ẤN
QUANG ÐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC
PHẦN
4
VI.
KHUYÊN CHÚ TRỌNG NHÂN QUẢ
1.
Luận về lý nhân quả
* Một pháp nhân quả là bước đầu nhập môn của Phật giáo,
mà cũng là kế sách trọng yếu để thành ý, chánh tâm, tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
* Nhân quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian
và xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh.
Nếu nay chẳng lấy nhân quả làm nhiệm vụ cấp bách để
cứu quốc, cứu dân, dù ông có trí xảo, đạo đức cao siêu
đến mấy cũng chỉ uổng công, vì chẳng giảng đạo lý cũng
như không có vương pháp vậy!
* Thánh hiền đời xưa không ai là chẳng dè dặt, kinh sợ
để tự rèn luyện, gìn giữ mình, nên tâm họ chẳng bị
cảnh phú quý, cùng - thông xoay chuyển. Cùng thì riêng thân
mình thiện, đạt thì khiến cả thiên hạ cùng thiện. Người
đời nay, trong những hành vi, lời lẽ thường ngày, trong vòng
cha con, anh em, chồng vợ, mỗi mỗi đều chẳng thể như pháp.
Người
có chút tri kiến bèn lầm mong làm bậc cao nhân lỗi lạc:
chưa có quyền bèn mặc tình cuồng vọng luận nghị mù quáng
để mê hoặc người đời; đã có quyền vị rồi, bèn tỏ
rõ cái ác niệm bạo ngược tàn nước hại dân. Gốc bệnh
là do lúc ban đầu, cha mẹ, thầy bạn chưa từng dùng đạo
nhân quả báo ứng để chỉ bảo cho kẻ ấy. Nếu biết nhân
quả báo ứng đôi chút thì khởi tâm động niệm ắt đều
kiêng dè, chẳng dám phóng túng. Dù chẳng mong thành thánh,
thành hiền, muốn chẳng kinh sợ, dè dặt như vào vực sâu,
như đi trên băng mỏng cũng không thể được!
Vì
thế, những người thiên tư cao phải bắt đầu từ những
điều thiển cận, chớ cho là điều lành nhỏ nên không làm,
chớ cho là điều ác nhỏ rồi cứ làm. Cứ vun bồi từng
ít một sẽ thành tánh. Ví như cây nhỏ đã mọc thẳng, đến
lớn muốn uốn cong chẳng thể được!
* Y gia trị bệnh, gấp thì trị ngọn, thong thả bèn trị gốc.
Ví như có người yết hầu ủng thũng, ăn uống khó nuốt
xuống, thở ra khó khăn; trước hết phải tiêu trừ chứng
thũng, sau đấy mới căn cứ trên gốc bệnh, điều hòa tạng
phủ. Nếu chẳng trừ trước chứng thũng ấy, người đó
lăn đùng ra chết, dù có lương phương, diệu dược trị được
gốc bệnh cũng chẳng làm gì được!
Nhân
quả chính là diệu pháp để tiêu trừ chứng bệnh thũng ngày
nay; nhưng một pháp Nhân Quả trị được bệnh cả gốc lẫn
ngọn. Kẻ sơ cơ nương vào đó sẽ cải ác tu thiện. Người
thông hiểu nương theo đó có thể đoạn Hoặc chứng Chân,
thông trên, suốt dưới. Dù là hàng phàm phu sát đất cho đến
bậc viên mãn Phật Quả đều chẳng thể lìa pháp này, chứ
nhân quả nào phải chỉ trị được mỗi bệnh ngọn ư!
* Một pháp nhân quả chính là lò luyện lớn để nung phàm,
luyện thánh của thánh nhân thế gian, xuất thế gian. Nếu
lúc ban đầu chẳng hiểu rõ nhân quả thì sau khi đã thông
Tông, thông Giáo, sẽ rất có thể bị lầm lẫn nhân quả.
Ðã lầm nhân quả, đọa lạc ắt sẽ có phần, không cách
gì siêu thăng. Ðừng bảo lý này thiển cận rồi coi thường!
Đức Như Lai đã thành Chánh Giác, chúng sanh đọa lạc tam
đồ đều chẳng ra ngoài nhân quả.
Nhưng
tâm lượng của phàm phu hẹp nhỏ, có lẽ không lãnh hội
được những lẽ nhân quả lớn lao đã nói trong kinh. Hãy
dùng những điều thiển cận trong thế gian để làm phương
tiện lãnh hội những điều thù thắng ấy. Chẳng hạn như
đối với bài Âm Chất Văn của Văn Xương Ðế Quân, sách
Thái Thượng Cảm Ứng v.v... xin hãy đọc kỹ, suy xét tường
tận, làm theo, thì ai nấy đều là lương dân, người người
đều có thể liễu sanh thoát tử.
Năm
trước, Quang từng khắc An Sĩ Toàn Thư, bản khắc để tại
Dương Châu, các nơi phát hành kinh đều có. Cuốn sách này
thật là một tác phẩm trọng yếu để làm cõi đời hiền
dịu, dân chúng hiền lành vậy!
* Xưa kia, ông Bạch Cư Dị hỏi Ô Sào thiền sư: “Thế nào
là đại ý Phật pháp?” Ngài Ô Sào đáp: “Ðừng làm các
điều ác, vâng giữ các điều lành”. Họ Bạch bảo: “Hai
câu nói ấy, đứa bé lên ba cũng nói được”. Ngài Ô Sào
bảo: “Tuy đứa bé lên ba nói được, ông già tám mươi làm
chẳng xong”. Phải biết lời nói này chính là lời nói thiết
yếu quan trọng nhất đối với hết thảy người học Phật.
* Hai câu “Ðừng làm các điều ác...” chính là đại ý
của hết thảy kinh giới của tam thế chư Phật, chớ nên
coi thường. Ngay trong mỗi ý niệm vừa phát khởi của chính
mình hãy nên suy xét kỹ, nếu có thể suy xét đến cùng cực
thì còn có thể thành được Phật đạo, huống hồ là các
quả vị phước huệ khác nữa!
* Dạy giới thiện (ngũ giới, thập thiện) để mở ra con
đường trời - người phẳng phiu. Hiển nhân quả để bày
phương cách xu tỵ (xu là hướng tới, tỵ là tránh né) tốt
lành. Nói đến giới thiện thì:
a.
Ngũ Giới:
Chẳng
sát là Nhân; chẳng trộm là Nghĩa; chẳng tà dâm là Lễ; chẳng
nói dối là Tín; chẳng uống rượu thì tâm thường trong trẻo,
chí ngưng lặng, thần chẳng hôn mê nên lý hiện, tức là
Trí. Trì trọn Ngũ Giới chẳng đọa tam đồ, luôn sanh trong
nhân đạo. Năm điều này nói chung tương đồng với Ngũ Thường
(nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) của đạo Nho, nhưng Nho giáo chỉ
dạy tận nghĩa, nhà Phật còn giảng thêm về quả báo.
b.
Thập Thiện:
Chẳng
giết, chẳng trộm, chẳng tà dâm, gọi là ba nghiệp nơi thân.
Chẳng nói dối, chẳng nói thêu dệt, chẳng nói lưỡi đôi
chiều, chẳng ác khẩu, gọi là bốn nghiệp nơi miệng. Chẳng
tham, chẳng sân, chẳng si, gọi là ba nghiệp nơi ý. Những
điều này xét về đại thể, giống như Ngũ Giới, nhưng ngũ
giới đa phần nói về thân, Thập Thiện đa phần nói về
Tâm. Ðầy đủ Thập Thiện quyết định sanh vào thiên giới.
Còn
như các điều dạy về luân lý như hiếu với cha, từ với
con, kính anh, nhường em... đều là muốn cho ai nấy đều tận
bổn phận không khiếm khuyết, thuận theo tướng thế gian
để tu pháp xuất thế. Nếu nói rộng về nhân quả báo ứng
thì hào ly chẳng sai. Ðọa địa ngục hay sanh thiên chỉ do
tự mình chiêu cảm lấy. Ðức Như Lai tâm bi chí cực, muốn
cho chúng sanh vĩnh viễn lìa khổ, chỉ hưởng các điều vui;
vì thế, Ngài chẳng tiếc hiện tướng lưỡi rộng dài, vì
các chúng sanh tận tình tuyên diễn.
Kinh
dạy: “Bồ Tát úy nhân, chúng sanh úy quả” (Bồ Tát sợ
nhân, chúng sanh sợ quả). Nếu chẳng muốn nhận quả khổ,
phải đoạn trừ nhân ác trước đã! Nếu luôn tu thiện nhân,
ắt quyết định thường hưởng quả vui! Ðây chính là điều
kinh Thư bảo: “Tác thiện giáng tường, tác bất thiện giáng
ương”(Làm thiện thì điều tốt lành giáng xuống. Làm điều
bất thiện, tai ương giáng xuống), kinh Dịch nói: “Tích thiện
tất hữu dư khánh, tích bất thiện tất hữu dư ương” (Tích
thiện sự vui có thừa, chất chứa điều chẳng lành tai ương
ắt có thừa!)
Nhưng
nhà Nho chỉ xét trên đời hiện tại và con cháu mà nói, còn
Phật xét trên cả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai để
luận. Phàm tình chẳng hiểu thấu, bèn cho là chuyện mông
lung, chẳng chịu tin nhận. Như kẻ mù cãi lời người dẫn
đường, tự đi vào đường hiểm, muốn chẳng rớt hầm,
sụp hố có được hay chăng?
* Ðề
xướng nhân quả báo ứng là kính vâng theo tâm của thiên
địa và thánh nhân để thành tựu tánh đức nhân nghĩa, đạo
đức của người đời. Nếu coi nhân quả báo ứng là chuyện
mờ mịt, không cách nào khảo sát thì chẳng những trái nghịch
với tâm của thiên địa, thánh nhân, mà thần thức của mình
còn vĩnh viễn đọa trong ác thú.
Nếu
bậc trí giả chẳng phấn phát ý chí ưu thời mẫn thế để
tu đức mình, kẻ hạ ngu không kiêng sợ gì, dám làm điều
ác thì quyền dưỡng dục của thiên địa, thánh nhân bị
chèn ép chẳng được phô bày, cái lý sẵn có trong tâm tánh
của chúng ta ẩn mất chẳng hiện. Họa hại ấy chẳng thể
nói được!
Nhưng
lời lẽ của thánh nhân thế gian giản lược, lại chỉ bàn
về đời này và con cháu, còn những việc trước khi sanh ra,
sau khi chết đi, từ vô thỉ đến nay theo nhân duyên tội phước
luân hồi lục đạo... đều chưa luận rõ. Vì thế, những
kẻ thấy biết nông cạn tuy hằng ngày đọc những lời dạy
về nhân quả báo ứng của thánh hiền vẫn chẳng tin nhân
quả báo ứng.
Ðại
giáo của đức Như Lai hiển dương cái huyền diệu nơi tâm
tánh của chúng ta, sự tinh vi của nhân quả ba đời. Tất
cả những thuyết “cách trí” (trí tri cách vật), thành,
chánh (chánh danh), “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ”, và pháp “đoạn hoặc chứng chân, liễu sanh thoát
tử”, không pháp nào chẳng giảng đủ. Vì thế, những điều
Phật dạy về cha hiền, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng
xướng vợ theo, chủ nhân từ, tớ trung thành, ai nấy tận
hết bổn phận có khác gì những điều thánh nhân thế gian
đã dạy đâu!
Thế
nhưng, với mỗi một điều, Phật lại khai thị nhân trước
quả sau; đấy chính là điều thánh nhân thế gian chẳng thể
làm nổi! Lời dạy “tận nghĩa, dốc trọn bổn phận” chỉ
để dạy hàng thượng trí, chẳng thể chế ngự kẻ hạ ngu.
Nếu biết nhân quả báo ứng thì thiện - ác, họa - phước
rành rành như nhìn vào lửa; ai lại không tìm tốt, tránh xấu,
tránh họa đạt phước cơ chứ?
* Kinh
Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đủ trí huệ,
đức tướng của Như Lai. Nhưng vì vọng tưởng, chấp trước,
nên chẳng thể chứng đắc”. Do vậy, biết rằng: trí huệ,
đức tướng chúng sanh và Phật đều đồng, tức là Tánh
Ðức. Do có vọng tưởng chấp trước và lìa vọng tưởng
chấp trước nên chúng sanh và Phật khác nhau. Ðấy chính là
Tu Ðức.
Tu
Ðức có thuận, có nghịch. Thuận tánh mà tu thì càng tu càng
gần. Tu đến cùng cực thì triệt chứng, chứng được rằng
hoàn toàn không có gì để đắc cả. Còn nghịch tánh mà tu
thì càng tu càng xa. Tu đến cùng cực sẽ vĩnh viễn đọa
trong ác đạo, đọa nhưng không có gì mất cả. Hiểu được
điều này thì ngu cũng là hiền, hiền cũng là ngu, thọ cũng
là yểu, yểu cũng là thọ, [những mong ước] phú quý, cháu
con đầy đàn đều diệt sạch. Mỗi mỗi đều làm chủ được
thì có cái để nương dựa cũng coi như không, không có cái
để nhờ cậy cũng coi như có. Như núi cao chẳng thể trèo
lên được, người ta không có cách nào, thì chẳng ngại gì
đục núi, xếp bậc, sẽ cũng có thể lên đến chót núi.
Con
người xưa nay chẳng biết nghĩa lý “do tâm tạo nghiệp,
do tâm chuyển nghiệp”, không ít kẻ đại thông minh, học
vấn rộng, giở trò bỏ sạch công lao người trước khiến
di hại bao kiếp. Nếu chẳng tu đức, dù thân đạt tới mức
giàu trùm thiên hạ, quý như thiên tử, địa vị đứng đầu
các quan, thanh thế hiển hách như hàng tể phụ, há chẳng
có kẻ bị tru lục, diệt môn ngay trong đời này đó ư? Những
điều mình đạt được đó đều chẳng thể nương dựa được!
Ông
Viên Liễu Phàm hiểu rõ điều này nên đối với những thứ
được hưởng thọ đều bảo chẳng phải do “tiền nhân”
(nhân đời trước) định sẵn. “Tiền nhân”, tục gọi
là “thiên” (trời). “Thiên định thắng nhân” tức là
tiền nhân khó chuyển. Nhân định cũng thắng thiên, tức là
tu trì để chuyển nghiệp thì tiền nhân chẳng đủ để ỷ
lại. Vì thế, lấy nhân hiện tại làm nhân để tiêu trừ
tiền nhân. Nếu buông lung làm xằng, kết quả sẽ ngược
lại. Hiểu rõ điều này thì muốn ngu lại thành hiền, muốn
tầm thường lại trở thành siêu quần, bạt tụy, đều là
do giữ lòng tu đức, tùy thời khéo dạy mà thôi!
* Mạng
là gì? Chính là quả báo của những điều đã làm trong đời
trước. Lại nữa, điều đạt được do làm đúng theo đạo
nghĩa mới gọi là Mạng. Những điều đạt được do làm
chẳng đúng theo đạo nghĩa thì chẳng được gọi là Mạng.
Vì sau khi đạt được như vậy, cái khổ đời sau chẳng cam
nghe thấy! Như trộm cướp tiền tài của người, tạm thời
dường như giàu sướng, một khi quan phủ biết ra, ắt sẽ
đầu một nơi, thân một nẻo! Lẽ nào với cái tạm thời
được vui, lại cho là Mạng?
Lực
là gì? Chính là nói đến những cái mình làm ngay trong đời
này. Có hai thứ làm: Một là tài trí chuyên dùng mưu mẹo
biến trá. Hai là chuyên dùng sự khắc kỷ, giữ lễ để tu
trì.
Cái
Mạng do Liệt Tử nói đó hỗn độn, chẳng phân; cái Lực
của ông ta nói đó đa phần chú trọng về mưu mẹo, biến
trá. Bởi thế, đến nỗi Lực bị Mạng đè ép, không cách
gì đáp được [câu chất vấn sau]: “Khổng Tử bị khốn
đốn nơi biên giới nước Trần, nước Sái; Ðiền Hằng lấy
nước Tề làm tánh mạng, còn có thể nói là biết Mạng ư?”
Khổng
Tử chẳng gặp vua hiền, chẳng thể khiến thiên hạ trị
an, chính là do nghiệp lực của muôn dân tạo ra như vậy,
can dự chi đến Khổng Tử! Nhan Uyên yểu thọ, nghĩa lý cũng
giống như thế.
Ðiền
Hằng có được nước Tề là do soán đoạt mà có, sao gọi
là Mạng được? Tuy hiện thời còn là vua Tề, nhưng khi hơi
thở không hít vào được, liền thành tù nhân trong A Tỳ địa
ngục. Ðấy mới là Mạng, vì ông ta dạy người chẳng tu
đạo nghĩa, mặc tình cướp đoạt!
Bởi
thế, tôi mới nói: “Liệt Tử chẳng biết Mạng. Chẳng thấy
Mạnh Tử luận về Mạng đó ư? Ắt phải cùng lý tận tánh
đến mức như thế mới gọi là Chân Mạng. Còn những điều
chẳng do đạo nghĩa mà được, chẳng do đạo nghĩa mà mất,
đều chẳng được gọi là Mạng. Liệt Tử luận về Lực
đa phần thuộc về tài trí mưu mẹo, biến trá, [là những
điều] hiền thánh chẳng thèm nói tới. Những điều hiền
thánh nói đến đều là khắc kỷ, giữ lễ để tu trì”.
“Thánh
mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế niệm thành thánh.
Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà tích điều chẳng
lành, ắt tai ương có thừa. Làm lành trăm điều tốt lành
giáng. Làm điều chẳng lành trăm tai ương trút xuống. Gỗ
phải theo dây mực mới ngay, vua phải nghe lời can gián mới
thành thánh. Làm điều nhân ái sẽ dẫn tới phước lành;
dù gặp phải cảnh hung hiểm trái nghịch cũng chỉ nhẹ nhàng.
Năm năm mươi tuổi, biết bốn mươi chín năm trước là sai
trái; muốn giảm bớt lỗi nhưng vẫn chưa thể. Muốn mình
được sống thêm năm mười năm nữa để học Dịch hầu
không mắc lỗi lớn. Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn, kiêng
giữ những điều chẳng nên nhìn, kinh sợ những điều chẳng
nên nghe, đều là Lực”. Đấy là những lời của Nho gia.
Còn
nhà Phật bảo hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều
sẽ thành Phật để họ sám hối nghiệp cũ, cải ác tu thiện,
mong họ đừng làm các điều ác, vâng làm các việc lành.
Dùng Giới giữ thân, chẳng làm điều phi lễ. Dùng Định
nhiếp tâm, chẳng khởi vọng niệm. Dùng Huệ đoạn Hoặc,
thấy rõ bổn tánh. Đấy đều là những Lực để khắc kỷ,
giữ lễ tu trì. Hành theo đó, còn thành được Phật đạo,
huống hồ là những quả vị thấp hơn ư! Vì thế, kinh Lăng
Nghiêm nói: Cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu trường
thọ được trường thọ, cầu tam muội được tam muội. Như
thế cho đến cầu Đại Niết Bàn đắc Đại Niết Bàn. Đại
Niết Bàn là Phật Quả rốt ráo. [Những điều ấy] đều
là do tu trì theo đúng giáo pháp mà được, Lực ấy rất lớn,
chẳng thể hạn lượng.
Ông
Viên Liễu Phàm gặp Khổng tiên sinh bói các việc trước sau,
việc nào cũng đều ứng nghiệm cả, bèn cho là nhất định
phải có Mạng (số mạng). Sau ông được Vân Cốc thiền sư
khai thị, tận lực tu trì. Những điều ông Khổng đã đoán,
chẳng trúng một mảy. Ông Viên Liễu Phàm là bậc hiền giả,
dù có nhầm lẫn làm điều gì chẳng đúng, lời đoán của
họ Khổng cũng chẳng linh. Do đấy, ta biết rằng hiền thánh
dạy đời chỉ trọng tu trì. Đức Như Lai dạy người cũng
giống như thế. Vì thế, tất cả những pháp môn Đại, Tiểu,
Quyền, Thật Phật đã nói, không pháp nào chẳng khiến chúng
sanh trừ khử Hoặc nghiệp huyễn vọng, triệt chứng Phật
Tánh sẵn có. Vì thế, đời có kẻ cực ngu, cực độn, tu
trì lâu ngày liền đạt được đại trí huệ, đại biện
tài.
Liệt
Tử quy hết thảy mọi sự về Mạng (số mạng), gây trở
ngại chí mong thành thánh, thành hiền của con người, cổ
vũ cái tâm gian ác, soán đoạt của người. Dưới là phải
chịu họa hại vô cùng, trên là làm nhụt khí lực quyết
chí, ưu thời mẫn thế đến nỗi chung thân chẳng dự vào
bậc Thánh Hiền, cứ làm một người hèn hạ, thấp kém. Thiên
sách ấy hoàn toàn vô ích cho đời, nào có giá trị gì đáng
để nghiên cứu đâu!
* Tôi
thường nói: “Người trong cõi đời, trong mười phần, chết
trực tiếp bởi sắc dục có đến bốn phần, chết gián tiếp
vì sắc dục cũng đến bốn phần”. Do sắc dục mà hao tổn,
phải chịu đựng các thứ cảm xúc khác mà chết. Đối với
những cái chết ấy, không ai là chẳng đổ cho số mạng,
biết đâu rằng: Do tham sắc mà chết đều chẳng phải là
số mạng!
Mạng
vốn nằm trong tay những ai giữ lòng thanh tịnh, trinh khiết,
chẳng tham dục sự. Tham sắc là tự giết hại mình, bảo
là số mạng sao được? Còn những người do mạng mà sanh,
mạng tận bèn chết, bất quá chỉ một hai phần thôi. Do vậy,
biết rằng quá nửa thiên hạ là hạng uổng tử. Cái họa
này rất dữ dội, có một không hai trong đời. Chẳng đáng
buồn ư? Chẳng đáng sợ ư?
Nhưng
chẳng tốn một đồng, chẳng nhọc tí ti sức lực gì, lại
có thể trở thành bậc đức hạnh chí cao, hưởng an lạc
chí đại, con cháu quý hiển, phước ấm vô cùng, đời sau
được quyến thuộc trinh lương, chỉ có mỗi việc giới dâm
mà thôi! Đối với việc hành dâm chánh đáng giữa vợ chồng,
ở phần trước tôi đã thuật qua về lẽ lợi hại, ở đây
chẳng nhắc lại nữa. Còn đối với việc tà dâm, vô liêm,
vô sỉ, cực uế, cực ác, chính là dùng cái thân người để
làm chuyện súc sanh.
Vì
thế, nếu gái đẹp đến cợt nhả, đàn bà yêu kiều đến
xin chung chạ, quân tử coi đó là mối họa ương không gì
lớn bằng, bèn cự tuyệt, thì phước chiếu rạng ngời, hoàng
thiên ban ân. Kẻ tiểu nhân coi đó là hạnh phúc không chi
lớn bằng bèn thâu nạp, ắt đến nỗi bị tai tinh xung chiếu,
quỷ thần tru lục. Quân tử do họa được phước, tiểu nhân
do họa càng thêm họa. Vì thế, mới nói: “Họa phước vô
môn, duy nhân tự chiêu” (họa phước không cửa, do người
tự chuốc lấy). Nếu đối với cái ải nữ sắc, người
đời chẳng thể triệt để thấu hiểu thì [những sự như]
đức hạnh chí cao, an lạc chí đại, con cháu quý hiển, phước
ấm vô cùng, đời sau quyến thuộc trinh thục sẽ bị mất
hết trong giây phút hoan lạc mà thôi! Xót thay!
* Hai
chữ Nhân Quả gồm trọn hết thảy các pháp thế gian, xuất
thế gian không sót chút gì. Những thánh nhân thế gian không
ai chẳng dạy nhân quả, nhưng do chuyên chú nơi đạo xử thế,
muốn cho nó được kế tục, được lưu truyền, nên chỉ
hạn cuộc trong đời này và thế hệ trước, thế hệ sau,
chẳng nói những chuyện trước lúc sanh ra, sau khi chết đi
và những điều kể từ vô thỉ trước đến tận đời vị
lai sau.
Kẻ
hậu học chẳng thể hiểu rõ ý của thánh hiền bèn cho rằng
người, vật có sự sống là do khí thiên địa ngẫu nhiên
thấm vào hình hài mà thôi. Còn đến lúc chết, hình hài mục
nát, hồn cũng phiêu tán, không nhân, không quả, trở thành
Đoạn Diệt Kiến. Đã cô phụ thánh giáo, còn mê muội tánh
linh của mình đến cùng cực vậy! Khổng Tử khen ngợi sách
Chu Dịch, ngay câu đầu tiên, Ngài nói: “Nhà tích thiện ắt
sự vui có thừa, nhà tích bất thiện ắt tai ương có thừa”...
Điều
thứ hai là nếu chẳng dùng quá khứ, hiện tại, vị lai để
luận thì những điều trời giáng xuống phần nhiều mâu thuẫn
với những ngôn luận của thánh nhân, chánh lệnh của bậc
minh quân (chẳng hạn như gian đảng vinh hoa, trung thần bị
tru lục; Nhan Uyên chết yểu, Đạo Chích trường thọ...) Nếu
biết tiền nhân, hậu quả thì [sẽ hiểu] những sự cùng,
thông, được, mất đều do tự mình chuốc lấy. Dù có gặp
nghịch cảnh cũng chẳng oán, chẳng hận, chỉ thẹn đức
mình kém cỏi, chẳng thấy lỗi lầm của trời - người, vui
biết mạng trời, không lúc nào là chẳng tự tại tiêu dao!
* Hết
thảy những kẻ chẳng hiểu thấu tột cùng lý sâu và những
kẻ vô tri, vô thức, nếu nghe nói đến lý tánh, phần nhiều
đề cao thánh cảnh, nhưng vẫn tự làm phàm phu, chẳng chịu
mạnh mẽ gắng sức khởi đầu từ Sự. Nếu bảo cho họ
biết nhân quả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai dù thiện
hay ác đều có quả báo, ắt sẽ sợ ác quả mà đoạn ác
nhân, tu thiện nhân hòng được thiện quả.
Thiện
- ác chẳng ngoài ba nơi thân - khẩu - ý. Đã biết nhân quả
sẽ tự phòng giữ thân - miệng, rửa lòng gột ý. Dù ở trong
nhà tối, phòng kín, vẫn luôn như đang ở trước Thiên Đế,
chẳng dám móng khởi chút bỉ ổi nào, kẻo vướng phải tội
vạ! Đấy chính là đại pháp “trí tri, thành ý, chánh tâm,
tu thân” để dạy khắp hết thảy chúng sanh thượng, trung,
hạ căn của đức Đại Giác Thế Tôn vậy. Tuy thế, kẻ cuồng
sợ bị câu thúc, bảo đó là chấp tướng; kẻ ngu nhằm tránh
khỏi bị xấu mặt, bèn bảo đó là chuyện vu vơ. Trừ hai
hạng người này ra, có ai lại chẳng tin nhận?
Vì
thế, ngài Mộng Đông nói: “Người khéo luận về tâm tánh
sẽ chẳng thể bỏ được nhân quả. Người tin sâu nhân quả
cuối cùng ắt sẽ thấy cực rõ tâm tánh ấy”. Lý này lẽ
tất nhiên phải như thế. Phải biết rằng: Từ địa vị
phàm phu cho đến khi viên chứng Phật Quả, đều chẳng ra
ngoài nhân quả. Kẻ nào chẳng tin nhân quả đều là hạng
tự đánh mất thiện nhân, thiện quả, luôn tạo ác nhân,
luôn chịu ác quả, trải kiếp số như bụi trần, luân chuyển
trong ác đạo, chưa thể xuất ly vậy. Buồn thay!
* Phật
pháp lưu thông lợi ích vô lượng. Người căn tánh sâu sẽ
lãnh hội sâu xa, liền minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng
chân. Người căn cơ cạn lãnh hội nông cạn, cũng vẫn có
thể cải ác tu thiện, cầu thành Thánh, thành Hiền. Ấy là
do đức Như Lai lập giáo, dù chánh yếu là vì xuất thế,
nhưng Phật tùy thuận cơ nghi, khuyến dụ lần lần, nên đối
với đạo xử thế, Ngài cũng phát huy trọn khắp, không bỏ
sót mảy may điều thiện nào! Gặp cha nói về từ, gặp con
nói về hiếu, anh nhường em kính, chồng xướng vợ theo, phàm
hết thảy những đạo luân thường hằng ngày Phật dạy trọn
chẳng khác gì với những điều Nho Giáo đã nói.
Chỗ
khác biệt là: đối với mỗi điều ấy, Phật đều chỉ
rõ nhân quả ba đời, thiện ác báo ứng, khiến cho người
nghe đem lòng kính sợ, chẳng dám vượt phạm. Dù ở trong
nhà tối, phòng kín, thường như đang ở trước Phật, trời.
Đến cả hạng tham tàn bạo ác, trọn chẳng có tín tâm, nghe
mãi chuyện nhân quả báo ứng, tâm cũng thầm bị chế phục,
cũng chẳng đến nỗi mười phần khốc liệt. Cứ xem thời
Liệt Quốc, có tục giết người tuẫn táng (1), giết càng
nhiều càng vinh hiển; đến khi Phật giáo truyền sang Đông
mới chấm dứt được thói tục ấy. Điều ấy đủ để
chứng minh vậy.
* Đời
này đã cách thời Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ cả ba
bốn ngàn năm, tình đời, lòng người so với thời cổ khác
xa lắm. Nhưng do biết lục đạo luân hồi theo nghiệp thăng
trầm, sanh lên trời, đọa xuống địa ngục, người biến
ra thú, thú sanh làm người, nên dù là hạng cùng hung cực
ác ương ngạnh khó giáo hóa, trọn không có tín tâm cũng bị
pháp này (nhân quả) chiết phục.
Dù
coi rẻ mạng người, trong tâm vẫn tiềm ẩn một chút sợ
hãi ảnh hưởng của nhân quả, nên chưa đến nỗi thập phần
bạo ác. Như các chư hầu thời Liệt Quốc đem bầy tôi, ái
thiếp và bá tánh bắt giết tuẫn táng theo cả mấy chục,
mấy trăm người, chẳng coi đó là sai; trái lại, còn cho là
vẻ vang nữa. Chẳng phải là do pháp nhân quả mà thời này
hiền hơn đời trước ư? Châu Văn Vương ân trạch thấm đến
cả xương khô, thế mà chỉ mấy trăm năm, phong tục giết
người tuẫn táng đã lan khắp thiên hạ. Dù Lão, Trang, Khổng,
Mạnh cùng ra đời, đều chẳng thể vãn hồi được phong
tục suy đồi ấy.
Từ
sau khi Phật pháp truyền sang phương Đông, lý sanh tử, luân
hồi, nhân quả báo ứng sáng rực trong đời. Chẳng kể chư
hầu, ngay cả kẻ hướng mặt về Nam xưng “trẫm” (2) cũng
chẳng dám làm. Dù có kẻ dám làm, cũng chẳng dám coi giết
nhiều người là vinh. Nếu không có pháp này, chỉ có cái
thuyết “chánh tâm, thành ý” để đề cao lòng trung thứ,
dốc lòng đùm bọc nhau hòng dứt trừ tục tuẫn táng trong
toàn dân, tôi e rằng càng nhọc nhằn khuyên lơn, thói tệ
ấy càng thêm thịnh hành!
Huống
nữa, Nho gia chỉ biết trị đạo, chẳng rõ tự tâm, muốn
bài xích Phật pháp, cưỡng lập môn đình, đều nói là chết
rồi là vĩnh viễn diệt, không còn đời sau nữa. Nếu không
có lẽ sanh tử, luân hồi, nhân quả báo ứng của đức Như
Lai thấm nhuần khắp tâm người thì những người đời sau
được chánh mạng, chết tốt lành càng hiếm hơn nữa.
Đấy
chỉ là pháp thiển cận nhất trong Phật pháp, còn có thể
trừ khử được thói tàn sát, huống hồ là đại pháp viên
đốn chí cực sâu xa. Thế trí phàm tình há thể suy lường
được một phần trong vạn phần lợi ích của Phật pháp
ư?
* Phật
pháp rộng lớn, không gì chẳng bao gồm, không điều nhỏ
nhặt nào lại chẳng nêu lên. Chẳng những thế, nương theo
đó còn có thể đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử.
Đấy chính là đạo “cách vật trí tri, tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ, minh minh đức, chỉ ư chí thiện” (3).
Nếu
thấu hiểu Phật pháp thì sự chỉ một nửa, nhưng công gấp
bội. Bởi lẽ, những điều thánh nhân thế gian nói chỉ nhằm
dạy con người tận hết bổn phận; chỉ bậc thượng trí
mới có thể tuân hành triệt để. Nếu là hạng căn tánh
trung, hạ, sẽ chểnh mảng, coi thường. Phật pháp dạy rõ
các sự lý: nhân quả báo ứng, sanh tử, luân hồi, và hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật...
Nếu là bậc thượng trí ắt sẽ chứng được Phật tánh
sẵn có; kẻ hạ ngu sẽ chẳng dám phóng túng, càn rỡ vì
sợ cái khổ đời vị lai; tất nhiên sẽ cải ác hướng thiện,
mong thành thánh, thành hiền. Dù ở trong nhà tối, phòng kín,
vẫn thường như đang đối trước Phật, trời.
Đức
Như Lai dùng Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện để nhiếp khắp
chúng nam nữ tại gia. Tu Ngũ Giới, Thập Thiện sẽ thắng
được thói tàn sát, bỏ thói kiêu bạc, trở thành thuần
hòa, vĩnh viễn thoát khỏi ác báo tam đồ, thường hưởng
sự khoái lạc cõi nhân thiên. Pháp nông cạn nhất còn như
thế, huống hồ là pháp sâu nhất.
Vì
thế biết rằng: Như Lai là đại sư ba cõi, là cha lành của
bốn loài, là thánh nhân của các thánh, là trời của các
trời. Bởi thế, vua thánh tôi hiền, bậc thông đạt, không
ai chẳng tuân lời Phật dạy tu tập, hộ trì, lưu thông. Trong
hết thảy pháp lấy tâm làm gốc, chỉ có mỗi Phật pháp
là phát minh đến chỗ rốt ráo!
2.
Giảng nhân quả về mặt Sự
* Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ
Tát sợ gặp phải ác quả, nên đã đoạn sẵn ác nhân từ
trước. Do vậy, tội chướng tiêu diệt, công đức viên mãn
thẳng đến khi thành Phật mới thôi. Chúng sanh thường tạo
ác nhân, muốn tránh ác quả, như ở trước mặt trời lại
muốn không có bóng, cứ nhọc nhằn rảo chạy.
Thường
thấy kẻ ngu vô tri vừa làm chút điều lành liền mong đại
phước. Vừa gặp phải nghịch cảnh bèn bảo làm lành mắc
họa, chẳng có nhân quả. Từ đó, cái tâm ban đầu lùi sụt,
đâm ra báng bổ Phật pháp. Họ nào biết đến ý chỉ huyền
áo “báo thông ba đời, chuyển biến do tâm”.
Hiện
đời làm thiện, làm ác; hiện đời được phước, mắc họa
thì gọi là “hiện báo”. Đời này làm thiện, làm ác, đời
sau được phước, mắc họa, gọi là “sanh báo”. Đời này
làm thiện, làm ác, đến đời thứ ba, hoặc đời thứ tư,
hoặc mười, trăm, vạn đời sau, hoặc đến vô lượng vô
biên kiếp sau mới hưởng phước, mắc họa, thì gọi là “hậu
báo”. Hậu báo sớm, chậm bất định. Phàm những nghiệp
đã tạo, tuyệt đối không có nghiệp nào lại chẳng có báo.
“Chuyển
biến do tâm” là ví như có người đã tạo ác nghiệp, sẽ
phải đọa mãi trong địa ngục, chịu khổ cả bao kiếp dài
lâu. Về sau, kẻ ấy sanh lòng hổ thẹn lớn lao, phát đại
Bồ Đề tâm, cải ác tu thiện, tụng kinh, niệm Phật, tự
hành, dạy người hành, cầu sanh Tây Phương. Do đó, trong đời
này, người ấy bị người khinh miệt hoặc mắc chút bệnh
khổ, hoặc phải tạm chịu bần cùng, và gặp hết thảy chuyện
chẳng như ý. Nghiệp vĩnh viễn đọa địa ngục chịu khổ
bao kiếp dài lâu mình đã tạo trước đây liền bị tiêu
diệt, lại còn có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập
thánh. Đấy là điều Kim Cang đã nói: “Nếu có người thọ
trì kinh này bị người khác khinh rẻ, người ấy do tội nghiệp
đời trước đáng đọa ác đạo, nhưng vì đời này bị người
đời khinh rẻ nên tội nghiệp đời trước liền bị tiêu
diệt, sẽ đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Đây
chính là ý nghĩa “chuyển biến do tâm”.
* Thế
nhân gặp chút tai ương nếu chẳng oán trời, cũng sẽ trách
người, tuyệt chẳng có ý tưởng trả nợ, sanh tâm sám hối
tội lỗi. Phải biết rằng: trồng dưa được dưa, gieo đậu
được đậu, trồng cỏ dại chẳng thể được thóc tốt,
gieo gai góc chớ mong lúa nếp.
Kẻ
làm ác được phước [thì phước đó] là do đời trước
đã vun trồng sâu dày. Nếu chẳng làm ác thì phước càng
thêm lớn. Ví như con em nhà giàu, ăn xài phung phí, xem vàng
như đất, chẳng bị đói lạnh ngay là do vàng nhiều. Nhưng
nếu ngày ngày cứ như thế, dù giàu đến trăm vạn, chẳng
được mấy năm cũng nhà tan, người chết, mất sạch sành
sanh cả!
Làm
lành mắc họa là do tội nghiệp đời trước sâu nặng. Nếu
chẳng làm lành thì tai ương càng lớn. Ví như người phạm
trọng tội, chưa bị hành hình, lập được công nhỏ; do công
nhỏ nên chẳng thể xá tội hoàn toàn, nhưng đã đổi nặng
thành nhẹ. Nếu có thể ngày ngày lập công, do công càng nhiều,
càng lớn nên tội hết, được xá miễn; lại được phong
hầu bái tướng, tước vị thế tập dài lâu cùng vận nước.
* Phải
biết rằng: điều trái nghịch xảy đến cứ thuận theo, mới
gọi là “lạc thiên” (vui theo mệnh trời). Tu thân, gieo đức
mới gọi là “tận tánh”. Đời có kẻ ngu chẳng biết thiện
ác đời trước, chỉ thấy việc tốt xấu trước mắt, thấy
làm thiện mắc họa bèn bảo “thiện chẳng đáng làm”;
thấy làm ác được phước bèn bảo “ác chẳng đáng kiêng”.
Chẳng
biết thiện báo, ác báo chẳng phải là chuyện một sớm,
một chiều, phải xảy ra dần dần. Ví như ba thước băng,
nào có phải là trời lạnh một buổi đã kết thành được
đâu! Trăm sông đầy ắp nước nào có phải là trời nóng
một ngày mà tan được băng đâu! Chớ nên oán trời, trách
người, cũng đừng do dự, hối hận, lui sụt; hãy nên học
theo cách tu thân của ông Du Tịnh Ý, cách lập mạng của ông
Viên Liễu Phàm!
* Như
Lai giảng kinh: báo thông tam thế. Phàm người sanh con, đại
lược có bốn nhân.
Thứ
nhất là hiện báo, nghĩa là đời này làm thiện, làm ác,
đời này hưởng phước, mắc họa. Như sĩ tử rèn luyện
văn chương khoa cử, thân đời này được công danh. Điều
này mắt phàm thấy được.
Thứ
hai là sanh báo, nghĩa là đời này làm thiện, làm ác, đời
sau hưởng phước, mắc tội. Như tổ phụ có trọng học vấn
thì con cháu mới hiển đạt. Điều này mắt phàm chẳng thấy
được, nhưng thiên nhãn còn thấy được (đời này, đời
sau đều là ước theo người đó mà nói. Đối với việc
cách đời, dùng thí dụ để giảng cho dễ hiểu, nên tạm
dùng tổ phụ và con cháu. Đừng chấp vào văn mà đánh mất
ý nghĩa. Mong lắm thay!)
Thứ
ba là hậu báo, tức là đời này làm thiện, làm ác, đến
đời thứ ba, hoặc bốn, năm, sáu, bảy đời, hoặc mười,
trăm, ngàn, vạn đời, hoặc một, mười, trăm, ngàn, vạn
kiếp, hoặc là đến vô lượng vô biên hằng hà sa kiếp mới
hưởng báo thiện hay ác. Như vương nghiệp nhà Thương, nhà
Châu xưa kia, thật sự bắt nguồn từ việc ông Tắc giúp
vua Thuấn, ông Khiết phò vua Vũ.
Nếu
là chuyện trong ba bốn đời, thiên nhãn còn thấy được.
Như trong trăm ngàn vạn kiếp, thiên nhãn chẳng thấy được,
nhưng đạo nhãn của Thanh Văn còn thấy được. Nếu là vô
lượng vô biên hằng hà sa kiếp, chỉ ngũ nhãn viên minh của
đức Như Lai mới thấy được nổi. Đấy còn chưa phải là
cảnh giới thuộc đạo nhãn của Thanh Văn, huống hồ là thiên
nhãn, nhục nhãn ư!
Hiểu
ý nghĩa của ba thứ báo này thì chuyện làm thiện được
phước, làm ác tai họa giáng xuống, thánh ngôn vốn chẳng
sai lầm. Phú quý, bần tiện, thọ, yểu, cùng, thông, mạng
trời chưa từng thiên vị. Cảnh duyên xảy đến như hình
ảnh hiện trong gương. Kẻ trí chỉ quan tâm đến vẻ mặt
ở ngoài gương, người ngu uổng công ghét hình ảnh hiện
trong gương. Chuyện trái nghịch xảy đến, vui chịu mới gọi
là “lạc thiên”. Chẳng oán, chẳng trách mới gọi là “lập
mạng”.
Con
có bốn nhân là: một là báo ân, hai là báo oán, ba là trả
nợ, bốn là đòi nợ.
- Báo
ân nghĩa là trong đời trước cha mẹ có ân với con, nên nó
sanh vào làm con để hầu hạ, phụng dưỡng, sống thờ, chết
chôn. Cho nên [cha mẹ còn] sống ắt chăm sóc, chết thì cúng
giỗ. Thậm chí tận tụy với vua, lợi dân, tên lưu sử xanh,
khiến thiên hạ hậu thế kính người ấy bèn kính luôn cả
cha mẹ, như các ông: Tăng Lỗ Công, Trần Trung Tú, Vương Quy
Linh, Sử Đại Thành (Ba ông Tăng, Trần, Vương đều là bậc
danh thần đời Tống. Ông Sử là trạng nguyên đầu đời
Thanh. Bốn ông cùng tin Phật, nhưng chỉ mình Trung Tú ngộ
nhập rất sâu. Do ông đời trước là cao tăng nên tuy hưởng
phú quý vẫn không quên mất bổn nhân). Con hiếu, cháu hiền
trong đời này đều thuộc về loại này.
- Báo
oán là đời trước cha mẹ từng phụ ân con, nên sanh vào
làm con để báo oán. Lúc nhỏ ngỗ nghịch khiến cha mẹ buồn
lòng, lớn lên gây họa khiến cha mẹ mắc vạ lây. Lúc sống,
ngọt bùi chẳng đoái, chết đi phải mang nhục dưới chín
suối. Lại còn những trường hợp quá đáng, con có quyền
vị trọng yếu, mưu chuyện phi pháp, diệt môn tàn tộc, quật
mồ cuốc mả, khiến cho thiên hạ hậu thế thóa mạ kẻ ấy,
chửi lây cả cha mẹ. Như Vương Mãng, Tào Tháo, Đổng Trác,
Tần Cối v.v... chính là loại này.
- Đền
nợ là đời trước mắc nợ cha mẹ tiền tài. Nay để đền
trả bèn sanh làm con. Nếu nợ nhiều sẽ làm con suốt đời.
Nếu nợ ít, chẳng thể tránh khỏi giữa chừng chết trước
cha mẹ, như: học sắp thành tài bèn mất mạng, buôn bán vừa
có lời bèn chôn thân.
- Đòi
nợ là đời trước cha mẹ nợ tiền tài của con, nó bèn
sanh vào làm con để đòi nợ. Nợ nhỏ sẽ uổng công biếu
xén mời thầy, dạm vàng hỏi vợ, dạy răn các thứ, những
mong con được thành người, nhưng đại hạn chợt xảy đến,
hốt nhiên chết mất. Nợ lớn thì chẳng chỉ có thế, ắt
còn phải mất nghiệp phá sản, nhà bại, người mất mới
thôi!
* Chuyện
trong thiên hạ đều có nhân duyên. Sự được thành hay chăng
đều do nhân duyên xui khiến. Dù có người làm cho việc thành
hay hoại, nhưng quyền lực thật sự là do nhân trước của
ta, chứ chẳng do duyên hiện tại. Hiểu điều này sẽ vui
biết mạng trời, chẳng oán, chẳng trách, làm đúng theo địa
vị, chẳng chứng nhập mà tự đạt được vậy.
* Với
chuyện vun bồi đức hãy nên thường xem các sách [Thái Thượng]
Cảm Ứng, Âm Chất Văn. Với điều thiện sẽ tùy phận, tùy
lực mà hành. Với điều ác bỏ đi như oán, như thù. Ông
Viên Liễu Phàm hành pháp Công Quá Cách, nhận chân được
bản thể, chẳng mảy may buông lung. Vì thế, mạng vốn chẳng
thọ bèn được thọ, không có đại công danh bèn được đại
công danh, không con bèn có con.
* Phàm
những người hiển đạt nhờ khoa cử, tổ phụ họ đều
có đại âm đức. Nếu không âm đức, cậy sức người để
hiển đạt, sau này ắt gặp đại họa; chẳng thà không hiển
đạt còn hơn. Xem khắp cuộc đời của các bậc đại thánh,
đại hiền xưa nay, đều là do tổ phụ họ tích đức mà
nên. Đại phú, đại quý cũng thế. Con cháu họ sanh ra phú
quý, chỉ biết hưởng phước tạo nghiệp, quên mất công
tổ phụ một phen vun bồi. Do đấy, chôn vùi tổ đức, phá
sạch tổ nghiệp, cam chịu bần tiện. Đấy chính là bệnh
chung của kẻ phú quý trong cả cõi đời.
Đời
đời giữ cho đức tổ tiên vĩnh cửu chẳng bị chìm lấp
chỉ có mỗi nhà họ Phạm ở Tô Châu là bậc nhất từ xưa
đến nay. Từ Văn Chánh Công (Phạm Trọng Yêm) đời Tống
đến nay, đến mãi cuối đời Thanh, hơn tám trăm năm, gia
phong chẳng suy sụp, con cháu nối tiếp nhau đỗ đạt, đáng
gọi là nhà thư hương đời đời. Nhà họ Bành ở Trường
Châu từ đầu đời Thanh đến nay, khoa bảng đứng đầu thiên
hạ. Nhà ấy có bốn năm người đỗ trạng nguyên, có lúc
cả mấy anh em cùng làm quan cực phẩm. Nhưng họ đời đời
sùng phụng Phật pháp, dù là trạng nguyên, tể tướng vẫn
hằng ngày đọc Cảm Ứng, Âm Chất Văn để noi gương thành
ý, chánh tâm, tận tụy thờ vua, giúp dân.
Gã
cuồng sanh kia bảo những sách ấy là để hạng ông già, bà
cả quê mùa tin theo, chẳng những chẳng biết vì sao thánh
hiền là thánh hiền, mà còn chẳng biết vì sao người là
người nữa kia! Sống làm thây đi, thịt chạy, chết mục
nát cùng cỏ cây. Lại còn ác nghiệp khó tiêu, vĩnh viễn
trầm luân trong ác đạo. Gã ấy cứ vênh váo tự coi mình
là hạng học rộng thông suốt, đến nỗi đời sau, những
danh từ “thiên, địa, phụ mẫu” còn chẳng được nghe
đến, còn đáng gọi là hay ư?
* Đừng
có nói nhà mình nghèo hèn, chẳng thể rộng chứa âm đức,
hành phương tiện lớn. Phải biết rằng ba nghiệp thân - khẩu
- ý đều ác thì không có gì ác bằng, còn nếu ba nghiệp
thân - khẩu - ý đều thiện thì không có chi thiện bằng!
Như
có người ngu chẳng tin nhân quả, chẳng tin tội phước báo
ứng ngông nghênh, ngạo ngược, dựa theo những điều đã
nói trong An Sĩ Toàn Thư mà giảng cho kẻ ấy, khiến hắn bắt
đầu tin nhân quả dần dần, kế đó thâm tín Phật pháp,
cuối cùng là vãng sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử. [Độ]
một người như thế, công đức vô lượng vô biên, huống
hồ là nhiều người.
Nhưng
mình phải nghiêm túc không tỳ vết mới cảm ứng được
người chung quanh. Vợ con mình tin nhận, vâng làm, người khác
trông thấy mới ham thích, nào phải đâu là tiền của nhiều
[mới tích chứa âm đức được]!
* Người
sanh trong thế gian có được cái vốn để thành đức, thành
tài, dựng công lập nghiệp, và có được một tài, một nghề
để nuôi thân cùng gia đình, đều là do sức chủ trì của
văn tự mà được thành tựu. Chữ nghĩa là của cải quý
báu nhất trong thế gian, có thể khiến kẻ phàm thành thánh,
biến kẻ ngu thành trí, kẻ nghèo hèn thành phú quý, kẻ tật
bệnh trở thành khỏe mạnh. Đạo mạch thánh hiền được
lưu truyền thiên cổ; kinh doanh nuôi sống mình và gia đình,
để của cải lại cho con cháu, không việc gì chẳng nhờ
vào sức lực chữ nghĩa. Nếu trên đời không có chữ nghĩa,
hết thảy sự lý sẽ đều chẳng thành lập được, con người
cũng chẳng khác gì cầm thú!
Chữ
nghĩa đã có công sức như thế, tất nhiên phải nên trân
trọng, yêu tiếc. Trộm thấy người đời nay mặc tình khinh
thường, làm nhơ chữ nghĩa, đúng là xem của cải chí bảo
khác gì phân, đất! Đời này chẳng bị giảm phước, tổn
thọ; đời sau cũng bị vô tri, vô thức đấy thôi! Chẳng
những chớ xem thường, làm ô uế, vứt bỏ những văn tự
hữu hình; đối với những văn tự vô hình cũng chẳng được
khinh thường, ô uế, vứt bỏ! Nếu chẳng ra sức thực hành
“hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ” là đã mất
cả tám chữ. Tám chữ ấy đã mất thì sống là loài cầm
thú mặc áo, đội mũ; chết sẽ đọa tam đồ, ác đạo!
3.
Giải thích về nguyên do của kiếp vận
* Sự khổ trong Sa Bà chẳng thể nói hết nổi. Dù trong thời
thanh bình, hằng ngày vẫn gặp cảnh khổ não. Vì chúng sanh
quá quen với những cảnh khổ ấy đã lâu nên chẳng biết
đó thôi! Gần đây, Trung Quốc trải mấy phen binh lửa, đã
là khổ chẳng thể nói. Ngoài thế giới, các nước đại
chiến đã ba năm, người chết gần cả ngàn vạn, khai mào
nạn binh kiếp bậc nhất. Tình hình chiến tranh vẫn còn mạnh
mẽ, chẳng biết mức độ khốc liệt sẽ đến đâu, lặng
im suy nghĩ, thật đáng kinh sợ vậy.
Nguyên
nhân là do nước nọ tận lực muốn chiếm đoạt, tàn diệt
nước kia, nhưng cũng do ác nghiệp xưa kia của chúng sanh chiêu
cảm ác báo nên mới đến nỗi cực kỳ tàn khốc như thế.
Nay nghe lời này, phải nên mạnh mẽ phát khởi đại tâm cầu
mau được vãng sanh. Sau đấy sẽ trở vào Sa Bà phổ độ
hết thảy.
Kinh
dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát sợ
chiêu lấy ác quả nên đoạn ác nhân. Ác nhân đoạn rồi,
ác quả không sanh từ đâu được. Chúng sanh đua nhau tạo
nhân ác, ắt phải lãnh quả ác. Đến lúc lãnh quả ác, chẳng
biết tự sám hối nghiệp trước, lại còn tạo thêm ác pháp
để chống chọi lại. Thế nên oan oan tương báo trải bao
kiếp không ngừng. Chẳng đáng buồn sao? Chẳng đáng sợ sao?
Biết vậy rồi, chẳng lẽ nào lại chẳng cầu sanh Tây Phương!
* Cõi đời đang lúc Kiếp Trược, cướp bóc, giết hại lẫn
nhau. Chẳng có lá bùa hộ thân, sẽ khó tránh khỏi họa hại
được mãi! Lá bùa hộ thân vừa nói đó cũng chỉ là chí
thành lễ niệm A Di Đà Phật mà thôi! Quán Âm Đại Sĩ thệ
nguyện rộng sâu, nghe tiếng cứu khổ, có cảm ắt ứng. Ngoài
việc sáng chiều lễ Phật ra, hãy nên lễ niệm thêm Đại
Sĩ sẽ ngầm được gia hộ, tự có thể chuyển họa thành
phước, biến tai nạn thành điều tốt lành mà mình chẳng
biết.
* Thiên
hạ loạn lạc, kẻ thất phu phải có trách nhiệm. Người
người ai nấy dốc tấm lòng thành, ai nấy tận lực hiếu
đễ, ai nấy làm điều từ thiện: giúp đỡ kẻ cô quả,
cứu kẻ hoạn nạn, thương xót kẻ nghèo, kiêng giết, phóng
sanh, ăn chay, niệm Phật. Người có thiện cảm, trời ắt
ứng phước, tự nhiên mưa thuận, gió hòa, dân yên, vật mạnh,
quyết chẳng đến nỗi trời thường giáng các tai nạn: lụt,
hạn, ôn dịch, châu chấu, gió lốc, động đất... Thời tiết
điều hòa, được mùa, nhân dân lạc nghiệp.
Lại
thêm từ hòa, nhân nhượng tập quen thành thói. Dù có một
hai kẻ ngu độn cũng sẽ biến thành hiền lành. Nếu thương
xót kẻ quân tử trên xà nhà (4), hắn sẽ dứt tuyệt vĩnh
viễn thói trộm cắp; chu cấp cho đứa rình rập nhà kín,
từ đấy về sau nó sẽ trở thành người lành. Cổ nhân dùng
nhân từ để cai trị, chân thành yêu dân, nên còn cảm hóa
được cả dị loại. Các điềm lành như: hổ chẳng vào nơi
trấn nhậm, cá sấu bỏ đi nơi khác... chép trong sử sách,
nào phải chỉ có một chuyện! Nếu ai nấy thật sự có thể
dùng lòng từ thiện cảm động nhau, quyết chẳng đến nỗi
thường có các tai họa: thổ phỉ, đao binh, giầy xéo, cướp
bóc!
* Nên
biết rằng: Phật pháp lấy nhân quả báo ứng làm đạo nguyên
thủy trọng yếu để hạ học thượng đạt. Nay kẻ trên
không giữ đạo, kẻ dưới chẳng tuân phép tắc, tàn hại
lẫn nhau, lấy giết chóc làm vui, chỉ cốt sao thỏa thích
ý mình, chẳng đoái quốc gia còn mất, dân tình thống khổ.
Đấy đều là do chẳng biết nhân quả báo ứng mà nên nỗi.
Tôi thường nói: “Nhân quả là phương tiện lớn lao để
thánh nhân thế gian và xuất thế gian bình trị thiên hạ,
độ thoát chúng sanh”. Trong lúc này chẳng đề xướng sự
lý nhân quả báo ứng, sanh tử, luân hồi, mà muốn thiên hạ
thái bình, nhân dân an lạc, dù Phật, Tổ, thánh hiền cùng
ra đời cũng chẳng biết làm sao được!
* Thế
đạo suy sụp, lòng người bạc bẽo là do Nho Gia chẳng biết
đạo là ở chỗ cung kính thực hành, cứ một bề đuổi theo
cái ngọn. Phàm đối với những nghĩa lý như khắc kỷ, giữ
lễ, ngăn lòng tà, giữ lòng thành, họ chẳng cần biết đến,
cứ lo thuộc lòng từ chương hòng làm cái vốn để tấn thủ
trong đời, khiến cho cái đạo khen ngợi, giáo hóa, dưỡng
dục của thánh nhân trở thành ngón nghề để thâu đoạt
danh lợi. Đấy thật là báng nhục thánh hiền, trái nghịch
thiên địa đến cùng cực!
Do
vậy, người đọc sách tâm chẳng hiểu nghĩa sách, thân chẳng
hành theo đạo lý dạy trong sách. Người làm văn cứ phô diễn
đạo lý hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ chẳng sót
mảy may, nhưng xét đến ý nghĩ, việc làm, tuyệt chẳng có
chút mảy may nào liên quan đến những điều ấy cả. Khác
nào con hát diễn tuồng, khổ, sướng, vui, buồn, cố làm giống
như thật, chứ thật sự ra những tâm trạng ấy chẳng mảy
may liên quan gì đến chính mình cả! Thói tệ ấy đã nẩy,
dần dà biến thành quá mức.
Người
có thiên tư quen thói cuồng vọng, thẹn phải theo vết Nghiêu,
Thuấn, Châu, Khổng, bèn muốn tiến lên, rốt cuộc phế bỏ
kinh điển thánh hiền, sùng thượng Âu hóa. Một người đề
xướng, trăm kẻ hùa theo, trở thành phong trào đến nỗi những
kẻ tiểu nhân hèn kém tầm thường muốn thỏa ý niệm mặc
sức phóng túng không kiêng kỵ của mình bèn vội vã đề
xướng dẹp bỏ cương thường đạo lý gây trở ngại cho
họ, muốn gấp rút thực hành chủ trương tệ hại gây hại
lớn lao cho quần chúng, khiến dân không có pháp gì để an,
đến nỗi thiên tai, nhân họa liên tục giáng xuống. Vận
nước nguy ngập, dân không lẽ sống. Ví như đi đêm bỏ đuốc,
vượt biển bỏ thuyền, lại mong chẳng bị té ngã, chìm đắm,
há có được chăng?
* Gần
đây thế đạo nhân tâm suy sụp, chìm đắm đến cùng cực.
Thiên tai, nhân họa liên tục giáng xuống. Người biết lo
cho đời, biết các nghiệp quả ấy đều do sát hại khởi
lên. Nếu đã biết vật còn chẳng nên giết, quyết chẳng
lẽ nào giết người. Do vậy, ai nấy ôm lòng từ thiện, nâng
đỡ lẫn nhau, tự thay đổi được phong tục, chiêu cảm được
thiên hòa vậy.
* Phải
biết rằng phóng sanh chính là để ngăn ngừa giết chóc. Muốn
tránh giết chóc thì phải bắt đầu bằng ăn chay. Nếu như
ai nấy đều kiêng giết, ai nấy đều ăn chay thì nhà nhà
tu tập từ thiện, người người tuân hành đề cao lễ nghĩa,
phong tục thuần mỹ, khí hậu điều hòa, mùa màng sung túc,
có đâu đến nỗi kiếp đao binh khởi, kẻ này người kia
tàn hại lẫn nhau! Đấy chính là nhiệm vụ căn bản trọng
yếu, thanh tịnh đúng đắn để vãn hồi thiên tai, nhân họa.
Phàm những ai muốn cửa nhà yên vui, thân tâm khang ninh, thiên
hạ thái bình, nhân dân an lạc, xin hãy cầu nơi việc phóng
sanh kiêng giết, ăn chay, niệm Phật thì cầu gì lại chẳng
được!
* Gần
đây thiên tai nhân họa liên tiếp xảy ra quá đỗi, số người
tử vong quá nhiều càng thảm. Há nào phải đạo trời bất
nhân đâu, thật ra là do ác nghiệp trong bao kiếp và trong đời
này chiêu cảm đó thôi. Tuyệt đối chẳng có chuyện không
nhân lại được quả, cũng tuyệt đối chẳng có chuyện tạo
thiện nghiệp lại bị quả ác! Chỉ vì tri kiến phàm phu chẳng
thể biết rõ nhân duyên túc thế, nên tựa hồ có trường
hợp lẽ ra chẳng đáng được nhưng lại được. Nếu có
thể xem trọn nhiều kiếp, nhiều đời, sẽ thấy mỗi một
quả báo thiện hay ác ta phải nhận đều như tiếng vọng
đi theo âm thanh, như bóng theo hình, trọn chẳng sai khác!
* Nay thế đạo nhân tâm suy sụp, khuyết hãm đã đến cực
điểm. Nếu chẳng dùng nhân quả, báo ứng, sanh tử, luân
hồi và “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có
thể thành Phật” để dạy dỗ, quyết khó lòng đạt được
hiệu quả! Do một niệm tâm tánh của chúng ta bất biến tùy
duyên, tùy duyên bất biến, hễ gặp tịnh duyên bèn chứng
Tam Thừa và Phật pháp giới; gặp duyên mê nhiễm sẽ thành
nhân thiên và tứ ác thú pháp giới. Dù mười pháp giới thăng
trầm, khổ vui khác xa nhau như trời với đất, nhưng tâm tánh
vốn sẵn có ấy tại phàm chẳng giảm, tại tánh chẳng tăng.
Nếu
hiểu kỹ nghĩa này, dù có táng thân mất mạng, quyết chẳng
chịu bỏ đi tịnh duyên đã ngộ để theo đuổi nhiễm duyên
đến nỗi luân hồi mãi mãi, chẳng thể thoát nổi! Vì thế,
biết rằng các pháp: nhân quả, báo ứng, sanh tử, luân hồi
v.v... chính là đại đạo trị cả gốc lẫn ngọn, là nguyên
do của cả phàm lẫn thánh, là phương tiện lớn lao để thánh
nhân thế gian, xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát
chúng sanh. Trong lúc này, nếu bỏ đi pháp này, dù Nghiêu, Thuấn,
Vũ, Thang, Văn, Vũ, Châu, Khổng cùng ra đời, cũng chẳng làm
gì được!
* Ba cõi chẳng yên hệt như nhà lửa, các khổ đầy dẫy thật
đáng kinh sợ! Chúng sanh ngu si dù chịu khổ lớn chẳng cầu
xuất ly. Dù sẵn có Phật tánh, nhưng vì mê muội, trái nghịch,
lại khởi Hoặc tạo nghiệp đến nỗi trải kiếp số như
trần sa không cách nào giải thoát. Chẳng đáng buồn ư? Huống
nay thế đạo, lòng người nguy hãm, chìm đắm đến cùng cực,
sát kiếp thê thảm từ xưa chưa từng nghe.
Lại
thêm trào lưu tân học bác không nhân quả, chê những lời
nghị luận đạo đức của thánh hiền là hủ bại, vu vơ,
mặc tình đề xướng những ý kiến mình ức đoán. Kẻ quáng
dẫn lũ mù, lôi nhau vào lửa, đến nỗi thiên tai, nhân họa
liên tục giáng xuống. Lũ dân ngây ngô thật đáng thương
xót. Bởi thế, những người có tâm lo cho đời bèn mạnh
mẽ phát đại chí muốn cứu giúp dân. Những nghiệp quả
ấy đều do chỉ biết tự tư, tự lợi, chẳng biết nhân
quả ba đời, thiện ác báo ứng, tưởng là người chết đi,
thần thức liền diệt, chẳng có linh hồn tùy theo nhân duyên
tội phước thọ sanh trong trời người hay đọa vào tam đồ,
ác đạo!
Nếu
thiện hay ác cũng đều bị diệt mất như nhau, lẽ nào chẳng
tùy ý làm bất cứ chuyện gì cốt sao thân tâm khoái lạc
ư? Do vậy, đối với những việc nghịch thiên trái lý, tổn
người lợi mình, cùng với giết hại sanh mạng cốt sao thỏa
thích miệng bụng, bèn đua nhau tưng bừng làm, chẳng e dè
chi!
Nếu
như biết đến nhân quả ba đời sẽ liền sợ phải thọ
báo, chẳng dám móng khởi chút ý niệm, huống hồ là thực
hành những việc ấy ư? Vì vậy, biết rằng: sự lý nhân
quả ba đời, sanh tử, luân hồi do đức Phật ta giảng chính
là huệ nhật trong đêm dài vô minh. Niệm Phật cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới chính là thuyền từ trong biển
khổ sanh tử. Muốn vãn hồi kiếp vận, bỏ qua pháp này, không
còn cách chi!
4.
Giảng những điểm trọng yếu về việc giới sát
* Đại
đức của trời đất là Sanh, đại đạo của Như Lai là Từ.
Người, vật tuy khác, tâm tánh là đồng. Như Lai xem khắp
cả tam thừa lục phàm đều như con một. Vì sao vậy? Do họ
đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Tam thừa hãy
để đó. Lục phàm là trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ
quỷ, địa ngục. Tuy có cao thấp khác nhau, khổ vui khác nhau,
nhưng đều chưa đoạn được Hoặc nghiệp, chưa ra khỏi sanh
tử. Phước trời nếu hết liền phải đọa xuống. Tội trong
địa ngục nếu tiêu bèn lại sanh lên. Hệt như bánh xe, hết
lên cao lại xuống thấp.
Ta
nay may được thân người, lẽ ra phải khéo léo bày cách để
cứu giúp, thương tiếc sanh mạng loài vật, thể hiện đức
hiếu sanh của trời đất, thể hiện lòng nhân trắc ẩn trong
tâm ta. Ấy là vì các loài vật và ta cùng sống trong vòng
trời đất, cùng hưởng sự sanh trưởng, dưỡng dục của
trời đất. Lại cùng biết tham sống, cùng biết sợ chết.
Người có lòng nhân đối với xương khô còn nhặt lấy đem
chôn, đối với cỏ cây còn để mọc dài chẳng chặt, nào
chịu vì sướng bụng miệng mà khiến cho các loài vật trên
cạn, dưới nước phải chịu nỗi khổ cắt, xẻ, nung nấu
ư?
Phải
biết rằng các loài vật từ vô thỉ đến nay cũng từng ở
địa vị cao sang, tôn quý, oai quyền hiển hách, chẳng biết
mượn oai quyền để ban bố ân đức; trái lại cậy quyền
tạo nghiệp, khiến cho ác nghiệp chất chứa như rừng, đọa
trong dị loại. Miệng chẳng nói được, tâm không suy nghĩ,
thân không tài khéo nên mắc phải nạn này. Tuy thịt mềm
bị cưỡng ăn là chuyện đã đành, nhưng oán hận đã kết,
há chẳng đời đời kiếp kiếp lo báo thù cái oán niệm này
chăng?
Ví
dù con người chẳng nghĩ đến nỗi khổ của những con vật
bị giết, lẽ nào chẳng sợ oán nghiệp kết sâu, thường
bị chúng giết lại hay sao? Lại chẳng sợ tàn hại loài vật
của trời, trời sẽ đoạt mất phước thọ của mình hay
sao? Người nào mong cho quyến thuộc đoàn tụ, thọ mạng dài
lâu, thân tâm yên vui, các duyên như ý, rất nên phát tâm đại
bi, thực hành phóng sanh, khiến cho thiên địa quỷ thần thảy
đều thương xót tấm lòng thành thương loài vật của ta sẽ
khiến cho những điều mình mong mỏi được thành tựu.
Nếu
cậy mình có tiền tài, mình có trí lực, bày ra đủ cách
bắt lấy các con vật hòng thỏa mãn bụng miệng mình, chẳng
kể đến nỗi thống khổ của chúng, há còn đáng gọi là
con người đứng cùng với trời đất thành tam tài chăng?
Nhưng ta với chúng cùng trong sanh tử từ vô thỉ đến nay,
cố nhiên chúng đều là cha, mẹ, anh, em, thê thiếp, con cái
của mình, mình cũng là cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái của
chúng. Mỗi con vật ấy trong khi làm người hoặc lúc trong
dị loại, từng bị ta giết; ta cũng trong lúc làm người,
hoặc trong lúc làm dị loại, từng bị chúng giết. Làm kẻ
oán, người thân, sanh ra nhau, giết hại nhau.
Lặng
im suy nghĩ, thẹn chẳng muốn sống nữa! Hãy gấp rút sửa
đổi, hối hận, vẫn còn là chậm, huống hồ cứ quen thói
cũ, vẫn chấp mê tình, cho rằng trời sanh ra dị loại vốn
là để làm thức ăn cho con người ư? Ta vẫn còn đầy đủ
Hoặc nghiệp nên không cách nào thoát ra ngoài luân hồi được.
Vạn nhất, chúng nó tội đã diệt, lại sanh làm người, thiện
căn phát sanh, nghe pháp tu hành, đoạn Hoặc chứng Chân, đạt
thành Phật đạo. Nếu ta đọa lạc, còn mong chúng sẽ rủ
lòng từ cứu viện ngõ hầu lìa khổ được vui, chứng được
Phật tánh. Há nên cậy vào sức mạnh một thời để đạt
[cái khổ] bao kiếp dài lâu không được cứu vớt chăng?
* Phải
biết: Người cùng loài vật cùng mang cái thân huyết nhục
này, cùng có tánh linh tri, cùng sanh trong vòng trời đất. Chỉ
do đây kia tội phước bất đồng, đến nỗi đời này hình
chất thông linh hay ngu xuẩn sai khác. Cậy ta mạnh hiếp loài
yếu, dùng thịt chúng nó no đẫy bụng mình, khoái lòng thích
chí, cho đó là phước báo. Chẳng biết rằng một khi phước
lực đã tận, nghiệp báo hiện tiền, lúc bị người giết
chóc, thân chẳng kháng cự lại được, miệng chẳng nói nổi,
trong lòng buồn sợ, đau đớn, khổ sở, mới biết chuyện
ăn thịt là một tội vạ lớn vậy.
Người
ăn thịt đúng là La Sát, dù chẳng giết người để ăn thịt
cũng không được. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm nói: “Do người
ăn dê, dê chết thành người, người chết thành dê. Như thế
cho đến mười loại sanh vật. Chết chết, sống sống, ăn
nuốt lẫn nhau, ác nghiệp cùng sanh đến cùng tột đời vị
lai”.
Lại
còn nhiều kiếp đến nay sanh ra lẫn nhau. Đã không có đạo
lực để cứu tế, nỡ nào để chúng nó bị dao xả cực
khổ, hòng miệng lưỡi mình hưởng vị ngon chăng? Trong kinh
Nhập Lăng Già, đức Thế Tôn bao lần quở trách chuyện ăn
thịt. Có đoạn chép: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến
nay ở trong sanh tử luân hồi chẳng ngơi. Không ai chẳng từng
làm cha mẹ, anh em, quyến thuộc nam nữ cho đến bằng hữu
thân ái, kẻ hầu. Qua đời khác, phải thọ các thân chim,
thú... sao lại dùng chúng nó để ăn?” Phàm những ai sát
sanh ăn thịt, nếu nghĩ đến điều này, ắt sẽ giật mình
kinh sợ, tỉnh ngộ, thà tự giết mình, chẳng thể giết hết
thảy loài vật nữa!
* Ta
cùng hết thảy chúng sanh đều trong luân hồi; từ vô thỉ
đến nay thay phiên sanh ra nhau, lần lượt giết nhau. Cố nhiên
ai nấy đều từng là cha mẹ, anh em, chị em, con cái của chúng
ta, ta cũng từng là cha mẹ, anh em, chị em, con cái của mỗi
kẻ đó. Cố nhiên, bọn họ do sức ác nghiệp trùng trùng
ở trong loài người hoặc trong dị loại bị ta giết hại,
ta cũng do sức ác nghiệp trùng trùng ở trong loài người hoặc
trong dị loại bị chúng giết hại. Trải kiếp dài lâu, sanh
ra nhau, giết lẫn nhau, trọn chẳng ngừng nghỉ. Phàm phu chẳng
biết, Như Lai thấy thấu triệt. Chẳng nghĩ thì thôi, hễ
nghĩ đến, hổ thẹn, đau xót khôn ngăn!
Ta
nay may nhờ phước thiện đời trước sanh trong loài người,
tất nhiên nên giải trừ oán hận, tháo mối trói buộc, kiêng
giết, phóng sanh, khiến cho hết thảy những loài có sanh mạng
ấy đều được yên ổn. Lại còn vì chúng nó niệm Phật
hồi hướng Tịnh Độ khiến chúng được độ thoát. Nếu
như chúng nó nghiệp nặng chẳng được sanh ngay, nương vào
công đức từ thiện này, chắc chắn khi lâm chung sẽ vãng
sanh Tây Phương. Đã vãng sanh rồi, liền được siêu phàm
nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn thoát khỏi luân
hồi, dần dần chứng được Phật Quả.
Vả
nữa, thương yêu loài vật, phóng sanh, cổ thánh tiên hiền
đều làm chuyện ấy. Vì thế, kinh Thư chép chim, thú, cá,
ba ba đều cảm mến Văn Vương. Văn Vương thương xót cả
xương khô, huống hồ gì loài vật có tri giác! Còn như Giản
Tử thả chim bồ câu, Tử Sản nuôi cá, Tùy Hầu cứu rắn,
Dương Bảo thả chim sẻ. Đấy là do tấm lòng nhân bình đẳng
của Thánh Hiền, chứ họ nào biết đến nghĩa lý: mỗi loài
hàm linh xuẩn động đều có Phật tánh, lần lượt thăng
trầm, làm kẻ oán, người thân lẫn nhau, tương lai quyết
định thành Phật.
Mãi
đến khi đại giáo truyền sang Đông, lý nhân quả ba đời,
chúng sanh - Phật - tâm bình đẳng vô nhị mới được sáng
rực trong đời. Phàm là bậc đại thánh, đại hiền, không
ai là chẳng kiêng giết, phóng sanh, hòng vãn hồi sát kiếp,
hòng bồi đắp phước quả, dứt đao binh hầu làm nền tảng
cho ngày tháng an vui. Cổ nhân nói: “Dục tri thế thượng
đao binh kiếp; tu thính đồ môn bán dạ thanh” (Muốn biết
binh đao trên cõi thế, lò mổ nên nghe tiếng giữa đêm). Lại
nói: “Dục đắc thế gian vô binh kiếp, trừ phi chúng sanh
bất thực nhục” (muốn cho thế giới thái bình, trừ phi
nhân loại đồng tình ăn chay). Do vậy, biết rằng kiêng giết,
phóng sanh chính là kế sách tốt lành nhổ sạch rễ, lấp
tận nguồn để cứu đời vậy.
* Nếu
nói: “Kẻ quan, quả, cô, độc (5), bần cùng hoạn nạn đâu
đâu cũng có, sao chẳng chu cấp cho họ, cứ khăng khăng lo
cho bọn dị loại chẳng quan hệ chi với mình? Chẳng phải
là đảo lộn chuyện hoãn - gấp, nặng - nhẹ ư?” Đáp rằng:
Ông chưa biết nguyên do đức Như Lai dạy người kiêng giết,
phóng sanh. Người và vật tuy khác, Phật tánh vốn đồng.
Chúng do ác nghiệp đắm chìm trong dị loại, ta do thiện nghiệp
may được làm thân người; chẳng tăng thêm lòng lân tuất,
lại còn mặc sức ăn nuốt. Một mai phước ta đã hết, tội
chúng nó đã tận, khó tránh bị nắm đầu đền nợ, no thỏa
bụng miệng chúng.
Phải
biết rằng: đao binh đại kiếp đều do sát nghiệp đời trước
cảm thành. Nếu không có sát nghiệp, dù thân gặp phải giặc
cướp, chúng sẽ khởi tâm lành, chẳng chém giết mình. Huống
hồ là đối với những tai nạn ngang trái: ôn dịch, nước
lửa... người kiêng giết, phóng sanh, tuyệt ít gặp phải.
Vì thế, biết rằng: bảo vệ loài vật vốn là để bảo
vệ mình, kiêng giết mới hòng khỏi bị trời giết, quỷ
thần giết, đạo tặc giết, vị lai oan oan tương báo giết.
Đối
với kẻ quan, quả, cô độc, bần cùng, hoạn nạn, cũng nên
tùy phần tùy sức chu cấp, chứ nào phải người kiêng giết
phóng sanh tuyệt chẳng thực hiện công đức ấy! Nhưng những
kẻ quan, quả... dù thật đáng thương xót, vẫn chưa đến
nỗi lâm vào tử địa. Loài vật nếu chẳng được cứu chuộc
ngay, sẽ lập tức phải lên chảo, thớt để thỏa miệng
bụng con người.
Lại
còn có kẻ nói: Loài vật vô tận, phóng sanh được mấy?
Đáp: Phải biết rằng, một việc phóng sanh chính là để
khiến đồng nhân phát khởi thiện tâm tối thắng cứu giúp
khắp sanh mạng loài vật, mong họ thể nhận được cái ý
gấp thả, trong tâm động lòng xót thương, chẳng nỡ ăn nuốt.
Đã chẳng ăn nuốt sẽ thôi săn bắt. Vậy thì hết thảy
loài vật bay trên không, bơi dưới nước sẽ tự tại bay,
chạy, bơi lội trong nơi sanh sống của chúng, tức là chẳng
phóng sanh mà phóng sanh khắp cả, đấy chẳng phải là cả
thiên hạ trở thành một cảnh hay sao?
Dù
không phải ai cũng làm được như vậy, nhưng một người
chẳng nỡ ăn thịt đã có vô lượng sanh mạng loài vật trên
cạn, dưới nước khỏi bị tàn sát; huống hồ nào phải
chỉ có một người [không nỡ ăn thịt] thôi ư? Lại vì hết
thảy đồng nhân trong hiện tại, vị lai, dứt trừ cái nhân
quan - quả - cô - độc, bần cùng, hoạn nạn, tạo cái duyên
trường thọ, không bệnh, phú quý, yên vui, cha con xum họp,
vợ chồng giai lão.
Đấy
chính là thực hiện sự chu cấp, giúp đỡ sẵn, để đời
đời, kiếp kiếp trong vị lai vĩnh viễn chẳng có những nỗi
khổ quan quả... hưởng thọ dài lâu những sự vui: trường
thọ v.v... há chẳng đáng gọi là khiến cho khắp hết thảy
đều được hưởng phước ư? Há nên thờ ơ bỏ qua? Ông
nghĩ kỹ đi: kiêng giết phóng sanh, rốt ráo chính là khăng
khắng vì con người, nào phải cứ cắm đầu lo cho loài vật,
đảo lộn chuyện hoãn - gấp, nặng - nhẹ đâu!
* Một
niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh và một niệm tâm
tánh của tam thế chư Phật trọn chẳng phải hai. Nhưng do
mê chưa ngộ nên bao kiếp dài lâu luân hồi trong lục đạo,
mãi không ngừng nghỉ. Tuy đường lành trời người so với
tam đồ ác đạo khổ vui khác xa nhau, nhưng đều là thuận
theo nghiệp lực thiện ác cứ luân hồi mãi! Thiện đạo chẳng
đáng tin cậy, ác đạo thật đáng sợ. Há chẳng nên vun bồi
nhân lành, cứ tạo càn ác nghiệp, cứ cậy mình mạnh, hiếp
đáp kẻ yếu, bắt lấy hết thảy chúng sanh trên cạn, dưới
nước giết ăn chăng?
Trước
kia, khi Phật giáo chưa truyền sang, thánh nhân Nho giáo đều
dùng luân thường thế gian để giảng dạy. Đối với Phật
tánh sẵn có của chúng ta và sự chuyển biến, thăng trầm,
luân hồi lục đạo, cũng như chuyện đoạn Hoặc, chứng Chân,
siêu phàm, nhập thánh, dù là Lý hay Sự đều chưa giảng ra.
Vì thế chẳng cấm giết, nhưng cái tâm bất nhẫn đã nêu
tỏ lắm rồi trong các lời dạy để lại cho đời.
Chẳng
hạn như, kinh Thư nói chim, thú, cá, ba ba đều quyến luyến,
sách Luận Ngữ nói thả câu nhưng chẳng vãi chài, chẳng bắn
ban đêm. Mạnh Tử thấy sống, không nỡ thấy chết; nghe tiếng
chẳng nỡ ăn thịt. Kinh Lễ chép: Chư hầu chẳng vô cớ mổ
trâu; đại phu chẳng vô cớ giết dê, kẻ sĩ chẳng vô cớ
giết chó, lợn; thứ dân chẳng vô cớ ăn món ngon. “Món
ngon” chính là thịt vậy.
Đủ
thấy rằng: đối với việc sát sanh, Nho Giáo cũng chẳng phải
không hạn chế vậy, chỉ là quyền biến để dạy dỗ, chứ
chưa thể vĩnh viễn cấm hẳn được. Có duyên cớ mới giết,
cố nhiên kẻ giết cũng ít. Vô cớ chẳng ăn thịt thì trong
một năm ăn thịt được mấy ngày? Hậu thế, sự giáo hóa
suy đồi, quen thói tàn nhẫn, bèn coi chuyện ăn thịt như chuyện
cơm bữa trong nhà, chỉ cốt sao khoái khẩu, chẳng biết đến
nỗi khổ của loài vật.
Đến
khi Phật giáo truyền sang Đông thì chân lý, sự thật thường
trụ vĩnh viễn “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”
và “mê thì luân hồi sanh tử, trọn không lúc nào xong”,
“ngộ thì triệt chứng Niết Bàn” mới được xiển minh
rốt ráo. Mới biết rằng các dị loại này nọ đều là cha
mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai. Chẳng những
chẳng dám giết ăn, lại còn mong cho chúng nó đều được
sống yên ổn. Do vậy, vua thánh, tôi hiền, bậc triết sĩ,
bậc hồng nho, đa phần đều kính tuân lời Phật giáo huấn,
tài bồi lòng nhân của chính mình. Hoặc là ăn chay, bỏ hẳn
ăn mặn, hoặc là kiêng giết, phóng sanh. Những lời lẽ tốt
lành, hành vi hay đẹp ấy được chép trong các sử sách cũng
chỉ là để mong người đời sau cùng tu tâm từ, thương xót
loài vật, cùng thấy Phật tánh.
Do
ác nghiệp nhân duyên, đọa trong đường súc sanh. Ta nay may
được sanh trong loài người, nếu chẳng tăng thêm lòng lân
tuất, cứ mặc tình sát hại, khó tránh đời sau oan oan tương
báo. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Giết thân mạng chúng, hoặc ăn
thịt chúng, trải vi trần kiếp ăn lẫn nhau, giết lẫn nhau
giống như bánh xe lăn, hết lên cao lại xuống thấp, chẳng
có lúc ngừng. Trừ xa-ma-tha và lúc Phật xuất thế, chẳng
thể ngưng nghỉ được”.
Nhưng
đạo xa-ma-tha thật chẳng dễ đắc, Như Lai xuất thế cũng
khó gặp gỡ, dám đâu chẳng học theo gương tiên hiền, chẳng
tuân lời Phật dạy. Suy cái tâm sợ chết của mình mà cứu
vớt loài đợi bị nấu nướng kia để mong tiêu trừ túc
nghiệp, vun bồi căn lành, dứt vĩnh viễn cái nhân sát hại,
cùng chứng quả trường thọ vậy!
* Hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ quá khứ,
là chư Phật vị lai. Lập cách cứu giúp còn e chưa kịp, há
nên để thỏa miệng bụng mình, bèn giết hại thân xác chúng
nó ư? Phải biết rằng các loài vật bay trên không, lặn dưới
nước đều có cái tâm linh minh giác tri, nhưng vì túc nghiệp
sâu nặng đến nỗi hình thể khác xa, miệng chẳng nói được.
Xem tình cảnh chúng đi tìm cái ăn, tránh né cái chết, sẽ
nhận ra chúng có khác gì con người đâu!
Chúng
ta nhờ sức túc phước, may được làm người, tâm có trí
lự, phải nên luôn nghĩ đến dân chúng và loài vật cùng
[sanh từ] một bọc cha trời, mẹ đất, mới chẳng phụ bạc
cái lẽ con người đứng cùng trời đất thành tam tài vậy!
Do cùng được trời đất sanh thành, nuôi nấng, phải mong
cho mọi người cùng loài vật đều được sống yên ổn,
cùng được trời che, đất chở, cùng vui ngày tháng mới phải.
Nếu như chẳng hiểu thấu cái đức hiếu sanh của trời đất,
buông lung ý niệm tham ăn tục uống của chính mình, cậy mình
khỏe, hiếp kẻ yếu, ăn thịt nó để no đẫy bụng mình,
ắt đến ngày nào đó, túc phước đã hết, sát nghiệp hiện
tiền, muốn chẳng thay đầu, đổi mặt, bị chúng nó ăn,
giết trở lại, há có được chăng?
Vả
nữa, ăn thịt có chất độc, do lúc chúng bị giết tâm oán
hận kết lại. Bởi thế, khi ôn dịch lưu hành, người ăn
chay rất ít người bị nhiễm phải. Hơn nữa, thịt là vật
uế trược. Ăn vào máu sẽ bẩn, tinh thần tối tăm, thấy
mạnh mẽ ngay đó, nhưng hiệu quả tan đi rất nhanh, rất dễ
tạo thành đầu mối cho bệnh tật. Rau cỏ là vật thanh khiết,
ăn vào khí thanh, trí rạng, khỏe mạnh lâu, già chậm, có
nhiều chất bổ. Tuy đây là lời bàn thông thường về phép
vệ sinh, nhưng thật sự là lời luận cùng tột về tánh.
Do thói quen kéo dài đến nỗi mê man chẳng tỉnh.
Phải
biết rằng: người nhân ắt thương yêu loài vật. Người
giết loài vật quyết khó thể là người có lòng nhân, do
tánh quen khiến thành như thế. Vì vậy, thánh vương trị thế,
chim thú cá, rùa đều sung sướng. Đạo sáng dạy dân thì
gậy nhựa dính, ná bắn đạn đều bỏ sạch. Thử nghĩ: Từ
xưa đến nay, phàm là kẻ tàn nhẫn tham ăn tục uống, phần
nhiều dòng dõi bị tuyệt diệt. Người nhân ái tử tế, con
cháu ắt hưng thạnh. Kẻ khởi đầu thói ác, Khổng Tử đoán
nó vô hậu; kẻ mặc sức ăn thịt, Như Lai dự ký ắt phải
đền trả. Xin chớ nói suông xa lánh bếp núc (6), đấy chỉ
là cách nói quyền biến thuận theo thế tục, phải vĩnh viễn
dứt hẳn đồ hôi tanh thì mới là xứng lý thật nghĩa.
* Tâm
tánh chúng sanh giống hệt như Phật. Do nghiệp thiện - ác,
báo phân ra người, thú. Người có trí huệ, thú không tài
khéo. Cậy mạnh hiếp yếu, giết để ăn thịt. Làm con trong
nhà người ta chẳng ngoài [lý do đã] thiếu nợ nặng. Huống
hồ giết thân mạng chúng chỉ cốt sướng miệng, oán hận
cố kết, trải bao kiếp đòi nợ lẫn nhau. Thử nghĩ đến
điều ấy, trong tâm đau thương.
* Nguyên
hết thảy chúng sanh trên cạn, dưới nước, không một loài
nào chẳng biết đớn đau, khổ, vui, không một loài nào chẳng
biết tham sống sợ chết, nhưng không con vật nào chẳng phải
là cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, bạn bè, thân quyến trong
vô lượng kiếp của ta. Lại không có một loài nào chẳng
thể trong đời vị lai, gieo sâu thiện căn, tu trì Tịnh nghiệp,
đoạn Hoặc chứng Chân, viên thành Phật đạo. Chỉ vì túc
thế ác nghiệp, phải đọa trong dị loại.
Vì
thế phải nên sanh lòng thương xót sâu xa, hộ trì chúng, khiến
mỗi con vật đều được sống yên vui, há nên cậy mạnh
hiếp yếu, hoặc dùng trí đoạt lấy, hoặc dùng tiền của
đoạt lấy, khiến hết thảy bọn chúng bị dồn vào miệng
bụng mình? Tuy chúng nó sức chẳng chống chọi được, tâm
đã kết mối hận dằng dặc; cho nên đời đời, kiếp kiếp
xoay vần giết nhau. Sướng miệng bụng một lúc, giết thân
mạng nhiều kiếp. Sánh với chuyện tự giết mình còn khốc
liệt gấp bội! Sao lại khổ sở làm chuyện chuốc lấy ương
họa này, há có phải là ngu mê đến cùng cực chăng?
Xưa
nước Lỗ có hai gã dũng sĩ, chỉ nghe tên nhau chứ chưa gặp
mặt. Một bữa gặp nhau, mua rượu cùng uống. Một gã bảo:
“Không có thịt chẳng vui, hãy đi mua thịt!” Gã kia bảo:
“Thịt của tôi với anh đây, còn tìm đâu nữa!” Gã thứ
nhất bảo ý kiến ấy rất hay, bèn trễ áo xẻo thịt mình,
hai bên cùng ăn. Kẻ kia lại cắt thịt mình, đưa cho bạn
ăn. Dương dương tự đắc, bảo là tình bạn chúng ta tình
ý chân thật tột bậc. Vừa cắt vừa ăn mãi cho đến chết.
Những người trông thấy đều than: “Hai gã ngu!”
Do
vì ăn thịt, người đời tạo các sát nghiệp đến nỗi bao
kiếp xoay vần giết hại lẫn nhau. So với hai gã dũng sĩ kia
càng khốc liệt hơn! Do không mắt huệ, chẳng biết hậu báo,
lại coi là chuyện đắc ý để khoe khoang, kiêu hãnh, chê kẻ
ăn chay là mê tín cùng là bạc phước. Thế tục tán thành,
nào biết là sai!
Vì
thế, trong các kinh Đại Thừa Phạm Võng, Lăng Nghiêm, Lăng
Già v.v... đức Như Lai đã cực lực phơi bày cái họa sát
sanh ăn thịt, có thể nói là lòng chân từ đại bi nhổ rễ
lấp nguồn vậy. Gần đây, sát kiếp thảm khốc, thiên cổ
chưa từng nghe, lại còn các tai vạ: nước, lửa, tật dịch,
gió lốc, động đất, hạn hán, lụt lội... thình lình xảy
ra. Nói chung đều là do sát nghiệp duyên khởi đến nỗi thế
đạo, nhân tâm càng ngày càng thấp. Do vậy, thiên tai, nhân
họa liên tiếp xảy ra, như đứng trước tấm gương, chẳng
thể tránh khỏi bị soi bóng.
* Thế
tục mê hoặc, coi ác là thiện, coi tạo nghiệp là tu phước,
[kẻ như vậy] rất nhiều. Điều mắt nhìn thấy thảm, lòng
thấy xót xa nhất không gì bằng chuyện cúng tế quỷ thần.
Phú quý đại gia luôn giết con vật lớn để tế: một mặt
để cầu được nhiều phước, một mặt để phô phang mình
giàu có. Còn những nhà nghèo khó cũng phải giết gà, giết
vịt để cầu thần thường bảo hộ, khiến cho phước thọ
tăng thêm, lâu dài hơn, mọi việc đều như ý.
Chẳng
biết thiên địa lấy hiếu sanh làm