Thảm
họa sóng thần vào cuối tháng 12 năm 2004 vừa qua tại các
nước Đông Á là một trong những thiên tai khủng khiếp nhất
trong lịch sử loài người. Với con số 160.000 người chết
và hàng chục ngàn người mất tích, một lần nữa con người
lại thấy tính chất nhỏ bé của mình trước sức mạnh của
thiên nhiên.
Thật
ra thiên tai này chưa phải là thảm họa lớn nhất. Trong thế
kỷ 20, nhiều trận động đất lớn tại Trung Quốc, sóng
thần ở Nhật Bản cũng đã tàn hại sinh mạng hàng trăm ngàn
người. Thế nhưng tai họa sóng thần lần này xảy ra trong
một bối cảnh mới. Đó là nó nằm trong thời đại của
thông tin toàn cầu. Vì thế, mỗi cảnh tượng nhỏ nhặt nhất
cũng đều được ghi nhận và lặp lại hàng chục lần trên
truyền hình, vào tận phòng khách của mọi gia đình trên thế
giới. Một lý do khác không kém phần quan trọng khác là vùng
bị nạn vốn là nơi mà du khách phương Tây yêu thích và đến
nghỉ ngơi trong mùa đông. Do đó tin tức phóng sự về các
vùng bị nạn, các thảm cảnh của người chết, người mất
tích tại miền Nam Á càng trở nên gần gũi bức xúc hơn với
phần còn lại của thế giới. Trong thời đại của toàn cầu
hóa, người ta cảm thấy thế giới hầu như nhỏ bé lại,
mỗi tai họa xảy ra bất kỳ ở đâu cũng liên hệ thiết
thân đến chính mình.
Một
biến cố thảm khốc như thế hẳn phải sinh ra nhiều phản
ứng, nhiều cảm nhận, suy tư trong tâm tư con người. Việc
đáng ghi nhận đầu tiên là phong trào vận động cứu trợ
đã được phát động nhanh chóng và được sự hưởng ứng
mạnh mẽ. Ngoài ngân sách viện trợ của các chính phủ, số
tiền đóng góp của tư nhân đã lên đến mức kỷ lục. Người
ta cảm thấy một tình cảm liên đới với người lâm nạn,
nhất là khi nạn nhân không phải chỉ là người bản xứ
mà gồm mọi màu da, quốc tịch, tôn giáo khác nhau. Lòng đoàn
kết thương yêu giữa người với người trước họa thiên
nhiên chưa bao giờ được thể hiện rõ nét trong thảm họa
vừa qua.
Song
song với những dầu hiệu đáng mừng đó, những thảm cảnh
này cũng sinh ra nhiều cảm nhận và suy tư về một khái niệm
mà nhiều tôn giáo gọi là "Thượng Đế". Trước những cảnh
chết chóc đau thương của người dân vô tội, kể cả của
trẻ con, người ta bật ra câu hỏi "Tại sao Thượng Đế lại
cho phép những điều này xảy ra?". Trong thời gian qua, câu
hỏi này bỗng nhiên trở nên thời sự, làm nhiều người
trăn trở quan tâm. Dĩ nhiên, đối với người tin có một
vị Thượng Đế toàn năng sáng tạo ra thế giới và con người
thì đây là một vấn đề vô cùng nghiêm túc.
Vấn
đề được đặt ra rất hữu lý: tại sao Thượng Đế tối
cao đã sáng tạo ra loài người nhưng lại để cho những cảnh
bi thương và oan uổng lại xảy ra. Phải chăng Ngài muốn trừng
phạt chính những kẻ do Ngài tạo dựng? Về câu hỏi này
ta được nghe nhiều cách lý giải khác nhau. Người thì cho
rằng động đất hay hải chấn chỉ là một hiện tượng
bình thường của thiên nhiên, chỉ vì cách sống (gần biển)
của con người, các hiện tượng đó mới thành hiểm họa.
Lỗi của người chứ không phải của Thượng Đế ! Có người
tin rằng Thượng Đế không thể cứu giúp hết nỗi khổ của
con người, nếu được thì Ngài đã dẹp bỏ luôn cả bản
thân cái chết mất rồi. Có kẻ cho rằng Thượng Đế thì
toàn thiện nhưng con người bất toàn vì không chịu nghe lời
Ngài... Thế nhưng, tất cả đều không trả lời rốt ráo
được vấn đề trên bởi lẽ Thượng Đế được xem là
một vị toàn thiện toàn năng, nếu muốn Ngài vẫn có thể
cứu giúp được. Nhiều người khác thấy không thể có một
câu giải đáp thỏa đáng với khái niệm Thượng Đế, họ
khuyên hãy khiêm cung nhẫn nhục trước sức mạnh của thiên
nhiên.
Ở
một chân trời tôn giáo khác, một số giáo sĩ có vẻ cực
đoan hơn. Vài giáo sĩ Hồi giáo cho rằng Thượng Đế đã
trừng phạt thực sự vì con người trong các vùng bị nạn
quá sa đọa, vì nơi đó lan tràn các loại "tình dục bất
chính". Dĩ nhiên các vị này cũng khó thuyết phục được
những người khác vì trong số người chết cũng có vô số
trẻ con, chúng đã biết gì về tình dục. Qua đó người ta
chỉ thấy các vị giáo sĩ này có một tâm hồn lạnh lùng
với nỗi khổ đau của người đời, xa lạ với với đạo
lý thông thường.
Tuy
nhiên điều đáng ghi nhận nhất là, trong vấn đề nói trên,
người hỏi cũng như kẻ trả lời, người có lý giải này
hay lý giải khác, tất cả đều có chung một khẳng định.
Đó là niềm tin cho rằng có một vị Thượng Đế sáng tạo
ra muôn vật và có toàn năng trên số phận của những gì
mình tạo ra. Qua biến cố bi thảm vừa qua tại Đông Á, niềm
tin này bị thử thách nặng nề vì không có lời giải thích
nào nghe ra thỏa đáng. Thậm chí nhân biến cố này có nhiều
người muốn "chứng minh không có Thượng Đế". Có người
cho rằng nội sự hiện diện của cái dữ, cái ác đã chứng
minh không thể có Thượng Đế. Từ một thảm họa thiên nhiên
đã bùng ra một cuộc tranh luận hàn lâm về một đề tài
thuộc phạm vi thần học, siêu hình.
Thật
ra, cái khổ cái xấu cái ác vẫn luôn luôn hiện diện trong
thế giới loài người, không đợi thảm họa sóng thần ta
mới biết đến nó. Ai cũng biết mỗi ngày có hàng ngàn trẻ
em Phi châu phải chết vì thiếu ăn trong lúc các nước phương
Tây sống trong cảnh thừa mứa thực phẩm. Các cuộc chiến
tranh diễn ra liên tục trên thế giới, chúng giết hại hàng
triệu người nhân danh những giá trị do con người tự nghĩ
ra, có lúc nhân danh cả Thượng Đế. Không những thế, người
ta còn cho rằng thế kỷ 21 sẽ là thời đại của các cuộc
khủng hoảng to lớn, là cuộc chạm trán chết người giữa
các nền tôn giáo.
Phải
chăng các nền tôn giáo với các Thượng Đế độc thần của
họ, thay vì đem lại hạnh phúc và tình thương, đang trở
thành mối nguy cho loài người. Các lời giải thích khác ngược
nhau về nạn sóng thần cho thấy mối lo này không phải là
hoàn toàn vô căn cứ. Nguy cơ đích thực của con người có
lẽ là tôn giáo nào cũng muốn "chứng minh" những niềm tin
của mình là đúng, Thượng Đế của mình là có thật. Một
thứ nguy cơ khác đã xảy ra trong thế kỷ thứ 20 là quan niệm
cho rằng Thượng Đế không có thật và tôi phải dùng mọi
cách, kể cả bạo lực, để loại bỏ ý thức hệ "duy tâm"
đó.
Trong
khung cảnh đó của thế giới ngày nay, đạo Phật cho ta một
nhận thức rất rõ ràng nhưng cũng rất hòa bình. Đạo Phật
bác bỏ một vị Thượng Đế toàn năng sáng tạo ra thế giới
và con người. Đạo Phật cho rằng vũ trụ vận động vì
vận động là tự tính nội tại của sự vật. Không có ai
điều khiển để thế giới vận động cả. Đó là một nội
dung quan trọng của quan niệm "Pháp vô ngã". Tuy chủ trương
như thế nhưng đạo Phật là đạo của hoà bình vì trong những
ngày Ngài tại thế, đức Phật không tìm cách thuyết phục
ai, không muốn chứng minh mình là đúng, không ép ai phải tin
tưởng điều gì cả. Ai cũng có tự do của người đó trong
niềm tin của mình. "Hãy làm những gì hạnh phúc cho mình và
cho người", đó là chủ trương "tự lợi, lợi tha" trong thái
độ sống giữa người và người.
Trước
câu hỏi "Có Thượng Đế hay không mà điều này điều nọ
lại xảy ra..." người Phật tử chỉ giữ im lặng. Anh không
thể trả lời vì "Thượng Đế" là một khái niệm quá phức
tạp, mỗi người hiểu mỗi khác. Anh không thể trả lời
chung cho tất cả, điều đó quá sức của anh. Anh chỉ nói
một cách khiêm tốn, "tôi thì tôi tin là...". Cứ để cho mọi
người tranh luận Thượng Đế có thật hay không có thật,
anh chỉ biết rõ một điều, Khổ là có thật. Sự chết chóc
do nạn sóng thần gây ra là một dạng của Khổ mà đức Phật
gọi là "Khổ-Khổ" (Dukkha-Dukkha), dạng Khổ thô sơ của con
người. Anh còn thấy rõ, không có sóng thần thì vẫn còn
đầy dẫy khổ đau trên trái đất này. Ngoài cái Khổ thô
sơ còn cái Khổ vi tế hơn, đó là cái Khổ của sự đổi
thay biến dịch mà đạo Phật gọi là "Khổ vô thường".
Thảm
họa sóng thần làm cho người Phật tử càng thấy rõ thêm
tính vô thường của đời sống và mối liên hệ sâu xa giữa
người với người. Qua thảm họa này người ta càng thấy
rõ những tường vách ngăn con người với nhau như ý thức
hệ, màu da, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo...thật là giả
tạo. Đứng trước sự cuồng nộ của thiên nhiên, nạn nhân
không cần gì khác hơn là sự giúp đỡ khẩn cấp và vô điều
kiện. Lúc đó không ai hỏi anh tin nơi Thượng Đế nào. Câu
hỏi này hình như chỉ dành cho những người rỗi hơi ngồi
trước truyền hình xem tin tức. Trong biến cố này, nhiều
nhà sư và Phật tử tại Thái Lan và Sri Lanka đã cho thế giới
thấy tâm hồn vô phân biệt của mình khi săn sóc và cầu
nguyện cho người bị nạn. Các vị đó đã làm đúng lời
Phật dạy. Khi có ai bị mũi tên độc bắn thì hãy cứu chữa
cho họ, không quan tâm đến ai đã bắn tên.
Nguồn:
Khuông Việt