CHƯƠNG
IX
Khi
cu Lợi thức dậy thì trời đã tảng sáng. Nhìn lên chỏng
tre, nó thấy u nó nằm yên, hơi thở đều đặn. Lợi cảm
thấy an tâm. Thang thuốc của ông lang Ý Yên hay thật. Cả
ngày hôm qua u nó quằn quại không ngớt vì đau, vày mà hồi
hôm uống bát thuốc vào bà đã nằm yên và ngủ được. Ông
lang sau khi bắt mạch và cho thuốc, đã về ngủ tạm ở nhà
bác Trực ở dưới chân núi. Trong nhà, ngoài u nó và nó, còn
có bà Tư xóm dưới. Bà Tư cũng đến từ chiều hôm qua. Bà
thường hay đến giúp bà con trong xóm vào lúc sinh nở. Người
ta nói là bà có "kinh nghiệm". Hiện bà đang ngủ ở trên chỏng
của Lợi. Hồi hôm Lợi đã lấy rơm trải ra giữa nhà mà
ngủ. Ban đầu nó nghĩ rằng nó sẽ phải thức cả đêm để
săn sóc cho u nó. Ai ngờ u nó uống thuốc được một hồi
thì nằm yên và sau đó thì bà ngủ thiếp đi. Lợi cũng ngủ
thiếp đi. Cả ngày lo lắng lăng xăng cho nên nó mệt và ngủ
rất say.
Lợi
đi xuống bếp. Hồi hôm nó đã sắc nước nhì của thang thuốc,
bây giờ nó định hâm lại cho u nó uống. Lợi rút một nắm
rơm nhỏ dúi vào bếp trấu và đợi. Một lát sau rơm ngún
và có khói. Vẫn dí nắm rơm và bếp trấu, nó kề mồm vào
thổi nhẹ. Lửa bùng cháy. Lợi cầm một chiếc đũa tro cời
cho trống khoảng giữa ba ông đầu rau rồi đặt nắm rơm
đang cháy vào đấy. Nó tiếp rơm vào rồi lấy chiếc đũa
tro chặn lên phía bên ngoài nắm rơm để cho rơm cháy chậm.
Xong, nó bắc một nồi nước đầy lên bếp. Vừa coi sóc cho
lửa cháy đều dưới nồi, Lợi vừa lấy mấy cục than tàu
để trên lửa rơm cho cháy xém trước khi gắp bỏ vào chiếc
hỏa lò kê gần đấy. Sắc thuốc thì phải dùng hỏa lò và
than tàu. Than tàu còn ít lắm, chỉ đủ để hâm thuốc mà
thôi. Hôm qua ông lang Ý Yên bảo phải chuẩn bị than củi
để phòng khi nó sinh em bé thì đốt lên cho u nó sưởi. Bà
Tư bảo than tàu đắt lắm. Bà sai Lợi ra hốt một thúng trầu
đỏ sẵn giữa nhà. Bà còn bảo nó đi kiếm củi gộc đem
vào. Củi gộc tức là gốc tre khô. Bà bảo khi cần sưởi
thì đốt cho gộc cháy rồi đổ trấu vào cho lửa cháy ngún.
Bà Tư còn bảo Lợi kiếm cho bà một thanh nứa để dành bà
cắt nhau cho em bé.
Vừa
đun bếp, cu Lợi vừa nghĩ đến công việc phải làm hôm nay.
Có lẽ nó phải thổi cơm cho bà Tư ăn. Nó phải nghĩ tới
trả cá bống khi mặn gần như còn nguyên, có thể dọn ra
để bà Tư ăn với cơm. Như vậy là nó chỉ cần thổi một
niêu cơm là đủ. Bỗng Lợi nhớ ra rằng hôm nay là ngày mồng
tám tháng tư, ngày Phật Đản. Ngày hôm nay thiên hạ ai cũng
ăn chay. Vậy là trả cá bống không được tích sự gì rồi.
Lợi đứng dậy, đi tìm hũ vừng. Nó ôm hũ vừng mà lắc,
còn một ít vừng, may quá. Nó sẽ rang muối vừng để bà
Tư ăn cơm, nhưng mà trước phải vo gạo để nấu cơm đã.
Suốt
ngày hôm qua, cu Lợi lo lắng cuống cuồng, có nhiều lúc u
nó đau đớn đến chảy cả nước mắt. Lợi chịu đựng
không nổi khi nghe tiếng rên siết của u. Bố nó chết trận
bên Chiêm năm ngoái. Bây giờ nếu u nó chết theo thì nó sẽ
trở nên mồ côi. Tiền bạc không có, làm sao có có thể đi
rước thầy thuốc về xem mạch cho u. U nó bảo nó chạy sang
xóm bên mời bác Tư. Bác Tư đã làm đủ cách nhưng cơn đau
của u nó cũng không giảm xuống tí nào. Bác đã đem gừng
sống giã nhỏ pha với rượu để xoa bóp, đã dùng cả lá
trầu không và một mớ tóc rối để đánh gió cho u nó. Trong
lúc hai bác cháu còn đang cuống quít chưa biết làm gì hơn
cho u nó bớt đau thì Ni Sư Hương Tràng đến. Thì ra Tuất
đã báo chi Ni Sư biết là u nó ốm nặng và nó phải ở săn
sóc cho u. Lạ quá, Ni Sư Hương Tràng không phải là thầy thuốc,
nhưng khi thấy bà vừa bước vào nhà Cu Lợi có cảm tưởng
ngay rằng mọi sự sẽ êm đẹp và u nó sẽ không còn
đau đớn. Mà thật vậy, Ni Sư vừa đặt tay lên trán của
u nó thì u nó không còn rên siết nữa. Ni Sư dịu dàng hỏi
thăm u nó để biết xem trong người đau đớn như thế nào,
và u nó đã bình tĩnh trả lời từng câu một, không còn vừa
nói vừa thở vừa khóc hổn hển như trước. Sau đó, Ni Sư
dặn bác Tư và nó ở lại trông coi và thỉnh thỏng xoa bóp
tay chân cho u nó trong khi Ni Sư sang Ý Yên mời ông thầy thuốc.
Đó
là khoảng xế chiều. Từ lúc Ni Sư đi khỏi, u nó có lên
cơn đau hai lần nhưng không còn dữ dội như trước. Có lẽ
nhờ bác Tư và Lợi xoa bóp chân tay theo lời Ni Sư dặn; cũng
có lẽ là nhờ biết rằng Ni Sư sẽ trở về với một ông
thầy thuốc.
Đến
tối mịt Ni Sư mới về tới. Có ông lang Ý Yên về theo với
Ni Sư. Ông mang theo một tay nải khá lớn. Có cả thằng Qúy
và thằng Tâm đốt đuốc đi theo để đưa đường cho hai
người. Quý và Tâm cũng là người làng Hổ Sơn. Chúng cũng
là những em bé chăn trâu như cu Lợi.
Vào
tới sân nhà, Ni Sư bảo Quý và Tâm dụi đuốc để dành,
rồi bà đưa ông lang về nhà, mời ông ngồi nghỉ và bảo
cu Lợi đi nấu nước vối mời ông uống. Sau đó, ông lang
bắt mạch cho người bệnh. Bắt mạch xong, ông mở tay nải
bốc thuốc. Trong khi cu Lợi nhen hỏa lò sắc thuốc thì ông
nói với Ni Sư rằng chứng bệnh của u thằng Lợi là do sự
buồn phiền và lo lắng mà sinh ra. Thuốc của ông có công
dụng an thần và tẩm bổ chứ không có gì lạ. Ni Sư tiếp
chuyện ông lang cho đến không nước nhất của thang thuốc
được sắc xong và u thằng cu Lợi được đỡ dậy để uống
thuốc. Thuốc uống xong, Ni Sư đỡ người bệnh nằm xuống
rồi đắp chăn cho bà. Ni Sư nói:
- Uống
thuốc này vào thì thế nào cũng khỏe, rồi bác sẽ sinh cháu
dễ dàng. Bác cứ niệm Phật Quan Âm một lát rồi ngủ. Này
Lợi, bây giờ con sắc nước nhì đi, để sáng mai hâm lại
cho u con uống. Con đổ vào một bát rưỡi nước lã và sắc
lại còn nửa bát thôi nhé.
Ni
Sư lại còn đến nắm tay bác Tư và dặn dò mấy câu. Rồi
bà bảo Quý và Tâm đốt đuốc lên, đưa thầy lang về nhà
bác Trực ngủ tạm đêm nay và cũng để đưa bà về núi.
Trước khi đi, Ni Sư còn căn dặn cu Lợi là hễ có gì xảy
ra thì lên chùa báo tin cho Ni Sư biết.
U thằng
cu Lợi nằm yên. Một lúc sau đó thì bà ngủ. Cu Lợi mừng
quá. Nó bưng cây đèn dầu lạc đi xuống bếp, định đi lấy
gạo thổi cơm để dọn cho bác Tư, nhưng nó vừa xuống tới
bếp thì bác Tư cũng đã theo xuống, Bác bảo rằng bác còn
no lắm và cu Lợi chỉ cần nấu cơm đủ cho một mình nó
ăn thôi. Nghe bác nói thế, Lợi không nấu cơm nữa. Nó đi
lấy bát xúc cơm nguội còn lại trong nồi và xin phép bác
Tư ngồi ăn ngay dưới bếp. Nó đem trả cá bống không mặn
ra để ăn với cơm nguội. Bác Tư kê một chiếc đòn thấp
rồi ngồi bên cạnh Cu Lợi. Bác nói:
- Cháu
đừng lo. Bác nghe nói ông lang này giỏi lắm. Thế nào u cháu
và em bé cũng được bình an. May quá, nếu không có Ni Sư trên
chùa đích thân đi mời thì ông lang Ý Yên chẳng bao giờ bước
chân tới nhà này đâu. Thế là nhà cháu có phúc lắm đấy
con ạ.
Cu
Lợi vừa ăn vừa nghĩ đến tiền thầy và tiền thuốc cho
u nó. Như đoán biết được nó đang nghĩ gì, bác Tư lại
nói:
- Mày
đừng lo, cháu ạ. Ni Sư đích thân đi mời ông lang thì chắc
chắn là Ni Sư sẽ chu toàn cho u con mày, mà có thể ông lang
vì nể Ni Sư mà không lấy tiền chuyến này cũng không biết
chừng. Cứ lạy Phật phù hộ cho u mày mạnh khỏe mẹ tròn
con vuông là quý rồi. Thôi, mày ăn cơm đi. Tao lên ngủ một
chốc, có gì thì gọi tao dậy nghe cu Lợi.
Cu
Lợi đứng dậy định lấy đèn đưa bà Tư lên nhà trên nhưng
bà đưa tay ra hiệu bảo không cần. Bà Tư lên rồi. Cu Lợi
ngồi xuống tiếp tục ăn cơm. Nó gắp thêm một con cá bống
để lên chén cơm. Trả cá này là do u nó kho, nhưng u nó chưa
hề động đũa tới, những con cá bống trong trả đều do
Cu Lợi câu được ở ngoài bờ sông. Nó nhớ tới buổi chiều
hôm kia khi đang câu cá ở bờ sông thì Tuất tới tìm nó.
Ni Sư Hương Nghiêm bảo Tuất đi tìm Lợi và gọi Lợi lên
chùa để tập diễn lại cuối sự tích Phật tổ giáng sinh.
Tuất đến nhà Lợi thì u Lợi nói Lợi đang câu cá ở bờ
sông. Tuất ra bờ sông kiếm Lợi. Lúc đó giỏ cá của Lợi
đã đầy tới nửa. Tuất tới nhìn vào giỏ cá mà phần lớn
là cá bống rồi nói với Lợi:
- Anh
Lợi ác lắm, những con cá này hiền lành có làm gì Lợi đâu
mà anh Lợi lại bắt chúng lên để cho chúng chết?
Lợi
ngước nhìn Tuất. Tuất mặc một chiếc áo cánh màu nâu non;
tóc Tuất xõa chấm trên hai vai, khuôn mặt xinh đẹp của Tuất
sáng rỡ trong ánh nắng chiều và hai mắt của Tuất đen láy.
Lợi không biết trả lời Tuất ra sao. Nếu gặp một người
khác hỏi nó câu đó thì nó trả lời được ngay. Nó sẽ
trả lời rằng con người sinh ra đời phải ăn và phải uống,
vì vậy mà từ xưa tới nay người ta đã làm ruộng, trồng
rau, nuôi lợn, nuôi gà và câu cá. Trời sinh ra lúa gạo, lợn,
gà, tôm, cá là để nuôi người. U Lợi đã từng nói với
Lợi như vậy, và người lớn nào cũng sẽ trả lời như vậy,
nhưng Lợi biết đối với Tuất nó không thể trả lời như
thế. Tuất giống như một cành hoa đào mong manh, trả lời
như thế cũng giống như một luồng gió mạnh tới thổi bay
tất cả những cánh hoa đào mơn mởn. Tuất giống như một
tờ giấy trắng tinh, trả lời như thế cũng giống như làm
đổ nghiên mực vào tờ giấy. Lợi biết Tuất khờ dại ngây
thơ nhưng trong thâm tâm nó không dám chê cười sự khờ dại
ngây thơ đó. Trái lại, nó còn thấy cái khờ dại ngây thơ
này như là một cái gì dịu hiền, trong trắng và đẹp đẻ.
Có một cái gì nơi Tuất khiến nó nghĩ tới Ni Sư Hương Tràng.
Ni Sư Hương Tràng thương yêu Tuất là phải, Lợi nghĩ như
thế. Ni Sư là một người lớn, nhưng nơi bà, Lợi thấy có
sự hồn nhiên ngây thơ của những đứa trẻ con như Tuất.
Nó nghĩ có lẽ vì vậy mà nó yêu mến Ni Sư lạ lùng. Mỗi
lần được ngồi nghe. Ni Sư nói chuyện nó thấy trong lòng
ấm áp, và sung sướng lạ kỳ. Lợi đã gặp bao nhiêu người
lớn, nhưng Lợi chưa bao giờ thấy được một người lớn
tươi mát như Ni Sư Hương Tràng của nó. Cần câu trong tay
Lợi chúi xuống nặng tay nó. Cá cắn câu. Nó giật lên. Một
con cá bống lớn bằng ngón chân cái của nó đang dãy dụa
loang loáng dưới ánh nắng chiều. Lợi chỉa thẳng cần câu
lên trời để cho con cá xáp vào gần nó. Lợi đưa ta ra nắm
lấy con các bống và gỡ miệng cá ra khỏi lưỡi câu. Lúc
đó, Tuất cũng đã xáp lại gần. Tuất nói:
- Anh
Lợi, anh cho Tuất con cá này đi.
Lợi
nhìn Tuất hơi ngập ngừng nhưng cũng đưa con cá bống cho
Tuất. Tuất nắm lấy con cá, nhìn vào cái hàm cá nhỏ xíu
bị chiếc lưỡi câu làm cho bị thương gần như tọac ra.
Nó xít xoa như chính nó bị đau. Rồi nó bảo:
- Tội
nghiệp chưa, con cá đẹp thế này mà bị người ta móc lưỡi
câu vào hàm rồi kéo lên. Bống ơi, chị thả bống xuống
nước rôi bống bơi cho xa, đừng có trở lại loanh quanh ở
bến này nữa nhé.
Tuất
nói chính Tuất và con cá bống nghe nhưng Lợi có cảm tưởng
như Tuất nói những lời này chỉ là để trách móc Lợi.
Nó chưa biết nói sao thì Tuất đã thả con các bống xuống
nước. Con cá lội đi rồi mà Tuất vẫn còn đưa tay khoác
nước như muốn đuổi con cá đi cho thật xa. Tuất lau tay vào
chéo chiếc áo cánh nâu non của nó rồi nói với Lợi:
- Thôi
Tuất về nhé, anh Lợi. Anh nhớ lát nữa lên chùa, Ni Sư đợi
anh đấy.
Rồi
Tuất đi, Từ đó về sau, Lợi không câu được con cá nào
nữa. Đầu óc ngẩn ngơ. Nó nghĩ lẩn thẩn rằng con cá bống
mà Tuất thả xuống nước đã báo cho những con cá khác mà
lìa xa khúc sông Lợi đang câu. Nó cuộn cần câu lại và xách
giỏ cá về. Giao cá cho u, Lợi đi tắm, thay áo và lên chùa.
Nó vừa đi vừa suy nghĩ đến Tuất và con cá bống. Con cá
bống hồi nãy mà Tuất thả xuống sông có một liên hệ gì
đó với con cá bống trong truyện Tấm Cám mà nó đã từng
nghe u nó kể nhiều lần. Nó thấy Tuất là chị Tấm trong
truyện và con cá bống sau này sẽ có thể làm cho Tuất trở
nên một bà hoàng hay một bà chúa. Nghĩ tới đây lại thấy
sự việc dính vào nhau rất lạ lùng. Ni Sư Hương Tràng của
nó cũng là một bà chúa, và bây giờ bé Tuất theo Ni Sư học
đạo rồi cũng sẽ trở nên một bà chúa. Hồi còn bố nó
ở nhà nó đã từng nghe bố nó và u nó nói chuyện về Ni
Sư Hương Tràng với một thái độ kính phục. Nó nghe nói
Ni Sư là một bà chúa đi tu. Lúc ấy Lợi không thể tin rằng
Ni Sư là một bà chúa được. Một bà chúa thì phải sang trọng
như tiên, quần áo lượt là, luôn luôn có người hầu hạ
hai bên, đi đâu cũng có kiệu rước và hai bên có lính hầu.
Đằng này Ni Sư của nó lại sống rất đơn giản như bất
cứ người nghèo nào ở trong làng. Ni Sư đi dép thật đấy,
nhưng đó chỉ là dép cỏ. Áo Ni Sư mặc là áo nâu, một chiếc
áo nâu đã cũ và màu cũng đã bạc. Vải áo là thứ vải
gai thô sơ chứ cũng không được mịn màng như chiếc áo cánh
nâu non của bé Tuất nữa. Nó không tin Ni Sư là bà chúa nhưng
ở trong xóm nó hình như người lớn nào cũng nói Ni Sư là
một bà chúa, em ruột của đức hoàng đế đương triều,
nghĩa là em của vua. Cho đến một ngày nọ, cách đây chừng
hai năm, nó mới tin. Hôm đó hai bố con Lợi đang loay hoay đào
củ đậu ở đám vườn gần nhà bác Trực thì thấy có một
đoàn người ngựa đến ngừng dưới chân núi. Từ trên chiếc
xe song mã, có một người ăn mặc rất uy nghiêm bước xuống.
Có những người lính hộ vệ cầm giáo đứng hai hàng để
bảo vệ cho người ấy. Rồi lại có người đem kiệu ra để
cho người mặc áo uy nghiêm kia ngồi lên. Rồi trong khi đám
người ngựa chờ đợi ở chân núi, hai người khiêng kiệu
bắt đầu leo lên đường núi. Lại có bốn người lính khiêng
giáo đi theo hai bên để hộ vệ. Tất cả đều ăn mặc rất
sặc
sỡ và nghiêm chỉnh. Xe và kiệu cũng được trang hoàng vàng
rực và đỏ chói. Hai bố con của Lợi không dám đến gần.
Sau khi đào xong được hai gánh củ đậu, họ ghé lại nhà
bác Trực xin nước uống và hỏi thăm. Bác Trực nói hồi
nãy bác đã đem nước rối ra mời các bác lính hầu và đã
được các bác này cho biết là hôm nay có ngài Huệ Võ Đại
Vương từ trên kinh về thăm Ni Sư. Huệ Võ Đại Vương là
anh ruột của Ni Sư Hương Tràng. Đại Vương và Ni Sư đều
là em ruột của đức Kim Thượng tại vị. Ngài về làng nhưng
không sứ về cho xã quan nên dân làng không ai được biết
để ra nghinh đón.
Chiều
hôm ấy, nghe bác Trực nói, Lợi bắt đầu tin rằng Ni Sư
Hương Tràng là một bà chúa thực. Nó định bụng chiều hôm
sau lên chùa nhìn lại Ni Sư cho kỹ để thấy cho thật rõ
mặt mũi của một bà chúa. Hôm sau mới tới chân núi thì
nó gặp Ni Sư đang đi xuống về phía vườn ương. Nó chắp
hai tay chào bà, và nhận thấy rằng bà vẫn ân cần và đơn
giản không khác gì mọi hôm, và chẳng có dấu hiệu nào nơi
bà chứng tỏ vẻ cao sang của một bà chúa cả. Nó lại bắt
đầu nghi ngờ trở lại. Rồi nó nghĩ rằng có lẽ bà là
một bà chúa thật nhưng là một bà chúa núp trong thể xác
của một Ni Sư, cũng như trong truyện cổ tích xưa có vị
hoàng tử núp trong thân xác của một con cóc. Có thể là một
hôm nào đó, Ni Sư của nó sẽ biến trở lại một bà chúa
lộng lẫy và nó sẽ được mặc sức ngắm cho thỏa thích,
nhưng Lợi lại thấy trong lòng e ngại. Nếu Ni Sư mà biến
thành bà chúa thì chắc gì nó đã dám đến gần, và chưa
chắc bà chúa đã chịu gọi nó để xoa đầu như thường
lệ.
Một
hôm cùng bé Tuất giúp Ni Sư mang giỏ tre trên núi xuống vườn
ương, nó lấy hết can đảm lên tiếng hỏi Ni Sư xem bà có
phải là một bà chúa không thì Ni Sư nói không. Ni Sư nói
ngày xưa có lần Ni Sư đã là một bà chúa, nhưng bây giờ
chỉ là một người thường như bất cứ ai ở trong xã Hổ
Sơn.
- Tại
sao làm một bà chúa sung sướng hơn mà Ni Sư không làm, lại
đi làm một Ni Sư? Bé Tuất hỏi.
- Làm
một bà chúa không sung sướng như các con tưởng đâu, Ni Sư
trả lời. Bây giờ Ni Sư sung sướng hơn hồi còn làm bà chúa
nhiều. Nếu Ni Sư là một bà chúa thì Ni Sư đâu được đi
trên con đường núi này với hai con. Làm bà chúa cực lắm
các con ạ. Nội một việc chải tóc, mặc áo và đi giày cũng
đủ mệt rồi, đừng nói tới những việc khác.
Cu
Lợi vẫn chưa quên được chuyện con cá bống hồi nãy. Ngày
xưa nhờ con cá bống mà chị Tấm từ một cô gái quê đã
trở thành một bà chúa. Biết đâu con các bống của Tuất
một ngày nào đó cũng đã làm cho Tuất trở nên một bà chúa
như chị Tấm trong truyện cổ tích. Lợi nhớ có lần Ni Sư
Hương Tràng kể cho bọn Lợi nghe một truyện Tấm Cám hơi
khác với truyện Tấm Cám mà u Lợi thường kể. Đó là chuyện
hoàng hậu Ỷ Lan. Ni Sư nói rằng chuyện hoàng hậu Ỷ Lan
là chuyện có thật. Hồi bé hoàng hậu chỉ là một cô bé
nhà quê tên là Tấm. Tấm lớn lên hái dâu và chăn tằm rất
giỏi. Quê Tấm là làng Thổ Lỗi ở tỉnh Bắc Ninh. Tấm cũng
xinh đẹp (có lẽ cũng xinh đẹp như Tuất, Lợi nghĩ thầm).
Tấm cũng có một đứa em cùng cha khác mẹ tên là Cám. Cám
cũng lén bắt con cá bống của Tấm nuôi ở giếng ăn thịt
rồi chôn dấu xương cá đi. Bụt cũng hiện ra bảo Tấm đi
tìm xương cá bống rồi đem chôn ở chân giường. Tấm chôn
xương bống được một trăm ngày thì đào lên và tìm thấy
một đôi hài rất đẹp. Tấm ướm thử hài vào chân thì
thấy rất vừa. Thấy đôi hài hơi ấm, Tấm đem phơi nắng.
Có một con qụa thần sà xuống xớt một chiếc hài và đem
thả vào cung vua Lý Thánh Tông. Vua thấy hài đẹp truyền lịnh
cho các cô gái trong nước tới ướm hài. Tấm bận hái dâu
nuôi tằm không trẩy kinh như tất cả các cô gái khác. Trong
nước, không ai ướm hài vừa chân. Mùa xuân năm Qúy Mão vua
ngự giá đi lễ Phật ở chùa Dâu. Kiệu vua đi tới đâu dân
chúng mở hội tưng bừng tiếp rước tới đó. Trai gái già
trẻ đều mặc áo đẹp ra đứng hai bên đưòng vua đi. Khi
ngự giá đi ngang qua làng Thổ Lỗi, ngồi trên kiệu cao vua
trông thấy một cô gái đang hái dâu ngoài ruộng mà không
ra đón vua. Vua truyền ngừng kiệu ại, cho vời cô gái đến,
và hỏi tại sao. Cô gái ấy là Tấm. Tấm thưa với vua là
nhà cô nghèo, cô phải làm lụng để nuôi gia đình cho nên
không có thì giờ để vui chơi. Vua thấy Tấm xinh đẹp, ăn
nói lễ phép và dịu dàng, liền đem lòng thương yêu. Ngài
hỏi Tấm đã trẩy kinh ướm hài chưa, rồi ra lệnh cho Tấm
phải xin phép theo vua về kinh mà ướm hài. Tấm trở nên một
bà chúa và vua đặt tên cho Tấm là Nguyên Phi Ỷ Lan. Vua xây
cung Ỷ Lan cho Tấm ở và rước thầy về dạy cho Tấm học.
Sau này Tấm sinh một hoàng tử Kiền Đức sau trở thành vua
Lý Nhân Tông. Tấm làm bà chúa nhưng vẫn đảm đương chịu
khó như khi ở với gia đình. Tấm giúp vua trị nước, sửa
sang triều chính, chấn hưng nền kinh tế và mở mang việc
học hành. Tuy làm một bà chúa nhưng Tấm không quên đời
sống cơ cực miền quê. Ngày xưa trong làng Tấm có người
hay đi trộm trâu ăn thịt làm cho nhiều nhà nghèo mất cả
trâu cày, không làm ăn gì được. Tấm tâu với vua xin trừng
phạt những người ăn trộm trâu. Tấm còn xin vua giúp đỡ
dân nghèo, bỏ tiền ra mua chuộc những người nghèo khó đã
đem thân gán nợ cho các nhà giàu. Con gái, con trai bị bán
cho nhà giàu từ đó được vua chuộc về và họ còn được
dựng vợ gã chồng cho nữa. Tấm là người có lòng nhân từ
rất lớn. Người trong nước, ai ai cũng yêu mến Tấm và ca
ngợi công đức của Tấm. Họ gọi Tấm là Quan Âm Nữ, nghĩa
là con gái của đức Bồ Tát Quan Thế Âm, vì nhân từ như
thế nên Tấm không làm việc gì thất đức. Tấm không giống
với cô Tấm trong truyện Tấm Cám mà u Lợi thường kể. Em
của Tấm ngày xưa có ăn thịt con bống của Tấm thật đấy,
nhưng Tấm vẫn tha thứ cho em, và bà dì của Tấm cũng không
bị Tấm thù ghét. Trái lại cả hai đều được Tấm cải
hóa thành người tốt.
Bọn
cu Lợi rất ưa câu truyện Tấm Cám này. Ni Sư đã nói truyện
có thật thì chắc là truyện có thật. Chẳng bao giờ Ni Sư
lại nói dối bọn Lợi đâu. Có lần Ni Sư đưa cho bọn Lợi
xem một cuốn sách mà Ni Sư nói vài ba năm nữa bọn Lợi có
thể đọc được. Cuốn sách nói về cuộc đời của hoàng
hậu Ỷ Lan, tức là của Tấm. Tên sách là Lý Triều Đệ
Tam Hoàng Hậu Sự Tích. Chính Lợi đã đọc được trọn cái
tên sách ở ngoài bìa. Lợi rất mong đến ngày có thể đọc
được trọn cuốn sách này. Nó tự nguyện là sẽ cố gắng
học cho mau giỏi. Tấm là bà chúa mà còn học, huống gì mình.
Nghĩ lại, nó thấy sở dĩ bọn nhà nghèo mà được đi học
là cũng nhờ có Ni Sư Hương Tràng. Trong xã Hổ Sơn từ trước
đến nay, chỉ có bọn con nhà giàu mới được đi học. Bọn
thằng Kim, thằng Tuấn chẳng bao giờ xem Lợi ra gì. Trong khi
Lợi phải đi chăn trâu, đào khoai và bắt ốc thì bọn nó
cắp sắch đến trường. Ngoài thì giờ đi học, chúng chỉ
biết đi chơi. Ấy thế mà rồi cuối cùng Lợi cũng được
học như chúng. Nó đã học xong các sách Tam Tự Kinh, Ấu Học
Ngũ Môn Nôn Thi, Sơ Học Vấn Tân và bây giờ đang bắt đầu
học sách Minh Tâm Bảo Giám. Năm nay, nó không có thì giờ
nhiều để học bài như năm ngoái. Từ ngày bố nó chết trận
bên xứ Chiêm, nó phải thay bó làm bao nhiêu là công việc.
Nó là người đàn ông duy nhất trong gia đình và nó phải
lo mọi chuyện. U nó lại sắp sinh em bé. Không biết u nó sinh
con giai hay con gái. Lợi thầm ước u nó sinh cho nó một đứa
em gái thùy mị và xinh đẹp như Tuất. Nó sẽ nói với u nó
đặt tên em là Tấm. Nó sẽ bắt một con cá bống cho em nó
nuôi. Và biết đâu em nó không trở thành bà chúa như cô Tấm
ngày xưa. Có thể là Tuất và em Tấm của nó cả hai đứa
sau này đều trở nên những bà chúa.
Lợi
bỗng nhận ra rằng chị Tấm ngày xưa đã từ một cô gái
quê trở nên một bà chúa, còn Ni Sư Hương Tràng của nó,
ngược lại, đã từ một bà chuá mà trở nên một người
dân thường sống chung với những người dân thường khác
như nó và như bé Tuất. Nghĩ tới đó, Lợi cảm thấy ấm
áp trong lòng. Hình bóng của Ni Sư và của bé Tuất hiện ra
êm dịu trong lòng cậu bé. Lợi nghĩ tới cả hai người với
một thứ tình cảm trìu mến, một thứ cảm tình mà nó cảm
thấy mới mẻ và tươi mát. Không có Ni Sư thì Lợi đã không
có dịp gặp gỡ và quen biết Tuất. Lợi cũng biết sở dĩ
hồi chiều, Tuất trách cứ nó ác cũng vì Tuất có cảm tình
với Lợi. Rất ít khi nó gần gũi Tuất và nói chuyện với
Tuất nhưng nó nghĩ thật nhiều đến Tuất. Tuất có mặt
trong lòng nó như một con bươm bướm duy nhất có mặt trong
vườn hoa cải phía sau vườn nó. Nó muốn tới gần con bướm
nhưng nó không dám vì nó sợ con bướm bay đi. Có khi nó thấy
hình bóng dịu dàng và tươi sáng của Tuất lẫn vào với
hình bóng của Ni Sư. Tuất hiền hơn nó. Tuất không câu cá.
Tuất không giết bất cứ một con vật nào dù đó là một
con ốc hay một con sâu. Tuất ăn chay trường theo các Ni Sư.
Có lần trong vuờn ương, Lợi nghe Tuất nó chuyện với cây
hoa hải đường, làm như cây hải đường là một đứa bé
biết nghe và biết hiểu. Lúc đó, Lợi cho Tuất là "chơi trò
trẻ con", nhưng mà một hôm khác, nó bắt gặp Ni Sư Hương
Tràng vừa rửa lá cho một cây hoa trà mi vừa nói chuyện với
cây hoa trà ấy. Bà nâng niu chăm sóc cây trà mi như chăm sóc
cho một đứa trẻ. Lần này Lợi không dám nghĩ là Ni Sư "chơi
trò trẻ con", nhưng nó cho rằng Ni Sư nói chuyện với cây
là vô ích, bởi vì cây cối làm gì hiểu được tiếng người.
Vừa lúc đó Ni Sư ngước lên. Thấy vẻ mặt của Lợi bà
hiểu nó nghĩ gì và bà mỉm cười. Bà nói:
- Con
đừng tưởng các loài cây cối không hiểu được tiếng người
và không phải là chúng không biết nói. Cây cối nói bằng
lá bằng hoa của chúng, nếu ta tinh ý thì ta có thể biết
là chúng nói gì. Cây cối cũng biết đau buồn và mừng vui.
Con xem cây cây hoa trà này giỏi lắm. Nó biết làm ra những
bông hoa màu đỏ thật đấy và thật đẹp. Nếu ta thương
yêu nó, nó cũng biết thương yêu lại ta.
Lợi
rất yêu kính Ni Sư, và nó tuân theo mọi lời chỉ dạy của
bà. Nhưng nó vẫn có cảm tưởng là nó không gần gũi với
Ni Sư bằng Tuất. Ngồi trong vườn ương với Tuất và Ni Sư,
nó có cảm tưởng là Ni Sư và Tuất đang ngồi hẳn trong vườn
ương, còn nó thì như là có chân đặt trong vườn ương còn
một chân khác thì còn đặt ở ngoài vườn ương. Cảm giác
đó làm Lợi không hoàn toàn sung sướng. Chợt Lợi nghĩ rằng
nó không muốn Tuất trở nên một bà chúa nữa. Tuất mà trở
nên một bà chúa thì Lợi sẽ không bao giờ được gặp Tuất.
Không bao giờ nó được cùng Tuất khiêng giỏ tre đi bên cạnh
Ni Sư trên con đường xuống núi hoặc cùng ngồi trong vườn
ương. Lợi ước mong cho con các bống của Tuất đừng bị
ai ăn thịt. Nó tự hứa 1à từ nay sẽ không câu cá bống
nữa. Rủi mà câu được cá bống, nó sẽ gỡ cá ra khỏi
lưỡi câu và liệng cá trở lại trong dòng nước. Nó muốn
Ni Sư mãi mãi còn là Ni Sư, đừng bao giờ trở lại thành
một bà chúa, và nó cũng muốn Tuất mãi mãi còn là Tuất.
Nó cũng không còn mong em nó trở nên một bà chúa như có lần
nó đã ước mong. Ni Sư của nó tuy không còn là một bà chúa
sống trong cung điện rực rỡ như hoàng hậu Ỷ Lan ngày xưa
nhưng bà vẫn là chỗ nương tựa cho bao nhiêu người, như
nó và u nó. Không có Ni Sư thì hồi hôm làm sao u nó qua khỏi
cơn đau. Ni Sư đã đi suốt một buổi chiều để mời ông
lang Ý Yên về cho u nó. Chắc là Ni Sư mỏi chân lắm.
Bỗng
Lợi nghe có tiếng rên la trên nhà và tiếng bà Tư gọi nó.
Nồi cơm đã cạn, nồi nước đang sôi sùng sục từ bao giờ
mà cu Lợi vẫn không biết. Trời đã sáng; nó vội dụi tắt
nắm rơm đang cháy dưới nồi và chạy lên nhà. Trên chiếc
chõng tre, u nó đang rên la, tay bà nắm chặt lấy thành chõng,
mồ hôi ướt dầm cả mặt. Bà Tư đang lấy tay luồn vào
dưới áo để thăm bụng cho u nó. Bà bảo Lợi:
- Đến
giờ rồi, cháu đem củi gộc mà đốt đi để nhóm lửa cho
u cháu sưởi. Đem ra ngoài sân mà đốt. Khi nào gần hết khói
thì hẳn mang vào đây để mà un trấu.
Nhìn
u đang quằn quại trên chõng, Lợi hỏi bà Tư:
- Liệu
u cháu có sao không hở bác?
- Không
sao đâu, cháu cứ an tâm đi đốt củi đi. Đau đẻ thường
ấy mà cháu.
Lợi
khiêng củi gộc ra sân và vào bếp lấy rơm ra làm mồi đốt.
Nó làm công việc rất nhanh. Khói bốc lên cuồn cuộn. Một
lát sau, nó nghe tiếng rên la gần như thất thanh của u nó.
Lợi sợ quá chạy vào. Vừa mới đến cửa nó liền bị bà
Tư đuổi ra:
- Mày
ra ngoài sân mà đứng, không được vào đây. Chừng nào tao
kêu mới được vào. Ra ngay đi!
Lợi
miễn cưỡng chạy ra sân. Lòng nó như lửa đốt. Nó thầm
niệm đức Bồ Tát Quan Âm gia hộ cho u nó tai qua nạn khỏi.
Nó nóng ruột quá, nếu xảy chuyện gì thì nó biết làm sao.
Nó là con trai, là đàn ông, là chủ gia đình. Có chuyện gì
thì nó phải gánh hết. Nếu có Ni Sư Hương Tràng ở đây
thì nó đâu đến nổi hoảng sợ thế này. Ý định chạy
lên chùa báo tin cho Ni Sư thoáng qua trong trí óc nó. Hồi hôm,
Ni Sư đã chẳng dặn nó có chuyện gì thì chạy lên bảo cho
Ni Sư biết là gì. Tuy nhiên nó ngần ngừ không dám quyết
định. Có thể bà Tư cần đến nó để chạy những việc
gấp khác. Từ đây lên tới chùa xa lắm, đón được Ni Sư
về thì đã hết buổi, không kịp đâu.
Bỗng
Lợi nghe có tiếng chuông chùa vọng lại xem lẫn với tiếng
trống. Giờ này trên chùa lễ Phật Đản đã bắt đầu cử
hành. Ni Sư chắc đang mặc y vàng hành lễ với Ni Sư khác.
Dân chúng tụ họp trên chùa chắc đông lắm. Bọn thằng Khải,
con Tuất hiện giờ đều có mặt trên đó. Bây giờ là giờ
đức Phật ra đời. Lợi bỗng nghe tiếng tiếng con nít khóc
oe oe. Nó ngạc nhiên, nhưng một ý nghĩ vụt qua đầu nó, nhanh
như một tia chớp giật. U nó sinh em bé rồi! Nó muốn chạy
ngay vào, nhưng lại sợ bà Tư đuổi ra. Tiếng khóc vẫn rành
rẽ. Nó lên tiếng gọi lớn:
- Con
vào được chưa, thưa bác?
- Mày
vào được rồi. Có tiếng bà Tư trả lời.
Lợi
chạy ùa vào nhà. Nó nhìn lên chõng. U nó đang nhìn nó mỉm
cười. Một nụ cười yếu ớt. Bên cạnh u, em bé được
quấn trong một cái áo cũ của bố nó. Bà Tư đang gói một
gói gì đó. Bà bỏ cái gói này vào trong một chiếc nồi đất
mới, còn đỏ au. Bà nhìn Lợi, bảo:
- Nhà
cháu có phúc lắm đấy, cu Lợi ạ. U mày vừa mới sinh cho
mày một đứa em giai. Mày ngồi đó với u, để tao đi ra tìm
chỗ chôn cái nồi này đã. Nó nhìn em bé. Đứa bé đã hết
khóc. Nó ngủ. Lợi nói với u:
- Thằng
bé này kháu lắm u a. U đã định đặt nó là gì chưa, hả
u?
U nó
trả lời bằng một giọng còn yếu nhưng đầy hạnh phúc:
- Chưa
con ạ. Bác Tư bảo có thể đặt tên nó là thằng Đa, nhưng
u nghĩ để nhờ Ni Sư đặt tên nó. Tạm thời mình hãy gọi
là thằng cu Em.
Lợi
nhìn u, ái ngại:
- Chắc
là u mệt lắm và đói bụng lắm. Để con xuống xới một
bát cơm nóng đem lên cho u nó ăn nhé. Có cá bống kho, ăn với
cơm ngon lắm.
Vừa
lúc ấy, bà Tư trở vào. Nghe Lợi nói thế, bà bảo:
- Phải
chưng nước mắm cho u mày ăn với cơm. Vài ba bữa nữa mới
được ăn cá bống.
Lợi
định đi xuống bếp nhưng bà Tư ngăn lại:
- Để
bác lo cho. Bây giờ con thay áo và lên chùa báo cho Ni Sư biết
để Ni Sư mừng. Cứ đi đi. Củi gộc lát nữa bác sẽ mang
vào nhà và un trấu sau.
Lợi
còn đang lưỡng lự thì u nó nói:
- Phải
đấy con ạ. Con lên chùa báo cho Ni Sư biết đi. Nhớ rửa
tay rửa mặt và thay áo trước khi đi, con nhé.
Cu
Lợi vâng lời u. Nó đi ra phía sau bếp, cởi áo quần rồi
múc nước mưa trong chum xối lên đầu ào ào để tắm. Xong
nó vào thay áo cánh và quần cộc, chào u nó và bà Tư rồi
đi ra ngõ.
Tiếng
chuông chùa vẫn khoai thai rành rọt điểm từng tiếng một.
Lợi nghe như có tiếng nhiều người tụng kinh. Làm sao từ
đây mà nghe được tiếng tụng kinh, chắc là trí óc mình
tưởng ra như vậy đó thôi, Lợi thầm nghĩ. Nó mong đi mau
cho tới chùa. Nhưng con đường khá xa, còn phải leo trèo khá
lâu mới tới chùa được. Vừa đi, nó vừa nghĩ tới u nó,
tới em bé mới sinh, tới Tuất, và tới Ni Sư. Đó là những
người mà nó yêu mến nhất trên đời này. Bố nó đã chết.
Nó chỉ còn lại những người đó. Nó thầm niệm đức Bồ
Tát Quan Thế Âm để cho những người đó đừng bao giờ ốm
đau hoặc gặp phải những tai nạn khác.
Lợi
đến chùa khi buổi tụng kinh vừa chấm dứt và các Ni Sư
đang rút lui vào hậu liêu vài phút trước khi ra làm lễ tắm
Phật. Người đâu mà đông thế. Có lẽ tất cả dân làng
Hổ Sơn đều có mặt trên núi này. Ai cũng mặc áo quần tươm
tất. Chỉ có nó là ăn mặc đơn sơ nghèo nàn. Lợi đợi
Ni Sư ở bên ngoài liêu xá. Kìa Ni Sư đã trở ra. Bà khoác
một chiếc y vàng ngoài cái áo nâu thường ngày. Thấy vẻ
mặt của nó, Ni Sư không cần hỏi cũng hiểu cái gì vừa
xảy ra. Nó đến gần Ni Sư chắp hai tay và cúi đầu xuống.
Ni Sư hỏi:
- U
con sinh con trai hay con gái?
- Bạch
Ni Sư, u con sinh con trai.
Ni
Sư không hỏi thêm gì nữa. Bà bảo Lợi đi theo bà qua vườn
cảnh của chùa, nơi đó lát nữa sẽ cử hành lễ tắm Phật.
Bọn con Tuất, con Thìn, thằng Thông đã chuẩn bị sẵn sàng
để sau khi các Ni Sư tụng kinh sau thì diễn tích Đản Sinh.
Già trẻ lớn bé bao quanh hồ nước thành không biết bao nhiêu
từng lớp, trẻ con đứng trước, người lớn đứng sau. Mọi
người rẽ lối cho các Ni Sư đi vào. Lợi đi với Ni Sư Hương
Tràng nên nó len theo được vào giữa một cách dễ dàng. Mọi
người chắp tay hướng về phía đức Phật sơ sinh. Ni Sư
Tĩnh Quang xướng bài Khai Kinh Kệ rồi hướng dẫn mọi người
tụng Kim Quang Minh Kinh. Tuy là một buổi tụng kinh trang nghiêm
nhưng không khí hôm nay còn vui hơn cả một ngày hội. Tiếng
tụng kinh cao vút. Tụng Kim Quanh Minh xong. Ni Sư tụng đến
bài Tam Tự Quy rồi đến bài Hồi Hướng. Bài Hồi Hướng
vừa chấm dứt thì các lồng chim được mở ra và hàng trăm
con chim tung cánh bay lên giữa tiếng hò reo của mọi người.
Có tiếng Ni Sư Tĩnh Quang hô lên: "Trần Triều Đương Kim Hoàng
Đế Vạn Tuế". Tất cả thiện nam tín nữ đều hô lên "Vạn
Tuế", để đáp lại. Ni Sư lại hô "Đại Việt quốc dân
vạn tuế". Mọi người lại hô lên "Vạn Tuế" để đáp lại.
Tiếng hò reo vang dội cả núi. "Phục nguyện quốc thái dân
an, tứ phương bình định can qua, pháp giới chúng sinh tình
dữ vô tình, đồng thành Phật đạo". Ni Sư Tĩnh Quang đọc
xong lời Phục Nguyện thì tiếng niệm "Nam Mô Thích Ca Mâu
Ni Phật" của quần chúng cũng vang vọng lên trong một niềm
phấn khởi mà Lợi chưa từng thấy bao giờ. Lợi ngước mắt
nhìn những con chim vỗ cánh bay lên trời xanh. Có những con
chim chưa chịu bay xa cứ luẩn quẩn trên những cành cây gần
đó. Lợi biết là tất cả những con chim này đều đã được
làm lễ quy y Tam Bảo hồi sáng nay. Lợi mừng cho chúng. Lợi
mải miết nhìn đàn chim bay lên không chán mắt. Nó mơ ước
trở thành một con chim bay liệng trên không để nhìn xuống
đám người đang dự lễ Đản Sinh. Bỗng nó nghe giọng Ni
Sư Hương Nghiêm vọng lên rõ ràng và rành mạch từng tiếng:
- Đêm
ấy, hoàng hậu Ma Gia mộng thấy một điềm lành. Bà thấy
một con voi trắng sáu ngà từ trên trời đi xuống và nhẹ
nhàng chui vào hông bà. Sáng dậy bà thuật lại giấc mộng
cho vua Tịnh Phạn nghe ...
Thì
ra cuộc diễn tích đã bắt đầu. Lợi nhìn xuống. Khoác trên
mình một tấm lụa, bé Tuất đang đóng vai hoàng hậu Ma Gia.
Lợi chăm chú nhìn và theo dõi. Bé Tuất đóng vai hoàng hậu
Ma Gia rất khéo. Thằng Chí đóng vai vua Tịnh phạn cũng hay.
Vua Tịnh Phạn cho người vời những ông thầy đoán mộng
vào cung. Người ta đoán rằng hoàng hậu sẽ hạ sinh một
hoàng nam. Hoàng nam sẽ trở nên hoặc một vị Chuyển Luân
Thánh Vương hoặc một đức Phật. Bây giờ đây, hoàng hậu
đang ngự chơi trong vườn Lâm Tì Ni, có cái Thơm và cái Uyên
làm thị nữ theo hầu. Kìa hoàng hậu đang vịn vào một nhánh
cây đầy hoa và nghiêng mình xuống. Cái Uyên quỳ xuống đỡ
ngang hông hoàng hậu và nâng lên một đức Phật sơ sinh. Đó
là một cái bắp hoa chuối non. Cái Uyên bọc đức Phật sơ
sinh trong một tấm vải lụa vàng. Tất cả bọn trẻ đồng
thời lên bài "Vui mừng gặp ngày nay mồng tám tháng tư" theo
điệu Đăng Đàn Cung. Cái Uyên nâng thái tử Tất Đạt Đa
trong tư thế ấy cho đến khi bài hát chấm dứt. Nó quỳ xuống
trước mặt hoàng hậu, dâng thái tử lên. Trong khi đó bọn
thằng Trâm, thằng Nguyên, thằng Quyền làm vua rồng phun nước
xuống tắm cho đức Phật sơ sinh. Chúng nó làm khéo quá. Những
vòi nước từ phía sau hòn non bộ phun ra rơi xuống đúng vào
đức Phật sơ sinh trên tai cái Uyên, trong khi tất cả các
đứa khác đang đóng vai chư thiên ca hát và tung hoa mừng thái
tử ra đời. Tiếng hát sáng tươi ấm áp như mặt trời mùa
xuân: "Nhạc trời trổi dậy, hoa tung đầy đất: chào mừng
đức Phật, chư thiên hát vang ...". Bây giờ đây thì đoàn
thị nữ đang bảo vệ hoàng hậu và thái tử về cung.
Nhìn
ra phía sau hòn non bộ, Lợi thấy bóng thằng Thông đang ướm
bộ râu lá chuối vào cằm. Vai Thông khoác một tấm vải nâu.
Nó sắp đóng vai đạo sĩ A Tư Đà. Một ý nghĩa thoáng qua
đầu Lợi. Nó rời chỗ đứng của mình, chạy quặt ra phía
sau non bộ. Nó đưa tay gỡ bộ râu lá chuối. Hiểu ý, thằng
Thông lấy ngay tấm vải choàng lên lưng nó và khoác lên vai
Lợi, rồi dúi chiếc gậy tre vào tay nó. Vừa lúc đó quân
hầu vào báo với vua Tịnh Phạn là ông tiên A Tư Đà từ
trên núi Tuyết đi xuống, muốn vào bệ kiến để xem tướng
cho thái tử.
- Truyền
mời ông tiên A Tư Đà vào, thằng Chí dõng dạc ra lịnh. Từ
phía bên kia ngọn giả sơn, cu Lợi chống gậy bước ra, lưng
còm xuống dưới tuổi tác của nó. Ông tiên A Tư Đà chầm
chậm tiến tới trước thái tử và hấp háy nhìn bằng hai
con mắt đã lèm nhèm của ông. Chợt ông bật khóc nức nở,
chiếc gậy ông rung rung. Vua Tịnh Phạn hoảng hốt hỏi:
- Tại
sao, tại sao đạo sĩ lại khóc như thế? Có tai nạn gì xảy
đến cho thái tử đây không?
Cu
Lợi khóc nức nở thêm một hồi nữa rồi mới ngước đầu
lên, đưa cánh tay trái dịu mắt trong lúc lưng nó vẫn còng
và thân hình nó dựa hẳn lên trên chiếc gậy đạo sĩ, Nó
nói bằng một giọng khàn khàn rất hay:
- Tâu
bệ hạ, bần đạo khóc là khóc cho bần đạo chớ không phải
khóc vì thái tử. Bần đạo đã già rồi, sẽ chết trước
khi thái tử lớn lên và thành Phật. Tâu bệ hạ, thái tử
sẽ trở thành một đức Phật Như Lai ...
Lợi
còn nói nữa, nhưng nó phải ngừng lại để chùi thêm nước
mắt một lần nữa. Trong khi nghiêng đầu lấy cánh tay chùi
hai con mắt ráo hoảng của nó, Lợi thoáng thấy dáng Ni Sư
Hương Tràng. Ni Sư đang nhìn nó. Nó thấy rõ ràng là miệng
Ni Sư đang mỉm một nụ cười.
CHƯƠNG
X
Chùa
Nộn Sơn tuy là một ni viện nhỏ nhưng các Ni Sư đều có
chức vụ rõ rệt. Ni Sư Tĩnh Quang là giám viện của chùa
và chức vụ của bà là tri sự, nghĩa là chịu trách nhiệm
tổng quát về mọi việc trong chùa. Ni Sư Đàm Thái đảm nhiệm
chức vụ tri diện, và tri khách, tức là vừa trông coi chánh
điện cho sạch sẽ và trang nghiêm vừa lo việc tiếp đón
các vị khách ni và các thiện nam tín nữ đến viếng chùa
lạy Phật. Những lúc công việc tri khách trở nên bề bộn
thì Ni Sư Tĩnh Quang và các Ni Sư khác đều phải phụ sức
vào để làm đỡ công việc này. Ni Sư Hương Nghiêm lo việc
tri tạng, tức là chăm sóc về kinh điển thư tịch và việc
dạy học, còn công việc tri viên, tức là coi sóc vườn tược
thì do Ni Sư Hương Tràng đảm trách.
Chức
vụ của tri viên, bao hàm việc săn sóc vườn cảnh, vườn
rau và vườn ương của chùa. Đáng lý việc quản lý ruộng
chùa cũng nằm trách vụ tri viên, nhưng vì thấy công việc
này nặng quá cho nên Ni Sư Tĩnh Quang đã tự mình trực tiếp
đảm nhận lấy với sự tiếp tay của gia đình bác Trực
dưới chân núi.
Ni
Sư Hương Tràng đã trồng được rất nhiều danh mộc trong
vưòn chùa. Ngọc lan, hoa mộc, hải đường và nhất là các
loại tùng, bách, được trồng trên khắp nơi trên núi. Vườn
rau nằm ngay phía sau hậu liêu. Ở đây gần suối cho nên việc
tưới tắm rất dễ dàng. Tất cả bốn Ni Sư đều có tiếp
tay vào việc chăm bón vườn rau. Vườn ương dưới chân núi
thì không xa nhà bác Trực. Ni Sư Hương Tràng để thật nhiều
thì giờ vào công việc chăm sóc khu vườn ương này. Ni Sư
Hương Nghiêm cũng rất ưa đi xuống vườn ương. Cô là người
phụ tá đắc lực nhất cho Ni Sư Hương Tràng trong việc chăm
sóc vườn ương. Bác Trực, bé Tuất và thằng cu Lợi cũng
giúp Ni Sư rất nhiều. Những ngày Ni Sư bận rộn công việc
trên chùa, bác Trực và bé Tuất thường quảy nước tưới
vườn thay cho Ni Sư. Những khi cần người khuân vác nặng
thì đã có bác Trực và thằng cu Lợi giúp đỡ.
Mùa
kiết hạ bắt đầu từ ngày rằm tháng tư và sẽ chấm dứt
sau lễ Vu Lan ngày rằm tháng bảy. Các Ni Sư tuy kết hạ nhưng
giới hạn an cư rất rộng. Họ có thể đi lại bất cứ nơi
nào trên núi và cũng có quyền xuống cả tới vườn ương.
Sáng nay trên đường xuống núi, Ni Sư Hương Nghiêm hỏi Ni
Sư Hương Tràng:
- Em
nhận thấy nghi thức công phu buổi sáng gồm toàn những bài
đà la ni cả, tại sao vậy thưa chị?
Ni
Sư Hương Tràng cũng nhận thấy điều sư muội bà nói là
đúng. Từ ngày nghe chú Pháp Đăng tụng kinh trên am Long Động,
bà đã để ý tới điểm này rồi. Buổi công phu bắt đầu
bằng thần chú Thủ Lăng Nghiêm, đi qua thần chú Đại Bi,
và đến chín bài thần chú khác. Thiền học ở nước Đại
Việt đã bị mật giáo xứ Tây Tạng lấn áp rồi chăng? Từ
ngày quân Mông Cổ chiếm cứ Tây Tạng rồi qua diệt nhà Tống
để thành lập nước Nguyên, Mật giáo lan tràn rất chóng.
Tuy Đại Việt đánh bại được quân Nguyên nhưng văn hóa
phương Bắc vẫn cứ ảnh hưởng tới Đại Việt. Tại sao
trong buổi công phu sáng lại không có những kinh văn về Thiền,
như Kinh Lăng Già hoặc Kinh Kim Cương mà lại toàn là các bài
thần chú? Bà rất mừng mà nhận thấy rằng tuy Hương Nghiêm
còn trẻ tuổi, cô đã có nhận xét rất sáng suốt, nhưng
mà những người như vị ni cô trẻ tuổi này còn ít quá.
Khắp nơi người ta học theo lề thói người phương Bắc một
cách thiếu ý thức. Cả ngay tại những sơn môn lớn như Báo
Ân, Quỳnh Lâm và Yên Tử, các bậc trưởng thượng cũng vô
tình áp dụng nghi thức mới. Hương Tràng đã từng đọc
sách Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục. Bà biết rằng đạo Phật
đời Lý rất thịnh nhưng về sau đã suy sụp vì ảnh hưởng
mật giáo. Đọc các bộ lục như Khóa Hư Lục và Tuệ Trung
Thượng Sĩ Ngữ Lục bà thấy các vị Phật tử tiền bối
đời Trần đã gạn lọc Phật Giáo và làm cho Phật học đời
Trần trở lại thuần túy thiền học. Bây giờ đây, thiền
học lại bắt đầu biến chất. Bà rất lo lắng cho tương
lai Phật học nước nhà. Trên hai trăm năm, thiền học đã
làm trụ chống tinh thần cho cả nước, nhờ đó mà thiên
hạ được thái bình và nước nhà giữ vững được nền
độc lập. Từ ít lâu nay, ảnh hưởng Nho học mới của nhà
Tống đã bắt đầu gây nên sự kỳ thị giữa Nho gia và Phật
gia, không những ở trong giới học giả mà ngay cả ở chốn
triều đình. Bây giờ lại thêm sự biến chất của thiền
học vì Lạt Ma giáo. Hương Tràng tự nhủ không biết rằng
người cầm đầu giáo hội Trúc Lâm là tôn giả Pháp Loa có
để tâm đến vấn đề này hay không.
Giáo
hội Trúc Lâm hiện đang tiến hành việc khắc bản Đại Tạng
Kinh. Đại Tạng Kinh này được khắc theo bản do nhà Nguyên
ấn hành và như vậy là có thêm nhiều kinh điển Lạt Ma giáo.
Nghĩ đến việc khắc bản kinh Đại Tạng, Hương Tràng chợt
nghĩ tới quốc sư Bảo Sát, đệ tử đầu tay của Trúc Lâm
đại sĩ, người mà bà đã được may mắn làm quen ở am Tử
Tiêu trên núi Yên Tử và đã được thừa tiếp một lần
thứ hai tại chùa Tư Phúc trong nội thành. Quốc sư Bảo Sát
hiện đang lãnh trách nhiệm khắc bản Đại Tạng kinh để
ấn hành tại Đại Việt. Khắc bản Đại Tạng kinh là một
công trình vĩ đại, bởi vì Đại Tạng kinh có tới trên sáu
ngàn quyển. Công việc này đã được khởi hành từ năm Ất
Mùi nghĩa là mười bảy năm về trước, nhưng bị gián đoạn
từ ngày Thượng hoàng viên tịch. Năm ngoái vua Anh Tông ra
chiếu chỉ tiếp tục công việc khắc bản. Pháp Loa tôn sư
đã ủy cho sư huynh mình là quốc sư Bảo Sát đứng ra giữ
trọng trách này, vì công việc, quốc sư Bảo Sát đã phải
rời am Tử Tiêu về cư trú ở chùa Báo Ân để tiện việc
cắt đặt công việc. Hằng ngày có cả trăm người thợ lo
viết chữ và khắc chữ trên gỗ. Hồi đầu năm nay, Hương
Tràng đã ủy sư muội bà là Hương Nghiêm về kinh để thỉnh
toàn bộ các tác phẩm của Trúc Lâm đại sĩ. Hương Nghiêm
đã được gặp quốc sư Bảo Sát. Quốc sư cho cô biết là
ít ra cũng phải năm năm nữa Đại Tạng kinh mới được khắc
xong. Tuy nhiên những tác phẩm do các thiền sư Đại Việt
sáng tác đều đã được khắc và đã được ấn hành riêng,
trong đó có Khóa Hư Lục, Thượng Sĩ Ngữ Lục Thiền Lâm
Chiết Chủy Ngữ lục, Thạch Thất Mỵ Ngữ v.v...
Hương
Tràng biết rõ tính khí của quốc sư Bảo Sát. Vị cao đệ
này của Thượng hoàng không ưa chốn phồ hoa đô hội, không
ưa tổ chức và hội hè. Trúc Lâm đại sĩ yêu mến người
đệ tử này nhất và Bảo Sát cũng là người thân cận đại
sĩ nhiều nhất. Sở dĩ đại sĩ không ủy cho người làm tổ
thứ hai của giáo hội Trúc Lâm cũng chỉ vì người không
nhận trách vụ này. Hồi Hương Tràng lên thăm đại sĩ trên
núi Yên Tử, ngài đã bảo công chúa gọi Bảo Sát là sư huynh.
Bây giờ tuy Hương Tràng là đệ tử của quốc sư Bảo Phác,
bà vẫn có khuynh hướng muốn gọi thiền sư Bảo Sát là sư
huynh, dù trên nguyên tắc bà phải gọi người là sư bá.
Hương
Tràng nhớ lại những ngày được Thượng hoàng cho phép lưu
lại Yên Tử và đi viếng khắp nơi trên núi. Đó là vào tháng
tám năm Mậu Thân. Trước khi Huyền Trân lên tới núi thì
đại sĩ đã cho tất cả các thị giả của ngài xuống núi
và chỉ để một mình sư huynh Bảo Sát ở lại bên mình.
Tuy thế, sau khi tiếp chuyện với Hương Tràng, ngài lại phái
Bảo Sát về kinh để trình bày với vua Anh Tông về việc
lấy thuyền đưa ba trăm người Chiêm về nước, và dặn Bảo
Sát sau khi làm xong trách nhiệm thì trở ngay lên Yên Tử. Chỉ
trong vòng hai hôm là Bảo Sát đã trở về am Tử Tiêu. Lúc
bấy giờ ba người mới mở đầu cuộc viếng thăm các thắng
cảnh trên núi. Có lẽ đại sĩ biết đây là lần thăm viếng
cuối cùng của ngài cho nên ngài lưu lại thật lâu ở mỗi
nơi, nhìn từng gốc thông, sờ từng phiến đá. Ba người
leo trèo trong suốt bảy hôm, không nơi nào là không đến,
từ ngọn Hồ Sơn, đỉnh Vân Tiêu, đỉnh Cánh Diều, cho đến
các đỉnh Ngọa Vân, Tử Tiêu, các am Thung, am Dược, am Trượng,
suối Long, suối Hổ v.v... Ba người đi thong thả. Mệt thì
nghỉ, đói thì mở cơm nắm ra ăn, khát thì vốc nước suối
uống. Trong những lúc ấy, Huyền Trân có ý thức rằng đây
là những ngày đẹp đẽ nhất trong đời mình. Sư huynh Bảo
Sát rất ít nói. Không ai bảo ai, cả ba đều cảm thấy tràn
đầy an lạc và hạnh phúc. Từ giã Thượng hoàng về kinh
đô, Huyền Trân không biết rằng đó là lần gặp gỡ cuối
cùng giữa cha con nàng. Huyền Trần đinh ninh sẽ có dịp trở
lên núi để được làm lễ xuất gia với đại sĩ rồi về
tìm một chốn sơn thanh thủy tú nào ở miền Hải Dương để
lập am tu hành. Đại sĩ đã hứa cho nàng thọ Bồ Tát giới
xuất gia. Ai ngờ chỉ chỉ hơn hai tháng sau, tại kinh sư nàng
nghe tin đại sĩ viên tịch. Sư huynh Bảo Sát đã cho người
đã cho người về chùa Báo Ân báo cáo đại tang, và từ chùa
Báo Ân, tin Thượng hoàng băng hà đã được đưa vào nội
cung. Đó là vào giữa giờ ngọ ngày mồng ba tháng mười một
năm Mậu Thân. Lúc đó Huyền Trân còn đang ở bên chùa Tư
Phúc với Thị Ngọc. Vua Anh Tông truyền gọi công chúa về
và báo cho nàng biết là Thượng hoàng đã băng giữa khuya
ngày mồng một. Huyền Trân vào đóng cửa ở trong tẩm điện
suốt một ngày một đêm, không gặp mặt ai cũng không ăn
uống gì, và cũng không chịu lên núi Yên Tử để dự lễ
trà tỳ Thượng hoàng. Sáng ngày mồng bốn, hai người anh
của nàng là vua Anh Tông và Huệ Võ Vương Quốc Chẩn cùng
cả triều thần khởi hành từ kinh sư bằng đường thủy
về núi Yên Tử trên sáu chiếc thuyền. Ngày mồng bảy vua
tôi về tới kinh sư rước theo xá lợi của Trúc Lâm đại
sĩ. Sư huynh Bảo Sát cũng theo về trong chuyến này. Ông lưu
lại chùa Tư Phúc một đêm một ngày và cho vời Huyền Trân
để chuyển lại lời di chúc của Thượng hoàng cho công chúa.
Chính tại chùa Tư Phúc mà sư huynh Bảo Sát đã kể cho Huyền
Trân nghe những giờ phút cuối của đại sĩ.
Sư
huynh Bảo Sát kể rằng hồi đầu tháng mười đại sĩ có
về kinh sư thăm bà chị là công chúa Thiên Thụy một lần
mà không ai biết. Ngài chỉ đem theo một vị thị giả, đó
là chú Pháp Đăng. Hai thầy trò đi bộ thong thả cho nên khởi
hành từ ngày mồng một mà tới ngày mồng mười mới đến
kinh sư. Thăm chị xong, đến ngày rằm ngài lên đường về
núi. Trên đường ngài ghé nghỉ đêm tại chùa Siêu Loại,
và hôm sau cũng có ghé chơi chùa Pháp Vân ở Cổ Châu. Theo
chú Pháp Đăng thuật lại thì tại chùa Pháp Vân, ngài có
đề một bài thơ ngũ ngôn trên vách tăng đường. Bài thơ
như sau:
Số
đời, một hơi thở,
Tình
đời, hai biển trăng.
Cung
ma đâu sá kể?
Nước
Phật một trời xuân!
Ngày
mười bảy, ngài ghé nghỉ đêm tại chùa Sùng Nghiêm. Tuyên
Tử hoàng thái hậu, dì của Huyền Trân, lúc bấy giờ đã
xuất gia và đang tu ở am Bình Dương gần đó. Nghe ngài ghé
chùa, bà muốn được thỉnh ngài về am thọ trai. Đại sĩ
nhận lời, cười mà nói: "Có lẽ đây là bữa cơm cúng dường
cuối cùng". Ngủ tại Sùng Nghiêm đêm ấy, sáng ngày mười
tám ngài lại lên đường. Hai vị tỳ kheo chùa Sùng Nghiêm
là Tử Đính và Hoàn Trung đi theo hầu ngài, bởi chú Pháp
Đăng đã được lệnh về núi trước. Thầy trò leo trèo mãi
mới tới được am Tú Lâm ở ngọn An Sinh. Nghỉ ở đó một
lát, ngài bảo hai vị: "Tôi muốn về ngay am Ngọa Vân nhưng
sức chân yếu quá, làm thế nào bây giờ?". Hai vị trả lời:
"Hai chúng tôi xin phù ngài đi". Họ lấy võng đưa ngài lên
tới đỉnh Ngọa Vân. Vào am xong, ngài cám ơn hai vị và nói:
"Các vị xuống núi đi, và về chùa lo tu hành. Đừng cho chuyện
sinh tử là nhàn hạ". Tại am Ngọa Vân lúc bấy giờ chỉ
có hai vị thị giả là Pháp Không và Pháp Đăng. Ngày mười
chín, ngài bảo chú Pháp Không lên am Tử Tiêu gọi sư huynh
Bảo Sát về gấp.
"Tại
am Tử Tiêu, được tin đại sĩ gọi thì trời đã tối, tôi
phải đợi sáng ngày mai mới lên đường. Ai ngờ đi được
nửa đường thì trời nổi cơn giông bão. Mây đen phủ đầy
núi và mưa rơi như thác đổ. Nước suối dâng cao, không có
cách gì vượt qua được. Tối đến, tôi phải vào tạm trú
ở một sơn điếm gần đó. Lòng như lửa đốt, đêm ấy
tôi mộng thấy những điềm bất thường. Sáng dậy thì trời
đã ngớt mưa; mưa nước suối đã xuống thấp và tôi lội
qua được. Trưa ngày hăm mốt, tôi đến được am Ngoạ Vân.
Thấy mặt tôi, đại sĩ nói: "Ta sắp đi rồi, sao người đến
chậm thế? Có chỗ nào trong Phật pháp mà ngươi chưa hiểu
thì hãy hỏi đi". Tôi hỏi: "Ngày xưa khi thấy thiền sư Mã
Tổ trong người bất an, thầy trú trì đến hỏi thăm xem Ngài
cảm thấy thế nào, thì thiền sư nói: "Ngày đối diện Phật,
đêm đối diện Phật. Như thế là ngài muốn nói gì?". Đại
sĩ cao tiếng mắng tôi: "Người cho Ngũ Đế và Tam Hoàng là
vật gì? Tôi mới hỏi tiếp: "Hoa nở rực rở phô mầu gấm,
gỗ phương Nam, tre phương Bắc, là nghĩa làm sao?". Ngài nói:
"Mù mắt ngươi đi. Tôi biết ngài rất sáng suốt và đã chuẩn
bị sẵn sàng nên rất mừng. Tôi với hai chú Pháp Không và
Pháp Đăng ở lại hầu hạ ngài, không dám rời bước khỏi
am. Mấy hôm liên tiếp trời mưa gió âm u và trên núi không
biết tại sao chim kêu vượn hú rất buồn. Đêm mồng một
tháng mười một tự nhiên trời hết mưa gió hết thổi. Tôi
ra ngoài nhìn lên trời không còn một gợn mây, và sao sáng
đầy trời. Lúc đó là đúng nửa đêm. Thấy tôi trở vào,
đại sĩ hỏi: "Giờ này là giờ gì?. Tôi đáp: "Bạch thầy,
giờ Tý". Ngài đưa tay đẩy cửa để nhìn ra khung trời đầy
sao rồi bảo nhẹ: "Đã đến giờ ta đi rồi". Tôi hỏi: 'Tôn
đức định đâu vào giờ này". Ngài đọc bài kệ:
Mọi
pháp đều không sinh
Mọi
pháp đều không diệt
Nếu
hiểu được điều đó
Thì
thấy Phật trước mặt
Không
đến cũng không đi
Tôi
hỏi tiếp: "Còn khi đã bất sinh bất diệt rồi thì sao?",
Ngài xua tay: "Đừng nói mê nữa". Rồi ngài ngồi trong tư thế
sư tử tọa mà hóa. Hai chú Pháp Không và Pháp Đăng khóc nấc
lên, tôi tới ôm vai các chú bảo đừng khóc. Rồi chúng tôi
quỳ bên giường đại sĩ, niệm Phật cho tới sáng.
"Trước
đấy hai hôm, ngài đã có cho di chúc về việc trà tỳ nhục
thân. Ngài bảo ngài không muốn có một lễ quốc táng do triều
đình lo liệu. Ngài là người xuất gia của sơn môn Yên Tử
và ngài muốn chính đệ tử ngài làm lễ hỏa táng ngài trong
một nghi thức thật đơn sơ, Ngài dặn dựng hỏa dàn ngay
tại trong am Ngọa Vân và làm lễ hỏa thiêu ngài trước khi
báo về cho kinh sư biết. Để triều đình sau này không làm
khó dễ sơn môn, ngài đã tự tay thảo di chúc hẳn hoi. Suốt
ngày mồng hai, tôi và chú Pháp Không lo đốn gỗ thơm về
đựng hỏa dàn. Tối ngày mồng hai, sau khi đưa nhục thân
đại sĩ lên hỏa đàn, chúng tôi làm lễ khai hỏa. Am Ngọa
Vân bốc cháy cùng với hỏa đàn. Mùi hương thơm bay lên sực
nức. Chúng tôi nghe như có thiên nhạc trỗi lên vang dội trên
hư không, và phía trên hỏa đàn có một đám mây năm sắc
bay đến bao phủ. Lễ trà tỳ cử hành xong, rạng ngày mồng
ba tôi cho chú Pháp Không về kinh thông báo. Sư đệ tôi là
Pháp Loa từ chùa báo Ân nghe tin lập tức cùng chư tăng lên
núi. Tất cả các thị giả và đệ tử của đại sĩ từ
chùa Báo Ân đều tức tốc trở về. Đến chiều ngày mồng
bốn, Pháp Loa và chư tăng lên tới. Sư đệ Pháp Loa sai nấu
nước thơm rưới lên hỏa đàn và làm lễ thu nhập xá lợi.
Ngọc xá lợi có đủ năm mầu, đếm cả thảy lớn nhỏ trên
năm tram hạt. Tối hôm ấy, vua Anh Tông, Huệ Võ Vương và
đình thần lục tục lên tới. Mọi người vừa lạy vừa
khóc. Tiếng khóc của triều thần vang động cả núi rừng.
"Sáng
hôm sau, vua và triều thần định xuống núi, bắt tôi phải
về theo để tường trình cớ sự. Xá lợi của đại sĩ được
rước về theo thuyền. Trên thuyền, các quan vẫn tiếp tục
khóc thương, tiếng khóc rất ai oán. Có vị tỏ vẻ bất bình
vì tôi và các chú Pháp Không và Pháp Đăng đã dám làm lễ
trà tỳ mà không đợi lệnh triều đình. Họ còn nói là họ
sẽ tâu vua làm tội tôi. Tôi nào có sợ gì, bởi vì tôi chỉ
làm theo di giáo của đại sĩ. Tôi lại đem theo di chúc của
ngài, và về tới kinh đô tôi đã trình lên vua".
Sư
huynh cho Huyền Trần biết là đại sĩ có dặn dò người về
việc lo công chúa được xuất gia. Ngài dặn sư huynh làm lễ
thế độ cho công chúa, cho công chúa thọ xuất gia bồ tát
giới và tìm nơi cho công chúa tu học. Sư huynh bảo là sẽ
nhờ một vị sư đệ của ông là thiền sư Bảo Phác lo lắng
việc này. Công chuá sẽ xuất gia và thọ giới với thiền
sư Bảo Phác ở núi Vũ Ninh và thiền sư sẽ cho công chúa
nhập chúng tu học ở đó cho đến khi kiến thức Phật pháp
của công chúa đã khá vững vàng. Sau đó thiền sư sẽ tìm
một nơi thanh tịnh để công chúa an cư và tiếp tục tu học.
Huyền
Trần đã vâng lời sư huynh Bảo Sát. Chỉ chưa đầy một
tháng sau, nàng đã được xuất gia tại Vũ Ninh và được
học Phật dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Bảo Phác cùng
vơi một số các vị tân ni khác. Nàng được thiền sư Bảo
Phác cho pháp danh là Hương Tràng. Ni Sư Hương Tràng nhờ bản
tính thông tuệ cho nên học Phật rất mau chóng. Bà rất được
các bạn ni sinh quý mến. Tháng mười năm sau, bà được thiền
sư Bảo Phác cử về chùa Hổ Sơn. Bà đã xin với thiền sư
để đem sư muội của bà là Hương Nghiêm đi theo. Về tới
Hổ Sơn được ba tháng, hai chị em thỉnh được Ni Sư Tĩnh
Quang và Ni Sư Đàm Thái về nhập chúng. Tôn trọng Ni Sư Tĩnh
Quang là bậc tiền bối và tu học lâu hơn bà tới mười năm,
Hương Tràng mời bà đứng lên làm giám viện của chùa này.
Sư
huynh Bảo Sát từ hôm ấy đã trở lại am Tử Tiêu trên núi.
Chỉ mới năm ngoái đây thôi, ông đã phải rời am Tử Tiêu
để về chùa Báo Ân lo việc khắc kinh. Vua Anh Tông nhân dịp
này ban hành danh hiệu quốc sư cho ông và cho cả sư đệ ông
là thiền sư Bảo Phác. Hương Tràng biết là thiền sư Bảo
Sác không ưa gì cái danh hiệu quốc sư và sở dĩ ông phải
rời am Tử Tiêu cũng bởi vì công việc san khắc Đại tạng
kinh không thể trông cậy vào một ai khác. Theo nhận thức
của bà thì trinh độ học Phật và tu chứng của thiền sư
Bảo Sát rất thâm sâu. Chính tay sư huynh đã biên tập sách
Trúc Lâm Đại Sĩ Thực Lục nhưng ông không ký tên tác giả.
Sách này nói về cuộc đời và sự nghiệp hành đạo của
Thượng hoàng. Ông đã nhờ thiền sư Huyền Quang duyệt
lại bản thảo trước khi cho khắc bản. Những điều thiền
sư Bảo Sát kể lại đều được ghi chép trở lại trong sách.
Mới vừa hôm qua, Hương Tràng được đọc lại đoạn ấy
và lần này bà đã trục nhận được tình sư đệ thâm sâu
giữa hai thầy trò Trúc Lâm và Bảo Sát. "Khi thiền sư Mã
Tổ bệnh, viện chủ hỏi ngài cảm thấy trong người thế
nào? Mã Tổ đáp Ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật".
Nào phải là sư hynh không hiểu được điều đó. Sư huynh
đem hỏi cốt là để dò xem trong giờ phút sắp nhập diệt,
đại sĩ có vững chãi an trú trong chính niệm không. Đại
sĩ biết ý mới mắng sư huynh: "Ngươi nghĩ Ngũ Đế Tam Hoàng
là vật gì?". Có ý nói rằng nhà ngươi coi thường ta quá.
Bảo Sát đã mừng, nhưng muốn cho chắc ý hơn nữa nên hỏi
thêm câu "tre Nam gỗ bắc ..." Đại sĩ bảo: "Mù mắt ngươi
đi" - Ngài có ý nói rằng pháp thể chân như vẫn hiện tiền
mầu nhiệm trước mắt ngài, và người đệ tử thân yêu
đừng có nên trêu ghẹo ...
Trong
một thời gian, Hương Tràng đã cảm thấy rất cơ đơn, nhất
là sau khi bà nghe tin về cuộc viễn chinh của quân Đại Việt
trên đất Chiêm Thành. Nền hòa bình mà đại sĩ đã xây dựng
lên bằng cả tâm não của ngài và trong đó Hương Tràng đã
đóng góp bằng cả cuộc đời mình, nền hòa bình đó ngắn
ngủi và mong manh quá. Chỉ ba năm sau ngày Thượng hoàng băng,
người ta đã gây lại cảnh binh đao giữa hai nước, đi ngược
với ý chí của vị lãnh đạo tinh thần của cả nước. Ba
năm đủ để xong thời kỳ tang chế. Cả hai người anh ruột
của bà, vua Anh Tông và Huệ Võ Vương, đều có mặt trong
cuộc viễn chinh. Không biết họ có nghĩ đến Thượng hoàng
mà không làm theo được ý nguyện của ngài, trông cậy gì
đến kẻ khác. Theo những điều bà đã được nghe thì chính
vua Anh Tông cầm một đạo quân đi đường đồng bằng, còn
anh Quốc Chẩn cầm một đạo quân đi đường núi. Thủy quân
thì do tướng Trần Khánh Dư điều khiển. Cuộc xâm lăng này
đã được chuẩn bị trước đó khá lâu, và viên trại chủ
Câu Chiêm của nước Chiêm Thành đã hứa làm nội ứng. Vua
Chế Chí tin lời vua Đại Việt đi thuyền từ Vijaya đến
trại Câu Chiêm để làm lễ thần phục, mong mua lấy hòa bình.
Ai ngờ đến nơi thì bị bắt. Quân Đại Việt đưa em của
vua Chàm là Chế Năng lên coi việc nước và thiết lập nền
đô hộ trên nước Chiêm Thành. Vua Chế Chí được áp giải
về Thăng Long rồi đưa đi giam lỏng ở hành cung Gia Lâm. Để
làm dịu bớt nỗi hận thù của người Chàm, vua Anh Tông ban
cho vị vua cũ của Chiêm Thành tước hiệu là Hiệu Trung Vương.
Một ông vua bị tù đày như thế thì cần gì tước hiệu?
Hương Tràng biết rõ con người của vua Chế Chí. Hồi còn
ở Chiêm, bà nhận thấy Chế Chí là một người con trai đôn
hậu hiền lành. Chế Chí không có tài vũ dũng của cha nhưng
lại có tình nghĩa. Trong con người có lưu chảy dòng máu Qua
Oa, bởi hoàng hậu trước của vua Chế Mân là người xứ
này. Biết vua Chế Chí đang bị an trí ở hành cung Gia Lâm
nhưng Hương Tràng không dám đi thăm. Thăm hỏi làm gì, bà
có quyền lực gì trong triều đình, một triều đình mà bà
cảm thất rất xa lạ? Thăm hỏi chi để thêm chua xót cho cả
hai bên. Những gì mà cha con bà xây dựng đã đổ nát tan tành
trong giây phút. Hương Tràng nghe nói gần đây vì phẩn uất
về việc Chế Chí bị tù đày trên đất Việt, dân Chàm đã
nổi lên đánh phá ở miền biên giới. Mộng ước hòa bình
giữa hai nước còn đâu?
Từ
ngày đi đánh Chiêm về, anh Quốc Chẩn của bà không về núi
thăm bà nữa. Có lẽ anh ấy sợ ngượng với bà chăng? Không.
Huệ Võ Vương chỉ là thiên lôi, chỉ đâu đánh đó. Anh ấy
không có đủ sức để có thể suy tư và hành động độc
lập, nhưng còn vua Anh Tông, anh Thuyên của bà đâu có phải
là một người thiếu óc phán đoán? Bà nghĩ đên những vị
cận thần trong triều như Đoàn Nhữ Hài và Trần Khắc Chung
mà thở dài. Nhưng nỗi cô đơn của Hương Tràng đột nhiên
tan biến khi bà nghĩ tới những người như su huynh Bảo Sát.
Đại sĩ tuy đã viên tịch nhưng công trình của người không
phải là đã dứt đoạn. Hình bóng sư huynh Bảo Sát ngồi
trên am Tử Tiêu vẫn làm ấm lòng bà ... Trong triều ngoài
họ còn biết bao nhiêu người thấy được con đường mà
đại sĩ đã vạch ra. Hương Tràng nghe nói rằng chính ở chốn
triều cung cũng có nhiều người chống đối cuộc viễn chinh
Chiêm Thành, trong đó có cả Minh Hiện Vương, con trai út của
vua Thái Tông ngày xưa. Tuệ giác và đức hiếu của đại
sĩ, nghĩ cho kỹ, vẫn còn được tiếp nối ở mọi nẻo đường.
Hương
Tràng tự dưng chú ý đến hơi thở của mình. Bà cảm thấy
bà thở cho bà mà cũng thở cho Trúc Lâm đại sĩ. Thì ra trên
núi Hổ Sơn từ lâu nay không lúc nào mà bà không thở những
hơi thở của pháp thân đại sĩ. Bà biết trên đất nước
này còn có nhiều người như bà, khắp nơi, đang nối tiếp
con đường giác ngộ của đại sĩ. Chú Pháp Đăng hiện giờ
ở đâu không biết, nhưng chắc chú cũng đang như bà, đang
thở một nhịp với vị sơn tăng trên núi Yên Tử. Năm nay
chú đã mười bảy hay mười tám tuổi gì đó rồi. Chưa đến
tuổi thọ giới tỳ kheo, nhưng chắc chú đã tiến bộ nhiều
trên bước đường tu học. Hương Tràng chợt thấy lại hai
bàn tay của chú đang vọc nước trên giòng Hồ Khê. Đồng
thời bà cũng thấy hiện ra trong trí hình ảnh bàn tay nhỏ
xíu của đứa hài nhiều em trai thằng cu Lợi. Hôm mồng mười
vừa qua, bà đã xuống núi thăm u thằng cu Lợi và đứa bé,
và đã trông thấy hai bàn tay ấy. U thằng Lợi xin bà cho em
bé sơ sinh một cái tên. Bà hứa sẽ cho nó một cái tên. Lợi
đã cho bà biết là bà Tư có đề nghị đặt cho em nó tên
Đa, Lê Văn Đa, nhưng u nó chưa chịu, cứ nằng nặc đòi Ni
Sư ban cho một cái tên cho thật đàng hoàng. Cái tên Đa cũng
hay đấy chứ. Trong óc của bà Tư, đó là hình ảnh của sự
thịnh mầu, giàu có và hạnh phúc. Đa tư, đa tôn, đa phú
quý. Trong khi đó cái âm Đa gợi lên trong trí Hương Tràng
những hình ảnh khác. Trước hết là hình ảnh thằng bé sinh
ra trong lúc chuông trống vang rền chào đón giờ Đản sinh
của một người ngày xưa tên Tất Đạt Đa. Rồi đến một
hình ảnh khác, hiện thực như núi sông và xa xôi như một
tiền kiếp: Đó là hình ảnh của Dayada, con của bà, hiện
thời không biết luân lạc nơi nào. Giọt máu ấy, dầu còn
hay mất vẫn là chứng tích của tình hữu nghị, lòng thương
yêu và ý chí xây dựng hòa bình. Cả hai cái tên đều mang
âm vận "đa" trong lòng chữ. Cái cảnh u thằng cu Lợi cho con
bú, Hương Tràng đã chứng kiến cách đây mươi hôm, nhưng
sáng hôm nay đi trên con đường xuống núi này với người
sư muội, bà mới thực sự trông thấy. Hình ảnh bàn tay nhỏ
xíu của đứa bé đang bám chặt vào vú mẹ làm cho Hương
Tràng thấy rõ mặt mũi của vạn hữu trong liên hệ duyên
sinh. Đức Phật Đản sinh năm xưa ở thành Ca Tỳ La cũng là
em bé giờ đây đang áp đầu vào vú mẹ. Hình bóng Dayada xa
xôi bỗng nhiên cũng trở về đồng nhất với đứa bé. Hương
Tràng có cảm giác chính mình, ngay trong giờ phút này, đang
đưa ngực mình cho em bé bú. Bà thấy bà và u thằng Lợi là
một. Bà thấy người đang đi trên núi và người đang cho
con bú là một. U thằng Lợi đang cho em bé bú, nhưng người
Ni Sư cảm thấy như sữa đang chảy từ ngực mình. Bao nhiêu
ý thức phân biệt giữa quyền quý và bần hàn, giữa quá
khứ và hiện tại, giữa phương Bắc và phương Nam đột nhiên
tan biến như sương sớm dưới anh mặt trời. Cảnh tượng
u thằng cu Lợi vạch yếm cho con bú đã trở về và giúp cho
người sư nữ thoát nhiên siêu việt được cái hố thẳm
sinh tử. Hương Tràng nhu một con chim vừa tung rách được
chiếc lưới thời gian, bay thoát lên không gian tự do.
Hương
Tràng vẫn đi những bước chậm rãi bên cạnh người sư muội
trẻ tuổi. Chắc hẳn Hương Nghiêm không thấy được ánh
hào quang vừa lóe sáng trong tâm người sư tỷ. Hương Nghiêm
vừa hỏi Hương Tràng câu hỏi về nội dung buổi công phu
khuya. Hương Tràng chưa kịp trả lời. Thời gian hình như không
còn hiện hữu đối với bà. Bà muốn chia xẻ niềm vui và
cái thấy mà mình vừa đạt được với người em đồng đạo,
nhưng bà bỗng nhận thấy rằng Ni Sư Hương Nghiêm còn trẻ
quá. Hương Nghiêm là một cô gái thông minh và có căn cơ linh
lợi, nhưng cô vẫn còn là một đứa em gái ưa được nuông
chiều. Từ hai năm nay, Hương Nghiêm nuôi mộng ước là được
đi viếng núi Yên Tử với Hương Tràng. Cô đã nghe vị sư
tỷ kể lại chuyện du hành của bà cùng với Trúc Lâm đại
sĩ và sư bá Bảo Sát trên những ngọn núi danh tiếng kia,
và ước ao được lên viếng núi trong một hoàn cảnh tương
tự. Đại sĩ tịch rồi, chú Pháp Đăng không biết hiện giờ
đang tu học ở đâu, nhưng được đi núi với Hương Tràng
và được Hương Tràng hướng dẫn trong khi thăm viếng từng
am tranh, từng dòng suối và từng tảng đá trên ấy, đó thật
là chuyến du hành mà cô mong ước. Cô đã có nhiều dịp để
đi lên núi hành hương, nhưng cô đã không đi bởi vì cô chỉ
muốn lên núi theo điều kiện mà lòng cô đòi hỏi, cô nghĩ
chỉ khi đi với Hương Tràng cô mới có hy vọng tìm thấy
khung cảnh ngày xưa. Hương Tràng thì lại không muốn đặt
chân lên núi Yên Tử nữa. Bà đã từng có cảm tưởng rằng
không có Trúc Lâm đại sĩ trên đó thì Yên Tử không còn
là Yên Tử của bà. Nhất là khi bà nghe nói hiện giờ trên
ấy chùa tháp đã được tạo lập nhiều nơi và tiền của
đã đổ ra để cho cung vàng điện ngọc được dựng lên
khắp chốn. Bà biết rằng am Ngọa Vân ngày nay không còn nữa
và trên nền am người ta đã xây tháp Huệ Quang để thờ
xá lợi của đại sĩ. Cạnh đấy, người ta đã xây dựng
lên một ngôi chùa lấy tên là chùa Vân Yên. Am Long Động
cũng đã được xây thành chùa và vì mỗi năm có tới hàng
mấy trăm vị tăng sĩ ghi tên nhập hạ cho nên người ta đã
xây cất chùa chiền và tăng xá trên núi rất nhiều. Không
muốn làm đổ vỡ núi Yên Tử linh thiêng trong tâm mình, Hương
Tràng đã từ bao nhiêu năm nay không chịu đặt chân lên núi,
và cũng vì vậy, bà vẫn chưa chìu theo được ý muốn của
pháp muội mình. Nếu Hương Tràng chưa từ chối hẳn việc
này, đó cũng là vì bà còn ái ngại và không muốn làm cho
người em đồng sư thất vọng.
Nhưng
cái thấy hôm nay chợt đến trong tâm bà đã khiến cho bà
mở rộng tầm kiến thức. Tất cả những cội cây và hạt
sỏi trên núi Hổ Sơn này đối với bà đã trở nên mầu
nhiệm và mang hình ảnh thiêng liêng của Yên Tử ngày ấy.
Đại sĩ không những có mặt ở Yên Tử ngày xưa mà còn có
mặt ở Hổ Sơn hôm nay. Dayada còn đó, là vì thằng Lê Văn
Đa còn đó, Tất Đạt Đa còn đó cũng vì thằng Lê Văn Đa
còn đó. "Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia
sinh". Bà chăm sóc cho thằng Đa tức là đồng thời chăm sóc
cho Dayada mà cũng là săn sóc cho Đức Phật sơ sinh. Hơi thở
của Đa là hơi thở của chính đại sĩ, và bên cạnh bà,
người sư muội tên Hương Nghiêm cũng đang thở những hơi
thở của đại sĩ. Hương Tràng bỗng nhiên thấy mình có khuynh
hướng muốn cưng chiều người sư muội. Bà thấy thái độ
ngày xưa của mình là hẹp hòi. Hình ảnh thiêng liêng của
núi Yên Tử trong lòng bà không thể nào sụp đổ. Hình ảnh
đó bất diệt như pháp thân của đại sĩ. Bà có đức tin
rằng dù bây giờ chùa tháp đã dựng lên khắp núi và dù
người viếng núi có đông đúc đến chừng nào đi nữa, bà
vẫn có thể tìm lại Yên Tử Sơn của ngày xưa và vẫn có
thể đưa người sư muội của bà vào thẳng thế giới tâm
linh cao khiết của người đại sĩ am Ngọa Vân ngày trước.
Hương
Tràng lên tiếng:
- Tháng
tám này, khi mùa an cư đã mãn và núi Yên Tử đã bớt người,
chị sẽ đưa em về thăm núi.
Ni
Sư Hương Nghiêm ngẩn ngơ. Cô không hiểu vì sao mình vừa
hỏi một câu hỏi về buôi công phu sáng mà lại được Ni
Sư Hương Tràng trả lời một câu về chuyến du hành núi Yên
Tử. Nhưng vì không có thì giờ để thắc mắc lâu. Cô chỉ
thấy lòng cô tràn đầy niềm hân hoan sung sướng. Chị Hương
Tràng đã thương cô, đã chiều cô. Điều ấy là điều quan
trọng nhất. Trong khi đó, Hương Tràng nghĩ đến những đám
mây la cà trên đỉnh Ngọa Vân. Xung quanh cái am tranh đó, mỗi
chiều, có nhiều đám mây tụ họp lại và bao phủ lấy am.
Mây về am để ngủ. Nhưng người trong am không ngủ. Người
trong am đang ngồi thiền định. Tuy đất trời và non sông
còn chìm trong bóng tối, người ngồi trong am vẫn trông thấy
những gì đang xảy ra ở kinh đô, ở biên giới miền Bắc,
ở biên giới miền Tây và ở biên giới miền Nam. Người
ngồi trong am đang lấy hào quang định lực của mình mà quán
chiếu trong và ngoài, trên và dưới. Ở Ngọa Vân am, mây ngủ
nhưng người còn thức. Hương Tràng cảm thấy tâm hồn rung
động. Bà nghĩ có thể đặt tên cho em thằng cu Lợi là Thức.
LỜI
BẠT
Am
Mây Ngủ tuy là một truyện ngoại sử nhưng nó không có tính
cách truyện giả sử mà trái lại rất gần với chính sử.
Năm tháng và những dữ kiện lịch sử trong truyện đều phù
hợp với chính sử. Sách Tam Tổ Thực Lục mà tác giả sử
dụng đã bổ khuyết được nhiều cho các bộ quốc sử và
đính chính lại những điểm ghi chép sai lầm trong các bộ
này.
Sách
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói rằng: "vua Chế Mân băng vào
tháng năm năm Đinh Mùi, và mãi đến tháng mười năm ấy quan
Thượng Thư Tả Bộc Xa là Trần Khắc Chung và quan An Phủ
Sứ Đặng Vân mới khởi hành qua Chiêm để đón công chúa
và thế tử Đa Gia về, bởi vì theo tục nước Chiêm Thành,
hễ vua chết thì hoàng hậu phải lên hỏa đàn chết theo".
Thực ra, hỏa đàn của vua theo đúng tục lệ Chiêm Thành,
được tổ chức bảy ngày sau khi vua băng. Khởi hành từ Thăng
Long vào tháng mười một, như vậy là đã hơn sáu tháng trôi
qua ngày vua lên đàn hỏa. Người Chiêm đã để cho Huyền
Trân sống cho tới ngày sứ giả Đại Việt qua tới, điều
đó chỉ có thể giải thích bằng thái độ e dè của người
Chiêm không muốn gây nỗi bất bình với vua Đại Việt. Khi
người Đại Việt cướp công chúa về, không phải là người
Chiêm không đuổi theo bắt lại được. Họ là những thủy
thủ rất thiện nghệ. Nhưng họ đã để cho công chúa đi
thoát. Những dữ kiện trên đáng làm cho ta suy nghĩ.
Thái
tử Chế Đa Gia nhất định là con của công chúa Huyền Trân,
nếu không thì tại sao vua Đại Việt ra lệnh cho Trần Khắc
Chung và Đạng Vân đón thái tử về cùng với công chúa? Nhưng
người Chiêm đã cố tình giữ thái tử Chế Đa Gia lại, vì
thái tử là thuộc về dòng họ của vương quốc Chiêm Thành.
Vì lẽ đó mà các quan đã không bắt theo được thái tử
Chế Đa Gia.
Sách
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có thể nói đến vụ Trần Khắc
Chung "tư thông vói công chúa rồi loay hoay ở đường biển
lâu ngày mới về đến kinh sư". Vụ này có thể là do miệng
lưỡi xấu xa thêu dệt. Trần Khắc Chung đâu phải đi Chiêm
một mình. Bên cạnh ông còn có quan An Phủ Sứ Đặng Vân
và cả một thủy thủ đoàn mà ta biết chắc là đông đảo.
Sách
Đại Việt Sử Ký lại còn nói rằng sau khi Trúc Lâm đại
sĩ mất, trong triều đình có người xin vua làm tội thiền
sư Pháp Loa, vì thiền sư đã dám làm lễ hỏa thiêu Thượng
hoàng mà không cho vua và triều thần hay biết. Thực ra, người
đứng ra dựng hỏa đàn là thiền sư Bảo Sát. Lễ khai hỏa
đàn cử hành đêm mồng hai tháng mười một mà tới ngày
mồng bốn thiền sư Pháp Loa mới lên tới núi Yên Tử. Nếu
bắt tội thì bắt tội Bảo Sát chứ sao lại bắt tội Pháp
Loa. Sách Tam Tổ Thực Lục cho ta biết chính Trúc Lâm di chúc
cho Bảo Sát làm lễ hỏa táng ngài ngay tại am Ngọa Vân trước
khi báo tin về triều đình biết.
Sách
Tam Tổ Thực Lục nói rằng khi vua Nhân Tông mới sinh, sắc
mặt vàng như hoàng kim, nên vua Thánh Tông yêu quý gọi thái
tử là "Kim Phật". Tác giả sách Đại Việt Sử Ký, một nhà
Nho không ưa Phật, nói rằng "Ở trong hai cung, mọi người
gọi thái tử là "kim tiền đồng tử". Những chi tiết như
vậy, tuy nhỏ nhặt, cũng làm giảm đi ít nhiều giá trị của
bộ sử.
Tác
giả Truyện Am Mây Ngủ chưa được viếng núi Hổ Sơn, chỉ
nhờ đọc sách Đại nam Nhất Thống Chí cho nên biết được
rằng công chúa Huyền Trân sau khi về nước đã lên tu ở
đây, và nhờ đọc bài L'Inscription Chame de Po Sah của E. Aymoneir
(Bull Comm. Archeol, Indochine 1911) cho nên biết được rằng hồi
mới về Chiêm, công chúa được vua Chế Mân ban hiệu là Paramesevari
và việc này đã được khắc vào bia Po Sah.
Trúc
Lâm đại sĩ và công chúa Huyền Trân đã "lỡ" thương người
Chàm cho nên mới muốn sống hòa bình với dân tộc Chàm. Vì
thương, họ đã mở rộng trái tim để đón nhận một dân
tộc anh em. Cái ta nhỏ hẹp trở thành cái ta rộng lớn.
Ai
mà không muốn cho các dân tộc Đông Dương sống với nhau
như anh em một nhà. Nhưng vũ lực không chinh phục được tình
huynh đệ. Chỉ có lòng thương mới chinh phục được tình
huynh đệ.
NIÊN
BIỂU
1291
Tuệ Trung Thượng Sĩ mất.
1292
Thái tử Thuyên được lập làm Hoàng thái tử.
1293
Thái tử lên ngôi, hiệu Anh Tông, mười tám tuổi. Nhân Tông
làm Thái thượng hoàng. Em Anh Tông là Quốc Chẩn, mười ba
tuổi, được phong làm Huệ Võ Vương. Thái hậu Khâm Từ băng.
1295
Vua Nhân Tông thực tập xuất gia ở hành cung Vũ Lâm.
1299
Vua Nhân Tông xuất gia ở núi Yên Tử, đạo hiệu Trúc Lâm
đầu đà.
1300
Hoàng tử Mạnh sinh.
1301
Trúc Lâm đầu đà du hành sang Chiêm Thành, hứa gã công chúa
Huyền Trân cho Chế Mân. Trần Quang Triều được phong làm
Văn Huệ Vương. Hội Vô Lượng được tổ chức ở chùa Phổ
Minh gần cung Thiên Trường để thuyết pháp và chẩn cấp
tiền, lụa cho người nghèo trong nước.
1304
Trúc Lâm du hành trong nhân gian, thuyết pháp và khuyên dân thực
hành thập thiện. Trúc Lâm cho Pháp Loa xuất gia. Vua Anh Tông
thọ Bồ Tát tâm giới.
1305
Pháp Loa thọ giới tỳ khưu tại Kỳ Lân Viện. Huyền Quang
xuất gia với Bảo Phác. Sứ Chiêm sang làm lễ cầu hôn công
chúa Huyèn Trân.
1306
Pháp Loa được lập làm giảng sư chùa Siêu Loại. Bảo Phác
đưa Huyền Quang tới làm thị giả cho Trúc Lâm. Công chúa
Huyền Trân về Chiêm.
1307
Trúc Lâm kết hạ tại am Ngọa Vân và dạy Đại Huệ Ngữ
Lục cho Pháp Loa và bảy vị đệ tử khác. Vua Chế Mân băng.
Trần Khắc Chung và Đặng Vân qua Chiêm cứu công chúa Huyền
Trân, sợ công chúa bị hỏa thiêu.
1308
Trúc Lâm làm lễ ủy Pháp Loa kế thế trụ trì chùa Báo Ân
trước mặt vua Anh Tông và triều thần. Tuyên Từ thái hậu
xuất gia, thọ Bồ Tát giới với Pháp Loa. Huyền Trân về
nước. Trúc Lâm đại sĩ tịch. Bảo Sát làm lễ hỏa thiêu
Trúc Lâm tại Ngọa Vân Phong. Pháp Loa làm niêm tụng cho sách
Thạch Thất Mỵ Ngữ của Trúc Lâm.
1309
Rước xá lợi Trúc Lâm từ đại nội về Lăng Quy Đức bằng
thuyền. Trai đàn lớn được tổ chức cho Trúc Lâm.
1311
Bảo Sát được lệnh tục san Đại Tạng Kinh. Huyền Quang
trình kiến giải lên pháp Loa. Đại Việt đánh Chiêm. Vua Chế
Chí bị bắt, đem về Đại Việt.
1312
Anh Tông mời Pháp Loa vào chùa Tư Phúc trong đại nội giảng
Đại Tuệ Ngữ Lục. Vua cử Pháp Loa phát năm vạn quan tiền
và lụa cho kẻ nghèo.
1311
Vua Chế Chí mất tại chùa hoàng cung Gia Lâm. Anh Tông sai trùng
tu chùa Báo Ân, xuống chiếu lập tang tịch và quy định tăng
chức trong thiên hạ. Hoàng hậu Bảo Từ cúng ba trăm mẫu
ruộng vào chùa Báo Ân.
1314
Đại Tạng Kinh hoàn thành. Bản in đầu an trí tại chùa Báo
Ân. Chùa Báo Ân, và Phật điện, tạng kinh và tăng đường
đếm được ba mươi sở. Hoàng tử Mạnh lên ngôi hiệu là
Minh Tông, mười lăm tuổi. Anh Tông làm Thái Thượng Hoàng.
1316
Anh Tông thọ tại gia bồ tát giới.
1317
Huệ Võ Vương được gửi đi đánh Chiêm Thành. Vua Chế Năng,
em của vua Chế Chí chạy về quê mẹ ở Qua Oa (Java).
1318
Anh Tông mời Pháp Loa về Thường Lạc am ở cung Thiên Trường
để giảng Truyền Đăng Lục và Tuyết Đậu Ngữ Lục. Anh
Tông ban cho Pháp Loa hiệu Phổ Tuệ Tôn Giả. Vua Minh Tông xuống
chiếu triệu một vị tăng Ấn Độ tên Ban Để Đa Ô Sa Thất
dịch kinh bách Tán Cái Thần Chu. Thái hậu Tuyên Từ băng.
1319
Đói. Vua Minh Tông nhờ Pháp Loa tổ chức cứu trợ. Huệ Võ
Vương Quốc Chẩn mời Pháp Loa về phủ An Hoa giảng Đại
Huệ Ngữ Lục.
1320
Anh Tông băng.
1321
Hoài Ninh Hầu đúc tượng Quan Âm Thiết Phủ Thiên Nhãn và
viết bài bạt cho Đại Tạng Kinh. Quốc Chẩn thọ tại gia
bồ tát giới ở chùa Sùng nghiêm.
1322
Pháp Loa viết sách Tham Thiền Yếu Chỉ, được ban hiệu Minh
Giác, Giáo Hội Trúc Lâm đúc 1,000 tượng Phật. Văn Huệ Vương
Quang Triều xuất gia với Pháp Loa.
1324
Chùa Quỳnh Lâm có hơn 1,000 mẫu ruộng và 1,000 tịnh nhân
làm ruộng. Huệ Túc Vương Đại Niên đem quân đánh Chiêm
Thành thất bại, phải rút quân về. Chiêm Thành khôi phục
nền độc lập.
1330
Pháp Loa tịch.
1377
Vua Duệ Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành bị phục kích chết
trong thành Trà Bàn. Quân Đại Việt thua lớn. Cuối năm, chiến
thuyền Chế Bồng Nga ra Thăng Long.