05
AN
BÌNH KHÔNG LAY CHUYỂN
Unshakeabke
peace
Thiền
sư Ajahn Chah
Thiện
Nhựt dịch - Bình Anson hiệu đính
Lý
thuyết và thực tế.
Giới,
Định, Tuệ.
Các
nguy cơ của chấp thủ.
An
bình không lay chuyển.
Quyền
năng của Định lực.
Tu
tập một cách tự nhiên.
Thay
đổi cách nhìn.
Đi
theo Trung đạo.
Dốc
lòng tu tập.
Tôn
trọng truyền thống.
Trau
dồi pháp hành thiền.
Đối
chiếu thuật ngữ
Biên
tập từ một bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Chah
giảng cho một vị tỳ khưu học giả đến thăm Ngài, tại
chùa Wat Pah Pong, tỉnh Ubon Rachathani, Thái Lan.
Toàn
bộ lý do vì sao phải học tập về Pháp (Dhamma),
những lời dạy của Đức Phật, là để tầm cầu một con
đường vượt qua khổ não, đạt đến an bình và hạnh phúc.
Cho dù chúng ta học về các hiện tượng vật lý hay tâm linh,
tâm (citta) và các tâm sở (cetasika), chỉ
khi nào chúng ta lấy sự giải thoát khỏi mọi phiền não làm
mục đích tối hậu thì chúng ta mới đi đúng con đường.
Chúng ta phải thật sự thông hiểu nguyên nhân và điều kiện
đưa đến sự hiện hữu của mọi phiền não.
Xin
hãy hiểu thật rõ ràng rằng khi tâm được tĩnh lặng, thì
đó là tình trạng tự nhiên, bình thường của tâm. Hễ tâm
vừa khởi động lên, tức thì nó trở nên bị điều kiện
hóa [1]. Khi tâm bị sự vật nào thu hút, thì tâm ấy bị điều
kiện hóa. Khi sự hiềm ghét khởi lên, tâm bị điều kiện
hóa. Ý muốn di chuyển từ nơi này đến nơi khác, cũng khởi
lên do sự điều kiện hóa. Nếu sự hay biết của chúng ta
không theo kịp các sự biến chuyển lay động của tâm linh,
thì tâm tư sẽ đuổi theo các sự biến chuyển đó và do đó
mà bị điều kiện hóa vì chúng. Khi nào tâm chuyển động,
vào lúc đó, tâm ấy trở thành một thực tại qui ước.
Cho
nên Đức Phật dạy chúng ta phải nên quán chiếu các sự
biến chuyển lay động đó của tâm. Mỗi khi tâm di động,
nó trở nên bất ổn và vô thường (anicca), bất
toại nguyện (dukkha, khổ não), và không thể lấy đó
làm một tự ngã được (anattā, vô ngã). Vô thường,
khổ, vô ngã là ba đặc tính phổ quát của tất cả các pháp
hữu vi [2]. Đức Phật dạy chúng ta phải quan sát và quán
chiếu các biến động của tâm.
Đối
với Lý Duyên Sinh (paticcasamuppāda), ta cũng nên học tập
như thế: vô minh (avijja) là nguyên nhân và điều
kiện khởi sinh các hành nghiệp [3]; các hành là nhân
và duyên khởi sinh các thức (viññāna); các thức
là nhân và duyên khởi sinh danh (nāma) và sắc (rūpa);
v.v... như ta đã từng học trong kinh điển. Đức Phật đã
tách riêng ra từng mấu chốt trong chuỗi dài mười hai nhân
duyên để chúng ta dễ học. Đây là sự mô tả chính xác
về thực tại. Nhưng khi tiến trình các sự kiện ấy thật
sự diễn ra trong đời sống, các nhà học giả không có đủ
khả năng để theo dõi đúng vào lúc chúng xảy ra. Cũng như
ta đang từ trên ngọn cây cao bị rơi xuống đất. Chúng ta
không biết rõ được khi rơi xuống, chúng ta đã xuyên qua
bao nhiêu cành lá. Cùng thế ấy, khi tâm bất thần va chạm
vào một đối tượng, nếu có sự thỏa thích trong đó, thì
tâm liền bám theo và tạo trạng thái vui vẻ. Tâm ấy chỉ
biết đến sự vui vẻ đó mà không thể biết đến chuỗi
dài các nhân duyên đưa đến trạng thái vui vẻ ấy. Tiến
trình các sự kiện đã xảy ra đúng với những gì được
mô tả trong lý thuyết, nhưng đồng thời nó vượt quá giới
hạn của lý thuyết đó.
Không
có gì cụ thể rõ ràng khi nói: "Đây là vô minh. Đây là những
hành nghiệp, và đó là thức,..." Tiến trình nhân duyên không
cho các học giả có cơ hội để đọc ra một danh sách các
sự kiện khi chúng xảy ra. Mặc dù Đức Phật đã phân tích
tỉ mỉ và giải thích rõ ràng các chập tâm, nhưng đối với
tôi, tiến trình đó giống với sự kiện từ trên cây bị
rơi xuống. Khi chúng ta rớt phịch xuống đất rồi, chúng
ta không kịp phỏng tính đã té cao từ bao nhiêu mét nữa.
Điều mà chúng ta biết chắc là thân ta đã chạm mặt đất,
và đau quá!
Tâm
cũng như thế ấy. Khi tâm rơi vào một sự việc nào đó,
điều mà chúng ta hay biết được là nỗi đau đớn. Sự thống
khổ, đau đớn, ưu sầu, và chán nản đó đã từ đâu mà
đến đây? Chúng không đến từ lý thuyết trong sách vở.
Không thấy có chỗ nào đã viết rõ các chi tiết của nỗi
thống khổ của chúng ta. Sự đau khổ của chúng ta không liên
quan chính xác với lý thuyết, nhưng cả hai, sự đau khổ và
lý thuyết, lại cùng đi chung một con đường. Sự nghiên cứu
qua sách vở không thể theo kịp với thực tại được. Vì
lẽ đó, Đức Phật đã dạy cần phải đào luyện sự hiểu
biết thật rõ ràng về chính chúng ta. Bất cứ điều gì khởi
sinh lên, điều đó đều khởi sinh trong sự hay biết đó.
Khi sự hay biết này, đã hay biết được đúng với sự thật,
thì tâm và các tâm sở [4] được nhận ra rõ ràng rằng chúng
không phải là của ta. Một cách rốt ráo, tất cả những
hiện tượng đó cần phải được dẹp bỏ qua và vứt đi
như rác rưởi. Chúng ta chớ nên bám níu vào và gán cho chúng
một ý nghĩa nào cả.
Chú
thích:
[1]
Bị thay đổi theo ảnh hưởng của các điều kiện, các điều
kiện này còn được gọi là chư hành, sankhāra.
[2]
Các sự vật bị điều kiện hóa, tức là bị biến đổi
theo ảnh hưởng của các điều kiện hiện có mặt.
[3]
Các hành vi cố ý đã tạo nên nghiệp lực.
[4]
Các yếu tố của tâm.
*
1.
Lý thuyết và thực tế
Đức
Phật dạy về tâm và các tâm sở, nhưng không phải để cho
chúng ta bám chặt lấy các ý niệm đó. Ý định duy nhất
của Ngài là giúp chúng ta nhận chân ra được chúng (tâm và
tâm sở) đều vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Rồi
thì hãy buông bỏ chúng, gạt chúng qua một bên. Hãy hay biết
và hiểu rõ chúng khi chúng khởi sinh lên. Tâm này đã bị
điều kiện hóa từ lâu. Tâm ấy đã được tập tành và
chịu sự điều kiện hóa để quay cuồng và xa rời khỏi
tình trạng của sự hay biết thuần tịnh. Khi tâm ấy quay
cuồng, nó tạo nên các hiện tượng bị điều kiện hóa,
rồi các hiện tượng ấy trở lại ảnh hưởng đến tâm
thêm nữa, khiến cho sự biến chuyển cứ tiếp tục mãi. Tiến
trình đó khởi sinh lên các điều thiện, điều ác, và các
sự vật khác nữa dưới ánh mặt trời này. Đức Phật dạy
ta phải nên từ bỏ hết chúng đi. Tuy nhiên, ngay buổi đầu,
các bạn còn phải tập làm quen với lý thuyết, rồi mới
có thể buông bỏ nó vào một giai đoạn sau. Đó là một tiến
trình tự nhiên. Tâm chỉ là như thế đó. Các tâm sở cũng
chỉ là như thế đó.
Hãy
lấy một thí dụ, về Bát Chánh Đạo chẳng hạn. Khi trí
tuệ (paññā, bát-nhã) quán sát sự vật một cách đúng
đắn với minh quán, Chánh Kiến khởi lên và đưa đến Chánh
Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, và các chi kế tiếp. Điều
này có liên hệ đến các tình trạng tâm lý đã khởi lên
từ giác niệm thuần tịnh. Giác niệm đó cũng như một ngọn
đèn soi sáng trong đêm tối cho con đường phía trước. Nếu
sự hiểu biết đúng đắn, nghĩa là phù hợp với chân lý,
nó sẽ tỏa lan và soi chiếu cho mỗi bước đi khác trên đường
Bát Chánh.
Bất
cứ điều gì mà chúng ta thể nghiệm, điều ấy cũng khởi
lên trong phạm vi của sự hiểu biết này. Sự hiểu biết
không thể có nếu tâm không hiện hữu. Tất cả là những
hiện tượng của tâm. Như Đức Phật có nói, tâm chỉ giản
dị là tâm. Tâm không phải là một chúng sinh, không phải
là một người, một tự ngã, hoặc là chính bạn. Tâm không
phải là chúng ta, cũng không phải là chúng nó. Pháp (Dhamma)
chỉ giản dị là Pháp. Nó là một tiến trình tự nhiên, vô
ngã. Nó không thuộc về chúng ta, hay bất cứ ai khác. Nó không
phải là một vật. Bất cứ những gì mà một cá nhân thể
nghiệm đều rơi vào trong năm loại căn bản này (khandas,
năm uẩn): sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đức Phật
dạy chúng ta nên buông bỏ hết chúng.
Pháp
hành thiền cũng tựa như một thanh gỗ. Minh quán (Vipassanā)
ở đầu này của thanh gỗ, còn An chỉ (Samatha) thì ở
đầu kia. Khi chúng ta cầm thanh gỗ lên, có phải một đầu
hay là hai đầu cùng được nâng lên? Dĩ nhiên, khi cầm thanh
gỗ lên thì hai đầu đều được cất lên cả. Đầu nào
là minh quán, và đầu nào là an chỉ? Chỗ nào là minh quán
tận cùng và chỗ nào là an chỉ bắt đầu? Cả hai đều là
tâm cả. Khi tâm trở nên an tịnh, thì sự an định sẽ khởi
lên ngay bước đầu từ nơi tịch tĩnh, an chỉ (samatha).
Chúng ta gom và hợp nhất tâm lại trong những trạng thái an
định (samādhi). Tuy nhiên, khi sự an bình và ổn cố
của samādhi phai nhạt dần, khổ sở sẽ khởi lên thay
thế. Tại sao vậy? Bởi vì sự an bình do thiền an chỉ đưa
đến vẫn còn căn cứ trên sự bám níu. Sự bám níu này có
thể là một nguyên nhân gây ra đau khổ. Tịch tĩnh còn chưa
phải là bước cuối của con đường. Đức Phật đã nhìn
thấy điều đó, do chính kinh nghiệm của Ngài, sự an định
của tâm như thế vẫn còn chưa phải là cứu cánh. Các nguyên
nhân nằm bên dưới tiến trình của sự hiện hữu (bhava)
vẫn chưa được đoạn diệt (nirodha). Các điều kiện
của sự tái sinh vẫn còn đó. Công phu hành trì của Ngài
vẫn chưa đạt đến mức toàn hảo. Tại sao? Bởi vì vẫn
còn khổ não. Do đó, dựa trên sự an định của tịch tĩnh,
Ngài tiếp tục quán chiếu, điều tra, và phân tích bản chất
hữu vi của thực tại cho đến khi Ngài đã giải thoát khỏi
mọi sự ràng buộc, ngay cả sự ràng buộc vào tịch tĩnh.
Tịch tĩnh vẫn còn là một phần của thế giới hữu vi và
thực tại ước định. Bám vào loại an định đó là bám
vào thực tại ước định, và cho đến khi nào chúng ta còn
bám vào đó, chúng ta vẫn còn sa lầy trong hiện hữu và tái
sinh. Hân hoan trong sự an định của tịch tĩnh sẽ đưa đến
hiện hữu và tái sinh kế tiếp. Một khi tâm bất an và chao
động đã lắng dịu xuống rồi, con người thường hay bám
níu vào sự yên tịnh tiếp theo đó.
Thế
nên Đức Phật mới quan sát các nguyên nhân và điều kiện
nằm bên dưới sự hiện hữu và tái sinh. Cho đến khi nào
Ngài còn chưa thâm nhập hoàn toàn vào vấn đề và hiểu rõ
ràng được Chân Lý, Ngài vẫn tiếp tục thẩm sát càng lúc
càng thâm sâu hơn, với một tâm tư an định, chiếu rọi vào
tất cả mọi sự vật, an lành hay xáo động, mỗi khi chúng
khởi sinh lên. Ngài tiếp tục thẩm sát cho đến khi Ngài thấy
thật rõ ràng, minh bạch rằng, muôn pháp khi khởi lên, hiện
hữu thì cũng tựa như một hòn sắt nóng đang bị nung đỏ.
Năm uẩn (sắc, thọ tưởng, hành, thức) của chúng sinh là
hòn sắt nóng đỏ. Khi một hòn sắt nung nóng đỏ, còn có
chỗ nào cho ta cầm mà không bị phỏng tay chăng? Có chỗ nào
nơi hòn sắt nóng đỏ đó còn dịu mát chăng? Thử sờ vào
bên trên, bên dưới hoặc hai bên hông mà thấy được một
chỗ còn nguội lạnh chăng? Không thể được. Hòn sắt nung
đỏ đã hoàn toàn nóng cháy. Chúng ta không thể nào bám vào
sự an tịnh. Nếu tự đồng hóa với sự an tịnh đó, rồi
phỏng đoán rằng cũng có kẻ đang được yên ổn và tịch
tĩnh, đó là vô tình củng cố thêm ý nghĩ sai lầm rằng có
một linh hồn riêng biệt, một tự ngã độc lập. Ý tưởng
về tự ngã chỉ là một phần của thực tại qui ước. Khi
nghĩ rằng, "Tôi bình yên, Tôi xao động, Tôi tốt, Tôi xấu,
Tôi sung sướng, Tôi đau buồn", chúng ta càng bị vướng vào
hiện hữu và tái sinh. Lại càng thêm khổ sở. Khi hạnh phúc
tàn phai, chúng ta đau khổ. Khi sự khổ sở biến mất, chúng
ta có hạnh phúc trở lại. Vướng mãi trong vòng lẩn quẩn
đó, ta trồi lên thụt xuống triền miên giữa thiên đường
và địa ngục.
Trước
khi giác ngộ, Đức Phật nhận thấy điều này trong chính
tâm của Ngài. Ngài biết rõ rằng các điều kiện của sự
hiện hữu và tái sinh vẫn chưa tận diệt hết. Công việc
của Ngài vẫn chưa hoàn tất. Chú tâm vào tính duyên sinh của
cuộc đời, Ngài quán chiếu: "Do nguyên nhân này mà có sự
sinh; do sự sinh này mà có sự chết, và tất cả các sự biến
chuyển này đến và đi." Thế là Đức Phật nắm lấy các
chủ đề đó để quán chiếu hầu thông hiểu sự thật về
năm uẩn. Tất cả mọi sự vật tâm linh hay vật chất, mọi
sự việc được quan niệm hay suy tư đến, đều do duyên sinh,
không có một ngoại lệ nào. Một khi Ngài đã hiểu rõ như
thế, Ngài dạy chúng ta nên đặt chúng xuống. Một khi Ngài
đã hiểu rõ như thế, Ngài dạy chúng ta nên buông bỏ hết
chúng. Ngài khuyến khích mọi người nên thông hiểu cho phù
hợp với Chân Lý. Nếu không như thế, chúng ta sẽ khổ sở.
Chúng ta không đủ khả năng để vứt bỏ các sự vật đó.
Tuy nhiên, một khi chúng ta thấy rõ vấn đề này, chúng ta
sẽ nhìn nhận rằng các sự vật đó làm mê hoặc chúng ta.
Như Đức Phật có nói, "Tâm không có thực chất, nó không
phải một vật nào cả."
Tâm
không phải sinh ra là thuộc về một ai. Tâm không chết đi
như bất cứ ai. Tâm ấy tự do, chiếu sáng rạng ngời, và
không vướng mắc vào bất cứ vấn đề nào cả. Lý do các
vấn đề khó khăn khởi lên là vì tâm ấy bị che mờ bởi
các sự vật bị điều kiện hóa, bị vẩn đục vì quan niệm
sai lầm về tự ngã. Bởi thế, Đức Phật dạy ta phải nên
quan sát tâm ấy. Ngay tại buổi đầu, đã có gì ở đấy?
Thực sự, không có gì cả. Tâm ấy không khởi lên cùng với
các pháp hữu vi, và tâm ấy cũng không diệt mất theo các
pháp hữu vi đó. Khi gặp một sự việc gì thiện lành, tâm
ấy không thay đổi để trở thành thiện lành. Khi gặp một
sự việc xấu ác, tâm ấy cũng không trở thành xấu ác. Tâm
ấy như thế đó, khi có sự minh quán nhìn rõ ràng vào bản
thể của chính mình, có sự thông hiểu rằng đây vốn là
một tình trạng vô thực chất.
Trí
tuệ minh quán của Đức Phật nhìn thấy muôn pháp đều vô
thường, bất toại nguyện và vô ngã. Ngài muốn mọi
người chúng ta phải thông hiểu hoàn toàn theo đường lối
đó. Do đó, sự "hay biết" đã biết thật phù hợp với Chân
Lý. Khi sự "hay biết" đó biết đến niềm an lạc hay nỗi
sầu bi, thì nó vẫn giữ được sự thản nhiên, bất động.
Tình cảm an lạc là một hình thức của sự sinh ra. Khuynh
hướng trở nên buồn bã là một hình thức của sự chết
đi. Khi có sự chết, tất sẽ có sự sinh; và những gì sinh
ra rồi sẽ chết đi. Khởi sinh rồi tận diệt, cứ mãi vướng
vào vòng lẩn quẩn của sự hiện hữu. Một khi tâm tư của
hành giả đã đạt đến tình trạng hiểu biết như thế đó,
thì không còn sót lại chút nghi ngờ nào về sự trở thành
và tái sinh nữa cả. Không còn cần phải hỏi lại ai nữa
cả.
Đức
Phật thẩm sát đầy đủ hết tất cả các pháp hữu vi và
đã buông bỏ được chúng. Năm uẩn cũng được buông bỏ,
và sự "hay biết" chỉ đơn thuần là một quan sát viên vô
tư. Nếu Ngài thể nghiệm điều chi tích cực, Ngài không vì
thế mà trở thành tích cực. Ngài chỉ đơn thuần quan sát
và tỉnh giác. Nếu Ngài thể nghiệm điều chi tiêu cực, Ngài
không hề trở thành tiêu cực. Và tại sao lại như vậy? Bởi
vì tâm tư Ngài đã giải thoát khỏi các nhân duyên ấy. Ngài
đã thấm nhập vào chân lý. Nhân duyên đưa đến tái sinh
không còn hiện hữu nữa. Đó là sự "hay biết" chắc chắn
và đáng tin cậy. Đó là một tâm tư thật sự hoàn toàn an
định. Đó là những gì không hề được sinh ra, không già
lão, không bệnh hoạn, và không hề chết đi. Đó cũng không
phải là nguyên nhân hoặc hậu quả, cũng không tùy thuộc
vào nhân và quả; hoàn toàn độc lập đối với tiến trình
duyên sinh. Các nguyên nhân bấy giờ đã chấm dứt, và không
còn sót lại một duyên nào nữa. Tâm tư ấy vượt qua sự
sinh và sự chết, vượt qua an lạc lẫn ưu bi, cả thiện lẫn
ác. Còn có thể nói gì hơn nữa? Nó vượt qua mọi giới hạn
của ngôn từ để mô tả nó. Tất cả các điều kiện hỗ
trợ đã chấm dứt, và nỗ lực nào để mô tả nó cũng sẽ
chỉ đưa đến sự bám thủ. Ngôn từ được dùng bấy giờ
chỉ trở thành một tràng lý thuyết của tâm tư mà thôi.
Các
mô tả lý thuyết về tâm và cách vận hành của tâm tuy chính
xác nhưng Đức Phật lại xem loại hiểu biết đó tương đối
vô dụng. Chúng ta dùng trí thức để hiểu biết một điều
gì, rồi tin tưởng vào đó, nhưng đấy không có chút ích
lợi thực sự nào. Kiến thức đó không đưa đến an định.
Sự hiểu biết của Đức Phật đưa đến sự buông bỏ. Kết
quả là sự xả ly. Bởi vì chính cái tâm đã dẫn ta nhúng
tay vào cả hai, điều phải và điều trái. Nếu khá khôn ngoan,
chúng ta sẽ chọn điều phải. Nếu quá khờ khạo, chúng ta
sẽ dính dấp đến điều quấy. Tâm ấy là tâm thế gian,
và đức Thế tôn đã dùng các sự vật của thế gian này
để quan sát chính thế gian đó. Biết được rõ ràng thế
gian này đúng như thật nó là như thế, Ngài được tôn xưng
là bậc "Thế gian giải", nghĩa là bậc đã hiểu được thế
gian này rất rõ ràng và minh bạch.
Trở
lại với vấn đề an chỉ (samatha) và minh quán (vipassanā),
điều quan trọng nhất là phải phát triển các trạng thái
đó ngay trong chính tâm của chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta thật
sự phát triển chúng nơi ta thì chúng ta mới hiểu biết rõ
thực sự chúng là như thế nào. Chúng ta cố tìm học những
gì trong sách vở nói về các yếu tố của tâm, nhưng loại
kiến thức trí năng này lại không có ích lợi chi cho việc
cắt đứt hẳn các ham muốn vị kỷ, sân hận và si mê. Chúng
ta nghiên cứu lý thuyết về tham, sân, si, giản dị chỉ mô
tả các đặc tính khác nhau của các lậu hoặc tinh thần đó:
"Ham muốn ích kỷ có nghĩa là như thế này; giận hờn mang
ý nghĩa như thế kia; si mê được định nghĩa như thế nọ."
Khi chỉ hiểu biết chúng qua các đặc tính lý thuyết đó,
chúng ta có thể thuyết giảng về chúng, nhưng chỉ trên bình
diện này thôi. Chúng ta thông minh và hiểu biết như thế,
nhưng khi các lậu hoặc đó thực sự khởi lên trong tâm chúng
ta, chúng có hoàn toàn giống hệt như trong lý thuyết không?
Thí dụ như, khi chúng ta gặp phải việc gì bất như ý, chúng
ta có phản ứng chống lại và trở nên cau có chăng? Chúng
ta có bám chặt lấy nó không? Hay là chúng ta buông bỏ, cho
qua đi? Nếu sự hiềm ghét nổi lên và chúng ta thấy được
như thế, chúng ta có còn ôm ấp sự hiềm ghét đó mãi chăng?
Hoặc là khi chúng ta đã nhận diện rõ ra sự hiềm ghét rồi,
chúng ta có lập tức buông bỏ nó không? Nếu tự xét mình
khi có điều không vừa ý mà nổi lên sự hiềm ghét và cố
giữ sự hiềm ghét đó mãi, tốt hơn là ta nên quay về học
tập lại nữa. Bởi vì sự cố chấp đó không phải là thái
độ đúng đắn. Sự thực tập vẫn chưa được hoàn hảo.
Hễ khi đã hoàn hảo rồi thì sự buông bỏ tự nhiên xảy
ra. Các bạn hãy nhìn lại sự việc dưới ánh sáng này.
Chúng
ta phải thành thực nhìn sâu vào chính tâm của chúng ta, nếu
chúng ta muốn thể nghiệm được các lợi lạc của sự thực
tập. Cố gắng mô tả các tình trạng tâm lý, qua các tâm
sở khác nhau và các đặc tính của chúng, chưa phải là sự
thực tập đầy đủ. Còn nhiều việc khác cần làm hơn thế
nữa. Nếu cần học tập các điều ấy, bạn hãy tìm hiểu
chúng một cách tuyệt đối, với sự sáng tỏ rõ ràng và
sự hiểu biết thâm sâu. Thiếu sự trong sáng của minh quán,
làm sao ta hoàn tất được việc học tập? Chúng ta không bao
giờ học tập cho xong cả.
Thực
tập Chánh Pháp vì thế mà quan trọng vô cùng. Khi tôi thực
hành, đó là tôi đang học tập. Tôi không biết gì về các
tâm sở, các yếu tố tâm lý của tâm cả. Tôi chỉ quan sát
phẩm chất của sự hiểu biết. Nếu một tư tưởng khởi
lên, tôi liền tự hỏi tại sao. Nếu một ý hờn giận nổi
lên, tôi tự hỏi tại sao. Nếu một ý yêu thương sinh ra,
tôi tự hỏi tại sao. Đó là phương cách mà tôi theo. Cho dù
có đặt tên các ý đó là tư tưởng, là tâm sở, là yếu
tố tâm lý, là gì gì đi nữa, cũng không sao. Chỉ cần đi
thật sâu vào điểm đó cho đến khi nào các cảm xúc thương
hay ghét đó hoàn toàn biến mất khỏi tâm. Khi tôi có đủ
khả năng để chặn dừng sự yêu hay ghét, trong bất cứ trường
hợp nào, tôi mới có thể vượt thoát khỏi sự đau khổ.
Rồi thì đâu cần việc gì xảy ra thêm; tâm và trí đã được
giải thoát và thoải mái. Không có gì còn lưu lại. Tất cả
đều dừng đứng lại.
Xin
hãy thực tập như thế. Nếu có ai muốn thuyết giảng về
lý thuyết, thì đó là việc của họ. Nhưng dù có tranh luận
đến bao nhiêu đi nữa, thì sự thực tập cũng chỉ gom lại
ở một điểm duy nhất tại đây. Khi sự việc nào khởi lên,
thì nó khởi lên ngay tại đây. Dù nhiều hay ít, nó cũng bắt
nguồn từ ngay nơi đây. Khi nó chấm dứt, sự chấm dứt cũng
xảy ra ngay tại đây. Còn chỗ nào khác nữa sao? Đức Phật
gọi điểm tại đây là sự "hiểu biết". Khi sự "hiểu biết"
đó biết được sự vật chính xác, phù hợp với Chân Lý,
thì chúng ta thông hiểu được ý nghĩa của Tâm. Sự vật
luôn luôn lừa gạt không ngừng. Khi ta học tập về chúng,
chúng luôn dối gạt ta. Tôi còn phải nói cách nào nữa đây?
Mặc dù bạn biết chúng, bạn vẫn bị mê hoặc vì chúng,
ngay tại nơi bạn biết đến chúng. Đó là thực trạng. Vấn
đế là như thế này: ý định của Đức Phật không phải
là muốn ta biết các sự vật được gọi tên gì. Mục đích
giáo pháp của Ngài là dạy ta hãy suy ngẫm để tìm ra con
đường giúp chúng ta thoát ra khỏi các ràng buộc của vạn
pháp, xuyên qua sự truy tầm các nguyên nhân sâu xa nằm ẩn
bên dưới.
*
2.
Giới, Định, Tuệ
Tôi
thực tập Chánh Pháp mà không biết chi nhiều. Tôi chỉ biết
rằng con đường giải thoát bắt đầu bằng Giới (Sīla).
Giới là bước đầu tuyệt đẹp của con đường Đạo. Sự
an định sâu xa của Định (Samādhi) là khoảng giữa
tuyệt đẹp. Trí Tuệ (Paññā, Bát-nhã), là đoạn cuối
tuyệt đẹp. Mặc dù Giới-Định-Tuệ phân ra làm ba phương
diện trong việc tu tập, nhưng càng nhìn sâu vào chúng, ta càng
thấy cả ba đức tính ấy phối hợp lại với nhau. Để trì
giới, bạn phải là người có trí tuệ. Ta thường khuyên
mọi người phải theo đúng các tiêu chuẩn đạo đức, trước
hết là tuân theo năm điều học, để giới đức được vững
chắc. Tuy nhiên, sự hoàn hảo của giới đức cần phải có
rất nhiều trí tuệ. Ta phải giữ gìn lời nói, canh chừng
các hành động và phân tích các hậu quả của chúng. Tất
cả các điều đó là công việc của trí tuệ. Ta phải dựa
trên trí tuệ mà đào luyện giới đức.
Theo
lý thuyết, giới đi đầu, kế đến định, rồi sau đến
tuệ; nhưng khi tôi quán sát, tôi nhận thấy Trí tuệ là viên
đá nền móng của mọi phương diện khác của sự thực tập.
Để có thể hiểu rõ tận tường các hậu quả của lời
chúng ta nói và việc chúng ta làm - nhất là các hậu quả
tai hại - ta cần phải nương theo trí tuệ để soi đường
và canh phòng, trong việc thẩm sát tiến trình nhân quả. Điều
này giúp ta thanh lọc được các hành động và lời nói. Một
khi ta đã quen phân biệt được thái độ đạo đức với
hành vi bất chánh, ta sẽ thấy được chỗ nào cần phải
thực tập. Ta sẽ buông bỏ điều giả dối và đào luyện
điều chân chánh. Ta từ bỏ các điều ác và phát triển các
điều thiện. Đó là Giới (Sīla). Khi ta làm
được như thế luôn, tâm trở nên vững chắc và cương quyết.
Một cái tâm cương quyết và không lay động, thì không hề
lo lắng, hối hận hay mê mờ trong lời nói hay trong động
tác. Đó là Định (Samādhi).
Tâm
đó ổn cố và thuần nhất, trở thành một nguồn năng lực
mạnh mẽ thứ hai khi chúng ta thực tập theo Chánh Pháp, giúp
ta quán chiếu sâu xa vào hình sắc, âm thanh, v.v. đang được
thể nghiệm. Một khi tâm đã an định trong sự tỉnh thức
vững chắc, ta có thể bước vào sự suy tầm bền bỉ về
thực tại của sắc thân, cảm giác, tri giác, tư tưởng, ý
thức, với các hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc chạm trên
thân cùng các đối tượng của tâm. Khi chúng liên tục phát
sinh, ta cũng liên tục suy tầm chúng với một quyết tâm không
để đánh mất sự tỉnh giác. Nhờ đó mà ta mới hiểu biết
được các sự kiện đó thật sự như thế nào. Các sự kiện
đó khởi lên hiện hữu theo đúng với chân lý thiên nhiên
của chính chúng. Khi sự hiểu biết của ta ngày càng thâm
sâu, trí tuệ liền khởi sinh. Một khi đã có sự thông hiểu
sáng tỏ về sự vật thực sự là như thế nào, đúng theo
Chân lý, thì các tri giác cũ của ta bị bứng tận gốc rễ
và, rồi đó, các kiến thức bị ý niệm hóa trước kia nay
liền biến dạng để trở thành trí tuệ. Điều đó cho thấy
rõ phương thức mà Giới, Định, Tuệ hòa hợp lại với nhau
và tác động như là một.
Khi
trí tuệ tăng trưởng về dũng lực và vô úy (không sợ hãi)
thì định lực khởi lên trở thành vững chắc hơn. Định
lực càng kiên cố, giới đức càng ổn định. Giới đức
càng hoàn hảo, lại nuôi dưỡng định lực thêm mạnh mẽ,
và định lực thêm phần dũng mãnh sẽ đưa đến một trí
tuệ trưởng thành. Cả ba phương diện của sự tập luyện
cùng ăn khớp với nhau và tác động hỗ tương nhau. Phối
hợp lại, cả ba lập thành Bát Chánh Đạo, con đường tu
tập của Đức Phật. Một khi Giới, Định, Tuệ đã đạt
đến cao điểm, Bát Chánh Đạo có đủ dũng lực quét sạch
các lậu hoặc còn đang che mờ sự thanh tịnh của tâm. Khi
tham dục, sân hận và si mê phát khởi, Bát Chánh Đạo là
thanh bảo kiếm chém chúng ngã xuống ngay tại lộ trình của
chúng.
Khuôn
khổ để thực hành Chánh Pháp là Tứ Diệu Đế: (1) Khổ
(dukkha), (2) Tập, nguồn gốc của Khổ (samudaya),
(3) Diệt, chấm dứt Khổ (nirodha), (4) Đạo, con
đường Tám Chánh đưa đến sự tận diệt khổ (magga).
Bát Chánh Đạo gồm có Giới, Định, Tuệ, và đó là khuôn
khổ để đào luyện tâm ý. Ý nghĩa thực sự của Giới Định
Tuệ không thể tìm thấy nơi danh xưng, mà lại ẩn tàng vào
nơi thâm sâu của tâm trí. Ba môn học Giới, Định, Tuệ là
như thế đấy; chúng xoay quanh nhau liên tục. Bát Chánh Đạo
bao trùm khắp các hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm vào
thân, hoặc các đối tượng nào khác khởi lên. Tuy nhiên,
nếu các yếu tố của Bát Chánh Đạo còn yếu ớt và rụt
rè, thì các lậu hoặc sẽ xâm chiếm tâm trí ta. Nếu Bát
Chánh Đạo dũng mãnh và can đảm, nó sẽ chinh phục và tiêu
diệt các lậu hoặc. Nếu các lậu hoặc phiền não còn mạnh
mẽ và gan lì, trong khi Bát Chánh Đạo yếu ớt và bạc nhược,
thì các lậu hoặc đó sẽ ngự trị lên Bát Chánh Đạo. Chúng
chế ngự tâm trí ta. Nếu sự hiểu biết không đủ nhanh nhẹn
và lanh lợi khi các hình sắc, cảm giác, tri giác và tư tưởng
đang khởi lên, thì các đối tượng này sẽ chiếm đoạt
và tàn phá chúng ta. Bát Chánh Đạo và các lậu hoặc cùng
đi song song với nhau. Trong khi sự thực tập theo Chánh Pháp
được phát triển trong tâm, hai lực lượng này tranh chấp
nhau từng bước một trên con đường tu hành. Đó cũng tựa
như có hai người đang cãi vã nhau bên trong tâm trí, nhưng
đó chỉ là sự kình chống giữa Bát Chánh Đạo và các lậu
hoặc, để dành quyền ngự trị lên tâm. Bát Chánh Đạo nuôi
dưỡng và hướng dẫn khả năng quán chiếu của ta. Cho đến
khi nào ta vẫn còn đủ khả năng để quán chiếu chính xác,
các lậu hoặc sẽ bị thất thế và rút lui dần. Nhưng nếu
tâm ta lỏng lẻo, mỗi khi các lậu hoặc chỉnh trang và củng
cố lực lượng lại thì Bát Chánh đạo sẽ bị đánh tan,
phải nhường chỗ, rút lui. Hai bên đối phương cứ tranh chấp
mãi cho đến khi có một kẻ chiến thắng và lúc đó, mọi
việc được an bài.
Nếu
ta chú tâm vào nỗ lực phát triển theo đường lối Chánh
Pháp, lần lần các lậu hoặc sẽ bị quét sạch vĩnh viễn.
Một khi đã được đào luyện hoàn toàn rồi, bốn Chân Lý
Cao Thượng sẽ an trú trong tâm ta. Dưới bất cứ hình thức
nào mà hoạn khổ có mặt, hoạn khổ đó cũng có một nguyên
nhân tạo ra sự hiện hữu của nó. Đó là Chân Lý thứ hai.
Và nguyên nhân ấy là gì? Giới lỏng lẻo, Định yếu ớt,
Tuệ lờ mờ. Khi Bát Chánh Đạo không bền vững, các lậu
hoặc ngự trị lên tâm trí. Khi chúng ngự trị, Chân Lý thứ
hai liền khởi lên hoạt động và tạo ra các loại hoạn khổ.
Một khi chúng ta bị khổ, các đức tánh có khả năng dập
tắt được sự khổ liền biến đi mất. Các điều kiện
làm khởi sinh lên Bát Chánh Đạo là Giới, Định và Tuệ.
Khi ba môn này đạt đến dũng lực trọn vẹn thì Bát Chánh
Đạo tiến lên không bị ngưng trệ, khuất phục được sự
bám thủ và đeo níu đã khiến ta phải phiền muộn, lo âu.
Khổ không thể khởi phát được, vì Bát Chánh Đạo đang
dẹp tan các lậu hoặc. Chính ngay tại điểm này mà sự chấm
dứt khổ bắt đầu. Tại sao Bát Chánh Đạo đủ sức mang
đến sự chấm dứt khổ? Bởi vì Giới, Định và Tuệ đã
đạt đến cao điểm của sự hoàn hảo, và Bát Chánh Đạo
đã gia tăng tốc lực đến cực điểm nên không thể nào
bị ngăn dừng lại được. Tất cả đều cùng xảy ra ngay
tại đây. Tôi muốn nói rằng, những ai đã thực tập đúng
như thế, thì các ý kiến lý thuyết về tâm trí không thể
hiện khởi lên trong khung cảnh này. Nếu được giải thoát
khỏi các ý kiến đó, tâm trí liền trở nên vững chắc và
đáng tin cậy nhất. Và kể từ nay, dù tâm trí ấy chọn theo
lối nào, chúng ta không còn cần phải thúc dục nó hơn nữa
để tiếp tục thẳng tiến mãi.
Bạn
hãy nhìn đến lá cây xoài. Lá đó ra sao? Chỉ cần quan sát
một chiếc lá, là biết được cả muôn ngàn chiếc lá khác.
Chỉ cần nhìn kỹ một chiếc lá thôi. Các lá khác cũng đều
giống như thế. Với cây xoài cũng như thế. Ta chỉ cần quan
sát một thân cây xoài là biết được các đặc tính của
tất cả các cây xoài. Chỉ cần nhìn kỹ một thân cây xoài
thôi. Mọi cây xoài khác cũng không có gì sai biệt quan trọng
cả. Nếu ta biết được một, ta sẽ biết hết tất cả.
Đó là lời Đức Phật đã dạy.
Giới-Định-Tuệ
là con đường của Đức Phật. Nhưng con đường đó chưa
phải là cốt tủy của Chánh Pháp. Bát Chánh Đạo, tự nó,
không phải là cứu cánh, không phải là mục tiêu tối hậu
của Đức Thế Tôn. Nhưng nó là con đường đi vào nội tâm.
Đó cũng như các bạn đi từ thành phố Bangkok đến tu viện
Wat Nong Pah Pong này. Không phải vì đường xá mà bạn đã
bỏ công đi tìm. Điều mà bạn muốn là đi đến tu viện,
nhưng bạn cần con đường đó để đi đến đây. Con đường
bạn vượt qua không phải là tu viện, nó chỉ là phương cách
để đi đến đây. Nhưng nếu bạn muốn đến được tu viện,
bạn phải đi theo con đường đó. Giới, Định, và Tuệ, cũng
như thế. Chúng ta có thể bảo rằng cả ba không phải là
cốt tủy của Chánh Pháp, nhưng chúng là con đường đưa ta
đến đây. Khi đã thuần thục về Giới, Định, Tuệ rồi,
thì kết quả sẽ là tâm tư được an hòa thật thâm sâu.
Đó là mức đến nơi. Khi ta đạt đến sự an định đó rồi,
ngay cả khi nghe một tiếng động lớn, tâm tư vẫn giữ sự
điềm tĩnh. Một khi ta đã đạt được an định đó, thì
không còn gì cần phải làm thêm nữa. Đức Phật dạy phải
buông bỏ tất cả. Dầu cho có việc gì xảy ra chăng nữa,
cũng không có chi để lo lắng cả. Bấy giờ chúng ta mới
thực sự tự mình biết được mọi sự việc. Chúng ta không
còn chỉ biết tin suông, theo những gì kẻ khác nói.
Nguyên
tắc căn bản của Phật giáo là sự rỗng vắng của tất
cả hiện tượng. Nó không tùy thuộc vào sự nhiệm mầu của
các loại thần thông, các khả năng dị thường, hoặc bất
cứ những gì huyền bí và lạ lùng. Đức Phật không nhấn
mạnh đến tầm mức quan trọng của các việc đó. Tuy nhiên,
các quyền năng này vẫn có thật, và có thể tập luyện được,
nhưng khía cạnh này của Giáo pháp lại có tính cách làm mê
hoặc, cho nên, Đức Phật không khuyến khích sự tập luyện
đó. Ngài chỉ ngợi khen các bậc thánh nhân đã tự mình giải
thoát ra khỏi mọi hoạn khổ, phiền não.
Để
thực hiện sự giải thoát mọi khổ não, cần phải tập luyện
với các khí cụ cùng vật trang bị để hoàn thành công việc,
đó là từ bi, giới hạnh, định lực và trí tuệ. Chúng ta
cần phải nhận lấy chúng và theo đó mà tập luyện. Cùng
phối hợp lại, chúng lập thành con đường Đạo hướng về
nội tâm, và Trí tuệ là bước đầu tiên. Con đường Đạo
ấy không thể nào trưởng thành được, nếu tâm trí còn
bị các lậu hoặc che phủ kín, nhưng nếu chúng ta cương quyết
và dũng mãnh thì con đường Đạo sẽ loại trừ các ô trược
đó. Tuy nhiên, nếu các lậu hoặc tỏ ra lì lợm và mạnh
mẽ, chúng sẽ phá tan con đường Đạo. Hành trì theo Chánh
Pháp giản dị chỉ là sự tranh đấu không ngừng của hai
lực lượng đối nghịch đó, cho đến khi nào đạt đến
mức cuối cùng của con đường Đạo.
*
3.
Các nguy cơ của chấp thủ
Công
phu tu tập thường phải chịu nhiều thử thách gian nan. Cần
phải có lòng kiên trì, kham nhẫn và chịu đựng mọi thiếu
thốn. Ta cần phải tự mình làm lấy, tự mình thể nghiệm
lấy, và tự mình thực hiện lấy. Tuy nhiên, các học giả
thường hay bị lầm lẫn. Thí dụ như khi ngồi thiền, vừa
được chút ít an ổn thì họ liền khởi lên nghĩ rằng: "À!
Đây chắc là Sơ thiền rồi!" Tâm trí họ đã hoạt động
như thế đó. Và một khi các tư tưởng đó khởi sinh lên,
tức thì sự an tịnh mà họ đang thể nghiệm liền bị lay
chuyển. Không bao lâu, họ lại bắt đầu tưởng rằng có
lẽ họ đã đạt đến Nhị thiền. Các bạn đừng nên suy
nghĩ và ước đoán như thế. Không có một bản cáo thị nào
thông báo cho ta biết ở giai tầng nào của thiền-na mà ta
đang thể nghiệm. Sự thật lại hoàn toàn khác hẳn. Không
có gì giống với các bản chỉ đường cho các bạn, "Đây
là hướng đi về Wat Nong Pah Pong" cả. Đó không phải là điều
mà tôi tìm đọc thấy trong tâm trí. Không có chút gì để
thông báo, cáo tri cả.
Mặc
dù có nhiều vị học giả uyên thâm đã viết nhiều bản
tường trình mô tả Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ
thiền, nhưng những gì được viết ra đó hoàn toàn là những
tài liệu, chi tiết về bên ngoài. Khi tâm tư đang đi vào các
tình trạng an định thâm sâu, tâm tư ấy không biết đến
những gì đã được viết sẵn. Tâm ấy biết, nhưng điều
mà tâm ấy biết, không phải cùng một thứ với lý thuyết
đã đọc được. Nếu các học giả chụp lấy các lý thuyết
và mang chúng vào trong sự thiền quán của họ, ngồi và ngẫm
nghĩ: "Hừm! Cái gì đây? Phải là Sơ thiền đó chăng?" Đấy!
Sự an định vừa bị lay chuyển rồi, và họ không thể nghiệm
được chút gì có giá trị thực sự. Tại sao lại như vậy?
Bởi vì đó là ý mong cầu, và khi đã có khát vọng, thì điều
gì sẽ xảy ra? Tâm liền rút lui khỏi việc hành thiền. Bởi
vậy cho nên tất cả chúng ta cần phải vứt bỏ sự suy nghĩ
và ước đoán như thế. Bạn hãy dẹp bỏ chúng trọn vẹn
đi. Hãy dùng lấy sắc thân, lời nói và tâm tư làm đề tài
khảo sát để tu tập. Hãy quan sát các hoạt động của tâm
nhưng đừng mang các sách vở viết về Chánh pháp vào trong
đó với bạn. Nếu không, mọi việc sẽ trở nên rối ren,
bởi vì không có gì trong sách lại tương ứng đúng với Sự
Thật mà muôn sự vật đang là như thế.
Những
người học nhiều quá, đầy ắp các kiến thức lý thuyết,
thường không thành công trong việc thực tập Chánh Pháp. Họ
bị sa lầy ở giai đoạn sưu tầm tài liệu. Sự thật là
không thể đo lường được tâm trí bằng các tiêu chuẩn
ngoại tại. Nếu tâm trí trở nên an tịnh, chỉ nên để cho
nó an tịnh. Các giai tầng thâm sâu của sự an định quả
thật là có. Riêng cá nhân tôi, trước kia, tôi không biết
chi nhiều về lý thuyết thực hành. Tôi đã là tỳ khưu từ
hơn ba năm mà vẫn còn một số lớn các câu hỏi về định
lực thực sự ra làm sao. Tôi cứ suy nghĩ mãi về điều đó
và cố gắng tìm hiểu trong khi tôi hành thiền, nhưng tâm tôi
lại càng bất an và xao lãng hơn lúc trước! Số lượng các
sự suy nghĩ thật sự đã gia tăng lên nhiều. Khi tôi không
hành thiền, thì tôi lại an tịnh hơn. Trời! Như thế, có
khó khăn và bực bội chăng? Nhưng mặc dù gặp nhiều trở
ngại, tôi vẫn cứ tiếp tục. Khi tôi không cố làm điều
chi đặc biệt hơn, tâm trí tôi lại tương đối thoải mái.
Nhưng khi nào tôi quyết tâm làm cho tâm trí tôi qui nhất lại
trong định lực (samādhi), thì tâm ấy lại vượt ra
khỏi vòng kiểm soát. Tôi tự hỏi, "Điều gì đang xảy ra
thế? Tại sao lại như vậy?"
Sau
này, tôi mới nhận thức ra hành thiền có thể đem ra so sánh
với tiến trình hơi thở. Nếu tôi quyết tâm ép cho hơi thở
trở nên cạn, sâu, hoặc bình thường, thì rất khó mà làm
được như thế. Tuy nhiên, nếu ta đi tản bộ và không để
ý đến các luồng hơi thở đang thở ra, thở vào, thì lại
rất thoải mái, thư giãn. Tôi chợt nghĩ: "À! Có lẽ đây
là đường lối có hiệu quả đấy!" Khi một người đi tới,
đi lui bình thường suốt ngày, không cố tâm chú ý gì đến
hơi thở, thì hơi thở có làm cho người ấy khổ sở không?
Không, anh ta cảm thấy thư thái. Nhưng khi tôi ngồi xuống
với lời nguyện quyết tâm làm cho tâm được an tịnh, tức
thời sự bám chặt và đeo níu liền len vào. Khi tôi thử điều
chỉnh hơi thở cho sâu hoặc cạn, thì việc đó chỉ làm cho
tôi thêm căng thẳng. Tại sao vậy? Bởi vì cái ý chí, mà
tôi đang dùng đây, bị nhuốm bẩn vì sự bám chặt và đeo
níu. Tôi còn chưa hiểu được điều gì đang xảy ra đó.
Tất cả sự cản trở, thất bại và khó nhọc đó đã nổi
lên chỉ vì tôi đã đưa lòng mong cầu vào trong việc hành
thiền.
*
4.
An bình không lay chuyển
Lần
nọ, tôi đến ở tại một tu viện trong rừng cách làng xóm
chừng nửa dặm. Vào một đêm, dân làng tổ chức một cuộc
hội hè rất ồn ào, trong khi tôi đang ngồi tham thiền. Lúc
ấy vào độ mười một giờ đêm, và tôi đang có cảm giác
lạ thường. Suốt từ trưa đến giờ, tôi có cảm giác lạ
như thế. Tâm tôi thật yên tịnh. Hầu như không có tư tưởng
nào cả. Tôi cảm thấy thư giãn và thoải mái. Tôi cất bước
đi kinh hành cho đến khi tôi thấm mệt và quay vào ngồi xuống
trong chòi lá. Khi ngồi xuống, vừa mới xếp chân lại, thì
lạ lùng thay, tâm tôi đi vào một trạng thái an định thâm
sâu. Sự kiện này tự nó khởi lên như thế. Khi tôi đã ngồi
yên, tâm trở nên thực sự an định. Tâm ấy kiên cố như
phiến đá. Không phải là tôi không còn nghe tiếng ồn ào
của dân làng đang ca, múa nữa - tôi vẫn nghe - nhưng tôi đã
có thể ngăn bít các âm thanh đó hoàn toàn.
Lạ
lùng! Khi tôi không lưu ý đến tiếng động, bấy giờ hoàn
toàn im lặng, tôi không nghe gì cả. Nhưng nếu tôi muốn nghe
tiếng, tôi vẫn có thể nghe nó mà không xem nó như một sự
quấy động. Tựa hồ như có hai đối tượng trong tâm tôi,
đang được đặt kề cận nhau, nhưng không chạm vào nhau.
Tôi có thể thấy rằng tâm và đối tượng hay biết của
nó, đang rời nhau và khác biệt nhau, giống như cái ống nhổ
và cái ấm nước đây. Thế là tôi hiểu ngay: khi tâm đang
qui nhất vào định lực, nếu bạn muốn hướng sự chú tâm
ra ngoài thì bạn có thể nghe; nhưng nếu bạn để cho tâm
an trú trong sự rỗng vắng của nó, thì có sự im lặng hoàn
toàn. Khi tiếng động được nghe đến, tôi có thể thấy
rằng sự hay biết và tiếng động khác nhau rất rõ ràng.
Tôi quán chiếu: "Nếu đây còn chưa phải là đúng hướng,
thì còn đường lối nào nữa?" Đấy chính là đường hướng
rồi. Cả hai sự việc đó - tiếng động và sự hay biết
có tiếng động - hoàn toàn tách rời nhau ra. Tôi tiếp tục
suy cứu thêm như thế, cho đến khi sự thông hiểu của tôi
càng đi sâu thêm: "À! Đây là điều quan trọng. Khi cảm nhận
liên tục của hiện tượng bị cắt đứt, kết quả sẽ là
sự an định." Cái ảo giác trước kia về sự liên tục (santati)
nay trở thành sự an định của tâm (santi). Tôi tiếp
tục ngồi thiền, nỗ lực đi sâu vào mức thiền. Lúc bấy
giờ, tâm chỉ chú mục chiếu rọi vào hành thiền, thờ ơ
đối với mọi việc khác. Nếu tôi ngưng hành thiền tại
thời điểm này, thì đó chỉ là vì công phu ấy đã hoàn
tất. Nếu tôi ngưng nghỉ ngay lúc này, hẳn không phải vì
lười biếng, mệt mỏi, hay cảm thấy bực bội. Không phải
thế. Tất cả các phiền não đó đều vắng mặt trong tâm
tôi. Chỉ có sự quân bình hoàn toàn nơi nội tâm và tâm bình
thản - vừa đúng như thế.
Sau
rốt, tôi tạm nghỉ, nhưng chỉ có tư thế ngồi là thay đổi.
Tâm tôi vẫn chuyên nhất, không xao động và không mệt mỏi.
Tôi kéo chiếc gối nằm, định nghỉ ngơi một chút. Tôi vừa
nghiêng mình, tâm tôi vẫn giữ yên sự an định như tự nãy
giờ. Rồi đó, vừa trước khi đầu tôi chạm vào gối, thì
sự hay biết của tâm liền trôi chảy ngược vào bên trong.
Tôi không hiểu nó trôi chảy về đâu, nhưng nó cứ trôi chảy
càng lúc càng thâm sâu hơn. Cũng tựa như một dòng điện
đang chảy về cái nút bấm. Khi nó chạm vào nút bấm, toàn
thân tôi nổ bùng, vang lên một tiếng "Ầm!" Lúc ấy, sự
hay biết thật hết sức là sáng suốt và tế nhị. Khi giây
phút đó trải qua, tâm được thoát ra để đi vào càng sâu
hơn. Tâm cứ đi sâu vào, cho đến một điểm không còn có
gì nữa cả. Tuyệt đối không có sự việc gì từ thế giới
bên ngoài có thể tới nơi đây được. Không có gì có thể
đạt tới chỗ ấy được. Sau khi an trú bên trong một thời
gian, tâm được buông ra để trôi chảy ngược ra ngoài. Tuy
nhiên, khi tôi nói tâm ấy được buông ra, tôi không có ý
muốn nói rằng chính tôi đã khiến tâm ấy trôi ngược ra.
Tôi chỉ là một quan sát viên, chỉ hay biết và chứng kiến
mà thôi. Tâm từ từ trở ra ngoài, càng lúc càng nhiều hơn,
cho đến khi nó trở lại "bình thường".
Khi
tình trạng ý thức của tôi đã trở lại bình thường, thì
một câu hỏi khởi lên: "Cái gì vậy?" Câu trả lời đến
ngay: "Các sự việc đó, tự chúng đã xảy đến như thế.
Ông không cần phải tìm kiếm một sự giải thích nào." Câu
trả lời ấy cũng đủ làm tâm tôi thỏa mãn.
Sau
đó một thời gian ngắn, tâm tôi lại bắt đầu trôi chảy
vào bên trong. Tôi không có một cố gắng ý thức nào để
hướng dẫn tâm tôi cả. Tâm ấy, tự nó, khởi bước lên.
Tâm ấy càng lúc càng đi sâu vào bên trong, và lại chạm vào
cái nút bấm. Lần này thân thể tôi bị lay động đến tận
các bộ phận vi tế nhất. Lại lần nữa, tâm được buông
ra để đi sâu, thật sâu, vào bên trong nó. Một sự im lặng
hoàn toàn. Lần này lại còn thâm sâu hơn lần trước. Tuyệt
đối không có gì ở bên ngoài lọt vào đến đấy được.
Tâm trú tại đây một thời gian, lâu chừng nào cũng tùy theo
ý nó muốn, rồi sau đó nó trở lùi ra bên ngoài. Vào lúc
đó, tâm di chuyển, tự nó, theo tốc độ của chính nó. Tôi
không hề ảnh hưởng đến nó, để hướng dẫn nó phải
theo bất cứ hướng nào, để trôi vào trong hay hướng ra bên
ngoài cả. Tôi chỉ giản dị là người đang quan sát và hay
biết mà thôi.
Lại
một lần nữa, tâm tôi trở lại tình trạng ý thức bình
thường và tôi không hề lấy làm lạ hoặc ức đoán điều
gì cả. Tôi càng tiếp tục quán chiếu thì tâm tôi lại một
lần nữa đi sâu vào bên trong. Lần này, toàn thể vũ trụ
bị chấn động và tan rả ra từng mảnh vụn thật nhỏ. Mặt
đất, núi non, đồng ruộng, rừng rú - toàn thể thế giới
- tan rã vào nguyên tố không gian. Dân chúng đã biến mất.
Tất cả đều mất dạng. Lần thứ ba này, tuyệt đối không
có gì còn sót lại cả.
Tâm,
đang nghiêng sâu vào bên trong, an trú lại đó, lâu chừng nào
tùy ý nó muốn. Tôi không thể nói là tôi đã hiểu rõ ràng
làm cách nào mà nó trụ được lại tại đó. Thật là khó
mô tả lại những gì đã xảy ra. Không có gì có thể dùng
để so sánh được. Mọi thí dụ đều không thích nghi. Lần
này, tâm lưu lại bên trong càng lâu hơn những lần trước;
và chỉ sau một thời gian dài nó mới ra khỏi tình trạng
đó. Khi tôi nói nó ra khỏi, tôi không hề có ý muốn nói
rằng tôi đã khiến tâm ra khỏi, hoặc là tôi đã kiểm soát
được những gì đang xảy ra. Tâm tự nó đã hành động như
thế. Tôi chỉ giản dị là một quan sát viên. Sau cùng, tâm
cũng trở lại tình trạng bình thường. Bạn có cách nào để
đặt tên cho những gì đã xảy ra trong ba lần đó chăng? Ai
biết được! Dùng danh từ nào để gắn một nhãn hiệu lên
đó?
*
5.
Quyền năng của Định lực
Tất
cả những gì mà tôi vừa kể lại, có liên quan đến tâm
đang theo đúng con đường tự nhiên của nó. Đó không phải
là một sự mô tả lý thuyết về tâm hoặc các trạng thái
tâm. Bạn không cần phải mô tả dài dòng. Khi có đủ niềm
tin hoặc tự tín, bạn sẽ đi đến đấy, và sẽ thực sự
làm được như thế. Đây không phải chuyện đùa, mà là chuyện
sống chết. Khi sự tu tập của bạn đã đến giai đoạn tôi
vừa nêu ra, thì sau đó toàn thể cả thế giới đều đảo
lộn ngược lại hết. Sự hiểu biết của bạn về thực
tại sẽ hoàn toàn khác hẳn trước. Các quan kiến của bạn
thay đổi hẳn. Nếu có ai thấy bạn vào lúc đó, họ có thể
tưởng là bạn đã mất trí. Nếu kinh nghiệm này xảy ra cho
người nào chưa nắm vững sự hiểu biết về chính mình,
thì người ấy có thể trở thành điên loạn, vì chưa từng
trải qua một tình huống tương tự như thế. Nhìn những người
chung quanh, bạn thấy họ có vẻ khác hơn lúc trước. Nhưng
bạn không phải là người duy nhất nhận thấy được điều
này. Tuyệt đối, mọi sự việc đều thay đổi. Tư tưởng
bạn cũng biến thái: bạn nay nghĩ theo một đường này, kẻ
khác lại nghĩ theo một nẻo nọ. Họ bảo sự việc theo cách
này, còn bạn thì nói theo cách kia. Họ bước xuống bậc thềm
này, bạn leo lên nấc thang khác. Bạn không còn giống những
người khác. Cách thể nghiệm muôn việc như thế chẳng những
không suy giảm mà cứ tiếp tục mãi. Hãy thử một lần xem
sao. Nếu mọi việc xảy ra đúng như tôi đã mô tả, thì bạn
không cần phải đi tìm kiếm ở đâu cho xa. Bạn chỉ cần
quay nhìn vào chính tâm của bạn. Tâm này trung thành, can đảm,
dũng mãnh và không hề lay chuyển. Đây là quyền năng của
tâm, là nguồn năng luợng và sức mạnh. Tâm có tiềm năng
dũng mãnh, đó là quyền năng và sức mạnh của Định (Samādhi).
Tại
điểm này, tâm đã rút ra được năng lực và sự thanh tịnh
từ định lực. Định lực ở mức độ này là định lực
ở bậc tối hậu. Tâm đạt đến đỉnh cao nhất của định
lực; đó không phải mức định nhất thời (sát-na định).
Nếu bạn muốn chuyển sang qua thiền minh quán (vipassana)
từ nơi điểm này, sự quán chiếu sẽ không bị gián đoạn
và đem lại nhiều minh triết. Hoặc bạn dùng năng lực được
tập trung đó vào công việc khác, như thi triển thần thông,
thực hiện các kỳ công mầu nhiệm, hay bất cứ việc gì
mà bạn muốn. Các tu sĩ khổ hạnh và các ẩn sĩ dùng năng
lượng của định lực để tạo ra nước thánh, hay bùa, chú.
Các việc đó đều có thể thực hành được ở giai đoạn
này, và cũng đem lại chút lợi lạc theo ý nghĩa riêng; nhưng
lợi lạc đó cũng giống như ảnh hưởng của rượu: bạn
uống vào, rồi bạn sẽ say.
Giai
tầng này của định lực là một chỗ dừng nghỉ. Đức Phật
cũng ngừng lại và nghỉ ngơi tại đây. Định lực đó là
cơ sở căn bản của suy niệm và minh quán.Tuy nhiên, cũng chưa
cần thiết phải đạt tới mức định lực thâm sâu này để
quan sát các tình trạng ở quanh ta; vậy ta nên tiếp tục quán
chiếu miên mật về tiến trình nhân duyên và hậu quả. Để
làm công việc đó, ta dùng tâm thanh tịnh và an định để
phân tích các hình sắc, âm thanh, hương, vị, cảm xúc thể
chất, tư tưởng và các trạng thái tâm - vui, buồn, tiêu cực,
tích cực - mà chính ta đang thể nghiệm. Quan sát mọi sự
vật. Đó cũng tựa như có kẻ nào đang trèo lên cây xoài,
rung mạnh các nhánh cây, còn ta thì đang đứng dưới gốc,
chờ trái rụng xuống mà nhặt.Trái nào úng thối thì ta bỏ
đi. Chỉ nhặt các trái xoài chín ngon thôi. Cũng không cực
nhọc gì, bởi vì ta không cần trèo lên cây, mà chỉ đơn
giản đứng dưới đất chờ nhặt trái.
Bạn
hiểu được ý nghĩa của thí dụ trên đây không? Mọi sự
vật nào được thể nghiệm với một tâm an định sẽ đem
lại một sự hiểu biết sâu rộng. Ta không cần hý luận
giải thích dài dòng về những gì đang được thể nghiệm.
Sự giàu có, danh vọng, chê trách, khen ngợi, hạnh phúc và
khổ sở, tự chúng, chúng sẽ đến. Nhưng chúng ta thì an nhiên.
Chúng ta có trí tuệ. Kể cũng vui đó chứ! Vui vì cứ ngồi
sàng sẩy rồi lựa chọn mỗi thứ riêng ra. Những gì mà kẻ
khác gọi là tốt, xấu, thiện, ác, tại đây, ở kia, hạnh
phúc, khổ sở, hoặc gì gì nữa - tất cả được đưa vào
để làm lợi ích cho ta. Người phải trèo lên cây xoài và
rung mạnh cành lá để trái xoài rụng xuống. Còn ta, ta cứ
an nhiên đứng dưới đất, thích thú nhặt trái, mà không
phải sợ hãi gì. Có gì mà phải sợ chứ? Kẻ khác đã rung
cây để trái rơi rụng xuống đất cho ta. Giàu có, danh vọng,
ngợi khen, chỉ trích, hạnh phúc, khổ sở, và tất cả những
thứ còn lại, chẳng qua là những trái xoài chín đang rơi
xuống, và ta thẩm định chúng với một tâm tư thanh thản.
Rồi ta sẽ biết được trái nào ngon và trái nào úng thối.
*
6.
Tu tập một cách tự nhiên
Khi
chúng ta bắt đầu dùng tâm an định và thanh thản đã phát
triển được trong khi hành thiền để quán soi vạn pháp, trí
tuệ liền khởi sinh. Đó là điều mà tôi gọi là Trí tuệ.
Đó cũng là Minh quán (Vipassanā). Đó không phải là những
gì được tạo lập, hoặc được phân giải. Nếu ta có trí
tuệ, sự minh quán sẽ tự nhiên phát triển. Ta không cần
phải định danh cho những gì đang xảy ra. Nếu chỉ có chút
trí tuệ sáng tỏ, ta gọi đó là "minh quán nhỏ". Khi thấy
được rõ ràng hơn một ít, ta gọi đó là "minh quán trung
bình". Còn nếu sự hiểu biết hoàn toàn phù hợp Chân Lý,
thì ta gọi đó là "minh quán tối hậu". Riêng cá nhân tôi,
tôi lại thích dùng danh từ Trí Tuệ (Paññā, Bát-nhã)
hơn là danh từ Minh Quán (Vipassanā). Nếu nghĩ rằng
thỉnh thoảng ta phải ngồi xuống và thực tập Thiền Minh
quán, thì ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Trí tuệ phải phát xuất
từ sự an định và yên tịnh. Toàn bộ tiến trình đó, tự
nó, diễn ra một cách tự nhiên. Ta không thể thúc dục nó
được.
Đức
Phật có dạy rằng tiến trình đó trưởng thành theo tốc
độ của nó. Đạt tới mức độ thực tập này rồi, ta cứ
để nó phát triển phù hợp theo các khả năng nội tại của
ta, các năng khiếu tinh thần và các công đức mà ta tích lũy
được trong thời gian qua. Nhưng ta không bao giờ ngừng nghỉ
nỗ lực trong việc thực tập. Còn sự tiến bộ có nhanh hay
chậm, điều đó ngoài vòng kiểm soát của ta. Cũng như việc
trồng cây. Cây tự biết nó phải lớn nhanh như thế nào.
Nếu ta muốn làm cho nó lớn nhanh hơn lên, thì đó chỉ là
một ảo vọng. Còn nếu ta muốn nó lớn chậm lại, điều
ấy cũng là ảo vọng. Nếu ta thật sự tu tập, kết quả
sẽ xảy đến - giống như trồng cây. Thí dụ như ta muốn
trồng một bụi ớt. Trách nhiệm của ta là phải đào một
lỗ, trồng cây ớt con, tưới nước, bón phân và chăm sóc.
Đó là công việc của ta, chỉ có bấy nhiêu thôi. Rồi chúng
ta hãy vững niềm tin. Cây ớt có lớn lên hay không, là tùy
nơi nó. Đó không phải là công việc của ta. Ta không thể
nào kéo cho nó dài thêm lên và làm cho nó lớn nhanh được.
Thể thức hành động của thiên nhiên là như thế đó. Trách
nhiệm của ta là tưới nước và bón phân cho cây. Thực tập
Chánh Pháp theo đường hướng như thế sẽ làm cho tâm ta được
thoải mái.
Nếu
ta được giác ngộ ngay trong đời này, điều đó rất tốt.
Nếu ta còn phải chờ đến kiếp sau, cũng không hề chi. Ta
có niềm tin vững chắc nơi Chánh Pháp. Ta tiến bộ mau hay
chậm là tùy thuộc vào các khả năng nội tại của ta, năng
khiếu tinh thần và công đức mà ta đã tích tụ được cho
đến nay. Thực tập như thế làm cho tâm ta thoải mái. Cũng
như ta dùng chiếc xe ngựa. Ta không đặt chiếc xe trước con
ngựa. Hoặc là, tựa như cày ruộng mà lại bước đi trước
con trâu. Điều tôi muốn nói ở đây là tâm hay vượt đi
qua trước nó. Nó nôn nóng muốn có kết quả nhanh. Đó không
phải là đường lối phải để tu hành. Đừng bước đi trước
mặt con trâu. Bạn phải bước theo sau con trâu.
Cũng
tựa như cây ớt mà ta chăm sóc. Tưới nước và bón phân
cho nó, rồi cây ớt sẽ làm công việc của nó là hút lấy
các chất bổ dưỡng. Khi có sâu rầy đến cắn phá, ta đuổi
chúng đi. Chỉ cần làm như thế cũng đủ khiến cho cây ớt
tự nó lớn lên tốt đẹp, và khi nó lớn lên tốt đẹp như
thế, cũng đừng thúc hối nó sớm trổ hoa khi ta nghĩ là nó
phải trổ ra hoa. Đó không phải là việc của ta, điều đó
chỉ gây ra nhiều phiền não vô ích. Hãy để cho tự nó trổ
hoa. Và khi bông hoa đua nở, cũng đừng đòi hỏi phải có
trái ngay. Đừng ép buộc. Điều đó chỉ tạo thêm phiền
não! Một khi đã thấy rõ điều đó rồi thì ta sẽ biết
đâu là trách nhiệm của ta, đâu không phải là nhiệm vụ
của mình. Ai có phận sự nấy để hoàn tất. Tâm biết nhiệm
vụ của nó trong các công tác cần phải thi hành. Nếu tâm
không hiểu rõ nhiệm vụ của nó, nó sẽ cố thúc dục cây
ớt có trái ngay khi vừa được trồng xuống đất. Tâm sẽ
đòi hỏi cây ớt phải lớn lên, đơm hoa, kết trái ngay trong
một ngày.
Đây
cũng chỉ là Chân Lý Cao Sang thứ hai: lòng khát vọng là nguyên
nhân để khổ sở, phiền não sinh khởi. Nếu ta biết được
Chân lý đó và suy ngẫm nó, ta sẽ thông hiểu rằng, cố mà
thúc dục cho mau có kết quả trong việc thực tập Chánh Pháp
cũng chỉ là một ảo vọng mà thôi. Thật là sai lầm. Biết
sự việc tiến hành theo cách đó, ta buông bỏ và để cho
sự việc cứ trưởng thành phù hợp với khả năng nội tại
của ta, năng khiếu tinh thần và công đức mà ta tích lũy
được. Ta vẫn tiếp tục làm phần nhiệm vụ của ta. Đừng
lo lắng rằng sẽ mất nhiều thì giờ. Ngay cả phải mất
trăm, ngàn kiếp để được giác ngộ, thì có sao đâu?! Cho
dù có phải trải qua nhiều kiếp sống, ta chỉ cần tiếp
tục tu tập với tâm thoải mái, thư thả với nhịp độ bước
đi của mình. Một khi tâm ta đã vào dòng Thánh giải thoát,
không còn gì phải sợ hãi nữa. Tâm đó vượt qua mọi hành
vi xấu ác, dù vi tế. Đức Phật nói rằng tâm của vị Dự
Lưu (Sotāpanna, Tu-đà-hoàn), bậc đã đạt đến giai
đoạn thứ nhất của sự giác ngộ, là đã nhập vào dòng
Chánh Pháp xuôi chảy đến Niết-bàn. Các vị này không bao
giờ bị sa vào các đọa xứ, hay rơi xuống địa ngục nữa.
Làm sao các vị ấy lại rơi vào địa ngục được, khi tâm
đã buông bỏ các điều xấu ác? Các vị ấy đã nhìn thấy
rõ sự nguy hiểm của việc tạo nghiệp xấu. Ngay cả khi bạn
cố gắng buộc các vị ấy làm điều gì bất thiện, các
vị ấy cũng không thể nào làm như thế được, cho nên không
còn cơ hội để rơi xuống địa ngục hay sa vào các cảnh
giới thấp hèn nữa. Tâm của các vị ấy trôi chảy theo dòng
nước Chánh Pháp.
Một
khi bạn đã nhập vào dòng rồi, bạn sẽ biết thế nào là
trách vụ của bạn. Bạn hiểu rõ các công việc sắp đến
còn phải làm. Bạn biết cách tu tập theo Chánh Pháp. Bạn
biết lúc nào phải nỗ lực, và lúc nào nên thư giãn. Bạn
rõ biết thân và tâm của bạn, tiến trình vật lý và tâm
lý này, và bạn từ khước những gì phải từ khước, luôn
luôn xả bỏ mà không còn do dự hay nghi ngờ gì cả.
*
7.
Thay đổi cách nhìn
Trong
cuộc đời tu hành, tôi không chủ ý luyện tập thuần thục
nhiều đề mục. Chỉ cần một đề mục thôi. Tôi thanh lọc
tâm này. Ví như ta đang nhìn thân thể của người nào đó.
Nếu thấy bị thân ấy lôi cuốn, ta tức thời phân tích nó.
Hãy nhìn thật kỹ: tóc, lông, móng, răng, da (kesa, loma, naka,
danta, taco) - đây cũng là đề mục thiền quán cho các vị
tu sĩ mới thọ giới. Đức Phật dạy chúng ta nên quán chiếu
nhiều lần và thật tường tận các bộ phận đó của thân
thể. Nhìn chúng riêng rẻ, tách rời chúng ra, lột hết lớp
da và đốt chúng cháy hết. Đó là cách cần phải làm. Kiên
trì quán chiếu mãi như thế, cho đến khi nào mức thiền quán
được an lập và không bị lay chuyển. Hãy nhìn bất cứ ai,
cũng bằng phương cách ấy. Thí dụ như, vào mỗi buổi sáng
khi chư tăng vào làng khất thực, bất cứ ai mà họ trông
thấy - dù đó là một vị tăng khác hay một người dân làng
- các vị tỳ khưu cũng thấy người ấy như là một tử thi
biết đi, đang lê lết trên khoảng đường trước mặt họ.
Luôn luôn chú tâm vào tri giác đó. Đó là cách cần phải
nỗ lực; nó giúp cho tâm được phát triển chín chắn. Khi
gặp một người phụ nữ mà bạn thấy thật hấp dẫn, hãy
tưởng tượng đó là một thây ma biết đi, thân thể nàng
tanh tưởi và nặc mùi thối rữa. Hãy nhìn thấy mọi người
như thế. Và đừng để họ đến gần bạn quá! Đừng để
sự say đắm dai dẳng trong tâm bạn. Nếu bạn cảm nhận kẻ
khác như tanh tưởi và thối rữa, tôi có thể quả quyết
với bạn rằng sự say đắm không dằng dai được lâu. Hãy
quán chiếu cho đến khi nào bạn đã chắc chắn về những
gì bạn nhìn thấy, cho đến khi bạn đã thuần thục. Dù bạn
lang thang theo con đường nào, bạn cũng không lạc lối. Hãy
đặt tâm trọn vẹn vào việc hành thiền đó. Mỗi khi bạn
nhìn đến ai, đó không khác chi là nhìn vào một tử thi. Dù
là đàn ông hay đàn bà, hãy cứ nhìn người ấy như một
thân đã chết. Và cũng chớ quên là bạn nhìn chính bạn cũng
là một tử thi. Cuối cùng đó là tất cả những gì còn lại.
Hãy cố gắng tập cách nhìn như thế đó cho thật tỉ mỉ.
Hãy tập luyện phương cách đó cho đến khi nào nó trở nên
một phần của tâm trí bạn. Tôi cam đoan là bạn sẽ có nhiều
thích thú - nếu bạn thực sự tập luyện như thế. Nhưng
nếu bạn cứ bận rộn tìm đọc trong sách, bạn sẽ gặp
nhiều khó khăn với nó. Bạn cần phải thực tập nó. Và
phải tập luyện với tất cả tấm lòng chân thành. Tập mãi
cho đến khi nào công phu thiền quán đó trở thành một phần
của đời bạn. Hãy lấy sự nhận thức Chân lý làm mục
tiêu của bạn. Khi ước nguyện muốn vượt thoát khỏi khổ
não là lý do khích tấn bạn tu tập, thì bạn sẽ đi đúng
đường lối.
Vào
thời buổi này, có rất nhiều người giảng dạy Minh quán
(Vipassanā) và cả một danh sách dài gồm đủ các loại
kỹ thuật thiền quán. Tôi muốn nói điều này: thực tập
Minh quán không phải là chuyện dễ. Chúng ta không thể nhảy
thẳng ngay vào trong đó. Không thể thực tập Minh quán thành
công được, nếu ta không bắt đầu từ một tiêu chuẩn cao
về giới hạnh. Bạn hãy tự nhận định điều đó. Kỹ luật
đạo đức và các học giới rất cần thiết, bởi vì nếu
tâm ý, hành động và lời nói không trong sạch, thì ta không
bao giờ đủ sức đứng vững một mình. Hành thiền mà không
có giới đức thì cũng như bỏ qua một đoạn quan trọng của
con Đường. Cùng thế ấy, đôi khi bạn nghe nói, "Chúng ta
không cần phát triển sự an tịnh; hãy bỏ qua giai đoạn đó
và đi thẳng vào hành thiền Minh quán." Những người cẩu
thả ham đi đường tắt thường nói như thế. Họ bảo, chẳng
cần bận tâm với giới hạnh. Thọ trì và thanh tịnh hóa
giới hạnh là cả một thử thách, không phải chuyện đùa
giỡn. Nếu ta có thể bỏ qua được tất cả các lời dạy
về giới hạnh, mọi việc rồi ra sẽ dễ dàng lắm, phải
không? Bất cứ lúc nào gặp khó khăn, giản dị là ta cứ
tránh né bằng cách bỏ qua nó đi. Dĩ nhiên, ai ai cũng thích
bỏ qua các điều khó.
Một
dạo nọ, một vị tỳ khưu có nói với tôi rằng ông ấy
là một thiền giả chân chánh. Ông xin phép lưu trú ở đây
với tôi, và hỏi thăm thời khóa cùng các tiêu chuẩn về
kỷ luật tu viện. Tôi giải thích cho ông biết, ở tu viện
này, chúng tôi tuân theo Giới Luật (Vinaya) của Đức
Phật đặt ra, và nếu ông muốn ở lại thì phải từ bỏ
tất cả tiền bạc và vật dụng tiếp tế riêng của ông.
Ông ta bảo tôi rằng sự tu tập của ông là "không chấp thủ
vào mọi qui ước". Tôi đáp rằng, tôi vẫn chưa hiểu ông
ấy muốn nói gì. Ông ta hỏi lại: "Có thể nào tôi được
ở đây và vẫn giữ tiền bạc riêng của tôi, vì tôi không
bao giờ dính mắc vào đó? Tiền bạc cũng chỉ là một qui
ước." Tôi trả lời: "Vâng, không thành vấn đề! Nếu ông
có thể ăn muối mà không thấy mặn, thì ông có thể dùng
tiền bạc mà không chấp thủ vào đó." Ông ta chỉ ăn nói
lăng nhăng! Thật ra, ông ta quá dể duôi và không biết tuân
theo các chi tiết trong Giới luật (Vinaya). Này bạn, đó
không phải là chuyện dễ. "Khi ông có thể ăn muối và thành
thật bảo với tôi rằng ông không thấy mặn, thì tôi sẽ
tin lời ông. Nhưng nếu ông bảo ông không thấy mặn, tôi
sẽ đưa ngay cho ông một bao muối để ăn. Cứ ăn thử đi.
Thật tình ông không thấy mặn sao? Không chấp thủ vào các
qui ước, đó chỉ là một lời xảo ngôn. Nếu ông cứ tiếp
tục nói như thế, thì ông không thể ở đây với tôi được."
Rồi ông ta bỏ đi nơi khác.
Chúng
ta cần phải giữ giới luật và tu tập giới đức. Tu sĩ
phải hành trì hạnh Đầu đà (Dhutanga) và cư sĩ tại
gia phải giữ cho tròn Năm Giới. Bạn hãy vươn lên tới mức
không thể chê trách được trong lời nói và việc làm. Ta
phải ráng tận sức mình để vun trồng thiện căn và tiếp
tục làm mãi như thế.
Khi
bắt đầu vun trồng sự an tịnh của thiền An chỉ (samatha),
đừng để vướng vào lỗi lầm là tập một vài lần rồi
bỏ cuộc, bởi vì tâm vẫn chưa được an định. Như thế
là không đúng với đường lối tu tập. Bạn phải tu tập
hành thiền qua một thời gian dài. Tại sao lại phải tập
lâu như thế? Bạn hãy nghĩ lại cho kỹ. Đã bao nhiêu năm
rồi bạn đã để cho tâm đi lang thang? Đã bao nhiêu năm rồi
bạn chưa biết tập hành thiền An chỉ? Mỗi khi tâm ra lệnh
cho ta đi theo nó vào một ngõ nào đặc biệt, tức thời ta
vội nghe theo ngay. Một vài tháng hành thiền không thể đủ
để làm cho tâm lang thang ấy lắng dịu lại, để nó ngừng
lại, để nó đứng yên. Hãy suy xét điều đó.
Khi
quyết tâm tập luyện cho tâm an định trước mọi tình huống,
xin bạn hãy hiểu cho rằng, vào buổi đầu, khi cảm xúc phiền
não xảy đến, thì tâm không thể nào an định được. Tâm
sẽ bị xao lãng và vượt ngoài sự kiểm soát. Tại sao? Bởi
vì có sự khát vọng, mong cầu. Ta không muốn tâm ta phải
suy nghĩ. Ta không muốn thể nghiệm bất cứ tình cảm rối
rắm nào. "Không mong muốn" là một khát vọng, khát vọng đòi
hỏi sự bất hiện hữu. Ta càng khát vọng không muốn thể
nghiệm sự việc gì, thì ta lại càng mời sự việc đó đến
nhanh với ta. "Tôi không muốn các sự việc đó, cớ sao chúng
lại cứ tìm đến với tôi mãi? Tôi không muốn chuyện đó
xảy ra như thế này, sao nó lại đến như vậy?" Cứ như thế
đấy. Ta khát vọng muốn sự việc được hiện hữu theo một
cách riêng, bởi vì ta không hiểu được chính tâm ta. Phải
mất một giời gian rất lâu trước khi ta nhận thức được
rằng, cứ đeo đuổi với sự việc như thế là sai lầm. Sau
cùng, khi ta xét kỹ lại, ta mới thấy rằng, "Sự việc đó
đến đây được, chỉ vì ta đã mời nó đến."
Khát
vọng không muốn thể nghiệm sự việc gì, khát vọng muốn
được an tịnh, khát vọng muốn không bị quấy rầy hay xao
động - tất cả đều là khát vọng. Đấy là một hòn sắt
nung nóng đỏ hực. Nhưng cũng không sao. Chỉ cần quay về
tiếp tục tu tập. Mỗi khi ta thể nghiệm một khí sắc hay
là một tình cảm, ta hãy quan sát chúng, dựa theo các đặc
tính vô thường, bất toại nguyện và vô ngã, và xếp chúng
vào một trong ba đặc tính đó. Rồi ngẫm nghĩ và thẩm sát:
các tình cảm phiền não đó hầu hết đều có sự tư duy
quá độ đi kèm theo. Tư duy lẽo đẽo theo sau cảm tính. Tư
duy và trí tuệ là hai sự kiện khác nhau. Tư duy chỉ giản
dị là phản ứng đối với cảm tính và rồi cứ theo sau
nó mãi, không thấy ngừng lại ở đâu. Còn nếu trí tuệ
đang khởi động, thì nó sẽ khiến tâm dừng lại, ở yên
đấy. Tâm dừng lại và không đi đâu nữa. Giản dị chỉ
có sự hay biết và ghi nhận những gì đang được thể nghiệm:
khi tình cảm này đến, tâm như thế này; khi cảm tính kia
đến, tâm như thế nọ. Ta nuôi dưỡng sự nhận biết đó.
Sau
cùng, ta nhận thấy rõ: "À! Tất cả sự tư duy đó, cái tên
ưa bàn chuyện phiếm đó, cái kẻ hay lo lắng và phán đoán
đó - đều là sự vô nghĩa, không có thực chất gì cả. Nó
là vô thường, bất toại nguyện và không phải là Ta, mà
cũng không phải Của Ta." Hãy xếp nó vào một trong ba loại
đặc tính phổ quát đó, và dập tắt ngay sự khởi dậy.
Bạn cắt đứt được ngay tại nguồn gốc. Sau này, khi ta
ngồi xuống để hành thiền, nó lại trồi lên nữa. Hãy cẩn
thận canh chừng nó. Hãy dò dẫm, rình mò nó.
Hãy
lấy thí dụ việc nuôi trâu.Trâu ưa ăn mạ non, phải không?
Tâm bạn cũng như con trâu. Các tình cảm phiền não được
ví với mạ non. Sự hay biết là người nông phu. Thực tập
Chánh Pháp cũng giống như thế đó. Không khác chi cả. Bạn
hãy tự mình so sánh lấy. Khi nuôi trâu, bạn sẽ phải làm
gì? Bạn thả nó ra, để nó đi tự do, nhưng bạn để mắt
canh chừng nó. Nếu nó mon men đến gần cánh đồng có mạ
non, bạn hét to lên. Khi trâu nghe, nó sẽ lùi lại, đi chỗ
khác. Nhưng nếu trâu của bạn thuộc loại cứng đầu, không
thèm để ý đến lời la hét cảnh cáo, thì bạn phải cầm
roi quất vào lưng nó một cái đét. Thế là nó không còn dám
đến gần đồng mạ non. Nhưng bạn đừng lơ đểnh, ngủ
trưa. Nếu bạn ngã lưng và đánh một giấc, mạ non trên cánh
đồng sẽ đi vào lịch sử! Thực tập theo Chánh Pháp thì
cũng như thế: bạn canh chừng tâm của bạn; sự hay biết
sẽ chăm sóc tâm bạn.
"Những
ai cẩn thận canh chừng tâm sẽ được thoát khỏi cạm bẫy
của Ma vương (Mara)." Tuy nhiên, cái tâm hay biết đó
cũng là tâm, vậy thì ai đã theo dõi và quan sát tâm? Ý kiến
này có thể làm bạn rối rắm vô cùng. Tâm là một sự việc,
sự hay biết lại là một sự việc khác; và tuy vậy sự hay
biết đó lại bắt nguồn tại chính nơi tâm ấy. Biết được
tâm có nghĩa là gì? Khi chạm trán với tình cảm, khí sắc,
thì ra sao? Khi các tình cảm phiền não vắng bặt, thì như
thế nào? Cái gì biết được các sự kiện trên xảy ra như
thế nào, cái đó được gọi là "sự hay biết". Sự hay biết
rất bén nhạy theo sát tâm, và chính từ nơi sự hay biết
đó mà trí tuệ khởi sinh ra. Tâm là cái gì đã suy nghĩ, tư
duy và vướng víu vào các tình cảm, hết tình cảm này đến
tình cảm khác - giống in hệt như con trâu của ta. Hễ nó
lang thang đi đâu, hãy có mắt canh chừng nó. Làm sao mà nó
vọt đi khỏi? Nếu nó bén mảng đến gần ruộng mạ non,
hãy hét to lên. Nếu nó chẳng chịu nghe, cầm roi đánh nó.
"Đét!" Đó là cách mà bạn đánh bại được sự khát
vọng.
Tập
luyện tâm cũng không khác chi mấy. Khi tâm thể nghiệm một
cảm tính và tức khắc bám vào đó, đó là lúc mà sự hay
biết có công việc phải dạy tâm. Hãy quán sát cảm tính
đó, xem nó tốt hay xấu. Giải thích cho tâm biết nguyên nhân
và hậu quả diễn ra như thế nào. Và khi tâm ấy lại bám
vào một sự kiện khác mà nó cho rằng đáng quí mến, sự
hay biết lại cũng phải dạy tâm nữa, giải thích cho tâm
biết nguyên nhân và hậu quả ra sao, mãi cho đến khi nào tâm
đủ sức vứt bỏ sự kiện ấy xuống. Điều này đưa đến
sự an tịnh cho tâm. Sau khi đã nhận thấy ra tâm đang bám
níu vào sự việc gì đó, và sự bám níu vốn, tự bản chất,
là một điều bất hảo, bấy giờ tự nhiên và giản dị,
tâm dừng lại. Nó không còn bị các sự việc đó quấy rối
nữa, bởi vì nó luôn luôn bị ngăn chặn bởi một hàng rào
quở mắng và khiển trách. Hãy chặn đứng sự khát vọng
của tâm với quyết chí mãnh liệt. Hãy thách thức sự khát
vọng đến tận cốt lõi, cho đến khi nào lời giáo huấn
đã thấm nhập vào tâm. Đó là cách mà bạn huấn luyện tâm.
Khi
tôi vào rừng để ẩn cư, thực tập hành thiền, tôi đã
tập luyện như thế. Khi đào tạo các đệ tử, tôi cũng dạy
họ tập luyện như thế. Bởi vì tôi muốn chính họ nhìn
thấy Chân Lý, hơn là đọc những gì đã viết trong kinh điển.
Tôi muốn họ thấy rõ tâm của họ được giải thoát khỏi
sự tư duy theo khái niệm. Khi sự giải thoát xảy ra, thì bạn
biết; và khi nó chưa xảy ra, thì bạn hãy quán soi tiến trình
theo đó sự vật này làm nguyên nhân và tạo ra sự vật khác.
Quán chiếu cho đến khi nào bạn biết và hiểu điều đó
thật tận tường. Một khi được ta thấm nhập sâu vào nó
với sự minh triết, thì tự nó, nó rã rời ra. Khi một sự
việc gì đến ngăn trở bạn và bám chặt lấy, bạn hãy thẩm
cứu ngay. Đừng bỏ dở, cứ tiếp tục thẩm cứu cho đến
khi nào nó nới lỏng và buông lơi sự bấu níu ra. Hãy thẩm
cứu thật nhiều lần, ngay tại đây. Đó là cách mà chính
tôi đã áp dụng trong việc tập luyện, bởi vì Đức Phật
có dạy rằng, chính tự ta, ta phải biết lấy. Và tất cả
các bậc hiền trí, cũng vậy, tự chính họ, họ biết đến
Chân Lý. Bạn cần phải khám phá ra điều đó ngay tại nơi
sâu thẩm nhất trong chính tâm của bạn. Bạn phải biết lấy
chính bạn.
Nếu
bạn tin chắc vào những gì bạn biết và có lòng tự tín,
bạn sẽ cảm thấy thư giãn khi có người chỉ trích hay khen
ngợi bạn. Dầu ai có nói gì đi nữa, bạn cũng vẫn thoải
mái. Tại sao? Bởi vì bạn tự biết mình. Nếu ai có lời
ca tụng tâng bốc bạn, mà bạn biết mình chưa xứng đáng,
thì bạn có vội tin theo không? Dĩ nhiên là không. Bạn chỉ
lo tiếp tục tu tập theo Chánh Pháp. Khi kẻ nào còn chưa tin
chắc vào những gì họ đang biết, lại được kẻ khác khen
tặng, thì họ bị dính mắc vào đó, khiến cho tri giác của
họ trở nên méo mó. Cùng thế ấy, khi có ai chỉ trích bạn,
bạn hãy nhìn kỹ và quan sát chính bạn. "Không, những gì
họ nói còn chưa đúng sự thật. Họ buộc tội ta là đã
sai lầm, nhưng thật sự ta không có điều gì quấy. Sự phê
phán của họ không có giá trị gì." Nếu trường hợp đó
đúng, thì cần gì phải giận họ? Lời họ không đúng sự
thật. Tuy nhiên, nếu ta có lỗi giống như lời họ buộc tội,
thì sự kết án ấy đúng đắn. Nếu thật như vậy, thì sao
lại giận họ? Nếu bạn đủ sức để suy nghĩ như thế,
thì cuộc đời sẽ được thoải mái, không còn chút nào phiền
muộn. Rồi thì mọi việc sẽ êm thắm. Rồi thì tất cả
sẽ là Chánh Pháp. Đó là cách mà tôi đã tu tập.
*
8.
Đi theo Trung đạo
Đây
là con đường thẳng và ngắn nhất. Bạn có thể đến đây
và tranh luận với tôi về các điểm trong Chánh Pháp, nhưng
tôi không tham gia đâu. Thay vì cãi lại, tôi chỉ tặng bạn
vài tư tưởng để bạn suy xét. Xin bạn hãy thông hiểu lời
Đức Phật dạy: nên buông bỏ tất cả. Buông bỏ trong sự
hay biết và tỉnh giác. Nếu không có giác niệm, thì việc
buông bỏ đó cũng như việc buông bỏ không ý thức của loại
trâu bò. Nếu bạn không đặt hết tâm trí vào đó, việc
buông bỏ vẫn chưa đúng đắn. Bạn buông bỏ vì bạn hiểu
biết được thực tại qui ước. Đó là sự không chấp thủ.
Đức Phật đã dạy, ngay tại các giai đoạn đầu của sự
tu tập theo Chánh Pháp, cần phải nỗ lực thật mạnh mẽ,
phát triển sự việc thật tường tận, và trì giữ cho thật
nhiều. Trì giữ vào Đức Phật. Trì giữ vào Chánh Pháp. Trì
giữ vào Tăng Đoàn. Trì giữ thật sâu xa và vững chắc. Đó
là lời Đức Phật dạy. Trì giữ với lòng chân thành, khắng
khít và nắm giữ cho thật chặt chẽ.
Trong
sự tìm kiếm của chính tôi, tôi đã thử qua hầu hết mọi
phương cách của pháp hành thiền. Tôi hy sinh đời tôi cho
Chánh Pháp, bởi vì tôi đặt trọn niềm tin vào sự giác ngộ
là việc có thật, cùng con Đường tiến đến đó. Các sự
việc này chắc chắn có thật, đúng như lời Đức Phật nói.
Nhưng thực hiện được các sự việc đó, thì cần phải
thực tập, và thực tập cho đúng cách. Nó đòi hỏi bạn
phải thúc đẩy mình đến tận bờ ranh của năng lực. Nó
đòi hỏi lòng can đảm để tu luyện, để tư duy, và để
chuyển hóa tận căn gốc. Nó đòi hỏi sự can đảm để thật
sự làm những gì cần phải làm. Và bạn phải làm như thế
nào? Luyện tâm mình. Tư tưởng trong đầu ta xúi ta theo nẻo
này, trong khi Đức Phật dạy ta theo ngõ khác. Tại sao cần
phải tập luyện? Bởi vì phiền não đã đóng cứng và che
phủ tâm. Đó là tình trạng của tâm chưa chuyển hóa qua tu
tập. Tâm ấy không đáng cho ta nương tựa, vậy bạn đừng
tin tưởng vào nó. Nó không có đức hạnh gì. Làm sao ta có
thể đặt tín nhiệm vào một cái tâm không thanh tịnh và
trong sáng? Vì thế, Đức Phật cảnh cáo chúng ta đừng tin
tưởng vào cái tâm còn lậu hoặc. Lúc đầu, tâm chỉ là
người đi làm công cho lậu hoặc, nhưng về sau, khi cả hai,
chủ và tớ, hợp tác với nhau qua một thời gian dài, thì
tâm lại trở nên xấu xa, hư hỏng để trở thành lậu hoặc
luôn. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy ta chớ nên tin
tưởng vào tâm ta.
Nếu
ta nhìn kỹ vào kỷ luật huân tập trong tu viện này, ta sẽ
thấy toàn bộ công việc chỉ là sự luyện tập về tâm.
Và bất kỳ lúc nào ta luyện tâm, ta cũng cảm thấy nóng nảy
và bị quấy rầy. Vừa khi ta nghe bực bội và cảm thấy bị
quấy rầy, ta liền khởi lên lời than trách. "Ôi! Sự tập
luyện này khó khăn quá sức tưởng tượng! Thật không thể
làm được!" Nhưng Đức Phật lại không nghĩ như thế. Ngài
xem khi sự tập luyện đem lại cho ta bực bội và va chạm,
điều đó có nghĩa là ta đang đi đúng đường lối. Còn ta,
ta lại không nghĩ như thế. Ta nghĩ rằng đó là dấu hiệu
có điều gì bất ổn đây. Sự hiểu lầm đó đã khiến cho
sự luyện tập được xem như quá nặng nhọc. Lúc đầu, ta
cảm thấy nóng nảy và bị quấy rầy, ta tưởng đâu là mình
đi sai đường. Ai cũng muốn cảm thấy khoan khoái, nhưng họ
lại không quan tâm đến chỗ đúng hay là sai. Khi ta chống
cự lại cốt lõi của các lậu hoặc và thách thức lòng khát
vọng của ta, thì thế nào ta cũng cảm thấy khổ sở. Ta nóng
lên, bứt rứt và bực bội, rồi bỏ cuộc. Ta tưởng đâu
mình đã đi sai đường. Tuy nhiên, Đức Phật lại nghĩ chúng
ta đang đi đúng đường. Ta đang đương đầu với lậu hoặc,
và những gì nóng nảy và bứt rứt là chính các lậu hoặc.
Nhưng ta lại nghĩ chính chúng ta đang nóng nảy và bứt rứt.
Đức Phật dạy, chính các lậu hoặc đang bị quấy động
lên và trở nên bứt rứt. Điều đó xảy ra cho tất cả mọi
người.
Vì
thế, sự luyện tập theo Chánh Pháp đòi hỏi nhiều nỗ lực.
Thiên hạ không chịu quan sát sự vật kỹ lưỡng và rõ ràng.
Một cách tổng quát, họ lạc mất Con Đường, hoặc là nghiêng
về sự tự dễ dãi với chính mình, hoặc là chọn lấy sự
tự hành xác. Họ bị kẹt cứng vào hai cực đoan đó. Một
mặt, họ thích dễ dãi chạy theo các ham muốn của tâm. Có
điều gì họ thích, họ liền làm ngay. Họ muốn ngồi cho
thoải mái. Họ thích nằm dài và duỗi ra trong tiện nghi. Đây
là nghĩa của sự tự dễ dãi mà tôi muốn nói: ôm ghì chặt
lấy cảm giác muốn được khoan khoái. Với sự tự dễ dãi,
làm sao mà sự luyện tập theo Chánh Pháp có tiến bộ được?
Nếu
ta dứt sự tự dễ dãi muốn có tiện nghi, hưởng nhục cảm
và khoan khoái, ta sẽ trở nên bực bội. Ta bực bội rồi
tức giận, và vì đó mà thấy khổ sở. Đây là đi lạc đường,
rẽ sang nẻo tự hành xác. Đây không phải là đường lối
của vị hiền trí an hòa, cũng không phải là đường lối
của người an định. Đức Phật cảnh cáo, không nên rơi
vào hai ngõ rẽ của sự tự dễ dãi và tự hành xác. Khi thể
nghiệm việc vui thích, bạn chỉ cần biết, với chánh niệm,
rằng đang có điều ấy. Khi thể nghiệm sự sân giận, ác
ý và cau có, hãy hiểu biết rằng đó là bạn không theo đúng
bước chân của Đức Phật. Đây không phải là con đường
của các người đi tìm sự an định, mà là lối đi của bọn
phàm phu trong làng. Một vị tỳ khưu an định không hề đi
theo các con đường đó. Vị này cứ ngay chính giữa mà bước
đi, với sự tự dễ dãi để ở phía bên trái và sự tự
hành xác để ở phía bên mặt. Đấy mới là sự luyện tập
đúng đắn theo Chánh Pháp.
Nếu
bạn muốn chọn sự tập luyện trong tu viện, bạn phải đi
theo Trung Đạo, không để khích động vì hạnh phúc hay khổ
sở. Hãy đặt chúng xuống bên cạnh. Nhưng chúng dường như
đang đấm đá chúng ta từ mọi phía. Trước, chúng đá ta
bên hông này, "Úi!"; rồi lại đạp ta bên hông kia, "Úi!" Ta
có cảm tưởng như bị cái dùi đánh lên mõ gỗ, lúc bên
này, lúc bên kia. Trung Đạo là phải buông bỏ cả khổ sở
lẫn hạnh phúc, và sự thực tập đúng đắn là ngay tại
chính giữa. Khi sự khát vọng hạnh phúc khởi lên, và ta không
thỏa mãn nó, ta cảm thấy đau khổ.
Bước
theo Trung Đạo của Đức Phật thật khó nhọc và đầy thách
thức. Chỉ có hai cực đoan tốt và xấu đó. Nếu ta tin vào
những gì chúng nói với ta, thì ta lại phải tuân theo lệnh
chúng. Nếu nổi lên cơn giận đối với ai, ta liền chạy
đi kiếm cây gậy để tấn công kẻ ấy. Không có sự nhẫn
nhục để chịu đựng. Nếu thương ai, ta muốn đến vuốt
ve người ấy từ đầu đến chân. Tôi nói đúng không? Cả
hai đường rẽ đó đều hoàn toàn sai lối Trung Đạo. Đó
không phải là lời Đức Phật khuyến khích. Ngài dạy chúng
phải từ từ buông các sự việc đó xuống. Sự thực tập
của Ngài là con đường đưa ta thoát ra khỏi sự hiện hữu,
tránh xa sự tái sinh - một con đường giải thoát khỏi sự
trở thành, sự sinh, hạnh phúc, khổ sở, thiện và ác.
Những
ai còn khát vọng hiện hữu, đều mù quáng không trông thấy
những gì ở ngay chính giữa. Họ lọt khỏi con đường Trung
Đạo; từ bờ hạnh phúc bên này họ vượt lướt ngang qua
khoảng giữa để đến ngay bờ bất toại nguyện và cáu kỉnh
bên kia. Họ luôn luôn nhảy bỏ khoảng giữa. Nơi linh thiêng
này, họ không thể nhìn thấy được, cứ nhảy vọt qua, vọt
lại hai bên bờ. Họ không chịu an trú ở đó, nơi mà không
còn sự hiện hữu, và không có sự sinh. Họ không ưa nơi
ấy nên không chịu lưu lại. Hoặc là họ bước ra khỏi nhà
để bị chó cắn, hoặc là họ bay bổng lên cao để bị diều
hâu mổ. Đó là sự hiện hữu.
Nhân
loại mù quáng, không thấy những gì đã giải thoát khỏi
sự hiện hữu, không còn tái sinh nữa. Tâm con người mù quáng
đối với điều ấy, cho nên đã biết bao nhiêu lần được
đối diện mà vẫn bỏ qua vì không thấy. Trung Đạo của
Thế tôn, con đường chân chánh của sự thực tập theo Chánh
Pháp, vượt qua hiện hữu và tái sinh. Tâm trí nào đã vượt
qua khỏi cả thiện lẫn ác thì được giải thoát. Đây là
con đường của bậc hiền trí an định. Nếu không dấn bước
theo đường ấy, ta không thể nào trở thành bậc hiền trí
an định được. Sự an định đó không hề có cơ hội để
nở hoa. Tại sao? Bởi vì còn sự hiện hữu và sự tái sinh.
Bởi vì còn sinh và tử. Con đường của Đức Phật không
còn sinh tử; không thấp mà cũng không cao; không hạnh phúc
mà cũng không khổ sở; không thiện mà cũng không ác. Đây
là con đường thẳng tắp, con đường an định và ổn cố.
Con đường đó an hòa, vắng bóng cả đau khổ và sung sướng;
vắng bóng cả hạnh phúc và ưu bi. Đây là cách thực tập
theo Chánh Pháp. Thể nghiệm được điều đó, tâm có thể
dừng yên lại. Tâm ấy không còn đặt câu hỏi. Không còn
cần phải đi tìm câu trả lời nữa. Đấy! Thế mới biết
tại sao Đức Phật bảo, Chánh Pháp là điều mà bậc hiền
trí tự mình biết một cách trực tiếp. Không cần phải đi
hỏi ai khác nữa. Tự ta, ta hiểu thật rõ ràng, không còn
nghi ngờ nào về Chân Lý của muôn sự vật đúng theo lời
Đức Phật đã dạy.
*
9.
Dốc lòng tu tập
Tôi
vừa kể lại các mẩu chuyện ngắn về việc tôi đã tu tập
như thế nào. Tôi không có nhiều kiến thức. Tôi không học
nhiều. Điều mà tôi học là tâm và trí này của tôi, và
tôi đã học theo đường lối tự nhiên qua kinh nghiệm, mò
mẫm. Khi tôi thích điều gì, tôi liền quan sát sự việc gì
đã xảy ra như thế nào và điều ấy sẽ đưa tới đâu.
Không thể nào tránh khỏi được, thế nào việc đó cũng
kéo tôi vào một khổ sở xa xăm nào đó. Sự tu tập của
tôi là tự mình quan sát lấy chính mình. Khi sự hiểu biết
và minh quán từ từ được thâm sâu, tôi mới biết được
chính tôi.
Bạn
phải dốc lòng tu tập! Nếu bạn muốn thực tập Chánh Pháp,
xin bạn đừng suy nghĩ nhiều quá. Nếu bạn đang hành thiền
và nhận thấy mình đang cố gắng để đạt kết quả đặc
biệt nào, thì tốt hơn bạn ngưng lại. Khi tâm bạn đã lắng
yên lại để trở nên an định, rồi bạn lại nghĩ: "Đấy,
đấy! Chính nó đấy, phải không?", thì bạn cũng nên ngừng
lại. Hãy lấy tất cả các kiến thức phân tích và lý thuyết
của bạn đem gói lại hết và cất kỹ vào trong hộc tủ.
Và đừng đem nó ra để tranh luận hay giảng dạy. Đó không
phải là loại kiến thức đã đi sâu vào bên trong. Chúng là
loại kiến thức khác.
Khi
thực tại của một sự việc nào được thấy đến, nó không
giống với những gì đã được viết ra để mô tả. Thí
dụ như, ta viết ra chữ "ham muốn nhục cảm". Khi ham
muốn nhục cảm thực sự đang tràn ngập tâm, thì không thể
nào các chữ viết đó chuyên chở được đúng nguyên ý nghĩa
như thực tại cả. Đối với sự "giận" cũng lại như thế.
Ta có thể viết lên bảng đen chữ "giận", nhưng khi
ta thực sự sân giận, thì kinh nghiệm lại không giống như
thế. Ta không thể đọc thật nhanh cho kịp chữ ấy, và tâm
đã bị cơn giận dữ nhận chìm rồi.
Đây
là điểm vô cùng quan trọng. Các lời dạy về lý thuyết
thật là chính xác, nhưng đưa được chúng vào tâm mới là
điều quan yếu. Chúng cần phải được "nội trú hóa". Nếu
Chánh Pháp không được mang vào trong tâm, thì Chánh Pháp chưa
được biết thực sự. Chánh Pháp chưa được thấy thực
sự. Tôi cũng đã trải qua như thế. Tôi không học nhiều,
tôi chỉ học đủ để dự các kỳ thi về Căn bản Phật
học. Một hôm tôi có duyên may được nghe một vị thiền
sư thuyết pháp. Trong lúc lắng nghe, vài tư tưởng bất kính
nổi lên. Lúc đó, tôi chưa biết cách nghe một bài pháp cho
có ích lợi. Tôi không hiểu vị thiền sư du tăng đó đã
nói những gì. Vị ấy giảng dạy như thể là khởi từ sự
kinh nghiệm bản thân trực tiếp của mình và tựa như vị
ấy đang đi tìm chân lý vậy.
Một
thời gian sau, khi tôi thu thập được vài kinh nghiệm đầu
tay về sự tu tập, tôi mới tự thấy được sự thật của
những gì mà vị thiền sư kia đã dạy. Tôi mới hiểu ra được
cách phải hiểu như thế nào. Trí tuệ liền khởi lên theo
sau đó. Chánh Pháp bắt đầu bắt rễ trong chính tâm trí tôi.
Phải mất một thời gian rất dài, rất lâu, trước khi tôi
nhận thức được rằng tất cả những gì mà vị du tăng
kia đã giảng dạy đều bắt nguồn từ nơi kinh nghiệm của
chính ông, chứ không phải phát xuất từ sách vở. Vị ấy
đã nói, dựa theo sự hiểu biết và minh quán của chính ông.
Khi chính tôi dấn bước trên Con Đường, tôi mới gặp mọi
chi tiết mà vị ấy đã mô tả, và tôi phải nhìn nhận rằng
ông đã nói đúng. Rồi cứ thế mà tôi tiếp tục.
Bạn
phải tận lực tu tập theo pháp hành. Cho dù nó có an hòa hay
không, bạn cũng đừng lo ngại gì ở thời điểm này. Điều
quan trọng ưu tiên hàng đầu là bạn phải bắt đầu tu tập
và gieo các nhân duyên cho sự giải thoát về sau này. Nếu
bạn thật sự gia công tu tập, bạn không cần lo âu về kết
quả. Đừng lo lắng khi bạn chưa thấy kết quả. Lo lắng
thì không được yên ổn. Tuy nhiên, nếu bạn không chịu ra
sức công phu, thì làm sao bạn có kết quả? Bạn hy vọng thấy
được gì? Chỉ kẻ nào chịu khó tìm tòi thì kẻ ấy mới
khám phá ra. Ai có ăn thì người ấy no. Muôn sự vật quanh
ta đều dối gạt ta. Nhận thức điều ấy cả mười lần,
cũng vẫn còn tốt. Nhưng mà "lão cuội sói đầu" kia cứ nhai
đi nhai lại các mẩu chuyện cổ và các lời dối trá mãi.
Nếu ta biết lão ấy nói dóc, thì cũng không quá tệ, nhưng
mà còn rất lâu, thật là lâu, ta mới biết ra được như
thế. Lão già cứ tìm đến và cố lừa phỉnh ta với sự
man trá hoài hoài.
Hành
trì Pháp có nghĩa là trì giữ giới hạnh, phát triển định
lực và đào luyện trí tuệ nơi tâm ta. Ghi nhớ và suy ngẫm
về Tam Bảo: Đức Phật, Giáo pháp và Tăng Đoàn. Tuyệt đối
từ bỏ mọi sự vật, không chừa một ngoại lệ nào. Công
phu tu tập của chính ta là những nguyên nhân và điều kiện
để chín muồi ngay trong đời này. Vậy thì, bạn phải thành
tâm nỗ lực.
Ngay
cả khi ta ngồi hành thiền trên ghế, ta cũng vẫn có thể
tập chú tâm. Lúc đầu, ta không cần phải chú tâm đến nhiều
thứ - chỉ cần chú tâm đến hơi thở của ta. Nếu ta muốn,
ta có thể lập đi lập lại các chữ "Buddho" (Phật),
"Dhammo"
(Pháp), hay "Sangho" (Tăng) cùng một lượt với mỗi hơi
thở. Trong khi chú tâm, đừng tìm cách kiểm soát hơi thở.
Nếu hơi thở xem thấy như nhọc mệt hay thiếu khoan khoái,
điều đó cho biết rằng ta còn tập chưa đúng cách. Khi nào
ta còn chưa thoải mái với hơi thở, thì hơi thở xem như quá
cạn hoặc quá sâu, quá tế nhị hoặc quá thô phù. Tuy nhiên
một khi đã thư giãn với hơi thở, thấy nó thích thú và
khoan khoái, nghe được rõ ràng mỗi hơi thở vào và mỗi hơi
thở ra, thì ta đang hiểu đúng cách phải làm như thế nào.
Nếu không làm đúng cách, ta sẽ lạc mất hơi thở. Khi việc
này xảy ra, nên tạm ngưng trong một chốc, rồi chú tâm lại
vào chánh niệm.
Nếu
trong khi hành thiền, bạn thấy có sự thúc dục muốn thể
nghiệm các hiện tượng tâm linh, hoặc tâm trí trở nên chiếu
rạng ngời sáng, hoặc bạn thấy hình ảnh các cung điện
trên cõi Trời, v.v., thì cũng không cần phải lo sợ. Chỉ
cần nhận biết những gì bạn đang thể nghiệm và tiếp tục
hành thiền. Đôi khi, sau một lúc, hơi thở dường như chậm
lại rồi ngừng. Bạn có cảm giác như hơi thở đã biến
mất và bạn hoảng hốt lên. Đừng lo lắng, không có chi đáng
sợ hãi cả. Đó là trí bạn tưởng rằng hơi thở đang ngừng.
Thật ra, hơi thở vẫn còn đó, nhưng nó trở nên tế nhị
hơn mức bình thường. Không bao lâu, nó sẽ trở lại trạng
thái bình thường.
Trong
buổi đầu, chỉ cần tập trung vào việc làm cho tâm trở
nên yên tịnh và an định. Dù ngồi trên ghế, ngồi trong xe,
trên thuyền, hoặc bất cứ nơi nào bạn đang có mặt, bạn
cũng phải thành thạo trong việc đưa tâm vào an định theo
ý mình muốn. Khi bạn lên xe lửa và ngồi xuống ghế, lập
tức đưa tâm vào tình trạng an định. Bất kỳ ở đâu, bạn
cũng vẫn có thể hành thiền. Mức độ thành thạo của bạn
chứng tỏ rằng bạn đã quen thuộc với Con Đường. Rồi
thì bạn bắt đầu thẩm tra. Hãy dùng sức mạnh của tâm
an định mà thẩm tra những gì bạn thể nghiệm. Có lúc, đó
là những gì bạn thấy; có lúc, đó là những gì bạn nghe,
ngửi, nếm, cảm xúc trong thân thể, hoặc nghĩ ngợi hay cảm
nhận trong tâm. Các kinh nghiệm về giác quan dù xảy ra dưới
hình thức nào - có đáng thích thú hay không - bạn cứ nắm
lấy để quán chiếu. Chỉ giản dị nhận biết về những
gì bạn đang thể nghiệm. Đừng áp đặt một ý nghĩa nào,
hoặc một sự giải thích nào, lên trên các đối tượng của
sự nhận biết về giác quan đó. Nếu nó tốt, cứ hay biết
là nó tốt. Nếu nó xấu, cứ hay biết là nó xấu. Đây là
một thực tại qui ước. Thiện hay ác, chúng đều vô thường,
bất toại nguyện và vô ngã. Chúng không đáng tin cậy. Không
có chi nơi chúng đáng cho ta chụp lấy và đeo níu cả. Nếu
bạn có thể duy trì được sự tu tập an định và thẩm tra
này, thì trí tuệ tự động sẽ khởi sinh. Những gì được
cảm nhận và thể nghiệm đều rơi vào ba cái hố vô thường,
bất toại nguyện và vô ngã. Đây là hành thiền Minh quán
(Vipassanā). Tâm đã an định rồi, và nếu khi nào các
tâm trạng bất tịnh có khởi lên, bạn cứ quẳng chúng vào
một trong ba cái hố rác đó. Đây là cốt tủy của Minh quán
(Vipassanā): vứt bỏ tất cả vào vô thường, bất toại
nguyện và vô ngã. Tốt, xấu, ghê tởm, hoặc là gì đi nữa,
cũng cứ liệng xuống đó. Không bao lâu, sự thông hiểu và
tuệ minh quán sẽ nở hoa ngay giữa ba đặc tính phổ quát
- đó là tuệ minh quán còn yếu ớt. Vào những bước đầu,
trí tuệ vẫn còn yếu, nhưng bạn nên gắng duy trì sự tập
luyện này cho bền bỉ. Khó mà diễn tả ra thành lời, nhưng
cũng tựa như có người muốn biết tôi, người ấy phải
đến đây và sống ở đây. Qua tiếp xúc hàng ngày, chúng
ta sẽ biết nhau nhiều hơn.
*
10.
Tôn trọng truyền thống
Đã
đến lúc ta phải bắt đầu hành thiền. Hành thiền để thông
hiểu, để buông xả, để vứt bỏ, và để được an định.
Ngày
trước, tôi là một du tăng. Tôi đi bộ tìm gặp các thiền
sư và tìm sự tịch liêu hiu quạnh. Tôi đi nhiều nơi, không
phải là để thuyết pháp. Tôi đến để nghe các buổi pháp
thoại của các bậc đại sư đương thời. Tôi không đến
để dạy cho các Ngài. Tôi lắng nghe bất cứ điều gì các
Ngài giảng dạy. Ngay cả khi các vị tu sĩ, trẻ và thấp hạ,
nói với tôi thế nào là Chánh Pháp, tôi cũng kiên nhẫn lắng
nghe. Tuy nhiên, tôi ít khi tham gia tranh luận về Chánh Pháp.
Tôi không thấy có lý do gì mà mình lại phải dính dấp vào
các cuộc tranh luận dài dòng. Bất cứ lời dạy nào tôi chấp
nhận, tôi đều thực hành ngay, theo chiều hướng đưa đến
sự xả ly và buông bỏ. Ta không cần phải là những học
giả về kinh điển. Mỗi ngày ta mỗi già nua, thế mà mỗi
ngày ta lại cứ vồ lấy một ảo ảnh, bỏ mất sự vật
chân thật. Thực hành Pháp là điều khác hẳn với việc nghiên
cứu Pháp.
Tôi
không chỉ trích bất cứ một pháp hành thiền hay một phương
cách hành thiền nào cả. Khi ta thông hiểu rõ mục đích thực
sự của của các pháp thiền đó, chúng không có gì sai lầm.
Tuy nhiên, nếu người nào tự gọi mình là thiền giả Phật
giáo, mà không tuân thủ đúng theo các giới luật (Vinaya