ẤN
QUANG ÐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC
PHẦN
I
LỜI
TỰA
Pháp môn Tịnh Ðộ lý cực cao sâu, sự cực giản dị. Do
vậy, người thiên tư thông mẫn, tri kiến cao siêu thường
xem Tịnh Ðộ là pháp tu của bọn ngu phu, ngu phụ, chẳng chịu
tu trì. Nào biết đây là pháp môn rốt ráo để mười phương
tam thế hết thảy chư Phật, trên thành Phật đạo, dưới
độ chúng sanh, thành thỉ, thành chung. Họ thấy kẻ ngu phu,
ngu phụ tu được pháp này bèn coi thường, sao chẳng xét trong
hội Hoa Nghiêm, bậc đã chứng bằng với Phổ Hiền, bằng
với chư Phật, vẫn phải dùng mười đại nguyện vương hồi
hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc ngõ hầu viên mãn Phật
Quả? Miệt thị pháp môn Tịnh Ðộ chẳng chịu tu là coi những
vị trong hội Hoa Nghiêm thuộc hạng người gì? Chỗ quy tông
cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm có đáng nên tôn trọng hay nên
coi thường đây?
[Có thái độ như vậy] không có gì khác hơn là do chưa xét
kỹ nguyên do của từng pháp môn thông thường và đặc biệt,
cũng như tự lực, Phật lực, đại, tiểu, khó, dễ, nên mới
đến nỗi như thế. Nếu đã xét kỹ, há chẳng học đòi
Hoa Nghiêm Hải Chúng, nhất trí tiến hành cùng cầu vãng sanh
ư? Ấn Quang tôi từ lúc búi tóc đọc sách, nhiễm ngay phải
cái độc bài Phật của Hàn, Âu, Trình, Chu, may là không có
được cái tài như Hàn, Âu, Trình, Chu. Nếu như có được
chút tài như họ, ắt sẽ tự mình lầm, khiến người lầm,
thân còn sống mà đã hãm trong địa ngục A Tỳ mất rồi.
Từ năm mười bốn, mười lăm tuổi về sau, bệnh nặng nhiều
năm. Từ đấy chiêm nghiệm khắp xưa nay, xem kỹ kinh sách,
mới hay những thuyết do Hàn, Âu, Trình, Chu lập đó đều
là những tri kiến quẩn quanh ngoài cửa ngõ, tuyệt chẳng
đạt đến những sự huyền áo trong nhà.
Nhược
quan (1) được một năm, tôi liền xuất gia làm Tăng, chuyên
tu Tịnh nghiệp. Thề trọn một đời này làm một kẻ tự
tu, chẳng lập môn đình, rộng thâu đồ chúng đến nỗi con
cháu đời sau làm Phật pháp bại hoại, kéo cả Ấn Quang tôi
vào trong địa ngục A Tỳ chịu khổ với chúng. Ðến năm
Quang Tự 19 (Quý Tỵ - 1893), hòa thượng Hóa Văn chùa Pháp
Vũ ở Phổ Ðà Sơn lên kinh đô thỉnh Ðại Tạng Kinh, nhờ
tôi coi sóc việc ấn loát. Xong việc, Hòa Thượng mời tôi
cùng về núi. Biết tôi chẳng thích tham gia Tăng sự, Ngài
cho tôi ở riêng một liêu, tùy ý tu trì. Ðến nay đã hơn
ba mươi lăm năm rồi. Ở núi lâu ngày, có việc phải dùng
đến bút mực viết lách, tuyệt chẳng dùng đến tên gọi
Ấn Quang. Ngay cả những văn tự cần phải ký tên, cũng chỉ
tùy tiện viết hai chữ là xong. Vì thế trong hai mươi năm
qua, không có người khách nào đến thăm, cũng không có thư
từ qua lại làm phiền.
Năm đầu Dân Quốc (1911), cư sĩ Cao Hạc Niên đem mấy thiên
văn cảo đăng trên Phật Học Tùng Báo, chẳng dám dùng tên
Ấn Quang, mà dùng tên Ấn Quang thường tự xưng là Thường
Tàm Quý Tăng. Vì thế, ký tên là Thường Tàm. Cư sĩ Từ Uất
Như và Châu Mạnh Do tưởng lầm là Kiến Thường, nghe nói
[lầm như vậy] cả ba bốn năm chẳng hề biết. Sau Mạnh Do
lên núi bái yết, xin quy y, đem mấy thiên bản cảo tệ hại
gởi cho Uất Như, đưa in ở kinh đô, đặt tên là Ấn Quang
Pháp Sư Văn Sao khiến cho văn tôi gai mắt khắp mọi người
cao nhã nên càng thêm hổ thẹn.
Năm
Dân Quốc thứ bảy, thứ tám (1918-1919), họ lại lôi ra thêm
mấy thiên nữa, soạn thành sách Tục Biên, in chung với cuốn
Sơ Biên. Năm Dân Quốc thứ chín, giao cho Thượng Hải Thương
Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ thành hai cuốn để làm bản lưu.
Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ 10, sách in xong. Quang tôi lại qua
Dương Châu, đem bản sắp chữ năm Dân Quốc thứ 9 khắc thành
một bản, chia làm bốn cuốn. Năm Dân Quốc thứ 11, lại giao
cho Thương Vụ Ấn Thư Quán in thành bốn cuốn. Khi ấy, các
cư sĩ chỉ yêu cầu in hai vạn bộ, nhưng đến khi Thương
Vụ Ấn Thư Quán in xong, gởi ra bán, số ấy vẫn chẳng đủ!
Mùa
Ðông năm Dân Quốc thứ 14 (1925), lại giao cho Trung Hoa Thư
Cục in bản tăng quảng (bản mở rộng – do thêm vào những
bài mới), cũng chia thành bốn cuốn, dày hơn lần in trước
một trăm tờ. Mùa Hạ năm nay in sách, do phong trào công nhân
đấu tranh, giá in rất cao, chỉ in được hai ngàn bản. Bản
gốc đã đem đánh máy ra thành bốn bản sao thì nhà in giữ
lại hai bản, trả về cho Quang hai bản. Tôi bèn giao cho Hàng
Châu Chiết Giang Ấn Loát Công Ty in trước một vạn bản,
sau đó sẽ in tiếp.
Một
nhân duyên tình cờ nữa là cư sĩ Viên Tịnh Lý Vinh Tường
trong mấy năm qua, chuyên tâm học Phật, đối với luận Khởi
Tín, kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác đều viết sớ giải. Quang
bảo: “Người thanh niên nên thiết thực dụng công niệm
Phật trước đã, đến khi nghiệp tiêu trí rạng, chướng
tận, phước dày rồi sẽ lại phát huy, tự có thể xiển
minh Phật ý truyền khắp vũ trụ”. Khi ấy, ông Lý chẳng
chịu là đúng. Sau vì dụng tâm quá độ, tinh thần, thân thể
mỗi ngày một suy, mới hay lời tôi nói chẳng sai.
Ông
bèn đọc kỹ Văn Sao, hoan hỷ khôn xiết nên trích lục những
nghĩa trọng yếu, chia thành từng môn, từng loại, soạn thành
một cuốn, tính dùng giấy in báo in một ngàn cuốn để đáp
ứng nhu cầu cần đọc ngay của độc giả. Tháng Năm, ông
đến thưa chuyện cùng Quang, rồi cùng vợ thọ quy y. Tháng
Tám sách in ra, chẳng lâu sau sách được thỉnh hết. Thư yêu
cầu nườm nượp gởi tới, tôi bèn bảo giám ngục Tào Hà
Kinh sắp đặt việc in sách. Cư sĩ Trần Ðịch Châu xin đảm
nhiệm việc trình bày, cũng như chịu phí tổn đánh máy bốn
bản sao. Ông lại chịu tiền in hai ngàn bản, một lúc bỏ
ra gần hai vạn.
Với
xuất xứ của mỗi câu trong bản này, thuộc quyển nào, trang
nào, ông Lý đều ghi kỹ để người đọc có thể đối chiếu
với quyển Văn Sao. Do chỉ chép lấy những nghĩa trọng yếu
trong các bài văn, xếp vào một loại nên trong mỗi thể loại,
ý nghĩa [từng đoạn trích] khá giống nhau, nhưng tôi chẳng
lược bớt đi, ngõ hầu người đọc được khuyên đi, khuyên
lại nhiều lần sẽ đoạn ngay được lòng nghi, phát sanh lòng
tin. Xuất xứ từ quyển nào, trang số mấy đều dựa theo
cách đánh số trong bản Tăng Quảng Văn Sao để làm bản lưu
thông vĩnh viễn, sau này không phải in lại nữa.
Lại vì Văn Sao ý nhiều, nghĩa lắm, có lẽ kẻ sơ cơ khó
lòng phân biệt, hiểu rõ dễ dàng được, nên tôi thuận theo
cơ nghi, muốn cho họ trước hết thấy được những điều
trọng yếu của pháp môn, từ đấy sẽ thiết thực tấn tu,
tự đạt đến chỗ cùng cực, khỏi phải đến nỗi nhìn
biển than dài hoặc đến nỗi lui sụt. Nhân đây, chép cả
mục lục cuốn Văn Sao Tuyển Ðộc Biên vào sau mục lục cuốn
Gia Ngôn Lục để người chưa từng nghiên cứu Phật học
dễ theo dõi. Tôi trình bày duyên do như thế để mong người
đọc đều biết rõ.
Nguyện
người thấy, người nghe đừng cho lời tôi nói là tầm thường,
quê mùa rồi bỏ qua, chỉ toan cầu lấy điều cao thâm, huyền
diệu. Ðạo của Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu đễ mà thôi.
Ðạo của Như Lai chỉ là Giới - Ðịnh - Huệ. Thực hành
được việc tầm thường, quê mùa, hành đến cùng cực thì
lý cao thâm huyền diệu há còn phải cầu nơi nào khác nữa
ư? Nếu không thì chỉ cao thâm huyền diệu nơi đầu môi chót
lưỡi, khi sanh tử xảy đến chẳng dùng được mảy may! Xin
độc giả hãy lưu tâm!
Mồng
Tám tháng Chạp năm Ðinh Mão, Dân Quốc 16 (1927), Cổ Tân Thường
Tàm Quý Tăng Thích Ấn Quang cẩn soạn.
(*)
Gia có nghĩa là tốt, lành, đáng khen ngợi. Gia Ngôn là lời
nói tốt đẹp, tận thiện. Như vậy, Ấn Quang Ðại Sư Gia
Ngôn Lục nghĩa là cuốn sách tập hợp những pháp ngữ tận
thiện, tận mỹ của đại sư Ấn Quang.
(1)
Nhược quan: là 20 tuổi. Thời cổ, con trai đến 20 tuổi làm
lễ đội mũ (nhược quan), công nhận là một người trưởng
thành. Theo Ấn Quang Niên Phổ, đại sư trốn nhà đi xuất
gia năm 21 tuổi, vào năm Quang Tự thứ 7 (Tân Tỵ - 1881) tại
chùa Nam Ngũ Ðài Liên Hoa Ðộng Tự ở núi Chung Nam, thờ hòa
thượng Ðạo Thuần làm thầy.
DUYÊN
KHỞI TÁI BẢN CUỐN
ẤN
QUANG ÐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC
Cổ đức nói: “Pháp chẳng thể phát khởi một mình mà cần
phải có nhân duyên”. Rõ ràng là người có thể hoằng đạo,
chứ đạo chẳng thể hoằng người, pháp chẳng tự hoằng,
đao chẳng thể tự sát thương, toàn là phải nhờ vào con
người hoằng dương, vận dụng. Nay muốn in hơn ngàn cuốn
ắt cũng phải có nhân duyên. Vì thế, tôi nay chia ra ba điều
duyên khởi để thuật rõ gốc ngọn, ngõ hầu độc giả biết
được một đôi điều, sanh ý tưởng khó gặp gỡ, sanh tâm
khánh hạnh (1). Do Văn - Tư - Tu, khởi Tín - Nguyện - Hạnh,
nhập Niệm Phật tam muội, ai nấy cùng thấy Di Ðà, người
người chứng địa vị Bất Thoái. Ðấy chính là điều tôi
thắp hương cầu khẩn vậy.
Thứ nhất là thực hiện nguyện cũ: nhớ lúc năm Dân Quốc
57 (1968), tôi đến học tại Trung Quốc Phật Giáo Nghiên Cứu
Viện, có dịp đọc được trong thư viện cuốn Ấn Quang Ðại
Sư Gia Ngôn Lục, chẳng ngăn nổi vỗ tay, giậm chân, hớn
hở vô lượng, nhận thấy đây là một tác phẩm ngàn đời
khó thấy, ngàn kiếp khó gặp, chẳng gieo trồng cội đức
dễ đâu được gặp mà nay được gặp gỡ. Tôi bèn hạ quyết
tâm đọc một mạch, không dưới mấy mươi lần, ngộ được
chẳng ít Phật lý. Trong tác phẩm này có rất nhiều đạo
lý tôi chưa từng bao giờ biết đến, và có cảm giác phải
nghiền ngẫm phi thường. Tôi nhận ra hết thảy những Phật
pháp được nhắc đến trong Văn Sao đều là những của báu
có sẵn trong nhà mình, chẳng đến từ bên ngoài, khác nào
đếm của gia bảo, vói tay liền được.
Nhân
đó, tôi đọc đi đọc lại những kinh điển, luận tạng
được nhắc đến trong Văn Sao như ba kinh Tịnh Ðộ, Tịnh
Ðộ Thập Yếu, Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục, Long Thư Tịnh
Ðộ Văn, Tây Quy Trực Chỉ, Liên Tông Bảo Giám, Niệm Phật
Luận, Tịnh Nghiệp Chỉ Nam v.v... Trong mỗi một cuốn ấy,
câu câu đều là lời vàng, chữ chữ đều quy tông. Tu theo
đó thì đều do hữu niệm chứng nhập vô niệm, chuyển nhiễm
niệm thành tịnh niệm, tự chứng tối thượng thừa “tâm
này làm Phật, tâm này là Phật”.
Trong
cuốn Gia Ngôn Lục, đại sư Ấn Quang đã giãi bày trọn vẹn
lẽ sai biệt giữa Tự Lực và Phật Lực, giới hạn của
Thiền tông và Tịnh tông, phân tích rõ ràng, khiến kẻ sơ
học đoạn nghi sanh tín, biết nên lấy bỏ những gì, càng
vào càng sâu. Tu theo đó, ngàn người tu, ngàn người được
vãng sanh, vạn người tu vạn người vãng sanh.
Nhất
là chữ “Tử” (chết) do đích thân đại sư Ấn Quang viết
chính là diệu dược vô thượng để tiêu phiền não, trừ
khử vọng niệm. Mọi loài chúng sanh dựa vào chữ Tử ấy,
nghĩ đến địa ngục, phát tâm Bồ Ðề, dùng tín nguyện
sâu xa trì danh hiệu Phật, lâm chung gặp Phật, vãng sanh Tây
Phương chẳng biết là bao nhiêu. Bởi thế, ngay khi ấy, tôi
liền phát nguyện rằng: “Trong tương lai, ngày nào đó, khi
có nhân duyên diễn giảng Phật pháp cho đại chúng, tôi nguyện
sẽ đề xướng ấn loát và giảng giải cuốn Gia Ngôn Lục
hòng đại chúng hiểu rõ yếu nghĩa tâm này làm Phật, tâm
này là Phật, tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ mới thôi!”
Ðây chính là nhân duyên thứ nhất vậy.
Thứ hai là kinh nghiệm niệm Phật: kể từ khi đọc được
Văn Sao Gia Ngôn Lục rồi tôi thường đọc đi, đọc lại,
cơ hồ gần chán, nhưng vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa. Tiếp
đó, đọc hai cuốn Văn Sao thượng hạ, những chỗ chưa hiểu
lại đem thỉnh vấn lão sư. Tư duy, thọ trì đôi ba lượt
như thế, đem những chữ Tử do Ðại Sư viết dán đầy cả
phòng, giờ giờ tự kinh hãi, khắc khắc tự răn nhắc mình.
Lúc ấy tôi mới mười bảy tuổi, suốt ngày chấp trì danh
hiệu, có thể nói là Phật chẳng lìa tâm, tâm chẳng rời
Phật. Suốt ngày hiếm mở miệng nói năng một đôi câu. Nếu
ai hỏi đến cũng chỉ dùng tay ra hiệu mà thôi. Có lúc thậm
chí cả hai ba ngày tôi chẳng mở miệng nói câu nào; bởi
thế, những người thường gặp mặt tôi bèn hủy báng: “Ðồ
bệnh thần kinh, đồ ma dựa”. Tôi nghe riết thành quen, chẳng
lưu tâm đến nữa, cho rằng đấy là một đại nhân duyên
để tiêu diệt tội nghiệp đời trước của mình, khiến
cho mình càng thêm dũng mãnh, tinh tấn, chẳng lười nhác.
Dụng
công như thế mãi đến khi tôi tốt nghiệp ở Nghiên Cứu
Viện vào năm Dân Quốc 59 (1970). Lúc ấy tôi vừa 19 tuổi,
thân thể yếu đuối, lắm bệnh, nhưng luôn nhớ kỹ lời
Ðại Sư khai thị cho hành giả trong Văn Sao: “Người niệm
Phật chẳng sợ sanh bệnh, chỉ sợ chẳng thể thấy Phật,
niệm Phật. Khi thân thể trở bệnh thường nghĩ đến cái
chết, vạn duyên buông xuống, nhất tâm niệm Phật. Như thế
thì nếu tuổi thọ chưa hết sẽ chóng lành bệnh, nếu hết
tuổi thọ sẽ mau được vãng sanh. Là do tâm hợp với Phật,
tâm hợp với đạo vậy!” Do đấy, tôi lập công khóa nhất
định, trong vòng một ngày, Phật sự phải làm là lễ bái
bốn mươi tám nguyện, trì tụng một trăm lẻ tám biến thần
chú Ðại Bi, niệm Phật hiệu vô số. Dụng công như thế
suốt một năm, chẳng những thân thể không khỏe hơn, lại
càng thêm hư nhược. Lúc ấy, tôi đang ở chùa Thập Phổ
đường Nam Xương tại Ðài Bắc.
Khéo
sao, có một vị pháp sư tên là Tánh Quán bị ung thư gan đến
thời kỳ thứ ba, phải đưa vào bệnh viện. Ít lâu sau, bác
sĩ bảo không còn cách nào chữa được, đưa sang thiền đường
chùa Lâm Tế chờ chết. Mấy ngày sau, sư thượng thổ hạ
tả (2), ói ra toàn là máu, được ít lâu thì chết. Khi đó,
tôi mới chỉ 20 tuổi, thân thể hư nhược đến cùng cực,
thân như cây khô, tinh thần yếu đuối. Người trong chùa thấy
tình cảnh ấy, không ít người bảo tôi: “Tôi xem thầy chẳng
mấy chốc cũng giống như pháp sư Tánh Quán, nhất định phải
chết thôi!” Hoặc bảo: “Tôi xem thầy chẳng sống được
bao lâu nữa!” Lúc ấy đúng là đạo cao một thước, ma cao
một trượng. Vừa phát tâm dụng công thì ma chướng càng
nhiều. Nghe toàn những lời nói như vậy, vạn phần hoảng
sợ, chẳng sao diễn tả nổi.
Sau
cùng bất đắc dĩ chẳng biết làm sao, suốt ngày chỉ nghe
băng xướng niệm thánh hiệu A Di Ðà Phật của pháp sư Sám
Vân mà niệm theo, nhất tâm đợi Phật tiếp dẫn vãng sanh.
Suốt một năm như thế, chẳng những chưa vãng sanh mà tình
cờ sao, trong một lần đang niệm Phật, niệm đến mức tâm
không cảnh vắng, tâm tịnh Phật hiện, đích thân thể hội
mùi vị “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”.
Từ
đó, thân thể của tôi ngày càng khang kiện, máy cassette tặng
cho người khác, đem hết thảy tiền bạc mình dành dụm hoặc
đồ cúng dường của tín đồ, mỗi mỗi đều dùng làm phương
tiện khuyên người khác niệm Phật, phỏng theo cách của Liên
Tông Tứ Tổ Pháp Chiếu Ðại Sư và Ngũ Tổ Thiếu Khang Ðại
Sư, xin tiền đem cho trẻ, dụ chúng niệm Phật, hoặc mua tự
điển, bút chì tặng cho trường tiểu học, hoặc mua bút máy,
sổ nhật ký tặng cho học trò bậc cao trung trở lên. Trước
hết, dạy chúng lễ Phật, niệm Phật, rồi mới tặng cho
chúng thứ này, thứ nọ. Trong vòng khoảng một cây số, không
có trẻ nhỏ nào chưa từng nhận lãnh sự giáo hóa, bố thí
của tôi. Ai nấy thấy tôi đều kêu lên: “Tiểu sư phụ!
A Di Ðà Phật!” Sau hơn một năm như thế, lớn nhỏ đều
biết niệm Phật.
Một
hôm, tôi nhận được công văn kêu đi nhập ngũ (3), ngày trình
diện là mồng Một tháng Năm năm Dân Quốc sáu mươi ba (1974),
trong lòng thầm nghĩ: “Lần này đi quân dịch, chuyện sanh
tử khó lòng đảm bảo, vạn nhất chết trận thì biết làm
sao, chẳng bằng lúc còn sống phải dự bị ổn thỏa mới
nên!” Nhân đó, bèn đem bộ Tịnh Ðộ Tùng Thư 20 quyển
mới mua chưa lâu (lúc ấy, còn đang trong thời kỳ ấn hành,
chưa in xong toàn bộ) tặng cho Truyền Ðạo học trưởng, đem
các tự điển Từ Hải và Khang Hy tặng cho pháp sư Minh Quảng.
Cố lão sư có tặng cho tôi một bản Thánh Giáo Tự của Vương
Hy Chi, mang từ Ðại Lục qua, thật là của báu vô giá, tôi
cũng tặng luôn cho bạn đồng học là Ngộ Khiết. Áo hải
thanh và y ca sa tặng luôn cho bạn đồng học là Ngộ Quán.
Còn thì đồ đạc trong ngoài, dù lớn hay nhỏ đều tặng
hết cho đại chúng, chỉ còn mỗi một cái túi da xấu xí
là chưa tặng ai cả. Lòng nghĩ nếu như trong quân đội, vạn
nhất mình may mắn bỏ xác cũng là nguyện vọng của mình
đã thành đạt. Vì sao vậy? Vì tôi đã sớm chuẩn bị, nhớ
kinh Ðịa Tạng có dạy: “Hết thảy công đức đã làm khi
còn sống, đều thọ được hết cả. Nhưng chết đi, làm
hết thảy công đức thì bảy phần chỉ được hưởng một
phần”. Cho nên những điều mình có thể làm được trong
khả năng của mình thì đều làm hết.
Vì
thế, một hai ngày trước khi nhập ngũ, tôi đem số tiền
tín đồ cúng dường là bảy ngàn đồng, chia thành ba phần:
Một phần là năm ngàn đồng tặng cho công trình xây dựng
Tịnh Giác Dục Ấu Viện (viện nuôi trẻ Tịnh Giác). Một
phần là sáu trăm đồng cúng dường cho huynh đệ đồng tu.
Còn tự mình chỉ mang 1.400 đồng đi nhập ngũ mà thôi.
Sau
đấy, suốt ba tháng tại trung tâm huấn luyện, chịu cam khổ
như mọi người. Có tháng, tiền chỉ còn ba trăm năm mươi
đồng, lại cần phải mua thức ăn chay. Lúc ấy mới hay tiền
chẳng đủ dùng, tiền là trọng yếu. Xong hai năm quân dịch,
chẳng những không chết, thân thể còn càng thêm cường tráng,
khang kiện. Thế mới biết công đức Niệm Phật chẳng thể
nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn. Hiện tại tôi
đã giải ngũ hơn năm năm rồi, phải làm lại hết thảy từ
đầu. Muốn mua kinh sách gì, hoặc là thành lập đạo tràng
và những thứ cần dùng hằng ngày đều hoàn toàn cậy vào
sự nỗ lực của chính mình. Do đó, đến nay đã ba mươi
tuổi đầu rồi mới bắt đầu xây dựng đạo tràng, ngoài
việc giảng kinh, thuyết pháp, chẳng quên đề xướng ấn
loát bộ Ấn Quang Ðại Sư Gia Ngôn Lục. Ðấy là nhân duyên
thứ hai.
Thứ ba chính là để kết duyên lành. Kinh dạy: “Lúc chưa
thành Phật nên rộng kết nhân duyên”. Kinh còn dạy: “Phật
đạo kiến lập trên thân chúng sanh. Nếu không có chúng sanh
nào để độ thì chư Phật chẳng thể thành Chánh Giác”.
Bởi thế, sau khi giải ngũ, tôi liền đối trước Phật phát
nguyện: “Phàm là ai có lòng muốn học Phật pháp thì nghĩa
vụ của con là phải dạy dỗ họ cho đến khi họ học hiểu
mới thôi!”
Tiếp đó, duyên khởi in cuốn Gia Ngôn Lục là do cư sĩ Kim
Bích Hoa và cư sĩ Ngô Cẩm Hoàng giới thiệu nên tôi được
quen biết cư sĩ Khưu Bính Lân và vợ là cư sĩ Khưu Ngô Sắc.
Họ nói trước đây đã từng học hiểu cuốn Tứ Kinh Hợp
Ðính Bổn, hiện tại muốn học Tam Muội Thủy Sám, xin tôi
phát tâm giảng dạy cho họ. Tôi liền đáp: “Ðược”. Lúc
đó Ngô cư sĩ và tín đồ của họ đang có mặt đều phát
tâm muốn học, muốn đến chùa tôi, xin tôi mỗi một tuần
chọn một ngày nhất định đến chỗ họ giảng dạy. Tôi
nói: “Trước mắt, Phật Quang Viện chưa lạc thành, dự định
ngày 19 tháng Sáu năm nay, đúng ngày thành đạo của Quán Thế
Âm Bồ Tát sẽ làm lễ khai quang thánh tượng (khéo sao, ngày
ấy lại đúng vào Chủ Nhật). Hiện tại trong Phật Tổ Hội
đang tích cực quyên góp. Hội này do hai vị cư sĩ Kim Bích
Hoa và Ngô Bảo Ngọc cùng phát khởi. Một hội chọn ra tên
hai người, lần lượt chia phiên nhau xuất ra năm trăm đồng
trong một tháng nào đó, định hạn là hai mươi tháng, cho
đủ một vạn đồng. Trong ấy có người thanh toán trong một
lần, có người chia ra hai lần đóng góp tùy sức mỗi người
(mục đích là đại chúng hóa, phổ biến hóa, để người
hữu duyên có cơ hội tham dự công đức đúc kim thân Phật)”.
Khưu cư sĩ nghe xong liền phát nguyện đúc tượng Tây Phương
Tam Thánh, ngoài ra thì tham gia một hội hoặc hai hội khác
nhau. Kinh nói: “Lục độ vạn hạnh, bố thí làm đầu, trong
các nhiệm vụ cấp bách của việc phát tâm thì hỷ xả là
bậc nhất”. Chúa trời Ðao Lợi xưa làm cư sĩ, trông thấy
tượng Phật bị hư nát không chịu nổi, bèn phát tâm rủ
rê bè bạn ba mươi hai người, tạo kim thân Phật. Do nhân
duyên ấy, sau khi mạng chung, sanh làm Ðế Thích Thiên Chúa,
tục gọi là Ngọc Hoàng Ðại Ðế. Ba mươi hai người kia
mỗi người làm chúa một cõi trời, thống trị nhân dân trong
nước mình, phước đức, trí huệ vô lượng, được người
đời lễ bái.
Bởi
vậy, kính mong chư vị đại đức đều sanh lòng hoan hỷ hớn
hở, phát lòng tùy hỷ, xuất tiền, xuất lực, tam luân không
tịch (4), vô trụ sanh tâm, công đức vô lượng. Hiện tại
muốn ấn loát hơn một ngàn cuốn Gia Ngôn Lục, riêng Khưu
cư sĩ đã phát tâm xin in một ngàn cuốn. Ðem công đức này
hồi hướng pháp giới chúng sanh cùng sanh Tịnh Ðộ. Ðấy
là nhân duyên thứ ba.
Ba điều duyên khởi vừa lược thuật trên đây đều nói
đúng theo sự thực, chứ chẳng phải là lời thêu dệt, cốt
để bày tỏ những điều ấp ủ trong lòng tôi, nhằm nói
lên nguyện lực Phật Di Ðà rộng sâu, công đức niệm Phật
thù thắng, đọc Văn Sao lợi ích vô tận. Chỉ nguyện bậc
trưởng bối xem đến, phát lòng từ bi chỉ dạy, người ngang
hàng nghe đến, sanh ý niệm tham khảo, tùy hỷ. Kẻ vãn bối
biết đến sẽ sanh lòng hỗ trợ, tăng trưởng pháp. Từ một
truyền mười, mười truyền trăm, trăm truyền ngàn, ngàn truyền
vạn, cha mẹ dạy bảo con cái, thầy dạy trò, quan trên dạy
bảo cấp dưới, từ gần lan ra xa, phổ độ hữu tình, chỉ
mong mình lẫn người cùng dự trong Liên Trì Hải Hội, chúng
u minh cùng nhập Di Ðà Nguyện Hải, đều thành Chánh Giác,
cùng hóa độ chúng sanh.
Con
chỉ mong mười phương Tam Bảo, hộ pháp long thiên cùng xét
soi tấm lòng thành khẩn của con đỏ, cùng rủ lòng từ mẫn
gia bị. Phổ nguyện thập phương thiện tín, chư vị đại
đức, đều sanh tâm từ bi hỷ xả, cùng khởi ý niệm ủng
hộ Tam Bảo. Chỉ mong những ai thấy nghe đều phát Bồ Ðề
tâm, hết một báo thân này, cùng sanh về Cực Lạc. Nếu được
như thế thì pháp môn may mắn lắm, chúng sanh may mắn lắm!
Trung
Hoa Dân Quốc năm thứ 71 (1982), tháng Giêng âm lịch, tiết
Nguyên Tiêu, Bản Kiều Thường Tàm Quý Tăng Thích Ngộ Tông
kính soạn
(1)
Khánh hạnh: mừng rỡ, nhận biết là mình may mắn mới gặp
được việc gì đó.
(2)
Thượng thổ hạ tả: trên thì ói, dưới thì tiêu tiện không
kiểm soát được.
(3)
Tại Ðài Loan, chư Tăng không được miễn quân dịch. Toàn
bộ tăng sĩ trẻ phải nhập ngũ, thi hành quân dịch một thời
gian, trước khi được trở về chùa tu tiếp.
(4)
Tam luân không tịch: Bố thí mà không thấy mình đang cho, không
thấy có người nhận, không thấy có vật được mình bố
thí.
ẤN
QUANG PHÁP SƯ GIA NGÔN LỤC
PHẦN
I
I.
Tịnh Ðộ thù thắng
* Lớn lao thay! Ðiều được pháp môn Tịnh Ðộ chỉ dạy
là “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, chỉ thẳng tâm
người. Nếu vẫn cho là kém kỳ lạ, đặc biệt thì mỗi
niệm niệm Phật chính là thành Phật ngay trong niệm ấy. Ðộ
khắp ba căn, thống nhiếp Thiền, Luật, Giáo. Như mưa đúng
thời nhuần thấm vạn vật; giống như biển cả dung nạp
trăm sông.
Hết
thảy pháp Thiên, Viên, Ðốn, Tiệm, không pháp nào chẳng phát
xuất từ pháp giới này. Hết thảy hạnh Ðại, Tiểu, Quyền,
Thiệt, không hạnh nào chẳng quy về nơi pháp giới này. Chẳng
đoạn Hoặc nghiệp, liền được dự vào hàng Bổ Xứ, viên
mãn Bồ Ðề ngay trong một đời này. Chúng sanh trong cửu giới
lìa môn này thì trên là chẳng thể viên thành Phật đạo.
Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này thì dưới là chẳng
thể lợi khắp quần manh. Bởi đó, trọn Hoa Nghiêm hải chúng
cùng tuân theo mười đại nguyện vương; Pháp Hoa vừa xưng
một tiếng liền chứng Thật Tướng các pháp.
[Tịnh
Ðộ là] hạnh phương tiện tối thắng nên trong luận Khởi
Tín, ngài Mã Minh bảo là dễ hành mau đến; ngài Long Thọ
xiển dương pháp này trong luận Tỳ Bà Sa. Hậu thân của đức
Thích Ca là ngài Trí Giả nói ra Thập Nghi Luận chuyên chí
Tây Phương. Sư Vĩnh Minh là Phật Di Ðà thị hiện, soạn Tứ
Liệu Giản, chung thân niệm Phật dẫn tam thừa ngũ tánh cùng
chứng Chân Thường, đưa thượng thánh hạ phàm cùng lên bờ
kia.
Vì
thế pháp môn này cả cửu giới cùng hướng về, mười phương
cùng khen ngợi. Ngàn kinh cùng xiển dương, vạn luận đều
tuyên thuyết. Thật có thể nói là pháp cực đàm của một
đời giáo hóa [của Ðức Phật], là đại giáo Nhất Thừa
vô thượng. Chẳng trồng cội đức thì trải bao kiếp khó
gặp được. Ðã được thấy nghe phải siêng tu tập.
* Giáo
- Lý - Hạnh - Quả là cương tông của Phật pháp. Nhớ Phật,
niệm Phật thực là đường tắt để đắc đạo. Thời xưa,
cứ tu một pháp thì cả bốn (Giáo - Lý - Hạnh - Quả) đều
đủ. Còn đời này nếu bỏ Tịnh Ðộ thì hoàn toàn chẳng
chứng được đạo quả. Ấy là vì cách biệt thánh đã xa,
căn tánh con người hèn kém, nếu chẳng cậy vào Phật lực,
quyết khó được giải thoát.
Như
đã nói: “Pháp môn Tịnh Ðộ nhiếp khắp căn cơ thượng,
trung, hạ; cao trỗi hơn Luật, Giáo, Thiền Tông, thực là lòng
từ bi triệt để của chư Phật, chỉ bày thể tánh sẵn có
của chúng sanh, dẫn tam thừa ngũ tánh đồng quy cõi tịnh,
đưa thượng thánh hạ phàm cùng chứng Chân Thường. Cửu
giới chúng sanh lìa pháp này thì trên chẳng thể viên thành
Phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này thì dưới
chẳng thể lợi khắp quần manh”.
Thế
nên, vãng thánh tiền hiền (thánh hiền đời trước) ai nấy
đều hướng về. Ngàn kinh vạn luận đâu đâu cũng chỉ quy.
Từ sau hội Hoa Nghiêm dẫn khởi quy hướng, các đại Bồ
Tát tận khắp mười phương thế giới không vị nào chẳng
cầu sanh Tịnh Ðộ; kể từ khi diễn thuyết tại Kỳ Viên
đến nay, cuối hết thảy các trước thuật của Tây Thiên,
Ðông Ðộ đều quy kết Liên Bang.
* Cổ
nhân nói: “Thân người khó được, trung quốc (1) khó sanh,
Phật pháp khó nghe, sanh tử khó xong”. Chúng ta may mắn được
thân người, sanh ở trung quốc, được nghe Phật pháp. Ðiều
bất hạnh là tự thẹn nghiệp chướng sâu nặng, không sức
đoạn Hoặc để mau thoát khỏi Tam Giới, liễu sanh thoát tử;
nhưng lại may mắn được nghe đức Như Lai ta tâm bi triệt
để nói ra pháp môn Tịnh Ðộ là pháp đại quyền xảo, phương
tiện lạ lùng, khiến hàng phàm phu lè tè sát đất được
đới nghiệp vãng sanh, thật không còn gì may mắn hơn nữa!
Nếu chẳng phải là từ vô lượng kiếp đến nay đã trồng
thiện căn sâu dày, làm sao nghe được pháp chẳng thể nghĩ
bàn này? Chẳng nên gấp sanh lòng tin chân thành, phát nguyện
cầu sanh ư?
* Trộm nghe Tịnh Ðộ chính là pháp tỏ bày rốt ráo bổn
hoài của Phật, cao vượt hết thảy Thiền - Giáo - Luật,
thống nhiếp hết thảy Thiền - Giáo - Luật. Nói gọn thì
một lời, một câu, một kệ, một sách đều có thể gồm
trọn không còn sót. Nói rộng ra, dù huyền ngôn của Tam Tạng
mười hai bộ kinh, diệu nghĩa của chư Tổ năm tông cũng chẳng
thể diễn giảng trọn [pháp môn Tịnh Ðộ này].
Giả
sử khắp cả đại địa chúng sanh đều thành Chánh Giác,
hiện tướng lưỡi rộng dài, dùng sức thần thông, sức trí
huệ, vi trần nói, cõi nước nói, nói hăm hở, nói không gián
đoạn, vẫn còn chưa thể tận nổi! Bởi lẽ Tịnh Ðộ vốn
là chẳng thể nghĩ bàn.
Hãy
thử nghĩ xem: Hoa Nghiêm đại kinh là vua trong Tam Tạng, trong
phẩm cuối cùng quy trọng nơi nguyện vương. Áo điển Pháp
Hoa mầu nhiệm đứng đầu các kinh, nghe kinh liền vãng sanh,
địa vị ngang với Ðẳng Giác. Vậy thì ngàn kinh muôn luận
đâu đâu đều chỉ quy Tịnh Ðộ là có nguyên do vậy.
Văn
Thù phát nguyện, Phổ Hiền khuyến khích. Trong hội Ðại Tập,
đức Như Lai thọ ký rằng: Trong đời Mạt Pháp, không do pháp
này chẳng thể đắc độ. Trong luận Tỳ Bà Sa, ngài Long Thọ
phán định là pháp dễ hành, mau thoát sanh tử. Thế nên, vãng
thánh tiền hiền người người hướng đến, nào phải phí
công toi! Thật có thể nói là cả một đời giáo hóa đều
chỉ là để đặt cơ sở cho pháp môn Niệm Phật!
Chẳng
phải chỉ có thế! Phàm hết thảy cảnh giới đối ứng sáu
căn, tức là: núi, sông, đại địa, sáng, tối, sắc, không,
thấy, nghe, hay, biết, thanh, hương, vị v.v... không gì chẳng
phải là văn tự để phô diễn, xiển dương Tịnh Ðộ đó
sao? Lạnh - nóng đắp đổi, già - bệnh chen nhau, lụt, hạn,
chiến tranh, tật dịch, bạn ma, tà kiến, không gì chẳng phải
là để răn nhắc cảnh tỉnh con người mau cầu sanh Tịnh
Ðộ đó ư? Nói rộng ra, há có thể trọn hết được sao?
Còn
như bảo “một lời đã gộp hết cả” thì lời đó là
“Tịnh”. Tịnh đến cùng cực thì sáng tỏ, thông suốt.
Nếu chưa đạt Diệu Giác, há dễ đảm đương nổi một lời
này ư? Nghiên cứu bài tụng Lục Tức Thành Phật (2) thì sẽ
biết.
“Một câu” là “Tín, Nguyện, Hạnh”. Với Tín - Nguyện
- Hạnh thì không Tín chẳng đủ để khởi Nguyện. Không Nguyện
thì chẳng đủ để dẫn dắt Hạnh. Không có diệu hạnh Trì
Danh thì chẳng đủ để viên mãn điều mình Nguyện, chứng
điều mình tin. Hết thảy kinh luận Tịnh Ðộ đều phát minh
ý chỉ này.
“Một kệ” là kệ tán Phật (3): Nêu chánh báo để gồm
thâu y báo, thuật Hóa Chủ để bao gồm đồ chúng; tuy chỉ
gồm tám câu nhưng đã nêu trọn đại cương của cả ba kinh
Tịnh Ðộ.
Một cuốn sách là cuốn Tịnh Ðộ Thập Yếu. Chữ chữ đều
là bến cầu (4) cho đời Mạt Pháp. Lời lời đều là gương
báu của Liên Tông. Buốt lòng trào lệ, phanh tim vẩy máu,
xứng tánh phát huy, chỉ bày cốt tủy. Dù dùng những thí
dụ như cứu người chết đuối, cứu người bị lửa cháy
vẫn chẳng thể diễn tả lòng thống thiết [của chư Tổ]
được. Bỏ qua [sách này] thì chánh tín không do đâu mà sanh
được, tà kiến không do đâu mà diệt được!
* Nên biết rằng chúng ta từ vô thỉ đến nay đã tạo ác
nghiệp vô lượng, vô biên. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Giả sử
ác nghiệp có thể tướng thì mười phương hư không chẳng
thể chứa đựng nổi”. Lẽ đâu tu trì lơ mơ, hời hợt,
lại tiêu nổi được nghiệp ư? Bởi vậy, Thích Ca, Di Ðà,
giáo chủ hai cõi, đau đáu nghĩ đến chúng sanh không sức
đoạn Hoặc, riêng mở ra một pháp môn nương vào từ lực
của Phật để đới nghiệp vãng sanh. Lòng hoằng từ đại
bi ấy dù trời đất, cha mẹ cũng chẳng thể bằng được
một phần Hằng hà sa. Chỉ nên phát lòng thẹn hổ, phát tâm
sám hối mới tự có thể được Phật gia bị, nghiệp tiêu,
thân an thôi!
* Hòa Thượng Thiện Ðạo nói: “Nếu muốn học về Giải
thì hết thảy các pháp từ địa vị phàm phu cho đến địa
vị Phật, không pháp nào chẳng nên học. Nếu muốn học về
Hạnh, nên chọn lấy một pháp khế lý, khế cơ, chuyên tinh
tận sức mới mau chứng được lợi ích chân thật. Nếu không
thì từ kiếp này qua kiếp nọ vẫn khó xuất ly!” Pháp khế
lý, khế cơ Ngài nói đó không gì hơn là Tín Nguyện Trì Danh
Cầu Sanh Tây Phương!
* Kinh A Di Ðà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ
gọi là “Tịnh Ðộ Tam Kinh”, chuyên luận về sự lý duyên
khởi của Tịnh Ðộ. Các kinh Ðại Thừa khác đều nói kèm
về Tịnh Ðộ. Nhưng kinh Hoa Nghiêm chính là khi đức Như Lai
mới thành Chánh Giác, vì bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân
Ðại Sĩ mà xứng tánh giảng thẳng diệu pháp Nhất Thừa.
Cuối kinh, Thiện Tài đi tham học khắp các thiện tri thức.
Sau khi chứng ngộ như chư Phật, Thiện Tài đồng tử được
Phổ Hiền Bồ Tát giảng cho nghe mười đại nguyện vương.
Ngài dạy Thiện Tài và khắp Hoa Nghiêm hải chúng hồi hướng
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới ngõ hầu được viên
mãn Phật Quả.
Trong
Quán kinh, phần nói về hạ phẩm hạ sanh, kẻ ngũ nghịch
-thập ác đủ các điều bất thiện, lúc lâm chung tướng
địa ngục hiện, có thiện tri thức dạy cho niệm Phật. Kẻ
ấy liền vâng lời dạy, xưng niệm Phật danh, chưa đầy mười
tiếng liền thấy Hóa Thân Phật đưa tay tiếp dẫn vãng sanh.
Kinh Ðại Tập dạy: “Ðời Mạt Pháp ức ức người tu hành,
hiếm có một người đắc đạo. Chỉ có nương vào Niệm
Phật mới thoát khỏi sanh tử”. Do đấy, ta biết rằng pháp
niệm Phật là đạo để thượng thánh hạ phàm cùng tu, là
pháp dù trí hay ngu đều hành được. Hạ thủ dễ, thành công
cao, dùng sức ít nhưng được hiệu quả nhanh. Do chuyên cậy
vào Phật lực nên lợi ích thù thắng, vượt trội những
giáo pháp thông thường. Người xưa nói: “Các môn khác học
đạo như kiến bò lên núi cao. Niệm Phật vãng sanh như căng
buồm thuận gió, nước xuôi”, thật rất khéo hình dung vậy!
* Ðại Giác Thế Tôn thương các chúng sanh mê trái tự tâm,
luân hồi lục đạo, trải bao kiếp dài lâu chưa thể thoát
ra. Do vậy, Ngài hưng khởi Vô Duyên Từ, vận lòng bi đồng
thể, thị hiện sanh trong thế gian, thành Ðẳng Chánh Giác,
tùy thuận cơ nghi nói rộng các pháp. Nói đại cương, gồm
có năm tông. Năm tông gì? Là Luật, là Giáo, là Thiền, là
Mật, là Tịnh.
Luật là thân Phật, Giáo là lời Phật, Thiền là tâm Phật.
Sở dĩ Phật được gọi là Phật chỉ là do ba pháp này mà
thôi. Sở dĩ đức Phật độ sanh cũng chỉ là do ba pháp này.
Nếu chúng sanh thật sự có thể nương theo Luật, Giáo, Thiền
tu trì thì ba nghiệp của chúng sanh sẽ chuyển thành ba nghiệp
của chư Phật. Ba nghiệp đã chuyển thì phiền não chính là
Bồ Ðề, sanh tử chính là Niết Bàn.
Lại
sợ túc nghiệp sâu nặng chẳng thể dễ chuyển nên dùng sức
đà-ra-ni tam mật gia trì để un đúc. Hoặc lại sợ rằng
căn khí kém cỏi, chưa được giải thoát, phải thọ sanh lần
nữa sẽ khó tránh khỏi mê lầm; vì thế đặc biệt mở ra
một môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, ngõ hầu
dù thánh hay phàm đều cùng vãng sanh Tây Phương ngay trong đời
này. Bậc thánh thì mau chứng Vô Thượng Bồ Ðề, kẻ phàm
thì vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử trói buộc. Do dựa vào từ
lực của Phật nên công đức, lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
Nên biết rằng: Luật là nền tảng của Giáo, Thiền, Tịnh,
Mật. Nếu chẳng nghiêm trì giới cấm sẽ chẳng thể đạt
được lợi ích chân thật nơi Giáo, Thiền, Tịnh, Mật. Như
lầu cao vạn trượng, nếu nền móng chẳng vững thì chưa
cất xong đã sụp. Tịnh là chỗ quy túc của Giáo, Thiền,
Tịnh, Mật, như trăm sông, vạn dòng đều đổ vào biển cả.
Bởi
lẽ, pháp môn Tịnh Ðộ là pháp môn để mười phương chư
Phật trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh, thành thỉ,
thành chung. Vì thế trong phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm,
Thiện Tài được ngài Phổ Hiền gia bị, khai thị, chứng
được Ðẳng Giác. Ðức Phổ Hiền lại khuyên Thiện Tài
nên phát mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới ngõ hầu mau viên mãn Phật Quả.
Ngài lại dùng pháp này phổ khuyến toàn bộ Hoa Tạng đại
chúng [nên tu tập như thế].
Trong
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, phần nói về Hạ Phẩm Hạ
Sanh, hạng người ngũ nghịch thập ác, sắp đọa địa ngục
A Tỳ, được thiện tri thức dạy cho niệm Phật, niệm mười
tiếng hoặc chỉ niệm mấy tiếng là mạng chung, cũng vẫn
được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Xem đó thì trên từ bậc Ðẳng Giác Bồ Tát chẳng thể ra
khỏi pháp này, dưới đến kẻ tội ngũ nghịch, thập ác
cũng có thể chứng nhập pháp này. Công đức, lợi ích của
pháp môn đây vượt trỗi hơn [các giáo pháp khác trong] cả
một đời giáo hóa của Ðức Phật. Bởi lẽ, các giáo pháp
khác toàn dạy dùng tự lực để thoát ly sanh tử. Kẻ chưa
đoạn Hoặc, nương vào từ lực của Phật liền có thể đới
nghiệp vãng sanh. Kẻ đã đoạn Hoặc nếu nương theo từ lực
của Phật sẽ chóng chứng được phẩm vị cao.
Vì
thế, đây là một pháp môn đặc biệt nhất trong cả một
đời giáo hóa của Ðức Phật, chẳng thể dùng những giáo
pháp thông thường để bàn luận pháp này được! Do đó,
các kinh Ðại Thừa như kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v..., các đại
Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền...; các đại tổ sư như Long
Thọ, Mã Minh... đều hiển thị, xiển dương, khen ngợi, chỉ
dạy, phổ khuyến vãng sanh.
* Ðức
Di Ðà, đức Thích Ca trong những kiếp xưa, phát đại thệ
nguyện độ thoát chúng sanh. Vị này thì thị hiện sanh trong
uế độ, dùng nhơ, dùng khổ chiết phục, hòng đưa chúng
sanh đi. Vị kia thì an cư Tịnh Ðộ, dùng tịnh, dùng vui nhiếp
thọ để lôi kéo, uốn nắn.
Ông
chỉ thấy ngu phu, ngu phụ cũng niệm Phật được bèn coi thường
Tịnh Ðộ; sao chẳng thấy trong phẩm Nhập Pháp Giới của
kinh Hoa Nghiêm, sau khi Thiện Tài đã chứng ngộ ngang với chư
Phật thì Phổ Hiền Bồ Tát bèn chỉ dạy phát khởi mười
đại nguyện vương, hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới hòng viên mãn Phật Quả? Huống hồ Bồ Tát
còn đem pháp này khuyên khắp cả Hoa Tạng hải chúng nữa?
Hoa Tạng Hải Chúng không một ai là phàm phu, nhị thừa, toàn
là Pháp Thân Ðại Sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị, cùng
phá vô minh, cùng chứng pháp tánh, đều có thể do bổn nguyện
hiện làm Phật trong thế giới không có Phật.
Hơn
nữa, trong biển Hoa Tạng, tịnh độ vô lượng, nhưng ai nấy
đều hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đủ biết là vãng sanh Cực Lạc chính là huyền môn để thoát
khổ, là đường tắt để thành Phật. Vì thế, từ xưa tới
nay, trong tất cả tùng lâm Thiền, Giáo, Luật, không đâu chẳng
sớm chiều trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương vậy.
* Hết
thảy chúng sanh vốn sẵn có trí huệ, đức tướng Như Lai.
Chỉ do mê chân theo vọng, quay lưng với Giác, xuôi theo trần
lao, nên toàn thể chuyển thành phiền não, ác nghiệp. Vì thế
phải trải bao kiếp dài lâu, luân hồi sanh tử. Như Lai thương
xót giảng ra các pháp khiến họ bỏ vọng quy chân, ngoảnh
mặt với trần lao, xuôi theo giác ngộ, khiến cho toàn thể
phiền não ác nghiệp lại trở thành trí huệ, đức tướng.
Từ đây cho đến cùng tột đời vị lai, an trụ trong cõi
Thường Tịch Quang. Khác nào nước đóng thành băng, băng lại
tan thành nước, thể vốn chẳng khác, nhưng công dụng thực
khác nhau một trời một vực.
Nhưng
căn cơ chúng sanh có Tiểu, có Ðại, mê có cạn, có sâu; Phật
tùy thuận cơ nghi của mỗi người khiến ai nấy đều được
lợi ích. Pháp môn Ngài nói ra mênh mông như Hằng sa, nhưng
cầu lấy pháp chí viên, chí đốn, tối diệu, tối huyền,
hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít được hiệu quả
nhanh, độ khắp ba căn, thống nhiếp các pháp, thượng thánh
hạ phàm cùng chung tu, đại cơ cùng tiểu căn cùng lãnh thọ
được thì không gì thù thắng, siêu tuyệt bằng pháp môn
Tịnh Ðộ. Vì sao nói thế?
Hết
thảy pháp môn tuy đốn - tiệm khác nhau, quyền - thật đều
khác, nhưng đều phải dụng công tu tập sâu xa mới hòng đoạn
Hoặc, chứng chân, xuất ly sanh tử, siêu phàm nhập thánh.
Ðó gọi là cậy vào tự lực, không nương dựa vào điều
gì khác cả. Nếu như còn chút Hoặc chưa tận thì vẫn bị
luân hồi như cũ. Ðấy đều là các pháp phải thấu đạt
lý rất sâu, chẳng dễ tu tập. Nếu chẳng phải hạng sẵn
có linh căn từ trước, đời này thật khó lòng chứng nhập.
Chỉ
có mình pháp môn Tịnh Ðộ, chẳng luận là phú quý hay bần
tiện, già, trẻ, gái, trai, trí, ngu, tăng, tục, sĩ, nông, công,
thương, hết thảy hạng người đều tu tập được là do
đại bi nguyện lực của đức A Di Ðà Phật nhiếp thủ chúng
sanh khổ não cõi Sa Bà. Vì thế, so với các pháp môn khác,
tu Tịnh Ðộ đắc quả dễ dàng hơn.
* Một
niệm tâm tánh của chúng sanh và một niệm tâm tánh của Phật
chẳng hai. Tuy còn mê chưa giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, gây
đủ các tội, Phật tánh sẵn có vẫn không bị tổn thất.
Ví như ma-ni bảo châu vứt nhà xí, sánh cùng phẩn uế trọn
chẳng khác gì. Kẻ ngu chẳng biết là báu, coi hệt như phẩn
uế. Người trí biết là diệu bảo vô giá, chẳng hiềm ô
uế, vào trong nhà xí nhặt lên, dùng đủ mọi cách gột rửa
cho sạch. Sau đó, treo lên tràng cao, liền phóng đại quang
minh, tùy lòng người muốn gì đều tuôn khắp các thứ báu.
Bởi đó kẻ ngu mới biết là quý báu.
Ðại
Giác Thế Tôn thấy các chúng sanh cũng giống như vậy: do hôn
mê, đảo, Hoặc, gây đủ ngũ nghịch, thập ác, vĩnh viễn
đọa trong đường ác tam đồ; Phật không hề có tâm niệm
vứt bỏ, luôn tìm kiếm cơ duyên, hiển nhiên hoặc ngầm gia
bị cho, vì họ thuyết pháp, mong họ giũ sạch Hoặc nghiệp
huyễn vọng, ngộ Phật tánh chân thường, mãi cho đến khi
viên chứng Vô Thượng Bồ Ðề mới thôi. Ðối với kẻ tội
tày đình, ác cùng cực cũng vẫn như vậy. Với kẻ tội nghiệp
ít, dạy cho tu Giới và Thiện. Với người có sức thiền
định sâu, không một ai là chẳng [được Phật hóa độ]
như vậy.
Phàm
là trong tam giới, người nhiếp được tâm, chế ngự được
các phiền hoặc, nhưng còn chấp thân, tình chủng vẫn còn;
một khi phước báo hết, sanh xuống cõi dưới, gặp cảnh,
đụng duyên, lại khởi Hoặc tạo nghiệp. Do nghiệp cảm khổ,
luân hồi lục đạo không lúc nào xong. Vì thế kinh Pháp Hoa
bảo: “Ba cõi không an giống như nhà cháy. Các khổ đầy
dẫy, thật đáng sợ hãi”. Nếu chẳng phải là kẻ nghiệp
tận, tình không, đoạn Hoặc chứng chân thì chẳng có hy vọng
thoát khỏi tam giới.
Nay
chỉ có mỗi pháp môn Tịnh Ðộ, cốt sao lòng tin chân thành,
nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật, liền có thể nương
Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Ðã được vãng sanh liền
nhập Phật cảnh giới, thọ dụng như Phật, phàm tình, thánh
kiến thứ gì cũng chẳng sanh. Thật là ngàn phần ổn thỏa,
vạn phần thích đáng, là pháp môn vạn phần chẳng thể bỏ
sót vậy. Nay đang lúc Mạt Pháp, bỏ pháp môn này thì không
còn có cách nào khác cả.
* Phật
quang chính là trí huệ có sẵn ngay trong tâm của phàm, thánh,
chúng sanh và Phật trong mười pháp giới. Tâm ấy thể lộ
quang minh chiếu suốt, trạm tịch, thường hằng, bất sanh,
bất diệt, vô thỉ, vô chung, theo chiều dọc tột cùng ba đời
nhưng ba đời bởi đó mà mất hết, theo chiều ngang trọn
khắp mười phương nhưng mười phương bởi đó tiêu sạch.
Nếu bảo là Không thì vạn đức cùng hiển bày trọn vẹn.
Nếu bảo là Có thì một trần chẳng lập. Chính là hết thảy
pháp nhưng lìa hết thảy tướng. Tại phàm chẳng giảm, nơi
thánh chẳng tăng. Dù có ngũ nhãn cũng chẳng thấy được,
có tứ biện tài cũng chẳng diễn tả được; nhưng pháp nào
cũng phải nương vào sức nó, chỗ nào cũng gặp nó cả.
Nhưng
do chúng sanh chưa triệt ngộ nên chẳng những không thọ dụng
được, trái lại còn dùng sức chẳng thể nghĩ bàn ấy để
khởi Hoặc tạo nghiệp. Do nghiệp cảm khổ đến nỗi sanh
tử, luân hồi không lúc nào xong, dùng chân tâm thường trụ
để lãnh huyễn báo sanh diệt. Ví như đang say thấy nhà cửa
quay cuồng, nhà thật sự chẳng quay; mê bảo là phương vị
di chuyển, phương vị thật sự chẳng dời động! Toàn là
do vọng nghiệp hóa hiện, trọn không có pháp nào để được
cả.
Vì
thế, Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn thị hiện thành Phật đạo,
lúc Ngài chứng ngộ triệt để Phật quang bèn than: “Lạ
thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có đủ Như Lai trí
huệ, đức tướng, chỉ do vọng tưởng, chấp trước nên
chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa được vọng tưởng thì
Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí sẽ được hiện
tiền”.
Kinh
Lăng Nghiêm chép: “Diệu tánh viên minh lìa các danh tướng,
vốn chẳng có thế giới, chúng sanh. Do vọng mà có sanh, do
sanh nên có diệt. Sanh diệt gọi là Vọng. Diệt vọng gọi
là Chân. Ðấy gọi là Như Lai Vô Thượng Bồ Ðề hay Ðại
Niết Bàn, hai danh hiệu sử dụng lẫn nhau”.
Ngài
Bàn Sơn nói: “Một mảnh trăng tâm lưỡi liềm, nuốt mất
ánh sáng muôn vật. Tâm chẳng chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng
còn. Tâm, cảnh cùng mất, còn là vật gì?”
Ngài
Quy Sơn nói: “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi căn - trần.
Thể lộ chân thường, chẳng phiền văn tự. Tâm tánh chẳng
nhiễm, vốn tự viên thành. Chỉ lìa vọng niệm tức Như Như
Phật”.
Do
đấy, biết rằng mọi ngôn giáo của Phật, Tổ, không lời
nào chẳng phải là nhằm chỉ bày tâm tánh sẵn có của chúng
sanh, khiến họ bỏ mê quy ngộ, phản bổn hoàn nguyên (trở
về nguồn gốc) đó thôi! Nhưng chúng sanh căn cơ có sâu cạn,
mê có dày, mỏng, nếu chẳng nhọc nhằn dùng mọi thứ ngôn
giáo để khai thị, chỉ dẫn, dùng các thứ pháp môn để
đối trị thì mỗi người nhờ đâu mới nhìn xuyên được
mây mê che lấp tánh không, thấy được vầng tâm nguyệt?
Bởi
thế, lúc Như Lai mới thành đạo, trước hết ngài diễn giảng
Ðại Hoa Nghiêm, luận thẳng vào đại pháp vượt ngoài cửu
giới, chẳng xen lẫn với pháp Quyền - Tiểu, hòng những hàng
đại cơ túc căn thành thục đều chứng Chân Thường, vượt
lên bến Giác. Lại do độn căn chúng sanh chưa được hưởng
lợi ích, Phật liền khéo dẫn dụ dần dần, tùy cơ diễn
thuyết: hoặc dùng Ngũ Giới, Thập Thiện để nhiếp phục
hai thừa nhân - thiên khiến họ gieo nhân Phật đạo thù thắng;
hoặc là dùng Tứ Ðế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Ðộ Vạn
Hạnh nhiếp phục ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát khiến
họ chứng được cận duyên của Phật đạo.
Bắt
đầu từ thời A Hàm cho đến thời Bát Nhã, không kinh nào
là chẳng tuyên thuyết thuận theo căn tánh của chúng sanh,
khiến họ lần lượt tiến dần trên đường về nhà. Bổn
hoài của Phật vẫn giữ kín chưa nói. Mãi đến thời Pháp
Hoa, Phật mới khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn (5),
nhân - thiên - quyền - tiểu đều là Nhất Thừa, khách làm
thuê thật là con ông trưởng giả! Ba căn đều được thọ
ký, diễn bày trọn vẹn bổn hoài xuất thế, cùng hội Hoa
Nghiêm ban sơ, đầu cuối chiếu rọi lẫn nhau. Có thể nói
là một đại sự nhân duyên đem giao phó trọn vẹn, không
còn giấu diếm chút gì.
Lại
vì chúng sanh đời Mạt căn cơ hèn kém, thật chẳng ai có
thể đoạn Hoặc chứng chân. Vì thế, Phật đặc biệt mở
ra một môn Tịnh Ðộ hòng thượng, trung, hạ căn, dù phàm
hay thánh cùng lìa khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc ngay trong đời
này, chứng dần dần vô lượng quang - thọ. Lòng thâm từ
đại bi ấy thật là chí cực không còn gì hơn được nữa!
* Phật
pháp rộng sâu như biển cả. Kẻ phàm phu sát đất nào lại
có thể một hơi hút sạch tận nguồn, cạn đáy được? Tuy
nhiên, nếu có thể sanh tâm chánh tín sẽ tự có thể tùy
theo sức mình được hưởng lợi ích. Ví như Tu La, hương
tượng và các loài muỗi mòng uống nước biển cả; loài
nào, loài nấy uống no mới thôi. Ðức Như Lai xuất thế tùy
thuận chúng sanh thuyết pháp khiến mỗi loài được lợi ích
cũng giống như thế. Chúng sanh đời mạt nghiệp chướng sâu
dày, thiện căn cạn mỏng, tâm trí hẹp kém, thọ mạng ngắn
ngủi. Ðã thế, tri thức ít ỏi, ma tà, ngoại đạo tung hoành.
Tu các pháp môn khác muốn ngay trong hiện đời đoạn Hoặc
chứng chân, liễu sanh thoát tử thật là một việc hy hữu
cực khó.
Chỉ
mỗi mình pháp Tịnh Ðộ chuyên cậy vào Phật lực. Thế nên
chẳng cần biết đến Ðoạn, Chứng, chỉ trọng Tín - Nguyện.
Nếu có đủ tín - nguyện, dẫu là hạng tội ác cực đại
sắp đọa A Tỳ địa ngục vẫn có thể nương vào sức thập
niệm, mau chóng được Phật từ tiếp dẫn vãng sanh. Ôi! Như
Lai đại từ phổ độ chẳng bỏ sót một ai. Chỉ mình pháp
này thật là tóm thâu trọn khắp.
* Pháp
môn Niệm Phật nguyên lai ra sao? Do một niệm tâm tánh của
chúng ta giống như hư không thường hằng, bất biến. Tuy thường
chẳng biến, nhưng lại niệm niệm tùy duyên. Nếu chẳng duyên
theo Phật giới sẽ duyên theo cửu giới. Chẳng duyên theo tam
thừa sẽ duyên theo lục đạo. Chẳng duyên theo nhân thiên,
ắt sẽ duyên theo tam đồ. Do duyên theo nhiễm - tịnh sai khác
thành ra quả báo sướng - khổ khác xa.
Dù
bản thể trọn chẳng biến đổi, nhưng Tướng và Dụng dĩ
nhiên khác biệt một trời, một vực! Ví như hư không, mặt
trời chiếu thì sáng, mây đùn thì tối. Tuy bản thể của
hư không chẳng vì mặt trời hay mây mà tăng, giảm, nhưng
tướng trạng hiện rõ hay ngăn che cố nhiên chẳng thể nói
là cá mè một lứa. Do nghĩa này, Như Lai dạy mọi chúng sanh
duyên niệm nơi Phật.
Vì
thế mới nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật
thì hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật
chẳng xa”.
Lại
nói: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân vào trong tâm tưởng
của hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc tâm các ngươi tưởng
Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ
đẹp phụ. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh
Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh”.
Hễ
duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm này là Phật.
Nếu duyên theo các giới chúng sanh thì tâm này làm chúng sanh,
tâm này là chúng sanh. Ðã hiểu vậy rồi mà vẫn chẳng niệm
Phật, thật là chuyện chưa từng có! Một pháp Niệm Phật
lấy vạn đức hồng danh của Như Lai làm duyên, mà vạn đức
hồng danh ấy chính là Vô Thượng Giác Ðạo do đức Như Lai
đã chứng khi Ngài đắc quả. Do lấy Quả Ðịa Giác (sự
giác ngộ khi đã chứng quả) làm Nhân Ðịa Tâm (cái tâm dùng
để tu nhân), cho nên Nhân trùm biển Quả, Quả thấu tột
nguồn Nhân. Như người nhiễm hương, thân có mùi thơm; như
tò vò nuôi nhện, lâu ngày hóa tò vò con (3). Thành Phật ngay
trong đời này, chuyển phàm thành thánh; công năng, lực dụng
của pháp này vượt xa hết thảy các pháp môn khác trong cả
một đời giáo hóa của Ðức Phật. Bởi lẽ, các pháp môn
khác đều cậy vào Tự Lực, phải đoạn Hoặc chứng chân
mới hòng liễu sanh thoát tử.
Pháp
môn Niệm Phật: Tự Lực và Phật Lực cả hai cùng đủ. Bởi
thế, người đã đoạn Hoặc Nghiệp sẽ mau chứng Pháp Thân.
Người đầy dẫy Hoặc Nghiệp thì đới nghiệp vãng sanh.
Pháp này cực kỳ bình thường, dù là kẻ ngu phu, ngu phụ
cũng được hưởng lợi ích; nhưng lại cực kỳ huyền diệu,
dẫu là Ðẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi
của pháp này. Vì thế, không một ai là chẳng tu được. Hạ
thủ dễ, thành công cao. Dùng sức ít, hiệu quả nhanh chóng.
Thật là pháp môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa
của Như Lai. Vì thế, chẳng thể dùng những giáo lý thông
thường để bình luận, phán đoán được! Mạt Pháp chúng
sanh phước mỏng, huệ cạn, chướng dày, nghiệp sâu, chẳng
tu pháp này, toan cậy Tự Lực để đoạn Hoặc chứng chân
hòng liễu sanh tử thật là vạn nan, vạn nan!
* Kể
từ Ðại Giáo truyền sang Ðông (ý nói: Phật giáo truyền
sang Trung Hoa), Lô Sơn hưng khởi Liên Xã, một xướng trăm
hòa, không đâu chẳng thuận theo. Nhưng những vị có đại
công làm rạng rỡ Tịnh tông thì đời Bắc Ngụy có ngài
Ðàm Loan. Ngài Ðàm Loan là bậc chẳng thể suy lường nổi.
Do có việc, ngài phải xuống Nam gặp Lương Vũ Ðế; sau trở
về Bắc, Vũ Ðế thường hướng về Bắc cúi lạy, nói: “Loan
Pháp Sư là bậc nhục thân Bồ Tát!”.
Ðời
Trần - Tùy có ngài Trí Giả. Ðời Ðường có ngài Ðạo Xước,
noi theo giáo pháp của ngài Ðàm Loan, chuyên tu Tịnh nghiệp,
cả đời giảng ba kinh Tịnh Ðộ hơn hai trăm lượt. Từ cửa
ngài Ðạo Xước, có ngài Thiện Ðạo. Cho đến các vị Thừa
Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Ðại Hạnh thì liên phong đã
thổi khắp cả trung ngoại (trong và ngoài Trung Hoa). Do vậy,
tri thức các tông không ai là chẳng dùng đạo này để mật
tu hoặc hiển hóa, tự lợi, lợi tha.
Với
nhà Thiền, nếu chỉ đề cao hướng thượng thì một pháp
chẳng lập, Phật còn chẳng thèm bận tâm tới, huống là
niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ? Ðấy là Chân Ðế: một pháp
đã mất thì hết thảy đều mất. Nói: “Thật Tế Lý Ðịa
chẳng nhận một mảy trần” là nói về Tánh thể. Nếu luận
đích xác về mặt tu trì thì lại chẳng bỏ một pháp nào,
chẳng làm việc thì chẳng ăn, huống hồ niệm Phật cầu
sanh Tịnh Ðộ! Ðấy là Tục Ðế: một pháp đã lập thì
hết thảy đều lập.
Nói:
“Trong cửa Phật sự chẳng bỏ một pháp” là nói về Tánh
sẵn đủ vậy. Nếu toan bỏ Tục Ðế để luận Chân Ðế
thì chẳng phải là Chân Ðế, khác nào bỏ tứ đại, ngũ
uẩn đi tìm tâm tánh. Thân đã chẳng còn, tâm gởi vào đâu?
Nếu dùng Tục Ðế để hiển Chân Ðế thì đích thực là
Chân Ðế. Như ở nơi mắt thì bảo là thấy, ở tai gọi là
nghe; tức là dùng tứ đại, ngũ uẩn để hiển tâm tánh.
Những
điều vừa nói trên đây chính là ý chỉ lớn lao của việc
chư Tổ ngầm tu Tịnh Ðộ; nhưng các ngài chẳng giảng rộng,
thuật rõ, nên nếu chẳng hiểu sâu xa ý Tổ sẽ chẳng biết
được. Cứ như quy chế kỳ đảo cho những vị Tăng mắc
bệnh và quy cách thiêu hóa, tống táng những vị đã mất
do ngài Bách Trượng xác lập, ta thấy đều quy về Tịnh Ðộ.
Có
vị nói: “Tu hành dùng niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng”.
Ngài Chân Hiệt Liễu bảo: “Pháp môn Tịnh Ðộ chính là
để tiếp dẫn căn khí thượng thượng, chỉ kiêm tiếp dẫn
căn khí trung hạ”. Ngài còn bảo: “Trong cả tông Tào Ðộng
hết thảy đều ngầm tu. Do vì tu Tịnh Ðộ thấy Phật giản
dị hơn Tông môn rất nhiều”. Ngài cũng bảo: “Dù Phật
hay Tổ, dù Giáo hay Thiền đều tu Tịnh Ðộ, đồng quy một
nguồn”. [Những lời ấy] đủ cho ta thấy được đại khái
[quan điểm của các thiền sư thời ấy].
Kịp
đến ngài Vĩnh Minh đại sư, bản thân là Cổ Phật, do nguyện
xuất thế mới lưu lại ngôn giáo rõ ràng, soạn sách lưu
truyền, hoằng dương. Ngài lại sợ người học chẳng rõ
đường nẻo, lẫn lộn lợi hại, nên cực lực xướng ra
bài kệ Tứ Liệu Giản, có thể nói là cương tông của cả
Ðại Tạng. Ngài làm bậc hướng đạo nơi đường rẽ, khiến
cho người học chỉ trong tám mươi chữ đốn ngộ yếu đạo
xuất sanh tử, chứng Niết Bàn. Tấm lòng đau đáu cứu thế
của ngài thật là thiên cổ chưa từng có.
Sau
đấy, các tông sư đều lưu lại ngôn giáo rõ ràng, chuyên
khen ngợi pháp này như các đại tổ sư: Trường Lô Trách,
Thiên Y Hoài, Viên Chiếu Bổn, Ðại Thông Bổn, Trung Phong Bổn,
Thiên Như Tắc, Sở Thạch Kỳ, Không Cốc Long v.v... tuy hoằng
dương Thiền Tông, vẫn chú trọng khen ngợi Tịnh Ðộ.
Ðến
khi Liên Trì đại sư tham học với Tiếu Nham Ðại Ngộ xong,
cân nhắc mọi bề, đề xướng: “Nếu Tịnh nghiệp đã thành,
Thiền Tông sẽ tự chứng. Giống như tắm nơi biển cả là
đã dùng nước của cả trăm sông. Thân đã đến điện Hàm
Nguyên, cần gì hỏi Trường An đâu nữa!” Sau đấy, các
đại tổ sư: Ngẫu Ích, Triệt Lưu, Tỉnh Am, Mộng Ðông v.v...
không vị nào chẳng xướng như vậy. Bởi lẽ, lập cách hóa
độ theo thời, pháp phải phù hợp căn cơ. Nếu không như
thế, chúng sanh chẳng thể đắc độ!
Từ
đấy về sau, Phật pháp suy dần, lại thêm quốc gia lắm biến
cố, pháp luân cơ hồ ngừng chuyển. Dù có bậc trí thức
ra sức chống chọi, nhưng chẳng đủ sức, đến nỗi chẳng
ai hỏi đến đạo này. Nếu có ai bàn đến pháp này, người
nghe cứ như đang bị làm phiền. May còn có một hai vị Tăng,
Tục đại tâm, in khắc lưu truyền, khiến cho những lời giáo
huấn của chư Tổ chẳng bị diệt, khiến cho người ta được
tạm nghe đến thì thật không còn gì may mắn hơn!
* Cho
đến khi đại giáo truyền sang Ðông, Viễn công đại sư (tổ
Huệ Viễn) bèn dùng pháp này lập tông. Lúc đầu, ngài muốn
cùng đồng học là Huệ Vĩnh qua La Phù, nhưng bị pháp sư
Ðạo An lưu lại. Ngài Huệ Vĩnh bèn một mình đi trước qua
Tầm Dương. Thứ sử Ðào Phạm ngưỡng mộ đạo phong của
Sư, bèn lập chùa Tây Lâm cho Ngài ở. Ðấy là năm Ðinh Sửu
niên hiệu Thái Nguyên thứ hai (377) đời Hiếu Vũ Ðế nhà
Ðông Tấn. Ðến năm Thái Nguyên thứ 9 (Giáp Thân - 384), Viễn
công mới đến Lô Sơn.
Thoạt
đầu, Ngài trụ tại Tây Lâm, nhưng bạn tu tìm đến quá đông,
chùa Tây Lâm chật hẹp không chứa nổi. Thứ sử Hoàn Y bèn
bắt đầu dựng chùa tại phía Ðông núi, đặt tên là Ðông
Lâm. Ðến ngày 28 tháng Bảy năm Canh Dần (390 - Thái Nguyên
thứ 15), Viễn công bèn cùng tăng, tục 123 người, kết Liên
Xã niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, sai ông Lưu Di Dân soạn
bài văn khắc vào đá để minh thệ.
Pháp
Sư Huệ Vĩnh cũng dự vào Liên Xã. Vĩnh công sống tại Tây
Lâm, trong gian nhà tranh biệt lập trên đảnh núi. Khi ấy có
người đi Thiền hành, đến bên thất ngài, liền ngửi thấy
mùi hương lạ, nhân đó đặt tên là Hương Cốc (hang thơm)
để người khác suy ra thì biết.
Lúc
Viễn công mới kết xã, có một trăm hai mươi ba người đều
là bậc long tượng trong pháp môn, Thái Sơn - Bắc Ðẩu trong
làng Nho. Do đạo phong của Viễn công lan tỏa nên đều rủ
nhau tìm tới. Nếu tính suốt cả hơn ba mươi năm trong đời
Ngài thì số người dự vào Liên Xã tu Tịnh nghiệp, được
tiếp dẫn vãng sanh rất nhiều không thể tính nổi.
Sau
này, các vị Ðàm Loan, Trí Giả, Ðạo Xước, Thiện Ðạo,
Thanh Lương, Vĩnh Minh... không vị nào chẳng như thế cả:
tự hành, dạy người. Ngài Ðàm Loan soạn Vãng Sanh Luận Chú
diệu tuyệt cổ kim. Ngài Trí Giả viết Thập Nghi Luận diễn
giải đến tột cùng lẽ được mất. Ngài soạn Quán Kinh
Sớ giảng sâu xa cách quán tưởng đúng đắn. Ngài Ðạo Xước
giảng ba kinh Tịnh Ðộ gần hai trăm lượt. Ngài Thiện Ðạo
sớ giải ba kinh Tịnh Ðộ, cực lực khuyên chuyên tu. Ngài
Thanh Lương sớ giải Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm phát huy
đạo rốt ráo thành Phật. Ngài Vĩnh Minh nói Tứ Liệu Giản
chỉ thẳng pháp liễu thoát ngay trong đời này.
Từ
xưa, các bậc cao nhân trong các tông, không vị nào lại chẳng
hướng lòng về Tịnh Ðộ, chỉ có các tông sư nhà Thiền
lại chuyên ngầm tu nên không xiển dương rõ rệt. Từ sau
khi ngài Vĩnh Minh xướng xuất, các vị mới lưu lại ngôn
giáo rõ rệt, thiết tha khuyên tu trì. Vì thế, bài Khuyến
Tu Tịnh Ðộ Văn của Tử Tâm Tân Thiền Sư có câu: “Di Ðà
rất dễ niệm, Tịnh Ðộ thật dễ sanh”. Còn viết: “Người
tham thiền rất nên niệm Phật. Nếu căn cơ độn, chỉ e đời
này chưa thể đại ngộ, phải nhờ Di Ðà nguyện lực tiếp
dẫn vãng sanh”. Ngài còn viết: “Nếu ông niệm Phật mà
chẳng sanh Tịnh Ðộ thì lão tăng sẽ đọa trong địa ngục
kéo lưỡi”.
Tác
phẩm Tịnh Ðộ Thuyết của Chân Hiết Liễu thiền sư có
câu: “Cả một tông Tào Ðộng thảy đều chú trọng ngầm
tu. Là vì sao vậy? Là vì pháp môn Niệm Phật là đường tắt
tu hành, thật dựa vào Ðại Tạng, tiếp dẫn căn khí thượng
thượng kiêm tiếp dẫn căn cơ trung, hạ”.
Ngài
còn viết: “Bậc đại tượng trong Tông môn đã ngộ pháp
bất hữu bất không bèn quyết chí khăng khăng nơi Tịnh nghiệp.
Do Tịnh nghiệp thấy được Phật giản dị hơn Tông môn rất
nhiều”.
Ngài
còn nói: “Dù Phật hay Tổ, dù Giáo hay Thiền đồng quy một
nguồn. Nhập được pháp môn này thì vô lượng pháp môn thảy
đều chứng nhập”.
Trường
Lô Trách thiền sư kết Liên Hoa Thắng Hội phổ khuyến đạo,
tục niệm Phật cầu vãng sanh, cảm hai vị Bồ Tát Phổ Hiền,
Phổ Huệ trong mộng đến xin dự hội. Sư liền để tên hai
vị Bồ Tát đứng đầu hội. Ðủ thấy pháp này khế lý,
khế cơ, chư thánh ngầm khen ngợi.
Trong
hai triều Tống Thái Tông và Tống Chân Tông, pháp sư Tỉnh
Thường trụ trì chùa Chiêu Khánh ở Chiết Giang, hâm mộ đạo
phong của tổ Lô Sơn Huệ Viễn, lập Tịnh Hạnh Xã. Ông Vương
Văn Chánh Công Ðán quy y đầu tiên, làm người chủ xướng.
Những bậc tể quan, châu mục, học sĩ, đại phu đều xưng
là đệ tử, tham dự Tịnh Hạnh Xã đến hơn một trăm hai
mươi người. Hàng sa môn tham dự đến hơn ngàn người, còn
hàng sĩ thứ chẳng thể tính nổi số.
Sau
lại có Lộ Công Văn Ngạn Bác làm quan suốt bốn triều Nhân
Tông, Anh Tông, Thần Tông, Triết Tông, xuất tướng nhập tướng
hơn năm mươi năm, quan phẩm đến chức Thái Sư, được phong
là Lộ Quốc Công. Ông bình sinh dốc lòng tin Phật pháp, tuổi
già càng tận lực hỗ trợ đạo pháp, chuyên niệm A Di Ðà
Phật. Sáng, chiều, đi, đứng, chưa từng thiếu lười. Ông
cùng với pháp sư Tịnh Nghiêm kết xã 10 vạn người ở kinh
đô để cầu sanh Tịnh Ðộ. Phần lớn các sĩ đại phu thời
ấy đều được ông giáo hóa. Ông có bài tụng như sau:
Tri
quân khí đảm đại như thiên,
Nguyện
kết Tây Phương thập vạn duyên,
Bất
vị tự thân cầu kế hoạt,
Ðại
gia tề thượng độ đầu thuyền.
(Tạm
dịch:
Biết
ngài lớn mật bằng trời,
Xin
cùng Tịnh Ðộ kết mười vạn duyên
Cứu
thân nào tính kế riêng,
Ai
ai đều đã bước lên thuyền rồi!)
Ông
thọ đến chín mươi hai tuổi, niệm Phật qua đời.
Ðời
Nguyên - Minh thì có các ngài Trung Phong, Thiên Như, Sở Thạch,
Diệu Hiệp. Mỗi vị để lại thi ca, hoặc tạo luận giải
thích, không vị nào là chẳng cực lực xiển dương pháp khế
lý, khế cơ, suốt trên, tột dưới này. Nhưng các vị Liên
Trì, U Khê, Ngẫu Ích là những người thành khẩn, thiết tha
tột bực nhất.
Ðời
Thanh có ngài Phạm Thiên Tư Tề, Hồng Loa Triệt Ngộ đều
tận lực hoằng dương đạo này. Các tác phẩm Khuyến Phát
Bồ Ðề Tâm Văn của ngài Phạm Thiên, Thị Chúng Pháp Ngữ
của ngài Hồng Loa có thể nói là những tác phẩm tiếp nối
chí nguyện cổ thánh, khai phát kẻ học hậu lai, kinh thiên
địa, động quỷ thần. Nếu người học thật có thể hành
theo đó thì không ai là chẳng giã biệt Sa Bà, cao đăng Cực
Lạc, làm đệ tử của Phật Di Ðà, làm bạn hiền trong Hải
Hội.
* Cho
đến khi nào căn cơ của chúng sanh hết sạch, đức Như Lai
mới nghỉ ngơi, nhưng lòng đại bi lợi sanh của Phật chẳng
bao giờ cùng tận. Do đó, các vị đại đệ tử phân phát
xá lợi, kết tập Kinh Tạng mong được lưu thông khắp mọi
cõi, ngõ hầu tất cả đều được Phật pháp thấm nhuần.
Mãi đến đời Ðông Hán, đại giáo mới bắt đầu truyền
đến [Trung Quốc]. Nhưng do phong khí chưa mở nên chỉ lưu
thông ở phương Bắc. Ðến đời Tôn Ngô, vào năm Xích Ô
thứ tư (241), tôn giả Khang Tăng Khải sang giáo hóa tại Kiến
Nghiệp, cảm được xá lợi của Như Lai giáng lâm khiến cho
Tôn Quyền sanh lòng tin tưởng tột bậc. Họ Tôn bèn sửa
chùa, dựng tháp để hoằng dương pháp hóa. Nam phương bắt
đầu được thọ hưởng giáo pháp từ đấy.
Ðến
đời Tấn, giáo pháp lan khắp các nước Cao Ly, Nhật Bản,
Miến Ðiện, An Nam, Tây Tạng, Mông Cổ. Từ đấy về sau,
ngày càng hưng thịnh. Ðến đời Ðường, các tông đã thành
lập đầy đủ, có thể nói là cực thịnh. Các tông Thiên
Thai, Hiền Thủ, Từ Ân hoằng Giáo. Lâm Tế, Tào Ðộng, Quy
Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn hoằng Tông. Nam Sơn thì nghiêm
tịnh Tỳ Ni (Luật). Liên Tông thì chuyên tu Tịnh Ðộ. Giống
như các bộ chia nhau coi sóc công việc, hệt như sáu căn hỗ
trợ nhau. Ấy là vì Giáo là lời Phật, Tông là tâm Phật,
Luật là hạnh Phật. Tâm, ngữ, hạnh ba thứ khó thể tách
rời, chỉ là ước trên phương diện chú trọng vào mặt nào
mà lập danh.
Chỉ
mỗi mình pháp Tịnh Ðộ mới nhìn thì là phương tiện để
phàm phu nhập đạo, nhưng thực ra nó là chỗ quy túc rốt
ráo của các tông. Bởi thế, kẻ sắp đọa A Tỳ được dự
vào phẩm chót, bậc đã chứng ngộ ngang với chư Phật vẫn
cầu vãng sanh. Lúc đức Như Lai còn tại thế, ngàn căn cơ
cùng được nuôi dưỡng, vạn mạch đều quy hướng. Phật
diệt độ rồi, bậc đại sĩ hoằng pháp ai nấy chỉ hoằng
dương một pháp để mong thâm nhập được một môn.
Chư
pháp dung thông, ví như ngàn hạt châu nơi cái lưới của Ðế
Thích, mỗi hạt châu chẳng lẫn vào nhau, nhưng ánh sáng mỗi
châu lại chiếu vào hàng ngàn hạt châu khác, ánh sáng của
ngàn hạt châu chiếu vào một hạt châu. Soi rọi lẫn nhau
nhưng chẳng tạp, riêng biệt nhưng chẳng thể phân khai. Kẻ
câu nệ vào Tích thì bảo: “Hết thảy pháp, mỗi pháp đều
sai khác”. Kẻ khéo hiểu sẽ nói: “Hết thảy pháp, các
pháp viên thông”. Như bốn cửa thành, gần cửa nào theo cửa
đó mà vào. Cửa tuy khác nhau, nhưng vào thành chẳng khác.
Nếu biết ý này thì chẳng phải chỉ có những giáo lý rất
sâu do chư Phật, chư Tổ đã nói mới là pháp để “quy chân
đạt bổn” (thấu hiểu một cách chân thật, thông đạt
tận nguồn cội), minh tâm kiến tánh, mà hết thảy Ấm, Nhập,
Xứ, Giới, Ðại v.v... trong khắp thế gian cũng đều là pháp
để quy chân đạt bổn, minh tâm kiến tánh! Mà mỗi một pháp
cũng chính là chân, là bổn, là tâm, là tánh!
Bởi
vậy, kinh Lăng Nghiêm coi Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ,
Thập Bát Giới, Thất Ðại đều là Như Lai Tạng Diệu Chân
Như Tánh. Vì thế bảo rằng: Hết thảy pháp không một pháp
nào chẳng phải là Phật pháp, cũng như không một ai chẳng
phải là Phật. Tiếc thay chúng sanh châu đeo trong vạt áo trọn
chẳng biết hay, ôm của báu đi ăn xin, chịu khốn cùng oan
uổng. Dùng tâm Như Lai tạo nghiệp chúng sanh, dùng pháp giải
thoát chịu khổ luân hồi, đáng thương lắm thay! Vì thế,
bậc đại sĩ hoằng pháp chẳng nề gian nan, cay đắng, dùng
đủ mọi phương tiện để khai ngộ, dẫn dắt khiến chúng
sanh hiểu đúng sự lý, nhân quả của mười pháp giới, triệt
ngộ tự tánh của tâm, ngõ hầu viên chứng rốt ráo.
Từ
Ðường, sang Tống, sang Nguyên, sang Minh, đến Thanh, cả một
ngàn năm, thanh giáo chẳng khuất lấp. Dẫu chẳng hưng thịnh
bằng thời Ðường, nhưng cũng có thể nói là suýt soát. Từ
đời Hàm Phong, Ðồng Trị trở đi, binh hỏa liên miên, đói
kém liên tiếp, cao nhân ngày một hiếm hoi, kẻ dung tục ngày
càng nhiều, quốc gia chẳng bận tâm đề xướng, tăng lữ
không sức chấn hưng. Do đó, hàng cao nhân tại gia vì chưa
từng nghiên cứu Phật pháp, chuộng lầm khuôn sáo cũ của
Âu - Hàn (Âu Dương Tu, Hàn Dũ), đến nỗi đạo pháp suy sụp
sát đất. Mãi đến cuối đời Thanh, học vấn phát triển,
những người thiên tư cao tìm đọc kinh Phật mới hay gốc
đạo chính là đây, mới bèn quyết chí nghiên cứu.
II.
KHUYÊN
TÍN HẠNH NGUYỆN NÊN CHÂN THÀNH, THA THIẾT
1.
Giảng
về lòng tin chân thành, tâm nguyện tha thiết
* Nói
đến Tín là nói phải tin Sa Bà thật là khổ, Cực Lạc thật
là vui. Sa Bà khổ vô lượng, vô biên. Nói chung, chẳng ngoài
tám nỗi khổ, tức là: sanh, già, bệnh, chết, ân ái biệt
ly, oán ghét nhưng vẫn phải gặp mặt, cầu chẳng được
thỏa ý, năm ấm lừng lẫy. Tám nỗi khổ này dù người cả
đời giàu sang tột bực hay kẻ nghèo đến nỗi phải ăn mày,
ai nấy đều có. Bảy thứ đầu là quả báo do đời quá khứ
cảm thành, cứ suy nghĩ kỹ ắt tự biết, chẳng cần phải
nói rõ. Nói rõ sẽ phải tốn nhiều giấy mực.
Nỗi
khổ thứ tám (năm ấm lẫy lừng) là do hiện tại khởi tâm
động niệm cũng như những hành động, nói năng. Ðây chính
là nhân thọ khổ trong đời sau. Nhân quả vấn vít lôi kéo
liên tục từ kiếp này sang kiếp khác chẳng thể giải thoát.
Ngũ
Ấm là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc chính là cái thân
do nghiệp báo cảm thành. Thọ, Tưởng, Hành, Thức là những
thứ do tâm huyễn vọng khởi lên khi tiếp xúc với cảnh.
Do các pháp thân tâm huyễn vọng này bèn đối với sáu trần
cảnh khởi Hoặc tạo nghiệp như lửa cháy hừng hực chẳng
thể dập tắt, nên bảo là “xí thạnh” (lừng lẫy).
Thêm
nữa, Ấm có nghĩa là ngăn che. Do năm pháp này ngăn che nên
chân tánh chẳng thể hiển hiện, như mây dầy che khuất mặt
trời. Tuy vầng thái dương rực rỡ trọn chẳng bị tổn giảm,
nhưng vì mây che lấp nên chẳng soi thấu được. Cũng giống
như thế, phàm phu chưa đoạn Hoặc nghiệp bị năm pháp này
che phủ, bầu trời chân tánh và vầng mặt trời trí huệ
chẳng thể hiển hiện được. Ðấy là nỗi khổ thứ tám,
chính là cội gốc của hết thảy các khổ.
Người
tu đạo sức Thiền Ðịnh sâu, đối với cảnh giới sáu trần
trọn không chấp trước, chẳng khởi oán ghét. Từ đây lại
gia công dụng hạnh, tiến lên chứng đắc Vô Sanh thì Hoặc
nghiệp hết sạch, cắt đứt căn bản sanh tử. Nhưng công
phu này thật chẳng dễ dàng gì, trong đời mạt thật khó
có ai đạt được. Vì thế phải chuyên tu Tịnh nghiệp cầu
sanh Cực Lạc, nương Phật từ lực vãng sanh Tây phương.
Ðã
được vãng sanh thì liên hoa hóa sanh, chẳng còn các nỗi khổ,
thuần mang hình dáng bé trai, thọ ngang hư không, thân không
tai biến. Những danh từ lão, khổ, bệnh v.v... còn chẳng nghe
đến, huống là thật có! Kề cận thánh chúng, chầu hầu
Di Ðà. Chim, nước, rừng cây đều diễn pháp âm. Tùy theo
căn tánh nghe xong liền chứng, người thân còn chẳng thấy,
huống là oán thù? Mong áo được áo, tưởng ăn liền ăn.
Lầu các, đền đài đều do bảy báu tạo thành, chẳng nhọc
sức người, chỉ là hóa hiện. Vậy thì bảy nỗi khổ cõi
Sa Bà biến thành bảy điều vui.
Nơi
thân có đại thần thông, có đại oai lực, chẳng rời chỗ
mình đang ở mà ngay trong một niệm ở khắp các thế giới
của chư Phật trong mười phương, làm các Phật sự, thượng
cầu, hạ hóa. Tâm có đại trí huệ, đại biện tài; nơi
một pháp biết Thật Tướng của hết thảy pháp. Tùy cơ thuyết
pháp chẳng hề lầm lạc. Tuy nói những lời thuộc về Thế
Ðế nhưng đều khế hợp diệu lý Thật Tướng. Không có
nỗi khổ Ngũ Ấm Xí Thạnh, hưởng niềm vui thân tâm tịch
diệt. Bởi thế kinh dạy: “Không có các nỗi khổ, chỉ hưởng
các sự vui, nên gọi là Cực Lạc”.
Sa
Bà khổ, khổ chẳng thể nói. Cực Lạc vui, vui chẳng gì ví
nổi. Tin sâu lời Phật, trọn chẳng nghi hoặc mới gọi là
Chân Tín. Ðừng nên dùng tri kiến ngoại đạo, phàm phu để
so lường lầm lạc, cho rằng mọi thứ trang nghiêm thắng diệu
chẳng thể nghĩ bàn của Tịnh Ðộ đều là chuyện ngụ ngôn,
là thí dụ, là tâm pháp, chẳng phải cảnh thật. Nếu có
các thứ tà kiến, hiểu biết sai lạc như vậy sẽ đánh mất
điều lợi ích thực sự là được vãng sanh Tịnh Ðộ. Cái
hại ấy rất lớn, chẳng thể chẳng biết.
* Ðã
biết Sa Bà là khổ, Cực Lạc là vui thì hãy nên phát thệ
nguyện thiết thực, nguyện lìa khổ Sa Bà, nguyện hưởng
vui Cực Lạc. Nguyện ấy phải tha thiết như bị rớt xuống
hầm xí, cầu được thoát ra gấp. Lại như bị giam cầm trong
ngục, đau đáu nghĩ đến quê nhà. Sức mình chẳng thể tự
thoát, ắt phải cầu người có đại thế lực cứu cho thoát
khỏi.
Hết
thảy chúng sanh trong thế giới Sa Bà đối với cảnh thuận
- nghịch, khởi tham, sân, si, tạo giết, trộm, dâm, ô uế
diệu giác minh tâm sẵn có. Ðấy chính là hầm xí không đáy.
Ðã tạo nghiệp ác, ắt phải chịu ác báo, qua nhiều kiếp
dài lâu luân hồi sáu nẻo. Ðấy chính là chốn lao ngục chẳng
hề phóng thích tội nhân. A Di Ðà Phật trong nhiều kiếp quá
khứ, phát bốn mươi tám nguyện độ thoát chúng sanh. Có một
nguyện là: “Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu ta, cầu sanh
về nước ta, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng sanh, chẳng
lấy Chánh Giác”. A Di Ðà Phật thệ nguyện độ sanh; nhưng
nếu chúng sanh chẳng cầu tiếp dẫn, Phật cũng chẳng biết
làm cách nào! Nếu như chí tâm xưng danh, thề cầu xuất ly
Sa Bà thì không một ai chẳng được Phật rủ lòng từ nhiếp
thọ. A Di Ðà Phật có đại thế lực, cứu được người
đang ở trong hầm phân không đáy, trong lao ngục chẳng hề
phóng thích, khiến họ thoát ngay những chốn ấy, đặt yên
họ nơi quê nhà sẵn có là cõi Cực Lạc, khiến họ nhập
cảnh giới Phật, được thọ dụng giống như Phật.
* Phật
Di Ðà vì chúng ta phát nguyện, lập hạnh để mong chúng ta
thành Phật. Chúng ta bội nghịch hạnh nguyện của đức Di
Ðà nên bao kiếp dài lâu ngụp lặn mãi trong lục đạo, vĩnh
viễn làm chúng sanh. Hiểu rõ Di Ðà chính là đức Phật ở
ngay trong tâm chúng ta, ta chính là chúng sanh trong tâm Phật
Di Ðà. Tâm đã là một, nhưng phàm và thánh cách nhau một
trời một vực là do ta cứ một bề mê muội, trái nghịch
nên mới đến nỗi thế. Tín tâm như vậy mới đáng là Chân
Tín. Dùng tín tâm này phát nguyện quyết định vãng sanh, hành
hạnh quyết định niệm Phật mới hòng thâm nhập Tịnh tông
pháp giới, thành tựu ngay trong một đời, một phen siêu thăng
liền vào thẳng ngay địa vị Như Lai như mẹ con gặp gỡ,
vui sướng vĩnh viễn thường hằng vậy!
* Trong
sự niệm Phật, điều trọng yếu nhất là để liễu sanh
thoát tử. Ðã vì liễu sanh tử thì với nỗi khổ sanh tử,
tự sanh tâm chán nhàm; với sự vui Tây phương, tự sanh tâm
ưa thích. Như thế thì hai pháp Tín - Nguyện sẽ được đầy
đủ, trọn vẹn ngay trong khoảnh khắc ấy. Rồi lại thêm
chí thành, khẩn thiết như con nhớ mẹ mà niệm thì Phật
lực, tự lực, tự tâm tín nguyện công đức lực, cả ba
pháp cùng hiển hiện trọn vẹn, khác nào mặt trời rực rỡ
trên không. Dù cho mây đùn, băng đóng tầng tầng, không lâu
cũng sẽ tan hết cả.
* Hãy
thử hỏi: Ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm. Chẳng
khẩn thiết thì có đạt được như thế chăng? Không Tín
- Nguyện có đạt được như thế chăng?
* Phàm
là bọn hữu tình chúng ta hễ nghe nói đến pháp môn Tịnh
Ðộ thì phải tin Sa Bà cực khổ, Tây Phương cực vui, phải
tin rằng từ nhiều đời đến nay, nghiệp chướng sâu nặng,
chẳng cậy vào Phật lực, khó thể xuất ly. Phải nên tin
rằng cầu được vãng sanh thì ngay trong đời này sẽ được
vãng sanh. Phải tin niệm Phật nhất định được Ngài từ
bi nhiếp thọ. Dùng một lòng kiên định này, nguyện lìa Sa
Bà như kẻ tù muốn thoát khỏi lao ngục, trọn chẳng có tâm
lưu luyến. Nguyện sanh Tây Phương như lữ khách mong quay về
cố hương, chẳng hề có ý niệm do dự. Từ đó, tùy phận,
tùy lực, chí tâm trì niệm thánh hiệu A Di Ðà Phật, chẳng
luận là nói năng, im lặng, động, tịnh, đi, đứng, nằm,
ngồi, đón tiếp khách khứa, mặc áo, ăn cơm, giữ sao Phật
hiệu chẳng lìa tâm, tâm chẳng lìa Phật.
* Kinh
A Di Ðà nói: “Từ đây đi qua Tây Phương khỏi mười vạn
ức cõi có thế giới tên là Cực Lạc. Cõi ấy có Phật hiệu
A Di Ðà, nay hiện đang thuyết pháp”. Kinh còn dạy: “Cõi
ấy vì sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh cõi ấy không có các
điều khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên gọi là Cực
Lạc”. Không có các điều khổ, chỉ hưởng những điều
vui là do được trang nghiêm bởi phước đức, trí huệ, thần
thông đạo lực của A Di Ðà Phật.
Thế
giới chúng ta đang sống có đủ cả ba khổ, tám khổ, vô
biên các nỗi khổ, hoàn toàn chẳng vui. Vì thế gọi là Sa
Bà. Tiếng Phạn Sa Bà, Hán dịch là Kham Nhẫn, ý nói: chúng
sanh trong thế giới này có thể kham chịu được các thứ
khổ. Trong thế giới này chẳng phải là không có điều vui,
nhưng những điều được coi là vui ấy lại đều là khổ.
Chúng sanh mê muội lại coi đấy là vui, như mê rượu đắm
sắc, săn bắn, bẫy rập, có gì là vui? Một lũ ngu phu đắm
đuối chẳng bỏ được, thích đến quên mệt, thật đáng
xót thương!
Những
điều dù thật sự là vui cũng khó lâu bền. Chẳng hạn như
cha mẹ cùng còn sống, anh em không xảy ra chuyện gì; chuyện
như vậy làm sao thường hằng được mãi? Vì thế cảnh vui
vừa thoáng qua, tâm buồn liền tiếp theo ngay, nên bảo là
“trọn chẳng có gì vui”, chẳng cần phải bàn nữa! Sự
khổ trong thế giới chẳng thể nói hết, nhưng có thể dùng
tam khổ, bát khổ để bao quát không sót.
Ba
khổ là:
- Khổ
Khổ.
- Vui
(lạc) là Hoại Khổ.
- Chẳng
khổ chẳng vui là Hành Khổ.
1)
Khổ Khổ là nói thân tâm ngũ ấm này thể tánh bức bách
nên gọi là Khổ. Lại còn phải luôn chịu đựng các nỗi
khổ: sanh, già, bệnh, chết v.v... nên gọi là Khổ Khổ.
2)
Hoại Khổ là bất cứ sự gì trong thế gian cũng chẳng được
bền lâu. Mặt trời giữa Ngọ phải chếch về Tây. Trăng
đầy rồi khuyết, đạo trời còn phải như thế, huống là
việc người? Cảnh vui vừa chớm, cảnh khổ đã đến ngay.
Nỗi khổ ấy chẳng diễn tả được nổi! Vì thế gọi Lạc
là Hoại Khổ.
3)
Hành Khổ là tuy chẳng khổ, chẳng vui, tựa hồ phải chăng,
nhưng tánh nó dời đổi, có gì là thường trụ? Vì thế gọi
là Hành Khổ.
Nêu
lên ba thứ khổ ấy (Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ) thì
không có nỗi khổ nào chẳng gộp trong ấy. Ý nghĩa tám khổ
trong các sách đã thuật rõ. Nếu biết cõi này là là khổ
thì tâm chán nhàm Sa Bà sẽ bừng bừng phát sanh. Nếu biết
cõi kia là vui thì ý niệm ưa thích, mong cầu Cực Lạc sẽ
hừng hực phát khởi. Do vậy, chẳng làm các điều ác, vâng
làm các điều lành để bồi đắp nền tảng. Lại dùng tâm
chí thành, khẩn thiết trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương
thì thoát được cõi Sa Bà này, sanh về cõi Cực Lạc kia,
làm con đích thực của đấng Di Ðà, làm bạn hiền trong Hải
Hội vậy!
*
Xem
cõi Sa Bà này nhơ xấu còn hơn nhà xí. Tin cõi Cực Lạc kia
chính là quê nhà mình vốn sẵn có. Chẳng cầu phước lạc
cõi trời, cõi người trong đời này hay đời sau, chỉ nguyện
khi báo chung mạng tận, được Phật tiếp dẫn vãng sanh. Sáng
tối như thế, niệm đâu chú trọng đấy, niệm cực công
thuần, cảm ứng đạo giao, lúc lâm chung, ắt được thỏa
nguyện. Ðã sanh về Tịnh Ðộ sẽ đốn ngộ Vô Sanh, nhìn
lại phú quý thế gian khác nào ánh dương diệm (7), hoa đốm
trên không, thật đúng là nhà ngục, biển độc mà thôi!
2.
Khuyên
trừ nghi sanh tín
* Pháp môn Tịnh Ðộ nếu tin cho tới, còn gì tốt lành hơn!
Nếu trí mình chưa quyết thì phải nên tin tưởng lời chân
thành của chư Phật, chư Tổ, trọn chẳng được một niệm
nghi tâm. Nghi sẽ chẳng tương ứng chư Phật, lâm chung nhất
định khó thể cảm thông. Cổ nhân bảo: “Pháp môn Tịnh
Ðộ chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu trọn vẹn.
Hàng Ðăng Ðịa Bồ Tát (8) chẳng biết được ít phần”.
Hàng Ðăng Ðịa Ðại Sĩ còn chẳng thể biết hết, huống
hồ là hạng phàm phu lè tè sát đất lại vọng sanh ức đoán
ư?
* Nếu tâm sanh tử thật sự thiết tha, tin tới nơi, tâm chẳng
sanh một niệm ngờ vực thì dù chưa ra khỏi Sa Bà, đã chẳng
còn là khách trọ lâu ngày trong chốn Sa Bà; chưa sanh Cực
Lạc, nhưng đã là khách quý cõi Cực Lạc. Thấy người hiền
mong mình được bằng, gặp điều nhân đừng để lỡ. Há
có nên do dự, lười nhác, sao nhãng, để đến nỗi một phen
lầm lỡ khiến mình bị lỡ làng mãi mãi ư? Là trang nam nhi
có huyết tánh, dứt khoát chẳng chịu sống làm thây đi, thịt
chạy, chết mục nát như cỏ cây. Hãy gắng lên, cố lên!
* Trong các pháp môn khác, tiểu pháp thì đại căn chẳng cần
tu, đại pháp thì tiểu căn chẳng tu nổi. Chỉ có một pháp
Tịnh Ðộ này thích ứng khắp ba căn, gồm thâu lợi độn.
Trên thì Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, không vị
nào vượt ra ngoài pháp này; dưới thì ngũ nghịch, thập ác,
chủng tánh A Tỳ cũng được dự vào. Nếu Như Lai chẳng mở
ra pháp này thì chúng sanh đời mạt muốn liễu sanh thoát tử
ngay trong đời này tuyệt chẳng có chút hy vọng gì!
Tuy
pháp môn này rộng lớn như thế, nhưng cách tu lại cực giản
dị. Bởi lẽ đó, chẳng phải là người kiếp trước có
thiện căn Tịnh Ðộ sẽ khó thể tin chắc chẳng nghi. Chẳng
riêng phàm phu không tin, phần nhiều hàng Nhị Thừa cũng nghi.
Chẳng những Nhị Thừa chẳng tin, quyền vị Bồ Tát vẫn
có người còn nghi. Chỉ có các vị Bồ Tát Ðại Thừa địa
vị cao sâu mới có thể triệt để tin tưởng không nghi.
Người
sanh lòng tin sâu xa nơi pháp này, dù là phàm phu đầy dẫy
triền phược nhưng chủng tánh đã vượt qua Nhị Thừa, khác
nào Thái Tử ngã xuống đất vẫn quý hơn quần thần. Tuy
tài đức chưa lập, nhưng cậy vào thế lực của cha, cảm
được báo như thế. Người tu Tịnh Ðộ cũng giống như vậy.
Do dùng tín nguyện trì danh hiệu Phật nên có thể đem tâm
phàm phu gieo vào biển giác của Phật. Bởi thế, ngầm được
Phật trí, ám hợp đạo mầu.
Muốn
bàn về pháp tu trong Tịnh Ðộ mà chẳng nói lược qua sự
khó khăn của các pháp cậy vào tự lực để liễu thoát và
sự dễ dàng của pháp cậy vào Phật lực này thì [người
nghe] nếu chẳng nghi pháp cũng sẽ nghi chính mình. Nếu tâm
có chút mảy may nào nghi ngờ, sẽ do nghi thành chướng; đừng
nói là không tu, dù tu cũng chẳng được lợi ích thật sự.
Do vậy phải nói rằng Tín là một pháp chẳng thể không gấp
gáp giảng giải để mong gây dựng sâu xa đến cùng cực vậy!
* Pháp môn Tịnh Ðộ do Phật Thích Ca và Di Ðà kiến lập,
do Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, do Mã Minh, Long Thọ hoằng dương,
do các vị Khuông Lư (Huệ Viễn), Thiên Thai (Trí Khải), Thanh
Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích phát huy, xướng suất
để khuyên khắp dù phàm hay thánh, dù ngu hay trí. Các vị
Bồ Tát đại sĩ ấy trăm ngàn năm trước, sớm đã vì ta
nghiên cứu khắp các giáo pháp trong Ðại Tạng, đặc biệt
chọn ra pháp chẳng cần đoạn Hoặc mà được dự ngôi Bổ
Xứ này, ngay trong một đời này quyết định xổ lồng, chí
viên, chí đốn, cực kỳ giản dị, thống nhiếp Thiền - Giáo
- Luật, lại vượt xa Thiền Giáo Luật cho dù căn cơ cạn
hay sâu, dù Quyền hay Thật. Thật là một diệu pháp thật
đặc biệt, siêu việt lẽ thường.
Chúng ta chẳng tin tưởng Phật, Tổ là những bực thầy từ
xưa bằng những vị tri thức cận thời hay sao? Kinh Hoa Nghiêm
là vua trong Tam Tạng, cuối kinh quy kết chú trọng nguyện vương.
Hoa Tạng hải chúng đều đã chứng Pháp Thân, đều cầu vãng
sanh hòng viên mãn Phật Quả. Bọn ta là hạng gì mà lại dám
chẳng bắt chước theo? Hãy bỏ tâm cuồng ấy, tận lực thực
hành đạo này. Công đức lợi ích sẽ tự chứng biết. Nào
đợi phải tham học khắp cả rồi mới thành hạng biết pháp
ư?
* Luận bàn xác thực thì pháp môn Ðại Thừa, pháp nào cũng
viên diệu. Nhưng căn cơ có sống, chín, duyên có cạn, sâu.
Bởi thế, xét về mặt lợi ích thì có “khó được” và
“dễ được”. Tổ Thiện Ðạo, hóa thân của Phật Di Ðà,
đã dạy chuyên tu. Ngài chỉ e hành nhân tâm chí bất định,
bị các thầy trong những pháp môn khác lung lạc, nên bảo:
Cho dù thánh nhân Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả, Tứ Quả, và
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Ðẳng Giác Bồ
Tát cho đến thập phương chư Phật tận hư không, trọn pháp
giới hiện thân, phóng quang, khuyên ta bỏ pháp Tịnh Ðộ,
giảng cho pháp thù thắng nhiệm mầu nào khác, ta cũng chẳng
chịu nhận. Thưa là do lúc ban đầu đã phát tâm chuyên tu
Tịnh Ðộ, chẳng dám trái nghịch nguyện ấy.
Hòa
Thượng Thiện Ðạo đã sớm thấy người đời sau đứng
núi này trông núi nọ, chẳng có kiến giải nhất định. Vì
thế Ngài nói như vậy để kiệt lực xoay chuyển cái tâm
ngấm nghé cuồng vọng, ưa ham cầu. Ai đã biết ngài Thiện
Ðạo là thầy mà lại chẳng tuân theo? Thế mà người tuân
theo lời Ngài thật chẳng được mấy! Có phải là do túc
thế ác nghiệp sai khiến đến nỗi ngoảnh mặt bỏ lỡ pháp
khế lý, khế cơ bậc nhất này, không Thiền, không Tịnh Ðộ,
nghiệp thức mang mang, làm kẻ không cội rễ trong nẻo luân
hồi đó chăng? Áo não thay!
* Tu hành Tịnh Ðộ có cái lẽ quyết định chẳng nghi. Chẳng
cần phải hỏi han người khác hiệu nghiệm hay không! Dù khắp
cả người đời không ai được hiệu nghiệm, cũng chẳng
sanh nhất niệm nghi tâm, cứ lấy lời lẽ chân thành của
Phật, Tổ làm căn cứ. Nếu hỏi người khác về sự hiệu
nghiệm, chính là tin Phật chưa đến mức cùng cực, tâm vẫn
còn so đo, chưa thể trọn vẹn mọi sự. Nam nhi anh liệt quyết
chẳng đến nỗi bỏ lời Phật để tin lời người, trong
tâm không chủ ý, chỉ muốn cậy vào lời người khác khoe
hiệu nghiệm để hướng dẫn tiền đồ của chính mình. Thật
chẳng đáng buồn ư?
* Do tập khí, mỗi chúng sanh có điểm riêng thiên trọng. Kẻ
ngu thiên về cái tầm thường, hèn kém. Người trí thiên về
điều cao thượng. Nếu kẻ ngu cam phận ngu, chẳng tạp dụng
tâm, chuyên tu Tịnh nghiệp sẽ ngay trong đời này quyết định
được vãng sanh. Như vậy dù ngu nhưng chẳng ai bằng được.
Nếu là người trí, nhưng chẳng tự đắc, vẫn từ Sự hướng
đến pháp môn cậy vào Phật từ lực, cầu sanh Tịnh Ðộ
thì có thể nói là bậc đại trí. Còn như cậy vào kiến
giải của mình, miệt thị Tịnh Ðộ; sẽ thấy kẻ đó từ
kiếp này đến kiếp khác, trầm luân ác đạo, muốn học
đòi theo kiểu ngu phu ngày hôm nay cũng trọn chẳng thể được!
Những người thông hiểu Tánh Tướng Tông Giáo, tôi thực
sự ái mộ, nhưng chẳng dám học theo. Vì sao? Là vì dây ngắn
chẳng kéo được nước sâu, túi nhỏ chẳng thể chứa vật
lớn. Tôi chẳng bảo là hết thảy mọi người đều nên phỏng
theo việc tôi làm. Nhưng nếu cũng hèn kém như tôi mà lại
toan học theo hành vi của bậc đại thông gia, toan thẳng vào
diệu ngộ tự tâm, vẫy vùng biển giáo, tôi chỉ e chẳng
thành bậc đại thông gia, trái lại còn bị hàng ngu phu, ngu
phụ già giặn, chắc thật niệm vãng sanh Tây Phương thương
xót! Há có phải là biến khéo thành vụng to, toan bay lên không
nhưng lại bị rớt xuống vực sâu thăm thẳm đó chăng? Một
lời đủ để bao quát hết: Hãy tự xét kỹ căn cơ của chính
mình mà thôi!
* Ông La Ðài Sơn chẳng được vãng sanh, lại bị đọa vào
nơi phước báo là do tập khí văn chương quá nặng. Tập khí
ấy đã nặng, dù nói là niệm Phật, nhưng thực ra niệm niệm
đặt nơi công phu sáng tác văn chương. Công phu niệm Phật
chỉ là chống đỡ mặt ngoài đó thôi. Ðấy là bệnh chung
của văn nhân, chẳng phải chỉ riêng Ðài Sơn thôi đâu! Phật
bảo thế trí biện