PHẦN
HAI
CHUYỂN
HÓA VÀ TRỊ LIỆU
DÒNG
SÔNG CẢM THỌ
Cảm
thọ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc điều khiển
mọi tư tưởng hoạt động của ta. Cảm thọ như một dòng
sông, trong đó mỗi một cảm thọ là một giọt nước, giọt
nước này nương vào giọt nước kia để tạo ra một dòng
sông. Chúng ta có thể ngồi trên bờ sông để quan sát và
nhận diện từng cảm thọ một khi chúng xuất hiện, trôi
nổi rồi mất hút.
Có
ba loại cảm thọ: Cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu
và cảm thọ trung tĩnh.
Khi
có một cảm thọ khó chịu, ta có khuynh hướng muốn xua đuổi
nó. Tốt hơn hết, ta nên trở về với hơi thở chánh niệm
và quan sát một cách lặng lẽ để thấy rõ nó hơn:" Thở
vào, tôi biết có một cảm thọ khó chịu trong tôi. Thở ra,
tôi biết có một cảm thọ khó chịu trong tôi. Gọi đúng
tên bản chất và nguyên do của một cảm thọ, như giận,
buồn, vui, hay hạnh phúc, giúp ta nhận diện nó một cách rõ
ràng và sâu sắc."
Ta
có thể dùng hơi thở để tiếp xúc vời những cảm thọ
và chấp nhận sự hiện diện của chúng. Nếu hơi thở ta
nhẹ nhàng, êm ái, kết quả của sự thực tập hơi thở ý
thức, thân tâm nhờ đó cũng trở nên nhẹ nhàng, trong sáng,
tĩnh lặng và cảm thọ ta cũng vậy. Ta phải biết quan sát
những cảm thọ với óc không phân biệt: Ta biết là cảm
thọ không phải ở ngoài ta mà cảm thọ chính là ta, ta chính
là cảm thọ. Ta không để cảm thọ làm ta chìm đắm hay hốt
hoảng, mà ta cũng không hất hủi nó. Không hất hủi hay bám
víu là thái độ buông xã của người hành thiền.
Nếu
biết săn sóc một cách nhẹ nhàng và ưu ái những cảm thọ
khó chịu, ta có thể chuyển hóa chúng thành những năng lượng
lành mạnh, có khả năng nuôi dưỡng chúng ta. Bằng phương
pháp quan sát và nhận diện, ta có thể được soi sáng bởi
những cảm thọ khó chịu, chúng sẽ giúp ta hiểu nhiều về
chính chúng ta và về xã hội ta đang sống.
KHÔNG
CẮT BỎ
Y học
Âu Tây quá chú trọng về khoa giải phẩu. Bác sĩ muốn cắt
bỏ những gì họ cho là không còn dùng được nữa. Khi có
một cái gì không ổn trong thân thể, họ thường khuyên chúng
ta nên cắt bỏ. Trong ngành tâm lý trị liệu cũng vậy. Những
nhà trị liệu tâm lý cũng muốn ta vứt bỏ những gì ta không
thích và chỉ giữ lại những gì ta thích. Mà cái được giữ
lại, thường thường chẳng là bao. Cho nên nếu cần vứt
bỏ cái ta không thích, thì thường thường chúng ta phải vứt
bỏ phần lớn con người của ta.
Cho
nên thay vì cắt xén, ta học cách chuyển hóa. Ví dụ, ta chuyển
hóa cái giận, làm cho cái giận trở thành một cái gì lành
mạnh, như sự hiểu biết. Ta không cần đến khoa giải phẩu
để cắt bỏ cái giận của ta. Nếu ta giận cái giận của
ta, ta sẽ có hai cái giận cùng một lúc. Ta chỉ cần quan sát
nó một cách chăm chú và từ hòa. Nhờ vậy nó sẽ được
chuyển hóa và ta không cần phải chạy trốn nó. Đó là cách
làm hòa với nó. Nếu ta có đủ an lạc, ta sẽ làm hòa rất
dể dàng với cái giận. Với buồn lo, chán nản, sợ hãi hay
với bất cứ trạng thái khó chịu nào cũng vậy.
CHUYỂN
HÓA NHỮNG CẢM THỌ
Bước
đầu tiên là biết nhận diện một cảm thọ khi cảm thọ
ấy xuất hiện.
Muốn
vậy thì phải có chánh niệm. Khi có một nổi lo sợ chẳng
hạn, ta phải dùng chánh niệm để nhìn rõ nó và nhận diện
đó là một nổi lo sợ. Bạn đã biết là sự sợ hãi phát
xuất từ tâm thức bạn thì chánh niệm cũng vậy, cũng phát
xuất từ tâm thức bạn. Chúng đều từ bạn mà ra, cho nên
chẳng phải đánh nhau làm gì mà phải chăm sóc cho nhau.
Bước
thứ hai là trở thành một với cảm thọ. Không nên nói :"
Sợ hãi, hãy cút đi. Ta không ưa nhà ngươi. Nhà ngươi không
phải là ta." Tốt hơn nên nói:" Sợ hãi ơi, xin chào ngươi.
Ngươi là một bạn cũ lâu đời. Bạn có thể mời cả chánh
niệm và sự sợ hãi ra bắt tay nhau và làm một với nhau.
Làm như vậy cũng hơi thấy e ngại thật, nhưng bạn biết
bạn là một thực thế lớn lao bao trùm cả sự sợ hãi nên
bạn chẳng cần phải e sợ nữa. Khi chánh niệm có mặt, chánh
niệm sẽ trông chừng sự sợ hãi của bạn. Điều căn bản
là phải nuôi dưỡng chánh niệm bằng hơi thở ý thức, luôn
luôn giữ gìn chánh niệm cho mạnh mẽ.
Lúc
đầu, chánh niệm của bạn có thể yếu nhưng nếu bạn biết
nuôi dưỡng nó, nó sẽ trỡ thành mạnh. Bao lâu chánh niệm
còn có mặt, bạn sẽ không bị chết chìm trong sự sợ hãi.
Thực vậy, ngay khi bạn nhận diện được sự có mặt của
sợ hãi là nó đã bắt đầu chuyển hóa.
Bước
thứ ba là làm êm dịu cảm thọ. Nhờ có chánh niệm trông
chừng nỗi sợ hãi của bạn nên bạn thấy lòng dịu lại.
" Thở vào, tôi làm êm dịu những tâm hành". Bạn làm êm dịu
những tâm hành nhờ bạn có mặt với chúng, như một bà mẹ
ôm đứa con đang khóc vào lòng. Cảm nhận được sự săn
sóc của bà mẹ, đứa bé nín khóc ngay. Bà Mẹ chính là Chánh
niệm của bạn, phát xuất từ nơi sâu thẳm của tâm thức
bạn và chánh niệm sẽ chăm sóc cho nổi đau của bạn. Khi
ôm đứa con vào lòng , thì bà mẹ trở thành một với đứa
con. Nếu bà mẹ nghĩ đến điều gì khác, đứa bé sẽ không
nín khóc. Bà Mẹ phải dẹp qua một bên tất cả những thứ
khác, chỉ ôm đứa con mà thôi. Cho nên đừng trốn tránh những
cảm xúc của mình. Đừng nói rằng:" Nhà ngươi không quan
trọng. Nhà ngươi chỉ là một cảm xúc". Hãy là một với
nó. Hãy tự bão rằng :" Thở vào, tôi làm dịu nỗi sợ hãi
".
Bước
thứ tư là buông bỏ cảm thọ, để cảm thọ trôi đi. Nhờ
sự trầm tỉnh, dù giữa cơn sợ hãi. Bạn vẩn cảm thấy
dễ chịu bởi vì bạn biết rằng nỗi sợ sẽ không lớn
hơn thêm và sẽ không đến nỗi làm bạn hốt hoảng. Khi bạn
biết rằng bạn đủ khả năng chăm sóc nỗi sợ của mình,
Bạn đã giảm thiểu nỗi sợ đến mức tối thiểu, nó đã
trở nên không khó chịu lắm. Bây giờ bạn có thể cười
với nó và buông bỏ nó, nhưng hãy khoan dừng lại ở đây.
Sự làm dịu và sự buông bỏ chỉ mới đối trị được
những triệu chứng.
Bây
giờ là cơ hội để bạn đi sâu hơn và làm chuyển hoá cội
nguồn của cơn sợ.
Bước
thứ năm là nhìn sâu, để thấy rõ nguyên nhân nào đã tạo
ra sự bất an trong em bé hay đã tạo ra nỗi sợ hãi trong bạn,
dù nỗi sợ hãi đã tan biến hay dù em bé đã nín khóc. Bởi
vì không phải lúc nào ta cũng có thể ôm ấp em bé vào lòng
cũng như ta không thể để cho sự sợ hãi kéo dài hoặc tái
diễn. Ta phải tập nhìn sâu tận gốc rể mới có thể khám
phá những nguyên nhân làm em bé khóc, nguyên nhân nội tại
hay ngoại tại. Có thể là em bé đói, lạnh , sốt hay đau
bụng.
Biết
được nguyên do rồi, ta chăm sóc cho em bé. Em bé sẽ nín khóc
và tươi tĩnh ngay. Cũng vậy, nhìn sâu vào nỗi sợ hãi, ta
mới có thể thấy rõ ta cần làm gì và không cần làm gì
để chuyển hóa tận gốc rể của nỗi sợ hãi.
Lúc
đó ta mới có an lạc thật sự.
Nhà
tâm lý trị liệu cũng theo tiến trình này để chữa trị
bệnh nhân. Ông ta mời bệnh nhân nhìn sâu vào bản chất của
cơn đau. Thông thường người bệnh đau khổ là do cách nhìn
của họ đối với sự vật và do những tri kiến sẵn có
của họ.
Ông
ta mời người bệnh cùng ông mổ xẻ những cái nhìn này và
dần dần giúp họ tháo gỡ được cái nhà tù mà họ tự
giam vào. Nhưng điều quan trọng vẫn là sự nổ lực của
chính người bệnh. Ông thầy chỉ là người khai mở cho học
trò mình thấy được ông thầy ở trong tự thân họ, cũng
như nhà tâm lý trị liệu phải chỉ cho người bệnh thấy
chính họ là người chữa trị.
Có
như vậy người bệnh mới biết tự mình chữa trị ngày đêm
và kết quả mới xãy đến nhanh chóng được. Cho nên nhà
tâm lý trị liệu không gieo thêm những tín điều cho bệnh
nhân. Ông chỉ giúp họ nhận diện được những nguyên nhân
đưa tới sự đau khổ của họ, thông thường là do những
tri giác sai lầm của họ. Cũng vậy, dưới ánh sáng chánh
niệm, ta có thể chuyển hóa những cảm thọ của ta không
mấy khó khăn.
Một
khi ta thấy được gốc rễ của những cảm thọ, tự chúng
sẽ bắt đầu chuyển hóa.
Ý
THỨC VỀ CÁI GIẬN
Giận
là một cảm thọ khó chịu. Nó như một ngọn lửa cháy phừng
phựt trong lòng và làm tiêu ma cả sự tự chủ của ta. Nó
khiến ta nói và làm những điều mà sau này có thể ta sẽ
hối tiếc. Khi một người nổi giận, ta thấy rõ ràng là
người ấy đang ở trong hỏa ngục. Mà hỏa ngục là do sân
hận tạo ra. Một người không biết giận là một người
tươi mát, thánh thiện. Nơi nào không có sân hận, nơi đó
có hạnh phúc chân thật, có từ và có bi.
Khi
ta dùng ánh sáng chánh niệm soi vào cơn giận, cơn giận mất
dần năng lực. Ta tự bảo:" Thở vào, tôi biết tôi đang giận.
Thở ra tôi biết tôi đang là cơn giận của tôi ". Nếu ta
biết theo dõi hơi thở trong khi nhận diện và quan sát cơn
giận, cơn giận sẽ không còn dám tác oai tác quái trên tâm
thức của ta nữa. Cho nên, chánh niệm là một người bạn
có thể giúp ta khi cơn giận bộc phát. Chánh niệm đến không
phải để đàn áp hay xua đuổi cơn giận. Chánh niệm không
phải là ông quan tòa. Chánh niệm đến như một người chị
đến săn sóc, an ủi và vổ về đứa em. Ta có thể chú tâm
vào hơi thở để duy trì chánh niệm và để hiểu chính ta
rõ hơn.
Khi
giận, ta thường có khuynh hướng nghĩ nhiều về người làm
ta giận, hơn là trở về để quan sát chính mình. Ta chỉ nghĩ
đến những cái đáng ghét nơi người ấy, sự cộc cằn,
sự thiếu chân thật, sự tàn bạo, sự ranh mãnh v.v.... Càng
nghĩ đến người ấy, càng nhìn thấy người ấy, càng nghe
người ấy nói, lửa giận trong ta cháy phừng. Có thể người
ấy có nhiều cái đáng ghét thật, cũng có thể do ta tưởng
tượng và phóng đại lên, nhưng cái chính yếu làm cho ta đau
khổ vẫn là cơn giận của ta. Cho nên điều trươc tiên là
ta quay trở về với chính ta để quản lý cơn giận của ta.
Và tốt nhất là đừng nhìn, đừng nghe người mà ta cho là
nguyên nhân của cơn giận. Cũng như người đi chửa lửa,
phải tìm cách tưới nước lên đám lửa cháy chứ không phí
thì giờ đi tìm người gây ra đám cháy. "Thở vào là tôi
biết tôi đang giận. Thở ra, tôi phải để hết tâm ý chăm
sóc cơn giận của tôi ". Tuyệt đối đừng nghĩ gì về người
kia, và nhất là đừng làm, đừng nói gì hết trong khi đang
giận. Nếu ta để hết tâm ý quan sát cơn giận, ta sẽ tránh
được nhiều lầm lỗi mà sau này ta có thể hối tiếc. Khi
giận, ta chính là cơn giận. Nếu ta đàn áp hay xua đuổi nó,
tức là ta đàn áp và xua đuổi chính ta. Khi vui ta là niềm
vui.
Do
đó, khi cơn giận xuất hiện, ta nên nhớ rằng giận là một
nguồn năng lực có công năng phá hoại mà ta có thể chuyển
hóa thành một nguồn năng lực khác có lợi hơn. Khi ta có
một thùng rác hữu hiệu đang bốc mùi, ta biết rằng ta có
thể biến nó thành phân đất và những bông hoa thơm. Lúc
đầu, ta có thể thấy rác và hoa là hai cái trái chống nhau,
nhưng khi nhìn kỹ và sâu, ta thấy hoa đã có sẵn trong rác
và rác đã có sẵn trong hoa. Chỉ cần một hai tuần là hoa
đã biến thành rác. Một nhà làm vườn giỏi, nhìn vào rác
là đã thấy ngay điều đó. Bà ta không cảm thấy buồn chán
hay ghê tởm rác. Trái lại, bà ta thấy được giá trị của
rác. Chỉ cần một vài tháng là rác sẽ biến thành hoa. Ta
hãy là người làm vườn giỏi, ta nhìn vào cơn giận và không
còn thấy sợ hãi và muốn xua đuổi nó. Cái giận cũng như
rác có thể biến thành một cái gì khác đẹp hơn. Ta cần
nó như nhà làm vườn cần phân. Khi ta biết chấp nhận nó,
ta đã bắt đầu có chút nào an lạc rồi. Từ đó ta dần
dần chuyển hóa nó thành hiểu biết và thương yêu.
ĐẬP
GỐI ĐỂ TRÚT CÁI GIẬN
Biểu
lộ cái giận không phải luôn luôn là một điều tốt. Khi
để nó phát hiện và duy trì nó là ta càng làm cho hạt giống
giận mạnh hơn trong tiềm thức ta. Biểu lộ sự gận dữ
với người làm ta giận có thể gây nhiều đổ vỡ.
Có
những người chọn cách đập gối để trút cái giận ra ngoài.
Họ vào phòng, đóng kín cửa lại và trút tất cả cơn giận
dữ vào cái gối bằng cách đập nó túi bụi. Có người cho
rằng làm như vậy là tiếp xúc với cái giận. Tôi thì không
nghĩ như vậy.
Làm
như vậy cũng không phải là tiếp xúc với cái gối. Nếu
mình hiểu cái gối là gì, mình sẽ không đánh đập nó túi
bụi như vậy. Có điều sau khi đập gối một lúc thì ta mệt
đừ và cảm thấy đỡ tức tối hơn. Nhưng thật ra căn nguyên
cái giận vẫn còn nằm y nguyên trong ta. Sau khi ăn uống no
nê, sức lực ta trở lại, và lúc đó nếu có ai tưới tầm
hạt giống giận ấy trong ta, cơn giận sẽ bộc phát lại
ngay và ta lại phải đi tìm cái gối để cho đỡ khổ.
Cho
nên cách đập gối cho đỡ giận chỉ làm ta nguôi ngoai trong
chốc lát chứ không làm ta hết giận thật sự. Ta phải nhìn
sâu vào cơn giận, tìm hiểu nó tận gốc rễ, nếu không,
hạt giống của cái giận sẽ mọc trở lại rất nhanh.
Trong
đời sống hằng ngày, nếu ta chuyên tâm gieo trồng cho thật
nhiều hạt giống tốt lành, những hạt giống này sẽ chăm
sóc cho hạt giống giận của ta và dần dần chuyển hóa nó
mà ta không cần phải cố gắng nhiều.
Chánh
niệm của ta như mặt trời rọi ánh sáng lên mọi thứ. Mặt
trời có vẻ không làm gì nhiều , thế mà khi cây cối được
ánh sáng mặt trời chiếu soi là chuyển đổi không ngừng.
Hoa phù dung thường khép cánh lại khi trời xụp tối, thế
mà chỉ cần có ánh mặt trời chiếu xuyên qua nó trong vài
giờ là nó lại hé mở, không cưỡng lại được. Chánh niệm
của ta cũng vậy, nếu được nuôi dưỡng thường xuyên, sẽ
soi thấu vào lòng cái giận khiến nó phải mở tung ra để
ta thấy rõ bản chất của nó.
Khi
ta thấy rõ được bộ mặt thật của cái giận, ta sẽ không
còn bị nó khống chế nữa, ta sẽ được giải thóat.
ĐI
THIỀN HÀNH KHI ĐANG GIẬN
Khi
giận ai, ta nên đi thiền hành ngoài trời.
Không
khí trong lành, cây cối xanh tươi, có thể giúp ta lấy lại
sự bình thản.
Ta
có thể thực tập như sau:
Thở
vào, tôi biết tôi đang giận
Thở
ra, tôi biết cái giận là tôi
Thở
vào, tôi biết cái giận làm tôi khó chịu
Thở
ra, tôi biết cái giận rồi sẽ qua
Thở
vào, tôi thấy tâm đã tĩnh lặng
Thở
ra, tôi thấy tôi đủ mạnh để chăm sóc cái giận
Vừa
đi, ta vừa đọc thầm bài kệ trên, tâm ta theo dõi từng bước
chân và từng hơi thở, ý thức được bàn chân ta chạm trên
mặt đất. Thở sâu, bước chậm, vừa ngắm nhìn cảnh đẹp
chung quanh. Tâm ta dần dần lắng lại.
Ta
thấy ta vững chãi trở lại, lúc ấy ta sẽ nhìn sâu vào cái
giận để thấy rõ nó hơn.
LUỘC
KHOAI
Nhờ
dùng ánh sáng chánh niệm chiếu soi vào cái giận, ta bắt đầu
thấy được gốc rễ của nó. Cái giận có nhiều nguyên do,
vì hiểu lầm, vì vụng về, vì sự bất công hoặc vì tâm
ta chứa nhiều hạt giống sân hận.
Những
nguyên nhân này có thể đã có mặt trong ta và trong người
làm ta giận. Ta phải dùng chánh niệm để quán chiếu mới
có thể nhận diện được chúng và hiểu được bản chất
của chúng. Phải thấy và hiểu, ta mới có thể có từ và
bi.
Ta
không ăn được khoai sống, nhưng không phải vì vậy mà ta
vứt nó đi. Ta có thể luộc cho khoai chín. Ta bỏ khoai vào
nồi nước và ta đậy nắp lại, bắt lên lửa. Lửa là chánh
niệm, là hơi thở ý thức, là sự quán chiếu cái giận. Cái
nắp là định lực, là sự tập trung vì nó ngăn không cho
hơi nóng bay ra ngoài. Khi ta theo dõi hơi thở và thực tập
quán chiếu cái giận, ta cần phải tập trung tâm ý để giữ
vững chánh niệm. Do đó ta không để tâm chạy tán loạn.
Nếu ta đi thiền hành ngoài trời, giữa cỏ cây hoa lá; sự
thực tập càng dễ dàng hơn.
Ngay
khi ta đặt nồi khoai lên lò lửa, sự chuyển đổi đã bắt
đầu. Nước bắt đầu nóng. Mười phút sau thì nước sôi.
Nhưng ta không tắt lửa vì ta phải đợi cho khoai chín. Cũng
như vậy, khi ta theo dõi hơi thở và quán chiếu cái giận,
sự chuyển hóa đã bắt đầu. Sau nửa giờ đồng hồ, ta
mở nắp ra và ta ngửi thấy mùi khoai thơm. Bây giờ là lúc
ta có thể ăn khoai.
Cái
giận đã biến thành một năng lực khác, năng lực hiểu biết
và thương yêu.
NGUỒN
GỐC CỦA CÁI GIẬN
Cái
giận bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về chính con người
ta và về những nguyên nhân xa và gần đưa tới tình trạng
nóng bức hiện tại. Ta giận có thể cũng vì một ham muốn
nào đó, vì tự kiêu, vì nghi ngờ hay bực bội. Do đó nguyên
nhân chính của cái giận nằm ở trong ta; hoàn cảnh bên ngoài
và những người chung quanh chỉ đóng vai trò phụ.
Khi
một trận động đất hay lụt lội xảy ra, ta có thể chấp
nhận dễ dàng những thiệt hại to lớn đó. Nhưng khi có sự
đỗ vỡ do một người gây ra, ta lại không đủ kiên nhẩn
để chịu đựng. Ta hiểu vì đâu mà có lụt lội hay động
đất. Thế mà ta lại không chịu khó tìm hiểu do đâu mà
người đó đã gây ra cơn dữ của ta.
Ví
dụ có ngươi vừa nói với ta một câu rất khó chịu. Có
thể vì anh ta cũng vừa bị ai đó nói với anh ta như vậy.
Cũng có thể khi anh ta còn nhỏ, người cha nghiện ngập của
anh ta đã từng nói với anh ta bằng cái giọng gây gắt đó.
Khi thấy rõ những nguyên nhân này, không thể nào mà ta còn
giận cho được. Nói như vậy là ta không có nghĩa là ta dung
dưỡng những con người độc ác luôn tìm cách hại ta. Điều
quan trọng tôi muốn nói là ta phải lo chăm sóc những hạt
giống giận trong con người ta trước nhất. Sau đó, nếu người
đó quả là một con người quá quắt cần phải sửa trị
thì ta sẽ sửa trị nhưng vì lòng thương hơn là vì cái sợ
hay ý chí trả thù.
Khi
ta thực sự hiểu được những đau khổ của người khác,
ta sẽ tìm cách giúp họ vượt thoát những đau khổ , và bằng
cách giúp họ vượt thoát những đau khổ đó ; và bằng cách
ấy ta cũng giúp chính ta. Ta làm cho tâm ta nhẹ nhàng , an lạc,
thấm nhuần chất liệu của thương yêu.
NỘI
KẾT
Trong
đạo Bụt có một cái từ là "kiết sử", hay là nội kết,
tức là những gút mắc trong lòng ta. Khi một sự việc xảy
ra, tùy cách ta tiếp nhận nó mà ta tạo ra nội kết hay không.
Khi ai đó nói với ta một câu không đẹp, nếu ta hiểu vì
đâu mà họ nói với ta như vậy, ta không giận thì ta không
có nội kết. Trái lại khi ta nghe nói như vậy, ta không hiểu
vì sao, ta thấy giận và như vậy là ta có nội kết. Sự thiếu
hiểu biết về mình và người khác là nguyên nhân gây ra nội
kết.
Trong
đời sống hằng ngày, nếu ta có chánh niệm, khi nội kết
bắt đầu hình thành trong ta, ta biết ngay và lập tức chuyển
hóa nó.
Ví
dụ có một thiếu phụ trong bữa tiệc nghe chồng ăn nói có
vẻ hơi huênh hoang thì sanh ra có ý hơi coi thường chồng.
Đó là sự phát sinh của một nội kết. Nếu thiếu phụ đem
ý đó ra bày tỏ với chồng và cho chồng cơ hội giải thích
để hai người hiểu nhau hơn, thì nội kết mới thành hình,
sẽ được tháo gỡ dễ dàng. Khi nội kết bắt đầu xuất
hiện sẽ được tháo gỡ dễ dàng. Khi nội kết bắt đầu
xuất hiện, ta phải kịp thời nhận diện nó; nếu để lâu
ngày, nó đâm chòi mọc rễ thì việc chuyển hoá sẽ khó khăn
hơn.
Ý
thức ta cũng biết rằng những cảm thọ như buồn, giận,
lo
lắng, hối hận ít được mọi người chấp nhận. Do đó
ý thức thường tìm cách che dấu những cảm thọ này vào
một góc tối tăm nào đó của vô thức, để ta quên bẳng
nó đi, và cho ta cái ảo tưởng là ta không có vấn đề gì
cả, ta là một người có hạnh phúc. Nhưng những nội kết
này không chịu nằm im lâu. Lúc nào chúng cũng chờ dịp xuất
đầu lộ diện, có khi tràn ra như nước vỡ bờ qua những
ý nghĩ, hành động và lời nói của ta. Chỉ có thực tập
chánh niệm mới giúp ta tìm ra những giây mơ rể má của những
nội kết ngủ ngầm trong ta. Trong mỗi ý nghĩ, lời nói và
hành động của ta, ta phải ý thức rõ ràng do đâu mà ta nghĩ,
nói và làm như vậy. Ta phải luôn luôn đặt câu hỏi:" Tại
sao ta khó chịu khi nghe anh ta nói câu đó? ". Tại sao ta nói
điều đó với anh ta? " " Tại sao thấy người đàn bà đó
ta nghĩ đến mẹ ta? " " Tại sao nhân vật đó trong phim làm
ta ghét cay ghét đắng?" "Có phải bà ta giống người nào đó
mà ta không ưa? " Chỉ cần theo dõi quan sát tận tường như
vậy ta mới có thể đưa được tất cả những gút mắc trong
lòng ta trước ánh sáng của ý thức.
Khi
ngồi thiền, khi các cửa sổ giác quan đã được đóng lại,
ta có thể thấy nhữnh hình ảnh, những cảm giác này nọ
bắt đầu phát hiện từ những khối nội kết bị chôn vùi
trong tiềm thức của ta. Ta thấy lo sợ, buồn bã, bực bội
mà nhiều khi ta không hiểu vì sao. Những cảm giác này có
khi mạnh đền nổi làm ta bất an, xao xuyến cực độ, tình
trạng này khiến ta vội vã lẩn tránh không dám đương đầu
với chúng nữa. Do đó mà nhiều khi ta bỗng dưng e ngại không
muốn ngồi thiền nữa, hoặc mỗi khi ngồi thiền thì thấy
buồn ngủ không hứng thú. Theo tâm lý học, đó là một hình
thức đối kháng. Ta sợ ngồi thiền rồi những hình ảnh
đó lại xuất hiện làm cho ta đau khổ. Nhưng nếu ta đủ
quyết tâm để tiếp tục tập thở và cười, sau một thời
gian ta sẽ đủ sức để ngồi yên và đối diện với những
cái sợ trong ta. Giữ vững hơi thở và nụ cười, ta nhìn
thẳng vào cái sợ hay cái buồn và nói: " Xin chào em. Em lại
lên thăm ta đó hả? "
Có
nhiều người thích ngồi thiền giờ này qua giờ khác trong
một ngày nhưng chưa bao giờ họ thực sự đối diện được
với những khổ đau của họ. Họ cho rằng những đau khổ
ấy không quan trọng, họ chỉ thích quán chiếu về những
đề mục siêu hình. Tôi không có ý phê phán về những gì
họ quán chiếu. Tôi nghĩ rằng nếu những gì ta quán chiếu
trong khi ngồi thiền lại không dính dáng gì đến đời sống
hàng ngày của ta, đến khổ đau và hạnh phúc của ta, thì
sự hành thiền của ta chẳng giúp ích gì cho ta cả.
Hàng
ngày, nếu sống có chánh niệm trong từng giây phút, ý thức
rõ ràng từng cảm thọ và trí giác của ta , thì không thể
nào ta để cho nội kết đóng cục trong lòng ta được. Nếu
ta để tâm theo dõi và quan sát từng ý nghĩ, hành động và
lời nói của ta, ta sẽ khám phá ra những khối nội kết lâu
đời trong ta, và dù chúng có mạnh đến đâu, ta cũng có thể
chuyển hóa được một khi mà ta đã thấy được bộ mặt
thật của chúng.
SỐNG
CHUNG HÒA HỢP
Khi
hai người sống chung với nhau, muốn giữ cho hạnh phúc được
lâu dài, điều trước tiên là họ phải biết cách tháo gỡ
ngay những nội kết mà họ đã tạo cho nhau. Hạnh phúc không
còn là vấn đề của một người. Khi người kia không vui
thì mình không tài nào vui được. Cho nên phải thường xuyên
tìm hiểu nhau và thực hành ái ngữ để giúp nhau giữ vững
hạnh phúc. Khi người vợ thấy có điều chi chưa vừa lòng
thì phải bày tỏ cho người chồng biết ngay. Người chồng
cũng vậy. Khi thấy có bất hòa là phải tìm cách giải quyết
ngay, không được lơ là. Người vợ có thể nói:" Anh à, em
muốn chúng ta cùng nhìn sâu vào việc này để cùng nhau giải
quyết. Đừng để nó trở thành lớn có thể gây đổ vỡ
làm cho cả hai ta phải khổ đau ". Điều này cũng cần được
thực tập giữa cha con, mẹ con, anh em và bạn hữu.
Sở
dĩ nội kết có mặt là tại vì mình sống thiếu hiểu biết
, thiếu chánh niệm.
Nếu
chánh niệm lúc nào cũng có mặt, thì khi có nội kết là mình
biết ngay và mình lập tức tìm cách tháo gỡ chúng chẳng
có khó khăn gì.
BÀN
TAY CỦA BẠN
Tôi
có một người bạn nghệ sĩ. Trước khi rời Việt Nam cách
đây bốn mươi năm , mẹ anh cầm tay anh bảo rằng: " Khi nào
con nhớ mẹ, con cứ nhìn vào tay con, con sẽ thấy mẹ ". Câu
nói giản dị mà thật sâu sắc.
Trải
qua bao nhiêu năm, người bạn nghệ sĩ đã bao nhiêu lần nhìn
bàn tay mình. Sự hiện diện của mẹ không phải chỉ do huyết
thống. Cả con người của Mẹ, niềm vui, hy vọng và cuộc
đời của mẹ cũng đều nằm trong lòng bàn tay anh.
Mà
không phải chỉ có mẹ, mà cả bao nhiêu thế hệ cha ông cũng
có mặt trong lòng bàn tay ấy. Anh có mặt là do bao nhiêu yếu
tố trùng trùng duyên khởi.
Cho
nên anh bảo tôi anh không bao giờ cảm thấy một mình lẻ
loi.
Mùa
hè năm ngoái khi đứa cháu gái của tôi đến thăm tôi, tôi
bảo cháu: " Con hãy nhìn vào bàn tay con, " để cháu lấy đó
làm đề tài quán chiếu. Tôi cho cháu biết rằng từng hạt
sỏi, từng chiếc lá và từng con bướm đều ở trong lòng
bàn tay của cháu.
CHA
MẸ
Khi
tôi nghĩ về mẹ là tôi nghĩ tới tình thương vì giọng mẹ
dịu dàng và ngọt ngào như tình thương. Ngày mất mẹ, tôi
ghi trong nhật ký " Thảm kịch lớn nhất của đời tôi đã
xảy tới ". Ngay khi đã lớn khôn và không còn được sống
gần mẹ nữa, việc mẹ mất vẫn cho ta cái cảm giác cô đơn.
Ở
Tây Phương, tôi biết có nhiều bạn không nghĩ về cha mẹ
mình như vậy. Tôi nghe kể nhiều cha mẹ đã gây thương tích
đau đớn cho con cái mình. Nhưng tôi tin rằng không cha mẹ
nào có ý muốn làm cho con cái mình đau khổ. Có thể chính
họ đã bị cha mẹ họ gieo trồng những hạt giống đau khổ
đó, và cứ vậy mà những hạt giống đó được trao truyền
từ thế hệ này sang thế hệ kia. Phần lớn chúng ta là nạn
nhân của một lối sống thiếu chánh niệm, do đó chỉ có
sự thực tập chánh niệm mới giúp ta chấm dứt những đau
khổ cứ bị luân hồi từ đời này sang đời kia. Ta phải
quyết tâm phá vỡ cái vòng lẩn quẩn này để con cháu ta
không còn phải đau khổ vì sự truyền trao vô thức này.
Có
một cậu bé mười bốn tuổi đến tu học ở Làng Hồng.
Em đã kể câu chuyện như sau. Khi em mười một tuổi, em rất
giận ba của em. Bởi vì mỗi khi em chạy chơi vô ý bị té
và chảy máu là ba em la lối om sòm : " Đồ ngu! Đi sao mà té
hoài vậy!" Em tự nhủ khi lớn lên em sẽ không làm giống
như ba em. Năm ngoái, đứa em gái của em chơi với các bạn,
ngồi trên xích đu và bị té rớt xuống đất. Em gái bị
rách đầu gối và chảy máu. Cậu anh rất tức giận và đã
muốn la lên:" Đồ ngu! Làm sao mà để té như vậy?" Nhưng
em đã kịp thời dừng lại. Nhờ lâu nay đã thực tập thở
có chánh niệm, mà em nhận ra được là mình đang giận và
đã không để cái giận kéo mình đi.
Trong
khi người lớn lo săn sóc em bé gái, rửa vết thương và dán
băng lại thì cậu trai bỏ đi thiền hành, vừa tập thở vừa
nhận diện cái giận của mình. Em chợt khám phá ra rằng em
cũng đã hành xử giống như ba em. Em bảo tôi:" Nếu con không
tìm cách chuyển hóa cái giận của con, con sẽ lại trao truyền
nó cho con cái của con ".
Em
còn khám phá thêm rằng có lẽ ba em cũng là nạn nhân như
em. Hạt giống giận của ba có lẽ đã được ông bà cha mẹ
trao truyền lại. Một cậu bé mười bốn tuổi mà có được
nhận xét như vậy thật là quý. Đó là nhờ em đã có thực
tập chánh niệm. Em bảo tôi là em sẽ tiếp tục thực tập
chánh niệm để biến cái giận thành một cái gì khác.
Một
vài tháng sau thì cái giận của em không còn. Em đem thành quả
này về cho gia đình. Em nói với ba em trước đây em rất giận
ông ta nhưng bây giờ thì em đã hiểu. Em mong là ba em cũng
sẽ thực tập để chuyển hóa những hạt giống nóng giận
của ba. Thông thường thì cha mẹ dạy dỗ con cái nhưng nhiều
khi chính con cái lại giúp được cả cha mẹ.
Nhìn
lại cha mẹ của chúng ta, chúng ta thấy thương cha mẹ hơn
vì cha mẹ không có may mắn được thực tập chánh niệm để
có thể chuyển hóa những đau khổ của mình. Do đó chúng
ta phải biết tha thứ cho cha mẹ mình và đem niềm vui đến
cho cha mẹ. Nếu nhìn sâu và kỹ, ta sẽ thấy rằng không dễ
gì mà xóa hết những vết tích mà cha mẹ đã truyền trao
cho chúng ta.
Khi
ta tắm, ta kỳ cọ từng phần thân thể ta và tự hỏi : "
Thân thể này là của ai? Ai cho ta thân thể này? Cái gì đã
được cho? Nếu ta quán chiếu như vậy ta sẽ thấy có ba phần:
người cho, người nhận và vật được cho. Người cho là
ông bà cha mẹ, người nhận chính là chúng ta và vật cho là
thân thể này. Tiếp tục quán chiếu thì ta thấy rõ ràng rằng
người cho, người nhận và vật cho đều là một và đều
có mặt trong thân thể ta. Thân thể ta chứa đựng ông bà
cha mẹ của bao nhiêu thế hệ đã qua và cả những thế hệ
sẽ tới. Thấy như vậy là ta hiểu ngay ta phải làm gì và
không nên làm gì để giữ gìn chính ta, giữ gìn ông bà, cha
mẹ và con cháu của chúng ta.
GIỮ
GÌN VÀ NUÔI DƯỠNG NHỮNG HẠT GIỐNG TỐT
Tâm
ta có hai phần: phần tàng thức là nơi cất giữ những hạt
giống, và phần ý thức là nơi mà các hạt giống biểu hiện.
Ví dụ trong tàng thức ta có một hạt giống của cái giận.
Khi nhân duyên đầy đủ thì hạt giống đó phát hiện thành
một năng lực gọi là cơn giận. Nó đốt cháy ta và làm ta
đau đớn. Ta không còn vui khi hạt giống đó phát hiện trên
phần ý thức ta.
Mỗi
khi xuất hiện, cái giận lại nuôi dưỡng thêm những hạt
giống giận hờn trong tàng thức của ta. Nếu cái giận kéo
dài trong năm phút thì biết bao nhiêu hạt giống chứa đựng
cái giận lại được sinh sôi trong suốt thời gian năm phút
đó.
Vì
vậy ta phải hết sức cẩn thận để lựa chọn lối sống
cũng như những cảm xúc của ta. Khi ta nở một nụ cười
thì hạt giống hạnh phúc được biểu lộ. Khi biểu lộ,
nó gieo thêm những hạt giống tươi vui xuống tàng thức. Nếu
ta không thực tập cười trong nhiều năm , hạt giống đó
sẽ yếu đi và ta sẽ không còn có khả năng để cười được
nữa.
Tàng
thức ta chứa đựng mọi hạt giống, tốt cũng như xấu. Một
số do ta gieo trồng trong đời sống hằng ngày , một số do
ông bà cha mẹ và xã hội trao truyền. Một hạt lúa nhỏ xíu
chứa đựng cái biết của bao nhiêu thế hệ cây lúa về cách
thức đâm chồi, trổ lá , ra hoa và hình thành bông lúa. Thân
thể và tâm thức ta cũng vậy, được trao truyền cho ta từ
bao nhiêu thế hệ, ông bà cha mẹ đã gieo trồng trong ta biết
bao hạt giống an vui, hạnh phúc và cả những hạt giống khổ
đau, buồn giận.
Mỗi
khi ta thực tập chánh niệm là ta gieo trồng và củng cố những
hạt giống lành mạnh đã có sẵn trong ta. Những hạt giống
này cũng như những kháng thể. Khi có một con vi khuẩn chạy
vào máu ta, lập tức thân thể ta có phản ứng, những kháng
thể chạy tới bao quanh con vi khuẩn bắt nó phải biến dạng.
Cũng vậy, nếu trong ta có những hạt giống tươi mát lành
mạnh, những hạt giống này sẽ biết cách đối phó với
những hạt giống không tốt mà không cần đợi ta ra lệnh.
Do đó, điều ta cần làm là dự trữ cho thật nhiều những
hạt giống tốt.
Một
ngày nọ, chúng tôi được tin ông bạn láng giềng của chúng
tôi, ông Mounet, qua đời. Ông là người Pháp và sống ở cạnh
Làng Hồng. Ông là một người rất hiền hòa, dễ mến, ông
đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc xây dựng Làng. Ông
chết trong đêm vì bệnh tim, và sáng hôm sau chúng tôi mới
được tin. Nghe qua chúng tôi rất bàng hoàng, vừa cảm thấy
hối hận đã không để nhiều thì giờ tiếp xúc và sinh hoạt
với ông.
Tối
hôm đó tôi khó ngủ. Mất một người bạn như ông là một
điều đau đớn. Sáng hôm sau tôi phải nói pháp thoại nên
đêm đó tôi cố gắng dỗ giấc ngũ bằng cách niệm hơi thở.
Trời mùa đông rất lạnh. Nằm trong chăn ấm, tôi nghĩ đến
ba cây tùng loại Hy Mã Lạp Sơn tôi trồng trong sân của sơn
cốc cách đó đã tám năm.
Bây
giờ cả ba cây đều lớn và rất đẹp. Mỗi khi đi thiền
hành tôi đều dừng lại để vừa ôm cây vừa theo dõi hơi
thở. Tôi tin rằng mấy cái cây cũng đáp ứng lại cái ôm
của tôi. Nằm trong chăn , tôi tập thở và thấy mình vừa
là ba cây tùng vừa là hơi thở. Tôi thấy dễ chịu hơn nhưng
vẫn chưa ngủ được. Cuối cùng tôi nghĩ đến bé Trúc. Bé
đến làng lúc hai tuổi, bé rất kháo khỉnh nên ai cũng muốn
bồng, muốn ẵm, nhất là các em nhỏ. Bây giờ bé đã sáu
tuổi. Ẳm bé trên tay ai cũng thấy mình tươi mát như bé.
Cho nên tôi đã mời em hiện lên trong ý thức của tôi. Tôi
thở và mỉm cười với bé. Một lúc sau thì tôi thiếp đi.
Mỗi
người chúng ta nên có một kho dự trữ những hạt giống
lành, đẹp và mạnh để khi ta gặp khó khăn, chúng có thể
giúp ta. Đôi khi niềm đau quá lớn nên dù có bông hoa trước
mắt ta cũng không thưởng thức được. Nhưng nếu ta có một
cái kho dự trữ những hạt giống lành mạnh, ta có thể mời
chúng đến giúp ta. Cũng như khi mình có một người bạn thân
biết, hiểu và thương mình, được ngồi gần người đó,
dù không nói tiếng nào, mình vẫn cảm thấy khỏe khoắn.
Và
những lúc khó khăn mình thường nghĩ về người đó để
" cả hai " cùng im lặng thở và mình thấy dễ chịu hơn. Nếu
lâu ngày ta không gặp người bạn kia thì hình ảnh về người
ấy có thể phai mờ. Mà nếu người ấy là người duy nhất
có thể giúp ta thì ta chỉ còn cách mua vé xe lửa đến gặp
người ấy. Người ấy sẽ hiện ra bằng xương bằng thịt
chứ không phải chỉ là một hạt giống trong tiềm thức.
Thời gian được ở gần người ấy, ta phải biết sống cho
tỉnh thức, đừng để phí một giây phút nào, bởi ta đâu
có được ở lâu với người ấy, lý do là ta còn phải về
nhà. Người ấy giúp ta lấy lại sự quân bình nhưng chính
ta cũng phải tạo cho ta sự vững chãi bên trong, nếu không
thì lúc trở về một mình, ta lại cảm thấy chới với. Cho
nên lúc gần gũi người đó ta đừng nên kể lể than vãn
nhiều, hãy chia sẽ niềm vui được có nhau, được ngồi bên
nhau, hãy đi dạo với nhau. Để khi trở về nhà , ta sẽ có
nhiều kỷ niệm đẹp, nhiều hạt giống tươi mát tốt lành,
để khi hữu sự, gặp chuyện buồn phiền, chúng có thể giúp
ta vượt qua những khó khăn.
TIẾP
XÚC VỚI NHỮNG GÌ MẦU NHIỆM
Chúng
ta có khuynh hướng nghĩ tới chuyện buồn đau, chú ý tới
mặt buồn đau. Làm như vậy là mời những hạt giống buồn
đau lên, tưới tấm những hạt giống buồn đau, thất vọng
và gieo thêm những hạt giống buồn đau mới. Tại sao ta không
thực tập tiếp xúc với những gì tươi mát, tốt lành trong
ta và ngoài ta?
Những
cái đẹp, lành và tươi mát lúc nào cũng có mặt khắp nơi,
nhưng tại vì ta cứ hay giam mình trong cái nhà tù buồn bã
của ta nên ta không có cơ hội tiếp xúc với những mầu nhiệm
đó.
Cuộc
sống chung quanh ta đầy những mầu nhiệm, bầu trời xanh,
ánh nắng trong và nụ cười hồn nhiên của em bé có thể
cho ta biết bao niềm vui. Hơi thở của cũng rất tuyệt diệu
, nó cho ta sự sống mỗi ngày.
Thế
mà có người đợi khi bị suyển hay bị nghẹt mũi rồi mới
thấy hơi thở là quý.
Sống
có chánh niệm là biết trân quý từng phút giây của hạnh
phúc.
Hạnh
phúc lúc nào cũng có mặt trong ta và ngoài ta, chỉ cần có
chánh niệm là ta nhận diện được nó dễ dàng. Và khi ta
nhận diện được nó thì những hạt giống an vui, tươi mát,
lành mạnh càng phát triển mạnh mẻ trong ta. Dù ở đâu, bất
cứ nơi nào, ta cũng có thể thưởng thức được một tia
nắng ấm, một hơi thở ngọt ngào hay sự hiện diện của
một người thương. Ta đâu cần phải đi đâu xa, ta chỉ cần
có chánh niệm là hạnh phúc có thể có mặt trong tầm tay.
TRÁCH
MÓC KHÔNG GIÚP ĐƯỢC GÌ
Nếu
ta trồng cải xà lách, mà cải xà lách mọc không tốt, thì
ta đâu có trách móc cải xà lách đâu. Bởi vì ta có thể
tìm biết nguyên do từ đâu cải xà lách không mọc tốt: có
thể nó thiếu nước, có thể nó cần thêm phân, có thể vì
nắng nhiều quá. Ta hiểu vậy nên ta không trách móc cây cải
xà lách.
Thế
mà khi ta có vấn đề với gia đình hay với bạn bè, ta lại
hay trách móc đổ lỗi cho nhau. Nếu chúng ta không chăm sóc
nhau kỹ lưỡng thì chúng ta cũng không mọc lên được tốt
tươi như những cây xà lách vậy. Cho nên trách móc qua lại
không có lợi ích gì hết. Chỉ cần hiểu là đủ, không cần
lý luận phân trần.
Khi
bạn chứng tỏ mình hiểu được và mình thương được là
tình thể thay đổi ngay tức khắc.
Trong
một khóa tu ở Paris, một hôm tôi nói pháp thoại về cây
cải xà lách. Sau khi pháp thoại tôi đi thiền hành một mình.
Khi đi ngang qua một góc vườn, tôi nghe một em bé gái tám
tuổi nói với mẹ: " Mẹ ơi, con là cây cải xà lách của
mẹ đó nhé. Mẹ nhớ tưới nước cho con nhé! " Tôi rất vui
khi thấy em bé hiểu tường tận ý của tôi. Sau đó tôi nghe
bà mẹ trả lời: " Đúng rồi mẹ sẽ nhớ nhưng con cũng đừng
quên rằng mẹ cũng là cây xà lách của con đó nghe. Vậy con
cũng phải nhớ tưới cho nó nhé! "
Thật
đẹp thay khi cả mẹ và con đều cùng thực tập.
HIỂU
VÀ THƯƠNG
Hiểu
và thương tuy hai chữ mà một ý.
Một
buổi sáng kia, cậu con trai của bạn thức dậy thì thấy đã
gần giờ đi học. Cậu liền đến đánh thức em gái của
mình còn đang ngủ, để hai anh em có thể kịp ăn sáng trước
khi đến trường.
Em
bé ấy thay vì cám ơn lại gắt lên: " Đi đi! Kệ tôi!"
Cậu
bé có thể đã nổi giận vì thái độ không dễ thương của
em và có thể đi vào bếp để mách lại với bạn điều đó.
Nhưng
cậu bé chợt nhớ rằng tối hôm qua em bé đã ho nhiều, chắc
em đã bị sốt, không ngủ được, nên sáng nay mới khó chịu
như vậy. Khi hiểu được điều đó, cậu bé không còn thấy
giận em gái nữa.
Khi
bạn đã hiểu, không thể nào mà bạn không thương. Và khó
mà bạn có thể tiếp tục giận được.
Khi
bạn đã hiểu thì bạn biết phải làm gì để người kia
bớt đau khổ, bạn làm chuyện ấy rất tự nhiên không thấy
cần phải cố gắng nhiều. Cho nên muốn hiểu sâu, ta nên
tập nhìn mọi loài với con mắt từ bi.
TÌNH
THƯƠNG CHÂN THẬT
Muốn
thương ai, ta phải hiểu người đó. Nếu chỉ muốn chiếm
hữu người đó làm của riêng thì đó chưa phải là thương.
Ta không thể gọi đó là thương nếu ta chỉ biết lo cho ta,
cho những nhu cầu của riêng ta còn những nhu cầu của người
đó thì ta không hề để ý đến. Tình thương chân thật chỉ
có khi ta thấy được những gì người thương ta cần hay không
cần. Khi ta hiểu rõ ai, không thể nào mà ta không thương cho
được. Lâu lâu ta nên ngồi sát cạnh người thương của
ta, cầm tay người ấy và khẽ nói: " Này em của anh, em có
nghĩ là anh đã hiểu em chưa? Hay anh vẫn còn vụng về và
làm cho em đau khổ? Hãy nói cho anh biết, bởi anh muốn thương
em thật lòng!" Nếu ta thực tâm muốn tìm hiểu người thương
thì giọng nói của ta sẽ biểu lộ sự quan tâm và người
ấy sẽ mũi lòng.
Cánh
cửa cảm thông đã mở, chuyện gì mà ta làm chẳng được.
Người
ta đôi khi không có thì giờ hoặc không đủ cam đảm để
hỏi con trai của mình những câu hỏi tương tự: " Con của
ba, ba thương con, nhưng không biết ba đã hiểu được con chưa?
" Ta phải có cam đảm đặt câu hỏi đó với con cái ta , nếu
thương mà không hiểu, thì tình thương đó chưa đúng cách,
trái lại càng thương ta càng làm cho người ta thương "bị
thương". Phải có hiểu mới có thương thật sự. Khi được
hiểu, người được thương sẽ nở như một bông hoa.
TỪ
BI QUÁN
Từ
là đem niềm vui đến cho người, bi là lấy nỗi khổ của
người ra. Chúng ta ai cũng có hạt giống từ bi, và nhờ thực
tập quán chiếu " thương người như thể thương thân " ta
triển khai những hạt giống này thành những nguồn năng lực
dồi dào. Từ bi là tình thương đích thực không kỳ thị
vướng mắc nên không gây khổ đau phiền não.
Chất
liệu của từ bi là sự hiểu biết, khả năng đi vào da thịt
của người kia, làm một với họ, với mọi niềm đau nổi
khổ của họ. Bi có nghĩa là thông cảm với cái khổ của
người và có năng lực chuyển hóa cái khổ đó.
Chúng
ta có thể bắt đầu tập quán chiếu về những người đau
khổ về thể chất, những người yếu đuối bịnh hoạn,
những người cùng cực bơ vơ không có ai nương tựa. Những
người này ở đâu cũng có, rất dễ thấy. Có những trường
hợp vi tế hơn. Có những người có vẻ không có gì là đau
khổ, họ rất kín đáo, nhưng nếu quan sát kỹ, ta cũng thấy
được những dấu hiệu chứng tỏ họ cũng có những niềm
đau. Cả những người sống trên nhung lụa cũng có những
đau khổ của họ.
Khi
ta quán chiếu về những người này, lấy họ làm đối tượng
cho sự thực tập để quán chiếu về từ bi, ta phải nhìn
cho sâu và cho lâu vào nỗi đau của họ, dù khi đang ngồi
thiền hay thực sự tiếp xúc với họ, ta phải nhìn cho kỹ
để thấu triệt nỗi đau của họ đến khi ta cảm thấy niềm
xót thương trào dâng trong lòng.
Nhờ
quán chiếu sâu sắc như vậy mà xúc cảm của ta biến thành
hành động. Ta thấy câu nói " tôi thương anh vô cùng" chưa
đủ mà ta tìm mọi cách để làm vơi nỗi khổ của người
kia. Từ bi có mặt khi ta thực sự làm người kia bớt khổ.
Cho nên ta phải làm nẩy nở và nuôi dưỡng lòng từ bi trong
ta. Khi ta tiếp xúc với người kia, ý nghĩ, lời nói và hành
động của ta phải thể hiện được lòng từ , dù thân khẩu
của người kia chưa thanh tịnh cũng vậy.
Ta
phải thực tập như thế nào mà lòng từ bi của ta lúc nào
cũng có mặt, chứ không phải chỉ có mặt khi người kia dễ
thương. Tình thương của ta như vậy mới đích thực và vững
chắc. Ta có nhiều an lạc hơn và người kia cũng được an
lạc theo.
Niềm
đau của họ sẽ từ từ giảm thiểu và đời sống của họ
dần dần sáng sủa và tươi mát hơn.
Ta
cũng có thể quán chiếu về những người làm ta đau khổ
vì chính họ cũng đang đau khổ. Đó là điều chắc chắn.
Chỉ cần tập theo dõi hơi thở và quán chiếu là ta có thể
thấy được niềm vui của họ. Một phần những nỗi đau
khổ và khó khăn của họ là do cha mẹ họ trao truyền từ
khi họ còn nhỏ. Mà cha mẹ họ cũng có thể là nạn nhân
của ông bà tổ tiên họ. Những hạt giống xấu cứ như vậy
được truyền trao đời này sang đời kia. Nếu thấy rõ điều
đó, ta sẽ không còn trách cứ hay giận hờn họ nữa. Ta đã
hiểu được lý do vì sao họ đối xử không đẹp với ta.
Ta không giận mà trái lại ta cầu mong sao cho họ bớt khổ
đau. Ta không cần phải tìm đến họ để hòa giải. Khi ta
biết nhìn sâu, ta đã hòa giải với chính ta rồi.
Mọi
vấn đề đã được giải quyết. Lòng ta nhẹ nhàng và môi
ta nở nụ cười tươi. Sớm muộn gì người kia cũng thấy
được thái độ hòa ái của ta và cũng sẽ trở nên tươi
mát như ta.
Cho
nên có từ bi, ta có an lạc hạnh phúc mà người khác cũng
có được an lạc hạnh phúc. Chánh niệm là chất liệu nuôi
dưỡng cây hiểu biết để từ đó hoa từ bi nở ngát hương
thơm. Từ bi không phải là một ý tưởng chỉ nằm trong đầu
ta. Không phải chỉ cần ngồi yên một chổ và quán tưởng
về từ bi là ta có thể gieo rắc tình thương đến mọi nơi
như gửi đi những luồng âm thanh hay ánh sáng.
Từ
bi phải được thể hiện cụ thể hơn qua cách ta ăn ở đối
xử với mọi người chung quanh.
Tình
thương là một nguồn suối dạt dào nằm sâu trong lòng ta,
chỉ cần ý thức được điều đó là ta đã có thể ban phát
niềm vui đến cho bao người. Một câu nói hiểu biết dễ
thương cũng đủ làm vơi bớt nỗi khổ, đánh tan mọi nghi
kỵ hiểu lầm, đem lại tin yêu và tự do. Một hành động
đúng lúc có thể cứu sống một mạng người. Mà hành động
và lời nói ta chân chánh là nhờ ý nghĩ ta chân chánh.
Khi
có tình thương chân thật thì tất cả những gì ta nghĩ ,
nói và làm đều trở nên phép lạ và đem lại nhiều lợi
lạc.
THIỀN
ÔM
Ôm
là một tập quán đẹp của người Tây Phương. Chúng ta có
thể đóng góp phần hơi thở ý thức vào việc này. Khi ôm
một em bé trên tay, ôm mẹ, ôm con hay ôm một người thân,
nếu ta biết theo dõi hơi thở, ta sẽ thấy hạnh phúc bội
phần. Bởi nếu trong lúc ôm mà ta nghĩ đến chuyện khác,
có khác gì ta ôm một người nộm, ta không tiếp xúc thật
sự với người ấy, ta làm một cách máy móc, do đó cái ôm
không có ý nghĩa.
Tại
một khoá tu dành cho các nhà tâm lý trị liệu ở Colorado,
một thiền sinh, sau khi được thực tập thiền ôm, khi trở
về nhà đã ôm vợ mình thật cẩn trọng và sâu sắc như
chưa bao giờ được ôm vợ, làm bà vợ rất ngạc nhiên và
hết sức cảm động. Nhờ vậy bà vợ đã điện thoại xin
tham dự khóa tu ở Chicago.
Phải
thực tập nhiều mới thấy thoải mái trong khi thiền ôm. Có
người vừa ôm vừa vỗ vào lưng bạn như để chứng tỏ
rằng ta đang có mặt.
Bạn
chỉ cần theo dõi hơi thở là bạn thấy mình đang có mặt
thật sự với người kia.
Hai
người đang thật sự có mặt với nhau trong giờ phút hiện
tại, và đó có thể là giây phút đẹp nhất trong cuộc đời
bạn.
Nếu
cháu bé cưng của bạn đang đến với bạn mà bạn lại đang
lo nghĩ về quá khứ, suy tính về tương lai hay đang giận dữ
thì tuy cháu đứng đó mà bạn đâu thấy nó. Nó chỉ như
một bóng ma vì chính bạn cũng đang là một bóng ma. Muốn
thấy rõ con, tiếp xúc được với con, bạn phải tiếp xúc
được với chính mình, phải làm mình có mặt trong giây phút
hiện tại. Trở về với hơi thở là trở về với con người
thực của mình để thấy sự hiện diện của những người
thân là một thực tại nhiệm mầu.
Thiền
ôm được thiết lập trước hết cho những người trong cùng
một gia tộc. Đã có những người cha và người con hòa giải
được với nhau nhờ ôm nhau trong ý thức. Trong im lặng hai
cha con ôm nhau, tuy không nói, nhưng đã xóa bỏ mọi hờn oán
và nguyện làm mới trở lại tình thương giữa hai người.
Hai mẹ con cũng vậy.
Vào
ngày cúng giỗ tổ tiên hay cúng giỗ đầu năm, sau khi lạy
ông bà, anh em nên quay lại ôm nhau trong chánh niệm. Phải ôm
cho sâu sắc và thành kính. Chắp tay xá nhau thật sâu trước
khi ôm và sau khi ôm. Thiền ôm là một nghi lễ.
Nếu
không có một cung kính tột độ, đó không phải là thiền
ôm. Đó có thể là phá hoại thiền ôm. Lạy ông bà và tổ
tiên sẽ không có ý nghĩ gì nếu con cháu không chịu hòa giải
với nhau. Chúng ta nên thiết lập truyền thống đẹp đẽ
này trong truyền thống gia đình.
ĐẦU
TƯ VÀO TĂNG THÂN
Dù
có bao nhiêu tiền trong nhà đi nữa, mình vẫn có thể chết
dể dàng vì nỗi quạnh hiu và những khổ đau của mình. Cho
nên nếu có được một người bạn tốt, xây dựng được
một tăng thân tốt gồm những người bạn chân thật biết
nâng đỡ và bảo bọc ta trong lúc khó khăn, đó là một nguồn
đầu tư lớn. Những người bạn này giúp ta tiếp xúc với
những yếu tố tươi mát và lành mạnh trong con người ta và
chung quanh ta, nhờ đó ta trở nên một thành phần vững chãi
của tăng thân, đem niềm vui và sự hiểu biết đến cho mọi
người, cùng giúp nhau tiến tu trên con đường giải thoát.
CHÁU
CHẮT LÀ NIỀM VUI CỦA ÔNG BÀ
Người
già rất thích được sống gần con cháu.
Mà
ở Tây Phương con cháu thường gửi ông bà vào nhà dưỡng
lão. Cho nên người già ở Tây Phương thật là tội nghiệp.
Họ không được sống gần con cháu. Trong nhà dưỡng lão,
họ chỉ tiếp xúc với những người già. Cuối tuần con cháu
mới đến thăm được một vài giờ và sau khi con cháu ra về,
họ càng cảm thấy lẽ loi cô độc.
Ở
Việt Nam, ông bà lúc nào cũng sống với con cháu, kể chuyện
đời xưa cho con cháu nghe. Ta phải giữ gìn truyền thống này
để người già luôn được gần gũi người trẻ, để người
trẻ học được những cái hay của ông bà và để ông bà
có niềm vui được nâng niu các cháu và ôm các cháu vào lòng.
TĂNG
THÂN TU HỌC
Xây
dựng một tăng thân là điều cần thiết để cùng nhau sinh
hoạt trong thương yêu và hiểu biết.
Ở
Làng Hồng, trẻ em là mối lưu tâm đặc biệt của người
lớn. Mỗi người có trách nhiệm giúp đỡ các em, làm cho
các em sung sướng hạnh phúc vì nếu các em có sung sướng
hạnh phúc thì người lớn mới có thể có niềm vui.
Ngày
xưa gia đình ở Việt Nam là một mái nhà lớn qui tụ ông
bà, cha mẹ, cô dì, chú bác, anh chị em, bà con, mọi người
cùng sống với nhau dưới một mái nhà rất êm vui và ấm
áp. Xung quanh nhà là vườn cây xum xê bóng mát, ta có thể
bắt võng đu đưa vào những buổi trưa hè. Có những buổi
tối quây quần ăn cơm ngoài sân, hàn huyên chuyện trò và
nhìn ngắm trăng lên. Vào thời ấy trong gia đình ít có những
vấn đề trầm trọng như ngày nay. Ngày nay một gia đình thường
chỉ có cha mẹ và một hai đứa con. Khi cha mẹ lục đục
cãi vã nhau là các con lãnh đủ, không biết cầu cứu ai và
núp trốn ở đâu. Vì nhà thường chỉ có dăm ba phòng, có
chạy vào cầu tiêu trốn vẫn nghe ba mẹ cãi vã om sòm, và
không khí ngột ngạt không có chỗ để thoát ra vì nhà lúc
nào cửa cũng đóng kín mít.
Thế
nên chúng ta cần thiết lập những trung tâm tu học thay thế
những đại gia đình ngày xưa, xây dựng một nơi mà ở đó
mọi người đều biết sống trong chánh niệm và mỗi người
có thể đóng vai chú bác, cô hay dì cho mọi người nương
nhờ. Chúng ta ai cũng cần thuộc về một nơi nào đó, nơi
mà mọi sự mọi vật đều nhắc nhở ta một đời sống hiền
hòa an lạc, từ tiếng chuông ngân êm ả, đến vườn trúc
xanh mượt, đến nét cong dịu dàng của mái chùa cổ kính
đơn sơ.
Những
người sống ở đó toát ra một vẻ tươi mát thanh thản nhờ
ở sự thực tập tỉnh thức. Họ như những cây đại thụ
và khách nhàn du muốn đến ngồi nghỉ mát dưới tàng cây.
Đôi khi chỉ cần nghĩ đến họ thôi mình cũng đã thấy tâm
hồn an tỉnh trở lại và mình có thể mỉm cười.
Ta
cũng có thể biến gia đình chúng ta thành một nơi tu học,
mọi người trong gia đình cùng thực tập, sống hòa hợp tỉnh
thức. Cha mẹ con cái đều tập thở, tập mỉm cười, tập
ngồi thiền, ăn cơm , uống trà trong chánh niệm. Nếu có chuông
thì cái chuông cũng là một thành phần của gia đình vì chuông
giúp ta tu học.
Gối
ngồi thiền cũng vậy. Không khí trong lành cũng là một người
bạn tu của ta.
Gần
nhà nếu có công viên thì ta đi thiền hành trong công viên.
Do đó ta có đủ điều kiện để xây dựng một tăng thân
tu học tại nhà.
Lâu
lâu ta mời một vài người bạn tới tham gia một ngày quán
niệm với ta.
Việc
tu học sẽ dễ dàng và mau có tiến bộ nếu ta xây dựng được
một tăng thân.
ĐẠO
PHẬT ĐI VÀO CUỘC ĐỜI
Trong
chiến tranh Việt Nam, nhiều xóm làng bị bom đạn tàn phá.
Đồng bào khắp nơi rên siết quằn quại. Cùng với các thầy,
các sư cô sư chú trong chùa, sau nhiều băn khoăn suy nghĩ, chúng
tôi quyết định rời thiền viện để ra cứu giúp đồng
bào. Đạo Phật bắt đầu đi vào cuộc đời từ lúc đó.
Bởi vì thấy và hiểu để làm gì nếu ta không hành động?
Chúng
ta phải ý thức được thực trạng của thế giới để biết
rõ cần phải làm gì.
Giữa
những khó khăn nguy hiểm, nếu ta vẫn giữ được nụ cười
và hơi thở chánh niệm, thì mọi người, mọi loài quanh ta
sẽ hưởng được nhiều lợi lạc. Khi bước chân đi ta có
tiếp xúc được một cách ngọt ngào với trái đất không?
Trái đất như một bà mẹ hiền, ta muốn thương yêu vỗ về
với từng bước chân an vui tỉnh thức. Từng bước chân an
lạc tỉnh thức, đó là điều ta phải thực tập mỗi ngày
nếu ta muốn tiếp tục cuộc hành trình lâu dài.
Next:
Phần
Ba: An Lạc Từng Bước Chân