Dưới
đây là một bài phỏng vấn trong chương trình Phật giáo hàng
tuần của Đài Truyền hình Quốc gia Pháp (France 2), phát sóng
vào ngày Chủ nhật 02.12.2007. Buổi phát sóng này mang chủ
đề “Ánh hào quang của Phật” (Lumières du Bouddha). Nữ ký
giả của Đài France 2, cô Aurélie Godefroy, phỏng vấn nhà văn
hoá Olivier Germain – Thomas và nhà báo Christophe Boisvieux.
Aurélie
Godefroy: Phật giáo ngày nay là một tôn giáo đứng vào
hàng thứ tư của nhân loại (1). Từ đây, Phật giáo cho thấy
những đổi mới sâu xa, tại Âu châu này cũng như tại Á
châu, nơi Phật giáo đã khởi nguồn. Và chính hôm nay đây,
chúng ta sẽ dừng lại với nhau trên phần đất đó của địa
cầu.
Chúng
ta hiểu rằng Phật giáo đã hình thành trên lãnh thổ Ấn
Độ. Nhưng rồi tôn giáo này đã phát triển như thế nào,
trở nên phong phú ra sao khi hội nhập với những ảnh hưởng
đa dạng khác, qua chiều dài của nhiều thế kỷ? Những truyền
thống chính là gì? Làm thế nào để xác định những truyền
thống ấy? Những lý do quan trọng nào đã tạo ra sức mạnh
thu hút của Phật giáo tại Á châu mãi cho đến ngày hôm nay?
Chúng ta sẽ thảo luận về những vấn đề trên đây với
hai vị khách của chương trình là nhà văn Olivier Germain-Thomas,
và nhà báo Christophe Boivieux.
Để
bắt đầu, tôi muốn được mời ông Olivier Germain-Thomas giải
thích cho biết Phật giáo phát sinh như thế nào tại Á châu,
và đặc biệt là tại Ấn Độ.
Olivier
Germain-Thomas: Trước hết, phải nói rằng Phật giáo là
tinh khoa của đất nước Ấn Độ. Người ta thường quên
một điều là Phật giáo đã từng tồn tại suốt mười lăm
thế kỷ trên đất Ấn, và vì lý do tại nước này ngày nay
chỉ còn dưới 1% dân chúng theo Phật giáo và Phật giáo được
đón nhận vào phương Tây lại là Phật giáo Nhật Bản và
Tây Tạng, do đó người ta đã không còn nhớ đến cái lò
hun đúc ra Phật giáo. Cái lò ấy là nền tảng của các tư
tưởng triết học, là tinh thần và kinh nghiệm tâm linh của
cả nước Ấn.
Như
ta đã biết, Phật giáo hình thành vào thế kỷ thứ V hay thứ
VI trước Tây lịch, trong vùng cao nguyên nằm giữa Hy-mã-lạp
sơn và thung lũng sông Hằng. Khoảng thế kỷ thứ III trước
Tây lịch, nhờ hoàng đế A-dục, Phật giáo bành trướng khắp
nơi. Và xin đừng quên là Phật giáo đã từng lan rộng về
phương Tây, tức là các vùng ngày nay thuộc vào các quốc
gia như Afghanistan, Pakistan, Cachemire.
Aurélie
Godefroy: Vậy có phải việc hoàng đế A-dục quy y Phật
giáo là một yếu tố quyết định cho việc truyền bá rộng
rãi đạo Phật hay không?
Olivier
Germain-Thomas: Chưa thể biết chắc được. Nhưng dù sao,
chính vua A-dục là người mong muốn Phật giáo được phát
triển. Dù ít hay nhiều, ông vẫn còn là một người Ấn Độ
giáo, và vào thời ấy phần đông dân chúng trong nước vẫn
còn giữ đạo Bà-la-môn. Ông gửi sứ giả đi khắp nơi, từ
Đông sang Tây và cả về phương Nam. Phương Nam gồm các quốc
gia như: Tích Lan, Miến Điện, các nước Đông Nam Á.
Về
phía Tây, qua vùng Cachemire, và dọc theo Con đường Tơ lụa,
Phật giáo tiếp xúc thường hơn với Trung Quốc và lan rộng
vào phần đất này, sau đó đến lượt Triều Tiên, rồi tiếp
đến là Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ, giai đoạn lịch sử
này đã được ghi nhận khá rõ.
Nhưng
nhiều khi người ta lại quên một chuyện khác là các trường
phái chính của Phật giáo, dù đấy là Phật giáo Nguyên thuỷ
(Theravada), hay sau đó là Đại thừa (Mahayana), và tiếp theo
là Tan-tra thừa (Kim Cang thừa), tất cả đều phát xuất từ
Ấn Độ. Tan-tra thừa xuất phát từ đất Ấn, có nghĩa là
nền Phật giáo phát triển ở Tây Tạng dù thừa hưởng tinh
anh của các truyền thống Tây Tạng, nhưng các nguyên lý triết
học của nền Phật giáo ấy đều đã được du nhập từ
Ấn Độ. Quả thật đây là điều tuyệt vời đã diễn ra
suốt một ngàn năm trăm năm trên đất Ấn, và vẫn còn tiếp
tục cho đến ngày nay, đó là những gì hết sức lạ thường.
Aurélie
Godefroy: Thưa ông Christophe Boisvieux, ông có thể cho biết
thêm một cách chính xác hơn Phật giáo từ Ấn Độ đã được
truyền bá như thế nào?
Christophe
Boisvieux: Thưa vâng, từ lúc đầu, khi Đức Phật thuyết
giảng, chưa có chữ viết trong vùng thung lũng sông Hằng. Phương
thức truyền khẩu là chính yếu. Và vào thời đại Thiên
Chúa giáo, các văn bản mới được ghi chép và truyền tụng,
từ thầy đến đồ đệ (2). Đây là một nguyên tắc thật
căn bản.
Trong
một số các đường hướng tu tập Phật giáo, đặc biệt
tôi muốn nêu lên trường hợp của Phật giáo Tây Tạng, đối
với nền Phật giáo này, sự truyền thụ trực tiếp từ thầy
sang đệ tử là chủ yếu. Về sau, một số các vị thầy
đã đảm trách vai trò chính trong việc truyền bá Phật pháp.
Tôi cũng nghĩ đến trường hợp Trung Quốc, tức nghĩ đến
ngài Bồ-đề-đạt-ma đã mang Phật pháp vào Trung Quốc từ
thế kỷ thứ VI (3). Và sau đó, một vị thầy khác đã tạo
được một tầm ảnh hưởng quyết định cho Tây Tạng vào
khoảng thế kỷ thứ VII: đó là vị đạo sư vĩ đại Liên
Hoa Sinh (Padmasambhava). Chính các vị thầy xuất chúng trên đây
đã làm cho Phật giáo lan rộng.
Aurélie
Godefroy: Ta có thể nói rõ hơn một chút để giải thích
về ảnh hưởng địa lý trong sự phát triển của Phật giáo
hay chăng? Theo tôi hình như có hai cửa ngõ khác nhau?
Christophe
Boisvieux: Đúng vậy, thứ nhất là Con đường Tơ lụa đi
về phương Bắc, tôi muốn nói là con đường của các đoàn
thương nhân xuyên qua sa mạc, tuy đây là con đường thương
mại, nhưng đồng thời cũng là con đường của tín ngưỡng.
Chính
bằng cửa ngõ này Phật giáo đã đến với Trung Quốc trước
hết, sau đó từ Trung Quốc đến Triều Tiên. Triều Tiên lại
tiếp tục trở thành đầu cầu cho Phật giáo lan truyền vào
Nhật Bản.
Tiếp
theo, về phương Nam lại có con đường hàng hải, nối liền
một trong những trung tâm quan trọng của Phật giáo là Tích
Lan với các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Miến Điện, Cam-pu-chia.
Phật giáo còn phát triển sang cả In-đô-nê-xia, nhưng ngày
nay đã suy tàn. Trước đây Phật giáo hết sức phát triển
trên phần đất này.
Aurélie
Godefroy: Để có thể nắm vững hơn về Phật giáo trong
tình trạng hiện nay, chúng ta cần nói thêm về lịch sử Phật
giáo và ba truyền thống chính là Phật giáo Nguyên thuỷ, Đại
thừa và Kim Cương thừa. Ông có thể giải thích thêm vài
nét chính về các truyền thống ấy? Chúng ta hãy bắt đầu
với Phật giáo Nguyên thuỷ?
Oliver
Germain-Thomas: Phần cốt lõi phát xuất từ Ấn Độ, nhưng
sau đó chính nhờ khả năng thích ứng tuyệt vời đã giúp
Phật giáo hội nhập với các nền văn hoá khác.
Thật
ra, những dị biệt giữa các học phái, hay giữa các thừa
Phật giáo khác nhau, chỉ vỏn vẹn liên quan đến hai điểm:
thứ nhất là truyền thống văn hoá của quốc gia mà Phật
giáo phát triển, thứ hai là các văn bản mà những vị thầy
đã sử dụng.
Đối
với trường hợp Phật giáo Nguyên thuỷ, các vị thầy căn
cứ vào các văn bản tiếng Pali. Đối với Phật giáo Đại
thừa, các văn bản sử dụng là tiếng Sanskrit. Và đối với
Phật giáo Kim Cương thừa, các văn bản lúc đầu là tiếng
Sanskrit, nhưng ngày nay là tiếng Tây Tạng.
Nói
như thế để hiểu rằng khi du hành trong các xứ đó, nếu
có hai vị thầy gặp nhau, và khi gạt ra ngoài những tập quán
văn hoá, thì cả hai đều nhận ra rằng họ đã cùng xuất
phát từ một cội nguồn chung, đây quả thật là điều hết
sức tuyệt vời (4). Tuy thế, người ta vẫn phải thừa nhận
trong Kim Cương thừa có nhiều điều thần bí, trong khi đó,
Thiền tông (Zen) chẳng hạn, lại tượng trưng cho những gì
đơn giản nhất. Nhưng khi đã tu tập thiền định, người
ta cũng có thể hình dung bên trong mỗi người chúng ta những
gì hiển hiện lên đều rất gần với nhau.
Aurélie
Godefroy: Ông Christophe Boisvieux, ông cũng biết khá nhiều
về Phật giáo Nguyên thuỷ, vậy ông có gì để trình bày
thêm về truyền thống này?
Oliver
Germain-Thomas: Theo tôi thấy, những gì lý thú và gây nhiều
ấn tượng nhất trong Phật giáo Nguyên thuỷ chính là sự
kết hợp giữa Tăng lữ và thế tục: Tăng lữ không thể
tồn tại nếu không có thế tục, toàn thể xã hội thế tục
phục vụ cho Tăng lữ, nhất là các Phật tử cúng dường
hàng ngày cho các nhà sư, đây là điều được ghi chép từ
những lời giảng huấn của Phật: một nhà sư, hay một tỳ
kheo, phải tự mình khất thực. Điều này không thấy khuyến
khích trong các truyền thống khác.
Tôi
nghĩ đến trường hợp của Kim Cương thừa, đến Phật giáo
Tây Tạng chẳng hạn. Nhất định là có việc cúng dường
cho chư Tăng, nhưng không phải dưới hình thức như trên. Cách
cúng dường trên đây là một tập quán đã ăn sâu vào đời
sống thường nhật, quả là những cử chỉ tuyệt đẹp. Thật
hết sức xúc động khi nhìn thấy, vào buổi sớm tinh sương,
các tín đồ đi chân đất để tỏ sự cung kính, đứng trước
ngưỡng cửa, chờ những nhà sư đi ngang để cúng dường
thực phẩm.
Aurélie
Godefroy: Ông có thể cho chúng tôi biết các điểm đặc
thù của Đại thừa hay chăng và nếu có thể, cả về Kim
Cương thừa nữa, Kim Cương thừa có vẻ như là sự tiếp
nối của Đại thừa?
Olivier
Germain-Thomas: Điểm mới mẻ và nổi bật nhất của Đại
thừa là sự xuất hiện của các vị Bồ tát, đó là những
sinh linh đã, hoặc đủ khả năng để đạt được Phật tính,
có nghĩa là thể dạng của Phật, nhưng họ lưu lại làm người
để hướng dẫn kẻ khác trên đường đưa đến giác ngộ
và chấm dứt khổ đau.
Vì
thế, so với Phật giáo Nguyên thuỷ, đây là một hình ảnh
mới đã xuất hiện thêm. Nói như thế, nhưng người Phật
giáo Đại thừa sẽ giải thích ngay cho chúng ta biết là chính
Đức Phật đã thuyết giảng về Đại thừa trên đỉnh Linh
Thứu, nhưng những lời thuyết giảng ấy được giữ bí mật
(5), vì lẽ những người theo Phật giáo Đại thừa sẽ không
chấp nhận là Phật giáo Tiểu thừa có trước. Đây chỉ
là những tranh luận giữa các học phái có thể bỏ qua dễ
dàng.
Dù
sao chăng nữa, trên bình diện tổng quát, người ta có thể
bảo rằng hầu hết những biểu tượng trung gian là các thần
linh, lần lượt được xuất hiện khi bước vào Đại thừa,
và nhất là khi bước vào Kim Cương thừa.
Tuy
nhiên, trong Đại thừa vẫn có những đường hướng tu tập
hết sức đơn giản: đó là Thiền học, Thiền học xuất
phát từ cách tu thiền trong Phật giáo gọi là Định (dyana),
từ đó phát sinh Thiền tông ở Trung Quốc và học phái Zen
ở Nhật Bản, và cũng chính trong Thiền tông, các biểu tượng
trung gian trở nên ít quan trọng hơn, bởi vì phần chính yếu
là đi tìm thực tính bên trong của mỗi người.
Như
quý vị thấy, tất cả những thứ này khá phức tạp, nhưng
phần cốt yếu như đã nói trên đây, là những gì truyền
thụ từ thầy đến đồ đệ, đó là những gì hệ trọng
hơn tất cả những biểu tượng bên ngoài.
Aurélie
Godefroy: Để bổ túc cho cái nhìn về Phật giáo, hiện
nay người ta đang chứng kiến tình trạng thăng tiến hay là
bước lùi của đạo Phật, tuỳ theo từng quốc gia, chẳng
hạn như Hàn Quốc?
Christophe
Boisvieux: Tại Hàn Quốc, đúng ra là đang bước lùi. Các
nhà truyền giáo Phúc âm đã thực hiện những cố gắng thật
lớn lao trong việc truyền giáo, dù rằng Phật giáo vẫn rất
sinh động và giữ được truyền thống.
Trái
lại, ta thấy những xứ như Trung Quốc ngày nay đang có những
đổi mới thật quan trọng, tôi có thể nói như thế, người
ta thấy những ngôi chùa chật ních người. Và rồi, thật
là kỳ thú khi trở lại những gì mà ông bạn Olivier vừa
trình bày. Ngay trên đất Ấn, và từ khi nước này giành được
độc lập, tuy rằng vẫn còn là thiểu số, đã có hàng loạt
người thuộc giai cấp cùng đinh trở về với Phật giáo.
Mỗi
năm, nhiều chục ngàn người thuộc giai cấp bần hàn xin quy
y tập thể, họ muốn thoát ra khỏi hệ thống phân chia giai
cấp muôn đời của họ. Chính đó là nguồn gốc của sức
mạnh Phật giáo, sức mạnh đó đã làm nổ tung cả hệ thống
hết sức gò bó và chai cứng của hệ thống giai cấp, sức
mạnh đó là sức mạnh giải thoát. Chính như vậy, ngày nay
người ta đã tìm thấy trên đất Ấn sự hồi sinh của sức
mạnh Phật giáo.
Aurélie
Godefroy: Để kết thúc buổi phát sóng hôm nay, tôi nghĩ
rằng ông có một thí dụ hùng hồn, đó là trường hợp của
Trung Quốc?
Olivier
Germain-Thomas: Vâng, tôi đã đi khắp Trung Quốc, bằng tàu
lửa hoặc bằng xe ô tô chở khách, tôi thường đến viếng
những ngọn núi thiêng liêng, và rồi tôi đã đến được
một hòn đảo nhỏ, gọi là Phổ Đà sơn, có thể nói là
núi Athos (6) thu nhỏ, nằm ngoài khơi của Thượng Hải, đi
tàu phải mất một đêm. Hòn đảo hoàn toàn dành riêng để
thờ một vị Bồ tát biểu hiện qua hình ảnh nữ giới (7).
Tôi
thấy hàng ngàn Phật tử, phụ nữ, trẻ con, thanh niên thiếu
nữ, kéo nhau đi bộ hay quỳ xuống đất và đi bằng hai đầu
gối, dọc theo con đường thật dài đưa lên ngôi chùa trên
đỉnh của hòn đảo, để lễ Phật, nhất là để đỉnh
lễ vị Bồ tát với gương mặt nữ giới.
Những
gì thú vị nhất, chính là nghĩ đến ngày hôm nay, theo những
con số mới nhất, Trung Quốc có 10% người theo Phật giáo.
Nếu như Phật giáo có thể trở lại như là một thứ gì
thật hệ trọng cho Trung Quốc, thì nhất định bộ mặt của
Á châu, và kể cả thế giới nữa, sẽ hoàn toàn đổi mới.
Vậy, chính nơi đó sẽ xảy ra một thứ gì hết sức quan
trọng, và dù sao đi nữa đấy cũng là một trường hợp vô
cùng phấn khởi.
Aurélie
Godefroy: Xin cảm ơn hai ông đã đến với chúng tôi hôm
nay.
-------------------
(1)
Cho đến đầu thế kỷ XX, Phật giáo là tôn giáo lớn nhất
của nhân loại. Nhưng theo Aurélie Godefroy thì Phật giáo có
khoảng 350 triệu Phật tử. Đây là con số chưa phản ánh
thực tế.
(2)
Điều này không được đúng lắm. Tiếng Phạn cổ đã có
từ thế kỷ XIV trước Tây lịch, bộ kinh Rig Veda (bộ kinh
thứ nhất trong bốn bộ kinh Veda của Ấn Độ giáo) viết
bằng tiếng Phạn được soạn thảo vào năm 3.900 trước Tây
lịch. Những lời giảng huấn của Phật được vua A-dục
sai khắc vào các trụ đá và bia đá từ thế kỷ thứ III
trước Tây lịch.
Theo
truyền thống xưa ở Ấn Độ, những gì truyền khẩu mang
tính cách thiêng liêng sinh động và mầu nhiệm, khác hẳn
với những gì lưu giữ dưới dạng chữ viết. Trong Ấn Độ
giáo cũng thế, các bộ kinh cũng phải học thuộc lòng. Hình
thức truyền khẩu vẫn còn giữ đến ngày nay trong Tan-tra
thừa (Mật tông).
(3)
Điều này không được đúng lắm, Phật giáo đã du nhập
vào Trung Quốc từ thế kỷ thứ I.
(4)
Đúng vậy, đối với tất cả các tông phái và học phái
Phật giáo, chưa hề có những cuộc tàn sát lẫn nhau hay chiến
tranh triền miên, kể cả những hiềm khích hay hận thù dù
ở cấp bậc nhỏ cũng vậy. Người trong tất cả các tông
phái đều là con của Phật, người Phật tử chân chính ý
thức được rằng tất cả chúng sinh sống trong vô minh. Đây
là một đặc thù của Phật giáo mà người ta thường “quên”
(xin được phép mượn chữ “quên” do hai vị khách mời
của đài France 2 được phỏng vấn đã dùng trên đây).
(5)
Kinh điển Đại thừa bằng tiếng Phạn xuất hiện vào đầu
thế kỷ thứ I trước Tây lịch, kinh điển tiếng Pàli xuất
hiện vào cuối thế kỷ thứ I trước Tây lịch, sự chênh
lệch rất ít, do đó không thể nói Tiểu thừa hay Đại thừa
xuất hiện trước. Theo truyền thống, Phật giảng tuỳ theo
xu hướng, trình độ và năng khiếu của từng người hay từng
nhóm người nghe giảng. Kinh sách Tiểu thừa ghi chép những
buổi giảng đông đảo có tính cách đại chúng, trong khi đó
kinh sách Đại thừa ghi chép những buổi thuyết giảng thu
hẹp hơn.
(6)
Athos là một vùng núi ling thiêng ở Hy Lạp, ở đó có các
tu viện thuộc Chính thống giáo, được thành lập thế kỷ
X với ít nhiều tự trị. Đặc điểm của nơi này là cấm
kỵ mọi sinh vật giống cái, trừ gà mái vì gà mái cho trứng
nuôi các vị tu sĩ.
(7)
Tức Bồ tát Quán Thế Âm.
(Văn
Hoá Phật Giáo)
Người
gửi bài: Minh Trần
02-23-2008
12:23:55