GIỚI
KHÔNG SÁT SANH
Gạt
bỏ những lối nghiên cứu lịch sử của các học giả về
khía cạnh chính thống hay không chính thống của văn tự chữ
nghĩa, chúng ta hãy tìm hiểu quan điểm thực của người Phật
Giáo về vấn đề không ăn thịt cá này qua giới luật, đặc
biệt là giới cấm sát sinh.
Như
trên đã nói, ăn chay là chính sách dinh dưỡng nhằm bảo tồn
sức khỏe, thức ăn chỉ là những chất dinh dưỡng, là những
thuốc bổ để nuôi cơ thể, đồng thời ăn chay cũng là chính
sách thực hành giáo pháp, thực hành giới luật cấm sát sinh
và do đó tâm từ bi được phát triển.
Như
vậy ăn chay có liên hệ mật thiết với giới cấm sát sinh
và vì thế khi nói đến ăn chay mà không nói đến giới cấm
này là một việc thiếu sót hay cố tình tách rời hai vấn
đề như là khác nhau!
Theo
Trường Bộ Kinh và Trường A Hàm, thì Giới là một trong tam
học của đạo Phật: Giới Học, Định Học và Tuệ Học
và là bước đầu tiên của tiến trình năm bước dẫn đến
giải thoát: Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát
Tri Kiến.
Giới
là bước đi căn bản, do giới mà có thiền định và do thiền
định mà phát sinh trí tuệ. Nếu bước đi đầu không vững
vàng hay sai trái thì không thể nào đi được các bước kế
tiếp.
Trong
suốt bốn mươi chín năm hoằng pháp, Đức Phật đã để
lại không biết bao nhiêu là kinh điển, nhưng không ngoài ba
điều, mà hai điều đầu tiên thu nhiếp tất cả về giới
luật: không làm các điều ác, làm các việc lành
và giữ tâm ý thanh tịnh (chư ác mạc tác,
chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý).
Phật
tử tại gia giữ 5 giới: không sát sinh, không trộm cắp, không
tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nếu giữ thêm 3
giới nữa là không nằm giường cao, không ướp hoa, xoa phấn,
và không ăn trái giờ, được gọi là bát quan trai giới. Nếu
là xuất gia, Sa di và Sa di ni giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250
giới, Tỳ kheo ni giữ 348 giới, Bồ Tát giới, xuất gia hay
tại gia giữ 10 giới trọng và 48 giới khinh.
Căn
cứ theo từng giới cấm một, cũng như toàn thể giới bổn,
thì năm giới căn bản áp dụng chung cho cả hai hàng xuất
gia và tại gia, áp dụng cho tất cả mọi người muốn được
sống an lạc hạnh phúc cho mình và cho chúng sinh ở hiện tại
cũng như tương lai.
Trên
ý nghĩa cơ bản, giới được đặt trên nền tảng từ bi
thương sót đến tất cả muôn loài chúng sinh, là không làm
các điều ác và làm các việc tốt lành hay nói một cách
khác, không làm những gì có hại cho mình, cho chúng sinh, hoặc
hại cả hai, và tích cực làm những gì về cả ba phương
diện thân, khẩu và ý mà có lợi cho mình và cho chúng sinh.
Giới
không sát sinh là giới thứ nhất, không phải là những điều
răn dạy hay cấm đoán trong nền tảng luân lý thông thường
mà được đặt trên cơ sở bình đẳng Phật tánh nơi mỗi
chúng sinh, nơi lòng từ bi của con người và nơi định luật
nhân quả của vũ trụ vạn vật.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn dạy: Tất cả chúng sinh đều có Phật
tánh, nhưng vì bị vô lượng phiền não che phủ nên chúng
sinh chẳng nhận thấy được. [9]
Đối tượng
chúng
sinh trong giới cấm thứ nhất của đạo Phật là hữu
tình chúng sinh, tức là những chúng sinh có hệ thần kinh,
có tình cảm, biết cảm giác, biết đau đớn và vui sướng..
Chúng sinh ấy bao gồm từ người cho tới các loài động vật
trên bộ, trên không và dưới nước, từ những con vật lớn
như voi tượng, như cá ông cho đến các con vật nhỏ bé như
kiến, như sâu trùng.
Do nghĩa trên
mỗi cá thể chúng sinh đều đồng có Phật tánh, đều có
khả năng thành Phật nên có đặc tính bình đẳng, do đó
người Phật tử chúng ta không những không dám sát hại chúng
sinh mà còn phải tôn trọng và bảo vệ chúng sinh.
Bản
chất của chúng sinh, dù loài nào, cũng đều ham sống sợ
chết. Giết hại chúng sinh tức là gây cho chúng sinh một sự
đau đớn về thân thể và một sự tuyệt vọng khi lòng ham
sống bị đe dọa và xâm phạm. Hơn nữa, cái chết của một
chúng sinh luôn luôn đồng nghĩa với sự chia lìa thân quyến.
Khi một chúng sinh bị đe dọa đến mạng sống, chúng cũng
có những phản ứng tự vệ, ít nhất là phát ra những nỗi
oán hờn thù hận đến những ai định tâm sát hại chúng.
Tại sao chúng ta làm đau đớn hay hủy mạng sống của chúng
trong khi chúng ta muốn sống và không muốn ai hành hạ chúng
ta?
Không
sát sinh tức là không tước đoạt sự sống, hay tôn trọng
sự sống chính là nền tảng căn bản của nếp sống an lạc
cho cá nhân và hoà bình cho xã hội. Sát sanh là nguyên nhân
của chiến tranh tàn phá. Con người giết thú vật một cách
si mê ngu muội, đâu biết rằng niềm oán hận không thể nào
xóa bỏ cứ chồng chất theo năm tháng khó mà cản ngăn nỗi
thù sâu oán trả.
Đạo
Phật chủ trương cấm sát sinh, thể hiện qua việc ăn chay,
như là một chính sách dinh dưỡng tốt và cần thiết cho sự
hành trì Phật pháp của mỗi cá nhân, ổn định cho gia đình,
xã hội, và tận diệt nguồn gốc của chiến tranh.
Căn
cứ vào đời sống gương mẫu của Phật, chúng ta hiểu rằng
khi đặt ra giới cấm này, Phật không chỉ giới hạn vào
việc tôn trọng và bảo vệ sự sống của con người, mà
còn là tôn trọng và bảo vệ sự sống của tất cả mọi
sinh vật. Ngay cả đến cỏ cây hoa lá, dù không phải là hữu
tình chúng sinh, không có tình cảm khổ vui, Ngài cũng dạy
rằng nên tôn trọng. Đó là thói quen tốt của người Phật
tử, không bao giờ sử dụng bạo lực. Chúng ta hãy xem quan
điểm của Hòa Thượng Thích Minh Châu, nguyên Viện Trưởng
Viện Đại Học Vạn Hạnh:
"Trong
vũ trụ bao la, hành tinh chúng ta cực kỳ nhỏ bé, sự sống
mong manh, trước đe dọa của một thảm họa hạch nhân. Do
vậy chúng ta sống trên hành tinh này, phải tôn trọng và bảo
vệ hành tinh chúng ta, tôn trọng và bảo vệ sự sống còn
của con người, tôn trọng và bảo vệ sự sống của sinh
vật, tôn trọng và bảo vệ sự sống của cỏ cây hoa lá.
Sự sống tự nó là thiêng liêng, đòi hỏi chúng ta phải tôn
trọng và bảo vệ, dầu là sự sống động vật hay thực
vật. Hủy hoại đời sống người khác, các loài hữu tình
khác để duy trì đời sống của mình, không những trái với
đạo lý con người, mà còn nghịch lại với luật thiên nhiên.
Tôn
trọng và bảo vệ đời sống của con người, của mọi loài,
là động lực hay nhất và thiết thực nhất để bảo vệ
và tôn trọng đời sống của chính bản thân mình.
Bảo
vệ sự sống ở nơi đây còn có nghĩa bảo vệ môi trường
sống, bảo vệ sự dinh dưỡng trong lành của đất, nước,
cỏ cây hoa lá, bảo vệ sự trong sạch của bầu khí quyển
khỏi bị ô nhim, để nuôi dưỡng sự sống con người. Chỉ
bằng cách bảo vệ hữu hiệu môi trường sống mới có khả
năng bảo đảm sự sống của muôn loài và sự sống còn của
chúng ta.
Nguyên
lý này đặt trên nền móng, trên lời khuyên của Đức Phật,
chớ có sát sinh, chớ có khuyến khích sát sanh, chớ có chấp
nhận sát sanh, chớ có làm hại các sinh vật nhỏ bé trong
nước, thậm chí chớ có đạp trên cỏ xanh. Đối với Đức
Phật, từ bỏ sát sanh có nghĩa là bố thí không sợ hãi,
bố thí không hận thù, bố thí không làm hại cho vô lượng
chúng sanh. Đây là bố thí đệ nhất, bố thí tối thượng,
bố thí vượt ngoài thời gian, bố thí được tồn tại lâu
dài.
Ỏ
đây lời dạy của Đức Phật về lòng từ, về tôn trọng
sự sống, về không sát sanh sẽ đi rất xa trong sự nghiệp
thay đổi tâm trí của nhân loại. Chúng ta phải tu tập lòng
từ (metta) để nhiếp phục lòng sân và bất mãn. Chúng ta
cần phải tu tập lòng bi (karunà) để gìn giữ không làm hại
một ai, một sinh vật nào. Chúng ta cần phải tu tập lòng
hỷ (mudita) để hoan hỷ trước sự thành công của người
khác. Chúng ta phải tu tập lòng xả (upekkhà) để diệt nỗi
căm thù và oán hận." [10]
Không
những giới không sát sanh được đặt trên căn bản bình
đẳng và chúng sinh đồng thể đại bi mà còn được đặt
trên căn bản là tất cả chúng sinh hữu tình đều đã từng
là bà con quyến thuộc của nhau, là cha mẹ, anh chị em, chồng
vợ, con cái của nhau trong muôn vàn kiếp trước, hiện tại
hay tương lai trong vòng luân hồi nhân quả trùng trùng.
Đức
Phật đã thấy tất cả chúng sinh hữu tình đều trải qua
những vòng sinh tử luân hồi và thấy rõ những mối liên
hệ với nhau qua nhiều dạng thể khác nhau. Bây giờ một số
chúng sinh đang sống dưới hình thức những con vật thấp
kém nhưng trước đây họ có thể đã mang dạng thể con người.
Có thể chúng đã có lúc cùng một loại với chúng ta. Vì
lòng từ bi vô bờ bến Ngài không muốn chúng ta ăn thịt lẫn
nhau nên Ngài đã ban hành giới cấm đầu tiên là giới không
sát sanh.
Ngài
nói: "Tất cả chúng sinh vì tâm tưởng khác nhau, do vậy
có sự xoay vần trong các thú."[11] Ngài
nói rõ thêm "Hữu tình luân hồi thọ sanh trong sáu đường
như bánh xe quay không có đầu mối trước sau, hoặc làm cha
mẹ, hoặc làm con cái, đời đời kiếp kiếp mang ân lẫn
nhau. Với kẻ nam, người nữ thấy đồng như cha mẹ, do vì
chẳng chứng Thánh trí nên không làm sao biết được. Hết
thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta,
tại sao chưa báo đền cái ân đời trước, mà trở lại sanh
ý nghĩ xấu để thành oán hận." [12]
Nói
về giới không sát sanh này, Ngài Trần Thái Tông, vị vua khai
sáng ra triều đại nhà Trần, cũng đã viết trong Khóa Hư
Lục như sau: "Phàm các loài sinh từ trứng, thai, ẩm, hóa,
tính vẫn đồng, thấy nghe hiểu biết đâu khác. Chỉ do tạo
nghiệp kết oán, nên thọ tên khác hiệu khác. Ngày trước
vốn loài người, nay sanh đàn giống khác nhau. Hoặc là bạn
bè, hoặc là anh em. Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến làm mai
vẩy cánh lông. Vợ quên chồng, chồng quên vợ, con trái cha,
cha trái con. Đã thấy đổi đầu khác mặt, lôi về mổ bụng
chặt chân. Luống lo tham sống sợ chết, lại không một lời
kêu đau khổ. Ngươi giết nó, nó giết ngươi, hắn ăn mày,
mày ăn lại hắn, hằng không ngày dứt, mãi tạo oan trái.
Kiếp kiếp trả nhau, đời đời thù nhau.
Người
quay đầu liền đến quê nhà, kẻ phóng tâm hằng chìm địa
ngục. Sách Nho dạy: "Thi ân bố đức". Kinh Đạo dạy: "Ái
vật háo sanh". Phật chỉ cấm sát là giữ giới, ngươi phải
để ý tuân hành chớ phạm". [13]
Nói
một cách khác, giới không sát sanh được đặt trên định
luật nhân quả, của tác động và phản động, đây là định
luật thiên nhiên. Nhân là nguyên nhân gây nên và quả là kết
quả. Như trồng hạt lúa thì có cây lúa, trồng cam thì có
cây cam. Định luật nhân quả chi phối tất cả chúng sinh
hữu tình lẫn vô tình. Tất cả hành động của chúng ta bao
gồm thân làm, miệng nói và tâm ý mà đạo Phật gọi là
ba nghiệp thân khẩu ý. Nghiệp là hành động sẽ đưa đến
kết quả tốt hay xấu. Do đó nếu chúng ta làm những điều
ác dữ thì chúng ta sẽ bị quả xấu mà thường hay gọi là
nghiệp báo.
Những
tai họa, tật nguyền hay dạng thể của chúng sanh khác nhau
đều có nguyên nhân nếu không kiếp này thì kiếp trước
hay những kiếp trước nữa chúng ta đã tạo nghiệp. Do sức
mạnh của nghiệp, nghiệp lực thúc đẩy những hành động
thiện hay bất thiện đã tồn trữ nhiều đời nhiều kiếp
trong quá khứ hiện hành dưới dạng thể khác.
Như
Ngài Trần Thái Tông nhắc nhở người cư
sĩ tại gia trong bài văn giới sát sanh
trên; "ngày nay chúng ta là anh em, bạn bè, có người làm thiện,
có người làm ác. Sau kiếp này, khi sanh trở lại, chúng ta
hoặc làm người hay làm súc sanh, hay các loài khác hoàn toàn
không biết nhau nên mổ bụng chặt chân không chút xót thương.
Rồi thù oán nhau mãi không có ngày thôi dứt nên oan trái chập
trùng. Giết nhau để được ăn ngon mặc đẹp, kiếp sau nó
cũng giết lại mình để trả thù và được ăn ngon mặc đẹp".
Nói
tóm lại, sát sanh nghĩa là giết hại sinh vật, cưỡng đoạt
sự sống nối tiếp, đi ngược lại ước muốn của chúng
sinh. Nếu có ý dẫn đến thực hiện thì tất cả hành động
sát sanh, bất luận loại nào, tuy có nặng nhẹ khác nhau, cũng
đều phạm tội sát sanh.
Đó
là quan điểm của Phật Giáo Đại Thừa về giới không sát
sanh và vấn đế ăn chay. Thật ra người Phật Giáo Đại Thừa
không cho rằng quan điểm nêu trên là của họ mà là quan điểm
chung của Phật Giáo. Điều này không sai vì như trên chúng
tôi đã trích dẫn những lời giảng của Hòa Thượng Thích
Minh Châu, một vị cao tăng thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy. Tâm
tư của ngài là tâm tư của những người con Phật không mang
cặp kính mầu. Lòng từ bi của ngài cũng giống như của tất
cả mọi người, không thêm không bớt, chỉ khác chăng là
làn mây ô nhiễm mỏng dày của mỗi người che phủ.
Trong
phần kế tiếp chúng tôi trích dẫn những lời dạy của Đức
Phật trong các kinh điển Đại Thừa như Kinh Lăng Gìa, Kinh
Đại Bát Niết Bàn, Kinh Lăng Nghiêm nói về vấn đề cấm
không ăn thịt của Đức Phật