Phần
ba
AN
LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN
TƯƠNG
TỨC
Nếu
bạn có tâm hồn thi sĩ khi nhìn vào một tờ giấy, bạn sẽ
thấy một đám mây bay trong ấy. Không có mây thì không có
mưa, không có mưa thì cây cối không mọc được, và nếu
không có cây thì làm sao có tờ giấy này trong tay bạn? Cho
nên tờ giấy có mặt là vì đám mây có mặt, không có mây
thì không có tờ giấy.
Đám
mây và tờ giấy phải nương vào nhau để hiện hữu, cái
đó gọi là tương tức.
Chữ
này tiếng Anh tôi dịch là inter-being, chưa có trong tự điển.
Nếu
nhìn tờ giấy kỹ hơn, sâu hơn, ta cũng sẽ thấy ánh nắng
mặt trời lấp lánh trong đó. Bởi vì nếu không có ánh mặt
trời, làm sao rừng cây mọc được. Dĩ nhiên không có gì
mọc được nếu không có mặt trời. Cho nên trong tờ giấy
cũng có ánh mặt trời. Tờ giấy và ánh mặt trời phải nương
vào nhau mà có. Nếu ta tiếp tục quán chiếu, ta sẽ thấy
bác tiều phu đang cưa cây và đem cây đến nhà máy để cây
được chế biến làm ra bột giấy. Ta cũng sẽ thấy đồng
lúa vì nếu không có lúa bác tiều phu đâu có cơm để ăn
mỗi ngày. Rồi ta thấy cả hai người đã sinh ra bác tiều
phu. Do đó ta thấy nếu không có tất cả các điều kiện
kể trên, tờ giấy không thể nào có mặt được. Nhìn sâu
hơn nữa ta cũng sẽ thấy ta có mặt trong tờ giấy. Cái này
không có gì khó hiểu, vì khi ta nhìn tờ giấy, tờ giấy là
một phần của trí giác ta. Cho nên bạn và tôi đều có mặt
trong tờ giấy. Có thể nói rằng tờ giấy chứa đựng tất
cả, không có gì mà không có mặt trong tờ giấy; không gian
, thời gian, đất nước, khóang chất, ánh mặt trời, đám
mây, dòng sông, hơi nóng.... Mọi thứ nương nhau mà có trong
tờ giấy này. Mọi thứ có mặt trong nhau, vì vậy tôi mới
dịch tương tức là "inter- be". Giả sử ta gửi trả ánh nắng
lại cho mặt trời thì tờ giấy này còn hiện hữu được
không? Không có ánh mặt trời, không còn gì có thể tồn tại.
Cũng vậy, nếu ta gửi trả bác tiều phu lại cho bố mẹ bác
thì tờ giấy này cũng không thể có mặt. Vì vậy tờ giấy
này được làm ra bởi những yếu tố " không phải giấy ",
như là tâm thức của ta, bác tiều phu, ánh nắng mặt trời....,
tờ giấy không thể nào được tạo tác ra. Do đó, tờ giấy
tuy rất mỏng nhưng chứa đựng cả vũ trụ trong lòng nó.
HOA
VÀ RÁC
Nhơ
và sạch, thơm và hôi, đó là ý niệm của tâm thức ta. Một
bông hồng mới được cắt vào chưng trong bình, còn xinh tươi
và thơm ngát. Trái lại thùng rác thì đầy vật xú uế và
hôi hám. Nhìn như vậy là nhìn bề ngoài. Nhìn sâu hơn ta sẽ
thấy rằng chỉ trong vòng năm ngày đóa hoa thơm sẽ biến
thành rác. Ta chẳng cần phải đợi đến năm ngày mới thấy
rõ điều đó. Ngay bây giờ nếu ta biết nhìn đóa hoa cho kỹ
và sâu là ta có thể thấy được sự có mặt của rác. Khi
ta nhìn thùng rác cũng vậy, ta biết chỉ trong vòng vài tháng
những vật hôi hám kia sẽ biến thành rau cải tươi ngon hay
thành những đoá hồng xinh đẹp. Nếu bạn là một người
làm vườn giỏi, bạn sẽ thấy hoa trong rác và rác trong hoa
không có gì khó khăn. Rác và hoa nương nhau mà có. Trong hoa
có rác, trong rác có hoa, không thể có cái này mà không có
cái kia. Không có cái nào quý hơn cái nào, cái nào cũng quý
như nhau. Hiểu được lý tương tức của vạn sự, vạn vật,
ta không còn bị dính mắc bởi tâm phân biệt, không còn dơ
và sạch, đẹp và xấu.
Tại
nhiều thành phố lớn ở Phi, Thái Lan, Việt Nam...có nhiều
em bé mới mười bốn, mười lăm tuổi đã phải làm nghề
mãi dâm. Các em rất đau khổ. Các em đâu muốn làm nghề này
nhưng vì gia đình nghèo , các em bỏ quê lên thành phố để
tìm việc và bị người ta gạt gẫm, dụ dỗ. Người ta nói
làm nghề này các em kiếm được nhiều tiền hơn là bán hàng
rong. Một khi sập bẫy, các em khó thoát ra được và từ đó
các em mang mặc cảm tội lỗi, thấy mình không còn được
trong sạnh như bao cô gái nhà lành khác. Và các em thấy cuộc
đời là địa ngục.
Nếu
các em đó biết nhìn sâu vào con người mình, nhìn sâu vào
hoàn cảnh xã hội, các em sẽ thấy rằng sở dĩ các em như
thế này là vì người khác như thế kia, không thể nào khác
hơn. Tại sao cô con gái nhà lành phải hãnh diện vì tư cách
"con gái nhà lành " của mình? Cô được gọi là nhà lành vì
nếp sống của gia đình cô như vậy, cô được nuôi nấng
,dạy dỗ, bảo bọc, có đủ điều kiện để làm cô gái
nhà lành. Còn người làm mãi dâm đã không có những điều
kiện trên, nên họ trở thành như vậy. Có gì phải ngạc
nhiên hay mang mặc cảm? Chúng ta không ai thật sự có bàn tay
sạch hết. Cũng không ai có quyền nói rằng " tôi không chịu
trách nhiệm". Em bé mãi dâm ở thành phố Manila, Sài Gòn hay
New-York, sở dĩ như vậy là tại vì chúng ta đã quá bận rộn,
quá ích kỷ, không có thì giờ ngó ngàng tới em. Nhìn sâu
vào đời sống của em ta thấy rõ đời sống của những người
không phải là mãi dâm, những người được gọi là "lương
thiện". Và nhìn sâu vào đời sống của những người không
phải là mãi dâm , vào cách chúng ta sống hằng ngày, ta thấy
được em bé mãi dâm. Cái này làm ra cái kia, không thể có
cái này mà không có cái kia.
Nhìn
vào cái giàu, cái nghèo cũng vậy. Nước này sung túc thì nước
kia đói khổ. Cái này có vì cái kia có. Cái sung túc được
làm bởi những cái không sung túc. Cái nghèo khổ được làm
bởi những cái không nghèo khổ. Đó là sự thật về bất
công xã hội. Giống y như khi ta nhìn vào tờ giấy vậy. Cho
nên ta phải cẩn thận, đừng để mình bị giam hãm trong ý
niệm. Ta phải thấu triệt lý tương tức, mọi thứ có mặt
trong nhau. Ta có mặt trong mọt thứ. Cho nên ta chịu trách nhiệm
về mọi việc xảy ra quanh ta. Nếu em bé mãi dâm hiểu được
lý tương tức , em sẽ trút được gánh nặng của mặc cảm
trong em. Em mang nổi đau nhức của cả thế gian chứ không
phải chỉ của riêng em. Và muốn giúp em thật sự, ta phải
thấy được chính ta trong em và em trong ta, lúc đó ta mới
có thể chia sớt với em tất cả gian truân của cuộc đời
này.
VỮNG
CHÃI THẢNH THƠI
Nếu
ta thấy được trái đất là thân thể ta thì ta sẽ cảm nhận
được biết bao nổi đớn đau của trái đất. Chiến tranh,
đói khổ, sự ô nhiễm, cộng thêm những mưu đồ kinh tế
và chính trị đã gây tàn phá khắp nơi. Hàng ngày có biết
bao trẻ em bị mù vì bị thiếu dinh dưỡng, bàn tay của những
em bé khác sờ soạng trong những đóng rác cao ngất để mong
tìm được chút thức ăn thừa. Người lớn thì chết mòn
mỏi trong ngục tù vì tranh đấu chống áp bức. Những dòng
sông thì cạn khô và không khí càng lúc càng ngột ngạt khó
thở. Mặc dù Nga và Mỹ đã bắt tay thân thiện nhưng mỗi
bên vẫn còn đủ bom nguyên tử để làm nổ tung quả đất
này. Có nhiều người hiểu được hoàn cảnh bi thương của
thế giới và lòng họ rất đau xót.
Họ
biết cần phải làm gì và họ xông pha trong mọi địa hạt
hầu mong đem lại một chút nào thay đổi. Nhưng sau một thời
gian nổ lực làm việc, họ có thể thấm mệt và chán nản
nếu họ không đủ niềm tin và sức mạnh bên trong. Sức mạnh
thật sự không nằm ở chổ ta có nhiều quyền hành, tiền
bạc hay khí giới, sức mạnh thật sự nằm sâu trong lòng
ta khi ta có đủ trầm tĩnh và vững chãi. Nếu hằng ngày biết
sống đời sống có chánh niệm, ta sẽ nuôi dưỡng được
sự vững chãi đó. Thực tập thiền trong mọi sinh hoạt của
đời sống giúp ta có đủ sáng suốt , ý chí và kiên nhẫn
để đối diện với mọi thăng trầm. Ta trở nên những khí
cụ trung kiên cho việc xây dựng hòa bình an lạc. Tôi đã
thấy được nhiều người rất dũng cảm trong nhiều đoàn
thể nhân bản và tôn giáo, suốt đời phụng sự tận tụy
để bảo vệ những người cô thế nghèo khổ. Họ cực lực
chống chiến tranh leo thang và nạn kỳ thị chủng tộc. Đi
tới đâu họ cũng gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống
hiểu biết và thương yêu.
TINH
THẦN BẤT NHỊ
Khi
muốn hiểu một điều gì, ta không thể đứng ngoài và quan
sát nó. Ta phải đi sâu và hòa nhập làm một với nó, ta mới
có thể hiểu được. Khi muốn hiểu một người, ta phải
ở trong da thịt họ, đau nỗi đau của họ, và vui niềm vui
của họ. Động từ " hiểu " tiếng Pháp gọi là "comprendre";
"com" có nghĩa cùng với và "prendre" có nghĩa là nắm lấy.
"Comprendre" là nắm lấy vật đó và nhập làm một với nó.
Không có cách nào khác hơn. Nhà Phật gọi đó là không hai,
bất nhị.
Cách
đây mười lăm năm, tôi giúp một số bạn lo phụ trách các
trẻ em mồ côi ở Việt nam. Các tác viên xã hội ở Việt
nam gửi hình của các em qua, ghi rõ tên tuổi, năm sinh và hoàn
cảnh của mỗi em. Công việc của tôi là dịch những tờ
đơn nầy ra tiếng Pháp để tìm người bảo trợ cho các em.
Người bảo trợ sẽ gửi cho gia đình các em một số tiền
để các em có tiền ăn và đi học. Chúng tôi có hằng chục
người tình nguyện dịch những cái đơn đó ra tiếng nước
ngoài. Mỗi ngày tôi dịch khoảng ba mươi tờ đơn. Tôi không
đọc tờ đơn mà để thời gian ngắm hình của em bé. Chỉ
trong chừng ba mươi giây là tôi trở thành em bé. Rồi tôi
cầm bút lên và dịch tờ đơn qua một tờ giấy khác. Sau
đó tôi mới nhận thấy là không phải tôi dịch tờ đơn
mà chính em bé và tôi cùng làm công việc đó. Nhìn hình của
em bé, lòng tôi tràn đầy cảm thương và tôi trở thành em
bé đó lúc nào không hay và cả hai chúng tôi cùng nhau dịch
tờ đơn. Điều đó rất tự nhiên. Ta không cần phải thiền
tập lâu năm mới có thể làm việc đó. Ta chỉ cần nhìn
cho kỹ, làm cho con người của mình có mặt đích thị, thì
em bé liền có mặt trong ta và ta có mặt trong em bé .
CHỮA
TRỊ NHỮNG VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH
Trong
chiến tranh Việt Nam, giả dụ người Mỹ thấu hiểu được
nguyên tắc bất nhị thì cả hai nước đã không mang nhiều
vết thương trầm trọng, những vết thương khó chữa lành
dù chiến tranh đã chấm dứt. Đây là một bài học cho mọi
người.
Năm
ngoái chúng tôi có tổ chức một khóa tu cho cựu chiến binh
ở Mỹ. Không khí khóa tu khá ngột ngạt vì nhiều người
vẫn còn bị thương tích chiến tranh làm đau nhức không nguôi.
Một người thố lộ là chỉ trong một trận đánh mà đơn
vị anh ta đã mất bốn trăm mười bảy người và trong suốt
mười lăm năm trời anh ta vẫn mang xác chết của bốn trăm
mười bảy người lính này trên vai. Một người khác tâm
sự là vì quá căm hận khi thấy chiến hữu mình bị giết
chết nên anh ta đã gài bẫy giết năm trẻ em trong một làng
nọ.
Từ
đó anh sống trong một cơn ác mộng dài , không bao giờ còn
đủ cam đảm để ngồi gần bất cứ một em bé nào. Bao nhiêu
đau thương đã được kể ra và chính niềm đau đã không
cho anh ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của cuộc
sống.
Vì
vậy mà chúng ta cần giúp nhau để học tiếp xúc. Trong khóa
tu, một cựu chiến binh nói đây là lần đầu tiên trong mười
lăm năm qua, anh cảm thấy an toàn giữa một đám đông. Trong
suốt mười lăm năm, anh không nuốt được một thức ăn nào
cứng. Anh chỉ ăn trái cây và uống nước trái cây. Anh hoàn
toàn sống tách biệt với thế giới bên ngoài. Nhưng chỉ
sau ba ngày dự khóa tu, anh đã có thể bắt đầu liên lạc
và nói chuyện với người khác. Những người như anh rất
cần sự thương yêu giúp đở của ta để có thể tiếp xúc
lại với cuộc sống. Trong khóa tu, chúng tôi cùng tập thở
và tập cười, nhắc nhở nhau trở về với đóa hoa trong tâm
ta, trở về với trời xanh, với cây lá để che chở nuôi
nấng ta.
Chúng
tôi cùng ăn cơm, cùng uống trà trong im lặng, thưởng thức
từng ly trà, từng món ăn như thưởng thức cái bánh in thời
thơ ấu. Chúng tôi bước từng bước chậm rãi thong thả,
ý thức được sự tiếp xúc của bàn chân với mặt đất,
của buồng phổi với không khí trong lành. Chúng tôi cùng ngồi
với nhau, thở với nhau, đi với nhau và cùng chia sẽ học
tập về những kinh nghiệm đau thương trong chiến tranh Việt
Nam. Bài học ở Việt Nam phải giúp chúng ta sáng mắt.
Chúng
ta phải thấy được rằng chúng ta là của nhau, không ai có
thể chia cắt thực tại thành những mảnh rời rạc. Sự an
lạc của cái này là sự an lạc của cái kia, chúng ta không
thể làm việc một cách riêng rẽ, chúng ta phải ngồi lại
với nhau và cùng chung xây dựng lại. Phe nào cũng là phe của
ta, không có phe nào ta cần phải loại bỏ. Các cựu chiến
binh đã lấy kinh nghiệm đau thương của mình làm áng sáng
chiếu sâu vào cội rễ của chiến tranh và soi đường dẫn
tới hòa bình.
TRÁI
TIM MẶT TRỜI
Ta
biết rằng trái tim ta ngừng đập, dòng sinh mạng của ta sẽ
ngừng, cho nên ta rất trân quí trái tim ta. Ngoài trái tim nầy
còn có một trái tim khác cũng rất cần cho sự sống của
ta mà lại thường ít để ý đến. Đó là mặt trời, trái
tim thứ hai của ta, trái tim đem lại sự sống cho muôn loài.
Không có mặt trời thì không có gì có thể tồn tại, kể
cả cây cỏ. Nếu cây cỏ không sống được thì làm sao lòai
người và cầm thú có thể sống được. Mọi loài đều phải
tiêu thụ ánh mặt trời để sống.
Thân
thể ta sống được không phải chỉ nhờ có trái tim, nó cũng
cần được nuôi dưỡng bởi không khí. Nếu bầu khí quyển
biến mất thì còn đâu mạng sống của ta. Cho nên không có
một cái gì trong vũ trụ mà không liên hệ đến ta, dù là
một hạt sỏi bé tí nằm sâu dưới lòng biển hay là sự
di chuyển của ánh sáng dù đã một triệu năm qua. Nhà thơ
Walt Whitman đã nói :" Chiếc lá mỏng manh kia là gì nếu không
là sự vận chuyển đã hằng triệu năm của các vì sao...".
Đây
không phải là triết lý suông mà là một cái nhìn thấu triệt
và sâu thẳm.
Thật
vậy, ông đã nói rằng :" Tôi rộng lớn, tôi vĩ đại lắm.
Tôi chứa đựng cả toàn thể vũ trụ".
NHÌN
SÂU
Muốn
thấy rõ mọi việc, ta cần phải nhìn sâu vào lòng sự vật.
Khi ta bơi lội trong dòng sông trong mát, ta phải có khả năng
thấy mình là dòng sông.
Một
ngày nọ, tôi ngồi ăn cơm với một vài người bạn tại
đại học Boston ở Mỹ.
Trước
mắt tôi là dòng sông Charles thơ mộng. Dòng sông thơ mộng
vì có thể vì tôi xa quê hương quá lâu và tôi vốn rất thích
sông. Tôi rời các bạn và tìm lối xuống sông rửa mặt và
ngâm chân như tôi vẫn thường làm ở quê nhà. Khi tôi trở
lại chỗ ngồi, một người bạn giáo sư nói:" Thầy làm vậy
nguy hiểm lắm đó. Thầy có súc miệng dưới sông không? "
Tôi nói có và vị giáo sư khuyên tôi nên đi chích thuốc ngừa
ngay. Tôi hơi bàng hoàng. Tôi không ngờ các dòng sông bên này
bị ô nhiễm nặng nề đến như vậy. Những dòng sông như
vậy gọi là những dòng sông chết. Ở Việt Nam, đôi khi sông
có nhiều bùn và rác nhưng không đến nỗi không uống được.
Tôi nghe nói ở Đức, sông Rhine có nhiều hóa chất đến nỗi
đem rửa phim cũng được. Nếu ta còn muốn tắm gội trong
dòng sông, uống nước dòng sông hay đi dạo chơi ven sông thì
ta phải biết nhìn dòng sông như là nhìn chính ta để cảm
được những vui buồn, thất vọng của nó. Nếu ta không cảm
được những gì sông núi cảm, những gì cỏ cây hay chim muông
cầm thú dần dần sẽ chết và lúc đó ta sẽ mất hết an
lạc.
Nếu
ta là một người thích leo núi, thích cảnh đồng quê, thích
rừng cây xanh mát, ta phải biết rằng rừng cây là buồng
phổi thứ hai của ta, cũng như mặt trời là trái tim thứ
hai của ta vậy. Nếu không hiểu vậy, ta sẽ tàn phá hàng
triệu mẫu cây mà không thương tiếc với mưa át xích, đồng
thời ta hủy họai khí ozone khiến ánh mặt trời không được
lọc bớt khi tới với chúng ta. Ta tự chôn mình trong cái vỏ
chật hẹp của mình mà không biết ; chỉ vì ta mãi lo trau
chuốt cái bản ngã nhỏ bé đó mà ta vô tình hủy hoại cả
cái ta rộng lớn mênh mông. Đã đến lúc ta phải trở về
con người thật của ta, con người hòa đồng trong đại thể,
vừa là sông núi, rừng cây, ánh mặt trời, bầu khí quyển...
Ta phải hành động gấp rút để còn có hy vọng cho ngày mai
.
NGHỆ
THUẬT SỐNG TỈNH THỨC
Thiên
nhiên là bà mẹ của ta. Chỉ vì sống xa thiên nhiên nên ta
sinh bệnh. Một số chúng ta sống trong những cái nhà hộp
gọi là appartement làm bằng xi măng và thép cứng, cao vút khỏi
mặt đất, nên không còn cơ hội tiếp xúc với trời đất.
Điều này rất quan trọng. Có nhiều thành phố không có một
bóng cây. Màu xanh hoàn toàn thiếu vắng. Có lần tôi tưởng
tượng hình ảnh một thành phố chỉ còn trơ trọi một cội
cây. Cội cây vẫn còn đẹp nhưng trông rất cô đơn, đứng
lẽ loi buồn bã giữa những tòa cao ốc đồ sộ. Nhiều người
đã lâm bệnh nặng và các bác sĩ không tìm được nguyên
do. May mắn có một ông bác sĩ giỏi thấy rõ được nguyên
do, nên người bệnh nào đến ông cũng cho toa thuốc như sau:
" Mỗi ngày lấy xe buýt đến trung tâm thành phố để nhìn
ngắm cội cây. Khi đến gần cây, hãy thực tập thở vào,
thở ra ba hơi trước khi ôm cây vào lòng trong mười lăm phút
, vừa ôm vừa theo dõi hơi thở. Phải thấy rõ màu xanh của
lá và hít thở hương thơm của vỏ cây. Thực tập như vậy
vài tuần lễ, bạn sẽ khỏi bệnh ". Bệnh nhân làm theo và
thấy khỏe ra thật, nhưng số người đến ôm cây càng lúc
càng đông; họ phải đứng sắp hàng dài cả cây số. Ta cũng
biết con người của thời đại văn minh này khó có đủ kiên
nhẩn, do đó, việc chờ chực ba bốn tiếng đồng hồ để
được ôm cội cây vượt quá sức chịu đựng của họ nên
họ liền biểu tình phản kháng. Họ ra một cái luật mới
là mỗi người chỉ được phép ôm cây năm phút thôi, sau
đó lại trụt xuống còn một phút, thành ra cơ hội được
lành bệnh lại càng bị giảm thiểu. Chẳng bao lâu chúng ta
cũng sẽ lâm vào tình huống bi thảm đó nếu ta sống không
có tỉnh thức. Ta phải thấy rõ từng hành động ta làm để
bảo vệ trái đất, bà Mẹ của ta. Ta bảo vệ Mẹ tức là
ta bảo vệ chính ta và con cái của ta.
Khi
nhìn vào thùng rác , ta phải thấy được hoa, xà lách, cà
chua, dưa chuột sẽ mọc lên từ đó. Khi vứt một cái cỏ
chuối vào thùng rác, ta biết là vỏ chuối ấy sẽ được
biến thành hoa và rau cải. Còn khi ta vứt một cái bao ny-lông
vào thùng rác, ta biết rằng rất khó hoặc là phải lâu lắm,
mấy trăm năm, nó mới có thể biến thành hoa. Cái đó chính
là sự thực tập thiền quán. " Vứt một cái bao ny lông trong
thùng rác , tôi biết là tôi đang vứt một cái bao ny lông
vào thùng rác". Chỉ bằng sự thực tập chánh niệm ta mới
có thể giữ gìn và bảo vệ bà Mẹ của ta, tức là trái
đất này. Có chánh niệm trong từng hành động, trong từng
giây phút là xây dựng hòa bình hạnh phúc cho hiện tại và
tương lai. Có chánh niệm soi sáng, ta trở nên dè dặt hơn
trong việc dùng những sản phẩm phá hoại sinh môi, và đó
là bước cơ bản đưa đến an lạc và hạnh phúc thật sự.
Một
trong những ung nhọt của thế giới ngày nay là những đồ
phế thải nguyên tử. Nó tạo nên một đống rác khổng lồ
phải mất 250 ngàn năm mới có thể biến thành hoa. 40 tiểu
bang trong số 50 tiểu bang Hoa Kỳ đã bị ô nhiễm bởi những
đồ phế thải nguyên tử. Chúng ta đang biến trái đất thành
một nơi không thể sống được nữa, và tương lai con cháu
ta sẽ ra sao? Ta phải mau mau dừng lại và tập sống cho có
tỉnh thức thì mới mong cứu vãn được tình thế nguy ngập
hiện tại .
NUÔI
DƯỠNG CHÁNH NIỆM
Khi
ngồi xuống bàn ăn, nhìn bát cơm đầy và những thức ăn
thơm ngon, ta nên nhớ rằng có biết bao người đang chết vì
đói. Mỗi ngày có ít nhất 40.000 trẻ em chết vì đói hay
thiếu dinh dưỡng. Nghe qua con số đó ai mà không thảng thốt.
Cho nên khi nhìn kỹ vào các dĩa thức ăn, ta thấy có Mẹ,
trái đất của ta, thấy những người nông dân cần cù, thấy
cả mấy chục ngàn em bé đang chết đói.
Ở
Mỹ Châu và Âu Châu, ta quen ăn thóc gạo và những thực phẩm
khác nhập cảng từ các nước nghèo khổ: cà phê từ Columbia,
sô cô la từ Ghana, gạo thơm từ Thái Lan. Chúng ta nên nhớ
rằng trẻ em các nước đó chưa bao giờ nếm những thứ bổ
béo đó trừ các em con nhà giàu. Các em chỉ được ăn những
thứ hạng bét, còn đồ tốt được dành để xuất cảng
để nhà nước thu ngoại lệ. Có nhiều gia đình phải bán
con em mình làm đầy tớ cho những nhà giàu để chúng được
ăn uống đầy đủ.
Nghĩ
đến các em thiếu may mắn đó, ta chắp tay lại trước mỗi
bữa ăn. Ta ý thức được sự may mắn của mình, và một
ngày kia có thể ta sẽ tìm được giải pháp để xóa bỏ
nạn bất công đang xảy ra khắp nơi. Trong nhiều gia đình
tị nạn Việt nam, trước mỗi bữa ăn, một cháu bé cầm
chén cơm lên và nói:" Hôm nay trên bàn có nhiều món ăn rất
ngon. Con rất biết ơn mọi người mọi loài đã cho con và
gia đình con những món ngon này. Con biết rằng có rất nhiều
người đang chết đói".
Là
một người tị nạn, em biết rằng em đang ăn những hạt
gạo thơm mọc từ đất Thái, nhưng nhiều em bé Thái chưa
bao giờ được ăn thứ gạo này. Thật khó mà nói cho các
em ở những nước giàu có hiểu rằng có nhiều em bé trên
thế giới chưa bao giờ được ăn những món ăn ngan và bổ
như các em. Thấy được điều này, ta sẽ vượt qua rất dễ
dàng những khó khăn nhỏ nhoi của ta, và ta sẽ tìm cách giúp
đỡ những người đang cần tình thương và sự hiểu biết.
BỨC
THƯ TÌNH CHO VỊ DÂN BIỂU
Những
tổ chức tranh đấu cho hòa bình vẫn còn vướng chất căm
thù, bạo động và hiểu lầm. Những tổ chức ấy có thể
viết những bức thư phản kháng rất hùng hồn nhưng có thể
không đủ khả năng để viết những bức thư dịu dàng. Chúng
ta cần học cách viết những bức thư mà Quốc Hội, Tổng
thống hay Chủ Tịch Nhà Nước thích đọc chứ không vứt
vào sọt rác. Chúng ta phải học dùng thứ ngôn ngữ không
làm người khác tránh xa ta. Tổng Thống cũng là một người
mang chất người như chúng ta thôi. Những nhà vận động cho
hòa bình có thể dùng ái ngữ hay không, cái đó còn tùy ở
mức độ an lạc trong họ. Bởi nếu chính họ không có an
lạc, làm sao họ có thể làm cho người khác được an lạc?
Nếu chính ta không biết mỉm cười thì ta không thể nào làm
cho người khác mỉm cười được. Nếu trong ta không có sự
bình an, ta không đóng góp được gì hết cho công cuộc hòa
bình.
Một
phong trào hòa bình còn mang tính căm thù và bạo động sẽ
không hoàn thành được nhiệm vụ ta trông chờ nơi nó. Ta
phải giúp họ thay đổi phương cách hành động, sao cho dịu
dàng và tươi mát hơn. Vì vậy ta phải thực tập chánh niệm,
để có khả năng nhìn rõ, thấy rõ và hiểu rõ. Nếu có được
cái nhìn bất nhị, ta mới giải trừ được bạo động và
căm thù. Làm hòa bình trước tiên là làm cho trong ta có hòa
bình. Bởi chúng ta phải nương vào nhau, cũng như giới trẻ
nương vào chúng ta để có được một ngày mai tươi sáng
.
BỔN
PHẬN NGƯỜI CÔNG DÂN
Là
công dân, ta có trách nhiệm rất lớn. Trong đời sống hằng
ngày, cách thức ta ăn uống và tiêu thụ có ảnh hưởng lớn
đến tánh mạng chính trị của thế giới. Hàng ngày ta làm
cái gì thì ta là cái đó, và điều này quan hệ mật thiết
đến tình trạng an lạc của xã hội. Ý thức được như
vậy , ta sẽ có an lạc ngay trong giây phút ta đang sống. Ta
tưởng rằng các chánh quyền có quyền tự do đặt ra một
chính thể theo ý họ muốn, thực ra cái quyền tự do đó tùy
thuộc vào cách chúng ta sống đời sống hằng ngày. Nếu ta
tạo điều kiện để họ thay đổi chính thể là họ sẽ
thay đổi được. Nhưng bây giờ thì điều đó chưa được
thực hiện. Ta cũng tưởng rằng nếu ta là nhà cầm quyền,
ta sẽ có thể làm bất cứ cái gì ta muốn. Điều đó chưa
hẳn đúng. Nếu ta làm tổng thống, ta có thể cũng sẽ hành
xử giống như vị tổng thống đương thời, có thể khá hơn
một chút hoặc tệ hơn một chút.
Thiền
quán giúp ta nhìn sâu vào sự vật, nhìn sâu vào chính con người
ta để ta thấy rõ ta cần phải chuyển hóa ta như thế nào
và làm thế nào để thay đổi tình trạng xã hội. Thay đổi
cách nhìn của ta là ta thay đổi hoàn cảnh bên ngoài vì hoàn
cảnh bên ngoài là tâm thức ta tạo ra, hoàn cảnh bên ngoài
phản ảnh tâm thức của ta. Cho nên sống có chánh niệm là
điều thiết yếu. Ta sẽ thấy rằng bản chất của bom nguyên
tử và của bất công xã hội cũng không tách rời bản chất
con người của ta.
Khi
ta bắt đầu thấy được trách nhiệm của mình, ta phải mời
các nhà lãnh đạo cùng đi với ta. Ta phải khuyến khích họ
giữ gìn bảo vệ sinh môi và giữ gìn bảo vệ tâm thức cộng
đồng. Ta phải giúp họ tuyển chọn những người cố vấn
biết phụng sự cho hòa bình. Những người có đời sống
tâm linh vững chãi mà ta có thể tin cậy và nương tựa. Ta
phải sáng suốt khi bầu lên những nhà lãnh đạo chính trị.
Ta bầu họ không phải vì cái vẻ hào hoa phong nhã của họ
mà vì họ cùng đi một đường với ta. Chánh phủ Pháp đã
có xu hướng này khi chọn những nhà nhân bản
và những người
phụ trách sinh môi làm tổng trưởng một số các bộ. Trường
hợp điển hình là Bernard Kouchner, người đã từng ủng hộ
chương trình cứu trợ những thuyền nhân ở Vịnh Thái Lan.
Đó là một dấu hiệu tốt.
BẢO
VỆ THÂN TÂM LÀ GIỮ GÌN SINH MÔI MỘT CÁCH RỘNG LỚN.
Chúng
ta ai cũng cần hòa bình, cần an lạc. Hòa bình và an lạc đặt
nền tảng ở sự tôn trọng sự sống của mọi người và
mọi loài. Đất đá cũng biết đau, cũng cần sống. Trái đất
cũng vậy. Khi ta làm ô nhiễm không khí và nước, ta làm hại
sức khoẻ của ta, làm hại các loài khác. Cách ta trồng trọt,
cách ta xử dụng phân rác, tất cả đều có tác dụng hỗ
tương. Bảo vệ thân tâm là giữ gìn sinh môi một cách sâu
sắc và rộng lớn. Một số chương trình truyền thanh, truyền
hình, sách báo, phim ảnh đầy tính bạo động và bi quan là
những chất độc làm ô nhiễm hư hại tâm hồn ta, tâm hồn
các trẻ thơ. Ta phải biết bảo vệ và giữ gìn thân tâm
ta, không để cho những chất độc đó lan tràn khắp nơi.
Như vậy là ta bảo vệ và giữ gìn an lạc cho thế giới .
NGUỒN
GỐC CHIẾN TRANH
Nguồn
gốc của chiến tranh nằm ở cách ta sống đời sống hàng
ngày, cách ta xây dựng nhà máy, xây dựng xã hội và tiêu
thụ các sản phẩm. Nếu ta biết nhìn sâu vào hoàn cảnh xã
hội, ta sẽ thấy được gốc rể của chiến tranh.
Ta
không thể đơn giản trách cứ bên này hay bên kia. Ta phải
tìm hiểu nỗi khổ đau và sợ hãi của cả hai phía, vượt
lên trên tranh chấp phe phái mà tìm cách hòa giải.
Trong
mọi tranh chấp, ta cần phải hiểu nỗi khổ đau của cả
hai bên. Ở Nam Phi chẳng hạng, nếu có người hiểu được
nỗi khổ đau của phía bên này và qua phía bên kia để giải
thích cho những người phía bên kia thì tình trạng đâu đến
nổi bi thảm. Ta cần những cây cầu liên lạc, ta cần những
cây cầu thông cảm.
Công
trình thực tập bất bạo động bắt đầu từ nơi bản thân
ta. Tâm ta có hòa bình thì khi gặp khó khăn, ta mới biết phải
làm gì để giải quyết vấn đề cho êm đẹp. Dù là vấn
đề trong gia đình hay ngoài xã hội , thì cách giải quyết
vẫn giống nhau .
CÂU
CHUYỆN CHIẾC LÁ
Một
ngày mùa thu, khi đi dạo chơi trong một công viên, tôi bắt
gặp một chiếc lá đỏ rất đẹp hình trái tim đang đong
đưa trên cành. Tôi đứng nhìn và nói chuyện với chiếc là
rất lâu. Tôi chợt khám phá ra rằng chiếc lá là mẹ của
cây. Bình thường ta nghĩ rằng cây là mẹ của lá, nhưng sau
một hồi ngắm nhìn chiếc lá, tôi thấy rằng lá cũng là
mẹ của cây. Rễ cây hút nhựa từ nước và khóang chất
nhưng thứ nhựa nguyên nầy không đủ để nuôi sống cây
nên cây phải phân phát nhựa nầy cho các lá, và với sự
hợp tác của ánh sáng mặt trời và không khí, lá biến chế
nhựa nguyên thành một thứ nhựa gọi là nhựa luyện có khả
năng nuôi sống cây. Vì vậy mà tôi thấy lá cũng là mẹ của
cây. Chiếc lá được gắn vào cây bởi một cái cuống, cho
nên mình thấy được dễ dàng sự liên lạc của hai bên.
Còn
ta thì đã có cái cuống nhau ở bụng mẹ khi ta còn là một
bào thai. Chính nhờ cái cuống nhau đó mà thức ăn và dưỡng
khí được đưa vào bào thai. Khi ta sinh ra, người ta cắt mất
cái cuống đó, và điều này cho ta cái ảo tưởng là ta được
độc lập tự do, không còn bị lệ thuộc vào mẹ nữa. Thật
ra ta vẫn là con của mẹ, và không những ta chỉ có một người
mẹ, mà ta có rất nhiều mẹ. Trái đất cũng là mẹ của
ta. Ta được gắn liền vào trái đất bởi rất nhiều cái
cuống. Ta cũng có một cái cuống gắn ta vào với mây. Bởi
nếu không có mây, làm sao có nước cho ta uống. Ta được
tạo thành bởi bảy mươi phần trăm nước, vì vậy ta và
mây cũng được gắn vào nhau. Ta còn được gắn vào với
rất nhiều thứ khác, với dòng sông, với rừng xanh, với
bác tiều phu, với bác nông dân, đủ cả không thiếu gì hết.
Cả vũ trụ dang tay nuôi nấng ta, bảo bọc ta. Bạn có thấy
tôi là bạn và bạn là tôi không? Nếu bạn không có mặt
thì tôi cũng không có mặt. Điều đó quá hiển nhiên. Nếu
bạn chưa thấy được như vậy, bạn cứ nhìn sâu thêm, bạn
sẽ thấy.
Tôi
hỏi chiếc lá:" Em có sợ mùa thu không, vì tới mùa thu, em
sẽ phải rời cây? " Chiếc lá đáp:"Dạ không. Suốt mùa Xuân
và mùa hạ em đã sống rất đầy đủ. Em đã giúp cây hết
lòng để cây được sống. Em thấy mình trong cây. Em thấy
mình là cây, em không phải chỉ lá một chiếc lá. Khi em trở
về đất, em sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cây. Em chẳng có gì
phải lo sợ cả. Khi em rời cành bay bổng trên không, em sẽ
vẫy tay chào cây: Ta sẽ gặp lại nhau một ngày rất gần."
Chiếc
lá vừa nói xong thì một ngọn gió thoáng qua. Chiếc lá bay
lượn nhẹ nhàng trước khi rơi xuống đất. Lá rất sung sướng
khi thấy được lá là cây. Tôi cúi đầu chào lá, cảm ơn
lá đã cho tôi một bài học quý giá.
CHÚNG
TA CÙNG MỘT THÂN THỂ
Có
hằng triệu người chơi thể thao trên thế giới. Khi ta xem
một trận đá bóng, ta thường theo phe này hoặc phe kia, có
thế ta mới có thể theo dõi trận đấu một cách hứng thú.
Khi cầu thủ phe ta đá bóng thì ta cũng muốn đưa chân ra để
đá theo. Khi phe ta thắng thì ta cũng nhảy nhót mừng rỡ, khi
phe ta thua, ta cũng thất vọng não nề.
Trong
chiến tranh cũng vậy, ta cũng ưa thích theo phe. Ta thường bênh
vực phe bị áp bức. Ta tranh đấu bằng cách la ó phẩn nộ,
ít khi ta chịu vượt lên trên những tranh chấp để nhìn cho
rõ, như một bà mẹ nhìn đàn con đang đánh nhau.
Việt
Nam có câu tục ngữ "Gà một nhà bôi mặt đá nhau". Vì ta
bôi mặt nên ta mới không thấy rõ nhau, tưởng người kia
là người lạ. Vì vậy ta mới bắn vào người kia. Chỉ khi
nào ta thấy được mọi người là anh em một nhà, mỗi người
là một phần của thân thể thì ta mới có thể nhìn nhau bằng
con mắt yêu thương, mới có thể hòa giải.
Trong
cuộc dời, ta phải tự nhủ là mình may mắn khi ta gặp được
những người biết yêu thương cả loài vật và cây cỏ. Có
những người dù sống trong an bình vẫn không quên hàng triệu
người đang đói khổ, bệnh tật. Những người đó đã thấy
được sự liên hệ mật thiết của mọi loài mọi sự với
nhau. Họ hiểu rằng những nước giàu có không thể nào sống
sót nếu không có những nước kém mở mang và nghèo khổ.
Sự nghèo khổ thiếu thốn, sự áp bức bốc lột đưa đến
chiến tranh.
Trong
thời đại chúng ta, khi chiến tranh xảy ra, tất cả các nước
đều cảm thấy như đang lâm chiến. Số phận của nước
này dính líu tới số phận tới nước kia.
Đến
khi nào thì gà nhà mới hết bôi mặt để đá nhau? Đến khi
nào chúng ta mới thấy rõ chúng ta là anh em, là một phần
của thân thể. Có lẽ mỗi ngày chúng ta phải nhìn nhau mà
nói rằng:" Tôi là em của anh. Tôi là chị của em. Chúng ta
đều là con người. Chúng ta chỉ có một cuộc sống".
HÒA
GIẢI
Ta
phải làm gì khi ta gây tổn thương cho người khác và khi họ
trở thành kẻ thù của ta? Người đó có thể là một người
thân trong gia đình hay là một người bạn.
Ta
chẳng cần phải làm gì nhiều. Điều trước tiên là ta phải
có thì giờ để xin lỗi.
Ta
nói:" Nhiều khi ta không cố tình làm cho người khác buồn
và giận, nhưng vì thiếu chánh niệm hoặc vì vụng về nên
ta đã làm thế. Cho nên chánh niệm rất cần thiết trong đời
sống hằng ngày. Có chánh niệm ta tránh được những lỡ
lầm trong khi nói và làm.
Điếu
thứ hai là ta biết khai triển phần hoa trong ta và chuyển hóa
phần rác. Khi ta trở nên nhẹ nhàng, tươi mát và dễ thương,
người kia từ từ rồi sẽ thấy và sẽ hiểu rằng ta đã
thay đổi. Lúc đó ta chẳng cần nói gì thêm. Người ấy đã
thấy và đã tha thứ cho ta. Cho nên hãy nói bằng chính cuộc
sống của mình chứ không chỉ bằng lời nói.
Khi
thấy được người kia đang đau khổ là ta đã bắt đầu
có sáng suốt. Và khi trong tâm ta nảy nở ý muốn làm vơi
bớt nỗi khổ của người kia là ta bắt đầu có tình thương
chân thật. Nhưng hãy cẩn thận. Đôi khi ta tưởng là ta đã
vững vàng rồi. Muốn biết chắc, ta nên tìm đến người
kia, nghe người kia nói thì ta mới biết rõ là ta đã thật
sự thương người kia chưa. Nếu chỉ nghỉ rằng mình đã
hiểu và thương người kia thì đôi khi đó chỉ mới là sự
tưởng tượng.
Hòa
giải không có nghĩa là ký kết một hiệp ước với dã tâm
và sự thiếu lương thiện. Nếu còn có tham vọng, còn có
chủ tâm chia phe chia nhóm thì đó không phải là hòa giải.
Phần lớn chúng ta vẫn còn muốn theo phe này hay phe kia thì
tất nhiên sẽ tranh chấp. Chúng ta vẫn còn thiên lệch, phán
đoán, đúng, sai, căn cứ trên những tin đồn nhiều khi thất
thiệt, vẫn còn muốn nuôi dưỡng căm thù để làm động
lực hành động. Lòng bất nhẫn tuy tốt nhưng vẫn không đủ.
Xã hội này không thiếu những người sẵn sàng lao mình vào
hành động. Xã hội này cần những người có từ tâm, không
phe phái, thấy được sự thật một cách toàn diện.
Khi
nào ta thấy được một em bé Ouganda chỉ còn da và xương
là chính bản thân ta, khi nào ta thấy sự đói khổ đó là
sự đói khổ của chính ta, khi ấy ta mới hiểu được thế
nào là tình thương vô phân biệt. Lúc ấy ta mới thao thức
tìm đủ mọi cách để làm vơi bớt nỗi khổ của muôn loài.
HÃY
GỌI ĐÚNG TÊN TÔI
Ở
Làng Hồng, mỗi tuần chúng tôi nhận được hàng trăm bức
thư từ các trại tỵ nạn gửi về, những bức thư tràn ngập
những đau buồn tủi nhục, đọc mà rớt nước mắt. Chúng
tôi thật sự không biết làm cách nào để làm vơi bớt những
đau thương dù chúng tôi cố gắng hết lòng.
Người
ta kể rằng rất đông những người vượt biên đã bỏ thây
trên biển cả. Số còn lại lên được bờ thì sống lây
lất qua ngày trong những trại tỵ nạn.
Không
những phụ nữ mà cả một số các em bé gái cũng bị hải
tặc hãm hiếp. Liên hiệp quốc và chính quyền Thái Lan đã
cố gắng can thiệp nhưng nạn hải tặc vẫn hoành hành trên
biển. Có một bức thư kể chuyện một em bé mười hai tuổi
bị hải tặc hãm hiếp phải nhảy xuống biển tử tự.
Khi
nghe tin này, ai mà chẳng tức giận và chỉ muốn xách súng
bắn chết tên cướp biển. Nhưng nếu nhìn sâu hơn ta sẽ
thấy nhiều điều cần thấy. Ta thử đặt mình vào địa
vị tên hải tặc. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo
khổ ở ven biển Thái Lan, không được dạy dỗ, không được
đi học, cha đi biển về chỉ biết uống rượu say, suốt
ngày lêu lỏng theo bạn bè xấu, lớn lên trong hoàn cảnh đó
chắc ta cũng sẽ trở thành hải tặc mà thôi.
Hàng
ngày ở vịnh Thái Lan có hàng trăm em bị sinh ra trong hoàn
cảnh tương tự và nếu chúng ta , những nhà chính trị , xã
hội và giáo dục không lo tìm cách để thay đổi hoàn cảnh
các em thì hai mươi năm sau , các em đó cũng sẽ trở thành
hải tặc. Do đó, nếu ta xách súng bắn những em đó tức
là chúng ta bắn chính chúng ta vì ta là người có trách nhiệm
về tình trạng này.
Bài
thơ Hãy Gọi Đúng Tên Tôi có ba nhân vật: em bé gái, tên
hải tặc và tôi.
Chúng
tôi nhìn nhau mà chúng tôi có nhận ra nhau không? Hãy gọi đúng
tên tôi. Tôi có nhiều tên lắm. Chỉ cần gọi ra một tên
là tất cả đều lên tiếng một lần.
Hãy
Gọi Đúng Tên Tôi
Đừng
bảo ngày mai tôi đã ra đi
Bởi
vì chính hôm nay tôi vẫn còn đang tới
Hãy
ngắm tôi thoát hình trong từng phút từng giây
Làm
đọt lá trên cành cây
Làm
con chim non cánh mềm
Chiêm
chiếp vui mừng trong tổ mới
Làm
con sâu xanh trên cuống hoa hồng
Làm
gân viên ngọc trắng tượng hình trong lòng đá
Tôi
còn tới để khóc để cười
Để
ước mong để lo sợ
Sự
xuất nhập của tôi là hơi thở
Nhịp
sinh diệt của tôi cũng là tiếng đập một lần
Của
hằng triệu trái tim
Tôi
là con phù du thoát hình trên mặt nước
Và
là con chim sơn ca mùa Xuân về trên sông đón
bắt
phù du
Tôi
là con ếch bơi trong hồ thu
Và
cũng là con rắn nước trườn đi tìm cách nuôi
thân
bằng thân ếch nhái
Tôi
là em bé Ouganda, bao nhiêu xương
sườn
đều lộ ra, hai bàn chân bằng hai ống sậy
Tôi
cũng là người chế tạo bom đạn
Để
cung cấp kịp thời cho các dân tộc Á Phi
Tôi
là em bé mười hai, bị làm nhục nhảy xuống biển sâu
Tôi
cũng là người hải tặc sinh ra với một trái tim
Chưa
biết nhìn biết cảm
Tôi
là người đảng viên cao cấp cầm quyền sinh sát
trong
tay
Và
cũng là kẻ bị coi là có nợ máu nhân dân đang
chết
dần mòn trong trại tập trung cải tạo
Nổi
vui của tôi thanh thoát như trời Xuân, ấm áp
cỏ
hoa muôn lối
Niềm
đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về
bốn
đại dương sâu
Hãy
gọi đúng tên tôi
Cho
tôi thấy được nỗi đau và niềm vui là một
Hãy
nhớ gọi đúng tên tôi
Cho
tôi giật mình tỉnh thức
Và
để cho cánh cửa lòng tôi để ngỏ
Cánh
cửa xót thương.
KHỔ
ĐAU LÀ CHẤT LIỆU NUÔI DƯỠNG TÌNH THƯƠNG
Ở
Việt Nam, trong bốn mươi năm qua, đạo Phật đã đi vào cuộc
đời.
Trong
chiến tranh, chúng tôi không thể chỉ ngồi thực sự thực
tập thiền tọa và tụng kinh trong chùa.
Chúng
tôi thực tập thiền ở khắp nơi, nhất là những nơi có
khổ đau, chết chóc.
Tiếp
xúc với những khổ đau trong chiến tranh, ta có thể chữa
lành những khổ đau riêng mình, những khổ đau từ một đời
sống hời hợt, thiếu ý nghĩa. Khi phải đối diện với chết
chóc, với thương tích, với máu chảy, ta nhận ra rằng ta
có thể là nguồn an ủi cho những kẻ đang khổ đau , ta có
thể giúp họ bằng tình thương , bằng niềm vui, ta không phải
là một kẻ vô ích. Cho nên ngay giữa những khổ đau tột
cùng, giữa những gian lao nguy hiểm , ta vẫn thấy có một
niềm vui lớn khi hiểu được rằng thế nào là thực tập
tình thương.
Một
mùa đông kia, tôi đã cùng một vài người bạn đi thăm một
trại tỵ nạn ở Hồng Kông. Ở đó chúng tôi chứng kiến
rất nhiều điều thương tâm. Có những em bé mới một hay
hai tuổi đã phải theo cha mẹ vượt biển ra đi, trong chuyến
đi các em đều mất cả cha lẫn mẹ. Thế mà bây giờ người
ta sắp sửa trả các em về nước vì người ta cho là các
em đã ra đi một cách bất hợp pháp. Khi chính mình tai nghe
mắt thấy những cảnh tượng thương tâm này, ta thấy những
đau khổ của bạn bè ta ở Âu Châu hay Mỹ Châu thật chẳng
đáng kể.
Sau
mỗi chuyến cứu trợ về, tôi thấy thành phố Paris thật
là xa lạ, như ở trong mơ. Tôi thấy hai thế giới sao mà cách
biệt nhau quá, một bên khổ đau tràn ngập , một bên phù
phiếm xa hoa. Tôi tự hỏi tại sao ở đây người ta có thể
sống được như vậy trong khi tình trạng bên kia quá thê thảm?
Nếu
bạn chỉ ở Paris suốt mười năm không tiếp xúc gì hết
với thế giới bên ngoài thì bạn sẽ thấy ở Paris người
ta sống như vậy là điều tự nhiên.
Thực
tập thiền là để tiếp xúc. Đôi khi không cần phải đến
tận nơi có khổ đau mới tiếp xúc được. Ta chỉ cần ngồi
yên một chỗ, theo dõi tình hình đang xảy ra khắp nơi trên
thế giới là ta có thể hiểu và thấy được tất cả. Ta
để tâm đến mọi việc xảy ra chung quanh, nên ta có thêm
hiểu biết, thêm yêu thương và ta bắt tay hành động ngay
tại nơi ta ở mà chẳng cần phải đi đâu xa.
TÌNH
THƯƠNG QUA HÀNH ĐỘNG
Chúng
ta đã đi với nhau một đoạn đường khá dài, và tôi đã
đưa ra một số phương pháp để chúng ta cùng tu tập nuôi
dưỡng chánh niệm, ý thức được những gì đang xãy ra trong
ta và ngoài ta. Bây giờ ta đã bước vào một thế giới rộng
lớn hơn nên ta cần thêm một số chỉ dẫn để bảo trọng
thân thể giúp bạn chọn một lối sống thích hợp trong thế
giới văn minh hiện tại.
MƯỜI
BỐN GIỚI TIẾP HIỆN
- Giới
thứ nhất: Không được thờ hay thần tượng bất cứ
một chủ nghĩa hay một lý thuyết nào, kể cả những chủ
nghĩa và lý thuyết Phật Giáo. Những hệ thống giáo lý trong
đạo Phật phải được nhận thức như những pháp môn hướng
dẫn tu tập mà không là những chân lý tuyệt đối để bảo
vệ và thờ phụng.
- Giới
thứ hai: Không được yên trí rằng những kiến thức mình
hiện có là những chân lý bất di bất dịch, như thế để
tránh sự trở thành cố thủ và hẹp hòi. Phải học thái
độ phá chấp và cởi mở để đón nhận quan điểm của
kẻ khác. Chân lý chỉ có thể thực chứng trong sự sống
mà không thể tìm kiếm trong kiến thức và khái niệm. Phải
nguyện suốt đời là một người đi tìm học và phải thường
trực quán sát sự sống nơi chính mình và nơi cuộc đời.
- Giới
thứ ba: Không được ép buộc người khác, kể cả trẻ
em, theo quan điểm mình, bất cứ bằng cách nào : uy quyền,
sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục
nhồi sọ. Phải tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và
sự tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên nên dùng những phương
tiện đối thọai ái ngữ và bất bạo động để giúp người
khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp.
- Giới
thứ tư: Không được trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm
mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của
cuộc sống. Phải tìm tới với những kẻ khổ đau bằng các
phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh....Nên
thường xuyên tự đánh thức mình và những người xung quanh
về sự có mặt của những đau khổ hiện thực khắp nơi
trên thế giới.
- Giới
thứ năm: Không nên tích lũy tiền bạc và của cải trong
khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn. Không được
đặt danh vọng và quyền hành làm mục tiêu của đời mình.
Phải sống giản dị, và phải biết chia xẻ thì giờ , khả
năng và tài vật mình có với những kẻ thiếu thốn.
- Giới
thứ sáu: Không được giữ tâm sân hận và oán thù. Hãy
học cách quán chiếu và chuyển hóa những hạt giống của
sân hận và oán thù khi những hạt giống này còn chưa phát
khởi trên ý thức. Khi tâm niệm sân hận và oán thù đã phát
khởi, hãy nắm lấy hơi thở chánh niệm và quán chiếu về
bề sâu để thấy được bản chất của tâm niệm sân hận
và oán thù của mình và cũng để thấy được tự tánh và
hoàn cảnh của những người đã gây lên tâm niệm sâu hận
và oán thù ấy. Nên lấy con mắt từ bi để nhìn mọi người
và mọi loài.
- Giới
thứ bảy: Không được buông thả theo loạn tưởng và
hoàn cảnh để tự đánh mất mình. Phải biết thực tập
hơi thở và nụ cười chánh niệm để trở về tiếp xúc
với những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Hãy tập
tiếp xúc với những gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh
trong ta và quanh ta để liên tục gieo trồng những hạt giống
an lành, hạnh phúc và hiểu biết làm động lực chuyển hóa
chiều sâu của tâm thức trên đường thành tựu đạo nghiệp.
-Giới
thứ tám:Không được nói và làm những điều có thể
tạo nên sự bất hòa trong đoàn thể và có thể làm tan vỡ
đoàn thể. Phải xử dụng ái ngữ và hành động hòa giải
để giúp giải quyết những vụ bất hòa dù lớn, dù nhỏ.
-Giới
thứ chín: Không được nói dối để mưu cầu tài lợi
và sự kính phục. Không được nói những lời gây chia rẽ,
căm thù. Không được loan truyền những tin mình không biết
là có thực. Không được phê bình và lên án những điều
mình không biết chắc. Phải nói những lời chân thật và
có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Phải có
cam đảm nói ra sự thực về những tình trạng bất công,
dù hành động này có thể mang lại những đe dọa cho sự
an thân của mình.
- Giới
thứ mười: Không được lợi dụng đạo Phật và các
đoàn thể giáo hội vào mục tiêu quyền bính. Không được
biến các giáo đoàn thành những đảng hoạt động chính trị.
Sống trung trực đời sống tâm linh và tôn giáo mình, giáo
đoàn trong đó mình sống phải có thái độ rõ rệt, về những
tình trạng áp bức và bất công xã hội, và xử dụng ảnh
hưởng mình để chuyển đổi các tình trạng ấy mà không
nên dấn thân vào những cuộc tranh chấp phe phái.
- Giới
thứ mười một: Không được sống theo tà mệnh. Không
được sinh sống bằng những nghề nghiệp có thể gây tàn
hại cho con người và thiên nhiên. Không được đầu tư vào
nhữnh doanh nghiệp chuyên làm lợi cho một nhóm người trong
khi tước đoạt môi trường và cơ hội sinh sống của những
nhóm người khác. Nên chọn một nghề có thể giúp mình thực
hiện được lý tưởng từ bi cứu khổ của đạo Phật.
- Giới
thứ mười hai: Không dược giết hại sinh mạng, không
được tán thành sự chém giết. Phải tìm mọi cách có thể
để bảo vệ sinh mạng, ngăn chận chiến tranh, xây dựng hòa
bình
- Giới
thứ mười ba: Không được lấy làm tư hữu những tiền
bạc và của cải không phải của mình tạo ra. Phải biết
ngăn ngừa những kẻ tích trữ và làm giàu bất lương không
kể gì đến sự đau khổ của những kẻ bị áp bức và thua
thiệt.
- Giới
thứ mười bốn: Không được đối xử với thân thể
mình một cách khinh xuất. Phải biết bảo trọng thân thể
mình, xem thân thể mình là đền thờ của tâm linh, là chiếc
thuyền vượt biển. Phải học bảo tồn tinh, khí và thần
để có thể có đủ năng lực hành đạo.
Phần
sau này dành cho quý vị cư sĩ:
Phải
ý thức trọn vẹn trách nhiệm của mình về sự cho ra đời
những sinh mạng mới và phải thường xuyên nghĩ tới môi
trường sinh hoạt trong tương lai của những sinh mạng này.
CÂU
CHUYỆN CỦA DÒNG SÔNG
Có
một dòng sông rất đẹp chảy qua núi đồi và đồng cỏ
xanh tươi. Dòng sông ca hát nhảy nhót tung tăn từ trên núi
xuống đồng bằng. Xuống đồng bằng, dòng sông chảy chậm
lại, mặt nước trong xanh êm mát. Lúc ấy dòng sông còn trẻ
lắm, và dòng sông muốn chảy mau ra biển cả. Dòng sông càng
lớn càng đẹp ra, lượn khúc yêu kiều ven đồi và bờ lúa.
Một
ngày kia dòng sông chú ý đến sự có mặt của những đám
mây trong lòng nước. Mây đủ màu sắc, hình thể, đẹp quá
chừng, nên suốt ngày dòng sông cứ miệt mài chạy đuổi
theo những đám mây, mong bắt được một đám mây cho riêng
mình. Nhưng mây cứ lơ lững từng cao khó mà bắt được,
nhất là mây cứ thay hình đổi dạng không ngừng. Vì mây
vô thường như vậy nên dòng sông rất đau khổ. Chạy đuổi
bắt theo mây thì vui nhưng sau đó thì dòng sông đầy thất
vọng, u sầu và tức giận.
Một
ngày kia, một cơn gió lớn đi qua, quét sạch mây trên trời.
Bầu trời trở nên quang đãng không còn một bóng mây. Dòng
sông não nề tuyệt vọng, không còn muốn sống nữa. " Không
còn mây để chạy theo, ta sống để làm gì? "
Tối
hôm đó, lần đầu tiên trong đời, dòng sông quay trở về
tiếp xúc với chính mình. Lâu nay dòng sông chỉ đuổi theo
những cái bên ngoài mà không bao giờ thấy được chính mình.
Tối hôm đó, lần đầu tiên dòng sông nghe tiếng mình khóc,
âm thanh sóng vỡ vào bờ. Dòng sông lắng nghe tiếng của mình
và khám phá ra một điều rất quan trọng.
Dòng
sông nhận ra rằng cái mà lâu nay mình theo đuổi đã nằm
sẵn trong lòng mình. Tưởng mây là gì, đâu ngờ mây cũng
chỉ là nước. Mây sinh ra từ nước và bây giờ mây trở
lại thành nước. Và dòng sông tự bao giờ cũng vẫn là nước
như một đám mây.
Sáng
hôm sau, khi mặt trời lên cao, dòng sông khám phá ra thêm một
điều thật đẹp. Đây là lần đầu tiên dòng sông thấy
được bầu trời xanh thẳm. Lâu nay dòng sông chỉ chú ý đến
mây , không chú ý đến bầu trời. Bây giờ sông mới hiểu
rằng bầu trời là quê hương của các đám mây. Mây luôn
luôn thay đổi nhưng bầu trời không bao giờ thay đổi. Và
bầu trời cao đã có mặt trong lòng sông tự thuở nào. Cái
thấy này đem lại cho dòng sông một nguồn an lạc lớn.
Dòng
sông hiểu rằng bao giờ bầu trời xanh còn có mặt, niềm
an lạc của dòng sông sẽ mãi mãi vững bền.
Trưa
hôm đó, các đám mây lại lục tục trở về nhưng dòng sông
không còn có nhu yếu muốn đuổi bắt nữa.
Đám
mây nào đi qua, dòng sông cũng thấy đẹp và cũng vẫy tay
chào. Dòng sông không còn thấy buồn tủi hay lưu luyến. Bởi
đám mây nào cũng là một dòng sông , chẳng còn phải chọn
lựa. Một niềm an vui hài hòa đã kết hợp mây và sông.
Tối
hôm đó một điều thật tuyệt diệu đã xảy ra. Dòng sông
mở rộng lòng đón mặt trăng rằm, mặt nguyệt tròn tròn
vành vạch và sáng rực rỡ như một viên bảo châu trong dòng
nước trong vắt.
Có
một bài kệ miêu tả hình ảnh đẹp đó:
Bụt
là vầng trăng mát
Đi
ngang trời thái không
Hồ
tâm chúng sanh lặng
Trăng
hiện bóng trong ngần
(
Bồ tát Thanh Lương nguyệt
Du
ư tất cảnh không
Chúng
sanh tâm cấu tận
Bồ
đề ảnh hiện trung)
Dòng
sông trong vắt đã làm hiện rõ bóng trăng và trăng đã cùng
mây nước dắt tay nhau đi thiền hành về biển cả.
Chẳng
có gì phải chạy đuổi theo.
Chỉ
cần trở về với mình, trở về với hơi thở và nụ cười,
trở về nơi mình ở, nơi có thông reo, chim hót và nắng ban
mai.
Còn
nơi nào đẹp hơn nữa?
XÂY
DỰNG THẾ KỶ THỨ HAI MƯƠi MỐT
Ngày
nay người ta hay dùng danh từ "chính sách". Cái gì cũng chính
sách này, chính sách nọ. Tôi đã nghe phong phang rằng các nước
tự gọi là tiến bộ đang bàn tính về chính sách đưa qua
các đồ phế thải rác rến của nước họ bỏ bên các nước
của thế giới thứ ba. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần có một
chính sách để đối diện với những khổ đau của chúng
ta. Đau khổ không phải là không có ích. Cho nên ta phải biết
xử dụng khổ đau thế nào để có lợi cho ta và cho người
khác.
Thế
kỷ thứ hai mươi có quá nhiều khổ đau: hai cuộc đại chiến
tàn khốc, những trại tập trung thời Đức Quốc xã, những
cuộc thảm sát ở Cam bốt, những trận đói lớn, những cuộc
di tản từ Việt Nam, Trung Mỹ, và nhiều nơi khác dân chúng
cũng bỏ nước chạy trốn không biết về đâu. Cho nên chúng
ta cũng cần có một chính sách cho những loại phân rác này.
Chúng ta phải dùng những khổ đau của thế kỷ hai mươi làm
phân bón những cây hoa được mọc lên trong thế kỷ hai mươi
mốt. Khi ta thấy những hình ảnh thảm khốc tại những trại
tập trung của Đức quốc xã, ta rùng mình sợ hãi. Ta nói:
" Không bao giờ tôi nhúng tay vào những công việc tương tợ.
Chỉ có họ mới nhẫn tâm làm điều đó". Nhưng nếu ta có
mặt ở đó, có thể ta cũng sẻ bị lôi kéo làm y như vậy,
hoặc là ta sẽ hèn nhát đến nổi không dám lên tiếng ngăn
cản điều đó. Đó là điều đã xảy ra cho nhiều người.
Cho nên ta phải dùng tất cả những kinh nghiệm đau thương
này làm phân bón cho đất đai tương lai được màu mỡ, cho
thế kỷ hai mươi mốt có được nhiều hoa thơm.
Ở
Đức hiện nay, giới trẻ có mặc cảm là dân tộc họ có
trách nhiệm về những cuộc tàn sát thời chiến tranh. Những
người có trách nhiệm nên cùng nhau sám hối để thế hệ
tương lai tránh được những lỗi lầm cũ, và biết chọn
một đời sống tỉnh thức hơn. Một trong những đóa hoa cần
phải được vun trồng tưới tắm cho giới trẻ của thế
kỷ hai mươi mốt là biết chấp nhận sự khác biệt giữa
các nền văn hóa. Đoá hoa thứ hai là khả năng nhận diện
được sự có mặt của những khổ đau, có những khổ đau
quá vô ích trong xã hội hiện nay. Nếu chúng ta thực tâm muốn
học hỏi với nhau, chúng ta nên ngồi lại với nhau để kiểm
điểm những lỗi lầm cũ. Với hiểu biết và thương yêu,
chúng ta có thể mở một con đường sáng và hiến tặng một
khu vườn đẹp cho thế kỷ hai mươi mốt.
Ta
hãy cầm tay một em bé và mời em ra ngồi với ta ngoài bãi
cỏ. Ta và em hãy cùng ngắm cỏ xanh, ngắm những đoá hoa nhỏ
mọc trên cỏ. Rồi nhìn trời cao, thở và mỉm cười. Bằng
cách đó, ta dạy cho em biết sống an lạc, biết thương thức
những vẻ đẹp xung quanh, và không cần phải chạy đuổi
theo một cái gì khác. Hạnh phúc ở trong tầm tay của ta, trong
từng phút giây, trong từng hơi thở, trong từng bước chân.
Tôi rất vui đã được cùng đi với bạn trên chặng đường
khá dài. Tôi mong là bạn cũng vui. Chúng ta sẽ còn gặp lại.
Hết