07-
Duyên
sinh
Hòa
thượng Nyanatiloka
Bình
Anson lược dịch
Tiếng
Pāli
của lý Duyên khởi hay Duyên sinh là Paticcasamuppāda (tiếng
Anh là Dependent Origination). Đây là thuyết về điều kiện
tính (conditionality) của tất cả hiện tượng tâm lý
- vật lý (tâm-vật). Thuyết nầy cùng với thuyết Vô ngã
(anattā) lập thành điều kiện thiết yếu để có thể
thông hiểu và thực chứng lời dạy của Đức Phật. Thuyết
này diễn tả tính cách tương quan, có điều kiện tính, của
một dòng chảy liên tục gồm những hiện tượng tâm-vật
của sự hiện hữu, theo quy ước được gọi là cái Tôi (ego),
con người, con vật, v.v.
Trong
khi thuyết Vô ngã được trình bày bằng cách phân tích, phân
chia sự hiện hữu thành các thành tố, cho đến tận cùng
chỉ còn là những hiện tượng trống rỗng, phi thực thể,
thì ngược lại, lý Duyên khởi, được trình bày bằng lối
tổng hợp, và chỉ rõ ràng mọi hiện tượng đều tương
quan với nhau, làm duyên (tạo điều kiện) cho nhau bằng cách
nầy hay cách khác. Toàn bộ tạng Thắng Pháp (Abhidhamma pitaka,
A-tỳ-đàm tạng hay Vi Diệu Pháp tạng) chỉ đề cập hai
giáo thuyết: tính chất Hiện tượng - nghĩa là vô ngã tính;
và tính chất Duyên sinh - nghĩa là điều kiện tính, của mọi
sự hiện hữu. Giáo thuyết đầu hay phương pháp phân tích,
được áp dụng trong Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani), bộ
sách đầu tiên của tạng Thắng Pháp; giáo thuyết sau hay phương
pháp tổng hợp, áp dụng trong Bộ Vị Trí (Patthāna),
bộ sách cuối cùng của tạng Thắng Pháp.
*
Mặc
dù đề tài nầy thường được nhiều học giả Tây phương
bàn luận, nhưng đa số các vị ấy thường hiểu lầm ý nghĩa
và mục đích thật sự của lý Duyên khởi. Ngay cả những
thuật ngữ dùng để chỉ 12 chi phần của giáo lý này cũng
thường bị diễn dịch sai.
Lý
Duyên khởi thường được tóm lược như sau:
- Vô
minh duyên hành: Do vô minh, các hành có điều kiện để sinh
ra. Hành là những tư tâm sở (cetanā) hay ý chí đưa
đến tái sinh, còn gọi là hành nghiệp.
- Hành
duyên thức: Do hành nghiệp (trong đời quá khứ) mà thức (hiện
tại) có điều kiện phát sinh.
- Thức
duyên danh sắc: Do thức, các hiện tượng tâm-vật lý có điều
kiện phát sinh.
- Danh
sắc duyên lục nhập: Do danh sắc, sáu căn (5 căn vật lý và
ý căn) có điều kiện phát sinh.
| Quá
khứ |
1.
Vô minh (avijjā)
2.
Hành (sankhārā) |
Nghiệp
hữu (kamma-bhava)
5
nhân: 1, 2, 8, 9, 10 |
| Hiện
tại |
3.
Thức (viññāna)
4.
Danh sắc (nāma-rūpa)
5.
Lục nhập (āyatana)
6.
Xúc (phassa)
7.
Thọ (vedanā) |
Sinh
hữu (upapatti-bhava)
5
quả: 3, 4, 5, 6, 7 |
8.
Ái (tanhā)
9.
Thủ (upādāna)
10.
Hữu (bhava) |
Nghiệp
hữu (kamma-bhava)
5
nhân: 1, 2, 8, 9, 10 |
| Vị
lai |
11.
Sinh (jāti)
12.
Già chết (jarā-marana) |
Sinh
hữu (upapatti-bhava)
5
quả: 3, 4, 5, 6, 7 |
- Lục
nhập duyên xúc: Do lục nhập, ấn tượng cảm quan (hay xúc)
có điều kiện phát sinh.
- Xúc
duyên thọ: Do xúc, cảm thọ có điều kiện phát sinh.
- Thọ
duyên ái: Do thọ, tham ái có điều kiện phát sinh.
- Ái
duyên thủ: Do ái, chấp thủ có điều kiện phát sinh.
- Thủ
duyên hữu: Do thủ, mà hữu có điều kiện phát sinh. Hữu
là tiến trình năng động và thụ động của đời sống,
gồm Nghiệp hữu (nghiệp đưa đến tái sinh, kamma-bhava)
và Sinh hữu (hậu quả của nghiệp hữu, upapatti-bhava).
- Hữu
duyên sinh: Do nghiệp hữu mà có tiến trình tái sinh.
- Sinh
duyên già chết: Do tái sinh, già và chết (sầu, bi, khổ, ưu,
não) có điều kiện phát khởi. Như thế, toàn bộ khổ uẩn
nầy lại sinh khởi tiếp tục trong tương lai.
Ðồ
biểu dưới đây chỉ rõ tương quan duyên khởi giữa 3 đời
kế tiếp (quá khứ, hiện tại và vị lai).
1.
Vô minh duyên hành: Các nghiệp thiện, bất thiện về thân,
ngữ, ý, đều do vô minh mà sinh khởi. Hành nghĩa là các tư
tâm sở (cetanā, tác ý) thiện và bất thiện, những
hành động cố ý, tóm lại là Nghiệp (kamma, Sanskrit: karma).
Ở
đây, Nghiệp trong Phật giáo chỉ là một thuật ngữ có nghĩa
là những hành động cố ý, thiện hay ác, đem lại hậu quả
trong hiện tại, hoặc làm nhân cho số phận và sự tái sinh
trong tương lai. Nghiệp không bao giờ có nghĩa là hậu quả
của hành động, như nhiều học giả Tây phương thường hiểu
lầm.
Bằng
cách nào nghiệp hành được phát sinh do duyên vô minh? Về
bất thiện nghiệp tương ưng với tham, sân hay si, các nghiệp
hành nầy có điều kiện (duyên) là vô minh tương ưng bất
ly với chúng, luôn luôn trong mọi trường hợp. Vậy, vô minh
là một duyên cho các bất thiện hành (nghiệp), qua câu sinh
duyên (sahajāta-paccaya), tương ưng duyên (sampayutta-paccaya),
hữu duyên (atthi-paccaya) v.v. Hơn nữa, vô minh đối với
bất thiện nghiệp còn là một duyên như thân y duyên (upanissaya-paccaya),
chẳng hạn như khi vô minh đi kèm với tham, xúi giục một
người phạm các tội ác như giết người, trộm cắp, tà
dâm, v.v. Trong trường hợp ấy, vô minh là một duyên tự nhiên
thân y (pakati-upanissaya-paccaya). Nó cũng có thể trở thành
một sở duyên thân y (ārammanūpanissaya-paccaya), duyên
của tư tưởng chúng ta. Ðiều nầy xảy ra như trường hợp
có người nhớ lại một tình trạng vô minh về trước, phối
hợp với khoái lạc, và khi hồi tưởng như thế, các bất
thiện pháp khởi lên, như dục tham, sầu, ưu, v.v.
Với
các nghiệp (hành) thiện, vô minh chỉ có thể làm một điều
kiện gọi là thân y duyên, chứ không bao giờ làm câu sinh
duyên v.v., bởi vì thiện tâm vào lúc hành thiện đương nhiên
không thể tương ưng với bất cứ một bất thiện pháp nào,
như vô minh. Vô minh là một duyên, kể như tự nhiên thân y
duyên (pakatupanissaya), chẳng hạn một người bị vô
minh và thói khoe khoang thúc đẩy mà nỗ lực để đắc các
thiền, và cuối cùng nhờ kiên trì cũng đạt các thiện tâm
ấy. Vô minh cũng có thể là thân y duyên cho các nghiệp thiện,
kể như sở duyên thân y, thí dụ một người tư duy về vô
minh là căn để của mọi đau khổ trên đời, và cuối cùng
đạt đến tuệ giác và nhập vào một trong bốn thánh đạo.
2.
Hành duyên thức: Các Hành (nghiệp) thiện và bất thiện,
là nguyên nhân cho sự tái sinh trong tương lai ở một sinh thú
hay cõi (gati) thích hợp. Hành nghiệp đời trước tạo
điều kiện cho sự khởi sinh trong bụng mẹ một tập hợp
danh sắc mới, gồm 5 uẩn, ở đây được biểu trưng bằng
Thức. Nhưng tất cả những dị thục thức (vipāka) như
vậy (như nhãn thức, nhĩ thức, v.v.) cũng như tất cả tâm
pháp tương ưng (thọ, v.v.) đều là vô ký về phương diện
nghiệp. Cần hiểu rằng ngay từ sát-na đầu tiên nhập thai
mẹ, dị thục thức của bào thai đã hoạt động rồi.
Ðể
giải tỏa ngộ nhận của vài học giả Tây phương về lý
Duyên khởi như là kinh nghiệm cá nhân về một sát-na nghiệp
duy nhất và ngộ nhận về tính cách đồng thời của cả
12 chi phần, ở đây, cần phải xác định rõ rằng lý Duyên
khởi phải được hiểu như gồm 3 đời kế tiếp; và điều
nầy không những phù hợp với các trường phái Phật Giáo
khác nhau, và với tất cả các luận giải cổ điển, mà còn
phù hợp với giải thích có ghi trong kinh tạng. Thí dụ, trong
Tương
Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng, XII.51) có ghi: "Khi Vô minh
(1) và Thủ (9) chấm dứt, thì không có Hành nghiệp (2=10),
dù là công đức, phi công đức, hay bất động - phước hành,
phi phước hành và bất động hành - được phát sinh, và như
vậy không có Thức (3=11) nào sẽ khởi lên trở lại trong
một mẫu thai mới". Thêm vào đó: "Bởi vì, nếu Thức
không tái xuất hiện trong mẫu thai, thì trong trường hợp
ấy, Danh sắc (4) có sinh khởi không?" Xin xem đồ biểu
ở trên.
Mục
đích của Đức Phật khi giảng dạy Duyên khởi là để chứng
minh cho nhân loại đau khổ thấy rằng, do duyên vô minh và
bị mê hoặc mà cuộc tồn sinh và khổ đau hiện tại đã
phát sinh; và do sự diệt tận của vô minh, và từ đó ái
diệt và thủ diệt, mà không còn sự tái sinh nào sẽ tiếp
theo, và như vậy, tiến trình hiện hữu đứng dừng lại,
từ đó, chấm dứt mọi đau khổ.
3.
Thức duyên danh sắc: Nếu không có Thức thì không thể
có tiến trình hiện hữu gồm tâm lý và vật lý. Danh (hay
Tâm, nāma) ở đây cần được hiểu là các tâm pháp
dị thục như là thọ, tưởng, hành (cetanā, ở đây
chỉ cho phi nghiệp hành), xúc, tác ý (Trung Bộ, 9; Tương Ưng
XII.2). Có bảy tâm sở (cetasika) căn bản tương ứng
với mỗi tâm: thọ, tưởng, hành, xúc, tác ý, mạng và định
- như giải thích trong quyển Thắng Pháp Tập Yếu. Sắc (rūpa)
ở đây có nghĩa là 4 thành tố vật lý (dhātu, giới:
đất, nước, lửa, gió) và 24 sở tạo sắc (upādā-rūpa),
theo Thắng Pháp.
Danh
hay Tâm luôn luôn do duyên thức: Thức là một duyên kể như
câu sinh (sahajāta), hỗ tương (aññamañña), tương
ưng (sampayutta) v.v. cho Tâm, vì 4 tâm uẩn luôn luôn hợp
thành một đơn vị bất khả phân.
Thức
đối với Sắc là một duyên kể như câu sinh, chỉ vào lúc
sát-na nhập thai, còn sau đó là một duyên như Hậu sinh duyên
(pacchājāta-paccaya)
và Thực duyên (āhāra). Cũng như cơn đói tiếp tục
khởi lên là một duyên và là một chỗ y cứ cho thân xác
đã sinh từ trước, thức khởi lên sau đó cũng là một duyên
và chỗ sở y cho sự duy trì của thân tiền sinh.
4.
Danh sắc duyên lục nhập: Sáu Nhập hay Sáu Xứ chỉ 5 giác
quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và ý xứ (manāyatana),
tức là tâm thức.
Tâm
(danh, nāma) đối với 5 sắc xứ (5 giác quan, āyatana)
là một duyên theo kiểu Hậu sinh duyên.
Tâm,
nghĩa là thọ, v.v. với nghĩa là ý xứ - vì luôn luôn tương
ưng với nhau, không rời - là một duyên theo kiểu câu sinh
duyên.
Sắc
(rūpa),
ở đây là 4 giới (4 đại), đối với 5 sắc xứ, hay giác
quan, là một duyên kể như Thân y duyên (nissaya).
Sắc
với nghĩa là 5 căn vật lý, đối với ý xứ là một duyên
kể như thân y và tiền sinh (purejāta-paccaya).
5.
Lục nhập duyên xúc: Nếu không có 5 giác quan thì không
thể có cảm giác, và nếu không có ý xứ thì không có ấn
tượng của Tâm.
Như
vậy, 5 giác quan - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân - đối với 5
ấn tượng tương ứng là một duyên, kể như thân y (nissaya)
và tiền sinh (purejāta), còn ý xứ đối với ấn tượng
tâm là một duyên kể như câu sinh, tương ưng, hỗ tương.
6.
Xúc duyên thọ: Các ấn tượng cảm quan và ý thức đối
với cảm giác tương ưng, là một duyên kể như câu sinh, tương
ưng, hỗ tương.
7.
Thọ duyên ái: Bất cứ cảm giác nào, dù dễ chịu, khó
chịu hay trung tính, thuộc thân hay tâm, quá khứ hay vị lai,
đều có thể trở thành một duyên, theo kiểu Thân y duyên,
loại Sở duyên thân y, cho tham ái. Ngay cả cảm giác đau đớn
thuộc vật lý và tâm lý cũng có thể trở thành một Sở
duyên thân y cho khát ái - do cái khát vọng muốn thoát ly khỏi
cảm giác đau đớn ấy.
8.
Ái duyên thủ: Thủ được giải thích là một dạng tăng
cường của khát ái. Có 4 loại thủ: (i) Dục thủ (kāmūpādāna):
bám vào sắc dục; (ii) Kiến thủ (ditthūpādāna): chấp
thủ vào tà kiến; (iii) Giới cấm thủ (sīlabbatūpādāna):
chấp thủ vào nghi thức; (iv) Ngã luận thủ (attavādūpādāna):
chấp thủ vào luận cứ có một bản ngã.
Dục
ái đối với dục thủ là một duyên tự nhiên thân y. Ðối
với kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ, thì ái
là một duyên, theo kiểu câu sinh, hỗ tương, nhân duyên v.v.
Nó cũng có thể là một duyên tự nhiên thân y. Chẳng hạn,
do khát vọng tái sinh lên trời v.v. mà người ta có thể bám
lấy những nghi thức, lễ tục, với hy vọng đạt được
đối tượng khát ái của họ bằng cách đó.
9.
Thủ duyên hữu: Các nghiệp hữu thiện và bất thiện,
cũng như quả dị thục có tính cách thụ động - tiến trình
tái sinh, đều bao hàm trong Hữu nầy.
Nghiệp
hữu gồm 5 nhân: vô minh, hành, ái, thủ, và tiến trình tạo
nghiệp (xem số 1, 2, 8, 9, 10 ở đồ biểu). Sinh hữu gồm 5
nghiệp dị thục (xem số 3, 4, 5, 6, 7 ở đồ biểu).
Tiến
trình tạo nghiệp ở đây, nói cho đúng, là một thuật ngữ
để chỉ chung các tư tâm sở tạo nghiệp và tất cả tâm
sở tương ưng, trong khi vòng khoen thứ 2 (Hành) chỉ có tiêu
biểu cho nghiệp tích lũy từ trước. Nhưng cả hai Hành và
Hữu, thật ra, cũng chỉ cho một thứ, tức là nghiệp làm
nhân cho Tái sinh, như sẽ trình bày dưới đây.
Thủ
có thể là một thân y duyên cho nhiều loại nghiệp thiện
và bất thiện. Chẳng hạn Dục thủ có thể là một duyên
thân y tự nhiên cho sát sinh, trộm cướp, tà dâm, tà ngữ,
tà niệm v.v. Giới cấm thủ có thể đưa đến tự mãn, cuồng
tín, tàn bạo v.v. Thủ đối với ác nghiệp tương ưng, cũng
là một duyên theo kiểu câu sinh, tương ưng, hỗ tương.
10.
Hữu duyên sinh: Do nghiệp hữu thiện hay bất thiện mà
có Sinh hữu hay tiến trình tái sinh. Câu số 2 và 10, như đã
trình bày, thật ra cùng chỉ một điều là nghiệp làm nhân
cho tái sinh, nói cách khác, tư tâm sở (tác ý) là hạt giống,
từ đó khởi lên lên đời sống mới, cũng như từ hột xoài
khởi lên cây xoài mới.
Ở
đây, 5 nghiệp nhân (vô minh, hành, ái, thủ, hữu) thuộc đời
quá khứ là điều kiện cho những nghiệp quả trong đời hiện
tại; và 5 nghiệp nhân trong hiện tại là điều kiện cho 5
nghiệp quả (dị thục quả: thức, danh sắc, lục nhập, xúc,
thọ) của đời kế tiếp (xem đồ biểu ở trên). Bộ luận
Thanh Tịnh Ðạo, chương XVII, có ghi:
Có
năm nhân trong quá khứ,
Và
năm quả trong đời hiện tại.
Hiện
tại chúng ta lại gieo năm nhân,
Và
tương lai gặt hái năm quả.
Trong
tiến trình biến chuyển liên tục của hiện tượng tâm-vật
nầy, không có một cái gì truyền từ một sát-na nầy đến
sát-na kế tiếp. Vì thế, không có một thực thể trường
tồn hay bản ngã, cái tôi, ở trong tiến trình hiện hữu để
luân chuyển từ đời nầy đến đời sau. Không có một
con người hay một linh hồn nào đi từ đời trước đến
đời nầy; tuy vậy, bào thai hiện tại không thể hiện hữu
nếu không có những nhân duyên đi trước (Thanh Tịnh Ðạo,
Chương XVII). Có thể chứng minh điều nầy bằng nhiều ví
dụ, như tiếng vang, ánh sáng ngọn đèn, dấu ấn, hay hình
ảnh do gương phản chiếu (Thanh Tịnh Ðạo, Chương XVII).
Người
nào không biết gì về các pháp do duyên sinh, và không hiểu
rằng nghiệp (hành) là do vô minh sinh ra, v.v. thì sẽ nghĩ rằng
chính cái ngã của mình biết hoặc không biết, hành động
và sai khiến hành động, và chính cái ngã ấy khởi lên vào
lúc tái sinh. Hoặc người ấy cho rằng các nguyên tử, hay
một vị Tạo hóa, với sự trợ giúp của tiến trình thai
nghén, đã hình thành cái thân nầy, hay chính cái ngã có các
căn gây cảm thọ, ước muốn, chấp thủ, tiếp tục và tái
hiện hữu trong một sự thọ sinh mới. Hoặc người ấy cho
rằng tất cả loài hữu tình sinh ra do định mệnh, hay tình
cờ ngẫu nhiên sinh ra (Thanh Tịnh Ðạo, Chương XVII).
Khi
nghe nói đạo Phật dạy rằng bất cứ gì trong thế gian đều
do duyên sinh, một số người có thể kết luận là đạo Phật
giảng dạy một loại định mệnh thuyết, và con người không
có ý chí tự do, hoặc ý chí là không tự do.
Thật
ra, vấn đề con người có một ý chí tự do hay không thì
không cần thiết đối với người Phật tử, vì người ấy
biết rằng ngoài những hiện tượng tâm-vật hằng biến ccũng
chỉ là một giả danh, không tương ứng với một thực tại
nào. Vấn đề ý chí có tự do hay không cũng phải được
dẹp bỏ, vì ý chí hay hành là một hiện tượng tâm chỉ
chớp lên trong một sát-na, và như vậy, nó không có một hiện
hữu kế tục từ trong sát-na trước. Về một sự kiện không
hiện hữu, hay chưa hiện hữu, ta không thể hỏi nó có tự
do hay không tự do. Câu hỏi duy nhất có thể chấp nhận là:
-
Sự phát sinh của ý chí có vượt ngoài duyên sinh, hay nó cũng
là duyên sinh? Nhưng câu hỏi đó cũng có thể áp dụng
cho tất cả tâm pháp khác, và các hiện tượng vật lý nữa.
Nói cách khác, câu hỏi đó là cho tất cả mọi sự kiện,
tất cả sự sinh khởi của bất cứ cái gì. Câu trả lời
sẽ là: - Dù là do ý chí sinh, hay do cảm thọ sinh, hay do
bất cứ tâm pháp, sắc pháp nào sinh, thì sự sinh khởi của
bất cứ việc gì cũng đều tùy thuộc vào các duyên (điều
kiện). Nếu không có duyên, thì không bao giờ có cái gì có
thể sinh khởi hay hiện hữu được.
Theo
đạo Phật, mọi sự thuộc tâm lý hay vật lý xảy ra phù
hợp với các định luật và các điều kiện (duyên). Nếu
không như vậy, thì chỉ có một mớ hỗn độn càn khôn và
sự ngẫu nhiên bất định. Nhưng điều nầy không thể xảy
ra, và nó mâu thuẫn với mọi định luật của tư duy.
11.
Sinh duyên già chết: Nếu không có sinh ra thì không thể
có già chết, không có nỗi đau đớn và khổ não. Như vậy,
Tái sinh đối với Già chết là một duyên, kể như Thân y
duyên (upanissaya).
*
Về
tầm quan trọng của lý Duyên khởi, Ðức Phật dạy:
"Nầy
Anandā, giáo pháp Duyên khởi này rất thâm sâu, thật sự thâm
sâu. Chính vì không thông hiểu giáo pháp này mà thế gian giống
như một cuộn chỉ rối ren, một tổ chim, một bụi rậm lau
lách, và không thể thoát khỏi các đọa xứ, cõi dữ, phải
chịu khổ đau trong vòng luân hồi sinh tử." (Trường Bộ,
15)
Trong
một đoạn kinh khác, Ngài dạy rằng:
"Người
nào hiểu được lý Duyên khởi, là hiểu Pháp; và người
nào hiểu được Pháp, là hiểu lý Duyên khởi." (Trung Bộ,
28)
(Trích:
Nyanatiloka Maha Thera,
"Buddhist
Dictionary" - Từ điển Phật học,
Sri
Lanka, 1970)