Y
NGHĨA BẤT Y NGỮ
Pháp
theo tiếng Bắc Phạn là Dharma, tiếng Nam Phạn là Dhamma có
nghĩa là dù ở hoàn cảnh nào cũng vẫn giữ được tự tánh
bản chất và tùy theo hoàn cảnh để hòa hợp nhưng không
thay đổi bản chất. Tất cả kinh điển của Phật nói ra
được gọi là Pháp, với mục đích chỉ dạy chúng sinh theo
đó mà tu hành sẽ được giác ngộ, giải thoát khỏi vòng
sinh tử luân hồi.
Người
đời nhiều bệnh, các bệnh lại không giống nhau nên thầy
thuốc phải tùy bệnh mà cho thuốc. Đức Phật là Đại Y
Vương nên Ngài cũng tùy theo cơ duyên, căn tánh, trình độ
của từng chủng loại chúng sinh cao thấp không đều và tùy
thời tiết nhân duyên mà thuyết pháp để mọi chúng sinh đều
được giác ngộ.
Trong
thời kỳ bắt đầu của đạo Phật, do nội dung cách mạng
và giải phóng triệt để hầu xóa tan biên giới giai cấp
cùng cách phân biệt đối xử rất khắc nghiệt của xã hội
Ấn Độ thời ấy, nên nhiều thế lực đã tìm cách phá hoại
uy tín của Đức Phật. Cũng do điều kiện khách quan còn nhiều
khó khăn, chưa thể hoạt động thật mạnh mẽ ở tất cả
mọi phương diện, nên Đức Phật đã phải tùy nghi phương
tiện, uyển chuyển cải cách, để vừa hoằng pháp, vừa phát
triển, lại vừa sinh tồn.
Vì
nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải được giản
dị, thực phẩm phải được xem như là dược thực, vì thế
tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực. Khất thực
là chính sách thực hành giáo pháp. Các thầy Tỳ kheo phải
giữ tâm bình đẳng mà đi khất thực từng nhà, không phân
biệt giầu nghèo sang hèn để tạo cho đủ mọi tầng lớp
dân chúng đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước,
nhân dịp đó quý thầy nói pháp khuyên dạy mọi người tu
hành.
Pháp
khất thực cũng vừa có mục đích phá trừ ngã chấp, vừa
tự độ vừa độ tha, lợi mình lợi người lại khỏi mất
thời gian mua và nấu nướng thực phẩm. Khi ăn thì phải trộn
các món ăn với nhau để không còn phân biệt món này với
món khác, món ngon món dở và không phân biệt mùi vị. Mục
đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon, mà chỉ cần
ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
Trong
hoàn cảnh xứ Ấn Độ hai ngàn năm trăm năm trước đây,
dân chúng thì nghèo mà tăng đoàn của Phật thì lại đông,
mỗi khi đi khất thực có đến cả ngàn tỳ kheo, làm sao mà
có thể có đủ thực phẩm chay. Lại nữa, đã gọi là trải
ruộng phước cho mọi người gieo trồng, làm sao có thể từ
chối vật thực cúng dường, tạo sân hận cho người có lòng
cúng dường. Cho nên sự việc tăng đoàn thọ nhận vật thực
cúng dường, dù cho có lẫn thịt cá, hoàn toàn là tình cờ,
chư Tăng không hề quan tâm đến món ăn, chỉ cốt có thực
phẩm để nuôi dưỡng cơ thể có đủ sức tu hành hoàn thành
đạo quả.
Do
hoàn cảnh khó khăn kể trên, Phật không đòi hỏi mọi người
một cách khắt khe, nhưng nhờ Giới Không Sát Sanh do Ngài ban
hành sẽ thấm nhuần từ từ khiến cho mọi Phật tử sẽ
ngừng tay chém giết súc sinh, thay thế thực phẩm bằng các
thực vật rau đậu, chừng đó họ sẽ cúng dường rau đậu
trái cây.
Ngày
nay, hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua, đời sống toàn thế
giới đã tương đối sung túc hơn thời cổ đại. Các vùng
sa mạc nay cũng có thể trồng được hoa mầu. Lương thực
không còn thiếu thốn như xưa. Dù nghèo, mọi người muốn
cúng dường chư Tăng đều có thể thực hiện được vì thực
phẩm rau đậu đâu đâu cũng có, vừa tinh khiết lại nhiều
chất bổ dưỡng.
Nên
nhớ là chư Tăng hoan hỷ nhận lãnh bất cứ gì người Phật
tử tại gia vui lòng hiến dâng. Việc ăn thịt cá trong ba trường
hợp mà Đức Phật cho phép không còn đúng cho ngày nay, đó
chỉ là pháp phương tiện mà Đức Phật uyển chuyển ban hành
trong thời kỳ khó khăn nói trên. Chúng sinh có bệnh, Phật
cho thuốc cũng phải tùy bệnh, tùy hoàn cảnh, thời đại,
cơ duyên, có lúc thuốc phải nhẹ nhàng để thấm từ từ,
có lúc bệnh nhân đủ sức chịu đựng thì Phật cho uống
liều mạnh để khỏi bệnh luôn, cho nên là Phật tử, chúng
ta đọc kinh phải hiểu ý Phật, ý kinh. Đức Phật đã dạy
cho chúng ta phải y cứ theo bốn điều: (1) y pháp bất y nhân,
(2) y trí bất y thức, (3) y nghĩa bất y ngữ, và
(4) y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh.
Hay
nói một cách khác, tất cả lời Phật đều là pháp phương
tiện giáo hóa chúng sinh, pháp đó hợp với lý chân thật
của vạn sự vạn vật, nhưng do hoàn cảnh không gian và thời
gian sai khác, nên pháp đó có thể phù hợp hay áp dụng được
ở một quãng thời gian hay không gian nào đó cho một số chủng
loại chúng sinh nào đó, nhưng cũng có thể không phù hợp
hay không áp dụng được cho một thời kỳ nào khác hay nơi
chốn nào khác cho chủng loại chúng sinh khác.
Ý
của Phật có thể ví như là bản chất tự tánh của nước
là ẩm ướt, tùy theo nhân duyên hoàn cảnh, dù nước đổ
vào bình tròn hóa ra tròn, dù đổ vào bình vuông hóa ra vuông
và dù biến thành hơi bay lờ lững trên trời, thì bản chất
tự tánh của nước vẫn không thay đổi.
Trong
suốt bốn mươi chín năm hóa độ chúng sinh, Ngài chỉ khuyên
chúng ta tự hy sinh bản thân để cứu chúng sinh. Trong kinh
Phật, không hề có một lời nào khuyến khích bạo lực, trả
thù v..v.. Người Phật tử chỉ có một con đường, nếu muốn
là Phật tử chân chính, đó là "cứu vớt chúng sinh và
không ăn thịt chúng sinh".
Từ
lúc đạo Phật có mặt trên quả địa cầu này đến nay,
đạo Phật chưa bao giờ dấy khởi chiến tranh, bởi giới
luật đầu tiên của Phật là Không Sát Sanh - chẳng những
không giết người mà còn trân qúy và bảo vệ sự sống của
muôn loài chúng sinh hữu tình lẫn vô tình. Ngài nói rất rõ
trong tất cả các kinh điển Nguyên Thủy cũng như Đại Thừa
là, "chớ có sát sinh, chớ có khuyến khích sát sanh, chớ
có chấp nhận sát sanh, chớ có làm hại các sinh vật nhỏ
bé trong nước, thậm chí chớ có đạp trên cỏ xanh." [1]
Do
những lý lẽ trình bầy trên, chúng ta tuyệt đối không nên
cúng dường qúy thầy, qúy sư những thực phẩm không phải
là chay, những thực phẩm hay đồ dùng có nguồn gốc từ
việc giết hại chúng sinh như thịt cá tôm cua sò ốc, da đồi
mồi, da cá sấu, áo lông thú, dày da bò, da trâu, cao hổ cốt
và vải lụa dệt bằng tơ tằm.
Nếu
như chúng ta cứ cố ý làm như vậy rồi viện lẽ Phật cho
phép, tức là chúng ta đã không mang ơn Phật mà còn hủy báng
Phật và chúng ta tự hủy hoại hạt giống từ bi trong chính
chúng ta, chúng ta tự tạo tội cho chính chúng ta. Mua thịt
cá ngoài chợ, dù là mua cho mình hay mua cho người khác cũng
đồng nghĩa sát sinh như nhau.
Đừng
ngụy biện nói rằng "Tôi không giết, không nghe, không thấy.
Họ bán thì tôi mua. Đó là tịnh nhục". Không !! Đừng
tự lừa dối mình !! Thời nay không còn tịnh nhục. Thịt
cá bán ngoài super market có đối tượng rõ ràng, đó là người
mua. Vậy có người mua nên mới có kẻ bán. Người mua là
lý do thúc đẩy kẻ bán giết con vật, làm sao còn gọi là
tịnh nhục được, làm sao có thể nói được là tôi không
giết. Hành động mua thịt cá ngoài chợ được xem là một
thứ "ủy nhiệm sát sanh" (killing by proxy) cũng đồng nghĩa
như sát sanh.
Có
một số người còn cho rằng Giới Không Sát Sinh trong năm
giới dành cho cư sĩ Phật tử là "giới bất sát nhân"
tức "không giết người, "có nghĩa là vẫn được
giết các sinh vật khác, trừ người ". Quả là một sai
lầm vô cùng lớn lao và tai hại. Họ đã hiểu sai, không những
chữ mà còn ý của Phật nữa. Chữ "sinh" trong "Giới
Không Sát Sinh" có nghĩa là sinh vật hay chúng sinh (sentient
being). Chúng sinh, theo Ngài Trần Thái Tông dạy rất rõ cho
hàng Phật tử tại gia là hữu tình chúng sinh, tức là
tứ sinh nói trong Khóa Hư Lục, nghĩa là sinh vật sinh từ trứng,
từ thai bào, từ ẩm ướt và từ hóa sinh.
Còn
giới Sát Sinh của Bồ Tát Giới thì quý Phật tử nào đã
thọ thì biết, chỉ khởi lên "ý niệm" ăn thịt hay ý niệm
sát hại đã là phạm giới chứ không phải chỉ khi ăn thịt
chúng sinh mới là phạm giới.
Trong
đời sống tương đối này, chúng ta ai ai cũng bị chi phối
bởi luật nhân quả. Không nhân nào mà không ra quả, chỉ
chờ duyên thôi. Cho nên nếu bất đắc dĩ phải làm những
nghề liên quan đến sát sinh dù là trực tiếp hay gián tiếp
như làm nghề chài lưới, săn bắn, giết heo, mổ gà, mổ
bò, bán súng, thì chắc chắn sẽ có ngày lãnh hậu quả, có
thể đời nay, hay những kiếp sau. Nên Đức Phật khuyên trong
Bát Chánh Đạo hãy chọn một nghề sinh sống không làm tổn
hại đến chúng sinh. Đức Phật thương xót đến cả côn
trùng không nỡ dẫm lên chúng. Nếu như chúng ta có vì vô
tình mà không tránh được việc dẫm lên các con vật nhỏ
bé thì chúng ta cũng nên tránh các nghề sát hại chúng sinh
như nói ở trên.