Lời
Tựa Tự Ðề
Ấn
Quang tôi là một ông Tăng phàm tục ở Tây Thái chỉ biết
đến cơm cháo, trăm sự không làm được điều gì; túc nghiệp
sâu nặng đến nỗi hoàng thiên phải quở trách. Mới sanh
ra sáu tháng đã mắc bệnh mắt, trong suốt một trăm lẻ tám
ngày không mở nổi mắt. Ngoại trừ lúc ăn, ngủ ra, thường
khóc suốt ngày đêm. Nhờ túc thiện lực, may còn được thấy
ánh sáng, cũng là điều may mắn lớn. Ðến tuổi thiếu niên
đọc sách, lại bị hãm vào vực xoáy báng Phật của Trình,
Chu, Âu, Hàn (1). Từ đấy, hằng ngày chuyên chí bác Phật,
nghiệp tướng lại hiện, bệnh tật triền miên. Tận lực
nghĩ ngợi, suy xét cặn kẽ mới biết lỗi đó; năm hai mươi
mốt tuổi, xuất gia làm Tăng. Nhân thấy Tăng chúng có kẻ
chẳng như pháp nên phát nguyện chẳng trụ trì chùa miếu,
chẳng thâu đồ đệ, chẳng hóa duyên, chẳng cùng ai kết
xã lập hội. Hơn năm mươi năm, chẳng đổi chí ban đầu,
sống lẩn quất gần Ngô Môn.
Ðầu
tháng Chín, Lý Sự Trưởng (hội trưởng) hội Phật Giáo Trung
Quốc là pháp sư Viên Anh, các vị lãnh tụ của Bồ Ðề Học
Hội như cư sĩ Khuất Văn Lục v.v… thấy tôi tuổi tác ngỡ
tôi có chút tâm đắc, nào hay tôi chỉ biết húp cháo nuốt
cơm, họ thỉnh tôi khi pháp hội Tức Tai Hộ Quốc khai mạc,
sẽ đến đất Hỗ (Thượng Hải (2)) diễn thuyết. Cố từ
chẳng được, chỉ đành đem điều [mình hiểu biết] lầm
lạc bù đắp sự lầm lạc (3).
Ðến
kỳ, mỗi ngày ông Ðặng Huệ Tải và hai ba vị cư sĩ ở
Vô Tích đều dùng máy thu âm thu lại, nghe băng chép ra, mang
đến xin tôi giám định để ấn hành. Bản sao lục này [so
với lời giảng] có vài điểm sai khác đôi chút. Nhưng bản
sao của ông Ðặng chép chữ to, nên tôi dựa theo đó, sửa
đổi, tóm tắt lại. Cảo bản này bậc thông huệ chẳng cần
xem đến, còn ai ngu độn như Ấn Quang tôi mà lại muốn ngay
trong đời này kết liễu đại sự sanh tử và muốn trị tâm,
trị thân, trị gia, trị quốc, nhưng chẳng biết bắt đầu
từ đâu, xem đến cảo bản này, họa chăng có điều bổ
ích vậy.
Trọng
Ðông năm Bính Tý (1936), Ấn Quang đề
(1)
Trình, Chu, Âu, Hàn là Trình Y Xuyên, Chu Hy, Âu Dương Tu, Hàn
Dũ, những nhà Tống Nho cực lực bài xích đạo Phật. Người
bài bác đạo Phật nặng nề nhất là họ Trình và họ Chu.
(2)
Ở vùng Thượng Hải có con sông lớn tên là Hỗ Ðộc giang,
nên Tàu hay gọi Thượng Hải là đất Hỗ
(3)
Ở đây Ðại Sư ý muốn dùng câu “Tương thác tựu thác”
của ông Vô Vi Tử (Tống Dương Kiệt), ngụ ý: Khi chưa triệt
chứng Phật tánh thì cầu sanh Tịnh Ðộ vẫn là lầm lạc,
nhưng phải dùng cái lầm lạc đó để tạo cơ hội dứt trừ
cái lầm lạc trong đường sanh tử.
Lời
tựa cuốn Ấn Quang Pháp Sư Khai Thị Lục
Thế
gian biến loạn do đâu? Nói gọn một lời: Do tâm tham - sân
- si của chúng sanh tạo nên mà thôi. Tâm tham thuận theo sự
hưởng thụ vật chất càng tăng trưởng mãnh liệt, hễ có
chút gì chẳng toại ý liền ganh đua ngay. Nếu vẫn chẳng
toại ý liền công kích, chiếm đoạt, đấu đá khiến cho
tử vong, tai nạn xảy ra. Bởi đó, dịch lệ đói kém xảy
ra, hết thảy tai họa phát khởi. Lửa sân hừng hực, cả
thế giới cháy sạch thành tro.
Chỉ
mình đức Phật ta xiển dương sự thật Khổ, Không để trị
lòng tham của chúng sanh, hoằng dương tông chỉ từ bi để
trị lòng sân của chúng sanh. Ngài lại dạy pháp môn Tịnh
Ðộ để chỉ dạy chúng sanh con đường lìa khổ hưởng vui,
phương tiện vượt ngang ra khỏi tam giới. Là Phật tử, phải
tin vào thể tánh bình đẳng của tam giới, hiểu rõ tướng
trạng nhân quả khổ vui, biết công dụng tự tha cảm ứng,
khởi vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, ngày nào nỗi
khổ của chúng sanh chưa trừ thì ngày đó trách nhiệm của
kẻ thất phu chưa tận, nên trong ngày ấy, các sự nghiệp
thỉnh pháp, tùy học, sám hối, cúng dường chưa thể ngưng
nghỉ được. Tông chỉ kiến lập pháp hội Hộ Quốc Tức
Tai của Bồ Ðề Học Hội và các hội viên đã giống như
thế, mà lão pháp sư Ấn Quang phó hội diễn thuyết cũng do
bổn hoài ấy. Ðạo lý Hộ Quốc Tức Tai nào có phải là
cầu gì ở bên ngoài đâu!
Nếu
ai nấy chẳng làm các điều ác thì những sự tổn hại chúng
sanh đều sẽ chẳng ai làm, tham-sân chẳng đủ để tạo thành
tai họa vậy! Ai nấy có thể làm các điều thiện thì hết
thảy những việc lợi ích chúng sanh không gì là chẳng làm,
quốc gia ắt đạt đến cảnh bình trị vậy! Ai nấy có thể
tu hạnh Tịnh Ðộ thì sẽ tự tịnh ý mình. Một niệm niệm
Phật thì một niệm tương ứng với bi tâm của đức Di Ðà.
Niệm niệm niệm Phật thì niệm niệm tương ứng với bi tâm
của đức Di Ðà. Tịnh niệm tiếp nối, tham sân tự trừ.
Nếu thật sự được như thế thì Sa Bà chính là Tịnh Ðộ,
còn lo chi cõi nước chẳng yên, tai nạn chẳng dứt nữa ư?
Yếu nghĩa trong những lời khai thị nhiều phen của Ðại Sư
chẳng ngoài điểm này.
Nguyện
ai đọc đến cuốn Ngữ Lục này sẽ tin nhận, vâng làm theo.
Ðọc rồi mới biết trong đạo lý Hộ Quốc Tức Tai, hễ
buông bỏ pháp môn Tịnh Ðộ là chẳng được!
Mùa
Ðông năm Bính Tý, Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xã kính đề
Triệt
Ngộ Ðại Sư Khai Thị
Một
là tin hễ có sanh ắt có tử, khắp cả thiên hạ từ xưa
đến nay chưa hề có ai tránh khỏi.
Hai
là tin nhân mạng vô thường, hơi thở ra khó còn, hơi hít
vào khó giữ, một hơi thở chẳng vào thì đã thành đời
sau.
Ba
là tin đường luân hồi hiểm trở, một niệm lầm lạc liền
đọa nẻo ác. Ðược thân người như đất đọng trên móng
tay, mất thân người như đất trong đại địa.
Bốn
là tin nẻo khổ dài lâu, một phen chịu báo trong tam đồ là
cả năm ngàn kiếp, biết khi nào mới ló đầu ra nổi!
Năm
là tin lời Phật chẳng luống, vầng mặt trời, mặt trăng
đây còn rơi rụng được, núi chúa Diệu Cao còn khuynh động
được, chứ lời chư Phật chẳng hề sai khác.
Sáu
là tin thật có Tịnh Ðộ giống hệt như Sa Bà hiện tại,
hiện hữu rành rành.
Bảy
là tín nguyện liền sanh, nay mình đã nguyện thì nay mình sẽ
sanh. Kinh đã giảng rõ, nào dối ta đâu!
Tám
là tin sanh rồi chẳng thoái, cảnh thù thắng, duyên mạnh mẽ,
tâm thối chuyển chẳng khởi.
Chín
là tin một đời thành Phật, thọ mạng vô lượng, việc gì
chẳng xong!
Mười
là tin pháp vốn duy tâm. Duy tâm có hai nghĩa: cụ (có đủ
tất cả) và tạo (tạo ra tất cả). Các pháp [vừa nói] như
trên tâm ta sẵn đủ, đều do tâm ta tạo ra.
Tin
lời Phật thì tạo thành bốn pháp sau (tức là từ điều
5 đến điều 8); chẳng tin lời Phật sẽ tạo ra pháp bốn
trước (điều 1 đến điều 4). Vì thế tin sâu lời Phật
là tin tự tâm; tu Tịnh nghiệp, đầy đủ mười thứ tín
tâm này thì sanh về Lạc Ðộ như đưa bằng khoán lấy về
vật xưa, nào khó khăn gì!
Tháng
7 năm Giáp Tý, Nột Ðường Ðạo Nhân viết.
Ấn
Quang Ðại Sư Pháp Ngữ
(giảng
tại pháp hội Hộ Quốc Tức Tai tại Thượng Hải - 1936)
Ngày
thứ nhất:
Niệm
Phật, ăn chay là căn bản để hộ quốc tức tai
Ấn
Quang vốn là một ông tăng tầm thường, vô tri, vô thức,
chỉ biết đến cơm cháo, chỉ biết niệm Phật dăm câu, tuy
sống uổng quang âm hơn bảy mươi năm, nhưng thực chưa hề
triệt để nghiên cứu Phật pháp. Pháp hội Hộ Quốc Tức
Tai lần này, các vị kèo nài tham gia, chẳng từ khước được.
Vả lại, đây là chuyện quan hệ đến phước lợi quốc gia
mà cũng là trách nhiệm tôi phải tận lực nên tôi chẳng
nề mình giản lậu, đến dự pháp hội này. Ðiều tôi giảng
hôm nay chẳng phải là lý luận cao sâu gì, chỉ là thuật
lại phương pháp căn bản để “tức tai hộ quốc”. Còn
về yếu nghĩa của pháp hội lần này, ngày mai sẽ bàn đến.
Mục
đích của pháp hội lần này là hộ quốc tức tai. Làm sao
để đạt được mục đích đó? Tôi cho rằng phương pháp
căn bản là Niệm Phật bởi vì sát kiếp và hết thảy tai
nạn đều do ác nghiệp của chúng sanh chiêu cảm. Nếu tất
cả mọi người đều niệm Phật thì nghiệp này sẽ xoay chuyển
được. Nếu chỉ có một ít người niệm Phật thì nghiệp
ấy cũng có thể giảm khinh. Pháp môn Niệm Phật tuy là vì
cầu sanh Tịnh Ðộ, liễu thoát sanh tử mà lập ra, nhưng sức
tiêu trừ nghiệp chướng của nó thật cũng cực kỳ lớn
lao.
Người
chân chánh niệm Phật trước hết ắt phải ngăn tà, giữ
lòng thành, giữ vẹn đạo nghĩa, tận hết bổn phận, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Cần nhất là
phải hiểu rõ nhân quả, tự hành, dạy người hành. Hiện
tại không có bậc Thánh để gần gũi, bao tà thuyết tàn hại
nhân nghĩa đều là do bọn Tống Nho bài bác nhân quả - luân
hồi đến nỗi sanh ra ác quả này. Nếu như ai cũng hiểu rõ
lý nhân quả thì chẳng một ai dám xướng lên những thuyết
sai lầm ấy cả.
Trong
thế gian, người tốt hoàn toàn chẳng biến cải rất ít,
kẻ xấu hoàn toàn chẳng biến cải cũng rất ít; đa số là
kẻ lúc thượng, lúc hạ, khi tốt, khi xấu, cho nên giáo hóa
là điều tối khẩn yếu vậy. Khổng Tử nói: “Chỉ bậc
thượng trí và kẻ hạ ngu là chẳng thay đổi”. Chỉ cần
ra sức giáo hóa thì không một ai là chẳng thể khiến họ
cải ác quy thiện, buông dao đồ tể, lập địa thành Phật.
Chỉ là do nơi con người tin tưởng, tận lực mà hành thôi.
Ngày
nay xã hội Trung Quốc sở dĩ loạn lạc đến như thế này
chính là do không được giáo hóa; nhưng giáo hóa phải bắt
đầu từ lúc còn nhỏ, như hay nói: “Dạy con từ thuở còn
thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Nếu lúc nhỏ chẳng
dạy, đến lúc lớn khó lòng lay chuyển. Vì sao? Tập tánh
đã thành, không cách chi thay đổi được. Vì thế, người
niệm Phật cần phải chú ý giáo dục con cái mình trở thành
người tốt, giữ tấm lòng tốt, nói lời tốt, làm việc
tốt. Nếu ai cũng làm được như thế thì tai nạn tự tiêu,
quốc gia cũng giữ được bình trị dài lâu.
Chân
lý mầu nhiệm căn bản của pháp môn Niệm Phật nằm trong
ba kinh Tịnh Ðộ. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa
Nghiêm đã chỉ rõ: Niệm Phật chính là căn bản chẳng thể
thiếu khuyết của hạnh nguyện. Vì Thiện Tài đã viên mãn
tâm Thập Tín, tham học với Ðức Vân tỳ kheo, được Ngài
dạy cho pháp môn Niệm Phật, liền nhập vào Sơ Trụ, phần
chứng Phật Quả. Từ đấy, ông tham học với hơn năm mươi
vị thiện tri thức, hễ nghe xong liền chứng, từ Nhị Trụ
đạt đến Thập Ðịa là bốn mươi địa vị. Tối hậu,
ở chỗ Phổ Hiền Bồ Tát, được nghe Ngài khai thị, được
sức oai thần gia bị, sở chứng ngang với ngài Phổ Hiền,
ngang với chư Phật, liền thành Ðẳng Giác Bồ Tát. Sau đó,
Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn dắt
quy hướng Cực Lạc, khuyến khích, cổ vũ Thiện Tài và Hoa
Nghiêm hải chúng nhất trí tinh tấn hành trì, cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới hầu mong viên mãn Phật Quả.
Vì
thế, biết rằng: Pháp môn Niệm Phật, tự phàm phu thuở ban
đầu cũng có thể chứng nhập được, mà rốt cục, bậc
Ðẳng Giác cũng chẳng thể vượt ra ngoài nổi. Thật là pháp
môn Tổng Trì trên thành Phật đạo, dưới giáo hóa chúng
sanh, thành thỉ, thành chung của mười phương tam thế hết
thảy chư Phật. Vì thế, pháp môn này được cửu giới đồng
quy, mười phương chung tán thán, ngàn kinh cùng xiển dương,
vạn luận đều tuyên thuyết.
Phàm
là người học Phật thì có một việc bắt buộc phải chú
ý là rất cần kiêng ăn mặn vì ăn mặn sẽ tăng trưởng
sát cơ. Con người cùng hết thảy động vật cùng sanh trong
vòng trời đất, tâm tánh vốn là bình đẳng, chỉ vì ác
nghiệp nhân duyên đến nỗi hình thể sai khác quá xa. Nếu
đời này quý vị ăn thịt chúng nó, đời mai sau chúng nó
sẽ ăn thịt quý vị. Oan oan tương báo, đời đời sát cơ
chẳng có lúc nào kết thúc. Nếu như ai ai cũng ăn chay được
thì sẽ bồi dưỡng tâm từ bi của chính mình, tránh khỏi
sát cơ. Nếu không, dù cho niệm Phật, nhưng chỉ lo sướng
miệng, vui bụng, ăn đẫy thức tanh hôi, có được lợi ích
mấy nhờ học Phật đâu!
Hơn
nữa, người đời nay ưa nói Thiền Tịnh Song Tu. Xét đến
cùng cái gọi là Song Tu đó chỉ là khán câu “người niệm
Phật là ai?” Ðấy là chú trọng tham cứu, chẳng ăn nhập
gì đến việc sanh Tín, phát nguyện cầu sanh của Tịnh Ðộ
cả! Thêm nữa, Thiền Tông nói: “Minh tâm kiến tánh, kiến
tánh thành Phật” là nói đến đương nhân đích thân thấy
được tâm nay vốn sẵn đủ Phật tánh. Mật Tông nói: “Ngay
thân này thành Phật” (tức thân thành Phật) tức là ngay
thân này được giải thoát sanh tử thì đó là “thành Phật”.
Nếu vội hiểu những lời đó có nghĩa là [ngay nơi chính
thân này] có thể thành tựu được vạn đức đầy đủ,
phước huệ viên mãn thì lầm to, lầm to rồi!
Bởi
lẽ, “kiến tánh thành Phật” của Thiền Gia là sở chứng
của địa vị đại triệt, đại ngộ, phải đoạn được
Kiến Hoặc và Tư Hoặc trong tam giới mới có thể liễu sanh
thoát tử. “Tức thân thành Phật” của Mật Tông chỉ là
nói về địa vị mới liễu thoát sanh tử mà thôi. Ðịa vị
đó là bậc A La Hán trong Tiểu Thừa đã liễu sanh tử, bậc
Sơ Tín trong Viên Giáo đã đoạn Kiến Hoặc, bậc Thất Tín
đoạn Tư Hoặc rồi mới liễu xong sanh tử. Bậc Thất Tín
và A La Hán tuy cùng liễu sanh tử nhưng thần thông, đạo lực
khác xa nhau vời vợi. Bát Tín, Cửu Tín, Thập Tín phá được
Trần Sa Hoặc, cho đến Thập Tín Hậu Tâm phá một phẩm Vô
Minh, chứng một phẩm Tam Ðức bí tạng, nhập vào Sơ Trụ,
thành bậc Pháp Thân Ðại Sĩ. [Trải qua] Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Ðịa, Ðẳng Giác là bốn mươi
địa vị rồi mới chứng nhập Phật vị. Lịch trình lâu
xa như thế đó, làm sao mà một bước vọt đến nơi ngay được?
Người
tu Tịnh Ðộ đã sanh về Tây Phương liền liễu sanh tử thì
cũng là “tức thân thành Phật”, nhưng Tịnh Tông chẳng
nêu cái thuyết tiếm phận ấy. Ðem so với việc thuần cậy
vào tự lực của nhà Thiền thì sự khó dễ thật là sai khác
một trời một vực. Kính mong các vị dự hội suy nghĩ chín
chắn điều này.
Ngày
thứ hai:
Bàn
về nhân quả báo ứng và sự giáo dục trong gia đình
Ngày
hôm qua giảng về pháp môn Tịnh Ðộ, hôm nay giảng về ý
nghĩa của pháp hội Hộ Quốc Tức Tai. Muốn nói đến “hộ
quốc tức tai” thì trước hết phải biết là “hộ quốc”
(giữ gìn đất nước) như thế nào? “Tức tai” (dứt trừ
tai nạn) như thế nào?
Tôi
cho rằng muốn đạt đến mục đích ấy, có hai biện pháp:
Một là lâm thời, hai là bình thời. Nếu lúc bình thời có
thể ăn chay niệm Phật để cầu hộ quốc tức tai thì thật
là có công đức vô hạn; mà lúc lâm thời, dốc lòng thành
kính cầu nguyện giữ yên đất nước, dứt bặt tai nạn cũng
có hiệu lực tương đương; nhưng vẫn chẳng bằng lúc bình
thời mọi người hộ quốc tức tai thì hay hơn. Bởi lẽ,
nếu bình thời đại chúng ăn chay niệm Phật, do nguyện lực
tiếp nối nên tà khí tiêu trừ, chánh khí tăng trưởng, ai
nấy giữ tấm lòng tốt, nói lời tốt, làm việc tốt thì
tự nhiên quốc gia được giữ vững, tai họa chẳng khởi
vậy.
Sách
xưa có ghi: “Thánh nhân chẳng trị lúc đã bệnh, trị lúc
chưa bệnh; chẳng trị lúc đã loạn, trị từ lúc chưa loạn”.
Bởi lẽ, đã loạn thì trị khó bình, trị từ lúc chưa loạn
thì dễ an. Trị quốc giống như trị bịnh, có cách trị nơi
ngọn, có cách trị nơi gốc. Trị bệnh là trị khi đã loạn.
Bệnh đã phát thì tìm lấy cách trị có hiệu quả nhanh chóng,
chẳng được không đau đầu lại trị bệnh đầu, đau chân
thì chữa nơi chân, trị cái ngọn (triệu chứng) trước. Cái
ngọn đã lành, sau đấy mới trị cái gốc khiến cho khí huyết
lưu thông điều hòa, khỏe khoắn, sảng khoái. Gốc đã mạnh
khỏe thì tự nhiên tinh thần phấn chấn, khả dĩ hăng hái
ra sức.
Hiện
thời, quốc gia nguy nan như thể ngàn cân treo sợi tóc. Tôi
cho rằng hiện tại muốn bàn đến chuyện trị quốc thì phải
trị cả ngọn lẫn gốc cùng lúc. Cách kiêm trị không chi
tốt hơn là trước hết phải niệm Phật, tận lực làm lành,
kiêng giết chóc, ăn chay, và hiểu sâu xa lý nhân quả trong
ba đời. Kiếp vận hiện tại của thế giới, những tai nạn
chúng ta phải chịu đựng đều là do quá khứ tạo nhiều
ác nghiệp đến nỗi hiện tại cảm thọ khổ quả. Do đó,
biết rằng: những ác quả này là do ác nhân trong quá khứ
tạo thành. Muốn tránh khổ quả phải dứt khổ nhân. Quá
khứ đã gieo khổ nhân thì chỉ niệm Phật, sám hối mới
tiêu trừ được nổi.
Hiện
tại nếu chẳng gieo khổ nhân nữa thì tương lai sẽ khỏi
phải chịu khổ quả. Khổ nhân là gì? Là ba độc tham, sân,
si. Thiện nhân là gì? Nếu ai ai cũng hiểu rõ lẽ nhân quả
thì chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tai
họa sẽ chẳng từ đâu mà khởi lên được nữa! Nhưng người
đời nay chẳng hiểu lý nhân quả nên lắm mối tư dục đầy
ắp dạ, không điều ác nào chẳng làm, chỉ biết có mình,
chẳng biết có ai khác, nào biết lợi người chính là lợi
mình, hại người thật tai hại cho mình.
Vì
thế, hằng ngày, tôi thường bảo: “Nhân quả là đại căn
bản để thánh nhân trị thiên hạ, để Như Lai cứu độ
chúng sanh. Bỏ nhân quả mà toan bàn đến chuyện trị quốc
bình thiên hạ khác gì tìm cá trên cây, chưa từng thấy ai
tìm được cả!” Phật dạy: “Muốn biết nhân đời trước,
xem quả báo đời này. Muốn biết quả mai sau, xem việc làm
đời này”. Nếu như những điều mình tạo tác đời này
đều là việc ác, đời sau sao khỏi cảnh phải chịu khổ
quả cho nổi! Nếu những hành vi đời này đều là việc lành
thì đời sau lo chi chẳng hưởng thiện quả!
Kinh
Dịch chép: “Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà chất
chứa điều chẳng lành, tai ương ắt có thừa” (Tích thiện
chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu
dư ương). Kinh Thư chép: “Tích thiện, giáng chi bách tường.
Tích bất thiện, giáng chi bách ương” (Làm lành, trăm điều
tốt lành giáng xuống. Làm việc chẳng lành, trăm tai ương
đổ xuống). Lý ấy hệt như lý nhân quả của đức Phật
ta đã giảng. Chữ “dư” đã nói đó chính là tàn dư của
chánh báo, chứ không phải là chánh báo. Chính người ấy
trong đời sau tự mình hưởng thụ điều vui mừng hay tai ương
chính, còn dư báo lan qua con cháu. Dư báo, dư ương đều là
do đời trước tích chứa mà ảnh hưởng đến đời này vậy.
Thế
nhân chẳng biết nhân quả, cứ cho sau khi chết đi là đã
giải thoát hoàn toàn, không nghĩ rằng sẽ lại có quả báo
thiện ác nữa. Ðây chính là tà kiến sai lầm nhất của thiên
hạ về đời sau vậy. Cần biết là: Người đã chết đi
rồi, thần thức chẳng bị diệt theo. Nếu con người biết
thần thức chẳng diệt thì ắt sẽ thích làm lành, chẳng
dám làm ác. Nếu cho rằng chết đi là hết sẽ chỉ cốt khoái
ý chuyện trước mắt, mặc tình phóng túng, không điều ác
gì chẳng làm. Hành vi đại nghịch cực ác ấy đều là kết
quả của tà kiến đoạn diệt. Nếu hết thảy mọi người
thật sự có thể chẳng làm các điều ác, vâng giữ các điều
lành thì tự nhiên thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc. Nhưng
đấy vẫn chưa phải là biện pháp rốt ráo.
Thế
nào mới là biện pháp rốt ráo? Chính là niệm Phật cầu
sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử, và phải ngăn chặn điều
tà, giữ lòng thành, củng cố đạo đức, trọn vẹn bổn
phận thì chẳng những chuyển được quốc vận, lại còn
tiêu trừ được tai nạn. Bởi lẽ, tai nạn ngày nay đều
là do cộng nghiệp của mọi người chiêu cảm. Nếu ai nấy
đều có thể niệm Phật, làm lành thì chuyển được cộng
nghiệp, kiếp vận cũng tiêu tan. Ngay trong lúc chiến cuộc
nổ ra ở đất Hỗ, những người niệm Phật được linh cảm
rất nhiều. Bọn họ chỉ tu một mình mà còn đạt được
sự linh cảm như thế, huống là tất cả mọi người cùng
tu!
Vì
thế, ta biết rằng: Ðại chúng chí thành khẩn thiết niệm
Phật có thể vãn hồi được quốc nạn. Lại như đức Quán
Thế Âm Bồ Tát dùng ba mươi hai ứng thân vào trong các cõi
nước, tầm thanh cứu khổ. Nếu như có thể chí thành tụng
niệm thánh hiệu Quán Thế Âm thì liền được cảm ứng.
Những chuyện linh cảm xưa nay xem trong các sách vở có ghi
chép rất nhiều, các vị có thể tự tìm đọc lấy. Ngoài
những thân đã thuật trong phẩm Phổ Môn: “Bồ Tát thấy
nên dùng thân nào để độ được thì liền hiện thân đó
cứu độ” ra, nếu Ngài thấy nên dùng thân núi, sông, đại
địa, cầu đò, đường sá để hóa độ được thì Ngài
cũng hiện các thân núi, sông, đại địa, cầu đò, đường
sá… để cứu độ chẳng thể nghĩ bàn, chơn thật chẳng
dối.
Con
người hiện tại, kẻ phát được lòng tin chơn thật thì
ít, kẻ không tín tâm rất nhiều. Nếu tất cả mọi người
phát được tín tâm, lại còn có thể hành thiện thì có tai
vạ nào mà chẳng tiêu diệt được? Bồi dưỡng tín tâm của
phàm nhân từ tuổi nhỏ là tốt nhất. Vì thế, cha mẹ hãy
nên dạy con cái lẽ nhân quả báo ứng, đạo lý củng cố
đạo đức, tận hết sức mình ngay từ tuổi thơ ấu. Nếu
không, đến lúc trưởng thành, tập tánh đã thành, khó có
tác dụng gì!
Ðiều
quan trọng nhất là “thai giáo”. Nếu thai phụ có thể ăn
chay, niệm Phật, hành thiện, bỏ ác, mắt chẳng nhìn ác sắc,
tai chẳng nghe tiếng ác, thân chẳng làm việc ác, miệng chẳng
nói lời ác, khiến cho đứa trẻ còn trong thai đã bẩm thọ
chánh khí khiến cho thiên tánh tinh thuần. Sanh ra, lại giáo
hóa thêm thì không đứa nào lại chẳng trở thành thiện nhân.
Xưa
kia, các bà Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự hiền thục, nhu
mì, đức hạnh giúp chồng dạy con, tạo nền móng cho vương
nghiệp nhà Chu cả tám trăm năm. Họ chính là những tấm gương
tiên khởi. Vì thế, Ấn Quang tôi thường bảo: “Quyền trị
quốc, bình thiên hạ, hàng nữ nhân chiếm hơn quá nửa”.
Bởi lẽ, trong gia đình, người chủ trì việc nhà đa phần
là phụ nữ. Ðàn ông thường hay lo việc ngoài. Nếu mẹ hiền
thì những điều lọt vào tai, đập vào mắt của con cái trong
nhà đều là những điều dạy dỗ của mẹ, chịu ảnh hưởng
của mẹ, lợi ích vô cùng. Nếu lúc nhỏ để mặc cho chúng
tánh tình kiêu căng, phóng túng, tai nghe tự do, tuyệt chẳng
lấy chuyện hiếu đễ, trung tín, nhân quả báo ứng để giáo
huấn thì đến khi khôn lớn sẽ khó gì mà không điều ác
nào không làm, trở thành quyến thuộc của Ma Vương, không
hành vi nào là chẳng ác.
Vì
thế, cần phải nuôi dưỡng tâm lành của con cái từ lúc
nhỏ, quản giáo nghiêm ngặt. Phải biết là bọn sát nhân,
phóng hỏa, không điều ác gì chẳng làm hiện tại đa phần
là do cha mẹ quen thói nuông chiều kiêu căng mà nên nỗi. Thầy
Mạnh dẫu hiền cũng cần phải do bà mẹ ba lần đổi chỗ
ở, nghiêm nhặt quản thúc mà thành, huống hồ là bọn phàm
phu, tầm thường ư?
Hiện
tại, ai nấy đề xướng nam nữ bình quyền, cho đó là nâng
cao nhân cách của nữ giới; kỳ thật, nam nữ thể chất bất
đồng, năng lực, trách nhiệm mỗi giới mỗi khác. Thánh nhân
cho rằng vị trí chính đáng của nam giới là ở ngoài, vị
trí chính đáng của nữ giới là ở bên trong. Vị trí chính
đáng ở bên trong tức là chăm lo những việc trong gia đình
như bếp núc, canh cửi, giúp chồng dạy con v.v… Hiện nay
nữ nhân đổi sang giành trách nhiệm của nam giới nên bỏ
phế vị trí chính đáng của mình; việc nhà không ai trông
coi, con cái không ai dạy, tai hại vô cùng. Tuy mang tiếng là
nâng cao nhân cách của nữ giới, kỳ thực, chẳng những chỉ
khuynh đảo nhân cách phụ nữ lại còn phá hoại cơ sở của
gia đình nữa. Than thở khôn xiết! Xin những bậc nữ giới
anh hiền hãy nhận thức rõ nhân cách của chính mình ở tại
đâu, ngõ hầu con cái trong gia đình đều thành hiền thiện,
thiên hạ lẽ nào còn chẳng thái bình nữa!
Vì
thế, biết rằng: đạo trọng yếu để trị quốc, bình thiên
hạ ở ngay tại việc giáo dục trong gia đình, mà việc giáo
dục trong gia đình, người mẹ thực sự đảm nhiệm quá nửa.
Lúc trong thai, con cái đã bẩm thụ khí chất của mẹ, lúc
sanh ra lại nhìn theo nghi thái của mẹ, lãnh thọ sự dạy
răn của mẹ, cho nên dễ thành hiền thiện. Ðiều này tuy
chẳng hiện hình tích, nhưng lại là việc trọng yếu để
đạt đến thái bình. Tiếc rằng đa số các bậc vĩ nhân
chưa thấy rõ điều này.
Nguyện
những bậc anh hiền trong nữ giới kể từ nay hãy chú ý.
Người đời nay mỗi khi gọi các bà là “thái thái” thì
phải biết là ý nghĩa của hai chữ “thái thái” rất cao
quý, to lớn. Uyên nguyên của hai chữ ấy bắt nguồn từ tận
đời Chu. Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự đều là bậc thánh
nhân trong nữ giới. Họ đều giúp chồng dạy con. Bà Thái
Khương sanh ra ba vị thánh nhân là Thái Bá, Trọng Ung và Quý
Lịch. Bà Thái Nhậm sanh Văn Vương. Bà Thái Tự đẻ ra Vũ
Vương và Chu Công. Ba đời nữ thánh sanh ra ba đời ông cháu
mấy vị thánh vương tạo thành thời thịnh trị tốt đẹp
nhất trong muôn đời. Người đời sau gọi phụ nữ là “thái
thái” tức là muốn đem so các bà ấy với ba bà Thái. Do
đấy, ngẫm xem, Thái Thái là danh hiệu không gì cao hơn nữa
để tôn xưng phụ nữ. Nữ giới thật cần phải có đức
hạnh của ba bà Thái thì mới chẳng xấu hổ với danh xưng
đó. Rất mong các vị hiền nữ hiện tại đều có thể thực
hiện đạo giúp chồng dạy con, khiến cho con cái mình sanh
ra đều thành hiền thiện. Có thế mới chẳng phụ cái danh
xưng ngưỡng mộ trên đây!
Kế
tiếp, cần phải hiểu đúng vấn đề ăn chay. Con người và
hết thảy động vật vốn cùng thuộc loài hàm linh, nỡ nào
giết hại tính mạng chúng để thỏa mãn miệng, bụng mình.
Thân ta dao vừa cắt phải một chút liền cảm thấy thống
khổ. Mới nghĩ đến đó, tim gan đau buốt, còn lẽ nào nỡ
giết chúng ăn thịt? Huống nữa kẻ sát sanh ăn thịt, lâu
dần bị nhiễm, dễ khởi sát cơ. Ðao binh, tai kiếp hiện
tại đều là do đây mà phát khởi. Cổ nhân nói: “Dục tri
thế thượng đao binh kiếp; đản thính đồ môn dạ bán thanh”
(Muốn biết can qua trong hiện tại. Lò mổ xin nghe tiếng giữa
đêm), thật đúng là như vậy. Nhưng thế gian có lắm kẻ
tuy cũng hiểu rõ đạo lý Phật pháp mà vẫn thấy kiêng giết,
ăn chay là chuyện khó.
Năm
Dân Quốc thứ mười (1921), tôi đến Nam Kinh thăm bạn. Ông
ta mời ông Ngụy Mai Tôn đến gặp. Ông Ngụy tin Phật, niệm
Phật, nhưng bảo là chưa thể ăn chay. Tôi dặn ông hãy đọc
kỹ Bài Văn Khuyên Tu Phóng Sanh của chùa Cực Lạc ở Nam Tầm
đăng trong bộ Văn Sao mấy mươi lượt sẽ ăn chay được.
Bởi lẽ, trong bài văn đó, trước hết nói chúng sanh và Phật
tâm tánh chẳng hai. Tiếp đó, nói đến bao kiếp làm cha, mẹ,
huynh, đệ, vợ, con, quyến thuộc, sanh ra lẫn nhau, làm oan
gia đối đầu của nhau, giết chóc lẫn nhau. Tiếp đó, bài
văn dẫn kinh Phạm Võng, kinh Lăng Nghiêm làm chứng. Ðọc sâu
nghĩ chín, chẳng những chẳng nỡ ăn mà còn chẳng dám ăn
nữa kia! Về sau, tôi biết là chưa đầy hai tháng sau, Ngụy
cư sĩ chẳng còn ăn thịt nữa.
Lại
nữa, bà mẹ của cư sĩ Hoàng Hàm chưa thể ăn chay mà cũng
chẳng tin ăn chay là chuyện trọng yếu trong việc học Phật.
Ông Hoàng Hàm ngầm đến hỏi cách khuyên cho mẹ tin, tôi bảo
ông sớm tối thay mẹ đối trước Phật sám hối nghiệp chướng.
Do mẫu tử thiên tánh tương quan, nếu thật sự chí thành
ắt sẽ được cảm ứng. Ông Hàm y theo đó phụng hành. Mẹ
ông liền có thể ăn chay trường. Lúc đó bà đã tám mươi
mốt tuổi, nhật khóa niệm hai vạn câu Phật hiệu, sống
đến năm chín mươi ba tuổi mới mất.
Vì
thế, tôi mong từ hôm nay trở đi, hết thảy đại chúng đều
chú ý kiêng giết, ăn chay và khuyên cha mẹ, con cái, thân hữu
của mình cùng nhau ăn chay. Phải biết đấy cũng là phương
pháp căn bản để hộ quốc tức tai. Hôm nay giảng về ý
nghĩa của hộ quốc tức tai và phương pháp để thực hành
hộ quốc tức tai chính là niệm Phật, ăn chay; mong quý vị
chẳng coi là thiển cận rồi chẳng buồn lưu tâm đến.
Ngày
thứ ba:
Trần
thuật nguyên lý nhân quả và nêu sự thực làm chứng
Hai
ngày hôm trước tôi đã trình bày sơ lược về đạo lý nhân
quả và phương pháp tức tai hộ quốc; hôm nay vốn chẳng
cần phải luận về nhân quả nữa; nhưng tôi thấy vẫn còn
có điểm chẳng thể chẳng trình bày rõ, nên tôi định sẽ
giảng sâu hơn ít nữa, lại thuyết minh về nguyên lý nhân
quả và nêu sự thực làm chứng, ngõ hầu đại chúng biết
đến sẽ tỉnh ngộ và kinh sợ.
Hiện
tại, thế nhân chẳng rõ nguyên lý nhân quả, cho đó là chuyện
bàn xằng, tà thuyết, lúc nào cũng tính chiếm tiện nghi, chẳng
cam bề chịu lép, nào biết đâu tiện nghi chính là chịu lép,
chịu lép hóa ra lại là tiện nghi. Như cha mẹ nay thường
nuông chiều con cái, chẳng quản giáo nghiêm ngặt đến nỗi
tạo thành thói quen ham tiền tài, thích tiện nghi. Cứ cho là
có vậy mới gìn giữ được gia sản, chẳng đến nỗi bị
tổn thất; nào hay kết quả trái ngược, vừa di hoạn chung
thân lại còn gián tiếp ảnh hưởng vô hạn đến xã hội,
quốc gia.
Nay
nêu lên một chuyện để làm ví dụ: Triệu Lương Tướng
ở Ðại Châu đời Tùy, gia tư cự vạn, có hai đứa con. Ðứa
lớn tên Mạnh, đứa nhỏ tên Doanh. Doanh mạnh mẽ, Mạnh yếu
đuối. Lúc người cha sắp mất, phân gia sản làm hai, Mạnh
được nhiều hơn. Sau khi Triệu Lương Tướng mất, Doanh chiếm
sạch tài sản của anh, chỉ chừa lại cho anh một căn nhà
và mảnh vườn. Mạnh phải đi làm thuê để tự nuôi thân.
Chẳng mấy chốc, Triệu Doanh chết, sanh làm con của Mạnh,
mang tên là Hoàn. Sau đấy, Mạnh cũng chết, đầu thai vào
nhà Doanh, làm cháu nội của Doanh, mang tên là Tiên. Ðến lớn,
nhà Mạnh càng nghèo, nhà Doanh càng giàu. Triệu Hoàn phải
làm tôi tớ cho Triệu Tiên để sống. Thiên hạ bảo: “Thiên
đạo bất bình, đã giàu càng giàu thêm”.
Một
ngày kia, Hoàn nghe bà mẹ góa bảo: “Chú Doanh của mày cướp
đoạt gia sản của mày đến nỗi đời mày nghèo mạt, nay
phải làm tôi tớ cho nhà nó, chẳng biết nhục sao?” Bởi
thế, Hoàn oán hận, toan giết Triệu Tiên. Năm Khai Hoàng thứ
nhất (600 TL), Hoàn theo Tiên đi triều bái Ngũ Ðài, vào đến
chốn hang thẳm ở phía Ðông cả mấy mươi dặm, sâu hun hút
không một bóng người. Hoàn rút dao bảo Tiên: “Ông nội
mày là em trai bố tao. Ông mày đoạt gia sản của tao. Ðến
đời tao nghèo túng phải làm đầy tớ cho mày. Mày nỡ lòng
làm thế, nay tao giết mày đây!” Tiên liền cắm đầu chạy,
Hoàn đuổi theo chạy vào rừng, thấy có am tranh liền bước
vào. Có một vị lão Tăng bảo Hoàn: “Ông định làm gì thế?”
Hoàn đáp: “Tôi đuổi theo kẻ oán đối!” Vị lão Tăng
cười lớn: “Ông khoan làm thế, tôi sẽ giúp ông tự biết”,
rồi trao cho dược vật bảo pha vào trà mà uống. Hoàn uống
xong như mộng mới tỉnh, nhớ hết việc cũ, thẹn thùng đau
đớn.
Lão
Tăng bảo: “Doanh chính là tiền thân của Hoàn, trước kia
cướp đoạt của anh chính là tự bỏ tài sản của mình.
Tiên là Mạnh thác sanh trở lại để hưởng lấy sản nghiệp
kiếp trước vì ý nguyện của cha vẫn còn vậy!” Hai người
bèn bỏ nhà làm Tăng tu đạo, sau đều mất tại Di Ðà Am.
Sự việc này còn thấy chép trong Thanh Lương Sơn Chí. Nhân
quả báo ứng hiển hiện rõ ràng, như tiếng vang ứng theo
tiếng, như bóng theo hình, chẳng sai mảy may. Thế mà những
kẻ tham hận sao chẳng tỉnh ngộ vậy?
Lại
như hiện tại còn lưu truyền chuyện cái trống da người
ở Ngũ Ðài Sơn cũng là chuyện nhân quả báo thật rành rẽ
đáng sợ vậy. Tôi xin thử thuật lại nguyên do. Ðời Ðường,
tại mặt sau ngọn Bắc Ðài, chùa Hắc Sơn có nhà sư tên
Pháp Ái làm giám tự hai mươi năm, lấy của Chiêu Ðề Tăng
tậu nhiều ruộng ở Nam Nguyên, để lại cho đồ đệ là
Minh Hối. Pháp Ái chết liền sanh làm trâu ở nhà họ X. tận
lực một mình cày ruộng. Ba mươi năm sau, trâu vừa già vừa
bệnh, chủ trại muốn đem trâu đổi cho người lấy dầu.
Ðêm
ấy, Minh Hối mộng thấy người thầy đã chết của mình
khóc bảo: “Ta dùng Tăng vật để tậu ruộng cho ngươi. Nay
đang làm trâu vừa già vừa còm cõi. Xin hãy lột da ta bịt
trống, viết tên tuổi của ta trên đó. Mỗi khi lễ tụng
liền đánh trống thì nỗi khổ của ta mới có ngày thoát
khỏi. Nếu không, dù gò Nam Nguyên có biến thành biển xanh,
ta vẫn chưa thể thoát khổ nổi!” Nói xong, phủ phục cả
thân mình xuống.
Minh
Hối tỉnh giấc, chỉ mới nửa đêm liền thỉnh chuông nhóm
chúng, tường thuật tự sự. Sáng hôm sau, chủ trại báo con
trâu già đã húc đầu vào cây mà chết. Minh Hối y theo lời
trước, lột da trâu bịt trống, viết tên thầy lên trên,
bán hết ruộng ở Nam Nguyên. Ðược bao nhiêu tiền đem cúng
trai tăng cho tăng chúng ở Ngũ Ðài hết. Minh Hối lại bán
sạch cả y bát, vì thầy mình lễ sám. Sau đem trống ấy gởi
vào viện Văn Thù ở Ngũ Ðài. Lâu ngày, trống hư, chủ chùa
đem trống khác thế vào. Thế gian ngoa truyền là trống bịt
bằng da người. Sự tích này cũng thấy ghi trong Thanh Lương
Sơn Chí.
Nói
tóm lại, nhân quả rành rành, không ai trốn khỏi. Hai người
con họ Triệu do túc thế có gieo căn lành nên gặp được
cao tăng, cuối cùng thành đạo. Còn như kẻ phàm tục sao lại
tự cậy, chẳng dốc lòng tin nhân quả, tự mình lầm, làm
người khác lầm, tự hại, hại người? Người đời nay chỉ
thấy chuyện trước mắt, chẳng đoái hoài đời sau, thích
chiếm tiện nghi, chẳng thích bị thua thiệt; con cái mắt thấy
tai nghe, tập riết thành thói. Phong tục xã hội cũng do đó
ngày càng hiểm ác, tranh đoạt nổi lên, đại loạn hưng khởi,
giết người đầy thành, ngập đồng mà mắt chẳng nháy,
tâm chẳng áy náy đều là do đó mà ra cả. Ðã thế, sát
nhân là tàn nhẫn, ác độc, nhưng chẳng coi là đáng buồn,
đáng xót, ngược lại còn vênh váo khoe công, còn được kẻ
khác khen ngợi nữa. Thậm chí có kẻ giết cả cha mẹ, họ
hàng, còn tự cho là “đại nghĩa diệt thân!”
Ôi!
Họa biến đến thế, thiên lý tuyệt, nhân đạo diệt, chẳng
riêng đạo đức táng vong mà còn bị kiếp nạn không ngơi
nữa! Vì thế, hiện tại muốn cứu hộ đất nước phải
bắt đầu từ căn bản. Căn bản là gì? Ðích xác là tin vào
nhân quả. Nếu đã thật sự hiểu rõ lý nhân quả lại còn
có thể dốc lòng tin, tận lực thực hành thì thế đạo,
nhân tâm tự có thể vãn hồi. Tôi cho rằng tất cả triết
học, tôn giáo trong thế gian không gì tinh áo, dễ thực hành
bằng Phật giáo cả.
Hiện
tại, thế nhân sở dĩ chẳng tin nhân quả, đa phần là vì
chịu ảnh hưởng của Tống Nho. Những nhà Lý học thời Tống
như Trình Minh Ðạo, Trình Y Xuyên, Chu Hối Am v.v… do xem kinh
Ðại Thừa nhà Phật, chỉ lãnh hội đôi chút ý nghĩa “toàn
sự tức lý”; lại chỉ thân cận một hai bậc tri thức trong
Tông Môn, hiểu lóm rằng bất cứ pháp nào cũng chẳng ngoài
ý chỉ Nhất Tâm, chứ thực sự chưa hề duyệt trọn các
kinh luận cùng tham học với khắp các bậc tri thức chư tông,
trộm lấy ý nghĩa của kinh Phật để tự khoe mẽ, dùng đó
phát huy sự uyên áo của Nho giáo. Bọn họ lại sợ người
đời sau cũng xem kinh Phật sẽ thấy ngay sự kém cỏi của
mình bèn rắp tâm báng Phật.
Nhân
chẳng thể báng bổ những chỗ tinh diệu, họ liền nhắm
vào mặt Sự mà bài bác. Họ bảo đức Phật dạy sự-lý
tam thế nhân quả, lục đạo luân hồi chỉ nhằm để phỉnh
phờ hạng ngu phu, ngu phụ phụng hành giáo pháp của Ngài,
chứ thật sự chẳng có những điều ấy. Họ còn bảo: Sau
khi con người chết đi, thân đã mục nát thì thần thức cũng
phiêu tán; dù có [muốn] băm, chặt, xay, giã cũng không còn
có gì để làm được! Thần thức đã tan thì còn ai để
thọ sanh? Do những thuyết sai lầm ấy, họ đã mở tung đầu
mối phóng túng, không kiêng sợ gì cả.
[Họ
lý luận] chẳng khuyến khích điều thiện, chẳng trừng phạt
điều ác vì “trời tức là Lý” vậy, chứ nào có một
vị vua thật sự cầm cân nảy mực đâu! Họ cho rằng thần
và hồn là hai lương năng của Khí, như thể sấm động là
do hai khí Âm, Dương va chạm nhau nổ thành tiếng. Họ coi những
vấn đề Thực Lý, Thực Sự là chuyện không đàm (bàn luận
suông), chuyên lấy việc chánh tâm thành ý làm gốc để trị
quốc, trị dân; chẳng hề biết chánh tâm thành ý chính là
do “trí tri cách vật” mà ra. Họ bảo “trí tri” là suy
xét tri thức của mình đến cùng cực, “cách vật” là hiểu
cùng tận cái lý của mọi sự vật trong thiên hạ; nào hay
“vật” chính là tư dục trong tâm mình. Do có tư dục nên
tự tâm bị chướng ngăn; bởi thế, tâm vốn sẵn đủ chơn
tri nhưng không cách nào hiển hiện được. “Cách trừ”
(hiểu biết và trừ khử) được tư dục thì chơn tri sẵn
có sẽ tự hiển hiện. Hễ chơn tri đã hiển thì tâm sẽ
chánh, ý sẽ thành!
Chánh
tâm thành ý thì dù ngu phu, ngu phụ một chữ chẳng biết cũng
vẫn làm nổi. Còn nếu đúng như họ (các nhà Tống Nho) lý
luận thì việc suy xét đến cùng cực tri thức của mình,
hiểu tận cùng cái lý của mọi sự vật trong thiên hạ dẫu
có là bậc thánh nhân cũng chẳng dễ gì làm nổi! Vì do lầm
lạc một điểm này đến nỗi căn bản trị thế bị mất
sạch. Họ lại dùng thuyết không nhân quả, luân hồi toan
khuyên người chánh tâm thành ý. Nếu đã không có nhân quả,
một phen chết đi là vĩnh viễn mất hết, dù thiện hay ác
cũng đều chết cả; còn ai bận tâm đến cái tiếng hão nữa
mà chánh tâm thành ý cơ chứ?
Hơn
nữa, các nhà Lý học cho rằng: “Nếu có làm điều gì để
làm lành thì đó chính là ác”. Lý lẽ này đúng là phá hoại
thiện pháp thế gian. Vì sao thế? Ông Cừ Bá Ngọc năm 20 tuổi,
thấy mười chín năm trước đều sai trái. Ðến năm mươi
tuổi, thấy bốn mươi chín năm trước đều sai trái, muốn
bớt lỗi nhưng chưa làm được. Như thế thì ông Cừ có làm
điều gì hay là không làm điều gì? Khổng Tử không đức
nào chẳng tu, không môn học nào mà chẳng giảng, không nghe
đạo nghĩa nào mà chẳng làm theo, không điều chẳng tốt
nào mà chẳng thay đổi, nhưng vẫn lo âu. Ðến năm bảy mươi
tuổi, Ngài vẫn mong trời cho sống thêm mấy năm ngõ hầu
học Dịch để khỏi mắc lỗi lớn. Như vậy thì ngài có
làm điều gì hay không làm điều gì hết vậy?
Chỉ
từ sau thời Trình, Chu, nhà Nho đều chẳng dám bàn đến nhân
quả vì hễ bàn đến là bị mọi người công kích, cho rằng
không phải thuần Nho, cho là xúc phạm tiên hiền. Bởi vậy,
kẻ hiểu biết phàm tục, kiến thức kém cỏi liền hùa giọng
báng Phật; người kiến thức cao minh lén lút xem kinh Phật
để mong tự hiểu biết thêm, nhưng miệng vẫn sốt sắng
bài bác Phật pháp, ngõ hầu sau này được dự vào chân Hiền
Từ trong làng xóm hay chức Tư Bổn trong Văn Miếu!
Khi
đó, trong thâm tâm của Trình, Chu bất quá chỉ mong hưng long
Nho Giáo, chẳng bận tâm đến Phật giáo sẽ còn hay mất!
Họ nào hay đến ngày nay, chất độc tiềm tàng “phá diệt
nhân quả, luân hồi” đột nhiên bộc phát ào ạt thành ác
quả phi thánh, phi kinh, diệt lương hảo, diệt nhân luân, thú
tánh, thú hạnh, vô thân, vô sỉ, tặc nhân, tặc nghĩa, họa
quốc, họa dân, chẳng đáng đau buồn ư?
Hiện
tại chiến sự ở vùng Tuy Viễn rất khẩn cấp, tai họa cực
thảm, những chiến sĩ trung dũng và đồng bào thân ái của
chúng ta hoặc là máu thịt vương vãi tung tóe, táng thân, tổn
mạng, hoặc là nhà tan cửa nát, trôi giạt, bơ vơ, không cơm,
không áo, đói khát bức bách. Nói, nghĩ đến điều này, tim
gan tan nát. Sáng nay, pháp sư Viên Anh kể cho tôi nghe chuyện
này, bảo tôi khuyên đại chúng phát tâm cứu tế, góp gió
thành bão, chẳng quản ít nhiều. Có áo cho áo, cớ tiền cho
tiền, tùy duyên, tùy lực, công đức vô lượng, chắc chắn
hưởng thiện quả.
Phải
biết là giúp người tức là giúp mình, cứu người tức là
cứu mình. Nhân quả vằng vặc, chẳng sai sót mảy may. Nếu
chính mình gặp nạn, không có ai giúp, nhưng nếu có thể xưng
niệm thánh hiệu thì nhất định sẽ được Phật, Bồ Tát
thầm gia hộ, bảo vệ. Tôi là một ông sư nghèo, hoàn toàn
chẳng cất chứa thứ gì, hễ tại gia đệ tử có biếu tặng
cái gì, tôi đều dùng để ấn loát kinh sách hết. Nay tôi
xin quyên ra một ngàn đồng để xướng xuất cứu viện vùng
Tuy Viễn. Chỉ có giúp người mắc nạn thì mới có thể dứt
trừ được tai nạn cho mình.
Hiện
tại, phần lớn các bà đua nhau xa hoa, nghe nói một bình nước
hoa trị giá từ ba, bốn chục bạc đến hai, ba trăm bạc.
Sao bằng đem số tiền phung phí đó dùng để cứu trợ Tuy
Viễn? Lại còn có hạng người chuyên ưa tích tụ của cải,
lúc sống đã chẳng dám dùng, chết đi còn mong chôn theo xuống
đất, ngõ hầu được con cái hậu táng, hoặc lưu truyền
cho con cháu dùng, nào hay đâu hiện tại có nạn đào mồ,
những mong tích chứa lại biến thành đại họa cho tương
lai. Chẳng hạn như ở Thiểm Tây hiện đang có cả một tổ
chức đào mộ chuyên thực hiện hành vi đó. Làm con người
nỡ nào vì chữ Hiếu lại khiến cho mớ xương khô phơi tênh
hênh cho chim, thú no dạ! Sao chẳng đem khoản tiền lớn lao
đó dùng để cứu tế người dân bị nạn thì kẻ sống lẫn
người chết đều được lợi. Như lại có người nghèo túng,
tuy có chí nguyện làm thế, nhưng sức chẳng kham nổi thì
hãy niệm Phật cho nhiều, thay họ hồi hướng, không những
dứt tai nạn cho người còn dứt được tai nạn cho mình. Việc
này ai cũng làm được.
Tôi
nghe lúc chiến cuộc xảy ra tại đất Hỗ, cháu của cư sĩ
Tào Thương Châu vâng lời cha từ đất Hỗ xuống Tô Châu
đón ba ông chú và các chú về Hỗ. Ông chú và các chú chẳng
muốn đi. Cháu Tào bèn lấy châu báu của vợ giắt vào lưng,
ngồi thuyền nhỏ về Hỗ. Chợt có kẻ cướp đến, anh ta
nhanh chóng trốn vào gần bờ, vội vàng lội xuống nước,
vàng ngọc giắt theo trị giá cả hai, ba vạn đều đem cho
hết chỉ để đổi áo với người khác, tự xưng mình là
học trò nghèo, làm thầy giáo dạy vỡ lòng cho trẻ, may mà
thoát nạn. Nếu bọn đại đạo biết được, không biết
còn phải tốn mấy vạn để chuộc thân nữa. Ðấy có phải
là tiền tài gieo họa cho người hay không?
Người
ta nay chỉ tham phần tiện nghi trước mắt chẳng buông được,
luôn bị tiền tài làm khốn khổ, những trường hợp như
vậy rất nhiều, chẳng thể thuật đủ! Khi xưa, có một vị
cư sĩ nọ hỏi tôi phương cách vãn hồi kiếp vận, tôi bảo:
“Việc này rất dễ! Hiểu rõ lý nhân quả rồi tận lực
mà hành. Phát được tín tâm ắt có thiện quả. Vả tâm tư
ngụy đã tiêu, trong tâm quang minh chánh đại thì tai nạn nào
cũng tiêu tan như băng tuyết mà thôi!”
Trong
cơn loạn lạc ở Hồng Dương, ông Mộc Thương Viên Cung Hoằng
người tỉnh Giang Tây bị bọn phỉ bắt được, trói vào
cây cột ở khách sảnh, khóa chặt cửa lại, chờ đúng lúc
sẽ giết. Ông Viên tự nghĩ phải chết, thầm niệm thánh
hiệu Quán Thế Âm, hồi lâu ngủ quên đi, tỉnh dậy thấy
thân mình nằm ngoài đồng, ngẩng đầu lên trông thấy vẫn
còn sớm liền trốn thoát. Ðây là chuyện xác thực.
Do
vậy, tôi rất mong đại chúng đại phát tín tâm, nương vào
đức của cha trời, mẹ đất, giữ lòng nhân coi mọi người
là đồng bào của mình, dùng lòng nhân đối xử với loài
vật hệt như con người. Phàm đối với hết thảy những
gì trong vòng trời đất đều thương xót, nuôi dưỡng, bảo
vệ, xem như chính mình. Lại còn đem lẽ nhân quả báo ứng,
niệm Phật cầu sanh Tây Phương để chỉ bảo, khuyến hóa.
Nếu như tất cả mọi người đều làm được như vậy thì
nước chẳng cần giữ mà tự giữ vững, tai nạn chẳng mong
dứt cũng tự dứt vậy!
Ngày
thứ tư:
Giảng
về nhân quả lớn lao để thành Phật và lược giải Tứ
Liệu Giản
Hai
ngày hôm trước, tôi đã nói qua về nhân quả. Hôm nay tôi
vẫn bàn về đề tài này, quý vị cần biết là nhân quả
đã nói đó chỉ là tiểu nhân, tiểu quả, nhân quả được
bàn trong ngày hôm nay là đại nhân, đại quả.
Sở
dĩ đức Phật thành Phật thường hưởng pháp lạc chơn thường,
sở dĩ chúng sanh bị đọa địa ngục, vĩnh viễn chịu khổ
luân hồi kịch liệt, [cả hai việc này] đều chẳng ra ngoài
nhân quả. Hễ con người muốn trị thân tâm thì trọn chẳng
thể lìa nhân quả được. Con người hiện tại ham ăn nói
lớn lối, chẳng cầu thực tế, bộp chộp bảo nhân quả
là pháp Tiểu Thừa. Ðây thực là một lầm lẫn lớn.
Nên
biết rằng: Tiểu Thừa hay Ðại Thừa đều chẳng ra ngoài
hai chữ “nhân quả” được! Tiểu Thừa là tiểu nhân quả,
Ðại Thừa là đại nhân quả. Tiểu nhân là y theo Sanh Diệt
Tứ Ðế, biết Khổ, đoạn Tập, hâm mộ Diệt, tu Ðạo; tiểu
quả là chứng quả A La Hán. Ðại nhân là tu Lục Ðộ vạn
hạnh; đại quả là chứng Phật Quả rốt ráo. Trồng dưa
được dưa, trồng đậu được đậu. Ðã có nhân nào ắt
sẽ có quả đó, không sai hào ly. Vì vậy, chẳng những mình
người thế gian thuộc trong vòng nhân quả mà ngay chính Bồ
Tát, Phật cũng chẳng ra ngoài vòng nhân quả. Nếu bảo nhân
quả là Tiểu Thừa, hóa ra Phật, Bồ Tát cũng là Tiểu Thừa
ư? Ðủ biết lời lẽ ấy ngông cuồng đến thế nào!
Pháp
hội này là pháp hội Hộ Quốc Tức Tai. Tôi chỉ mới bàn
đến việc ngưng dứt tai nạn đao binh, nước lửa, vẫn chưa
phải là cứu cánh. Cần phải dứt tai nạn phiền não sanh
tử thì mới là biện pháp triệt để. Chúng ta mê muội Pháp
Thân, đoạn Phật huệ mạng, đáng buồn, đáng đau! So với
việc sắc thân bị họa, [mê lầm mất Pháp Thân] nào phải
chỉ nặng nề gấp cả trăm ngàn lần hơn! Vì thế, phải
hộ trì Pháp Thân huệ mạng, đoạn sanh tử phiền não mới
đáng kể là biện pháp tức tai (dứt trừ tai chướng) trọn
vẹn.
Phật
giáo, nói đại cương, chẳng ngoài năm tông, tức là: Thiền,
Giáo, Luật, Mật, Tịnh.
- Luật
là căn bản của Phật pháp. Nghiêm trì tịnh giới để mong
tam nghiệp thanh tịnh, nhất tánh viên minh. Ngũ Uẩn đều không,
các khổ đều độ.
- Giáo
là y giáo tu Quán, rời khỏi “ngón tay chỉ mặt trăng”,
triệt ngộ Phật tánh sẵn có của đương nhân, kiến tánh
thành Phật. Nhưng chữ “thành Phật” đó nghĩa là thấy
được đức Phật thiên chơn trong tự tánh bèn gọi là “thành
Phật”, chứ chưa phải là thành tựu, chứng được quả
Phật của Bồ Ðề đạo.
- Mật
dùng tam mật (thân mật, khẩu mật, ý mật) gia trì, chuyển
Thức thành Trí, gọi là “tức thân thành Phật”. Ðây cũng
chỉ là ngay nơi thân này, liễu sanh thoát tử nên bảo là
“thành Phật”, chứ chưa phải là thành đức Phật phước
huệ viên mãn.
Ba
tông này đều có thể gộp vào Thiền vì khí phận tương
đồng. Nếu xét về yếu quyết tu trì thì Phật Pháp chỉ
có hai môn Thiền và Tịnh. Thiền chuyên cậy tự lực, nếu
chẳng phải kẻ túc căn thành thục thì chẳng thể được
lợi ích thật sự. Tịnh là kiêm nhờ Phật lực, hễ ai đầy
đủ tín, hạnh, nguyện chơn thật thì đều có thể đới
nghiệp vãng sanh. Sự khó dễ giữa chúng khác nhau một trời,
một vực. Vì thế, ngài Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư đầu
đời Tống là một vị cổ Phật thị hiện trong thế gian,
triệt ngộ nhất tâm, tu trọn vạn hạnh; mỗi ngày làm một
trăm lẻ tám Phật sự, đêm đi qua ngọn núi khác, đi kinh
hành niệm Phật. Ngài rất lo hậu thế học nhân chẳng hiểu
rõ tông yếu, nên riêng viết thành một bài kệ Tứ Liệu
Giản ngõ hầu mọi người biết chỗ xu hướng.
Kệ
rằng:
“Có
Thiền, có Tịnh Ðộ,
Khác
nào hổ thêm sừng,
Hiện
tại làm thầy người
Ðời
sau làm Phật, Tổ.
Không
Thiền, có Tịnh Ðộ,
Vạn
tu, vạn cùng sanh,
Nếu
được thấy Di Ðà,
Lo
gì chẳng khai ngộ.
Có
Thiền, không Tịnh Ðộ
Mười
người, chín chần chừ
Ấm
cảnh nếu hiện tiền
Chớp
mắt đi theo nó.
Không
Thiền, không Tịnh Ðộ
Giường
sắt cùng cột đồng
Muôn
kiếp với ngàn đời
Không
một ai nương dự”
(Hữu
Thiền, hữu Tịnh Ðộ,
Do
như đới giác hổ
Hiện
thế vi nhân sư
Lai
sanh tác Phật, Tổ.
Vô
Thiền, hữu Tịnh Ðộ,
Vạn
tu, vạn nhân khứ
Nhược
đắc kiến Di Ðà,
Hà
sầu bất khai ngộ.
Hữu
Thiền, vô Tịnh Ðộ,
Thập
nhân, cửu ta lộ,
Ấm
cảnh nhược hiện tiền
Miết
nhĩ tùy tha khứ.
Vô
Thiền, vô Tịnh Ðộ,
Thiết
sàng tịnh đồng trụ,
Vạn
kiếp dữ thiên sanh,
Một
cá nhân y hỗ)
Tám
mươi chữ này là cương yếu của cả một đời giáo hóa
của đức Như Lai, là khuôn mẫu huyền diệu để người học
Phật liễu thoát ngay trong đời này. Trước tiên, học nhân
cần phải hiểu rõ thế nào là Thiền? Thế nào là Tịnh Ðộ?
Thế nào là có Thiền? Thế nào là có Tịnh Ðộ?
Thiền
và Tịnh Ðộ là ước về Lý, về Giáo mà nói. “Có Thiền,
có Tịnh Ðộ” là ước về cơ, ước về tu mà luận. Luận
theo Lý, hai pháp trọn chẳng khác gì nhau. Xét về mặt Sự
Tu, hai pháp khác nhau rất xa. Lời tuy tương tự, ý nghĩa thật
bất đồng, cần phải rất chú ý thì mới chẳng cô phụ
tấm lòng đau đáu của tổ Vĩnh Minh.
Gì
là Thiền? Ðấy chính là chơn như Phật tánh chúng ta sẵn
có, nhà Thiền thường gọi là “bản lai diện mục trước
khi cha mẹ sanh ra”. Tông môn chẳng nói trắng ra để người
học tự tham cứu tìm hiểu lấy nên nói như thế. Thật sự,
nó chính là tâm thể thuần chơn, không năng, không sở, ly
niệm linh tri, tức tịch tức chiếu vậy (“Ly niệm linh tri”
là trọn không có ý niệm suy lường nhưng hiểu rành rẽ tất
cả cảnh tượng trước mắt).
Tịnh
Ðộ tức tín nguyện trì danh, cầu sanh Tây Phương, chứ chẳng
phải chỉ riêng nói đến “duy tâm Tịnh Ðộ, tự tánh Di
Ðà”.
“Có
Thiền” tức là cực lực tham cứu, niệm tịch, tình vong,
thấy thấu suốt diện mục bản lai trước khi cha mẹ sanh
ra, minh tâm kiến tánh. “Có Tịnh Ðộ” là thực sự phát
Bồ Ðề tâm, sanh lòng tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật,
cầu sanh Tây Phương. Nếu như tham thiền chưa ngộ, hoặc ngộ
chưa triệt để thì đều chẳng được gọi là “có Thiền”.
Nếu như niệm Phật nhưng thiên chấp duy tâm, không có tín
- nguyện, hoặc có tín - nguyện nhưng chẳng thân thiết thì
đều chẳng được gọi là “có Tịnh Ðộ”.
Thậm
chí, tu Tịnh Ðộ nhưng tâm nghĩ đến trần lao, hoặc cầu
phước báo nhân thiên, hoặc cầu đời sau xuất gia làm Tăng,
nghe một hiểu cả ngàn, đắc đại tổng trì, hoằng dương
Phật pháp, giáo hóa chúng sanh cũng đều chẳng được gọi
là “người tu Tịnh Ðộ” vì chẳng chịu theo đúng kinh
giáo Tịnh Ðộ trong Phật pháp. Nếu tưởng lầm lấy việc
thông đạt bác lãm giáo nghĩa làm chuẩn hòng đời sau chẳng
mê sẽ được liễu thoát thì trong cả vạn người, khó được
một, hai. Bị phước báo mê hoặc, từ mê vào mê, thật có
lắm kẻ! Nếu thật sự hiểu sâu xa ý nghĩa này thì mới
đúng là người tu Tịnh Ðộ. Chẳng hiểu đúng ý nghĩa, cứ
thấy tham thiền bèn cho là “có Thiền”, thấy niệm Phật
liền cho là “có Tịnh Ðộ”. Mình lầm, lầm người, há
chẳng phải là tai hại cùng cực sao?
Ở
đây, tôi đã thuyết mình thế nào là có hay không có Thiền,
Tịnh; nay sẽ đem lời kệ, dựa theo từng đoạn mà phân tích
thì quý vị mới thấy tám mươi chữ này khác nào trời bày
đất đặt, không một chữ nào chẳng xác đáng, không một
chữ nào thay đổi được nổi!
Bài
kệ thứ nhất nói: “Có Thiền, có Tịnh Ðộ, khác nào hổ
thêm sừng, hiện tại làm thầy người, đời sau làm Phật,
Tổ”, nghĩa là: Người đã triệt ngộ Thiền Tông, minh tâm
kiến tánh, lại còn thâm nhập kinh tạng, biết trọn vẹn
các pháp môn quyền, thật của Như Lai, nhưng trong các pháp,
lại chỉ chọn lấy một pháp “tín nguyện niệm Phật”
để làm đường lối chung cho chánh hạnh tự lợi, lợi tha.
Phần nói về Thượng Phẩm Thượng Sanh trong Quán kinh: “Ðọc
tụng Ðại Thừa, hiểu Ðệ Nhất Nghĩa” chính là nói về
hạng người này.
“Khác
nào hổ thêm sừng” là người này song tu Thiền Tịnh, có
đại trí huệ, có đại Thiền Ðịnh, có đại biện tài,
tà ma ngoại đạo nghe danh vỡ mật, giống như hổ mọc thêm
sừng, oai mãnh khôn sánh. Có kẻ nào đến học hỏi với mình
sẽ tùy cơ thuyết pháp. Thấy nên dùng Thiền Tịnh Song Tu
để tiếp độ thì dùng Thiền Tịnh Song Tu tiếp độ. Nên
dùng Chuyên Tu Tịnh Ðộ để tiếp độ thì dùng Chuyên Tu
Tịnh Ðộ tiếp độ. Chẳng luận là thượng, trung, hạ căn,
không một ai là chẳng được lợi lạc. [Người như vậy]
há chẳng phải là “nhân thiên đạo sư” ư? Ðến lúc mạng
chung, được Phật tiếp dẫn vãng sanh Thượng Phẩm, trong
khoảng khảy ngón tay, hoa nở thấy Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn,
bét nhất cũng là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo. Cũng có người
đốn siêu địa vị, đạt lên Ðẳng Giác. Bậc Sơ Trụ trong
Viên Giáo đã có thể hiện thân làm Phật trong cả trăm cõi;
huống hồ là những địa vị sau đó càng lên cao càng thù
thắng hơn, tính thẳng đến địa vị thứ bốn mươi mốt
là địa vị Ðẳng Giác [thì càng thù thắng đến mực nào]
nữa?
Bài
kệ thứ hai là: “Không Thiền, có Tịnh Ðộ, vạn tu, vạn
cùng sanh, nếu được thấy Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ”.
Nghĩa là: người ấy tuy chưa minh tâm kiến tánh, nhưng cứ
quyết chí cầu sanh Tây Phương. Trong kiếp xưa, Phật từng
phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh như mẹ nhớ con.
Nếu chúng sanh thật sự như con nhớ mẹ, chí thành niệm Phật
thì cảm ứng đạo giao, liền được Phật tiếp thọ. Kẻ
tận lực tu Ðịnh Huệ được vãng sanh đã đành mà kẻ ngũ
nghịch, thập ác lúc lâm chung bị sự khổ bức bách, phát
tâm tàm quý lớn lao, xưng niệm Phật danh hoặc mười tiếng
hoặc chỉ một tiếng rồi liền mạng chung, cũng đều được
hóa thân của Phật tiếp dẫn vãng sanh. Ðấy chẳng phải
là “vạn tu, vạn người sanh” hay sao?
Tuy
kẻ ấy niệm Phật chẳng bao lâu, nhưng do niệm Phật cực
kỳ mãnh liệt nên đạt hiệu quả nhanh chóng như thế đó,
chớ nên đem người niệm Phật hờ hững, lững lờ để so
sánh dễ, khó! Ðã sanh về Tây Phương, gặp Phật nghe pháp,
tuy có nhanh, chậm bất đồng, nhưng đều cao đăng dòng Thánh,
vĩnh viễn chẳng thối đọa. Tùy theo căn tánh sâu hay cạn
sẽ hoặc dần dà hoặc nhanh chóng, chứng đạt các quả vị
thì chuyện khai ngộ cần gì phải nói nữa, bởi thế mới
bảo: “Nếu được thấy Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ”.
Bài
kệ thứ ba là: “Có Thiền, không Tịnh Ðộ, mười người,
chín chần chừ. Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo
nó”. Do người ấy tuy triệt ngộ Thiền Tông, minh tâm kiến
tánh, nhưng Kiến, Tư phiền não chẳng dễ đoạn trừ, cần
phải qua bao duyên đào luyện khiến đoạn trừ sạch không
còn sót; sau đấy, phần đoạn sanh tử mới có thể xuất
ly. Còn như kẻ chưa đoạn được mảy may nào ta chẳng cần
bàn đến.
Tức
là kẻ đoạn cho đến còn sót chút mảy may phiền não chưa
thể đoạn sạch hết thì luân hồi sáu nẻo vẫn y như cũ,
khó bề trốn tránh. Biển sanh tử sâu thăm thẳm, đường
Bồ Ðề xa vời vợi, còn chưa về được nhà thì khi mạng
chung, trong mười người đại ngộ, tám chín người đã giống
như thế. Vì thế, mới nói: “Mười người, chín chần chừ”.
Chữ “ta lộ” ở đây nghĩa là “ta đà” tức là như lời
tục thường nói là “chần chừ”.
“Ấm
cảnh” tức là lúc lâm chung, các cảnh tượng do nghiệp lực
thiện, ác trong đời này và bao kiếp trước cùng hiện ra.
Khi cảnh này hiện ra, chỉ trong nháy mắt, sẽ theo nghiệp
lực thiện hay ác nào mạnh nhất đi thọ sanh trong đường
thiện hay ác, chẳng thể tự chủ được mảy may, giống như
người mắc nợ, chủ nợ nào mạnh nhất sẽ lôi đi trước.
Tâm tình lắm mối, sẽ nghiêng lệch về chỗ nào tâm mình
đặt nặng. Ngũ Tổ Diễn Giới tái sanh làm Tô Ðông Pha, Thảo
Ðường Thanh lại sanh làm Lỗ Công. Ðấy đều là vì lẽ
trên, nên nói: “Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi
theo nó”.
Chữ
Ấm (bộ Phụ) âm nghĩa giống chữ Ấm (bộ Thảo), có nghĩa
là “che đậy”. Do nghiệp lực này ngăn che nên chơn tánh
chẳng thể tái hiển hiện. Chữ “miết” (bộ Mục) cùng
âm với chữ “miết” (bộ Thủ), nghĩa là “chớp mắt”.
Có kẻ cho rằng chữ “ta” nghĩa là lầm lạc, “ấm” là
ngũ ấm ma cảnh thì đều là vì chưa hiểu ý nghĩa chữ Thiền
và chữ Có nên mới nói nhảm như thế. Lẽ đâu bậc đại
ngộ đại triệt trong mười vị, hết tám chín người lầm
đường, lạc lối, lầm theo cảnh ngũ ấm ma mà đi, thấy
ma phát cuồng ư? Phàm kẻ bị ma dựa phát cuồng thì là hạng
tăng thượng mạn chẳng hiểu giáo lý, chẳng rõ tự tâm,
tu mù luyện đui mà thôi. Sao chẳng biết tốt xấu, lại gán
lý đó cho bậc đại triệt, đại ngộ vậy? Ðiều này quan
hệ rất lớn, chẳng thể không biện bác rõ.
Bài
kệ thứ tư là: “Không Thiền, không Tịnh Ðộ, giường sắt
cùng cột đồng, muôn kiếp với ngàn đời, không một ai nương
dựa”. Có người bảo “không Thiền, không Tịnh Ðộ”
chính là kẻ vùi đầu tạo ác nghiệp, chẳng tu thiện pháp.
Ðây cũng là điều lầm lẫn lớn bởi pháp môn vô lượng,
nhưng chỉ có Thiền và Tịnh là phù hợp căn cơ nhất. Nếu
ai đã chưa triệt ngộ, lại chẳng cầu sanh cứ hời hợt,
hờ hững tu các pháp môn khác thì chẳng thể giữ cho Ðịnh,
Huệ quân bình, đoạn hoặc, chứng chơn. Lại chẳng có duyên
cậy vào Phật lực để đới nghiệp vãng sanh, do công đức
cả một đời tu trì sẽ cảm lấy nhân thiên phước báo trong
đời sau. Hiện tại đã không có chánh trí, đời sau ắt sẽ
bị phước chuyển, đắm say theo đuổi ngũ dục, tạo đủ
các nghiệp ác.
Ðã
tạo nghiệp ác sẽ khó tránh khỏi ác báo. Một hơi thở hít
không vào nữa liền đọa địa ngục, rõ ràng là trải qua
kiếp dài lâu, nằm lăn giường sắt, ôm ấp cột đồng để
đền trả các món ác nghiệp tham thanh sắc, giết sanh mạng
v.v… Chư Phật, Bồ Tát tuy rủ lòng từ mẫn, nhưng bị ác
nghiệp chướng ngăn nên cũng chẳng được lợi ích gì. Thiền
sư Triệt Lưu đời Thanh bảo: “Người tu hành nếu không
có chánh tín cầu sanh Tây phương, tu đủ các điều thiện
khác thì gọi là oan gia đời thứ ba”, chính là ngụ ý này.
Bởi lẽ, đời này tu hành, đời sau hưởng phước; cậy phước
làm ác ắt bị đọa lạc. Vui chỉ tạm được trong đời
sau, khổ vĩnh viễn suốt kiếp. Giả như nghiệp địa ngục
đã tiêu, lại chuyển sanh làm quỷ, súc. Muốn có được thân
người càng khó hơn nữa! Bởi thế, đức Thích Ca dùng tay
vít chút đất, hỏi ngài A Nan rằng: “Ðất trên tay nhiều
hay đất trên đại địa nhiều?” A Nan thưa: “Ðất trên
đại địa nhiều”. Phật dạy: “Ðược thân người như
đất trên tay; mất thân người như đất trên đại địa”.
Câu “vạn kiếp và ngàn đời, không một ai nương dựa”
là còn do âm vận bài kệ bó buộc nên chỉ nói thiển cận
như vậy thôi.
Vĩnh
Minh thiền sư sợ người đời chẳng hiểu được chơn nghĩa
của Thiền - Tịnh, quán sát rõ ràng nên mới làm bài kệ
này để giảng rõ. Có thể nói bài kệ này là chiếc bè báu
để thoát bến mê, là người dẫn đường lìa đường hiểm,
công lao rất lớn. Bởi lẽ, hết thảy pháp môn chuyên cậy
vào tự lực, chỉ mỗi pháp môn Tịnh Ðộ kiêm nhờ Phật
lực. Hết thảy pháp môn phải tiêu sạch hoặc nghiệp thì
mới có thể liễu sanh tử; chỉ riêng mình pháp môn Tịnh
Ðộ đới nghiệp vãng sanh, liền dự vào dòng Thánh. Thế
nhân chẳng xem xét, coi Tịnh Ðộ là hèn kém, thật đáng than
lớn!
Hiện
tại, người ta hay cho là khán thoại đầu là cách tu thích
hợp nhất, cứ cho hễ lâm chung được chết an tường thì
sẽ được liễu thoát. Nào hay đó chỉ là lời nói mớ của
kẻ Chánh Nhãn chưa mở mà thôi. Ở đây, tôi dẫn ra mấy
trường hợp làm chứng:
Vào
khoảng đời Càn Long - Gia Khánh nhà Thanh, có ba vị Thiền
tăng cùng tham thiền với nhau. Chết đi, một vị sanh tại
Giang Tô, tên là Bành Uẩn Chương; một vị sanh ở Vân Nam,
tên là Hà Quế Thanh; một vị sanh ở Thiểm Tây tên là Trương
Phí. Trong ba người, chỉ ông Bành nhớ được chuyện kiếp
trước. Sau lên kinh đô thi Hội, gặp hai người kia liền kể
chuyện kiếp trước cùng làm Tăng. Hai người kia tuy không
nhớ được việc cũ, nhưng vừa thấy ông Bành đã như gặp
lại cố nhân, trở thành bạn thân thiết.
Vào
thi Ðình, ông Bành trúng Trạng Nguyên, ông Hà đậu Bảng Nhãn,
ông Trương trúng Truyền Lô. Họ Bành sau từng làm Chủ Khảo,
Học Ðài, nhưng tham sắc quá, sau chết tại nhà. Họ Hà giữ
chức Chế Ðài ở Nam Kinh. Giặc Hồng Dương nổi dậy, chiếm
mất Nam Kinh, ông bị vua Thanh bắt tội chết. Ông Trương còn
từng thư từ qua lại với vua Hàm Phong, dân Hồi Hồi muốn
làm phản bèn giết phăng ông đi. Ba vị này chẳng thể coi
là Tăng nhân bình thường, tiếc là chẳng biết cầu sanh Tây
Phương, tuy được phước lớn nhưng hai người chẳng được
chết yên lành. Ông Bành tham đắm nữ sắc, e trong đời sau
chẳng được như đời này!
Lại
nữa, tiên sinh Ngô Ẩn Chi ở Tô Châu, đậu Thám Hoa triều
Thanh. Học vấn, tướng mạo, đạo đức đều hay cả. Năm
Dân Quốc thứ mười (1921), đi triều bái Phổ Ðà, gặp tôi,
tự bảo: “Kiếp trước tôi là một vị hòa thượng ở Vân
Nam”. Nhân vì khách đến dâng hương quá đông, chẳng rảnh
rỗi nhiều để hỏi tường tận nguyên do. Năm Dân Quốc thứ
mười một, tôi qua Dương Châu khắc in sách, đến ở nhà
một người đệ tử tại Tô Châu, tôi liền dò hỏi về việc
ấy, định bụng: Xưa kia vì chưa rõ nguồn cơn, nay muốn gặp
ông ta để đàm luận, nhưng rồi hoàn toàn quên mất. Từ
đó, chẳng qua lại với nhau nữa.
Ðến
năm Dân Quốc thứ 19 (1930), tôi bế quan tại chùa Báo Quốc,
đến tháng Mười Một, ông ta cùng hai vị Lý Ấn Tuyền, Lý
Hiệp Hòa đến thăm, tôi hỏi: “Làm sao ông biết là kiếp
trước mình là nhà sư ở Vân Nam?” Y bảo: “Năm hai mươi
sáu tuổi, tôi nằm mộng đến một ngôi chùa kia, biết là
chùa X. ở huyện X. thuộc tỉnh Vân Nam. Trông thấy hình trạng
điện đường, phòng xá, cây cối rất quen, cũng thấy mình
làm Tăng. Tỉnh dậy, nhớ rất rõ, ghi chép lại từng điều”.
Sau đấy, một người bạn tôi đi làm quan ở Vân Nam (tiên
sinh Trương Trọng Nhân còn chưa biết tính danh ông này), đem
đối chiếu những lời ông ta chép thì không sai lệch mảy
may.
Tôi
bảo: “Tiên sinh nay đã tám mươi tuổi, không còn được
bao ngày nữa, hãy nên khôi phục sự nghiệp hòa thượng kiếp
trước, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì mới
chẳng phụ công khó tu trì đời trước!” Y đáp: “Niệm
Phật có gì là hy kỳ?” Tôi nói: “Niệm Phật tuy chẳng
phải là hy hữu, lạ lùng gì nhưng thế gian chẳng có mấy
người chịu niệm, khinh là pháp chẳng hy kỳ. Khác nào ăn
uống, toàn thế giới không một ai là chẳng phải ăn; đấy
là sự chẳng hy kỳ bậc nhất. Thế ra ông có cần phải ăn
hay không vậy?”
Y chẳng
đáp được, nhưng vẫn chẳng chịu là đúng, xoay qua hỏi
hai ông Lý: “Các vị có niệm không?” Họ đáp: “Niệm
chứ!” Y vẫn chẳng chịu lời, trọn không chịu niệm. Ðến
tối ngày 30 tháng Chạp, lúc sắp thắp đèn, ông ta qua đời,
vừa tròn 80 tuổi. Vị này đời trước tu trì cũng hãn hữu
nên đời này mới cảm được công danh, thọ mạng lớn, nhưng
đời này chỉ giữ trọn luân thường, nhưng chẳng còn tin
vào Phật pháp nữa, há chẳng phải là đáng xót lắm sao?
Cả
bốn vị trên chưa ai chứng đắc, mà dù có sở chứng đi
nữa, nhưng nếu chưa đoạn hết phiền hoặc thì vẫn chẳng
tự khó xuất ly sanh tử được! Thậm chí như thiền sư Viên
Trạch đời Ðường, biết được chuyện quá khứ, vị lai,
nhưng vẫn không thoát được, huống hồ là kẻ chỉ được
chết an tường lại có thể liễu kết sanh tử nổi sao?
Cha
ông Lý Nguyên đời Ðường, trấn thủ Ðông Ðô bị An Lộc
Sơn làm phản, giết chết. Lý Nguyên bèn nguyện chẳng làm
quan, biến căn nhà của mình ở Lạc Dương thành chùa Huệ
Lâm, thỉnh Viên Trạch làm Hòa Thượng; Lý Nguyên cũng tu hành
ngay tại đấy. Qua mấy năm, Lý Nguyên muốn triều bái Nga
Mi, mời Viên Trạch cùng đi. Viên Trạch muốn đi theo đường
Thiểm Tây, nhưng Lý Nguyện chẳng muốn đến kinh đô nên
nhất định theo đường thủy Kinh Châu. Viên Trạch đã tự
biết mình chẳng trở về được nên liền dặn dò hậu sự,
mỗi mỗi đều rành rẽ; rồi chẳng phản bác về lộ trình
nữa, cùng Lý Nguyên ngồi thuyền đi.
Thuyền
bơi đến thượng du Kinh Châu, sắp gần đến Giáp Sơn, thế
nước chảy xiết, chưa đến tối đã phải cắm thuyền. Chợt
có một người đàn bà mặc quần gấm, kéo nước bên sông.
Viên Trạch vừa trông thấy, hai mắt ứa lệ. Lý Nguyên hỏi
nguyên do, Viên Trạch đáp: “Ta chẳng chịu đi theo đường
này là vì sợ bà ta. Bà ta mang thai đã ba năm, chờ ta sanh
làm con. Chẳng thấy bà ta còn có thể trốn lánh, chứ nay
đã thấy, không cách nào không làm con bà ta được! Ông nên
tụng chú, giúp ta mau sanh. Ðến ngày thứ ba, hãy đến nhà
thăm ta. Ta trông thấy ông, cười một tiếng làm tin. Mười
hai năm sau, đêm Rằm tháng Tám, đến bên bờ giếng Cát Hồng
tại Thiên Trúc ở Hàng Châu gặp ta”. Nói xong, Viên Trạch
tọa thoát. Bà nọ liền sanh con. Ngày thứ ba, Lý Nguyên đến
thăm, đứa bé liền cười.
Sau
đấy, Lý Nguyên quay về Huệ Lâm, thấy trong quyển kinh đã
viết sẵn lời dự ngôn về hậu sự, càng thêm tin Sư Viên
Trạch chẳng phải là kẻ thường nhân. Mười hai năm sau,
Lý Nguyên đến Hàng Châu. Tới đêm Rằm tháng Tám, ông đến
chỗ ước hẹn chờ đợi; chợt thấy bên sông có đứa bé
trai chăn trâu, ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, dùng roi gõ sừng
trâu, xướng:
Tam
sinh thạch thượng cựu tinh hồn,
Thưởng
nguyệt, ngâm phong bất yếu luân.
Tàm
quý cố nhân viễn tương phỏng,
Thử
thân tuy dị tánh thường tồn.
(Trên
đá ba sinh, vẫn nguyên hồn
Ngâm
gió, thưởng trăng lọ phải bàn
Thẹn
thấy cố nhân tìm đến gặp
Thân
này tuy khác, tánh thường còn).
Lý
Nguyên nghe xong bèn đến chào hỏi. Hàn huyên xong xuôi, đứa
bé lại đọc:
Thân
tiền, thân hậu sự mang mang,
Dục
thoại nhân duyên khủng đoạn tràng
Ngô,
Việt giang sơn du dĩ biến
Khước
hồi yên trạo thượng cù đường
(Thân
trước, thân sau sự vấn vương
Bàn
chuyện nhân duyên luống đoạn trường
Ngô,Việt
giang sơn chơi khắp cả,
Gác
chèo mây khói, ẩn ao chuôm)
Rồi
ruổi trâu đi mất.
Các
vị thử nghĩ xem, Sư đã phân thân đến như thế mà còn chưa
thoát được, huống hồ là những kẻ chỉ mới lãnh hội
được câu thoại đầu, được chết an lành mà hòng được
giải thoát ư? Cậy vào tự lực để thoát sanh tử khó khăn
như thế đó; cậy vào Phật lực để thoát sanh tử dễ dàng
như thế đó; vậy mà thế nhân vẫn cứ cậy vào tự lực,
buông bỏ Phật lực. Họ đúng là những kẻ chưa hiểu rõ
lẽ mầu nhiệm, nên mới bị hai câu nói sau đây lung lạc,
nghĩa là bị hai câu: “Ta là hạng người bậc thượng, chẳng
chịu làm chuyện tầm thường, không hy kỳ” làm chướng
ngại kiến giải vậy.
Xin
hết thảy mọi người hãy suy nghĩ chín chắn sự việc của
năm người vừa thuật trên rồi tự lợi, lợi tha, sốt sắng
tu Tịnh Nghiệp như lo chôn cất cha mẹ, như cứu đầu cháy
thì mới khỏi luống uổng đời này và duyên hội ngộ này.
Ngày
thứ năm:
Giải
thích sơ lược về giáo nghĩa Lục Tức của tông Thiên Thai,
kiêm giảng về việc ăn chay, phóng sanh
Pháp
môn Tịnh Ðộ lợi khắp ba căn, thâu tóm lợi căn lẫn độn
căn, chí viên, chí đốn, đúng là pháp môn duy nhất vô thượng
trong thời này. Nhưng con người hiện tại, có kẻ tự cao,
tự đại bảo: “Chúng sanh tức là Phật thì ta chính là Phật,
sao lại phải niệm Phật?”, kẻ thì lại cho rằng: “Ta đã
là phàm phu khổ não, lo gấp thoát sanh tử làm gì, chỉ cầu
kiếp sau chẳng mất thân người là được rồi!” Hai hạng
người này đều chẳng hiểu rõ nhân quả vậy. Bởi thế,
hôm nay tôi lại giảng về nhân quả.
Các
vị phải biết câu: “Chúng sanh tức là Phật” chỉ cho cái
nhân chân thật là Phật tánh sẵn có đủ. Nếu chẳng tu diệu
hạnh Niệm Phật thì Phật tánh không cách nào hiển hiện,
làm sao giải thoát sanh tử, thành tựu thật quả Phật đạo
được? Ví như gương báu đóng bụi, quang minh chẳng hiện,
chứ thật chẳng mất mảy may. Nếu chịu ra sức lau chùi,
mài giũa thì lại chiếu soi hết thảy. Còn như lời lẽ: “Ta
là phàm phu khổ não, chẳng thể vãng sanh Tây Phương, liễu
sanh thoát tử, cho đến thành Phật” thì lại chính là lời
lẽ của kẻ nghiệp chướng sâu nặng, cam bề đọa lạc.
Nay
người đời mải lo bon chen, tranh chấp, chẳng hề đoái hoài
chuyện sanh tử, chẳng biết là bao nhiêu. Nếu họ có thể
dụng công tu hành niệm Phật khó nhọc như thế thì lo gì
chẳng được vãng sanh Tây Phương, thượng chứng Phật quả!
Bởi lẽ, Phật vốn chỉ là một chúng sanh tu trì, chứng đắc
Phật quả mà thôi.
Trong
cuốn Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, Thiên Thai Trí Giả Ðại
Sư đời Tùy đã lập ra giáo nghĩa Lục Tức Phật để đối
trị gốc bệnh cam bề đọa lạc và bệnh tự tôn, tự đại
sai lầm. Giáo thuyết ấy rất tinh xác, kẻ học Phật chẳng
thể không biết đến.
“Lục
tức Phật” là: một là lý tức Phật, hai là danh tự tức
Phật, ba là quán hạnh tức Phật, bốn là tương tự tức
Phật, năm là phần chứng tức Phật, sáu là cứu cánh tức
Phật. “Lục”: minh thị thứ lớp sâu cạn, “tức”: chỉ
rõ ngay nơi thể chính là Phật. Ví như trẻ sơ sanh hình thể
chẳng khác gì cha mẹ, nhưng sức lực khác biệt rất xa. Bởi
thế, chẳng thể bảo đứa bé con ấy chẳng phải là người,
nhưng cũng chẳng thể vội bảo nó gánh vác chuyện của người
đã trưởng thành được. Nếu biết rõ “tuy sáu mà thường
tức” thì chẳng sẽ chẳng lui sụt, khiếp nhược. Nếu hiểu
“tuy tức mà thường sáu” sẽ chẳng sanh lòng tăng thượng
mạn, từ đó, nỗ lực tu trì, sẽ từ phàm phu mà viên chứng
Phật quả, do “lý tức Phật” mà thành “cứu cánh tức
Phật” vậy.
a.
“Lý tức Phật” là hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh.
Tuy trái phản Chánh Giác, xuôi theo trần lao, luân hồi Tam Ðồ,
Lục Ðạo, nhưng Phật tánh công đức vẫn tự đầy đủ,
cho nên gọi là “lý tức Phật”, coi lý thể của tâm tức
là Phật vậy. Ông Vô Cơ Tử làm bài tụng rằng:
Ðộng,
tịnh lý toàn thị
Hành,
tàng sự tận phi,
Minh
minh tùy vật khứ,
Yểu
yểu bất tri quy
(Ðộng,
tịnh vốn toàn lý,
Hành,
tàng chẳng trúng gì,
Tối
tăm theo đuổi vật,
Mờ
mịt chẳng biết về)
Ðấy
là vì hết thảy chúng sanh tuy chưa nghe Phật pháp, chẳng biết
tu trì, nhưng nhất niệm tâm thể vẫn hoàn toàn giống như
Phật. Vì thế mới bảo là: “Ðộng, tịnh vốn toàn lý”.
Do mê lầm tự tâm, tạo các sự nghiệp nên mới bảo “Hành,
tàng chẳng trúng gì” (Hành là hoạt động, tàng là ở yên),
vì mọi việc làm đều chẳng xứng với Phật tánh. Quanh năm,
suốt tháng, tối tăm, mờ mịt ruổi theo vật dục, phiền
não vọng tưởng, từ sống đến chết chẳng hề biết phản
chiếu hồi quang, nên bảo là: “Tối tăm theo đuổi vật,
mờ mịt chẳng biết về”.
b.
“Danh tự tức Phật” là do nghe từ thiện tri thức, hoặc
từ kinh điển mà biết rằng tâm vốn sẵn đủ, tịch chiếu
viên dung, Phật tánh bất sanh, bất diệt. Về phương diện
danh tự, thông đạt, hiểu rõ, biết hết thảy Phật pháp
đều là Phật pháp, hết thảy chúng sanh đều có thể thành
Phật. Ðó chính là: nghe danh tự Phật tánh liền hiểu rõ,
thông đạt Phật pháp. Kệ tụng rằng:
Phương
thính vô sanh khúc,
Thỉ
văn bất tử ca,
Kim
tri đương thể thị
Phiên
hận tự ta đà.
(Vừa
lắng khúc vô sanh,
Thoảng
nghe bài bất diệt,
Liền
biết ngay đương thể,
Tiếc
đã trót lần khân)
Ý
nói: Từ trước đến nay chỉ biết sanh tử luân hồi không
lúc nào kết thúc; nay mới biết Phật tánh chơn thường, bất
sanh, bất diệt, đã biết đương thể chính là nhân chân chánh
để thành Phật liền gấp gáp tu trì, chỉ hận từ trước
đến nay mình bỏ uổng quang âm đến nỗi đến hiện giờ
vẫn chưa thể sớm chứng Thật Quả được!
c.
“Quán hạnh tức Phật” là y giáo tu Quán, tức là địa
vị ngoại phàm Ngũ Phẩm trong Viên Giáo. Ngũ Phẩm là:
1.
Tùy Hỷ Phẩm: nghe pháp Thật Tướng, tín giải, tùy hỷ.
2.
Ðộc Tụng Phẩm: đọc tụng kinh Pháp Hoa và các kinh điển
Ðại Thừa để hỗ trợ quán hạnh, hiểu biết.
3.
Giảng Thuyết Phẩm: Tự nói những điều mình tự chứng hiểu
(nội giải) để chỉ dạy, dắt dẫn làm lợi cho tha nhân.
4.
Kiêm Hành Lục Ðộ Phẩm: Kiêm tu Lục Ðộ để hỗ trợ quán
tâm.
5.
Chánh Hành Lục Ðộ Phẩm: Chánh hành Lục Ðộ, tự mình hành,
dạy người khác hành, đầy đủ cả Sự lẫn Lý. Quán Hạnh
càng thêm thù thắng.
Kệ
tụng rằng:
Niệm
niệm chiếu thường lý
Tâm
tâm tức huyễn trần
Biến
quán chư pháp tánh
Vô
giả diệc vô chân.
(Niệm
niệm chiếu thường lý,
Tâm
tâm bặt huyễn trần
Quán
khắp các pháp tánh,
Nào
còn giả cùng chân)
Ðã
viên ngộ Phật tánh, y giáo tu Quán để đối trị phiền não
tập khí nên bảo là: “Niệm niệm chiếu thường lý, tâm
tâm bặt huyễn trần”. Hiểu rõ một sắc, một hương không
thứ gì chẳng phải là Trung Ðạo; hết thảy các pháp không
pháp nào chẳng phải là Phật pháp. Hết thảy chúng sanh đều
sẽ thành Phật cho nên nói: “Quán khắp các pháp tánh, nào
còn giả cùng chân”.
c.
“Tương tự tức Phật” là tương tự giải ngộ, khai phát,
tức là địa vị Nội Phàm thuộc Thập Tín trong Viên Giáo.
Sơ Tín đoạn Kiến Hoặc, Thất Tín đoạn Tư Hoặc; Bát, Cửu,
Thập, Tín đoạn Trần Sa Hoặc. Kệ tụng rằng:
Tứ
Trụ tuy tiên thoát,
Lục
trần vị tận không
Nhãn
trung do hữu ế
Không
lý kiến hoa hồng
(Trước
đã thoát Tứ Trụ,
Nhưng
lục trần chửa không,
Mắt
vẫn còn màng mộng
Thấy
hoa đốm trên không)
Tứ
Trụ là:
1.
Kiến Nhất Thiết Trụ Ðịa chính là Kiến Hoặc trong Tam Giới.
2.
Dục Ái Trụ Ðịa chính là Tư Hoặc trong Dục Giới.
3.
Sắc Ái Trụ Ðịa tức là Tư Hoặc trong Sắc Giới.
4.
Hữu Ái Trụ Ðịa tức là Tư Hoặc trong Vô Sắc Giới.
Sơ
Tín đoạn Kiến Hoặc, Thất Tín đoạn Tư Hoặc nên bảo là:
“Trước đã thoát Tứ Trụ”. Nhưng do tập khí sắc, thanh,
hương, vị, xúc pháp vẫn còn, chưa đoạn sạch nên bảo là:
“Nhưng lục trần chửa không”. Ðây là luận về địa vị
Thất Tín, chứ Bát, Cửu, Thập Tín đã phá được Trần Sa
Hoặc nên tập khí đã hoàn toàn hết sạch. Tập khí là những
dư âm của các Hoặc Chướng. Giống như cái mâm đựng thịt
đã rửa sạch, nhưng vẫn còn có mùi hôi; bình đựng rượu
tuy đã súc kỹ vẫn còn có mùi rượu. “Mắt vẫn còn màng
mộng, thấy hoa đốm trên không” là: Vì chưa phá Vô Minh
nên chưa thể thấy được bản thể của Pháp Giới.
d.
“Phần chứng tức Phật” là Thập Tín hậu tâm. Phá một
phần Vô Minh, chứng một phần Tam Ðức nên gọi là “phần
chứng tức Phật”. Là vì với bốn mươi hai phẩm Vô Minh,
Sơ Trụ phá được một phần; cho đến Thập Trụ phá được
mười phần. Từ các địa vị Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Ðịa cho đến Ðẳng Giác lần lượt phá được bốn
mươi mốt phần. Bậc Sơ Trụ có thể hiện thân làm Phật
trong thế giới không có Phật, lại còn tùy loại hiện thân
độ thoát chúng sanh. Thần thông đạo lực của bậc này đã
chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ là càng lên mỗi địa vị
trên càng thù thắng hơn nữa, nhất là địa vị thứ bốn
mươi mốt là Ðẳng Giác Bồ Tát? Kệ tụng rằng:
Khoát
nhĩ tâm khai ngộ
Trạm
nhiên nhất thiết thông
Cùng
nguyên do vị tận
Thượng
kiến nguyệt mông lung
(Ðột
nhiên tâm khai ngộ,
Lặng
trong hết thảy thông,
Vẫn
chưa thông tận gốc
Còn
thấy nguyệt mông lung)
“Ðột
nhiên tâm khai ngộ, lặng trong hết thảy thông” là nói về
cảnh tượng chứng ngộ đôi phần, phá được vô minh đôi
phần. “Vẫn chưa thông tận gốc, còn thấy nguyệt mông lung”
ý nói còn bị mây vô minh che lấp nên chưa thể thấy thấu
tột ánh sáng của vần trăng thiên chơn trong tự tánh.
e.
“Cứu cánh thành Phật” là từ Ðẳng Giác lại phá một
phần Vô Minh nên thấu đạt tột cùng Chơn Tánh, đoạn sạch
Hoặc Chướng, phước huệ viên mãn, chứng ngộ triệt để
Chơn Như Phật Tánh sẵn có ngay trong tâm mình, đạt địa
vị Diệu Giác, thành Vô Thượng Bồ Ðề đạo. Kệ tụng
rằng:
Tùng
lai chơn thị vọng
Kim
nhật vọng giai chơn
Ðản
phục bổn thời tánh
Cánh
vô nhất pháp tân.
(Từ
trước, chơn là vọng
Hôm
nay, vọng là chơn,
Chỉ
khôi phục bổn tánh
Có
pháp nào mới đâu?)
“Từ
trước chơn là vọng” nghĩa là trước khi chứng ngộ tuy
thấy Ngũ Uẩn này đều là không, nhưng lầm sanh chấp trước
khiến cho Sắc Pháp, Tâm Pháp thành lập đến nỗi khổ ách
theo đó sanh ra. Sau khi đã ngộ rồi, tuy vẫn thấy Ngũ Uẩn
này, nhưng toàn thể đều là một Chơn Như, trọn chẳng có
tướng Sắc, Tâm, Ngũ Uẩn. Vì thế, bảo là: “Hôm nay, vọng
là chơn”. Nhưng sở chứng ấy nào phải là điều gì mới
mẻ, chẳng qua là phục hồi lại Chơn Như Phật Tánh sẵn
có đó thôi, vì thế bảo: “Chỉ khôi phục bổn tánh, có
pháp nào mới đâu?”
Lại
nữa, chúng sanh còn mê thì thấy Phật, Bồ Tát và hết thảy
chúng sanh đều là chúng sanh cho nên hủy báng Phật pháp, sát
hại chúng sanh, chẳng biết là tội lỗi, trái lại còn coi
đó là vui. Ðức Phật đã triệt ngộ tâm, chứng tâm “tâm,
Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt”, thấy hết thảy chúng
sanh và Phật chẳng hai. Vì thế đều vì kẻ oán, người thân
thuyết pháp khiến cho được độ thoát; dẫu là kẻ cực
kỳ ác nghịch bất tín, tâm Phật cũng không hề có một niệm
buông bỏ vì Phật thấy kẻ đó chính là vị Phật chưa thành
vậy.
Sáng
hôm nay, ông Hoàng Hàm bảo tôi: “Pháp Sư Viên Anh nói đạo
tràng sắp viên mãn. Ngày hoàn mãn sẽ cử hành phóng sanh.
Ðến ngày 16 sẽ nói về Tam Quy, Ngũ Giới”, xin tôi vì đại
chúng giảng đại ý việc phóng sanh và thọ Tam Quy, Ngũ Giới
ngõ hầu mong đại chúng cùng phát tâm lợi vật, lợi người.
Bởi thế, bây giờ tôi sẽ riêng tuyên giảng.
Pháp
hội này vốn là pháp hội Hộ Quốc Tức Tai. Nếu suy xét
đến tận cùng nguyên do phát khởi tai nạn thì đa phần là
vì sát sanh, ăn thịt mà ra. Vì thế, muốn ngưng dứt sát kiếp,
phải bắt đầu từ việc kiêng giết chóc, ăn chay, bảo vệ,
tiếc thương sanh mạng loài vật và chuộc mạng loài vật.
Mọi người ai nấy phải nên phát tâm giữ gìn, thương tiếc
sanh mạng loài vật. “Muốn biết binh đao trong cõi thế, lò
mổ xin nghe tiếng nửa đêm” Hãy giữ hai câu ấy làm lời
răn nhắc, tận lực cảnh tỉnh, kiêng dè.
Ý
nghĩa của việc phóng sanh là khiến cho mọi người phát tâm
giữ gìn sanh mạng. Chính mình đã phóng sanh, đương nhiên
sẽ chẳng sát sanh nữa. Chính mình đã chẳng phóng sanh, trông
thấy người khác phóng sanh, lẽ nào còn nỡ sát sanh? Nếu
ai nấy giữ gìn, thương tiếc sanh mạng, chẳng tàn hại nữa
thì loài vật còn chẳng nỡ giết, huống hồ là giết người?
Tự nhiên trừ được sát kiếp, chuyển được vận nước.
Nhưng đời vẫn có kẻ một mặt bỏ tiền phóng sanh, một
mặt vẫn sát sanh, ăn thịt như thường. Như vậy dù có chút
công đức phóng sanh, vẫn e khó địch nổi tội lỗi sát sanh
lớn lao!
Hiện
pháp hội này dự định ngày viên mãn sẽ cử hành phóng sanh,
xin các vị phát tâm quyên trợ, tự lợi, lợi vật, công đức
chẳng thể nghĩ bàn. Cho đến ngày kế đó, đệ tử quy y
có cúng dường chi, Ấn Quang tôi quyết định dùng hết vào
việc ngăn ngừa tai nạn, trọn chẳng để dùng một đồng
nào! Bởi lẽ, tôi là một ông Tăng trơ trọi, vốn đã không
có chùa miếu, lại cũng chẳng có đồ đệ, trừ thức ăn,
quần áo ra, có giữ tiền cũng vô dụng! Mai kia mạng chung,
sau khi hỏa thiêu, đem tro rải xuống biển là hết chuyện,
cũng chẳng cần phải tạo tháp và làm bất cứ hình thức
kỷ niệm nào.
Ngay
cả việc quy y đây, từ đầu tôi vốn chẳng thuận, nhưng
bởi cư sĩ Khuất Văn Lục và pháp Sư Viên Anh đốc thỉnh,
viện lẽ các vị phát tâm cầu pháp tình ý ân cần, vì thỏa
mãn ý nguyện của họ, chẳng thể khước từ, nên đành chấp
thuận. Tôi vốn xem nhẹ tiền bạc, chẳng giống những người
khác, mỗi tên đệ tử phải xuất tiền “hương kính” bao
nhiêu đó mới chuẩn bị cho quy y. Tôi thì không tiền cũng
quy y được, chỉ cần thành kính tu trì mà thôi. Bởi lẽ,
chẳng thể coi chuyện quy y như chuyện mua bán, cần phải ra
giá bao nhiêu đó mới mua được danh mục quy y! Như thế thì
mới là tín đồ chơn thật quy y Tam Bảo, mới có thể đạt
đại lợi ích liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh.
Ngày
thứ sáu:
Dùng
Chơn Ðế và Tục Ðế để phát trừ kiến chấp và trần
thuật những chuyện linh cảm trong thời cận đại
Thế
nhân chấp không, chấp có, vọng sanh kiến giải nên mê muội
chẳng giác ngộ. Thế Tôn lập ra giáo pháp, muốn cho chúng
sanh phá trừ hai kiến chấp ấy nên đặc biệt bày ra một
pháp môn Niệm Phật, mong chúng sanh từ Hữu chứng ngộ được
Không, dẫu đắc Không nhưng chẳng phế Hữu thì hai pháp Hữu
- Không sẽ hỗ trợ nhau, được lợi ích lớn lao, huống hồ
là kiêm nhờ nguyện lực của Phật Di Ðà. Vì thế, lực dụng
của pháp môn Niệm Phật siêu xuất hết thảy pháp môn, làm
chỗ quy tú