-09-
Tản
mạn về chữ Chánh
Thỉnh
thoảng, trên các diễn đàn Phật Giáo của mạng truyền thông
Internet, chúng tôi thấy có nhiều ý kiến bàn luận về chữ
Chánh và Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo. Ở đây, xin mạn
phép được đóng góp vài dòng tản mạn.
Theo
kinh nghiệm, mỗi khi chúng ta bàn về từ ngữ Phật Pháp, nhất
là từ ngữ Hán Việt trong kinh điển, dịch từ nguồn nguyên
thủy Pāli và Sanskrit, ta cần lưu ý đến cách chọn lựa thuật
ngữ của các vị cao tăng dịch giả ngày xưa, bởi vì các
ngài dùng những thuật ngữ phiên dịch để quảng bá giáo
lý của Đức Phật cho dân chúng thời đó, có thể những
thuật ngữ đó không còn thích hợp trong bối cảnh thời nay,
hoặc ý nghĩa chữ dùng có thể đã thay đổi theo năm tháng.
Cho
nên, rất khó mà tìm một câu trả lời phổ quát cho câu hỏi:
Thế nào là Chánh? Tùy theo ngữ cảnh và mạch văn, Chánh có
nhiều ý nghĩa khác nhau. Ở đây, chúng tôi xin giới hạn chữ
Chánh trong ý nghĩa của Bát Chánh Đạo như Đức Phật đã
giảng dạy. Trong phạm vi đó, theo thiển ý, Chánh - dịch theo
chữ Pāli Sammā - là những gì có ích lợi và cần thiết
cho sự hành trì để tận diệt khổ đau, đưa đến giải
thoát, giác ngộ.
Bát
Chánh Đạo là con đường có 8 yếu tố - mỗi yếu tố có
tên gọi bắt đầu bằng chữ Chánh. Thật ra, danh từ Bát
Chánh Đạo chỉ là một lối dịch thoát, không sát nghĩa.
Chữ Pāli là Ariya atthangika-magga, có nghĩa là con đường
thánh (cao sang) gồm có 8 chi phần, tiếng Anh dịch là "the
Noble Eightfold Path". Trong các bản dịch Kinh tạng, Hòa thượng
Thích Minh Châu dịch là "Thánh đạo Tám ngành". Tuy nhiên,
vì danh từ Bát Chánh Đạo rất phổ thông trong hàng Phật
tử chúng ta, nên chúng tôi thường dịch là Con Đường Tám
Chánh.
*
Còn
Chánh Kiến là gì? Là nhìn đúng, thấy đúng. Nhưng nhìn đúng
như thế nào? Tùy theo ngữ cảnh và mục đích, trong sinh hoạt
văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị, luân lý, lịch sử,
v.v., chúng ta thấy có thể có nhiều cái đúng khác nhau, có
khi tương hợp, có khi tương phản. Tuy nhiên, lồng trong Bát
Chánh Đạo, Chánh Kiến là cái nhìn, cái thấy, cái hiểu biết
như thế nào để mang lại lợi ích cho con đường hành trì,
diệt khổ ưu, đưa đến hạnh phúc an lạc, tiến đến giác
ngộ giải thoát. Đức Phật đã giảng rõ ràng về các yếu
tố Chánh - kể cả Chánh Kiến - của Bát Chánh Đạo, trong
nhiều bài kinh. Xin chép lại ở đây, một đoạn kinh trong
Tương Ưng bộ, Tập 5, để chúng ta cùng nhau ôn lại định
nghĩa của Bát Chánh Đạo:
-
"Này các vị Tỳ-khưu, thế nào là chánh tri kiến? Đó là
sự thông hiểu về khổ, sự thông hiểu về nguyên nhân của
khổ, sự thông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông hiểu
về con đường diệt khổ.
Thế
nào là chánh tư duy? Đó là tư duy về ly dục, tư duy về vô
sân, tư duy về vô hại.
Thế
nào là chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai
lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
Thế
nào chánh nghiệp? Đó là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của
không cho, từ bỏ hành động tà dâm.
Thế
nào là chánh mạng? Đó là đoạn trừ tà mạng, nuôi sống
với chánh mạng.
Thế
nào là chánh tinh tấn? Đó là tinh tấn ngăn chận không cho
khởi sanh các bất thiện pháp chưa sanh, tinh tấn trừ diệt
các bất thiện pháp đã sanh, tinh tấn phát khởi các thiện
pháp chưa sanh, và tinh tấn duy trì các thiện pháp đã sanh.
Thế
nào là chánh niệm? Đó là sống quán thân trên thân, nhiệt
tâm, tỉnh giác, điều phục mọi tham ưu trên đời; sống
quán thọ trên thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục mọi
tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh
giác, điều phục mọi tham ưu trên đời; sống quán pháp trên
các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục mọi tham ưu trên
đời.
Thế
nào là chánh định? Đó là ly dục, ly pháp bất thiện, chứng
và trú Thiền-na thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh, có tầm, có tứ; rồi làm cho tịnh chỉ tầm và
tứ, chứng và trú vào Thiền-na thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm;
rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự
lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng
và trú vào Thiền-na thứ ba; rồi xả lạc, xả khổ, diệt
hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào Thiền-na thứ
tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh."
Cho
nên, để trả lời câu hỏi thế nào là Chánh Kiến, chúng
ta có thể ghi lại lời của Đức Phật: Đó là thông hiểu
về khổ (Khổ), thông hiểu về nguyên nhân của khổ (Tập),
thông hiểu về sự diệt khổ (Diệt), và thông hiểu về con
đường diệt khổ (Đạo). Hay nói tóm tắt, Chánh Kiến
là cái nhìn đúng đắn về Tứ Diệu Đế.
Trong
kinh Chánh Tri Kiến (Sammāditthi sutta), bài kinh số 9 thuộc
Trung Bộ, Ngài Xá-lợi-phất đã giảng cặn kẽ về định
nghĩa của Chánh tri kiến là:
-
Tuệ tri bất thiện và căn gốc của bất thiện.
-
Tuệ tri thiện và căn gốc của thiện.
-
Tuệ tri được thức ăn, gồm đoàn thực, xúc thực, thức
thực và tư niệm thực; và căn gốc của thức ăn.
-
Tuệ tri khổ trong tiến trình khổ-tập-diệt-đạo.
-
Tuệ tri từng chi phần Duyên khởi, theo vòng ngược, từ già
chết, rồi sinh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, sáu nhập, danh sắc,
thức, hành, vô minh, và lậu hoặc.
Khi vị
thánh đệ tử tuệ tri như vậy, vị ấy đoạn trừ tất cả
tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến
mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh
khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Như thế,
vị ấy có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng
tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp.
*
Nói
đến Chánh Kiến thì chúng tôi lại nghĩ đến chữ Tuệ. Chúng
ta thường nghe nói "Đạo Phật là đạo của Trí tuệ".
Tuệ được hiểu theo nhiều nghĩa, và thường dùng chung với
vài chữ khác, để có những ý nghĩa, cường độ khác nhau,
chẳng hạn như: trí tuệ, tuệ giác, tuệ tri, tuệ minh sát,
tuệ giải thoát, v.v. Trong phạm vi Bát Chánh Đạo, Tuệ được
dùng để chỉ tập hợp của 2 yếu tố: Chánh Kiến (về Tứ
diệu đế) và Chánh Tư Duy (dựa trên ly dục, vô sân, vô hại),
và là một trong Tam Vô Lậu Học (Giới-Định-Tuệ).
Sở
dĩ chúng tôi đề cập đến Tuệ là vì mỗi khi có dịp tham
gia trong các nhóm tu học, tìm hiểu hoặc bàn luận về các
đề tài phức tạp trong đạo Phật - chẳng hạn như về duy
thức, Như lai tạng, Phật tánh, bát-nhã, công án thiền, không
tánh, bất nhị, đại thừa, tiểu thừa, phàm ngã, chân ngã,
v.v. - chúng tôi thường bị lôi cuốn vào các cuộc bàn luận
sôi nổi, hấp dẫn, hào hứng đó. Vì vậy, thỉnh thoảng,
chúng tôi phải dừng lại và tự hỏi lòng mình: - Những
kiến thức như thế có lợi ích gì cho mình, có giúp tăng
trưởng Trí Tuệ, dựa trên Chánh Kiến và Chánh Tư Duy theo
như định nghĩa của Đức Phật trong Bát Chánh Đạo, đưa
đến giải thoát, giác ngộ, hay không? Tự nhắc nhở như
vậy cũng là một phương cách tốt, giúp cho mình tránh khỏi
các hý luận, tranh cãi vô ích.
Nhân
đó, chúng tôi lại nhớ đến lời Phật dạy về pháp như
lý tác ý để điều hướng các sự suy nghĩ của mình sao
cho có lợi lạc trên đường tu tập, như đã ghi lại trong
bài kinh "Tất cả các lậu hoặc" (Sabbāsava sutta), kinh
số 2 của Trung Bộ:
-
"Này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp cần phải tác ý và
vị ấy tác ý? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào do vị ấy
tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu
đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh
khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu
chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ
diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác
ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác
ý, tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa
sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ
diệt.
Vị
ấy như lý tác ý: Ðây là khổ; như lý tác ý: Ðây là khổ
tập; như lý tác ý: Ðây là khổ diệt; như lý tác ý: Ðây
là con đường đưa đến khổ diệt. Nhờ vị ấy tác ý như
vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới
cấm thủ. Này các Tỳ-khưu, các pháp ấy được gọi là pháp
dùng tri kiến để đoạn trừ các lậu hoặc."
*
Nhân
khi ghi lại lời giảng của Đức Phật, về định nghĩa 8
yếu tố của Bát Chánh Đạo, xin đóng góp thêm ít dòng về
chữ Thiền. Nguyên khởi, thiền là âm ngắn của thiền-na,
phiên âm từ chữ Phạn "dhyana / jhāna", là nhân tố chính
của Chánh Định. Ngày nay, nó đã mang nhiều màu sắc, nhiều
ý nghĩa khác nhau, và từ đó, phát sinh nhiều môn phái khác
nhau - nhất là từ khi chữ "Zen" trở thành một từ ngữ
thời thượng. Nhưng thật ra, Zen chỉ là phiên âm của
người Nhật, từ âm Ch'an của người Tàu, tức là Thiền.
Trong
bối cảnh tu học hiện nay, theo thiển ý, Thiền là đồng
nghĩa với nhóm Định của Tam Vô Lậu Học, nghĩa là một
tập hợp của 3 phần tử: Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh
Định.
Nếu
chúng ta quan niệm rằng Thiền là tập hợp của 3 yếu tố
cuối cùng trong Bát Chánh Đạo, thì hành Thiền là pháp
tu Chỉ-Quán dựa trên một đời sống có giới hạnh trong
sạch. Ở đây, Chỉ là Chánh Định, Quán là Chánh Niệm,
và đời sống trong sạch là do Chánh Tinh Tấn - nỗ lực tăng
trưởng điều thiện lành, lợi lạc, và trừ diệt điều
xấu ác, không lợi lạc.
Trong
Tăng Chi Bộ, chương Hai Pháp, phẩm 17, Đức Phật nhấn mạnh
đến pháp tu Chỉ-Quán để thông hiểu rõ ràng và tận diệt
tham, sân, si:
-
"Này các Tỳ-khưu, có hai pháp cần phải tu tập. Thế nào
là hai? Chỉ và Quán. Hai pháp này cần phải tu tập để thắng
tri tham sân si; để biến tri tham sân si, phẫn nộ, hiềm hận,
giả dối, não hại, tật đố, xan tham, man trá, phản trắc,
cứng đầu, cuồng nhiệt, mạn, quá mạn, kiêu căng, phóng
dật; để biến tận, để đoạn tận, để trừ diệt, để
biến diệt, để đoạn diệt, để xả bỏ, để từ bỏ tham
sân si."
Đọc
lại lời giảng của Đức Phật về Chánh Niệm và Chánh Định,
ta thấy hai yếu tố nầy tương hợp, bổ sung cho nhau, không
thể tách rời, không thể biệt lập. Theo định nghĩa, Chánh
Định là pháp luyện tâm, chế ngự các triền cái, đưa tâm
an trú vào các tầng thiền-na, và lúc nào cũng có chánh niệm
tỉnh giác. Cho nên, không thể có chánh định nếu không có
chánh niệm.
Không
hiểu vì duyên cớ gì mà thỉnh thoảng vẫn có người cho
rằng phát triển thiền-na - hay hành thiền An Chỉ - là pháp
tu của ngoại đạo. Ở đây, trong tinh thần của Bát Chánh
Đạo, Chánh Định được phát triển dựa trên Chánh Kiến
và một đời sống trong sạch đầy đủ giới đức, thì đó
không thể nào là thiền ngoại đạo. Trong bài Đại Kinh Bốn
Mươi (Kinh 117, Trung Bộ), ngay trong đoạn đầu, Đức Phật
đã khẳng định rằng Chánh Định được phát triển là nhờ
7 yếu tố còn lại của Bát Chánh Đạo. Ngoài ra, trong nhiều
bài kinh khác, Đức Phật thường khuyên các vị Tỳ-khưu tìm
nơi vắng vẻ, ngồi xếp chân, giữ lưng thẳng, để niệm
trước mặt, đem tâm an trú vào các tầng thiền-na, trước
khi phát triển tuệ quán.
Trở
sang định nghĩa của Chánh Niệm, chúng ta thường nghe nói
đến "tứ niệm xứ", và thường nghe nhiều người đề cập
đến pháp "thiền tứ niệm xứ", có vẻ như là một lối
thiền đặc biệt, riêng rẽ, là con đường duy nhất (the
only way, the sole way) dịch từ chữ ekāyanamaggo, với
hàm ý là không có con đường nào khác. Tuy nhiên, nhiều dịch
giả khác - như Tỳ-khưu Nanatiloka, Tỳ-khưu Bodhi, Tỳ-khưu
Analayo, ông Walshe - không đồng ý như thế. Các vị ấy dịch
là "con đường thẳng" (the direct path) với ý nghĩa
là con đường hướng thẳng đến mục tiêu, và mục tiêu
ấy là Niết Bàn.
Thêm
vào đó, đọc lại lời giảng của Đức Phật về bốn pháp
quán niệm (thân, thọ, tâm, pháp) trong kinh Niệm Xứ (Satipatthāna
sutta), ta đều thấy có cụm từ điều phục "mọi tham
ưu trên đời", dịch từ câu Pāli "loke abhijjhā-domanassam".
Ngài thiền sư Ajahn Brahmavamso (trụ trì tu viện Bodhinyana, Tây
Úc) giải thích dựa theo Chú giải rằng cụm từ đó có thể
hiểu là để chỉ sự nhiếp phục năm triền cái. Abhijjhā
là đồng nghĩa với triền cái thứ nhất, domanassam là
đồng nghĩa với triền cái thứ nhì, và nếu dùng chung lại
với nhau - trong thành ngữ Pāli - đó là cách viết tắt cho
nhóm năm triền cái. Ðiều nầy có nghĩa là cả năm triền
cái phải được khắc phục trước khi bắt đầu hành trì
pháp Quán Niệm. Chức năng của việc đem tâm an trú vào các
tầng thiền-na - chi phần Chánh Ðịnh của Bát Chánh Ðạo
- là để nhiếp phục năm triền cái, giúp phát triển tuệ
Minh sát. Trong bài kinh số 68 của Trung Bộ (Nalakapāna sutta),
Ðức Phật dạy rằng khi hành giả chưa đạt các tầng thiền-na,
năm triền cái cùng với bất lạc và giải đãi sẽ xâm chiếm
tâm và trú tại đó. Chỉ khi nào hành giả đạt vào các tầng
thiền-na thì năm triền cái cùng với bất lạc và giải đãi
mới không xâm chiếm tâm và không trú tại đó.
Tỳ-khưu
Brahmavamso giải thích thêm rằng thiền sinh nào đã trực nghiệm
được các tầng thiền-na mạnh mẽ nầy thì ắt đã biết
được, qua kinh nghiệm bản thân, bản chất thật sự của
tâm sau khi các triền cái đã được chế ngự. Thiền sinh
nào chưa biết các tầng thiền-na thì chưa hiểu rõ các dạng
vi tế của các triền cái. Họ tưởng rằng các triền cái
đã được chế ngự, nhưng thật ra, họ đã không nhận thức
được chúng, và vì thế, đã không đạt kết quả tốt trong
khi hành thiền.
Cũng
xin ghi nhận thêm ở đây là trong kinh Nhất Nhập Đạo thuộc
bộ Tăng Nhất A-hàm của Hán tạng, bài kinh tương đương
với kinh Niệm Xứ của tạng Pāli, có ghi rõ ràng ngay trong
đoạn đầu là hành giả phải nhiếp phục năm triền cái.
Điều nầy hàm ý là đem tâm an định vào thiền-na, nghĩa
là cần phải hành thiền An Chỉ.
Có
quan niệm cho rằng phát triển tuệ quán thì không cần Chánh
Định, mà chỉ cần sát-na định (khanika-samādhi, momentary
concentration), nghĩa là định từng chập, là đủ. Ngoài
ra, cũng có sách đề cập đến khái niệm về các tầng thiền-na
minh sát (vipassanā-jhāna). Không biết các quan niệm đó
có được ghi chép trong kinh tạng như là lời dạy của Đức
Phật hay không? Theo sự hiểu biết thô thiển của chúng tôi,
có lẽ các quan niệm đó chỉ được khai triển về sau nầy,
do các vị luận sư viết ra trong các bộ chú giải và luận
giải, vào khoảng từ 500 đến 1,000 năm sau khi Đức Phật
nhập diệt.
Ở
đây, là phàm nhân cư sĩ còn đang tu học, chúng tôi chỉ có
một thắc mắc rất đơn giản: - Nếu không nỗ lực phát
triển Chánh Định với tâm an trú trong thiền-na, thì chúng
ta có thực hành trọn vẹn Con Đường Tám Chánh, như Đức
Phật đã dạy, hay không? Có lẽ mỗi thiền sinh chúng ta phải
tự tìm lời giải đáp thỏa đáng và thiết thực cho sự
tu tập của mình.
*
Trong
bài kinh số 107, thuộc Trung Bộ, Đức Phật giảng cho người
Bà-la-môn Ganaka Moggallana, tóm tắt con đường tu tập, như
sau:
-
giữ gìn giới hạnh,
-
hộ trì các căn,
-
tiết độ ăn uống,
-
chú tâm cảnh giác,
-
thành tựu chánh niệm tỉnh giác,
-
tìm nơi thanh vắng để hành thiền,
-
nhiếp phục 5 triền cái,
-
an trú vào 4 tầng thiền-na.
Thêm
vào đó, theo kinh Sáu Thanh Tịnh, Trung Bộ 112, sau khi an trú
vào 4 tầng thiền-na, Đức Phật khuyên các vị Tỳ-khưu hữu
học phải tiếp tục hành trì, phát triển các tuệ minh và
tiến tới giải thoát.
Ngoài
ra, trong Tương Ưng bộ, Tập 1, Đức Phật dạy:
Người
trú giới có trí
Tu
tập tâm và tuệ
Nhiệt
tâm và thận trọng
Tỳ-khưu
ấy thoát triền.
Ngài
Phật Âm, trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo, giải thích rằng
"người trú giới có trí" là người có giới thanh tịnh, có
hiểu biết rõ ràng, dựa trên vô tham, vô sân, vô si. "Tu tập
tâm" ở đây là pháp hành thiền an chỉ, "tu tập tuệ" ám
chỉ hành thiền minh quán, "tu tập tâm và tuệ" nghĩa là hành
thiền Chỉ-Quán, hay Chỉ-Quán đồng tu. "Nhiệt tâm và thận
trọng" nghĩa là có nhiều nghị lực, tinh tấn và tỉnh giác
nhận thức. "Tỳ-khưu" (bhikkhu) ở đây mang một nghĩa
rộng, không phải để chỉ riêng hàng tu sĩ, mà để chỉ
người thấy được sự khốn khổ của sinh tử luân hồi.
"Thoát triền" là thoát khỏi mọi trói buộc của sinh tử luân
hồi. Như thế, qua câu kệ trên, Đức Phật dạy chúng ta phải
an trú trong Giới, tu tập Thiền định, phát triển Tuệ quán,
để giác ngộ giải thoát.
*
Sau
cùng, xin giới thiệu một quyển sách căn bản về Phật Pháp.
Trong quá trình tu học, chúng tôi thường tham khảo quyển "Đức
Phật và Phật Pháp" của Hòa thượng Narada, do cư sĩ Phạm
Kim Khánh dịch. Quyển này được xuất bản lần đầu tiên
vào năm 1964, và được ông Khánh hiệu đính và bổ sung vào
năm 1998. Trong 40 năm qua, quyển sách đã được tái bản nhiều
lần và đã mang nhiều lợi lạc cho hàng Phật tử chúng ta.
Thêm
vào đó, trong những năm gần đây, chúng tôi lại thích tham
cứu thêm quyển "Phật học Khái luận" của Hòa thượng Thích
Chơn Thiện. Quyển sách nầy cũng được tái bản nhiều lần,
có phát hành tại các nhà sách Phật giáo trong nước và hải
ngoại. Theo thiển ý, đây là một quyển sách dung hợp các
điểm căn bản của Nam và Bắc tông, với những trích dẫn
kinh điển rõ ràng và nghiêm túc, có ích lợi cho những ai
muốn tìm hiểu về các vấn đề chính yếu trong đạo Phật.