SỨC
KHỎE
Từ
hai thập niên trước đây, người ta nghĩ rằng ăn thực phẩm
rau đậu có thể làm hại cho sức khỏe của bạn. Các y sĩ,
các bậc cha mẹ, các nhà khoa học và ngay cả những bạn bè
của bạn đều khuyến cáo bạn đừng nên ăn chay vì không
tốt cho sức khỏe.
Nhờ
những nghiên cứu khoa học, cục diện đã thay đổi và đảo
ngược vấn đề. Không những ăn thực phẩm rau đậu tốt
cho sức khỏe, mà còn ngăn ngừa một cách hữu hiệu nhiều
chứng bệnh khó trị. Các nhà khoa học đang làm việc trong
lãnh vực dinh dưỡng đã xác nhận như vậy, sau khi đã nghiên
cứu lâu dài hai lối ăn uống của con người. Ngay cả cơ
quan có tiếng là bảo thủ American Dietetic Association
cũng đã thay đổi quan điểm từ năm 1988 trong việc thừa
nhận rằng ăn chay là tốt cho sức khỏe. Đó là chưa kể
đến chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành chính sách dinh dưỡng
mới cho người dân theo đồ hình kim tự tháp, thịt được
để ở trên ngọn, (vì số lượng nhỏ) trong khi đó thực
phẩm rau đậu ngũ cốc đặt ở bên dưới cùng (số lượng
lớn), tức là càng ăn nhiều những thực phẩm nền tảng
càng tốt, càng ít ăn những thực phẩm sắp ở trên đỉnh
càng giúp ngăn ngừa bệnh tật.
Rất
nhiều bác sĩ y khoa đã cổ động việc ăn chay trong lãnh vực
nghề nghiệp chuyên môn của họ và đã thành công. Đáng kể
nhất là
Physicians Committee for Responsible Medicine,
một ủy ban bao gồm 3.400 Bác sĩ y khoa có trụ sở tại Washington
D.C., đã công bố một chính sách dinh dưỡng mới nhất cho
người dân Hoa Kỳ "Bốn Nhóm Thực Phẩm Mới" (New
Four Food Groups) vào năm 1991 nhằm mục đích
giữ gìn sức khỏe và ngăn ngừa bệnh tật do việc thực
hành ăn bốn nhóm thực phẩm. [5] Kế đến là Bác sĩ Dean
Ornish tác giả quyển sách Dr. Dean Ornish"s Program for
Reversing Heart Disease, và bác sĩ John McDougall
tác giả quyển sách The McDougall Program: 12 Days to Dynamic
Health.
Tưởng
cũng nên biết, có một dạo các Bác sĩ y khoa đã cho rằng
việc trị liệu bệnh nghẽn mạch vành tim (coronary artery disease),
nhồi máu cơ tim (heart attack), và suy tim (congestive heart failure)
là điều không tưởng. Bây giờ bác sĩ Ornish, giám đốc Viện
Nghiên Cứu Preventive Medicine Research Institute
ở San Fransico, California đã chứng minh rằng nghĩ như thế
là sai lầm. Ông đã áp dụng cho các bệnh nhân của ông một
chương trình ăn thực phẩm rau đậu thật ít chất béo, thực
hành thiền và tập thể dục - chi phí cho mỗi bệnh nhân là
$4.000, chỉ bằng một phần mười chi phí giải phẫu ráp mạch
vành tim (coronary artery bypass grafts surgery). Kết quả rất tốt
đến nỗi công ty bảo hiểm Mutual of Omaha đã công nhận và
bằng lòng bồi hoàn tất cả chi phí điều trị trên cho bệnh
nhân có bảo hiểm sức khỏe.
Tại
sao hãng bảo hiểm làm như vậy? Bởi vì kinh nghiệm cho thấy
rằng những bệnh nhân giải phẫu ráp mạch vành tim thường
phải lập lại sau năm năm, trong khi đó những người tham
dự chương trình này có sức khỏe tốt và lâu dài hơn.
Thật
ra đa số các bác sĩ y khoa đều xem nhẹ yếu tố dinh dưỡng
trong việc ngăn ngừa và trị liệu bệnh tật. Điều này cũng
dễ hiểu vì chỉ có 20 phần trăm các trường đại học y
khoa tại Hoa Kỳ là đòi hỏi các sinh viên y khoa phải học
các môn học dinh dưỡng, và cũng không có phần thi dinh dưỡng
trong các cuộc thi national medical board exam. Vì thế đa số các
bác sĩ y khoa chỉ chuyên về lãnh vực y khoa chuyên môn trị
liệu mà thiếu sự hiểu biết về dinh dưỡng học. [6]
Trước
khi nhìn sâu vào các bệnh mà sự ăn chay đã ngăn ngừa hữu
hiệu, chúng ta hãy thử xem qua ba thành phần dinh dưỡng mà
chúng ta cần biết: chất béo, chất carbohydrates, chất xơ và
chất đạm.
CHẤT BÉO
(FAT)
Tất
cả thực phẩm đều chứa một hỗn hợp gồm chất đạm,
chất carbohydrate (bao gồm cả chất xơ), chất béo, chất sinh
tố và chất khoáng, với số lượng không đều nhau.
Chất
béo hay còn gọi là chất mỡ mà danh từ y khoa gọi là lipids
hay fatty acids không hoàn toàn xấu như nhiều người tưởng.
Tuy nhiên, phẩm chất cũng như số lượng chất béo đưa vào
cơ thể ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe và tuổi thọ
của con người.
Chúng
ta cần chất béo để bảo trì các mô tế bào, sản xuất
các kích thích tố, cung cấp chất fatty acids thiết yếu (EFA)
và chuyên chở một số chất sinh tố, nhưng nếu chúng ta ăn
quá nhiều chất béo bão hòa (saturated fat) chúng ta sẽ d dàng
sinh chứng bệnh mập phì và các chứng bệnh khác về tim mạch
và ung thư.
Chất
béo được phân chia thành hai loại chính: chất béo bão hòa
(saturated fat) và chất béo không bão hòa (unsaturated fat).
Nói
một cách tổng quát thì chất béo bão hòa thường có nhiều
trong thịt động vật, trong sữa, các phó sản của sữa và
dầu thảo mộc nhiệt đới như dầu dừa, dầu palm. Chất
béo này thường đông đặc ở nhiệt độ bình thường trong
nhà, có khuynh hướng làm gia tăng lượng chất cholesterol
xấu LDL trong máu nên là loại chất béo xấu,
nguy hiểm cho sức khỏe con người.
Còn
chất béo không bão hòa thường có trong các dầu thảo mộc
là loại lỏng không đông đặc, được xem là chất
béo tốt vì nó có khuynh hướng làm giảm lượng chất cholesterol
xấu LDL.
TRIGLYCERIDES
Triglycerides
không phải là cholesterol mà là một tên khác của chất béo
(fats), được cung cấp bởi các loại thực phẩm chúng ta ăn
vào và cũng do cơ thể chúng ta tự sản xuất ra qua tiến trình
chuyển hóa năng lượng. Triglycerides gồm có ba loại mà chúng
ta được biết đến qua danh từ y khoa nói ở trên là fatty
acids hay phổ thông hơn là: (1) chất béo bão hòa [saturated fats],
(2) chất béo không bão hòa đơn thể [monounsaturated fats], và
(3) chất béo không bão hòa đa thể [polyunsaturated fats].
Tất
cả chất béo chúng ta ăn từ bất cứ nguồn gốc thực phẩm
nào cũng chứa ba loại chất béo này, nhưng có hàm lượng
khác nhau. Chất béo từ thực phẩm có nguồn gốc thịt động
vật là loại chất béo bão hòa. Chất béo từ thực phẩm
không có nguồn gốc thịt bao gồm cả ba loại, nhưng phần
lớn là chất béo không bão hòa.
Chất
béo dùng để tạo năng lượng hoạt động cho cơ thể. Mỗi
gram chất béo cung cấp 9 kilo ca lo ri, trong khi ấy mỗi gram
chất đạm (protein) hay chất carbohydrate (chất đường) cung
cấp 4 kilo ca lo ri. Số ca lo ri dư thừa sẽ được hoán đổi
thành triglyceride và dự trữ ở các mô tế bào dưới dạng
mỡ.
Như
chúng ta đã biết, Chất béo bão hòa
là loại chất béo xấu vì nó có khuynh hướng làm gia tăng
hàm lượng LDL-cholesterol
trong máu. Ngược lại chất béo không bão hòa
ở cả hai dạng được xem là chất béo tốt vì nó có khuynh
hướng làm giảm lượng LDL-cholesterol.
Tuy nhiên, chất béo không bão hòa dạng đơn thể (monounsaturated
fats) có nhiều trong dầu olive và canola, được xem
là tốt hơn vì không có tác dụng phụ (side
effect) là giảm
HDL-cholesterol
như loại chất béo polyunsaturatedfats. Dầu đậu phọng (peanut
oil), mặc dầu chứa nhiều monounsaturaed fats, nhưng lại không
tốt vì có khuynh hướng kết tủa vào màng
bên trong các động mạch máu. Sự biệt lệ này chưa được
khoa học giải thích. [7]
Tưởng
cũng cần nói thêm ở đây, có một loại chất béo gọi là
Trans
Fatty Acids (TFA), được hình thành bởi
tiến trình biến đổi từ dạng thể lỏng unsaturated fats của
dầu thảo mộc thành dạng thể cứng nhằm cung cấp cho các
nhà sản xuất bánh kẹo và chiên khoai tây. Tác dụng của
loại chất béo TFA này cũng giống như loại chất béo
bão hòa, nên là loại không tốt.
CHOLESTEROL
Cholesterollà
một chất mềm, mầu trắng, giống như chất mỡ đông, được
tìm thấy trong tất cả các mô tế bào cơ thể và trong các
mạch máu. Cũng như chất béo, cholesterol rất cần thiết giúp
hình thành và bảo trì các mô tế bào, giúp sản xuất các
kích thích tố (hormones), muối mật [bile salt] và các chất
cần thiết khác của cơ thể.
Phần
lớn cholesterol, khoảng 1000 mg hàng ngày, là do gan sản xuất
ra bằng cách kích thích chất béo bão hòa (saturated fats). Việc
gan kích thích chất béo bão hòa để sản xuất ra cholesterol
giúp ta thấy được một điều là khi chúng ta dùng một loại
thực phẩm tuy không có cholesterol nhưng lại chứa quá nhiều
chất béo bão hòa thì cơ thể con người cũng có cơ làm gia
tăng lượng cholesterol, như khi chúng ta dùng dầu dừa hay nước
cốt dừa để nấu ăn chẳng hạn.
Một
phần cholesterol khác, khoảng từ 400 đến 500 mg là do chúng
ta ăn trực tiếp các thực phẩm có nguồn gốc thịt động
vật như là thịt, cá, tôm, cua, sò ốc, trứng, bơ, sữa. v..v...
Nên nhớ là các thực phẩm có nguồn gốc thực vật không
có cholesterol.
Cơ
thể chúng ta tự sản xuất đủ lượng cholesterol cần thiết
hàng ngày, vì thế chúng ta phải ngăn ngừa không cho lượng
cholesterol lên cao qua việc điều hòa chế độ ăn uống (diet).
Cholesterol
và triglycerides không thể hòa tan trong máu và vì thế nó được
chuyển vận đến các mô tế bào cơ thể bằng phương tiện
chuyên chở đặc biệt gọi là lipoproteins. Lipoprotein được
sản xuất bởi gan và được phân chia làm ba loại:
Loại
thứ nhất có tỷ trọng thật thấp VLDL
(Very Low Density
Lipoprotein), đặc trách chuyên chở chất béo triglycerides đến
các mô tế bào để tạo năng lượng hoạt động cho cơ thể
hay dự trữ.
Loại thứ
nhì là loại có tỷ trọng thấp LDL (Low Density Lipoprotein),
chuyên chở phần lớn, từ 60 đến 80 phần trăm cholesterol
đến các mô tế bào trong chức năng thiết lập và bảo trì,
một số trở về gan. Nếu nhiều hơn số lượng cần thiết,
LDL cholesterol này sẽ từ từ bám và tích tụ vào xung quanh
bờ thành các mạch máu, làm cho lòng mạch máu nhỏ hẹp dần,
khiến lưu lượng máu dẫn đến tim bị chậm lại hay ngừng
hẳn. Khi máu đến tim thiếu thì bắp thịt tim yếu đi, xảy
ra hiện tượng đau thắt. Nếu mạch máu bị tắc nghẽn thì
xảy ra chứng bệnh heart attack. Nếu mạch máu trong não bộ
bị tắc nghẽn thì xảy ra chứng bệnh stroke. Vì thế người
ta thường gọi LDL là loại cholesterol xấu.
Loại thứ
ba là loại có tỷ trọng cao HDL (High Density Lipoprotein), được
gọi là cholesterol tốt vì nó có tác dụng lôi cuốn các cholesterol
xấu LDL khỏi bờ thành các mạch máu và chuyên chở chúng
về gan để tái thẩm thấu hoặc thải hồi ra ngoài.
Tổng lượng
cholesterol, HDL-cholesterol,
LDL-cholesterol
và triglycerides trong máu được đo lường để thẩm định
mức độ nguy hiểm báo trước có thể xảy ra chứng bệnh
nhồi máu cơ tim (heart attack) và chứng bệnh tai biến mạch
máu não. Như vậy lượng cholesterol và triglycerides bao nhiêu
gọi là cao? Theo Viện Quốc Gia Tim Phổi Mạch Hoa Kỳ và Chương
Trình Quốc Gia Giáo Dục Cholesterol thì lượng cholesterol và
triglycerides được khuyến cáo như sau:
| TOTAL
CHOLESTEROL |
TÌNH
TRẠNG |
| Dưới
200 mg/dl |
Bình
thường |
| Từ
200 đến 239 mg/dl |
Ranh
giới cao |
| Từ
240 hay cao hơn |
Cao |
| HDL
CHOLESTEROL (LỌAI TỐT) |
|
| Từ
35 mg/dl trở lên |
Bình
thường |
| Dưới
35 mg/dl |
Không
tốt |
| LDL
CHOLESTEROL (LOẠI XẤU) |
|
| Dưới
130 mg/dl |
Bình
thường |
| Từ
130 đến 159 mg/dl |
Ranh
giới cao |
| Từ
160 mg/dl trở lên |
Cao |
| TRIGLYCERIDES |
|
| Dưới
200 mg/dl |
Bình
thường |
| Từ
200 đến 399 mg/dl |
Ranh
giới cao |
| Từ
400 đến 999 mg/dl |
Cao |
| Từ
1000 mg/dl trở lên |
Rất
cao |
| Total
Cholesterol/HDL Cholesterol |
Bằng
hay nhỏ hơn 5/1 là tốt |
Trước
đây, các nhà khoa học chỉ lưu tâm đến lượng cholesterol
trong máu để thẩm định mức độ nguy hiểm có thể xảy
ra chứng bệnh đau tim và tai biến mạch máu não. Ngày nay họ
đã nghiên cứu và khám phá ra rằng hàm lượng triglycerides
trong máu cao cũng là dấu hiệu báo trước về bệnh tim mạch
có thể xảy ra.
Trong
một nghiên cứu khoa học, Bác sĩ Michael Miller, giám đốc cơ
quan phòng ngừa bệnh tim mạch tại University of Maryland
Medical Center ở Baltimore, đã khảo cứu tình
trạng chất béo triglycerides của 460 người nam và nữ ở lứa
tuổi từ 30 đến 80 trong năm 1977 và 1978, và 199 bệnh nhân
khác có kinh nghiêm về bệnh tim mạch trong suốt 18 năm sau
đó, đã thấy rằng cả hai phái nam và nữ có hàm
lượng triglycerides trên 190 mg trong mỗi deciliter máu dễ bị
bệnh tim gấp hai lần những người có lượng thấp hơn.
Nghiên
cứu này cho rằng hàm lượng triglycerides có tình trạng bình
thường như trình bầy ở bảng nêu trên được xem là quá
cao, không phù hợp với những khám phá mới.
Hàm
lượng bình thường chất béo triglycerides có trong máu được
đề nghị là từ 35 đến 160 mg/dl.
Một
nghiên cứu khác được thực hiện bởi Bác sĩ Robert Rosenson,
giám đốc
Preventive Cardiology Center at Rush Medical College
ở Chicago cũng xác nhận kết quả trên và cho biết thêm triglycerides
ở mức lượng 190 mg/dl bắt đầu làm máu lưu chuyển chậm,
cơ tim phải hoạt động nặng nhọc hơn.
Thay
đổi chế độ ăn uống bằng cách giảm bớt các thực phẩm
có chứa chất béo, có thể làm giảm cholesterol, nhưng không
được nhiều. Chỉ có chế độ ăn chay thuần rau đậu ngũ
cốc trái cây, không ăn thịt cá, tôm cua sò hến và trứng
bơ sữa (vegan) là hữu hiệu nhất. Cholesterol trung bình của
những người này là 150 mg/dl. Chỉ riêng chất xơ (fiber) cũng
có khả năng hữu hiệu làm giảm cholesterol. Vitamin C, E và
Beta caroten có nhiều trong rau quả nhất là đậu nành, cà rốt,
khoai lang, broccoli và cam có tác dụng gia tăng hàm lượng
HDL-cholesterol,
làm cho máu lưu chuyển dễ dàng và loại trừ các cặn độc
trong máu. Lớp nhầy bao mọc xung quanh hột cà chua có tác dụng
chống các tiểu huyết cầu đóng cục trong máu, ngăn ngừa
bệnh tim mạch.
Tỏi
(garlic) không những có tác dụng làm giảm tổng lượng cholesterol
mà còn có tác dụng hữu hiệu gia tăng hàm lượng HDL-cholesterol.
Những nghiên cứu mới đây của trường đại học y khoa
New
York Medical College ở Valhalla cho biết, tỏi có
khả năng làm giảm từ 10 đến 29 phần trăm tổng lượng
cholesterol, giảm 7,5 phần trăm LDL-cholesterol,
giảm 20% triglycerides và gia tăng 31 phần trăm HDL-cholesterol.
[8]
Những
người ăn chay thuần túy, làm việc văn phòng mà không thường
xuyên tập thể dục, thường có lượng chất béo triglycerides
cao hơn bình thường (trên 190, có người cao tới gần 400).
Điều này cũng dễ hiểu vì lượng triglycerides có liên hệ
mật thiết với sự thặng dư ca lo ri, bởi vì số ca lo ri
không dược tiêu dùng hết sẽ được cơ thể chuyển đổi
thành triglycerides. Chất carbohydrate (chất đường) đóng một
vai trò không nhỏ trong việc gia tăng lượng trigycerides.
Hàm
lượng chất béo triglycerides cao trong máu cũng có độ nguy
hiểm về bệnh tim mạch như là cholesterol. Vì thế, dù là
ăn chay, nếu muốn duy trì sức khỏe tốt, thì ngoài việc
ăn
ít đường và dầu, cần phải
tập
thể dục thường xuyên như là đi bộ nhanh
hay tập aerobic ít nhất là năm ngày một tuần và mỗi lần
khoảng 40 phút. Tập thể dục thường xuyên có tác dụng làm
giảm chất béo triglycerides, đồng thời lại có thể tăng
thêm cholesterol tốt
HDL và
giảm cholesterol xấu LDL.
CARBOHYDRATES
Carbohydrates
là một chất dinh dưỡng có nhiệm vụ cung cấp năng lượng
cho các hoạt động của cơ thể con người. Nó được phân
chia ra làm hai loại:
Simple
Carbohydrates là chất ngọt được lấy từ mật mía, mật ong,
mật maple và củ rền đỏ. Nó cũng có trong các thực phẩm
biến chế như các đồ hộp và các thức uống giải khát.
Complex
Carbohydrates là chất ngọt từ tinh bột (starches), mà phần
lớn nguồn cung cấp là gạo, mì, mạch, khoai, đậu và trong
các rau trái.
Cả
hai loại carbohydrates này (sugars và starches) được biến đổi
thành chất đường glucose qua tiến trình biến năng trong cơ
thể và được chuyển vận qua mạch máu đến các tế bào
làm năng lượng hoạt động. Chất glucose thặng dư sẽ được
chuyển đổi thành chất glycogen dự trữ trong các tế bào
bắp thịt và trong gan, hoặc là được biến đổi thành chất
béo triglycerides dự trữ dưới dạng mỡ. Sức chứa glycogen
trong cơ thể chỉ độ 1/4 pound, còn phần lớn là chất béo
triglycerides.
Thông
thường simple carbohydrates cung cấp nhiều ca lo ri và ít chất
bổ dưỡng (nutrients), ngược lại complex carbohydrates lại cung
cấp nhiều chất bổ dưỡng, như là chất sinh tố, chất khoáng,
chất đạm và ít chất béo. Quả thực là như vậy, nhiều
loại trái cây chứa chất đường, nhưng cũng chứa nhiều
vitamin, chất khoáng và chất xơ.
Carbohydrates
được xem là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể
con người, nhưng khi cơ thể thiếu nó - thường xảy ra sau
20 phút đầu tiên tập thể dục aerobic - năng lượng được
cung cấp bởi chất béo triglycerides dự trữ. Đây là lý do
tại sao những người thặng dư chất béo trigycerides phải
tập thể dục thường xuyên.
CHẤT
XƠ (FIBER)
Bạn
không cần phải ăn nhiều trái mận hàng ngày vì lý do mận
có chứa nhiều chất xơ. Nhưng cần phải có đủ chất xơ
là điều cần thiết để gìn giữ sức khỏe và ngăn ngừa
bệnh tật. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ
và cơ quan nhà nước
U.S. Food and Drug Administration (USFDA)đã
khuyến cáo dân Hoa Kỳ nên ăn từ 25 đến 30 grams chất xơ
mỗi ngày. Trung bình mỗi người hiện nay chỉ ăn có gần
phân nửa số này mà thôi. Chế độ ăn rau đậu d dàng đáp
ứng nhu cầu về chất xơ do USFDA yêu cầu.
Chất xơ
là một chất lấy từ nguồn gốc thực vật, không có trong
thịt động vật. Nó có nhiệm vụ giúp thực phẩm di chuyển
d dàng trong hệ thống tiêu hóa và làm giảm lượng cholesterol
trong máu. Ăn ít chất xơ thường gây nên bệnh táo bón, bệnh
về sự tiêu hóa và các rối loạn khác. Chất xơ được tìm
thấy nhiều nhất trong các loại hạt gạo, mì, mạch chưa
đãi vỏ. Ăn gạo lức chữa được bệnh táo bón một cách
thần diệu.
Chất xơ
được phân làm hai loại, solube fiber và insolube fiber. Solube
fiber, có nhiều trong cám rice bran và oat bran, có
khả năng làm giảm cholesterol; còn insolube fiber,
có nhiều trong cám wheat bran, không giúp mấy trong việc giảm
cholesterol nhưng giúp cho nhuận trường.
CHẤT ĐẠM
(PROTEIN)
Chất
đạm được thẩm thấu vào máu dưới dạng thể amino acids,
dùng để xây dựng và sửa chữa các mô tế bào hư hỏng.
Nó cũng là nguồn cung cấp năng lượng.
Rất
nhiều người nghĩ rằng chúng ta phải ăn nhiều thịt cá để
có nhiều chất protein. Đây là một điều lầm lẫn vì những
nghiên cứu y khoa gần đây nhất cho biết ăn nhiều protein
thịt động vật (animal-protein) sẽ làm tổn thương đến gan
thận và là nguyên nhân dẫn đến bệnh xốp xương (osteoporosis)
và ung thư.
Có
nhiều nghiên cứu về tác dụng của sự gia tăng số lượng
protein thịt đến việc mất calcium trong cơ thể và do đó
dẫn đến tình trạng xốp xương. Họ đã khám phá ra rằng
ăn
càng nhiều protein thịt động vật thì càng nhiều calcium bị
mất đi qua đường bài tiết. Điều này cũng được xác
nhận bởi những sự quan sát và thống kê dân số ở nhiều
khu vực khác nhau trên thế giới bị bệnh bể xương hông.
Những vùng dân số ăn nhiều protein thịt động vật có tỷ
lệ gẫy xương hông cao hơn, như Hoa Kỳ, Tân Tây Lan, Na Uy
và Đan Mạch. [9]
Tiêu
thụ nhiều protein thịt động vật có thể làm hư hại thận
bởi vì thận phải làm việc nhiều hơn trong nỗ lực lọc
bỏ chất ammonia, phó sản của tiến trình biến dưỡng thực
phẩm. Protein thực vật không có tác dụng này. Gia tăng mức
độ bài tiết calcium cũng làm tăng trưởng bệnh sạn thận.
[10]
Trong
cuộc nghiên cứu 45.000 người đàn ông, mà kết quả được
đăng tải trên tập san y khoa New England Journal of Medicine,
thì sự tiêu thụ protein thịt động vật có tác dụng trực
tiếp đến việc phát triển bệnh sạn thận - càng ăn nhiều
thịt càng d bị bệnh sạn thận.
Cũng
vì thế mà Ủy Ban Y Sĩ Trách Nhiệm Y Khoa Hoa Kỳ đã
yêu cầu người dân Hoa Kỳ phải thay đổi chính sách ăn uống
bằng cách "không cholesterol, ít chất béo, nhiều chất xơ
và thay thế chất đạm thịt động vật bằng chất đạm
thực vật". [11]
Bây giờ
chúng ta hãy xét qua về những nghiên cứu khoa học đã chứng
minh ăn thực phẩm rau đậu có khả năng ngăn ngừa bệnh tật.
BỆNH TIM
(HEART DISEASE)
Rất
nhiều nghiên cứu khoa học đã tìm thấy ăn thực phẩm rau
đậu có khả năng làm giảm các căn bệnh nhồi máu cơ tim
(heart
attacks), bệnh tai biến mạch máu não (strokes)
và nhiều thứ bệnh liên hệ đến hệ thống tuần hoàn máu
huyết của con người. Hơn thế nữa, chế độ ăn thực phẩm
rau đậu phối hợp với việc tập thể dục thường xuyên
và hành thiền có khả năng chế ngự được chứng bệnh tim
mạch này, bác sĩ Dean Ornish đã chứng minh như vậy.
Các
nghiên cứu của bác sĩ Ornish đã cho thấy rằng chế độ
dinh dưỡng với thực phẩm rau đậu, ít chất béo (10%) hợp
cùng việc tập thể dục và hành thiền đều đặn có khả
năng làm máu lưu chuyển dễ dàng, không bị tắc nghẽn trong
hệ thống mạch máu con người đồng thời làm tăng hiệu
năng của cơ tim. "Phương pháp ngăn ngừa bệnh tim mạch
của bác sĩ Onish đã đặt trên cơ sở khoa học và đạt được
kết qủa hữu hiệu," bác sĩ William C. Roberts, M.D., chủ
bút the American Journal of Cardiology và giám đốc Baylor
Cardiovascular Institute tại Viện Đại Học
Baylor University
Medical Center ở Dallas đã nói như thế.
BỆNH UNG
THƯ (CANCER)
Ung
thư là căn bệnh làm chết người nhiều hàng thứ nhì tại
Hoa Kỳ mà đa số đều có liên hệ mật thiết với thực
phẩm chúng ta ăn. Khi chúng ta so sánh các con số thống kê
thì phân nửa tổng số tử vong gây ra do bệnh ung thư trên
thế giới là dân số ở các quốc gia kỹ nghệ.
Những
bệnh ung thư về vú, ung thư kết tràng (colon cancer), và ung
thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer) phản ảnh việc ăn thực
phẩm nhiều chất béo, bao gồm cả chất béo bão hòa saturated
fats và chất béo không bão hoà unsaturated fats. Mặc dầu, dầu
thảo mộc nhiệt đới như dầu palm và dầu dừa có hàm lượng
chất béo bão hòa saturated fat rất cao, nhưng tỷ xuất unsaturated/saturated
lại rất thấp (0.2/1 và 0.1/1) nên rất xấu. Chúng ta nên loại
bỏ hai loại dầu này.
The China
Health Project, một dự án nghiên cứu khoa học
hỗn hợp giữa Viện Đại Học Cornell ở New York, Viện Đại
Học Oxford ở Anh Quốc, và Hàn Lâm Viện Y Khoa Phòng Ngừa
Trung Hoa, đã nghiên cứu về lối sống và tập quán ăn uống
của 6,500 dân tại 65 khu vực khác nhau ở Trung Hoa lục địa.
Họ
đã khám phá ra rằng dân chúng sống ở những vùng ăn nhiều
chất đạm thịt, nhiều chất béo và nhiều thực phẩm
tinh lọc có số lượng người bị ung thư nhiều hơn dân chúng
sống tại những vùng có tập quán ăn cơm và các ngũ cốc
khác.
Kết
quả dự án này cũng cho biết rằng những trẻ gái ăn uống
dồi dào có chu kỳ kinh nguyệt sớm hơn là những trẻ gái
ở trong những vùng dân số có truyền thống ăn rau đậu.
Điều này có liên hệ đến bệnh ung thư vú về sau vì lượng
chất kích thích tố nữ cao.
Các
nhà khoa học ở khắp nơi trên thế giới đã làm việc hàng
nhiều chục năm để tìm ra nguyên nhân và đường lối trị
liệu bệnh ung thư, đặc biệt về bệnh ung thư vú, ung thư
kết trường tại Hoa Kỳ và Nhật Bản. Những kết quả cho
thấy rằng người Hoa Kỳ bị nhiều gấp bốn lần người
Nhật Bản. Khi họ nghiên cứu những người đã di cư qua Hoa
Kỳ thì lại thấy rằng những người Mỹ gốc Nhật này cũng
bị bệnh ung thư cao như người Hoa Kỳ, do đó họ kết luận
rằng sự khác biệt do dân Nhật Bản trước đây có truyền
thống ăn ít thịt động vật.
Bác
sĩ Takeshi Hirayama thuộc Viện Nghiên Cứu Ung Thư Quốc Gia
Nhật Bản đã thực hiện một cuộc nghiên cứu lớn nhất
trong lịch sử y khoa về bệnh ung thư vú. Ông đã theo dõi
122 ngàn phụ nữ trong mười năm và đã cho biết kết quả
là những phụ nữ ăn thịt động vật có mức độ phát
triển bệnh ung thư nhiều gấp bốn lần những người ăn
ít hay không ăn. Cũng tương tự như thế, những phụ nữ
ăn nhiều trứng, bơ và sữa bò cũng bị bệnh ung thư vú nhiều
hơn.
May
thay, các khoa học gia cũng đồng thời khám phá ra rằng trong
một số thực phẩm có những chất đề kháng lại sự phát
triển ung thư, đặc biệt là chất isoflavone-genistein có trong
đậu nành. [12] Kể từ thập niên 1960s, hơn 300 cuộc nghiên
cứu về chất này và kết quả cho thấy là khi thêm chất
genistein vào các tế bào ung thư thì các tế bào ung thư không
phát triển nữa. Chất genistein là chất chánh isoflavone trong
đậu nành.
Những
nghiên cứu gần đây nhất của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm
ở California cho biết nhóm 50.000 người ăn chay thuộc giáo
hội đã có tỷ lệ chết về các loại bệnh ung thư thấp
hơn 53% nhóm 50.000 người không ăn chay.
Nhiều
kết quả nghiên cứu mới tiếp tục được công bố và một
trong những công bố là sau khi theo dõi 88 ngàn phụ nữ Anh
trong sáu năm, các nhà nghiên cho biết phụ nữ ăn thịt bò
và heo hằng ngày bị bệnh ung thư kết tràng nhiều gấp
hai lần rưỡi những phụ nữ chỉ ăn có một lần một
tháng.
Tạp
San British Medical Journal số tháng 6, 1994 có một tài liệu
mang tên là Oxford Study đã kết luận là ăn thực phẩm rau
đậu giảm mức nguy cơ chết về bệnh ung thư đến 40% so
với ăn thịt.
BỆNH XỐP
XƯƠNG (OSTEOPOROSIS)
Bệnh
xốp xương hay còn được gọi là bệnh loãng xương, được
mô tả là xương bị mỏng dần, xốp đi và dễ gẫy, đã
tác hại trên 25 triệu ngườì dân Hoa Kỳ mà phần lớn là
phụ nữ. Hằng năm có khoảng 1.3 triệu phụ nữ bị bể xương
và làm thiệt hại đến 10 tỷ dollars mỗi năm trong dịch vụ
săn sóc y tế medical care.
Nếu
bạn biết chút ít về bệnh xốp xương này, bạn nghĩ ngay
rằng nó có liên hệ đến chất calcium, đúng như thế. Tuy
nhiên đối đầu với căn bệnh này không đơn giản như là
uống một ngày 3 ly sữa bò mà các hãng sữa đã quảng cáo.
Sự liên hệ rất là phức tạp. Khi cơ thể của bạn không
đủ chất calcium để làm các nhiệm vụ cần thiết của chính
nó, thì nó bắt đầu rút tỉa chất calcium từ xương của
bạn. Đây gọi là tiến trình tái thẩm thấu và là một phần
của tiến trình lão hóa con người ở trạng thái bình thường.
Xương cốt cơ thể rất là năng động, Chúng liên tục làm
tan nhỏ và kiến tạo lại. Cho tới khoảng 30 - 35 tuổi, chúng
ta đã có nhiều calcium trong xương hơn là mất đi. Đến khoảng
40 tuổi cơ thể chúng ta bắt đầu rỉ thoát calcium nhiều
hơn là chúng ta nạp vào. Đối với phụ nữ, tiến trình này
gia tăng sau thời kỳ mãn kinh, khi mà cơ thể ngừng sản xuất
estrogen. Theo các nghiên cứu, phụ nữ mất khoảng 15 đến
50 phần trăm lượng xương trong mười năm đầu sau ngày mãn
kinh.
Bạn
có thể làm cho xương cứng cáp mạnh mẽ ở vào những khoảng
tuổi trước 40 thì tốt hơn. Bởi vì bạn sẽ từ từ mất
xương khi tuổi dần dần già cỗi. Hãy ăn nhiều thực phẩm
có calcium trước khi xương ngừng lớn là điều quan trọng
nhất.
Bạn
có thể nghĩ rằng sữa bò là thực phẩm tốt nhất vì cho
nhiều calcium. Vâng, có nhiều calcium nhưng cũng nhiều chất
béo bão hòa và chất protein thịt. Dinh dưỡng nhiều protein
thịt động vật thường được xem là nguyên nhân bài tiết
nhiều calcium hơn bình thưòng qua đường tiểu. Gia tăng mức
độ bài tiết calcium cũng thường hay dẫn đến bệnh sạn
thận. [13]
Điều
trên cũng được xác nhận bởi những sự quan sát và thống
kê dân số ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới bị
bệnh bể xương hông. Những vùng dân số ăn nhiều protein
thịt động vật có tỷ lệ gẫy xương hông cao hơn. Thí dụ
như Hoa kỳ có tỷ lệ gẫy xương hông là 144,9/100.000 (tiêu
thụ 72 grams protein thịt/ngày) so với South Africa có tỷ lệ
là 6,8/100.000 (tiêu thụ trung bình 10,4 grams protein thịt/ngày).
CÁC BỆNH
TRUYỀN NHIỄM
Mỗi
năm ở Hoa Kỳ có khoảng 80 triệu trường hợp bị mắc bệnh
do thực phẩm gây ra, trong đó có đến 10 triệu người Hoa
Kỳ bị bệnh có liên hệ tới ăn thịt động vật bởi vì
trong thịt có quá nhiều chất độc hại như các vi khuẩn,
các ký sinh trùng, các chất cặn bã của thuốc thú y và các
chất hóa học nặng như chì, thủy ngân v..v.. còn đọng lại
trong thịt.
Ngày
nay, để giảm phí tổn đồng thời làm giảm bớt chất phế
thải của súc vật, các nhà sản xuất thịt tại Hoa Kỳ đã
pha trộn khoảng 40 tỷ pounds đồ phế thải lấy từ các lò
sát sinh hằng năm và hàng tỷ pounds phân gà lấy từ các xưởng
chăn nuôi, vào thức ăn nuôi heo, bò và gà. Riêng phân gà càng
ngày càng được các nhà sản xuất thịt dùng nhiều để
nuôi bò, [14]bất kể điều đó có thể nguy hại tới sức
khỏe của người tiêu thụ.
Trong
năm 1994 18% các nhà sản xuất thịt tại tiểu bang Arkansas
đã dùng 2,6 triệu pounds chất thải gà để làm thức ăn cho
súc vật.
Được
biết đồ phế thải của gà là nguồn sinh sản ra vi khuẩn
trong số đó có salmonella và campylobacter - hai loại vi khuẩn
có thể gây ra bệnh cho con người, cũng như các ký sinh trùng
của hệ thống tiêu hóa, các chất cặn bã của của thuốc
thú y, và những chất kim loại nặng như arsenic, chì, cadium,
và thủy ngân. Những thứ vi khuẩn và chất độc này truyền
vào con bò và có thể truyền vào những người ăn thịt bò
bị nhim chất độc.
Trung
tâm kiểm soát bệnh dịch CDC ở Atlanta ước tính mỗi năm
ở Hoa Kỳ có khoảng 80 triệu trường hợp bị mắc bệnh
do thực phẩm gây ra, trong số đó có 9000 người chết. Vi
khuẩn salmonella gây ra 4 triệu người ngộ độc trong đó có
gần 1000 người chết. Vi khuẩn campylobacter, loại vi khuẩn
gây ra bệnh viêm cấp tính đường tiêu hóa, gây ra 6 triệu
người bị bệnh mỗi năm và có khỏang 400 người chết. Vi
khuẩn E-coli, một loại vi khuẩn tìm thấy trong thịt bò nhim
độc của cơ sở sản xuất thịt Hudson, gây ra 250 người
chết mỗi năm và làm cho 20 ngàn người lâm bệnh.
Trong
năm 1994 USDA đã thăm dò và tìm thấy 15% thịt bò có mang vi
khuẩn E-coli, 30% thịt gà có vi khuẩn salmonella, và 60 đến
80% thịt gà có vi khuẩn campylobacter. [15]