Mục Lục
Lời
Tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Lời
Nhà Xuất Bản
Phần
Một: Hơi Thở Ý Thức, Hơi Thở Mầu Nhiệm
Hai
Muơi Bốn Giờ Tinh khôi
Cây
Bồ Công Anh Mỉm Cười Cho Tôi
Hơi
Thở Ý Thức
Hiện
Tại: Giây Phút Nhiệm Mầu
Bớt
Suy Nghĩ Lại
Chánh
Niệm Trong Từng Giây Phút
Ngồi
Đâu Cũng Là Thiền
Thiền
Tọa
Chuông
Chánh Niệm
Chiếc
Bánh Thời Thơ Ấu
Thiền
Quít
Bí
Tích Thánh Thể
Ăn
Cơm Chánh Niệm
Rửa
Chén
Thiền
Hành
Thiền
Điện Thoại
Thiền
Lái Xe
Quay
Về Một Mối
Cắt
Cỏ và Thở
Vô
Nguyện
Đời
Sống là Một Tác Phẩm Nghệ Thuật
Hy
Vọng Trong Chờ Đợi Đôi Khi là Một Trở Ngại
Bông
Hoa và Nụ Cười Ngài Ca Diếp
Phòng
Thở
Cuộc
Hành Trình Vẫn Tiếp Tục
Phần
Hai: Chuyển Hóa và Trị Liệu
Giòng
Sông Cảm Thọ
Không
Cắt Bỏ
Chuyển
Hóa Những Cảm thọ
Ý
Thức Về Cái Giận
Đập
Gối Để Trút Cái Giận
Đi
Thiền Hành khi Đang Giận
Luộc
Khoai
Nguồn
Gốc Của Cái Giận
Nội
Kết
Sống
Chung Hòa Hợp
Chân
Như
Bàn
Tay Của Bạn
Cha
Mẹ
Giữ
Gìn và Nuôi Dưỡng Những Hạt Giống Tốt
Tiếp
Xúc Với Những Gì Mầu Nhiệm
Trách
Móc Không Giúp Được Gì
Hiểu
Và Thương
Tình
Thương Chân Thật
Từ
Bi Quán
Thiền
Ôm
Đầu
Tư vào Tăng Thân
Cháu
Chắt Là Niềm Vui Của Ông Bà
Tăng
Thân Tu Học
Đạo
Phật Đi Vào Cuộc Đời
Phần
Ba: An Lạc Từng Bước Chân
Tương
Tức
Hoa
và Rác
Vững
Chãi Thảnh Thơi
Tinh
Thần Bất Nhị
Chữa
Trị Vết Thương Chiến Tranh
Trái
Tim Mặt Trời
Nhìn
Sâu
Nghệ
Thuật Sống Tỉnh Thức
Nuôi
Dưỡng Chánh Niệm
Bức
Thư Tình Cho Vị Dân Biểu
Bổn
Phận Người Công Dân
Bảo
Vệ Thân Tâm Là Giữ Gìn Môi sinh Một Cách Rộng Lớn
Nguồn
Gốc Chiến Tranh
Câu
Chuyện Chiếc Lá
Chúng
Ta Cùng mộtThân Thể
Hòa
Giải
Hãy
Gọi Đúng Tên Tôi
Khổ
Đau Là Chất Liệu Nuôi Dưỡng Tình Thương
Tình
Thương Qua Hành Động
Câu
Chuyện Của Dòng Sông
Xây
Dựng Thế Kỷ thứ Hai Mươi Mốt
Lời
tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Muốn
đem lại hòa bình cho thế giới , trước hết mỗi người
chúng ta phải tự chuyển hoá chính mình. Đó là con đường
cam go nhưng không còn con đường nào khác. Đi tới đâu tôi
cũng nhắc nhở điều đó và tôi sung sướng khi thấy nhiều
người từ nhiều tầng lớp cũng đồng quan điểm này. An
Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà , từ , bi, hỉ
, xả là nền tảng . Có từ, bi, hỉ , xả , thì đi đâu ta
cũng gieo rắc tình thương và sự hoà hợp, đi dâu ta cũng
đem an lạc, hạnh phúc đến cho mọi người và mọi lòai.
Cuốn
sách An Lạc Từng Bước Chân của thầy Nhất Hạnh là kim
chỉ nam cho mỗi chúng ta trên con đường cam go ấy. Thầy dạy
phép quán niệm hơi thở để giúp ta giữ sự an lạc của
thân tâm và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa sự
an lạc của thân tâm ta và của thế giới . Đây là một cuốn
sách giá trị, có thể thay đổi được hoàn cảnh xã hội
và đời sống một con người.
Lời
giới thiệu
Của
nhà Xuất bản PARALLAX , Hoa Kỳ
Sáng
nay khi đi thiền hành qua khu rừng sồi xanh tươi, tôi thấy
mặt trời đỏ chói hiện ra ở chân trời. Quang cảnh rực
rở làm tôi nhớ lại chuyến đi Ấn Độ với thầy Nhất
Hạnh hai năm về trước. Trên con đường đi đến một cái
đồng gần Bồ Đề Đạo Tràng, cả phái đoàn dừng lại
nghỉ chân trước một cánh đồng lúa và cùng nhau hát bài
ca này:
Từng
bước chân thảnh thơi
Mặt
trời như trái tim đỏ tươi
Từng
đóa hoa mỉm cười
Ruộng
đồng xanh mát như biển khơi
Cùng
gió ca lời chim
Từng
bước chân thảnh thơi
Đường
dài em bước như dạo chơi
Bài
ca gói ghém được những gì thầy muốn nhắn nhủ chúng ta:
an lạc không phải là một cái gì ở ngoài chúng ta mà chúng
ta phải tìm kiếm hay mong đạt tới. An lạc có ngay trong mỗi
bước chân thong thả, trong từng hơi thở, trong đời sống
có chánh niệm hàng ngày . Bước được những bước thảnh
thơi, an lạc, ta sẻ thấy hoa nở dưới từng bước chân đi.
Hoa mỉm cười với ta và chúc ta đi thong dong trên đường
dài.
Tôi
gặp Thầy Nhất Hạnh năm 1982 khi thầy đến New York dự hội
nghị Tôn Trọng và Bảo Vệ Sự Sống .Tôi là một trong những
người Mỹ theo đạo Bụt mà thầy được gặp trước tiên.
Khi gặp tôi, Thầy đặc biệt chú ý đến tôi , có lẽ vì
cách tôi ăn mặc và hành xử giống như mấy chú tiểu ở
Việt Nam mà Thầy có dịp dạy dỗ cách đây hai mươi năm.
Năm 1983, Thầy tôi là Richard Baker Roshi mời Thầy đến viếng
thiền viện của chúng tôi ở San Francisco, Thầy vui vẻ nhận
lời. Một giai đoạn mới bắt đầu trong đời sống của
vị tu sỉ hiền hòa mà Roshi gọi là " điểm gặp gở kỳ
lạ giữa một đám mây, một con ốc sên và một cái đầu
máy xe lửa . Thầy đúng là một bậc chân tu".
Thầy
Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại miền Trung Việt Nam và đi tu lúc
Thầy mười sáu tuổi. Tám năm sau. Thầy cùng một số thầy
khác thành lập chùa Ấn Quang mà sau này là Phật Học Viện
Nam việt.
Thầy
đến Hoa Kỳ năm 1961 để học và dạy về Các Tôn Giáo tại
đại học Columbia và Princeton. Năm 1963, các thầy ở Việt
Nam đánh điện gọi Thầy về để cùng xây dựng giáo hội
và tranh đấu chống chiến tranh leo thang sau khi chính phủ Diệm
bị lật đổ. Thầy trở về nước và hướng dẫn một phong
trào bất bạo động theo đường lối của Gandhi.
Năm
1964. Thầy cùng một số giáo sư và sinh viên đại học thành
lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà báo chí Mỹ gọi
là " một tiểu đội quân Hòa Bình" Trường tổ chức
một nhóm người trẻ đi về miền quê để xây dựng bệnh
xá, trường học và làm lại những ngôi làng bị bom tàn phá.
Lúc bây giờ đã có trên 10.000 người gồm tu sĩ và giới
trẻ làm việc cho chương trình này. Cũng trong năm ấy. Thầy
thành lập nhà xuất bản Lá Bối, một trong những nhà xuất
bản có tiếng tăm ở Việt Nam , và làm chủ bút tuần báo
Hải Triều Âm, cơ quan thông tin của Giáo Hội Phật Giáo .
Thầy viết bài và viết sách kêu gọi hai bên lâm chiến hòa
giải, vì vậy mà sách của Thầy bị cả hai phe kiểm duyệt
gắt gao.
Năm
1966, theo lời khuyên của các thầy lớn, Thầy rời Việt Nam
đi Hoa Kỳ theo lời mời của hội Fellowship of Reconciliation
và trường đại học Cornell. Tờ New York số ngày 25 tháng
6- 1966 viết: "Thầy Nhất hạnh đến Hoa Kỳ để nói lên tiếng
nói đau thương của số đông những người dân bị đàn áp
ở Việt Nam". Chương trình của Thầy dầy đặc những cuộc
gặp gỡ và những buổi nói chuyện kêu gọi hòa bình, chấm
dứt chiến tranh.. Tiến sĩ Martin Luther King, Jr rất cảm kích
tấm lòng nhân đạo tha thiết của Thầy. Ông đã đề nghị
trao giải Nobel Hòa Bình năm 1967 cho Thầy Nhất Hạnh. Ông nói:
"Tôi thấy không còn ai xứng đáng hơn ". Ông đã dự cuộc
hộp báo chống chiến tranh với Thầy Nhất Hạnh tại Chicago.
Khi
Thomas Merton, nhà thần học Công Giáo nổi tiếng, gặp Thầy
Nhất Hạnh tại tu viện của ông ở Gethsemani, Kentucky, ông
bảo với các học trò của ông Chỉ nhìn cách Thầy ấy mở
cửa và đi vào phòng cũng đủ biết Thầy là một bậc chân
tu. Merton sau đó còn viết thêm một bài báo lấy tựa đề
"Thầy Nhất hạnh là người anh em của tôi " . Cho nên mọi
lời kêu gọi hòa bình của Thầy Nhất Hạnh điều được
ông hưởng ứng và ủng hộ hết mình. Sau khi gặp một số
các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ như Fullbright. Kennedy và bộ trưởng
Quốc Phòng Mc Namara. Thầy bay qua Âu Châu . Nơi đây Thầy cũng
được một số yếu nhân trong chính phủ và Toà Thánh La Mã
tiếp kiến . Thầy đã hai lần yết kiến Hồng Y Giáo Chủ
Paul V1, đề nghị những người Thiên Chúa giáo và Phật giáo
hợp tác với nhau để đem lại hòa bình cho Việt Nam .
Năm
1969, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất yêu cầu Thầy
hướng dẫn phái đoàn hòa bình của Phật Giáo bên cạnh hội
nghị Paris.Sau khi bản hòa ước được ký năm 1973, Thầy không
được phép trở về nước. Thầy bắt đầu cuộc đời lưu
vong , thành lập Phương Vân Am cách Paris một ngàn dậm về
hướng Tây Nam. Năm 1976-1977. Thầy tổ chức vượt biển cứu
trợ những thuyền nhân ở Vịnh Thái Lan, nhưng chính quyền
Thái Lan gây nhiều khó khăn không cho Thầy tiếp tục công
viện này. Thầy lui về trú ẩn ở Phương Vân Am, tiếp tục
viết sách , đọc sách, đóng sách, làm vườn và lâu lâu tiếp
bạn bè.
Năm
1982, Thầy sang thăm New York. Qua năm sau. Thầy thành lập Làng
Hồng, một trung tâm tu học gần Bordeaux, một vùng êm đềm
với vườn nho, ruộng bắp và những cánh đồng hoa hướng
dương bao quanh. Bắt đầu từ năm 1983, năm nào Thầy cũng
sang Hoa Kỳ để hướng dẫn những khóa tu học và đi giảng
thuyết về sự thực tập chánh niệm để có an lạc ngay trong
giờ phút hiện tại.
Mặc
dầu Thầy không được về nước, nhưng sách của Thầy được
chuyền tay chép và đọc bởi nhiều tầng lớp ở Việt Nam
. Thầy cũng có mặt khắp nơi trên thế giới , qua những người
học trò và cộng sự viên của Thầy ngày đêm làm việc để
giúp đở những trẻ em và người lớn đói khổ ở Việt
Nam , Thầy cũng tìm mọi cách để khuyến khích giúp đở giới
văn nhân, nghệ sĩ cũng như những nhà tu bị chính quyền cộng
sản giam giữ. Cả những người tỵ nạn tại các trại tập
trung ở Thái Lan , Mã Lai và Hồng Kông cũng được giúp đỡ
về vật chất lẫn tinh thần .
Bây
giờ trông Thầy đã lớn tuổi nhưng trông thầy vẫn còn trẻ
lắm. Hiện nay Thầy là một trong những vị thiền sư lớn
của thời đại. Giữa một xã hội vật chất hối hả và
đầy danh vọng, sự tự tại và tươi mát của Thầy trong
cách đi đứng và dạy người khác đi đứng khiến Thầy được
tiếp đón như một vị Giác Ngộ. Bằng những phép giản dị
và sáng sủa, Thầy đưa ra những phép thực tập sâu sắc
thực chứng từ sự hành trì và phụng sự không mệt mỏi
của Thầy.
Thầy
dạy phép quan niệm hơi thở vì phương pháp này có khả năng
giúp ta nuôi dưỡng chánh niệm trong mỗi sinh hoạt của đời
sống hàng ngày. Thầy nói thiền quán không phải chỉ được
thực tập trong thiền đường. Việc rửa nồi hay rửa chén
bát cũng thiêng liêng như khi mình thấp hương lạy Bụt. Thầy
cũng dạy cách mỉm cười để làm thư dãn những bắp thịt
trên mặt cũng như của toàn thân. "Cười là tập yoga cho cái
miệng", Thầy nói: "Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy
là khi ta thực tập tỏ một niềm vui thì những bắp thịt
trên mặt liền tác động trên hệ thần kinh của ta khiến
ta tự nhiên thấy vui thật sự. Thầy luôn nhắc nhở rằng
an lạc và hạnh phúc là một cái gì có thật. Chỉ cần biết
ngưng cái đầu óc chạy hoang và trở về với giây phút hiện
tại, thấy rõ bầu trời xanh, nụ cười của em bé và cảnh
mặt trời lặn là chúng ta đã có an lạc và hạnh phúc, biết
mỉm cười, thì mọi cười trong gia đình, trong xã hội cũng
được thừa hưỡng".
Cuốn
An Lạc Từng Bước Chân là một tiếng chuông tỉnh thức,
nhắc nhở ta đừng vì đời sống bận rộn mà đánh mất
sự an lạc; nếu ta có chánh niệm thì ngay giữa những phiền
toái và bực bội, ta vẫn có thể thong dong. Tiếng điện thoại
reo ầm ĩ, chén bát dơ, những nạn kẹt xe hay đèn đỏ , tất
cả đều là những người bạn giúp ta trên con đường thực
tập chánh niệm, giúp ta quay trở về với con người thật
của ta. Muốn có an lạc, hạnh phúc, ta sẽ có ngay khi ta thở
từng hơi thở ý thức, khi ta nở nụ cười chánh niệm .
Cuốn
An Lạc Từng Bước Chân được góp nhặt từ những bài viết,
những buổi nói chuyện của Thầy với công chúng hay với
một nhóm bạn nhỏ trong đó có Therese Fitzgerald, Michael Katz,
Jane Hirshfield, tôi và nhiều bạn khác đã và đang làm việc
chặt chẽ với Thầy.
Cuốn
sách này là bức thông điệp đầy đủ và rỏ ràng nhất
của một vị Bồ Tát đã suốt đời hiến mình cho sự nghiệp
giác ngộ. Lời Thầy dạy vừa thực tiển vừa súc tích.Mong
rằng các độc giả sẽ hài lòng cũng như chúng tôi rất sung
sướng khi xuất bản nó.
Arnold
Kotler
Xóm
Thượng tháng 6, 1990
WP:
Mỹ Hạnh