết chôn, khiến cho lúc sống thì cha mẹ vui vẻ,
lúc mất bèn thờ cúng. Thậm chí tận trung với vua, yêu dân,
danh lưu sử xanh, khiến thiên hạ hậu thế do kính người
ấy bèn kính trọng cả cha mẹ. Như ông Tăng Lỗ Công, Trần
Trung Tú, Vương Quy Linh, Sử Đại Thành (Ba vị Tăng, Trần,
Vương đều là danh thần đời Tống, ông Sử là trạng nguyên
đầu đời Thanh. Bốn vị đều tin Phật, chỉ mình ông Trung
Tú ngộ nhập rất sâu, bởi đời trước từng là cao tăng,
nên dẫu có địa vị cao vẫn không quên nhân gốc). Con hiếu
cháu hiền đời này đều thuộc về loại này.
2) Báo oán là cha mẹ đời trước phụ ơn. Để báo oán bèn
sanh vào làm con. Nhỏ thì ngỗ nghịch mẹ cha, lớn lên gây
họa vạ lây cha mẹ. Sống chẳng phụng dưỡng ngọt bùi,
chết đi mang nhục nơi chín suối. Lại quá mức đến nỗi
con giữ ngôi vị oai quyền, mưu mô trái lẽ, diệt môn sát
tộc, quật mồ cuốc mả, khiến thiên hạ hậu thế thóa mạ
kẻ ấy lẫn cha mẹ. Như Vương Mãng, Tào Tháo, Đổng Trác,
Tần Cối v.v… là loại này.
3) Trả nợ là con đời trước đoạt của cha mẹ, nay để
đền nợ bèn sanh vào làm con. Nếu mắc nợ nhiều thì có
thể sống với cha mẹ suốt đời. Nếu nợ ít, chẳng tránh
khỏi giữa đường chết mất. Như học sắp thành danh bèn
táng mạng, buôn bán vừa có lời bèn mất thân.
4) Đòi nợ là cha mẹ đời trước mắc nợ tiền tài của
con; để đòi nợ ấy nó bèn sanh vào làm con. Nợ nhỏ uổng
phí lễ vật[12], tiền sính lễ mời thầy, cưới vợ cùng
răn dạy đủ cách, mong con thành tài, nhưng đại hạn đã
tới, chợt chết mất đi. Nợ nhiều thì chẳng phải chỉ
vậy, ắt phải táng gia bại sản, nhà tan người chết mới
thôi.
Xét kỹ con ông, e rằng là hạng đến để đòi nợ. May là
nợ ít nên vừa qua tuổi nhược quan (20 tuổi) liền mất.
Hãy nên sám hối túc nghiệp, nỗ lực siêng tu, trời ắt ban
cho ông đứa con tốt lành, rỡ ràng nhà cửa. Huống chi Khổng
Tử là bậc thánh nhân, tuổi trung niên chôn con, Nhan Uyên là
bậc đại hiền, đang tuổi tráng niên chết yểu. Nguyên Hiến
nghèo rớt, Tử Lộ tuẫn nạn, Di Tề chết đói nơi Thủ Dương[13],
Bá Ngọc cùng quẫn nơi nước Vệ. Há có thể nói là thánh
nhân do tu đức mà bị trời khiển trách ư? Hay là sanh tử
hữu mạng, phú quý tại trời ư? Chỉ trách đức mình chẳng
chân thành, chớ hỏi trời báo họa phước! Làm được như
thế, tự nhiên ngũ phước lâm môn[14], lục cực[15] quyết
định tránh khỏi nhà mình. Cho lời tôi nói không đáng tin
thì kìa như vầng dương sáng chói: Phải biết người sống
trong thế gian có đủ tám khổ, dẫu sanh lên trời chưa khỏi
ngũ suy[16]. Chỉ riêng Tây Phương Cực Lạc thế giới không
có các sự khổ, chỉ hưởng những sự vui.
Chẳng
phải là do ông đề xướng, chỉ dạy Tịnh Độ mà trời
bèn dùng đứa con vô phước, vô thọ làm một nhát kim đâm
vào đảnh đầu ông khiến cho ông biết ba cõi không yên, khác
nào nhà lửa, các khổ dẫy đầy, thật đáng kinh sợ hay sao?
Mạng người vô thường, nhanh như ánh chớp, đại hạn xảy
tới, ai lo phận nấy. Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn,
bọt, bóng. Với điều này còn không tỉnh ngộ, dốc sức
tu tịnh nghiệp thì khác gì gỗ đá vô tình cùng sanh trưởng
trong vòng trời đất. Là trang nam tử có huyết tánh, há chịu
sống làm thây đi thịt chạy, chết mục nát cùng cỏ cây,
đề cao thánh cảnh nhưng tự mình lại chịu phận phàm ngu,
gặp lời cảnh sách lớn lao chẳng phát phẫn, nghe đạo của
thánh hiền, Phật, Tổ lại chẳng chịu hành, ấy là trời
phụ người hay người phụ trời vậy? Xin hãy rủ lòng dùng
trí huệ quán sát.
24.
Thư gởi cư sĩ Lâm Chi Phần ở Thái Thuận (thư thứ nhất)
Lý Cương[17] là một tác gia thông đạt, ông ta đem kinh Dịch
đối chiếu với Hoa Nghiêm để bàn luận, bảo chúng hoàn
toàn phù hợp nhau. Ông ta là bậc thiện tri thức không cự
tuyệt người đến học, dẫn người vào chỗ thù thắng,
mở rộng tầm hiểu biết. Như Mạnh Tử do thấy vua Tề bất
nhẫn trước cái chết của một con trâu; suy lòng trắc ẩn
ấy, biết vua có thể bảo bọc dân, làm vua thiên hạ, chứ
không phải là do yêu thương xuông một con trâu mà hòng làm
vua thiên hạ. Đấy là dẫn dụ, chứ không phải là luận
khít khao; phàm đọc văn tự của cổ nhân quý ở chỗ lãnh
hội được ý. Nếu không chỉ là nhai bã hèm mà thôi!
Ôi!
Hoa Nghiêm là pháp tự chứng của Như Lai; tất cả các độ,
các địa vị đều là sự thật, đều có thể biểu thị
pháp. Tứ Quả Thanh Văn tuy dự pháp hội, còn như câm điếc,
nhân thiên thuộc địa vị phàm phu há thấy biết được ư?
Dẫu có thiên long bát bộ [tham dự pháp hội] nhưng đều là
những bậc đã đích thân chứng được Pháp Thân, nhằm thượng
cầu hạ hóa lợi ích hữu tình, nên đặc biệt hiện thân
tám bộ đó thôi, chứ không phải là phàm phu nghiệp báo thật
sự vậy! Còn kinh Dịch lập ra những hình tượng hư giả
để đoán định cát hung, thuận thiên lý để hướng dẫn
tình cảm con người, là thường pháp để trị thế, không
phải là đại đạo xuất thế, là nghi tắc, tiêu chuẩn luân
thường, chứ không phải là chuẩn mực của Phật đạo. Nhưng
với người thông đạt Phật pháp, không pháp gì, chuyện gì
chẳng phải là đạo. Nói dọc, nói ngang, nào có dấu vết?
Nếu chẳng thể hiểu rõ triệt để tự tâm, cũng bắt chước
nói theo như gã thầy thuốc dốt chưa biết chẩn mạch đã
bắt chước róc xương. Lông vũ yếu ớt, đậu trên cành còn
khó đã toan bay cao, chẳng khiến cho cả mình lẫn người cùng
mất mạng là chuyện hiếm lắm!
Nay
tôi dùng thí dụ để nói rõ: Kinh Dịch gọi cha mẹ là “nghiêm
quân”, cổ nhân cũng gọi ấp lệnh[18] là Quân, há có phải
cha mẹ, ấp lệnh bằng vai phải lứa với thánh thiên tử,
chẳng có cao - thấp hay chăng? Lại như gọi một bọt nước
là biển, nêu một hạt bụi là cõi đất; biết bọt nước
và hạt bụi là chút phần của biển và đất thì được,
chứ nói bọt nước và biển cùng sâu rộng như biển cả,
cùng rộng dầy như cõi đất thì chẳng được. Một tia nắng
qua kẽ hở chính là mặt trời chiếu trời, soi đất; mảnh
trời nhìn qua ống hẹp cũng là cõi trời không ngằn, không
mé; nhưng phải ra khỏi cửa ngắm mặt trời, bỏ ống hẹp
để ngửa trông bầu trời. Há có nên nói ngoài kẽ hở không
có mặt trời, ngoài ống chẳng có bầu trời hay chăng?
Cổ
nhân gọi Nho là Đạo, đa phần nói như thế. Nếu bảo nói
như thế là thật, ắt có lẽ thánh thiên tử và ấp lệnh
cùng tôn quý như nhau, biển cả, cõi đất cùng bọt nước,
hạt bụi sâu rộng, rộng dầy như nhau hay sao? Mặt trời nơi
kẽ hở và bầu trời trong ống cùng mặt trời, bầu trời
rộng lớn không ngằn mé cùng trọn khắp như nhau hay sao? Ấy
là lời luận bàn tệ hại của những kẻ nhà quê vùng Tề
Đông[19], chẳng phải là pháp ngôn của bậc minh tâm kiến
tánh. Các hạ nên tự trì giới niệm Phật, lấy sự tu trì
của Nho gia làm thường pháp, lấy sự tu trì của Phật giáo
làm gia hạnh. Bàn sâu vào lý ắt mất mấy năm, muốn học
Phật, Tổ, trước hết phải noi theo thánh hiền. Nếu chính
mình thực hiện còn có tỳ vết, trái nghịch luân thường
thì đáng gọi là tội nhân danh giáo, sao xứng là đệ tử
Phật?
Phật
giáo tuy là pháp xuất thế, nhưng gặp vua nói đến Nhân, gặp
bầy tôi nói Trung, gặp cha nói Từ, gặp con nói Hiếu, do cạn
mà vào sâu, học cái thấp thỏi nhưng đạt được điều
cao cả. Hãy đọc kỹ An Sĩ Toàn Thư, ắt biết được đại
khái. Phàm phu sửa lỗi hướng thiện và tu Tịnh nghiệp chỉ
quý nơi chân thành, kỵ nhất hư giả, chẳng được phô trương
cái danh hành thiện tu hành bề ngoài, bên trong ôm lòng bất
trung, không khoan dung. Cừ Bá Ngọc lúc năm mươi tuổi biết
bốn mươi chín năm trước là sai. Có như thế mới mong thành
thánh, thành hiền, học Phật, học Tổ là công thần danh giáo,
làm con đích thật của Như Lai. Vì thế, chẳng phải do kẻ
Tăng, người tục cùng quẫn hay thông đạt mà luận vậy.
Điều
Bất Huệ mong mỏi nơi các hạ cũng chính là điều mong mỏi
nơi hết thảy những người thân quen, có vậy mới khỏi bõ
công một phen đến Phổ Đà triều bái Đại Sĩ, gặp gỡ
Bất Huệ, như thế chính là nghe Phật thừa vậy.
25.
Thư gởi cư sĩ Lâm Chi Phần ở Thái Thuận (thư thứ hai)
Phật
pháp đến nay suy tàn quá đỗi. Chúng sanh mờ mịt như kẻ
mù không ai dẫn đường. Dẫu có một hai thiện tri thức khai
thị, nhưng do nghiệp sâu chướng nặng, chánh trí chẳng khai,
tuy nghe chánh pháp, chẳng sanh tin tưởng. Dẫu sanh tin tưởng
cũng vẫn là phù phiếm, như say, như mộng, trọn chẳng có
định kiến. Vừa gặp tà ma, ngoại đạo bèn như nhặng bu
theo mùi thối, như thiêu thân đâm đầu vào lửa. Kiến bu,
chim tụ, xúm xít muôn ngàn. Vì thế năm đầu niên hiệu Quang
Tự (1875), ở Quan Đông[20] có tà phái gọi là Hỗn Nguyên[21],
mỗi năm người quy y hơn mười vạn người, đến năm Quang
Tự mười một, mười hai, do thói tệ đã bộc lộ, người
ta thường ghét thấy. Trong vòng một năm, [kẻ theo tà phái
ấy vẫn] còn được mấy vạn.
Gần
đây có kẻ xuất gia là con cái ma, toan muốn được đại
danh lợi; ba mươi năm trước gã đã cắt xén ngữ lục của
cổ nhân hòng lập ngôn, thay đầu đổi mặt, bảo là ngữ
lục của chính mình. Nhưng gã ma con ấy một là không thông
Tông, hai là chẳng thông Giáo, ba là không học vấn, sợ người
khác nói mình không học vấn, làm sao có thể nói được như
thế, bèn đặc biệt dùng rất nhiều chữ sai cho giống thật[22],
khiến người khác bảo hắn đúng là đại triệt đại ngộ,
thuận miệng nói ra, từ ngữ lẫn lý lẽ cao siêu, mầu nhiệm!
Chuyện không thích đáng nhất là do gã chưa từng đọc sách,
chẳng thông hiểu nghĩa chữ nên bợ nguyên xi Vạn Pháp Quy
Tâm Lục, Lục Tổ Đàn Kinh, thi kệ của Hàn Sơn chỉ đổi
dăm ba chữ mà thôi. Tất cả câu chữ đều như thế, bèn
lưu truyền gần xa, nhưng cũng không quyến dụ được nhiều!
Gần
đây, gã lại khoe đắc “diệu pháp” khiến cho thiện nam,
tín nữ bắt chước nhau quy y, lại bảo muốn đắc diệu pháp
nào ắt sẽ được như thế. Do gã ma con ấy thoạt đầu vờ
xưng ngộ đạo, người ta chưa quy phục. Gần đây, hắn bèn
dối xưng đắc đạo, nên xa gần tranh nhau theo về, tự nói:
“Pháp của ta nói khiến người dễ đắc đạo!” Vì thế
cả một vùng như cuồng, cùng nhau sùng phụng. Dối xưng đắc
đạo thì phải có sự thật người ta mới chịu tin; vì thế,
hắn phóng túng không e dè, thuận miệng nói càn, thường bảo
cùng người: “Ta có thể nhập định siêu độ cho vong hồn
được sanh lên trời, hoặc sanh về Tịnh Độ! Có thể biết
hết thảy người đã mất sanh lên trên trời hoặc sanh trong
nhân gian và ba ác đạo. Lại biết người này thượng phẩm
vãng sanh Tây Phương, người kia trung phẩm vãng sanh, người
nọ sanh vào hạ phẩm”. Do vậy, chẳng những ngu phu, ngu phụ
cố nhiên ngả theo chiều gió, ngay cả những bậc sĩ đại
phu không thông Phật lý cũng tưởng hắn thật sự đắc đạo,
bèn quy y tin thờ.
Chuyện
như vậy nay thấy nhiều lắm. Dẫu có người trí chê là cuồng
vọng, nhưng vì tà thuyết đó đã ăn sâu vào lòng người
nên chẳng ai tin [lời bậc trí giả]. Từ xưa, cao tăng hoặc
Phật tái lai hoặc Bồ Tát thị hiện đều giữ phận phàm
phu, trọn chẳng nói ta là Phật, ta là Bồ Tát. Vì thế, kinh
Lăng Nghiêm nói: “Sau khi ta diệt độ, truyền cho các Bồ
Tát và A La Hán ứng thân sanh trong thời Mạt Pháp, hiện đủ
mọi hình, độ những kẻ đang luân chuyển, trọn chẳng được
tự nói mình thật là Bồ Tát, thật là A La Hán, tiết lộ
mật nhân của Phật, dễ dãi nói cùng kẻ chưa học. Chỉ
trừ khi mạng chung, ngầm để lại dặn dò”.
Như
Trí Giả đại sư thật sự là hóa thân của Phật Thích Ca,
đến lúc lâm chung, có người hỏi đến địa vị chứng nhập,
bèn đáp: “Nếu ta không lãnh chúng, ắt tịnh sáu căn. Do
tổn mình lợi người nên chỉ dự vào Ngũ Phẩm”, tức là
vẫn còn thuộc địa vị phàm phu. Ngũ Phẩm chính là địa
vị Quán Hạnh trong Viên Giáo, sở ngộ ngang với Phật, đã
khuất phục trọn vẹn Ngũ Trụ Phiền Não, nhưng chưa thể
đoạn Kiến Hoặc. Ngài Trí Giả lúc lâm chung còn chẳng hiển
Bổn, ý muốn cho hàng hậu học dốc chí tu hành tinh ròng,
chẳng đến nỗi được chút ít đã cho là đủ, cũng như
chẳng lấy phàm lạm thánh vậy! Nay lũ ma kia bịp xằng đắc
đạo chính là hoại loạn Phật pháp, là kẻ đại vọng ngữ
lầm lạc chúng sanh. Cái tội đại vọng ngữ ấy thậm chí
còn nặng gấp trăm ngàn lần tội Ngũ Nghịch, Thập Ác! Thầy
đó, trò đó sẽ vĩnh viễn đọa trong địa ngục A Tỳ trải
Phật sát vi trần kiếp số[23] luôn chịu cực khổ còn chưa
được xuất ly. Sao lại khổ vì danh lợi hư phù một lúc,
cam chịu hình phạt thảm khốc bao kiếp? Danh lợi mê hoặc
người đến nỗi như thế ấy!
Gã
ma con kia bảo pháp hắn đã nói khiến người dễ đắc đạo
tức là hiểu cái tâm sanh diệt là thường trụ, tưởng “không
làm thiện, không đoạn ác” là bất sanh bất diệt, bác không
nhân quả, sụp hầm tà kiến. Đấy chính thực tế của chuyện
gã ma con chèo kéo đồ chúng, khiến họ [lầm tưởng] đều
đã đắc đạo. Vì thế, có kẻ thường ngày trì trai niệm
Phật, vừa thân cận bọn chúng liền không trì trai, không
niệm Phật nữa! Kỳ dư, hết thảy những chuyện cải ác
hướng thiện, biết nhân hiểu quả, vun đức trồng phước
v.v… thảy đều bỏ hết.
Chúng
chỉ dạy người ta khán một câu thoại đầu, nhưng thật
ra chẳng biết khán như thế nào, thế nào là thoại đầu?
Bèn đem những lời đối ứng căn cơ của cổ nhân bảo người
khác y văn giải nghĩa, suy lường, dò đoán. Như những câu
“con chó không có Phật tánh, cây bách trước sân, que cứt
khô, ba cân gai, cái áo vải nặng bảy cân” v.v… thảy đều
bóc trần từng chữ để giảng nghĩa, cho là tu tham Thiền,
là thấu triệt công án. Vừa mới ngồi yên được một chút
và có thể giải nghĩa dựa theo văn tự, bèn ấn chứng: “Người
này túc căn sâu dầy, người kia hiện đang tu hành tinh thuần,
nên dụng công chưa lâu đã thấu triệt”. Chuyện tham Thiền
nói dễ dàng sao? Cổ nhân như ngài Triệu Châu Thẩm thiền
sư, xuất gia từ nhỏ, đến lúc ngoài tám mươi vẫn còn hành
cước[24]. Vì thế có bài tụng rằng:
Triệu Châu bát thập do hành cước,
Chỉ vị tâm đầu vị tiêu nhiên.
(Triệu Châu tám chục còn hành cước,
Do bởi trong tâm chửa rỗng rang)
Ngài
Trường Khánh ngồi rách bảy cái bồ đoàn rồi mới khai ngộ;
ngài Dũng Tuyền đến năm bốn mươi vẫn còn nhọc nhằn,
Tuyết Phong ba lần lên gặp ngài Đầu Tử, chín lượt lên
Động Sơn. Những vị đại tổ sư đại triệt đại ngộ
còn khó khăn như thế. Bọn ma con kia vừa mới nghe ma thuyết
đều khai ngộ ngay, những vị tổ sư vừa nói ấy có xách
giày cho chúng cũng chẳng đáng hay sao?
Phải
biết tổ sư ngộ là từ mê đến ngộ, hễ ngộ rồi sẽ
ngộ vĩnh viễn, còn cái “ngộ” của bọn ma là do mê bèn
lầm, hễ lầm rồi bèn vĩnh viễn lầm. Tuy đồng âm với
Ngộ[25], nhưng sự thật trái nghịch với Ngộ. Do bọn ma kia
từ lúc mới phát tâm, một là không giới hạnh, hai là không
có chánh trí, ba là chẳng biết thoại đầu là phương tiện
để đánh động, tham thấu tự tâm, cứ tưởng dựa theo văn
nghĩa suy đoán chính là tham [thoại đầu]. “Tham Thiền”
kiểu đó thì người thông minh trong thế gian sẽ đều là
bậc đại triệt đại ngộ hết.
Như
kẻ chẳng biết ma-ni bảo châu thấy mắt cá, quý trọng cất
đi, khoe khoang cùng người: “Tôi đã có được châu ấy”.
Mọi người cũng chẳng biết thế nào là châu, thế nào là
mắt cá, bèn xúm xít tìm cầu, ai nấy đều được châu ấy.
Từ đó, phát đại thệ nguyện khiến cho khắp đồng bào
nghèo khổ đều được châu ấy. Một mai gặp được khách
thương người Hồ[26], muốn đổi châu lấy nhiều vàng. Khách
thương người Hồ ném đi, mắng rằng: “Sao lại đem mắt
cá làm bẩn mắt ta?” mới biết mình đã phí sạch tâm cơ,
chỉ đành hổ thẹn muốn chết mà thôi!
Nhưng
thói thường con người buông lung thì dễ, câu thúc thì khó.
Dạy trì trai niệm Phật bèn cảm thấy miệng ăn mất ngon,
thân tâm thường khổ sở, nhọc nhằn. Gã ma kia bảo chỉ
cần giữ cái tâm tốt, cần gì phải ăn chay? Ngươi vốn là
Phật, cần gì phải niệm Phật? Do vậy, thật là hợp với
cái tánh lười nhác, biếng trễ của mình, chẳng muốn bó
buộc, mặc tình phóng túng như tù được lệnh tha, vui mừng
khôn xiết! Nếu hỏi đến duyên do, bèn nói:
- Đạt
Ma từ trời Tây sang đây, không lập văn tự, chỉ thẳng tâm
người, kiến tánh thành Phật. Ngươi chỉ khán một câu thoại
đầu ắt thấy được tánh. Thấy được tánh rồi liền gọi
là thành Phật. Đã thành Phật rồi, hết thảy đều không:
không nhân, không quả, không tu, không chứng, một pháp chẳng
lập, gọi là chân giải thoát. Ai dạy người trì trai niệm
Phật, cải ác tu thiện, sợ nhân quả, vun bồi phước đức,
đều là chẳng biết trong Tự Tánh một pháp chẳng lập, cũng
như không thể lập được một pháp nào. Ngươi chấp trước
pháp tướng, chẳng chịu lìa bỏ. Bỏ gốc đuổi theo ngọn,
không dây mà tự buộc. Người như thế gọi là Tiểu Thừa.
Sao có thể coi là thiện tri thức để thân cận được ư?
Phải biết những pháp Như Lai nói về nhân quả, tu chứng
v.v… đều là lấy lá vàng giả làm vàng để dỗ trẻ nín
khóc; bọn họ lại chấp là thật, vậy là trí bọn họ có
khác gì trẻ nít đâu! Nếu là đại trượng phu, Phật còn
chẳng thể được, há còn có những pháp nhân quả, tu chứng
v.v… Nếu lập một mảy trần, sẽ chẳng phải là Phật pháp.
Ông chỉ tự biết mình đã là Phật thì dù cho ăn thịt, uống
rượu, trộm cắp, hành dâm, không pháp nào chẳng phải là
Phật pháp! Trên thiên đường, dưới địa ngục, áo trời,
thức ăn trời, vạc dầu, lò than, có cảnh nào chẳng phải
là Phật cảnh? Tự ta chính là Di Đà, ngay nơi đây chính là
Cực Lạc; há nên khuấy động cái tâm vọng tưởng nghiệp
thức, quang quác cái miệng do cha mẹ sanh ra để cả đời
niệm Phật suốt ngày, chịu nhiều oan uổng ư? Cầu đến
lúc lâm chung vãng sanh Tây Phương, bỏ mình cầu nơi người,
bỏ nhà lang thang, há chẳng phải là tri kiến điên đảo,
tu tập lầm loạn hay sao?
Các
thứ ma thuyết đại để là như thế. Nay thử luận xem:
- Nếu
“chỉ cần tâm tốt cần gì phải trì trai” thì giết thân
mạng chúng sanh để sướng cái miệng là hảo tâm hay không
hảo tâm? Vả nữa, khi binh kiếp, giặc đến giết người
cũng nên coi đó là hảo tâm. Ví như lúc ngươi bị nó giết
bèn sẽ cảm ơn hay oán hận vậy? Ngươi vốn là Phật, chẳng
chịu niệm đức Phật nào khác, sao lại chịu giết chúng
sanh để ăn? Những chúng sanh ấy chẳng phải đều là cha
mẹ quá khứ, chư Phật vị lai hay sao? Như vậy, tâm tánh của
ngươi vốn đã là Phật, nhưng hành vi của ngươi vốn là
chúng sanh, sao chưa đắc bảo là đắc, đem phàm xen lộn thánh,
coi niệm đức Phật khác là nhục, coi sát sanh là vinh hiển
như vậy?
Đạt
Ma từ trời Tây qua, không lập văn tự là vì muốn cho con
người chứng ngộ triệt để bản thể, chẳng chú trọng
đọc tụng ngôn ngữ xuông. Nếu khế nhập bổn thể thì văn
tự chính là bản thể, chính là tướng giải thoát. Suốt
ngày đọc tụng, y giáo tu hành, rốt ráo chẳng có được
tướng văn tự. Như các bậc đại lão Vĩnh Minh Diên Thọ,
Thủ Sơn Niệm, Thê Hiền Thực, Dục Vương Vi v.v… đều suốt
đời đọc tụng, há các Ngài đều không biết ý chỉ “chẳng
lập văn tự” hay sao? Chỉ do ngươi hiểu lầm ý nghĩa “bất
lập” nên phế bỏ, bèn nói hết thảy kinh điển Tiểu, Đại
Thừa, vô lượng pháp môn do Như Lai đã nói đều là dùng
lá vàng giả làm vàng để phỉnh phờ trẻ nhỏ. Nếu như
vậy, Ca Diếp, A Nan, Mã Minh, Long Thọ, Vĩnh Minh, Thủ Sơn v.v…
đều là những gã chơi với lá vàng. Ngươi đã cho là họ
đều sai sao còn truyền thừa pháp của họ, bảo mình là Thiền
Tông. Nếu họ đúng thì “Thiền Tông” của nhà ngươi chẳng
phải là Thiền Tông của họ! Ngươi chỉ mạo danh họ, là
ác tặc phá hoại pháp của họ mà thôi!
Hơn
nữa, ngươi chấp trước vứt bỏ văn tự mới là “không
lập văn tự” thì Lục Tổ nói: “Chỉ một câu ‘chẳng
lập’ ấy đã là văn tự, huống gì còn có tám chữ chỉ
thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật!” Mười sáu chữ
ấy của tổ Đạt Ma từ trời Tây qua là văn tự hay không
phải là văn tự? Lại nữa, hết thảy đều không, không nhân,
không quả, không tu, không chứng, một pháp chẳng lập gọi
là chân giải thoát, thế sao lại lập phá trai, báng Phật?
Sao chẳng chịu để cho các pháp nương vào ác, phế thiện,
mê muội nhân quả, chiết phước tổn đức v.v… đều không?
Thượng trí biết Không càng tăng tấn đức, hạ ngu biết
Không bèn bỏ thiện. Ngàn trăm năm trước, Phật, Tổ sớm
đã vì ngươi phán định, ngăn ngừa.
Ngươi
gièm báng người khác chấp vào thiện pháp là “bỏ gốc
theo ngọn, là không dây tự trói, là Tiểu Thừa”, còn ngươi
chấp vào ác pháp, chẳng chịu vứt bỏ, đời này sẽ chịu
phép nước, chết đi đọa mãi trong A Tỳ, ấy có phải là
bỏ ngọn theo gốc, ấy có phải là trói mà không trói, ấy
có phải là Đại Thừa hay chăng? Ngươi nói: “Đại trượng
phu Phật còn chẳng thể được, huống hồ có nhân quả tu
chứng. Nếu lập một mảy trần thì không phải là Phật pháp;
cho nên Phật, nhân quả, tu chứng đều là mảy trần, đều
chẳng được lập”, nhưng ăn thịt, uống rượu, trộm cắp,
hành dâm, há chẳng phải là mảy trần đều lập được hay
sao?
Lại
hỏi: Cái tâm ăn thịt, uống rượu, trộm cắp, hành dâm là
tâm Phật hay tâm chúng sanh? Nếu bảo là tâm Phật, há Phật
giữ cái tâm ấy ư? Làm những chuyện ấy ư? Nếu bảo là
tâm chúng sanh thì há có còn là vượt ngoài nhân quả, có
còn chẳng phải là trần, có còn là Phật pháp nữa hay chăng?
Địa ngục vẫn là cảnh Phật, ngay nơi đây chính là Tây
Phương thì khổ cũng chẳng chán, vui cũng chẳng cầu, không
lấy, không bỏ, quên ghét, quên yêu, sao lại tham cầu danh
lợi đời này, hư vọng mong chết đi để lại tiếng tốt?
Xén trộm lời cổ nhân, thay đầu đổi mặt, cho là ngữ lục
của chính mình, chưa đắc bảo là đắc, chưa chứng bảo
đã chứng, đem phàm xen lộn thánh, dối xưng tri thức, dạy
nhiều nam nữ thiện tâm đọa hầm tà kiến, chôn mất huệ
mạng, từ đây đọa mãi trong ác đạo, muốn thoát ra không
có cách nào! Xét đến bổn nhân của gã ma con ấy chẳng qua
là muốn được danh lợi hư phù, mong người khác gọi mình
là bậc đại thiện tri thức mà thôi. Biết rõ hậu báo thì
tình trạng đau đớn thê thảm dẫu hết sạch trúc[27] khó
chép hết được nổi, chẳng đáng buồn sao?
Ông
đã phát tâm niệm Phật, nên dựa theo những gì đã nói trong
kinh luận Tịnh Độ mà tu. Những lời gã ma con nói chỉ là
ăn cắp từ lời lẽ của các tổ sư Tông Môn, do bản thân
gã hiểu lầm ý nhà Thiền, nên gã nói gì cũng đều dường
như là đúng nhưng thật ra là sai, thật sự trái nghịch đạo
lý nhà Thiền, thật sự là kẻ oán của Phật pháp. Nếu bị
hắn dụ, theo bè đảng hắn sẽ khó tránh khỏi vì hảo tâm
mà chuốc lấy quả ác, trọn chẳng thể thân cận gã ma con
ấy! Nên khăng khăng giữ lấy quy củ của liệt tổ Tịnh
tông đã thành lập, trì trai niệm Phật, cải ác hướng thiện,
biết nhân hiểu quả, vun phước trồng đức, để mong đời
này tiêu trừ nghiệp chướng, lâm chung chánh niệm vãng sanh
mới hòng khỏi uổng một đời này, đích thân làm đệ tử
Như Lai! Phải biết một pháp Thiền Tông gọi là “giáo ngoại
biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo), phàm những gì đề
xướng đều là “ý tại ngôn ngoại”, ngàn lời vạn lẽ
đều nhằm chỉ về Pháp Thân Lý Thể chẳng dính dáng gì
đến nhân quả, tu chứng, phàm, thánh, chúng sanh, Phật, để
con người trước hết ngộ được Thể này, rồi mới bắt
đầu tu nhân, chứng quả, siêu phàm nhập thánh, tức là chúng
sanh thành Phật đạo về mặt Sự.
Thế
nhưng những lời ứng với căn cơ gọi là “cơ phong”, hoặc
gọi là “chuyển ngữ” ấy đều là muốn cho người ta tham
thấu tự hiểu, nên không có nghĩa lý gì. Nếu hiểu được
thì là may mắn lớn. Nếu không hiểu thì lấy câu nói ấy
làm bổn mạng nguyên thần, quên ăn bỏ ngủ, suốt ngày thâu
đêm như một người chống lại vạn người, chẳng dám có
chút gián đoạn, phóng túng. Một năm chẳng ngộ bèn tham hai
năm, mười năm chẳng ngộ bèn tham hai mươi năm. Một đời
chẳng ngộ bèn đời đời tham. Nếu quả thật dốc trọn
thâm tâm này mà tham cứu câu ấy, quyết chẳng có lẽ nào
không ngộ! Ngộ rồi, bèn gọi là “ngộ đạo”, vẫn phải
trải qua các cảnh duyên để rèn giũa tập khí, ngõ hầu phiền
hoặc hết sạch mới gọi là chứng đạo. Gã ma con kia tưởng
lầm là ngộ, ngộ của hắn xét về toàn thể là ngộ nhận,
nói chi đến chứng, nhưng chẳng biết hổ thẹn, chẳng sợ
nhân quả, đến nỗi vô lượng nam nữ hảo tâm bị gã dụ
dỗ cùng đoạn thiện căn. Ông dốc lòng tin vào lời này sẽ
chẳng bị gã đó hãm hại. Hãy nhớ lấy, nhớ lấy!
26.
Trả lời thư anh em cư sĩ X… ở Vĩnh Gia
Giữa Xuân vừa hết, đã sang tiết Hè, quang âm vùn vụt, thật
đáng kinh người. Thường nhớ hai vị tín tâm chân thành,
khẩn thiết, pháp nhãn chưa tỏ, nên đến nỗi bỏ chỗ cao
minh chọn lấy chỗ tối tăm, hèn tệ. Khác nào bỏ vị Phật
sống trong nhà đi thờ pho tượng đất ngoài đồng; chẳng
những tự đánh mất chánh kiến còn để tiếng chê cười
cho thiên hạ. Tuy Quang tôi tiến thoái lưỡng nan, thẹn thùng
sâu xa, vẫn gởi thư để sau này quý vị có dịp sẽ tùy
thời xem đến. Quang tôi mắt mờ, sức yếu, nếu không có
chuyện gì bèn chẳng gần gũi bút mực; ví như có chuyện
phải đụng đến thì khác gì gom chữ, chồng giấy, nào có
khả quan gì? Nhưng sợ cô phụ lòng mong mỏi, nay bèn đem những
cơm thừa, canh cặn trước đây tạm gom thành một hai món.
Nếu chẳng hiềm chua hôi cũng có thể coi như là thứ khác
thường để nếm vị diệu tuyệt của tự tánh.
Bài
Tịnh Độ Quyết Nghi Luận là do vào năm Dân Quốc thứ ba,
cư sĩ Địch Sở Thanh vì ông Đoan Phủ trở về quê, số báo
thứ mười ba không đủ bài nên mới bảo tôi viết một hai
bài cho xôm tụ. Sau này, không người chủ trì bèn ngừng không
xuất bản. Bài luận văn ấy tuy dở vụng, nhưng giúp đoạn
nghi sanh tín không ít. Phần giải thích về bài Tứ Liệu Giản
của tổ Vĩnh Minh nên xem kỹ càng. Nếu không tin tưởng như
thế bèn thành hư văn. Đấy là những điều Bất Huệ tôi
đau lòng nhức óc phát huy trong mấy mươi năm, muôn vàn chớ
vì người đời nay nói này nói nọ mà cô phụ tâm đại từ
bi của tổ Vĩnh Minh. Bài luận “Lợi ích của việc trì kinh
phải do tâm mà luận” là vì người đời nay thọ trì kinh
điển trọn chẳng sanh khởi lòng kiêng dè mà viết. Muốn
được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, phải cầu nơi kính
sợ. Có thể dốc kiệt lòng thành, dốc cạn lòng kính thì
dẫu là quả đức rốt ráo còn có thể chứng được, huống
chi những thứ kém hơn ư?
Các
bài khác đều là tùy sự mà viết, đấy chính là lấy đá
nơi núi khác chế biến thành ngọc, chỉ xét đến phần lợi
ích – đừng so sánh về hình tích – thì sẽ được lợi
ích nhỏ nhoi, nếu đem sánh với trước tác của cổ đức
ắt phải đem đốt ngay không chần chừ, huống hồ còn có
thể để lọt vào mắt được ư?
Sách
Giản Ma Biện Dị Lục văn lý cao sâu, Thiền Giáo dung quán,
soạn từ mùa Hạ năm Ung Chánh thứ mười một (1733) đến
năm mười ba (1735) mới xong, chưa kịp khắc in, xe rồng đã
lên làm khách cõi trời. Đến sau này lúc in, do nguyên bản
dùng nhiều chữ Thảo để thay thế[28], kẻ chép lại không
xem xét kỹ bèn thay nhiều bằng chữ đủ nét [nhưng không
xét đến văn cảnh] khiến tác phẩm bị sai ngoa nhiều không
kể xiết. Giả sử Thanh Thế Tông (Ung Chánh) còn sống, chắc
chắn chẳng đến nỗi như thế. Mùa Xuân năm nay, tôi giảo
chánh tường tận hai lượt, mong hoàn lại bản lai diện mục
[của sách], đợi sau này đầy đủ nhân duyên, ngõ hầu chẳng
phụ Thế Tông một phen dốc cạn tâm ý.
Thiện Đạo hòa thượng là Di Đà hóa thân, có đại thần
thông, có đại trí huệ, xiển dương Tịnh Độ rộng rãi,
không chuộng huyền diệu, chỉ trọng chỗ chân thật, thiết
thực, bình phàm, thực tiễn dạy người tu trì. Lời dạy
của Ngài về hai cách Chuyên Tu và Tạp Tu lợi ích vô cùng.
1)
Chuyên Tu nghĩa là thân nghiệp chuyên lễ (phàm những khi đi
nhiễu và hết thảy những khi thân chẳng buông lung thì chính
là thân nghiệp chuyên lễ), khẩu nghiệp chuyên xưng (phàm
tụng kinh chú, có thể chí tâm hồi hướng thì cũng có thể
gọi là chuyên xưng), ý nghiệp chuyên niệm. Như thế thì vãng
sanh Tây Phương vạn người chẳng sót một.
2)
Tạp Tu là kiêm tu các pháp môn, hồi hướng vãng sanh. Do tâm
chẳng thuần nhất khó được lợi ích, trong trăm người khó
được một, hai; trong ngàn kẻ hiếm được ba bốn người
vãng sanh.
Đấy
là lời thành thật từ kim khẩu, là lời phán định đanh
thép ngàn đời chẳng đổi được. Hai vị nên dùng lời này
để tự lợi, lại nên dùng lời này để lợi khắp hết
thảy. Còn như pháp trì chú chỉ có thể dùng làm Trợ Hạnh,
chẳng được coi pháp Niệm Phật là hạnh tu kèm, coi Trì Chú
là Chánh Hạnh. Tuy pháp môn Trì Chú cũng chẳng thể nghĩ bàn,
nhưng phàm phu vãng sanh hoàn toàn do tín nguyện chân thành,
khẩn thiết, cảm ứng đạo giao với hoằng thệ đại nguyện
của Phật A Di Đà, nên được tiếp dẫn. Nếu chẳng biết
ý này, thì pháp nào, hạnh nào cũng đều chẳng thể nghĩ
bàn, tùy ý tu pháp nào cũng đều thấy “là không pháp nào
không được”, bèn thành “không Thiền, không Tịnh Độ;
giường sắt và cột đồng, vạn kiếp lẫn ngàn đời, không
một ai nương tựa!”.
Nếu
tự biết mình là phàm phu đầy dẫy phiền não, nghiệp lực
đầy thân, không dựa vào hoằng thệ nguyện lực của Như
Lai, quyết khó thể trong đời này thoát khỏi luân hồi, mới
biết lực dụng của giáo pháp cả một đời [đức Phật]
đều chẳng thể sánh với một pháp Tịnh Độ. Trì chú, tụng
kinh để trồng phước huệ, tiêu tội nghiệp thì được!
Nếu sanh tâm lầm lạc, muốn cầu thần thông thì có thể
nói là bỏ gốc theo ngọn, chẳng khéo dụng tâm. Nếu tâm
ấy cố kết, lại còn chẳng thông mặt Lý, giới lực không
vững, tâm Bồ Đề chẳng sanh, tâm ta - người càng thạnh,
ắt sẽ có ngày bị ma dựa phát cuồng. Phàm muốn đắc thần
thông, trước hết phải đắc đạo; hễ đắc đạo sẽ tự
có thần thông. Nếu chẳng dốc sức nơi đạo, chỉ cầu thần
thông, đừng nói chi thần thông chẳng đắc, dẫu có đắc
cũng trở thành chướng đạo. Vì thế, chư Phật, chư Tổ
đều nghiêm cấm chẳng cho người tu học vậy. Do trong đời
thường có hạng người kiến giải như vậy nên phải thuật
tỉ mỉ nhiều lượt.
Lệnh
thân[29] của hai vị còn tại thế, hãy nên đem pháp môn Tịnh
Độ, sự tích, cảm ứng thường giảng giải cho, ngõ hầu
họ sanh tâm hoan hỷ, tin nhận, phụng hành. Nếu chẳng coi
đó là hiếu, dẫu có thực hiện trọn những điều thế gian
gọi là Hiếu rốt cuộc có lợi ích gì cho cha mẹ đâu? Đại
Vũ là bậc đại thánh nhân chẳng cứu nổi hồn ông Cổn
hóa thành con hoàng nãi[30] chui vào vực Vũ Uyên. Thấy điều
đó chẳng đáng kinh sợ ư? Nếu đã tỉnh ngộ, hãy cầu sao
dẫn dắt được thần thức của cha mẹ cao dự hải hội,
thân cận Di Đà, hòng chứng được vô lượng quang thọ sẵn
có nơi tự tâm.
Cư
sĩ Chí Liên tuy siêng khổ hạnh, chỉ e tông chỉ Tịnh Độ
còn chưa biết, rất có thể lòng bà ta sẽ cầu chuyển được
thân nữ, hoặc cầu sanh vào chốn an vui trong cõi trời người,
chẳng thể triệt để buông xuống, đến nỗi đánh mất vô
biên lợi ích nơi những chuyện vui nhỏ nhặt của thế gian.
Cũng nên thường giảng nói cho bà ta biết khiến chí hướng
được quyết định. Phàm khuyên một người sanh Tịnh Độ
chính là thành tựu cho một chúng sanh làm Phật. Phàm thành
Phật ắt độ vô lượng chúng sanh, công ấy do ta khởi đầu,
công đức lợi ích há thể nghĩ bàn được ư?
Lại
nữa, tự mình đã tu Tịnh Độ, phải nên đem pháp môn này
khuyên khắp hết thảy, huống hồ với thê thiếp, con cái
há chẳng nên khuyên phát tâm khiến họ bị mất lợi ích
lớn lao hay sao? Nếu họ do thiên tánh thân cận pháp này thì
còn gì thiện bằng; nếu họ hơi trái nghịch cũng sẽ dần
dần tiêm nhiễm, ắt sẽ từ xa thành gần. Đấy mới là yêu
thương sâu xa, mới là lòng từ rộng lớn. Bỏ đi điều này
mà bảo là từ ái thì chỉ là hữu danh vô thực mà thôi!
Nói
xuông chẳng đủ để thuyết phục, tạm chép một hai điều
để hai vị thấy đại lược, muốn xem tường tận hãy đọc
Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Lạc Bang
Văn Loại[31] v.v… ắt sẽ có căn cứ để bắt chước theo,
không còn hoài nghi được nữa. Một bộ Pháp Uyển Châu Lâm[32]
thuật rõ nhân quả, lý sự đều cao, có thể đối trị cố
tật mù quáng bài bác nhân quả, phóng túng, không e dè gần
đây. Phàm ai có tín tâm đọc sách nên thường khuyên họ
đọc sách ấy, chẳng những hữu ích cho thân tâm tánh mạng,
lại còn thật sự có ích cho chuyện cách vật trí tri[33],
văn chương, học vấn. An Sĩ Toàn Thư cũng có tác dụng tương
tự, kẻ văn nhân đều chẳng thể không biết. Nỗi khổ Sa
Bà nói chẳng thể hết, dẫu nhằm thời thanh bình vẫn thường
ngày khổ não, do chúng sanh tiếp xúc lâu ngày thành quen nên
chẳng tự biết.
Gần
đây, Trung Quốc trải mấy lượt binh biến, đúng là khổ
chẳng thể nói. Nhưng các nước bên Âu Tây đại chiến ba
năm, người chết gần ngàn vạn, mở đầu cuộc binh kiếp
lần thứ nhất, nhưng tình hình chiến tranh vẫn còn dữ dội,
chẳng biết rốt cuộc thế nào? Lặng im suy nghĩ, quả thật
đáng sợ hãi, bên kia họ đang tận lực tìm cách tàn diệt
nước khác. Ác báo do ác nghiệp của chúng sanh trong quá khứ
chiêu cảm cũng chưa lúc nào đến nỗi cực độ như thế.
Nay nghe lời này, hãy nên phát phẫn đại tâm, mau cầu vãng
sanh. Sau đấy, trở vào Sa Bà, phổ độ hết thảy. Kinh dạy:
“Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát sợ chuốc
lấy quả ác nên đoạn nhân ác. Nhân ác đã đoạn thì quả
ác không sanh từ đâu được. Chúng sanh đua nhau gây nhân ác,
đến nỗi thọ quả ác. Khi hứng chịu quả ác, chẳng biết
tự sám hối nghiệp cũ, lại gây tạo pháp ác nghiệp để
đối trị nên oan oan tương báo bao kiếp chẳng ngơi. Chẳng
đáng buồn ư? Chẳng đáng sợ sao? Biết rồi mà chẳng cầu
sanh Tịnh Độ thì chẳng phải là người nữa!
27.
Trả lời cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ nhất)
Nhìn chung, ông chọn lựa học vấn trong hai mươi năm, trải
đủ nạn hiểm rồi mới có thể từ Nho học Phật, từ Tục
tu Chân, bỏ tự lực, chuyên đề cao Tịnh Độ. Có thể nói
là “tam sanh hữu hạnh”, đồng về một đạo vậy. May mắn
lắm! An ủi lắm! Phàm con người trong đời trước quả thật
đã trồng thiện căn thì đừng nói là vì học cầu đạo
nên có thể tạo thành cơ sở tốt đẹp cho đại sự xuất
thế, mà ngay cả phiền não Hoặc nghiệp tham - sân - si, tật
bệnh dây dưa, đủ mọi ác báo vẫn đều có thể tạo thành
nhân duyên xuất sanh tử nhập Phật pháp, tùy thuộc người
ấy có thể tự tỉnh ngộ hay không!
Không
thể tự phản tỉnh thì đừng nói chi kẻ tầm thường bị
cái học thế gian câu thúc, ngay cả Hối Am, Dương Minh, Tĩnh
Tiết, Phóng Ông v.v… tuy học vấn, tu dưỡng, kiến giải
thảy đều kỳ đặc, trác tuyệt, nhưng rốt cuộc cũng chẳng
thể triệt ngộ tự tâm, liễu thoát sanh tử. Học vấn, tu
dưỡng, kiến giải của họ có thể dùng làm cơ sở cho vô
thượng diệu đạo, nhưng họ không biết tự phản tỉnh,
rốt cuộc thành chướng ngại cho việc nhập đạo. Đủ biết
nhập đạo khó khăn, đúng là khó hơn lên trời vậy!
Những
câu như “chớ chấp trước” về Lý thì đúng, nhưng về
Sự lại chẳng phải là chuyện hàng phàm phu sát đất có
thể làm được! Suốt ngày mặc áo, ăn cơm, bèn nói khơi
khơi chẳng chấp đói lạnh, bảo với kẻ bụng rỗng, suốt
ngày chẳng được chén nước hạt cơm, sắp chết đói rằng:
“Ta xem gan rồng, tủy phượng giống như vật nhơ, nghĩ đến
muốn ói, huống gì nuốt xuống được!” Cùng là một loại
nói xuông như vậy thôi. Hiện thời người không rõ giáo lý,
ngay những kẻ tham Thiền thường đa phần mắc bệnh giải
thoát xuông này. Còn như khi tịnh tọa lắng lòng, không cảnh
hiện tiền, bất quá là do ngưng lặng khuất phục vọng tưởng
nên ngẫu nhiên huyễn cảnh phát hiện. Nếu tưởng lầm đó
là dấu hiệu [chứng tỏ mình chứng ngộ] rồi sanh hoan hỷ
lớn ắt sẽ mất trí thành cuồng, Phật cũng khó lòng trị
được! Nếu may mắn quan sát kỹ, không chấp trước, vứt
bỏ huyễn vọng, chợt quán thông các pháp môn, có thể nói
là: “Đi trong gai góc đã lâu, chợt đến chỗ quang đãng”.
Con
người đời Mạt căn tánh hèn kém, tri thức hiếm hoi, nếu
chẳng cậy vào Phật từ lực, chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ
cậy vào tự lực, tham khấu Thiền Tông thì những người
đạt được minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng chân, hiếm
có một ai; kẻ tưởng huyễn là chân, coi mê là ngộ, ma dựa
phát cuồng, thật nhiều vô kể! Do vậy, các vị Vĩnh Minh,
Liên Trì v.v… quán xét căn cơ đương thời, cực lực chủ
trương pháp môn Tịnh Độ. Nếu như sánh ví thì đấy chính
là lý luận xác đáng ngàn phần đúng, vạn phần đúng trong
hiện tại. Hưng điều lợi, trừ thói tệ, ắt phải xét đến
kết quả rốt ráo trong tương lai thì mới hợp thời. Nếu
không lại noi theo vết xe đổ: Chặt bỏ đầu, chân hòng để
trị bệnh nơi đầu và chân, há chẳng khiến người khác
đau buồn ứa lệ, thở than dài ư?
Còn
đối với câu hỏi lời đáp về chuyện tín tâm chân thành,
khẩn thiết, hạnh nguyện chuyên nhất, xét về Lý tuy đích
xác, nhưng chưa thể khai phát tín tâm cho người, trình bày
chủ kiến của chính mình, nay tôi xin đáp thay rằng:
- Tôi
đã nghiên cứu khắp giáo lý, xem khắp các thánh, nên mới
được như thế, há nào phải là nghiên cứu, thân cận tầm
thường ư? Vì sao nói thế? Pháp môn Tịnh Độ do Thích Ca
và Di Đà kiến lập, do Văn Thù, Phổ Hiền chỉ bày, hướng
dẫn về, do Mã Minh, Long Thọ hoằng dương, do các vị Khuông
Lô[34], Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích
phát huy, đề xướng, hướng dẫn hòng khuyên khắp dù thánh
hay phàm, dù ngu hay trí. Các vị Bồ Tát đại sĩ ấy từ ngàn
trăm năm trước, sớm đã vì tôi nghiên cứu khắp Tạng Giáo,
đặc biệt chọn ra diệu pháp “chẳng đoạn Hoặc nghiệp
mà được dự vào Bổ Xứ, ngay trong một đời này quyết
định xổ lồng” chí viên, chí đốn, hết sức giản dị,
thống nhiếp Thiền, Giáo, Luật, vượt trỗi Thiền, Giáo,
Luật, vừa cạn, vừa sâu, vừa Quyền, vừa Thật, đặc biệt,
siêu việt thiên nhiên này. Tôi tin tưởng Phật, Tổ, lấy
cổ đức làm thầy, há chẳng bằng thân cận thiện tri thức
đời nay hay sao? Kinh Hoa Nghiêm vua trong Tam Tạng, cuối cùng
quy trọng nguyện vương. Hoa Tạng hải chúng đều chứng Pháp
Thân, đều cầu vãng sanh hòng viên thành Phật quả. Tôi là
hạng người nào dám chẳng tuân theo? Hãy bỏ cái tâm cuồng
ấy, tận lực hành theo đạo ấy, công đức lợi ích sẽ
tự chứng biết, nào phải đợi đến khi tham học rộng
28.
Thư trả lời cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ hai)
Sách Di Đà Trung Luận, dù kinh hay luận đều có công với
Tịnh nghiệp hành nhân, mà cũng là đầu mối để người
đời sau bài bác cổ nhân xằng bậy; lỗi ấy thật chẳng
phải cạn cợt! Như sách ấy viết: Hãy nên chọn lấy pháp
bế quan chuyên tu, hoặc kể từ khi ngài Khuông Lô sáng lập
Liên Tông đến nay, không ai hiểu nghĩa lý kinh, tự chứng
tam-muội, chỉ một mình Tỉnh Nhất đại sư. Đấy là lời
bàn luận thiên kiến, hạn hẹp, khinh miệt cổ đức thậm
tệ, mở ra đầu mối ngã mạn, mưu toan ngang hàng với bậc
thông triết, há chẳng phải là vì báng Pháp, báng Tăng nên
mới lập ra thuyết ấy, thật ra là muốn phô mình tự được
chân truyền của bậc thánh sư, đúng là công thần bậc nhất
của Tịnh tông mà thôi. Còn như tác giả chỉ trích các vị
Tử Các, Vân Thê, Ngẫu Ích v.v… càng lộ rõ sự ít thấy
ít nghe, chẳng thông đạt các pháp môn Quyền - Thật của
Như Lai, muốn lấy căn cơ của mỗi một mình ông ta làm chuẩn!
Như
cổ đức nói: “Một mắt lưới bắt được chim, chẳng thể
nói mắt lưới ấy chính là toàn thể cái lưới. Một người
có công trị quốc, chẳng thể coi một người là cả đất
nước”. Ông Vương Canh Tâm quyết muốn coi một mắt lưới
là cái lưới, coi một người là đất nước, nên lập ra
luận ấy, khá là kiêu căng. Vẫn là tuổi trẻ bụng rỗng
tâm cao, nhưng chớ nên giữ thái độ ngông cuồng ấy suốt
đời. [Ông ta] khoe mình bế quan hai kỳ, cũng có sở chứng,
thật khó tin tưởng! Vì sao nói thế? Người chứng tam-muội
chẳng lập ra nghị luận biện bác như thế, chỉ tâm bình
khí hòa, chỉ đề cao Lý. Nếu cuốn luận của ông ta có nhiều
chỗ hợm mình chê người, ấy chính là lời lẽ của kẻ
biện bác: “kiên bạch đồng dị” [35], không phải là bộ
luận khế lý, khế cơ quyết định! Dẫu có công đi nữa,
tôi chẳng dám hướng về người khác tán thán, bảo họ thọ
trì, lưu thông.
Lưu
thông Phật pháp thật chẳng phải chuyện dễ; phiên dịch
kinh luận chẳng phải là chuyện chơi. Do vậy, trong dịch trường
phải có vị chủ dịch, vị dịch ngữ, vị chứng nghĩa, nhuận
văn, nào dám tùy tiện tự tâm cắt xén, truyền bá kinh Phật!
Bản kinh Đại Di Đà[36] của ông Vương Long Thư từ triều
Tống đến cuối đời Minh được nhiều người thọ trì;
do ngài Vân Thê chê có những chỗ không hợp lý thích đáng
nên từ đó về sau dần dần ẩn mất. Ông Ngụy Thừa Quán
học thức không bằng Vương Long Thư, tự cho mình hơn hẳn
Long Thư, noi theo dấu vết của người khác mà ra công nên
dễ đắc lực, phải đâu Thừa Quán vượt trội Long Thư?
Tổ Liên Trì còn không lưu thông bản của họ Vương, bọn
ta dám đâu lưu truyền bản của họ Ngụy, bởi lẽ sẽ tạo
đầu mối cho hậu nhân lầm lạc sửa đổi kinh Phật và tạo
thành nạn bài xích Phật, chê: “Kinh Phật toàn do người
đời sau biên soạn, chứ chẳng phải từ ban đầu kinh quả
thật được dịch từ nước Phật ra!”
Nhưng
nếu bậc chân tu thượng sĩ xem đến kinh[37] ấy, luận ấy
ắt có lợi ích lớn, chỉ chọn lấy những gì ích lợi mà
chẳng bị nhiễm những điều tệ. Nếu kẻ hạ căn xem đến,
chẳng được ích lợi gì, trước hết còn bị tổn hại,
bắt chước thói tệ sửa kinh, chê cổ đức, chẳng học đòi
hạnh thẳng chóng, chuyên tinh. Quán sát căn cơ mà dạy cho
thích hợp, đối chứng bệnh mà phát thuốc. Dạy chẳng khế
hợp căn cơ, cho thuốc chẳng đúng bệnh vậy! Dám vì một
hai điều chấp nhận được bèn cho lưu thông rộng khắp hầu
tạo tội khiên cho kẻ hạ căn ư? Bộ Thích Quần Nghi Luận,
Quang tôi trước kia chưa từng thỉnh được, cũng đã từng
được xem qua một lần. Do mục lực chẳng đủ, đành chịu
lỗi chẳng thể đọc nhiều lượt.
Nếu
luận về sách phù hợp căn cơ hay nhất thì nên lấy Tịnh
Độ Thập Yếu làm đầu, sách Di Đà Yếu Giải là lời chú
giải tinh diệu nhất của ngài Ngẫu Ích, trong những bản
chú giải kể từ khi đức Phật nói ra kinh này đến nay, nên
tôn sách này là bậc nhất. Dẫu cho cổ Phật tái xuất trong
đời, hiện tướng lưỡi rộng dài, chú giải lại kinh này,
cũng chẳng thể hay hơn được nữa! Huống hồ kẻ hậu sinh
nghe hiểu nông cạn, lại toan chê trách, mong trỗi vượt hơn
ư? Đem lửa đom đóm sánh với mặt trời, thật chẳng biết
lượng sức! Tiếc cho họ Vương sao lại khổ sở như thế!
Chú Am hỏi đến sách nào đều đọc được, đấy chính là
Tha Tâm Thông! Tôi muốn trình bày rõ ý chỉ ấy nhưng cần
phải tu bổ [lầu] Tàng Kinh nên không rảnh, đành đợi khi
khác.
29.
Trả lời thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ ba)
[Để hiểu] kinh A Di Đà nên dựa theo sách Yếu Giải của
ngài Ngẫu Ích, những lời giải thích trong sách Di Đà Trung
Luận phần nhiều là ý kiến tùy tiện của chính tác giả,
trái nghịch ý chỉ kinh, không thể tin cậy được! Phật vì
chúng sanh trong chín pháp giới thuyết pháp, há có nên vì trí
lực của mình chẳng thấu tới bèn đoan quyết chẳng có lý
ấy hay chăng? Lời giải thích về đoạn kinh “từ một ngày
đến bảy ngày” chứng tỏ tác giả đã đem chính mình so
lường chín pháp giới. Nếu nói như vậy, không riêng gì bộ
kinh Di Đà chẳng thể thống nhiếp mọi căn cơ, mà ngay cả
toàn bộ những đàm luận nhiệm mầu viên đốn trong giáo
điển cả một đời đức Phật cũng sẽ do trí của chính
mình không hiểu thấu mà trở thành vọng ngữ! Báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng, tội chẳng thể dung! Dẫu sách ấy cũng
có chỗ cảnh tỉnh, khải phát hạng hạ căn, nhưng làm tổn
hại đại thể. Do vậy, Quang tôi chẳng dám khuyên người
khác thọ trì.
Pháp
môn Tịnh Độ khác nào biển cả; sông to, rạch lớn đều
đổ vào biển. Chén nước, giọt nước cũng đổ vào. Bậc
chứng ngang với chư Phật còn cầu vãng sanh; kẻ Ngũ Nghịch
Thập Ác cũng dự vào phẩm cuối. Há có nên đem chuyện đắc
nhất tâm và tam-muội để cự tuyệt người chưa đắc? Chỉ
nên học theo như trên, hòng được như vậy, tự mình quyết
chí cầu sanh, hãy chỉ nên mong mỏi được như thế. Nếu
nói không nhất tâm và đắc tam-muội quyết định chẳng được
vãng sanh thì chính là tự lập luận thuyết, chẳng nương
theo lời Phật nói. Ba kinh Tịnh Độ lưu thông từ cổ cùng
với phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện là bốn kinh, há nên nói
là chẳng đáng tôn làm khuôn phép ư?
Nay
người tu Tịnh nghiệp, đa số chẳng biết tông chỉ, chỉ
dựa theo sự tướng. Nói dễ dãi thì cũng có thể gọi là
hành nhân Tịnh tông. Nhưng nếu nói nghiêm khắc, thật ra trong
trăm người có đến chín mươi lăm người đều thuộc loại
“không Thiền, không Tịnh Độ”. Há có thể lấy những
người như vậy làm chuẩn được sao? Do Tiểu Bổn (kinh A
Di Đà) văn giản dị, nghĩa phong phú, nên được dùng làm
kinh nhật tụng, còn những kinh kia thì tùy mỗi người thọ
trì khác biệt. Những gì được nói trong sách Di Đà Trung
Luận, cố nhiên có nhiều điều hữu ích, nhưng những điều
gây trở ngại lại cũng chẳng ít. Nếu không có mắt trí
huệ chọn lựa pháp, chỉ e chẳng được lợi ích gì, lại
còn bị tổn hại hết cả, như những lời sách ấy giải
thích về một ngày đến bảy ngày, thập niệm chẳng độ
v.v…
Thọ
trì đọc tụng từ đầu đến cuối là Chánh Hạnh của nhà
Phật; dẫu là kẻ chuyên chú tham cứu trong Thiền Tông cũng
phải thọ trì như thế, như các vị Dược Sơn, Ngưỡng Sơn,
Vĩnh Minh, Thủ Sơn, Thê Hiền Thực, Dục Vương Vi v.v… Chỉ
khăng khăng đề cao hướng thượng thì tợ hồ có bài bác
việc thọ trì, chẳng biết đề cao hướng thượng thì khắp
thế gian, pháp gì, chuyện gì cũng đều quy về bổn phận.
Còn những kẻ chưa đắc môn ấy, chỉ hiểu nghĩa lý trên
mặt văn tự rồi từ đó tham Thiền, đa phần miệt thị kinh
giáo. Bọn họ tuy tự xưng là Thiền nhân, nhưng thật ra là
tội nhân của pháp môn, là nghịch tử của Như Lai, sao đáng
nói đến? Khuyên nên thọ trì đọc tụng thì các kinh không
kinh nào chẳng dạy như thế, há nào phải chỉ mình Kim Cang
hạnh nguyện?
Kinh
Hoa Nghiêm vua trong Tam Tạng, cuối cùng quy trọng nguyện vương,
nhưng coi trọng Hoa Nghiêm chẳng được coi thường các kinh
khác vì các kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể
của kinh. Kinh Hoa Nghiêm lớn lao vì là đại pháp vượt ngoài
pháp giới bàn thẳng vào chuyện xứng tánh, chẳng gồm Nhị
Thừa. Pháp Hoa hay khéo ở chỗ gom ba thừa về Nhất Thừa,
khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn[38]. Vì thế tông
Thiên Thai bảo kinh Pháp Hoa “thuần viên độc diệu”, bởi
lẽ Hoa Nghiêm vẫn còn nói kiêm về Quyền Giáo (tức là kinh
Hoa Nghiêm còn nói đến những địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng. Những địa vị ấy thuộc về Quyền Giáo).
Nhưng đối với kinh Pháp Hoa, Phật khen ngợi Pháp Hoa là vua
trong các kinh; với Hoa Nghiêm cũng thế. Sau này, những người
hoằng truyền kinh trong thế gian quyết định trong năm bộ
phận lớn[39], chia ra kinh này cao, kinh kia thấp, chẳng phải
là kinh nào cũng riêng được khen ngợi ư? Người tu Thiền
ca ngợi Thiền Tông, người tu Tịnh Độ ca ngợi Tịnh Độ.
Nếu không như thế sẽ chẳng thể khiến cho con người sanh
chánh tín, phát khởi lòng ngưỡng mộ. Phải khéo hiểu ý
nghĩa, chớ để văn từ hại ý. Mạnh Tử ca ngợi Khổng Từ
là vị thánh chưa từng có trong trăm họ, nhưng Khổng Tử
thấy vua Nghiêu trong canh, thấy vua Thuấn nơi tường, thấy
Châu Công trong mộng, lòng bắt chước, ngưỡng mộ ba vị
thánh ấy sao mà chí thành đến mức cùng cực như thế!
Người
niệm Phật chỉ cần chân thật, khẩn thiết niệm Phật sẽ
tự có thể cậy vào Phật từ lực, tránh khỏi đao binh, nước,
lửa. Nếu có gặp thì là do túc nghiệp kéo lôi cũng như vì
được chuyển tội nặng trong địa ngục thành báo nhẹ trong
đời này nên mới gặp phải những nạn ấy. Nhưng do thường
ngày có lòng tin chân thành, nguyện khẩn thiết, chắc chắn
lúc ấy sẽ được Phật tiếp dẫn. Nếu đã chứng tam-muội
trong hiện tại, cố nhiên đã dự vào dòng Thánh, tự thân
như huyễn, đao binh, nước, lửa đều chẳng gây trở ngại
được. Dẫu hiện thời gặp nạn, thật ra không khổ, trong
thế giới mênh mông được mấy ai như thế?
Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm nghĩa lý rộng mênh mông, văn tự
vi diệu, tụng phẩm này sẽ khiến cho những chấp trước
“ta, người, chúng sanh” của người tụng trở nên không
còn nữa; thiện căn vãng sanh Tịnh Độ ngày càng tăng trưởng.
Lẽ ra phải nên tự hành, dạy người, nhưng chớ nên vì không
trì kinh này, tu ngay Tịnh Độ, [mà cho rằng người như vậy]
cũng thuộc hạng bạc phước, kém cỏi. Các vị Liên Trì,
Ngẫu Ích cũng đều cực lực hoằng dương kinh này, trong Di
Đà Yếu Giải có câu: “Trong giáo pháp suốt cả một đời
của Như Lai, chỉ có mình kinh Hoa Nghiêm luận về sự viên
mãn ngay trong một đời, nhưng cái nhân để được viên mãn
trong một đời thì đến cuối cùng Phổ Hiền Bồ Tát dùng
mười nguyện vương dẫn về Cực Lạc, khuyến khích Thiện
Tài và Hoa Tạng hải chúng. Ôi! Bẩm tánh của kinh Hoa Nghiêm
đã được đặt trọn trong kinh này, nhưng thiên hạ xưa nay
tin ít ngờ nhiều, viết càng lắm, nghĩa càng hao, tôi chỉ
còn có cách mổ tim vẩy máu mà thôi”.
Do
vậy, ngài Vô Ẩn nói kinh Hoa Nghiêm chính là quảng bổn (bản
kinh giảng chi tiết) của kinh Di Đà, Di Đà chính là lược
bổn của Hoa Nghiêm. Ngẫm lời hai vị đại sư liền biết:
Nếu xem kinh mà không có con mắt viên dung sẽ cô phụ Phật
ân nhiều lắm! Những gì Bất Huệ vụng về viết ra, tuy nghĩa
lý có chỗ đáng dùng được, thật chẳng đáng coi là tác
phẩm kiệt xuất thiên cổ, chẳng phải là thứ văn chương
thường được khen ngợi cả một đời, chớ nên đem phàm
xen lộn thánh, xem miếng gỗ một tấc trội hơn lầu cao!
Trong
thư trước, ông nói sẽ qua Dương Châu, xin cứ tùy hỷ, tôi
chưa từng đến đó. Lại nghĩ ông trên có mẹ già, trong nhà
vợ yếu con thơ, lẽ ra nên tu trì tại gia, chớ nên rong ruổi
bên ngoài. Chủ nhân có mặt ắt những chuyện bất ngờ bên
ngoài tự nhiên chẳng khởi. Nếu ra ngoài lâu ngày không về,
chẳng những hiếu giáo[40] bị khuyết, chỉ e tiểu nhân thừa
dịp, trộm, cướp, nước, lửa đều nên đề phòng. Chẳng
những không nên đi Dương Châu, ngay cả Phổ Đà cũng không
nên tới. Nếu muốn chuyện trò, giãi bày, đã có bưu cục
thay mình thông báo. Đôi bên đã thấu tình nhau, tốn kém quả
thật chẳng mấy, sao không tính cho đôi bề vẹn lẽ vậy?
Mong từ đây về sau đừng đánh điện tín, nếu có chuyện
gì cần trình bày, hãy đợi ba tháng rưỡi sau hãy gởi.
Đi
qua Dương Châu nói chung là bốn tháng rưỡi, nếu lại quyết
định muốn lên núi [Phổ Đà] thì cũng nên tới vào ba tháng
rưỡi sau. Nay đang nhằm lúc mọi người lên núi dâng hương,
không biết khách dâng hương quá nhiều, mọi chuyện khó lòng
đúng pháp. Gần đây đường tàu đã mở, từ tháng Giêng
đến tháng Tám đều có người đến. Lúc rảnh thì mọi chuyện
đều đúng thứ tự, lúc bận bịu thì mọi việc đều trở
thành láo nháo hết. Người chân tâm lễ yết Đại Sĩ không
thể không biết. Phật đạo không sâu, không cao, không cạn,
không lớn, phải vừa sâu vừa cạn mới gọi là thường trụ.
Ngôn từ chẳng diễn đạt được ý, nên nói là vừa cạn,
vừa sâu, vừa nhỏ, vừa lớn, pháp nào cũng viên thông nên
gọi là Thường Trụ.
30.
Thư gởi cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ tư)
Vân Thê đại sư lập pháp dạy người đều là những chuyện
thực hiện trong cuộc sống thường nhật, thực tiễn. Tu trì
theo đó thì ngàn phần thích đáng, vạn phần ổn thỏa, trọn
chẳng đến nỗi được chút ít cho là đủ, bị ma dựa phát
cuồng. Vương Canh Tâm chưa mười phần hiểu rõ yếu chỉ
nhập đạo, lại mặc tình múa bút, mặc sức huênh hoang mạt
sát hết thảy. Dẫu có tâm hoằng pháp, nhưng thật ra mắc
lỗi hoại pháp. Đấy đều là do hai chứng bệnh “chẳng
gần gũi bậc tri thức sáng mắt” và “chẳng phản tỉnh
tự vấn” mà nên nỗi.
Tâm
gặp ác mộng là dấu hiệu ác nghiệp đời trước hiện ra,
nhưng cảnh được hiện không có thiện - ác, chuyển biến
ở nơi chính mình. Ác nghiệp hiện nhưng chuyên tâm niệm Phật
thì ác nhân duyên biến thành thiện nhân duyên, ác nghiệp
đời trước chuyển thành người hướng dẫn cho đời này.
Tiếc cho người đời thường bị nghiệp buộc ràng, chẳng
thể chuyển biến, thành ra đã té giếng còn bị ném đá,
khổ càng thêm khổ! Quang tôi do mắt quáng chẳng thể xem kinh
viết chữ, mùa Hạ này toan soạn bài luận nói về sự dốc
kiệt lòng thành mới được lợi ích thật sự, nhưng viết
chưa được một nửa thì thị lực đã không kham nổi, do
đó phải ngừng giữa chừng. Vẫn muốn trong những tháng mùa
Đông sẽ chuyên tâm sám hối túc nghiệp, ngõ hầu sức nhìn
mạnh hơn một chút, sẽ tiếp tục hoàn thành [bài luận ấy].
Lại do năm ngoái đáp ứng lời cư sĩ Trần Tích Châu tu chỉnh
cuốn Phổ Đà Sơn Chí, vì Quang nhãn lực như thế chắc cũng
phải kéo dài hai ba năm. Nếu mắt sáng sẽ nguyện tận lực
trong năm sáu năm, đem hết những sự tích về Quán Âm trong
Đại Tạng phân môn chia loại, soạn theo thể phú, chép tường
tận dưới bản văn. Sách soạn thành, khắc thành hai bản,
một để tại chỗ in kinh, còn một giữ ở Phổ Đà, mong
cho hết thảy những ai hữu duyên cùng được thấm nhuần
sự chẳng thể nghĩ bàn của Đại Sĩ. Nếu mắt vẫn như
cũ, chỉ đành nói số mạng như thế, biết làm sao được!